Luận Văn: Sự Phát Triển Của Hiến Pháp Trong Tiến Trình Dân Chủ Hóa

Xem 2,871

Cập nhật thông tin chi tiết về Luận Văn: Sự Phát Triển Của Hiến Pháp Trong Tiến Trình Dân Chủ Hóa mới nhất ngày 15/04/2021 trên website Zdungk.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 2,871 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Việc Thực Hiện Nguyên Tắc Hiệp Thương Dân Chủ Trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
  • Thực Tiễn Của Hiệp Thương Dân Chủ
  • Hiểu Đúng Và Đầy Đủ Về Hiệp Thương Dân Chủ Trong Bầu Cử
  • Sự Khác Nhau Giữa Thực Dân Kiểu Mới Và Kiểu Cũ
  • Dấu Chấm Hết Cho Chủ Nghĩa Thực Dân Cũ
  • , ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á, cho các bạn tham khảo

    1. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khoa học khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Lã Khánh Tùng
    2. 4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………..1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…………………………..9 1.1. Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á qua các công trình của các tác giả Việt Nam………………………………………….9 1.2. Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á qua các công trình của các tác giả nước ngoài ……………………………………..20 Kết luận Chương 1……………………………………………………………………………..34 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HIẾN PHÁP TRONG TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA Ở ĐÔNG Á………………………………………………………………36 2.1. Cơ sở lý luận ………………………………………………………………………………..36 2.1.1. Hiến pháp, sự phát triển của hiến pháp, dân chủ và dân chủ hóa: khái niệm và nội dung…………………………………………………………………….36 2.1.2. Mối quan hệ tác động qua lại giữa hiến pháp, sự phát triển của hiến pháp với dân chủ và dân chủ hóa………………………………………………46 2.2. Giả thuyết khoa học ……………………………………………………………………..48 2.3. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………49 Kết luận Chương 2……………………………………………………………………………..51 CHƯƠNG 3: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN CHỦ HÓA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CỦA HIẾN PHÁP Ở ĐÔNG Á ……………………………………………….52 3.1. Nguồn gốc, đặc điểm và nội dung của dân chủ hóa ở Đông Á…………52 3.1.1. Nguồn gốc, các nguyên nhân và nội dung dân chủ hóa………………52 3.1.2. Đặc điểm của dân chủ hóa ……………………………………………………..63 3.1.3. Nội dung của dân chủ hóa………………………………………………………66
    3. 5. 3.2. Sự ảnh hưởng của dân chủ hóa đến sự phát triển của hiến pháp ở Đông Á……………………………………………………………………………………………….69 3.2.1. Giai đoạn giữa thế kỷ 19 đến năm 1945: khủng hoảng của mô hình chính trị cũ và việc tìm kiếm mô hình mới………………………………………….69 3.2.2. Giai đoạn năm 1945 đến năm 1987………………………………………….77 3.2.3. Giai đoạn năm 1987 đến nay…………………………………………………..93 3.3. So sánh với Việt Nam………………………………………………………………….103 CHƯƠNG 4: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN HIẾN PHÁP ĐẾN DÂN CHỦ HÓA Ở ĐÔNG Á…………………………………………………………….110 4.1. Phân quyền trong hiến pháp Đông Á…………………………………………..110 4.1.1. Một số đặc điểm của phân quyền tại các quốc gia Đông Á ……….111 4.1.2 . Phân quyền trong các bản hiến pháp hiện hành ……………………..113 4.2. Quyền con người trong hiến pháp……………………………………………….121 4.3. Cơ chế bảo hiến với việc thúc đẩy dân chủ…………………………………..126 4.3.1. Cơ chế bảo hiến bảo vệ các quyền con người ………………………….126 4.3.2. Cơ chế bảo hiến với nguyên tắc phân quyền……………………………141 4.3.3. Cơ chế bảo hiến với việc bảo đảm các nguyên tắc bầu cử…………147 4.4. So sánh với Việt Nam………………………………………………………………….151 Kết luận Chương 4…………………………………………………………………….155 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………….157 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……………………………………………………………..161 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………….162 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………….180
