Pháp Luật Về Tái Cơ Cấu Quản Trị Nội Bộ Của Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam

Xem 1,287

Cập nhật thông tin chi tiết về Pháp Luật Về Tái Cơ Cấu Quản Trị Nội Bộ Của Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam mới nhất ngày 15/04/2021 trên website Zdungk.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 1,287 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Khả Năng Thanh Khoản Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Rủi Ro Thanh Khoản Trong Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam Và Thế Giới
  • Đánh Giá Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Thanh Khoản Của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
  • Cơ Sở Lý Luận Về Quản Trị Rủi Ro Thanh Khoản Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Thanh Khoản Hệ Thống Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ THÚY ANH

    PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ

    CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

    Chuyên ngành: Luật Kinh tế

    Mã số: 60 38 01 07

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    HÀ NỘI – 2021

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN THỊ THÚY ANH

    PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ

    CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

    Chuyên ngành: Luật Kinh tế

    Mã số: 60 38 01 07

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS LÊ THỊ THU THUỶ

    HÀ NỘI – 2021

    LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng

    tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ

    công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn

    đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất

    cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo

    quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

    có thể bảo vệ Luận văn.

    Tôi xin chân thành cảm ơn!

    NGƯỜI CAM ĐOAN

    Nguyễn Thị Thúy Anh

    1.1.1.1.Định nghĩa ngân hàng thương mại ……………………………………………. 6

    1.1.1.2.Đặc điểm của ngân hàng thương mại ………………………………………… 8

    Từ các khái niệm nêu trên, có thể thấy NHTM có những đặc điểm chính

    như sau: ……………………………………………………………………………………………. 8

    1.1.2.Khái niệm quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại…………………. 10

    1.1.3.Khái niệm tái cơ cấu quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại….. 13

    1.2.Mục đích và vai trò của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương

    mại ………………………………………………………………………………………………….. 15

    1.2.1.Mục đích của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại …… 15

    1.2.2.Vai trò và lợi ích của việc tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương

    mại ………………………………………………………………………………………………….. 20

    1.3.Nội dung của tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ………. 21

    1.3.1.Tái cơ cấu Bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại ……………….. 22

    1.3.2.Tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương mại…………………… 30

    Chương 2 ………………………………………………………………………………………… 38

    THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI BỘ CỦA

    NHTM Ở VIỆT NAM ………………………………………………………………………. 38

    2.1. … Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu bộ máy quản lý ngân hàng thương

    mại ở Việt Nam………………………………………………………………………………… 38

    2.1.3.Hội đồng thành viên …………………………………………………………………. 54

    2.1.4.Ban kiểm soát…………………………………………………………………………… 56

    2.2.Thực trạng pháp luật về tái cơ cấu bộ máy điều hành ngân hàng thương

    mại ………………………………………………………………………………………………….. 58

    2.2.1.Tổng giám đốc …………………………………………………………………………. 58

    2.2.2.Kiểm toán và kiểm soát nội bộ …………………………………………………… 64

    2.3.Ưu điểm, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về tái cơ cấu quản

    trị nội bộ ngân hàng thương mại ……………………………………………………….. 68

    2.3.1.Pháp luật quản trị nội bộ ngân hàng thương mại ở Việt Nam còn thiếu

    ……………………………………………………………………………………………………….. 73

    2.3.2.Những quy định về quản trị nội bộ ngân hàng thương mại nằm rải rác

    ở các văn bản khác nhau. ………………………………………………………………….. 75

    2.3.3. … Các văn bản pháp luật trong hệ thống văn bản quy định về quản trị

    nội bộ ngân hàng thương mại không thống nhất…………………………………. 76

    2.3.4. . Pháp luật về quản trị ngân hàng thương mại ở Việt Nam chưa thống

    nhất với các chuẩn mực quản trị quốc tế. …………………………………………… 76

    CHƯƠNG 3 …………………………………………………………………………………….. 79

    GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ

    NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM ……………… 79

    3.1Phương hướng hoàn thiện pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân

