Phòng Ngừa Và Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Công Thương H

Xem 4,158

Cập nhật thông tin chi tiết về Phòng Ngừa Và Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Công Thương H mới nhất ngày 13/06/2021 trên website Zdungk.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 4,158 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài: Biện Pháp Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Vietcombank
  • Khái Niệm, Bản Chất Và Vai Trò Của Quyết Định Trong Quản Trị
  • Khái Niệm Về Hội Chứng Tự Kỷ Là Gì? Hội Chứng Tự Kỷ Được Chuẩn Đoán Như Thế Nào?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Về Áp Dụng Pháp Luật Trong Công Tác Đấu Tranh Phòng Chống Tác Hại Của Rượu Bia
  • Luật Phòng Chống Tác Hại Của Rượu Bia
  • Luận văn

    PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ

    RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ

    PHẦN SÀI GÒN CÔNG

    THƯƠNG

    i

    MỤC LỤC

    Tính cấp thiết của đề tài …………………………………………………………………………….. 1

    2.

    Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………………… 2

    3.

    Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ………………………………………………………………….. 2

    4.

    Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………………… 3

    5.

    Kết cấu luận văn……………………………………………………………………………………….. 3

    Chương 1 ………………………………………………………………………………………………………….. 4

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

    TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG ……………………………. 4

    1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

    THƯƠNG MẠI ……………………………………………………………………………………………… 4

    1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng …………………………………………………………………………………… 4

    1.1.2 Hậu quả rủi ro tín dụng………………………………………………………………………………………. 5

    1.1.3 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng………………………………………………………. 6

    1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan ………………………………………………………………………………. 6

    1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan…………………………………………………………………………………… 8

    1.1.3.3 Nguyên nhân khác ……………………………………………………………………………………….. 13

    1.2 PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

    THƯƠNG MẠI ……………………………………………………………………………………………. 15

    1.2.1 Khái niệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng ……………………………………….. 15

    1.2.2 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tại

    ngân hàng thương mại ………………………………………………………………………………………………. 16

    1.2.3 Đánh giá việc tuân thủ các nguyên tắc giám sát ngân hàng theo tiêu chuẩn Basel

    2 của các ngân hàng thương mại Việt Nam ………………………………………………………………. 20

    1.2.4 Basel 3 và lộ trình áp dụng……………………………………………………………………………….. 22

    1.2.5 Những điểm mới của Basel 3 so với Basel 1 và Basel 2 …………………………………… 23

    1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ

    RỦI RO TÍN DỤNG ……………………………………………………………………………………… 25

    1.3.1 Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ…………………………………………. 25

    1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Công Thương Việt Nam …………………………………….. 28

    KẾT LUẬN CHƯƠNG 1…………………………………………………………………………………. 30

    ii

    Chương 2 ………………………………………………………………………………………………………… 31

    THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

    NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG…………………………………………. 31

    2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

    CÔNG THƯƠNG ………………………………………………………………………………………… 31

    2.1.1 Vài nét về ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương ……………………………………….. 31

    2.1.2 Các hoạt động cơ bản tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương ………………… 33

    2.2 THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

    NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG ……………………………………… 38

    2.2.1 Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình cấp tín dụng ………………………………….. 38

    2.2.2 Tuân thủ các quy định về tín dụng……………………………………………………………………. 44

    2.2.3 Phân tán rủi ro ………………………………………………………………………………………………….. 48

    2.2.4 Thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định ………………………………………. 49

    2.2.5 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro………………………………………………………….. 52

    2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN

    DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG…………………… 58

    2.3.1 Những kết quả đạt được …………………………………………………………………………………… 58

    2.3.2 Những tồn tại trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

    TMCP Sài Gòn Công Thương ………………………………………………………………………………….. 61

    2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại ……………………………………………………………………….. 64