    4. 6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHDCND : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân DCCH : Dân chủ Cộng hòa ĐBND : (Đại hội) Đại biểu nhân dân (của địa phương Trung Quốc) ĐBNDTQ : (Đại hội) Đại biểu nhân dân toàn quốc (của Trung Quốc) ĐH : Đại học FEC : Far Eastern Commission – Uỷ ban Viễn Đông (của phe Đồng Minh) GHQ : General Headquarters – Tổng Hành dinh lực lượng chiếm đóng (của phe Đồng Minh tại Nhật Bản) NXB : Nhà xuất bản SWNCC : State-War-Navy Coordinating Committee – Uỷ ban điều phối hậu chiến (của chính phủ Hoa Kỳ) TAHP : Tòa án Hiến pháp XHCN : Xã hội Chủ nghĩa
    5. 7. DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Khái quát sự tương tác giữa tiến trình chính trị/ dân chủ hóa (chịu sự ảnh hưởng của kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc tế…) và hiến pháp (các quy định về phân quyền, bảo hiến, nhân quyền…)………………………………………. 97
    6. 8. 1 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu về công trình nghiên cứu Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hiểu biết về các mô hình thể chế chính trị và pháp lý của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa, xã hội, địa lý, là rất cần thiết. Luận án này nghiên cứu so sánh sự phát triển của hiến pháp các quốc gia trong khu vực Đông Á, có sự tập trung vào bốn (4) trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (địa vị pháp lý của Đài Loan được lý giải chi tiết tại mục 3.2 – về đối tượng nghiên cứu), trong tiến trình dân chủ hóa chính trị và xã hội. Luận án hướng đến lý giải ba (3) vấn đề: Thứ nhất, sự hình thành và phát triển hiến pháp tại các quốc gia (chế độ) trong khu vực xuất phát từ nguyên nhân nào và đã diễn ra ra sao; phải chăng những biến động chính trị, tiến trình dân chủ hóa tại các quốc gia đã quyết định sự phát triển này. Thứ hai, theo hướng tác động ngược lại, hiến pháp đã đóng góp những gì vào việc củng cố các thiết chế dân chủ, các nguyên tắc phân quyền, bảo đảm trách nhiệm giải trình của công quyền và bảo vệ các quyền tự do cá nhân. Thứ ba, tại các quốc gia, sự tương tác hai chiều này đã diễn ra khác nhau ra sao, đâu là nguyên nhân dẫn đến những khác biệt trong thiết kế trật tự hiến pháp và hiệu quả của hiến pháp, hiệu quả của cơ chế bảo hiến trong thực tiễn. Tác giả chứng minh rằng thực tiễn chính trị các quốc gia Đông Á chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố văn hóa, hệ tư tưởng bản địa và du nhập, các biến động quốc tế, cũng như các thay đổi về cấu trúc kinh tế, xã hội, đã là những thành tố làm tiền đề cho tiến trình dân chủ hóa chính trị và xã hội, đến lượt nó, chính tiến trình này đã quyết định sự ra đời và phát triển của các bản hiến pháp. Tiến trình phát triển dân chủ tại các quốc gia có sự khác biệt nhất
    7. 9. 2 định, nhưng nhìn chung (đặc biệt rõ là tại Hàn Quốc và Đài Loan), cải cách hiến pháp theo hướng dân chủ hơn luôn là mục tiêu vận động, đấu tranh của các lực lượng tiến bộ. Kết quả của những vận động đó, cũng như của những cải cách dân chủ, đã được ghi nhận trong hiến pháp quốc gia. Theo chiều tác động ngược lại, hiến pháp đã góp phần củng cố các thiết chế, nguyên tắc dân chủ, sự kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực, cũng như thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cá nhân. Tuy nhiên, khả năng tác động ngược lại này là rất khác biệt tại các quốc gia, do bản thân mô hình hiến pháp, cũng như do các yếu tố văn hóa chính trị và điều kiện kinh tế, xã hội. Xét từ góc độ mở rộng dân chủ, kể từ sau năm 1945, Nhật Bản đã đi đầu với mô hình quân chủ lập hiến với sự tiếp thu chủ nghĩa lập hiến Hoa Kỳ, cũng như nhờ có nền tảng dân chủ từ giai đoạn Minh Trị và giai đoạn dân chủ Taisho (giữa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX). Hàn