Rủi Ro Trong Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế

Xem 8,415

Cập nhật thông tin chi tiết về Rủi Ro Trong Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế mới nhất ngày 29/07/2021 trên website Zdungk.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 8,415 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Rủi Ro Trong Thanh Toán Quốc Tế, Điểm Cao
  • Quản Trị Rủi Ro Tài Sản (Asset Risk Management) Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Quản Trị Rủi Ro Tài Sản
  • Tiểu Luận Cấu Trúc Rủi Ro Của Lãi Suất
  • Cấu Trúc Rủi Ro Của Lãi Suất (Interest Rate Risk Structure) Là Gì?
  • Khái Niệm, Phân Loại Rủi Ro Tín Dụng
  • 2

    5

    7

    – Rủi ro trong bảo hiểm: Trong hợp đồng thương mại được ký, các bên tham

    gia thiếu sự quản lý chặt chẽ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng trong vận chuyển

    hàng hóa. Khi đó hàng hóa được đền bù với giá quy định trong hợp đồng bảo hiểm,

    nhưng có thể thấp hơn nhiều so với giá trị thực của hàng hóa.

    – Yếu tố chất lượng, nguồn gốc của hàng hóa: Hàng hóa với chất lượng

    không như chuẩn mực đã ký kết hay như tên gọi gốc sẽ gây ra những rắc rối đối

    với người nhập hàng trong việc quan hệ với các cơ quan chức năng: hải quan,

    thuế,…Ví dụ khi hợp đồng hàng hóa đã ký nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa tại một

    nước nào đó thi không thể thay thế bằng hàng nhập từ nước khác. Trường hợp hải

    quan xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa không đúng như đăng ký , người

    nhập khẩu sẽ phải trả thêm lệ phí.

    Một ví dụ điển hình trong thực tế, Công ty Hapos của Úc đã ký thoả thuận

    mua hàng với một đối tác Nhật Bản, nhưng trong hợp đồng, Hapos đã để cho đối

    tác Nhật Bản lựa chọn hãng tàu vận chuyển. Hapos cứ đinh ninh đợi hàng về,

    nhưng sự việc bất ngờ đã xảy ra, chiếc tàu của hãng tàu trên trên đường từ Nhật

    Bản đến Úc đã bị hải quan bắt giữ vì có vận chuyển hàng cấm và hàng chưa kê khai

    hải quan. Kết quả là tất cả các hàng hoá mà Hapos đặt cũng bị tịch thu luôn.

    2. Rủi ro do cho vay tín dụng phục vụ xuất nhập khẩu

    – Khái niệm: Rủi ro tín dụng xảy ra khi NHTM cấp tín dụng cho khách hàng

    để thực hiện các phương thức thanh toán quốc tế theo những điều kiện thanh toán

    đã thỏa thuận với đối tác nước ngoài.

    – Nguyên nhân: Rủi ro tín dụng gây ra cho các ngân hàng xuất phát từ các

    nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan:

    Nguyên nhân chủ quan:

    + Khả năng áp dụng quy chế và năng lực cán bộ trong quá trình thẩm định

    món vay xuất – nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện các phương thức

    thanh toán chuyển tiền, nhờ thu, thanh toán theo L/C, thanh toán ứng trước, chiết

    khấu hối phiếu và chứng từ, đó là các vấn đề như thẩm định phương án vay vốn,

    phân tích năng lực tài chính, khả năng hoàn trả, hiệu quả sử dụng vốn của khách

    hàng, khả năng phân tích các thông tin rủi ro từ phía đối tác của khách hàng, của

    ngân hàng nước ngoài.

    + Sự phối hợp giữa thực hiện nghiệp vụ TTQT của cán bộ đối với những

    dịch vụ thanh toán cung ứng tín dụng. đó là các vấn đề về điều kiện thanh toán, sửa

    đổi L/C, ký hậu và bảo lãnh vận đơn nhận hàng..

    Nguyên nhân khách quan: Đối với các phương thức thanh toán, khả năng rủi

    ro tín dụng bao gồm các nguyên nhân rủi ro do khả năng thanh toán của khách hàng

    và ngân hàng nước ngoài đem lại, mà khả năng này lại phụ thuộc vào các nhân tố

    khách quan khác như: Đối tác của khách hàng không thực hiện hợp đồng đúng, đủ,

    kịp thời về hàng hóa và điều kiện thanh toán làm phá vỡ kế hoạch tiêu thụ, kế

    9

    bảo lãnh về số tiền ứng trước đó, để tránh rủi ro mất tiền khi người bán không thực

    hiện những nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng ngoại thương.