    KẾT LUẬN CHƯƠNG 2…………………………………………………………………………………. 66

    Chương 3 ………………………………………………………………………………………………………… 67

    GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI

    NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG…………………………………………. 67

    3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN

    CÔNG THƯƠNG ĐẾN NĂM 2021………………………………………………………………. 67

    3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO

    TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG………………………………. 70

    3.2.1 Đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương ………………………………………….. 70

    3.2.2 Đối với cán bộ tín dụng ……………………………………………………………………………………. 71

    3.3 GIẢI PHÁP NHẰM PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

    TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NÓI CHUNG ………………………………. 74

    3.3.1 Về phía các Ngân hàng thương mại …………………………………………………………………. 74

    3.3.2 Về phía nhà nước……………………………………………………………………………………………… 79

    3.4 ỨNG DỤNG NGUYÊN TẮC BASEL VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU VÀ

    NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG TRONG XÂY DỰNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ RỦI

    RO TÍN DỤNG HIỆN ĐẠI ………………………………………………………………………….. 80

    iii

    3.5 TIỀN ĐỀ CƠ BẢN ĐỂ THỰC HIỆN BASEL 3 ĐỐI VỚI CÁC NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM …………………………………………………………….. 85

    KẾT LUẬN CHƯƠNG 3…………………………………………………………………………………. 87

    KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………….. 88

    1

    2

    Phát sinh nợ xấu là tất yếu trong hoạt động của ngành ngân hàng. Các ngân

    hàng thương mại luôn phải đối phó với các khoản nợ khó đòi. Chính vì vậy mà TS

    Vũ Viết Ngoạn – Tổng Giám đốc Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (VCB) đã có

    một nhận định có giá trị cảnh báo: “Nợ xấu đang là vấn đề đau đầu với hầu hết các

    ngân hàng Châu Á, và các ngân hàng Việt Nam không phải là ngoại lệ”. Còn Tổng

    Giám đốc ANZ, ngân hàng lớn thứ tư của Australia, ông Mike Smith so sánh nợ

    khó đòi như những dư chấn có sức tàn phá lớn sau một trận động đất mạnh.

    Như vậy, mỗi ngân hàng cần phải làm gì để có thể hạn chế thấp nhất những

    hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại? Xuất phát từ yêu cầu cần thiết này tác giả chọn

    đề tài: PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN

    HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG, làm mục tiêu

    nghiên cứu.

    2. Mục đích nghiên cứu

    Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng như sự cần

    thiết phải quan tâm đến rủi ro tín dụng, hậu quả của rủi ro tín dụng để từ đó xây

    dựng chương trình quản trị rủi ro tín dụng, phân tích những nguyên nhân dẫn đến

    rủi ro tín dụng từ đâu mà có.

    Phân tích thực trạng hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công

    Thương về chính sách, quy trình tín dụng đang áp dụng, phân tích tình hình dư nợ

    cho vay qua các thời điểm từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm 2011, đánh giá những

    mặt đạt được và những tồn tại trong hoạt động cho vay.

    Đề xuất một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất

    rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương như đào tạo, tuyển

    chọn cán bộ có năng lực giải quyết công việc, có chế độ đào tạo, khen thưởng, kỷ

    luật rõ ràng, thực hiện bảo đảm tín dụng chặt chẽ và bản thân mỗi cán bộ tín dụng

    cần phải tự nâng cao trình độ để phân tích tốt xu hướng phát triển ngành, kiểm tra

    tính chính xác của báo cáo tài chính, nâng cao nhận thức của người vay.

    3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

    Những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng, hậu quả của rủi ro tín dụng.

    3

    Thực trạng hoạt động tín dụng – tác giả chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay tại Ngân

    hàng TMCP Sài Gòn Công Thương về dư nợ cho vay nói chung và đặc biệt là diễn

    biến nợ quá hạn nói riêng từ năm 2008 đến 6 tháng đầu năm 2011.