Quốc và Đài Loan kế tiếp sau với phong trào dân chủ thập niên 1960 – 1980. Trung Quốc có thể nói là đang đi sau trong tiến trình cải cách chính trị, mở rộng dân chủ và thúc đẩy pháp quyền này. 2. Lý do lựa chọn đề tài Tác giả chọn đề tài so sánh sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á xuất phát từ năm (5) lý do chủ yếu sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ vai trò quan trọng của hiến pháp trong đời sống mọi quốc gia, Việt Nam không nằm ngoài quy luật cần phải có một bản hiến pháp tốt làm cơ sở cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ và bảo đảm các quyền của công dân. Trong những thập niên qua, cũng với những chuyển đổi lớn trong phát triển kinh tế, xã hội, Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi vào năm 2001, Hiến pháp 2013 được thông qua và bắt đầu có hiệu lực gần đây. Rõ ràng là đất nước đang tiếp tục trong tiến trình chuyển đổi, hướng đến mục tiêu thành một nước công nghiệp, các thể chế chính trị,
    8. 10. 3 cũng như cấu trúc của nền kinh tế, sẽ tiếp tục cần có những điều chỉnh đáng kể để đáp ứng các nhu cầu phát triển. Việc học tập kinh nghiệm của nước ngoài về thể chế và kinh nghiệm xây dựng hiến pháp là một nhu cầu có tính chất liên tục. Thứ hai, mỗi hiến pháp thuộc về một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, luôn nằm trong một bối cảnh, môi trường đan xen tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa. Đồng thời, hiến pháp luôn là sự giao thoa giữa pháp lý và chính trị, nói cách khác, yếu tố chính trị thường có tác động mang tính quyết định về nội dung và hình thức hiến pháp. Chính trị, hay mức độ dân chủ của một chế độ, luôn có mối quan hệ mang tính bản chất với hiến pháp. Bởi lẽ chức năng cơ bản của hiến pháp (lý tưởng) là hướng đến bảo vệ các quyền tự do cá nhân, thiết lập các thể chế dân chủ. Do đó, tìm hiều lịch sử lập hiến cũng cần phải đặt trong tiến trình phát triển của chính trị, cụ thể ở đây là tiến trình dân chủ hóa – tiến trình chuyển đổi theo hướng tích cực, tiếng nói của người dân được tôn trọng nhiều hơn. Thứ ba, Việt Nam và các quốc gia Đông Á (Đông Bắc Á) có nhiều nét tương đồng về địa lý, lịch sử và văn hóa, mà rõ nét nhất là ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Các quốc gia trong khu vực Đông Á, từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt trong ba thập niên cuối thế kỷ XX, đã có nhiều chuyển biến rất ngoạn mục về kinh tế và xã hội, có thể để lại cho Việt Nam nhiều bài học. Về chính trị, Đông Á đã được một số nhà nghiên cứu nhận xét là khu vực có sự đa dạng về chế độ chính trị nhất trên thế giới hiện nay . Trong đề tài này, nhằm mục đích nghiên cứu học thuật, Đài Loan được xem như một chủ thể độc lập ngang với các quốc gia khác (như Trung Quốc, Hàn Quốc…). Việc lựa chọn bốn trường hợp trong khu vực Đông Á (đôi khi được gọi là Đông Bắc Á, để phân biệt với Đông Nam Á) ở đây do có sự gần gũi với nhau và với Việt Nam về địa lý, lịch sử và văn hóa, đều chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Bốn trường hợp này đều rất thành công trên phương diện phát triển kinh tế và xã hội. Trong số đó, Trung Quốc dù là quốc gia có mức phát triển kinh tế không đồng đều và ở mức thấp hơn, nhưng cũng ngày càng trở thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế, chính trị trên phạm vi quốc tế. Một số quốc gia khác trong khu vực Đông Á, như Bắc Triều Tiên và Mông Cổ, cũng được đề cập đến trong các so sánh, dù không được phân tích sâu. Nhằm rút ra các gợi ý, bài học cho Việt Nam, quốc gia thường được xếp vào khu vực Đông Nam Á về mặt địa lý, tác giả luận án có mục riêng so sánh lịch sử lập hiến và hoàn cảnh chính trị Việt Nam với các quốc gia Đông Á (trong Chương 3 – mục 3.3 và Chương 4 – mục 4.4).