    1.2. Rủi ro đối với người bán

    Rủi ro xảy đến với người bán trong trường hợp nếu người mua thanh toán

    sau khi xuất hàng thì việc thanh toán phụ thuộc vào thiện chí của người mua, do đó

    bên bán dễ bị bên mua chiếm dụng vốn trong thanh toán.

    1.3. Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người mua

    Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người mua khi Ngân hàng cho vay thanh

    toán để người mua nhập hàng, khi hàng về không đúng phẩm chất, quy cách,

    thương vụ thua lỗ, người mua mất khả năng thanh toán, gây tổn thất cho ngân hàng

    không thu được nợ.

    1.4. Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người bán

    Rủi ro đối với ngân hàng phục vụ người bán trong trường hợp Ngân hàng

    cho vay thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, người bán không thu hồi được tiền, ảnh

    hưởng đến thu nợ của Ngân hàng.

    Rủi ro có thể xảy đến với Ngân hàng trong phương thức thanh toán bằng

    chuyển tiền cũng có thể do công nghệ thanh toán lạc hậu, chất lượng đường truyển

    kém dẫn đến việc chuyển sai hoặc chuyển nhầm số tiền cần thanh toán.

    Bên cạnh đó, rủi ro trong phương thức này có thể do sự tắc trách, cẩu thả của

    cán bộ thanh toán dẫn đến thanh toán nhầm hoặc chậm thanh toán.

    Tóm lại, phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn

    giản, thủ tục nhanh gọn đối với ngân hàng. Trong phương thức thanh toán này,

    Ngân hàng đóng vai trò là trung gian, do đó rủi ro đối với Ngân hàng trong trường

    hợp này phần lớn gắn liền với rủi ro tín dụng của Ngân hàng.

    2. Rủi ro trong phương thức ghi sổ

    Phương thức thanh toán ghi sổ thuận lợi cho người mua, rủi ro cho người

    bán.

    Thuận lợi cho người mua: Người mua chỉ phải trả tiền khi đã nhận được

    hàng hóa, dịch vụ hoặc thậm chí khi tiêu thụ xong hàng hóa và dịch vụ.

    Thuận lợi cho người bán: Tiêu thụ được hàng hóa và giữ được thị trường

    truyền thống.

    Bất lợi cho người bán: Người bán đã chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa

    mà không được đảm bảo thanh toán: Có khả năng các sự kiện kinh tế chính trị sẽ

    đặt ra các quy định làm chậm trễ hoặc tạm ngừng việc chuyển tiền cho người bán;

    vốn của người bán bị đọng cho đến khi người mua nhận hàng, đôi khi gặp sự chây

    ỳ không thanh toán của người mua thì việc theo đuổi con nợ gặp phải khó khăn vì

    15

    ngay từ đầu người mua đã không cần phải phát hành bất cứ chứng từ nhận nợ nào

    để cam kết thanh toán màng tính phi lý của mình.

    3. Rủi ro trong phương thức nhờ thu

    3.1. Rủi ro chủ yếu thuộc về nhà xuất khẩu

    – Đối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu trơn không đảm bảo quyền

    lợi cho bên bán (thanh toán không bình đằng) giữa sự trả tiền và nhận hàng tách

    rời, không có sự ràng buộc lẫn nhau. Người mua có thể nhận hàng mà không chịu

    trả tiền hoặc trì hoãn việc trả tiền.

    – Đối với phương thức thanh toán bằng nhờ thu kèm chứng từ, người bán

    không chỉ nhờ Ngân hàng thu hộ tiền mà còn nhờ Ngân hàng khống chế chứng từ

    hàng hóa đối với người mua. Với cách khống chế theo bộ chứng từ này quyền lợi

    của bên bán được đảm bảo hơn vì sự ràng buộc giữa việc thanh toán và nhận hàng

    của người mua. Tuy nhiên trong phương thức thanh toán này vẫn có thể xảy ra rủi

    ro đối với người bán. Người bán thông qua Ngân hàng giữ hộ số hồ sơ hàng hóa

    mới chỉ đảm bảo được quyền sở hữu hàng hóa của mình, chứ chưa khống chế được

    việc trả tiền của người mua. Người mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chưa

    nhận chứng từ hàng hóa (không cần nhận hàng), không thanh toán khi giá cả trên

    thị trường biến động dẫn đến bất lợi cho người bán trong việc giải tỏa hàng hóa và

    gặp rủi ro trong tiêu thụ hàng hóa.

    3.2. Rủi ro đối với nhà nhập khẩu

    Trong phương thức nhờ thu, người mua do quy định họ phải có trách nhiệm

    trả tiền ngay hoặc chấp nhận hối phiếu trước khi nhận hàng vì vậy không có điều

    kiện kiểm tra hang hóa trước, người mua có thể gặp trường hợp hàng hóa giao

    không đúng quy cách, phẩm chất với chứng từ hoặc với hợp đồng.