    4. Phương pháp nghiên cứu

    Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp sau:

    – Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên: các báo cáo của các cơ quan chức

    năng, của Ngân hàng thương mại, tài liệu trên các phương tiện thông tin đại

    chúng: trên báo, tạp chí chuyên ngành, Internet …

    – Phương pháp thống kê chọn mẫu, so sánh: theo thời gian, theo chỉ tiêu,…

    5. Kết cấu luận văn

    Chương 1: Cở sở lý luận về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt

    động kinh doanh của ngân hàng.

    Chương 2: Thực trạng về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

    TMCP Sài Gòn Công Thương.

    Chương 3: Giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng

    TMCP Sài Gòn Công Thương.

    4

    Chương 1

    CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

    TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG

    1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

    THƯƠNG MẠI

    1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

    Với vai trò trung gian trên thị trường tài chính, ngân hàng thực hiện chức

    năng “đi vay để cho vay”. Vì thế, ngân hàng gánh chịu rủi ro từ cả 2 phía: Người đi

    vay và người cho vay. Đứng trên giác độ là người đi vay, rủi ro tín dụng xảy ra khi

    người gửi tiền rút trước hạn. Đứng trên giác độ là người cho vay, rủi ro tín dụng

    xảy ra khi người vay tiền hoàn trả tiền vay không đúng với hợp đồng tín dụng đã

    ký kết với ngân hàng.

    Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận

    khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân

    hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả

    đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng.

    Vì rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) vỡ nợ của khách hàng nên ngân

    hàng cố gắng “thấy” được càng rõ, càng kỹ, càng tốt. Khách hàng phá sản, lừa đảo,

    chây ỳ không trả nợ là biểu hiện rõ nhất, bên cạnh đó các khoản nợ không trả được

    khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ. Nhiều ngân

    hàng cho rằng nếu một khoản nợ đến hạn mà không trả được, thì các khoản nợ

    khác chưa đến hạn cũng được coi là rủi ro. Thậm chí, dù nợ chưa đến hạn, hoặc đến

    hạn vẫn trả được, song tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến

    động không thuận lợi cho khách hàng, thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro.

    Hiện nay, nhờ chú trọng đến công tác cho vay, nhiều tổ chức tín dụng luôn

    mở rộng phạm vi cho vay, tăng trưởng tín dụng nhưng vẫn đảm bảo khả năng thu

    hồi nợ đúng hạn, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, tổn thất có thể xảy ra. Tuy

    nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số tổ chức tín dụng đang rất

    5

    6

    độ cao thì việc khôi phục lại lợi thế trên thị trường là hết sức khó khăn. Bởi vì, rủi

    ro cao có thể làm giảm uy tín của NH (chỉ cần một NH bị sụp đổ thì sẽ ảnh hưởng

    đến toàn hệ thống các NH vì lúc đó lòng tin trong dân chúng vào NH đã không còn

    nữa), làm cho khả năng thanh toán của NH giảm sút. Điều này đưa đến kết quả làm

    cho lợi nhuận suy giảm, thậm chí có thể dẫn đến sự phá sản của các NHTM. Cùng

    với điều này là sự rò rỉ chất xám (ngân hàng bị mất đi nhân viên do trả lương quá

    thấp), mối liên kết trong kinh doanh với các NH trong nước và quốc tế bị thu hẹp.

    1.1.2.2 Đối với nền kinh tế quốc dân

    Hoạt động kinh doanh của NH là một loại hình hoạt động đặc biệt vì đó là

    hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, mọi hoạt động kinh doanh của

    nó đều gây ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế xã hội. Hoạt động ngân

    hàng là hoạt động mang tính chất xã hội cao, vì vậy khi một NH bị suy yếu dễ tạo

    ra phản ứng dây chuyền đối với các NH và định chế tài chính khác, sở dĩ để xãy ra

    phản ứng dây chuyền là do rủi ro tín dụng gây ra rủi ro thanh khoản làm mất lòng

    tin trong dân cư. Từ đó, dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nghiêm

    trọng, ảnh hưởng dây chuyền đến các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, kìm hãm

    sự phát triển kinh tế, gây suy thoái nền kinh tế.