    9. 15. 8 chủ nghĩa lập hiến, dân chủ, dân chủ hóa, mối quan hệ giữa dân chủ với hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến, dân chủ và hiến pháp ở Đông Á. Thứ hai, làm rõ sự cần thiết của nghiên cứu đa ngành, liên ngành (luật học cùng với chính trị học, lịch sử, xã hội học…) đối với hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến. Thứ ba, đưa ra một hướng lý giải về tương tác giữa hiến pháp và dân chủ trong khu vực Đông Bắc Á, bổ sung về mặt nhận thức cho các nghiên cứu về hiến pháp và chính trị nói chung, hiến pháp khu vực châu Á nói riêng, hiện còn tương đối thiếu tại Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của luận án thể hiện ở hai (2) góc độ: Thứ nhất, nêu lên một số gợi ý, bài học về lựa chọn mô hình hiến pháp, mô hình bảo hiến và các thành tố cần có khác của hiến pháp để bảo đảm quyền dân chủ của người dân trong thực tiễn (được nêu tại phần Kết luận). Thứ hai, luận án bổ sung tư liệu nghiên cứu cho người học, người nghiên cứu về các lĩnh vực luật học, chính trị học, sử học hoặc nghiên cứu về châu Á. 6. Bố cục của Luận án Luận án này bao gồm phần Mở đầu và bốn (4) chương: Chương 1 – Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Chương 2 – Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á; Chương 3 – Sự ảnh hưởng của dân chủ hóa đối với phát triển của hiến pháp ở Đông Á; Chương 4 – Sự ảnh hưởng của phát triển hiến pháp đến dân chủ hóa ở Đông Á; và cuối cùng là phần Kết luận.
    10. 19. 12 một số hội thảo và nghiên cứu cơ bản về bộ máy nhà nước và hiến pháp nước ngoài. Có thể kể đến các sách “Thiết chế chính trị và bộ máy nhà nước một số nước trên thế giới”, Viện khoa học pháp lí, NXB Tư pháp, 2005; “Hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp kinh nghiệm của Đức và Việt Nam” (Kỷ yếu hội thảo tháng 9 năm 2012 tại Thanh Hóa do Viện nghiên cứu Lập pháp, UBTVQH tổ chức), NXB Tư pháp, 2012; “Tài phán hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán hiến pháp ở Việt Nam”, Đào Trí Úc và Nguyễn Như Phát (chủ biên) , NXB Công an nhân dân, 2007… Các nghiên cứu ngày càng xuất hiện nhiều hơn, đặc biệt trong tiến trình hướng đến việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Cạnh đó, nhiều công trình tập hợp tư liệu và dịch thuật từ tiếng nước ngoài được phổ biến gần đây. Có thể kể đến “Tuyển tập hiến pháp một số quốc gia”, Khoa Luật, NXB Lao động- Xã hội, 2012; “Tuyển tập hiến pháp một số nước trên thế giới”, Văn phòng Quốc hội, NXB Thống kê, 2009; “Thiết chế Nghị viện – Những khái niệm cơ bản”, UNDP, Văn phòng Quốc hội dịch, 2005; “Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi”, Ngân hàng thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 1997…Nghiên cứu hiến pháp so sánh cũng được đặt trong khoa học luật so sánh và lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Trong các sách nghiên cứu và giáo trình luật so sánh, nội dung của các bản hiến pháp nước ngoài cũng được các tác giả đề cập đến ít nhiều. Về lịch sử lập hiến các nước, nhìn chung sự quan tâm của các luật gia Việt Nam còn rất hạn chế. Trước hết, lịch sử lập hiến của của các quốc gia thường được bao gồm trong môn học/ khoa học về lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Một số giáo trình có thể kể đến là “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”, Nguyễn Ngọc Đào (Chủ biên), Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”, ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân; “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”, Phan Trọng Hòa và Lê Quốc Hùng, NXB Hồng Đức, 2008…Các cuốn sách này thường phân kỳ sự phát triển của nhà nước,