    hàng thương mại ở Việt Nam ……………………………………………………………. 79

    3.1.1.Phù hợp đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu hệ

    thống ngân hàng ở Việt Nam …………………………………………………………….. 80

    3.1.2.Bảo đảm tính thống nhất và phù hợp giữa pháp luật về tái cơ cấu

    quản trị nội bộ ngân hàng thương mại và pháp luật ngân hàng nói chung82

    3.1.3.Đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng và

    khắc phục các hạn chế của pháp luật về tái cơ cấu ngân hàng thương mại ở

    Việt Nam hiện nay ……………………………………………………………………………. 83

    3.2 Các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về tái cơ cấu các

    ngân hàng thương mại ở Việt Nam ……………………………………………………. 86

    3.2.1.Các giải pháp về tái cơ cấu bộ máy quản lý của ngân hàng thương mại

    ……………………………………………………………………………………………………….. 86

    3.2.2.Các giải pháp tái cơ cấu bộ máy điều hành của ngân hàng thương mại

    ……………………………………………………………………………………………………….. 93

    3.2.3. Những giải pháp hoàn thiện việc tái cơ cấu quản trị nội bộ ngân hàng

    thương mại từ phía ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại . 99

    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………. 105

    TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………….. 107

    CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

    Chữ viết tắt

    Tên/ cụm từ đầy đủ

    NHTM

    Ngân hàng thương mại

    NHNN

    Ngân hàng Nhà nước

    NHTMNN

    Ngân hàng thương mại nhà nước

    NHTMCP

    Ngân hàng thương mại cổ phần

    TCTD

    Tổ chức tín dụng

    ĐHĐCĐ

    Đại hội đồng cổ đông

    HĐQT

    Hội đồng quản trị

    BKS

    Ban Kiểm soát

    1. Đặt vấn đề

    1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

    Trải qua hơn 20 năm đổi mới, ngành ngân hàng Việt Nam đã hoàn thành

    xuất sắc nhiệm vụ của mình, luôn giữ vai trò quan trọng là huyết mạch của nền

    kinh tế và là nhân tố không thể thiếu để tập trung nguồn lực vốn cho phát triển

    đất nước. Những thành tựu kinh tế xã hội rực rỡ mà Việt Nam đạt được trong

    công cuộc đổi mới đã khẳng định được vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường

    quốc tế, trong đó có sự đóng góp rất lớn của ngành ngân hàng. Do đó nếu thực

    sự không tạo điều kiện đảm bảo mọi yếu tố “an toàn” của ngành ngân hàng thì

    rất dễ gây tổn thương cho nền kinh tế.

    Việc mở cửa thị trường ngân hàng, tài chính là xu thế tất yếu trong bối

    cảnh hội nhập quốc tế, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO đã mang lại rất

    nhiều cơ hội cũng như thách thức cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các ngân

    hàng ở Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn từ các ngân hàng

    nước ngoài đến từ các khu vực tài chính phát triển như Mỹ, Singapore, Nhật

    Bản,… và chịu tác động của những biến động trên thị trường tài chính quốc tế.

    Cùng với đó cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu kéo dài từ

    năm 2008 và đến nay vẫn còn để lại hậu quả nặng nề ở nhiều nước, đặc biệt là ở

    Mỹ mà nguyên nhân chính là sự yếu kém của hệ thống ngành ngân hàng. Điều

    đó buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các ngân

    hàng. Và việc tái cấu trúc hệ thống các ngân hàng, trong đó chú trọng việc tái cơ

    cấu Ngân hàng thương mại (NHTM) đã trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc

    gia để đảm bảo cho các NHTM thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong

    bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam hiện nay, khi thị trường

    chứng khoán phát triển chưa ổn định, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai các

    NHTM thì việc giữ cho hệ thống NHTM ổn định và lành mạnh càng cần phải

    đặc biệt quan tâm.

    1

    Đến nay, có thể nói nền kinh tế cũng như hệ thống NHTM Việt Nam đã

    cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, những hệ lụy của nó đã

    bộc lộ nhiều vấn đề bất ổn, có thể kể đến như: Thanh khoản khó khăn, nợ xấu có

    dấu hiệu tăng cao, năng lực quản trị điều hành hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo

    nàn, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, rủi ro cao ảnh hưởng đến an toàn

    hệ thống, … Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu chéo; hệ thống mạng lưới các NHTM

    phát triển với tốc độ quá nhanh, số lượng nhiều, chất lượng hoạt động chưa cao,

    không ít NHTM hoạt động vì lợi ích cục bộ, chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng

    lớn đến hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ. Do đó, nếu không có biện pháp

    can thiệp kịp thời sẽ có nguy cơ xảy ra rủi ro gây mất an toàn hệ thống.

    Để ổn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả, bền vững, Hội nghị trung

    ương khóa 11 (tháng 10 năm 2011) đã nhấn mạnh sự cần thiết tái cấu trúc nền

    kinh tế, trong đó tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính là một

    trong ba lĩnh vực chủ đạo, quan trọng nhất. Đây là chủ trương lớn thể hiện quyết

    tâm của Đảng nhằm cải tổ nền kinh tế cùng với đẩy lùi tác động, ảnh hưởng tiêu

    cực của khủng hoảng kinh tế thế giới.

    Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của tái cơ cấu hệ thống NHTM,

    đặc biệt là bộ máy quản trị nội bộ NHTM và với mong muốn đề ra các giải pháp

    hữu ích nhằm đóng góp cho quá trình tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM Việt

    Nam thành công, tác giả chọn đề tài: “Pháp luật về tái cơ cấu quản trị nội bộ

    ngân hàng thương mại Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình.

    1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

    Luận văn của tác giả hướng tới mục tiêu sau:

    – Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM.

    – Phân tích thực trạng pháp luật về tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam

    nhằm chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng các quy định về quản trị nội bộ

    NHTM Việt Nam trong thời gian hiện nay. Đồng thời xác định nguyên nhân của

    những hạn chế trong vấn đề quản trị bộ NHTM Việt Nam.

    – Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị góp phần thúc đẩy tiến trình hoàn

    2

    5

    Chương 1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÁI CƠ CẤU QUẢN TRỊ NỘI

    BỘ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    1.1.

    Khái niệm quản trị nội bộ ngân hàng thương mại và tái cơ cấu

    quản trị nội bộ của ngân hàng thương mại

    1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại

    1.1.1.1.

    Định nghĩa ngân hàng thương mại

    Khi nền sản xuất hàng hóa xuất hiện thì tiền tệ và nghề kinh doanh tiền tệ

    cũng ra đời. Bản thân sự phát triển của nghề kinh doanh tiền tệ cũng tạo tiền đề

    và đòi hỏi phải xuất hiện ngân hàng, tức là đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức

    và bộ máy thích hợp đảm nhiệm lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Như vậy, sự ra đời

    của hình thức kinh doanh tiền tệ dưới dạng “ngân hàng” là sự đòi hỏi tất yếu

    khách quan của kinh tế – xã hội.

    Ở nhiều quốc gia trên thế giới có rất nhiều dạng ngân hàng khác nhau

    như: Ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách,…Nhưng sự ra đời của mô hình

    NHTM đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong các định chế tài chính của mỗi

    quốc gia cũng như đối với nền kinh tế của quốc gia đó. Và NHTM đã hình

    thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế

    hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn đến quá trình

    phát triển của nền kinh tế hàng hoá, và ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển

    mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày

    càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu

    được. Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM tạo lợi ích cho người gửi tiền,

    người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được

    lợi nhuận cho ngân hàng.

    Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM. Ở Mỹ,

    NHTM được hiểu là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài

    chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.. Và NHTM gồm có NHTM Nhà nước,

    NHTM cổ phần nhà nước và nhân dân, NHTM có 100% vốn nước ngoài và

    NHTM liên doanh.

    1.1.1.2.

    Đặc điểm của ngân hàng thương mại

    Từ các khái niệm nêu trên, có thể thấy NHTM có những đặc điểm chính

    như sau:

    – NHTM là trung gian tài chính:

    Thứ nhất, đặc điểm về trung gian tài chính được thể hiện ở chỗ NHTM là

    trung gian giữa cung và cầu về vốn tín dụng, hay còn được hiểu là trung gian

    giữa người gửi tiền và người vay tiền thông qua hoạt động thường xuyên, chủ

    yếu là nhận tiền gửi và có trách nhiệm hoàn trả, sử dụng tiền gửi này để cấp tín

    dụng. Với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM vừa đóng vai trò là người đi

    vay, vừa đóng vai trò là người cho vay, hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch

    giữa lãi suất nhận tiền gửi, lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các

    bên tham gia: Người gửi tiền và người đi vay… Và cho vay luôn là hoạt động

    quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho

    NHTM.

    Thứ hai, NHTM là trung gian giữa Ngân hàng trung ương và nền kinh tế.

    Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngân hàng trung ương ở các

    quốc gia là thực hiện chính sách tiền tệ. Ngân hàng trung ương sử dụng các công

    cụ như tái cấp vốn, dự trữ bắt buộc, lãi suất,…để thực hiện chính sách tiền tệ

    quốc gia và bắt buộc NHTM phải chấp hành. Sự hạn chế về nguồn vốn buộc các

    NHTM phải thận trọng hơn trong việc đầu tư, hướng nguồn vốn vào các lĩnh

    vực có hiệu quả. Điều này vừa có tác động kiềm chế lạm phát, vừa bảo đảm an

    toàn cho các NHTM .

    Như vậy, quản trị công ty được đặt ở một tầm cao hơn nhằm bảo đảm rằng

    công ty sẽ được quản lý một cách hiệu quả và phục vụ lợi ích của các cổ đông.