    1.1.3 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

    1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan

    Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và

    người đi vay. Người đi vay sử dụng tiền vay trong một khoảng thời gian, không

    gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là

    môi trường kinh doanh, đây chính là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín

    dụng. Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên

    nhân khách quan.

     Rủi ro do môi trường kinh tế không thuận lợi

    Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới là

    nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi

    vay. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào sản xuất nông nghiệp và

    7

    8

    hậu quả nặng nề xảy ra rồi mới can thiệp thì rủi ro và nguy cơ đe dọa sự an toàn

    trong hệ thống là rất lớn.

    Hệ thống thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN đã hoạt động

    tương đối hiệu quả và đạt được những kết quả bước đầu rất khả quan. Tuy nhiên,

    đây vẫn chưa là một cơ quan định mức tín nghiệm doanh nghiệp một cách độc lập,

    thông tin cung cấp còn đơn điệu, thậm chí cập nhật không kịp thời, chưa đáp ứng

    được nhu cầu tra cứu thông tin của các NHTM.

    Thực hiện nghị quyết của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm

    phát. NHNN đã chỉ đạo kiềm chế tín dụng dưới 20% nhưng vẫn phải đáp ứng nhu

    cầu vốn để sản xuất kinh doanh hiệu quả, chính vì vậy các ngân hàng phải giảm

    mức tối đa tín dụng cho lĩnh vực bất động sản, chứng khoán. Chính sách này quá

    đột ngột làm cho các DN đang xây dựng công trình chung cư cao cấp bị hụt vốn, lãi

    suất áp dụng cho lĩnh vực phi sản xuất cao ngất ngưỡng từ 24 – 25%/năm. DN nào

    có vốn lớn, phần vốn tự có tham gia đáng kể trong tổng nhu cầu vốn thì có thể trụ

    được nhưng nếu DN nào chủ yếu sử dụng vốn vay sẽ lâm vào tình trạng thiếu hụt

    vốn trầm trọng, không cầm cự được với lãi suất quá cao dẫn đến nợ quá hạn tại các

    ngân hàng phát sinh đáng kể.

    1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

     Xuất phát từ phía ngân hàng

    Một là, Sự nhận thức chưa đầy đủ, thực hiện chưa nghiêm túc các quy định

    hiện hành.

    Trong cho vay, nếu NH chỉ tập trung vốn quá lớn vào một số khách hàng thì

    rủi ro tín dụng sẽ rất cao nếu như khách hàng đó rơi vào tình trạng thua lỗ, khi đó

    NH sẽ phải chịu rủi ro lớn. Chính vì vậy không thể để tình trạng để trứng vào cùng

    một giỏ được mà cần phải biết phân tán rủi ro. Không nên “bỏ trứng vào một giỏ”

    là một bài học nằm lòng trong kinh tế thị trường. Lý do chủ yếu của khuyến nghị

    có tính chất kinh nghiệm như trên là do kinh doanh trong kinh tế thị trường có sự

    cạnh tranh gay gắt, do đó các “rủi ro” luôn luôn rình rập – mà cạnh tranh vốn dĩ

    không phải là điều xấu, bởi cạnh tranh là động lực của tăng trưởng, động lực của

    sáng kiến, cải tiến…

    9

    10

    mà còn tạo ra bầu không khí lao động, thi đua sôi nỗi với quyết tâm “biến cơ hội

    thành lợi thế, biến thách thức thành động lực phát triển”. Nếu cán bộ sa sút về

    phẩm chất, đạo đức, thiếu trách nhiệm, tiêu cực thì tai họa cho NH là không thể

    tránh khỏi.

    Nợ xấu không chỉ xuất phát bởi DN làm ăn kém hiệu quả, từ yếu tố khách

    quan của nền kinh tế, mà nó còn nảy nở ngay chính nội bộ các ngân hàng, lâu nay

    vấn đề rủi ro đạo đức trong kinh doanh NH luôn là nỗi ám ảnh đối với các nhà

    băng. Khi lãnh đạo không làm hết trách nhiệm, cán bộ tín dụng bị tha hóa vì đồng

    tiền cùng với hệ thống quản trị rủi ro, kiểm soát lỏng lẻo sẽ vô cùng nguy hiểm.