    11. 20. 13 pháp luật (bao gồm hiến pháp) thành các giai đoạn cổ đại, trung đại (phong kiến), cận đại và hiện đại. Cho dù có giới thiệu về một số quốc gia lớn như Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản…, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu tổng quan về từng quốc gia riêng lẻ, mà thiếu sự phân tích so sánh hay đối chiếu. Mặt khác, việc giới thiệu mỗi quốc gia lại bị cắt khúc, chẳng hạn trong cuốn Giáo trình của ĐH Luật, nội dung về Nhật Bản được nêu trong ba phần ở ba giai đoạn khác nhau (phong kiến – thế kỷ XIX – hiện đại). Nghiên cứu sâu về lịch sử lập hiến đã có chủ yếu là về những nền dân chủ phát triển như Hoa Kỳ. Cuốn sách “Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?”, do Nguyễn Cảnh Bình biên soạn, đã được tái bản một số lần (NXB Thế giới, xuất bản trong các năm 2004, 2006, 2009 và 2013). Cạnh đó, một số bài viết trên các tạp chí có quan tâm đến hiến pháp từ góc nhìn lịch sử. Chẳng hạn bài viết “Các hình thức phát triển của hiến pháp – thực tiễn Cộng hòa liên bang Đức và Việt Nam” của TS. Lương Minh Tuân. Theo tác giả sự phát triển của hiến pháp, trong khuôn khổ bảo đảm bản sắc của hiến pháp, diễn ra theo hai con đường: 1) Sửa đổi hiến pháp và 2) Giải thích, cụ thể hóa hiến pháp (làm thay đổi nội dung của quy phạm hiến pháp mà không làm thay đổi lời văn của hiến pháp) (hình thức phát triển này theo tiếng Đức là “Stiller Wandel des Verfassungsrechts”) .
    12. 22. 15 của Võ Khánh Vinh, NXB Công an nhân dân, 2002…cũng dành sự quan tâm nhất định đến pháp luật Nhật Bản. Về hiến pháp Nhật Bản, đã có một số nghiên cứu dạng các bài viết, như tác giả Đặng Minh Tuấn có bài “Chuyển đổi hiến pháp tại Hàn Quốc và Nhật Bản, một số kinh nghiệm cho Việt Nam”, trong sách “Hiến pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, 2011. Tác giả, sau khi giới thiệu một số nét về hiến pháp của hai quốc gia, cho rằng Việt Nam nên học tập để “mạnh mẽ” chuyển đổi hiến pháp của mình . Do vị trí địa lý gần gũi và ảnh hưởng văn hóa sâu đậm đối với Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, ở nước ta đã có những hoạt động tìm hiểu và học tập
    13. 24. 17 chủ nghĩa” do Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, 2008… Trong “Trung Quốc những năm đầu thế kỷ hai mươi mốt”, Đỗ Tiến Sâm và M.L.Titarenko (Chủ biên), NXB Từ điển bách khoa, 2008, có một số bài nghiên cứu sâu của Phạm Ngọc Thạch – “Triển vọng của việc xây dựng nền pháp trị tại Trung Quốc” – và của J.M.Berger “Xây dựng nhà nước pháp quyền và dân chủ hóa chính trị ở Trung Quốc”… Về chính trị Trung Quốc, đã có các sách “Cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc”, Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, 2003; “Chế độ chính trị Trung Quốc”, Doãn Trung Khanh, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, 2012… Việc nghiên cứu so sánh hiến pháp các nước nói chung, các quốc gia Đông Á nói riêng, nhìn chung mới chủ yếu dừng ở việc so sánh hiện trạng quy định của hiến pháp (phân tích quy phạm), mà ít khi phân tích hoàn cảnh lịch sử, tương quan giữa bối cảnh chính trị, xã hội và hiến pháp, kể cả trong các giáo trình về luật hiến pháp nước ngoài. Các giáo trình về lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới dù dành nhiều dung lượng hơn về lịch sử, nhưng lại ít quan tâm đến việc so sánh. Gần đây, tác giả Bùi Ngọc Sơn có một số bài viết về Đông Á, cũng như về các quốc gia trong khu vực này so sánh với các khu vực khác cùng trong những giai đoạn chuyển đổi. Ảnh hưởng của văn hóa, các giá trị bản địa đến hiến pháp rất được tác giả này quan tâm. Trong bài viết so sánh “Đặc điểm phát triển của hiến pháp ở Đông Á” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 202, 10/9/2011), tác giả đã khái quát một số nét đặc thù của hiến pháp khu vực này: về chức năng của hiến pháp (vốn thường được coi là cấu thành của một chương trình, kế hoạch rộng lớn), về phân chia quyền lực (có những yếu tố bổ sung của phương Đông như tư tưởng “ngũ quyền” của Tôn Trung Sơn), về quyền con người (nhấn mạnh nghĩa vụ quốc gia) và về chế độ bảo hiến (đều có sự thận trọng). Bùi Ngọc Sơn đi đến kết luận hệ thống chính trị Đông Á phản ánh các “giá trị phương Đông” và đang
    14. 28. 21 tăng của tiến trình toàn cầu hóa sau Chiến tranh Lạnh, luật hiến pháp so sánh ngày càng được sự quan tâm của các học giả, luật gia và thẩm phán trên thế giới. Điều này được lý giải bởi nhu cầu học hỏi hiến pháp nước ngoài gia tăng để phục vụ cho việc soạn thảo hoặc sửa đổi hiến pháp từ sau năm 1990 bởi các quốc gia chuyển đối như Nam Phi, nhiều quốc gia ở khu vực Đông Âu và Nam Mỹ. Nguyên do thứ hai khiến hiến pháp so sánh phát triển là khuynh hướng “quốc tế hóa” luật hiến pháp, hiến pháp và tòa án hiến pháp các quốc gia ngày càng dẫn chiếu nhiều đến luật nhân quyền quốc tế và phán quyết của tòa án hiến pháp nước ngoài, cũng như của các cơ chế nhân quyền khu vực và của Liên hợp quốc Một số công trình lớn gần đây có thể kể đến là “Comparative Constitutional Law” (Luật Hiến pháp so sánh) của Vicki C.Jackson và Mark V.Tushnet, NXB Foundation, ấn bản lần 2, năm 2006; “The Oxford Handbook of Comparative Constitutional Law” (Sổ tay Oxford về Luật Hiến pháp so sánh) của Michel Rosenfeld và Andras Sajo (biên tập), NXB ĐH Oxford, năm 2012; “Comparative Constitutional Law” (Luật Hiến pháp so sánh) của Tom Ginsburg và Rosalind Dixon (biên tập), 680 trang, NXB Edward Elgar, năm 2011; “Comparative Constitutional Design” (So sánh thiết kế hiến pháp), Tom Ginsburg (biên tập), NXB ĐH Cambridge, năm 2012… Phạm vi của các công trình này bao trùm rất rộng. Cuốn Sổ tay của Michel Rosenfeld và Andras Sajo (biên tập) gồm 64 bài viết thuộc các nội dung lớn như: Lịch sử, phương pháp và thể loại hiến pháp (Phần I), các tư tưởng chủ đạo (II), tiến trình soạn hiến pháp (III), cấu trúc nhà nước (IV), ý nghĩa, giải thích văn bản (V), các thể chế (VI), các quyền con người (VII), các quyền có sự giao thoa (chẳng hạn như vấn đề giới, phá thai) (VIII) và các khuynh hướng (chẳng hạn như quốc tế hóa luật hiến pháp, hiến pháp hóa luật quốc tế, sử dụng hiến pháp nước ngoài khi giải thích hiến pháp…)(IX). Cuốn sách so