    Một cấu trúc quản trị doanh nghiệp hoàn chỉnh và hiệu quả là cấu trúc

    quản trị bao gồm đầy đủ các cấu phần: Chủ sở hữu, HĐQT, các Ủy ban giúp

    việc cho HĐQT, Ban điều hành cấp cao, cấp trung và các nhân viên tác nghiệp

    trực tiếp. Bên cạnh đó, một cấu trúc quản trị doanh nghiệp còn đòi hỏi phải chứa

    đựng những yếu tố vô hình như sự bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, của

    người gửi tiền đó là tính minh bạch trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo;

    tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hóa tổ chức lành

    mạnh và những chuẩn mực đạo đức .

    Xuất phát từ các quan điểm về tái cơ cấu nói trên, có thể định nghĩa tái cơ

    cấu (restructuring) chính là quá trình tổ chức, sắp xếp lại NHTM nhằm tạo ra

    “trạng thái” tốt hơn cho NHTM để thực hiện những mục tiêu đề ra. Nói một

    cách đầy đủ hơn, có thể hiểu khái niệm tái cơ cấu NHTM nói chung như sau:

    “Tái cơ cấu ngân hàng thương mại là việc sắp xếp lại cơ cấu tổ

    chức của ngân hàng, bằng cách xây dựng lại sơ đồ cơ cấu tổ chức,

    thay đổi các phòng ban chức năng với những tên gọi mới, thay đổi tư

    duy quản lý, tái cấu trúc lại quá trình kinh doanh, trên cơ sở đó định

    hình mô hình và cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và định hướng

    kinh doanh của doanh nghiệp”.

    Trong hệ thống NHTM việc tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM là một trong

    những vấn đề trọng tâm hiện nay. Và xuất phát từ khái niệm tái cơ cấu ngân

    hàng nói chung và quan điểm của Đảng và Nhà nước về tái cơ cấu hệ thống

    NHTM, có thể định nghĩa “tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM” như sau:

    “Tái cơ cấu quản trị nội bộ NHTM là quá trình sắp xếp, tổ

    chức lại toàn bộ mô hình tổ chức, quản trị điều hành trong nội bộ các

    ngân hàng, từ đó giảm thiểu tối đa nguy cơ rủi ro trong hoạt động của

    từng ngân hàng đơn lẻ nói riêng và cả hệ thống ngân hàng nói chung,

    đảm bảo hoạt động của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh kinh tế

    hiện nay và đảm bảo an toàn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho cơ cấu

    toàn bộ hệ thống ngân hàng”.

    Hoạt động ngân hàng tự nó đã chứa đựng rất nhiều rủi ro và khi những rủi

    ro đó tích tụ, trở nên quá lớn do tác động của các yếu tố bên ngoài như bất ổn

    kinh tế vĩ mô, khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán hay/và thị

    trường bất động sản lao dốc hay do các yếu tố bên trong như quản trị rủi ro bất

    cập, quy trình tín dụng không hoàn chỉnh, đầu tư mạo hiểm, trình độ năng lực và

    đạo đức của đội ngũ không đáp ứng yêu cầu,… thì ngân hàng sẽ không thể tránh

    khỏi đổ vỡ nếu không được cơ cấu lại, cả cơ cấu lại từng ngân hàng, cũng như

    16

    cơ cấu lại cả hệ thống ngân hàng. Cho đến nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam

    đang đối mặt với những rủi ro ngày một gia tăng, nổi bật là:

    Rủi ro tín dụng: Một mặt, để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư sản xuất

    kinh doanh của các doanh nghiệp và người dân, trong khi nguồn vốn kinh doanh

    chỉ chủ yếu dựa vào hệ thống ngân hàng, nên đã có hiện tượng “tín dụng nóng”.

    Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, người vay nợ gặp khó khăn thì