    Thực tế cho thấy, một số món vay lớn kém chất lượng, tồn đọng không có

    khả năng thu hồi và đang có nguy cơ bị mất trắng nhiều tỷ đồng đều xuất phát từ số

    cán bộ này. Vì vụ lợi, buông lỏng quản lý nên trong quá trình thẩm tra, xét duyệt

    cho vay, quản lý vốn vay không những họ đã không tuân thủ các quy định hiện

    hành mà còn dễ dãi, tạo kẻ hỡ cho khách hàng lợi dụng. Đã có không ít chi nhánh

    NHTM tuy sai phạm chỉ do một số người gây ra nhưng tính nghiêm trọng, mức độ

    tổn thất thật nặng nề đến nỗi khó có khả năng tự bù đắp được. Trước thực trạng

    này, thay vì làm rõ trách nhiệm, có biện pháp xử lý cá nhân có sai phạm thì một số

    nơi không những chưa quan tâm đến xử lý cá nhân có sai phạm mà còn lạm dụng

    nguồn dự phòng để xử lý rủi ro. Phổ biến nhất là: khách hàng là tổ chức, doanh

    nghiệp chưa bị giải thể, phá sản nhưng nợ tồn đọng của họ tại NH lại được xử lý rủi

    ro đưa vào ngoại bảng, vì vậy không những phản tác dụng mà còn làm phát sinh

    tâm lý ỷ lại, món nợ đã được sử dụng dự phòng xử lý rồi thì coi như trách nhiệm đã

    nhẹ đi phần nào, khách hàng trả vô thì càng tốt. Chính điều này, đã làm một số cán

    bộ có sai phạm đâm ra chủ quan, chưa tích cực tìm biện pháp để khắc phục hậu quả

    do họ gây ra được thì khoản vay khác cũng sai phạm tương tự lại tiếp tục phát sinh

    làm cho tỷ lệ nợ xấu thực chất chiếm trong tổng dư nợ của một số NH luôn ở mức

    cao hơn rất nhiều so với mức cho phép.

    Tình trạng một số cán bộ tín dụng tiếp tay với khách hàng làm giả hồ sơ

    vay, nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố quá cao so với thực tế đã để lại những hậu

    11

    quả nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín ngân hàng. Vì vậy, vấn đề

    con người phải cần được chú trọng hơn nữa nhằm nâng cao tinh thần đạo đức

    cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mỗi cán bộ nhân viên.

    Ba là, Chưa phát huy hết vai trò công tác kiểm tra nội bộ.

    Kiểm tra nội bộ nên được phát huy về bản chất hơn tính hình thức và phải

    được xem như là một hệ thống “giảm phanh” của cỗ xe tín dụng. Tín dụng càng

    tăng trưởng với tốc độ lớn thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả mới có thể

    tránh cho cỗ xe lao đi trước những rủi ro vốn luôn tồn tại trên con đường đi tới.

    Thực tế cho thấy, tại một số NH đội ngũ nhân viên kiểm toán nội bộ đa số

    tuổi đời còn non trẻ, chưa có kinh nghiệm thực tế trong cho vay nên dẫn đến tình

    trạng nhân viên kiểm toán ấy chỉ biết dựa vào quy trình do NH ban hành mà kiểm

    tra hồ sơ của cán bộ tín dụng, chủ yếu chỉ kiểm tra xem hồ sơ có được giải quyết

    theo đúng quy trình hay không, hồ sơ vay vốn, hồ sơ pháp lý chứng từ sử dụng vốn

    vay của khách hàng có được đầy đủ và lưu hồ sơ có khoa học hay không… Bên

    cạnh đó, do chưa được tiếp xúc với báo cáo tài chính của các công ty trên thực tế

    mà chỉ dựa trên những gì đã được học nên khả năng phân tích báo cáo tài chính còn

    kém, không đề xuất được ý kiến của bản thân trong những đợt kiểm tra hồ sơ nội bộ.