    15. 32. 25 đến. Một mặt, hiến pháp được thừa nhận như kết quả của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có mức độ dân chủ của nhà nước và xã hội. Mặt khác, vai trò của hiến pháp trong củng cố dân chủ cũng rất thiết yếu. Đối với các quốc gia đang trong tiến trình chuyển đổi, hướng tới dân chủ và ổn định, theo Yash Ghai, hiến pháp đã được xác định có hai nhiệm vụ chính yếu là: 1) Thiết lập và củng cố cộng đồng chính trị, vì dân chủ hàm ý sự hiện diện của một cộng đồng chính trị (được hình thành dựa trên sự đồng thuận, không nhất thiết là một dân tộc); 2) Thiết lập hay cải cách các nguyên tắc phân bổ và thực thi quyền lực nhà nước: hiến pháp có vai trò bảo đảm cho sự hoạt động trôi chảy của hệ thống chính trị bằng chuyển tải các quan điểm chính trị qua các thể chế định sẵn theo các thủ tục, trình tự rõ ràng. Ngoài ra, hiến pháp có vai trò về ý thức hệ thông qua sự khẳng định các giá trị chung. Cụ thể hơn, hiến pháp đóng góp cho dân chủ bằng cách khẳng định các giá trị chung, nếu không có chúng thì không thể có cộng đồng chính trị; mô tả các quy tắc để xác định các thành viên của cộng đồng đó; dảo đảm an ninh chung bởi sự độc quyền sử dụng vũ lực (một cách chính đáng) của nhà nước… Trong lịch sử, thông thường việc thiết lập cộng đồng chính trị được thực hiện trước, nhưng ngày nay, hai nhiệm vụ này thường thực hiện song song. Tuy nhiên, trong trong nhiều trường hợp, hiến pháp chỉ là công cụ để cai trị và trấn áp . Nền dân chủ hiến định này cũng gần với đòi hỏi về một chính quyền hợp hiến (constitutional government), hàm ý chính quyền phải bị giới hạn bởi hiến pháp, các cơ quan công quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) không thể vượt quá ranh giới hiến định, xâm phạm quyền tự do cá nhân. Về nền dân chủ lập hiến, Walter F.Murphy, dù khẳng định sự tương thích về cơ bản giữa giữa lý thuyết dân chủ và chủ nghĩa lập hiến, cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai lý thuyết này. Nếu như lý thuyết dân chủ về cơ bản là sự tin tưởng vào đa số, vào sự trao quyền cho người đại diện (các dân biểu), những người theo chủ nghĩa lập hiến nhìn nhận tiêu cực hơn về bản chất con người (khuynh hướng lạm quyền, đàn áp người khác), do đó đòi hỏi có sự kiềm chế bằng thể chế chống lại sự độc đoán và chuyên quyền. Như vậy có thể nói là cả dân chủ và chủ nghĩa lập hiến đều bảo vệ nhân phẩm, nhưng phương thức bảo vệ của mỗi lý thuyết lại khác nhau , một số nhà nghiên cứu (chủ yếu từ châu Á) cố gắng chỉ ra những yếu tố của “chủ nghĩa lập hiến Nho giáo” (Confucianism constitutionalism), một thứ chủ nghĩa lập hiến mang đặc điểm của khu vực chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo và văn hóa Trung Hoa. Chủ nghĩa lập hiến Nho giáo hay Chủ nghĩa lập hiến Đông Á, giống như khái niệm “Dân chủ Nho giáo” (Confucianism democracy), hiện đang được khảo sát như một sự dung hòa giữa các đặc điểm của bản địa với giá trị phổ quát. Các tác giả như Tom Ginburg, Wen Chenchang, Bùi Ngọc Sơn, cố gắng tìm ra những điểm tương thích trong lịch sử và văn hóa phương Đông (như sự giới hạn sự tùy tiện của nhà cầm quyền) với chủ nghĩa lập hiến hiện đại có nguồn gốc từ phương Tây, cũng như tìm ra những nét đặc thù ngày nay của cơ chế kiểm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Độ Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Với Quyền Công Dân Và Quyền Con Người Ở Việt Nam
  • Đề Tài: Thực Hiện Dân Chủ Ở Xã Huyện Sơn Hòa, Tỉnh Phú Yên, Hay
  • Luận Văn: Thực Hiện Pháp Luật Về Dân Chủ Ở Cơ Sở, Hot
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Phát Huy Dân Chủ, Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Của Dân, Do Dân, Vì Dân
  • Quan Niệm Của Hồ Chí Minh Về Dân Chủ
  • Bạn đang xem bài viết Luận Văn: Sự Phát Triển Của Hiến Pháp Trong Tiến Trình Dân Chủ Hóa trên website Zdungk.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!