    rủi ro tín dụng gia tăng, nhất là trong những trường hợp ngân hàng quá dễ dãi

    trong việc cấp tín dụng cho vay và không thực hiện trích lập dự phòng rủi ro tín

    dụng đầy đủ. Đặc biệt, sự hấp dẫn của thị trường bất động sản và chứng khoán

    trong thời gian vừa qua đã khiến nhiều NHTM tập trung quá nhiều vốn cho

    những thị trường đầy rủi ro này, góp phần không nhỏ vào thổi phồng “bong

    bóng” bất động sản và chứng khoán. Song, những lúc thị trường này đảo chiều

    đi xuống thì nguy cơ rủi ro lại tăng cao. Mặt khác, do một số NHTM mới thành

    lập nên mặc dù qui mô vốn không lớn song vẫn cần tăng nhanh qui mô tín dụng

    để qui mô tài sản có phù hợp với qui mô vốn, đồng thời, nhằm đáp ứng yêu cầu

    lợi nhuận của cổ đông, cũng như thỏa mãn tham vọng nhanh chóng vươn lên

    bằng các NHTM có qui mô lớn và bề dày kinh nghiệm khác. Trong điều kiện

    đó, những ngân hàng này đã bất chấp các qui tắc về an toàn vốn, về quản trị rủi

    ro để đạt tốc độ tăng tín dụng tới hàng chục phần trăm mỗi năm, kể cả tín dụng

    cho những lĩnh vực rủi ro cao. Khi NHNN quyết định thắt chặt tín dụng cho bất

    động sản, chứng khoán và tiêu dùng xuống mức 22% tổng tín dụng vào giữa

    năm 2011 và mức 16% vào cuối năm 2011 thì rủi ro tín dụng của những NHTM

    này tăng vọt. Ngoài ra, rủi ro đạo đức do sử dụng vốn tín dụng sai mục đích

    cũng tăng cao, hậu quả là tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng mạnh. Theo công bố

    của NHNN, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng đã tăng từ 2,2% tổng tín

    dụng vào cuối năm 2010 lên 3,1% vào giữa năm 2011, trong đó, gần một nửa là

    nợ xấu có khả năng mất vốn. Thậm chí, một số tổ chức tài chính thế giới còn

    cho rằng tỷ lệ nợ xấu đã lên tới trên 10% (nếu tính theo chuẩn quốc tế). Thực tế,

    một số NHTMNN như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã công

    khai tỷ lệ nợ xấu tới 6,6% và Vietcombank có tỷ lệ nợ xấu là 3,9% . Có những giai đoạn NHNN đã phải bơm ròng đến hàng chục

    ngàn tỉ VND trên thị trường mở và thị trường liên ngân hàng để bảo đảm thanh

    khoản cho toàn hệ thống. Rủi ro thanh khoản còn đi đôi với rủi ro kỳ hạn khi

    tuyệt đại đa số vốn huy động có kỳ hạn ngắn, thậm chí rất ngắn song các NHTM

    lại cấp tín dụng ở tất cả các kỳ hạn với một tỷ lệ không nhỏ dành cho vay trung

    và dài hạn.

    Rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái: Những bất ổn kinh tế vĩ mô, đặc biệt là

    lạm phát cao và những chính sách thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát đã đặt hệ

    thống NHTM trước những rủi ro rất lớn về lãi suất. Những biến động lớn, đột

    ngột về lãi suất, cả huy động và cho vay, cùng với những biện pháp điều hành

    lãi suất còn mang nặng tính hành chính đã khiến cho các NHTM thường xuyên

    trong trạng thái đối phó, khi thì chạy đua tăng lãi suất huy động, khi lại giữ lãi

    suất cho vay ở mức rất cao để phòng ngừa biến động lãi suất. Vì vậy, hiện tượng

    “vượt trần, phá rào, hai lãi suất” diễn ra tương đối phổ biến làm giảm hiệu lực

    của các chính sách tiền tệ, đồng thời làm suy giảm đạo đức kinh doanh của

    không ít cán bộ quản lý cũng như cán bộ tác nghiệp trong hệ thống ngân hàng…

    Hoạt động của không ít NHTM rất bấp bênh, chênh vênh giữa trạng thái lãi – lỗ,

    kỷ luật kinh doanh không được tuân thủ triệt để, tạo ra những kẽ hở cho kẻ xấu

    lợi dụng.

    Bên cạnh đó, do tình trạng đô-la hóa chậm được khắc phục, với tổng tiền

    gửi ngoại tệ vẫn chiếm trên 20% tổng tiền gửi, thậm chí còn phát sinh thêm tình

    trạng vàng hóa với cả trăm tấn vàng được các NHTM huy động song không

    được sử dụng hiệu quả, nên các NHTM còn phải đương đầu với rủi ro tỷ giá hối

    đoái và cả rủi ro giá vàng. Chỉ trong 10 tháng đầu năm 2011 tỷ giá hối đoái

    18

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Vai Trò Của Hoạt Động Huy Động Vốn Của Ngân Hàng
  • Vai Trò Của Vốn Đối Với Ngân Hàng Thương Mại
  • Khái Niệm Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Hoạt Động Cho Vay Và Hình Thức Cho Vay Cơ Bản Của Ngân Hàng
  • Khái Niệm Chất Lượng Cho Vay Của Nhtm
  • Bạn đang xem bài viết Pháp Luật Về Tái Cơ Cấu Quản Trị Nội Bộ Của Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam trên website Zdungk.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!