    Bốn là, Công tác giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay còn yếu.

    Việc giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay cũng là một trong những công

    cụ hữu ích góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng. Khi NH cho vay thì khoản cho vay

    phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo được hoàn trả. Đây cũng là một

    trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ làm tín dụng nói riêng và của

    ngân hàng nói chung. Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay không những để

    tuân thủ các điều khoản đã đề ra trong hợp đồng tín dụng đã ký mà còn là điều kiện

    để tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng kinh doanh. Mỗi cán bộ tín

    dụng là người nắm rõ nhất tình hình “sức khỏe” của DN mình nắm giữ vì vậy kiểm

    tra sau chính là cơ hội để chia sẽ, tâm sự, tư vấn với khách hàng, để hiểu thêm họ

    đang cần gì và NH có thể giúp được gì cho họ, giúp cho quy mô sản xuất kinh

    doanh của DN ngày càng phát triển hơn hay nói cách khác cán bộ tín dụng phải là

    12

    13

    trả hết nợ cho ngân hàng, nếu NH không cho vay nữa họ sẽ không có vốn để tiếp

    tục làm ăn nên mặc dù có tiền nhưng họ nhất định không trả, cố tình để cho

    khoản nợ bị quá hạn luôn. Trong trường hợp này ý chí trả nợ của khách hàng là

    rất kém, không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng.

    Ngoài ra, một thực tế hiện nay đã cho thấy phần lớn các doanh nghiệp khi

    vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, chủ yếu tập trung vốn đầu tư

    vào tài sản vật chất chứ ít có doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản

    lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực.

    Một quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý thì những rủi ro dẫn

    đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi là rất lớn, mà lẽ ra nó

    phải thành công trên thực tế.

    Bên cạnh đó, sự minh bạch về sổ sách kế toán của doanh nghiệp vẫn còn là

    một khó khăn rất lớn đối với cán bộ ngân hàng trong công tác thẩm định năng lực

    tài chính của khách hàng vay vốn. Độ tin cậy về năng lực tài chính, tính đúng đắn

    của các báo cáo tài chính cũng như “lý lịch” về quan hệ tín dụng của DN mới chính

    là “thước đo” mang tính thủ tục, không thể thiếu khi tiếp cận vốn của các DN. Tuy

    nhiên, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp đôi khi chỉ thể hiện tính hình thức

    hơn là thực chất. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn chú trọng

    phần tài sản bảo đảm như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.

    1.1.3.3 Nguyên nhân khác

    Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng như tính không ổn định

    ngày càng tăng của thị trường tài chính, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các

    ngân hàng, sự can thiệp của chính quyền địa phương… nhưng thêm vào đó một vài

    nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng đó là:

     Nguyên nhân từ quan hệ sở hữu nhà nước:

    Cho đến nay, NHTM nhà nước vẫn là người cho vay doanh nghiệp nhà nước

    (DNNN) lớn nhất. Có nhiều lý do: Mối quan hệ truyền thống, cùng hình thức sở

    hữu, nhu cầu vay lớn và khả năng cho vay lớn (NHTM cổ phần khó đáp ứng), nếu

    có chuyện gì thì cùng Nhà nước xử lý.

    14

    15

    1.2 PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

    THƯƠNG MẠI

    1.2.1 Khái niệm về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

    Trên quan điểm quản lý, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, có thể đề

    phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, ngày nay việc tìm ra các giải pháp

    nhằm hạn chế rủi ro tín dụng luôn trở thành vấn đề mang tính sống còn, là mối

    quan tâm hàng đầu của bất kỳ ngân hàng nào.

    Vậy thế nào là phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng?

    Trước khi đi tìm hiểu phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là gì chúng ta

    cần nhắc lại khái niệm rủi ro là gì và rủi ro tín dụng là gì?

    Trước hết, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy

    hiểm. Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự

    tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi

    ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh,

    sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh

    nghiệp. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp

    phòng ngừa, hạn chế những rủi ro một cách hiệu quả nhất.

    Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận

    khoản vốn vay không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân

    hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả

    đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng.

    Hiện các NHTM đang gặp phải rất nhiều rủi ro trong hoạt động cho vay mà

    biểu hiện rõ rệt nhất là tình trạng nợ quá hạn có xu hướng gia tăng. Những khoản

    rủi ro này đang đe dọa tới sự phát triển bền vững của các Ngân hàng cũng như sự

    phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Vậy phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, theo tác giả chính là việc nghiên

    cứu và đề ra các giải pháp nhằm ngăn chặn đến mức tối đa việc phát sinh những rủi

    ro có thể xảy ra như việc khách hàng nhận vốn vay mà không thực hiện hoặc thực

    hiện nhưng không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng,

    16

    khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi ngân hàng.

    Làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của một ngân hàng thể hiện qua một số chỉ

    tiêu như tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ đã xóa, đã xử lý trên tổng dư nợ, chi

    phí dự phòng tín dụng hay số dư dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ…

    Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày

    càng tăng, dẫn đến mức độ tăng trưởng tín dụng cũng tăng lên tương ứng. Sự tăng

    trưởng tín dụng của các NHTM phù hợp với sự tăng trưởng của nền kinh tế cả

    nước nói chung và của kinh tế thành phố nói riêng. Tuy nhiên sự tăng trưởng tín

    dụng cũng kéo theo sự gia tăng rủi ro tín dụng, điều này làm ảnh hưởng rất nhiều

    đến hiệu quả sử dụng vốn và làm hạn chế việc mở rộng tín dụng của các NHTM.

    Do đó việc phát triển tín dụng phải đi đôi với chất lượng tín dụng.

    Vì vậy các giải pháp tốt trong quản lý rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm

    hàng đầu của các ngân hàng nhằm tạo ra sự tăng trưởng tín dụng một cách ổn định,

    bền vững.

    1.2.2 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro

    tại ngân hàng thương mại

    Hoạt động kinh doanh của các NHTM rủi ro là như thế và ta nhận thấy

    một điều rằng ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh

    chịu là hợp lý và kiểm soát được chứ không thể chối bỏ rủi ro. Như vậy, quản trị

    rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh

    của NHTM. Những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiến thức về quản

    trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham mưu

    chuyên nghiệp và bộ máy kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ hiệu quả là

    điều cần thiết để phòng ngừa, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh.

    Chính vì vậy mà đã có nhiều ý kiến khẳng định: “quản trị rủi ro là nghiệp vụ

    chủ đạo và là thước đo năng lực “sống” hay là “chết” của một NHTM.

    Một chương trình quản trị rủi ro toàn diện bao gồm 4 yếu tố: Xác định hạn mức

    rủi ro (đưa ra mức rủi ro chấp nhận được), đánh giá rủi ro, theo dõi tổng thể rủi ro

    và quá trình quản trị rủi ro.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Lập Mức Trọng Yếu Và Đánh Giá Rủi Ro Kiểm Toán Trong Giai Đoạn Lập Kế Hoạch Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính
  • Khái Niệm Trọng Yếu Trong Kiểm Toán Và Qui Trình Đánh Giá Trọng Yếu Trong Kiểm Toán Báo Cáo Tài Chính
  • Khái Niệm, Phân Loại Rủi Ro Tín Dụng
  • Cấu Trúc Rủi Ro Của Lãi Suất (Interest Rate Risk Structure) Là Gì?
  • Tiểu Luận Cấu Trúc Rủi Ro Của Lãi Suất
  • Bạn đang xem bài viết Phòng Ngừa Và Hạn Chế Rủi Ro Tín Dụng Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn Công Thương H trên website Zdungk.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!