    3.3. Rủi ro đối với ngân hàng trung gian thu hộ

    Đối với các ngân hàng ngoài sự cẩn trọng khi thực hiện đúng chỉ thị ủy

    nhiệm thu thì rủi ro chủ yếu của ngân hàng là rủi ro tín dụng:

    + Ngân hàng nhận nhờ thu: Gặp rủi ro khi chiết khấu bộ chứng từ mà lại bị

    người nhập khẩu từ chối thanh toán hoặc chấp nhận hối phiếu.

    + Ngân hàng ủy nhiệm nhờ thu: Gặp rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng

    nhưng hàng hóa của nhà nhập khẩu lại gặp khó khăn trong tiêu thụ.

    4. Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ

    4.1. Rủi ro đối với ngân hàng phát hành

    Trong phương thức thanh toán bằng thư tín dụng, các Ngân hàng tham gia

    không chỉ đơn thuần chỉ là những trung gian thanh toán mà chính là những thành

    viên thực sự trong quá trình thanh toán, là “người” cam kết trả tiền cho người bán

    thay cho người mua. Với việc mở L/C cho người hưởng lợi, Ngân hàng phát hành

    16

    đã thay mặt người nhập khẩu cam kết việc thanh toán cho người hưởng lợi, điều đó

    có nghĩa là Ngân hàng phát hành sẽ trả tiền cho người thụ hưởng thực hiện đầy đủ

    các điều kiện ngay cả khi người mở không trả hay không muốn thanh toán L/C và

    lúc này Ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro. Rủi ro này không thuộc về mối quan hệ tín

    dụng, vậy nên khi Ngân hàng nhận được thư yêu cầu mở L/C, Ngân hàng cần xem

    xét kỹ tình hình tài chính của khách hàng để có thể có các phán quyết chính xác

    trước khi mở L/C.

    Bên cạnh đó, đối với trường hợp loại L/C không thể hủy ngang khi đã được

    phát hành thì Ngân hang không thể tự ý hủy bỏ hoặc sửa đổi, chỉ được phép thông

    báo sai sót trong vòng 7 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ chứng từ, nếu qua

    thời hạn đã quy định đó thì Ngân hàng mất quyền từ chối và chịu mọi rủi ro, tổn

    thất.

    4.2. Rủi ro đối với ngân hàng thông báo

    Đối với ngân hàng thông báo L/C cần thiết phải xác định tình trạng mã khóa của

    Ngân hàng phát hành L/C, nếu không xác định được điều này phải nêu rõ trong

    thông báo L/C cho người xuát khẩu và nói rõ không chịu trách nhiệm về tính xác

    thực của L/C này, nếu trong việc này Ngân hàng thông báo không cẩn trọng sẽ dẫn

    đến rủi ro cho Ngân hàng thông báo và người xuất khẩu.

    4.3. Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu

    Trong trường hợp nếu các Ngân hàng tham gia thanh toán, chiết khấu bộ

    chứng từ không phát hiện ra sai sót hoặc bỏ qua các lỗi cho là nhỏ, sau khi thực

    hiện thanh toán hoặc chiết khấu cho người bán Ngân hàng sẽ phải chịu mọi rủi ro

    nếu Ngân hàng phát hành L/C từ chối thanh toán. Đặc biệt trong trường hợp Ngân

    hàng chiết khấu đồng thời là Ngân hàng xác nhận L/C thì Ngân hàng đó sẽ không

    có quyền truy đòi lại người xuất khẩu số tiền đã chiết khấu.

    4.4. Rủi ro đối với nhà nhập khẩu

    Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ nên nhà nhập khẩu buộc phải

    thanh toán bất kể hàng hóa tốt hay xấu. rủi ro thuộc về phía người mua nếu người

    bán cố ý lập các chứng từ hàng hóa giả mạo, người mua sẽ phải gánh chịu những

    thiệt hại do lừa đảo từ phía người bán.

    Thực tế đã minh chứng không ít nhiều người bán tiền chuyển đi mà hang thì

    không thấy về. Điển hình, Tập đoàn Nestle có nhập khẩu bơ từ hãng Latel của Na

    Uy để sản xuất các loại sữa giàu dinh dưỡng. Cuộc mua bán được giới thiệu thông

    quan một số thông tin trên Internet. Do đang trong lúc cần nguyên liệu gấp nên

    Nestle đã nhanh chóng thoả thuận hợp đồng nhập khẩu với Latel. Họ đã thoả thuận

    thanh toán theo L/C, vì vội vàng nên Nestle chưa đề cập kỹ các nội dung cụ thể của

    L/C mà nhanh chóng chuyển tiền cho Latel theo L/C thông qua một ngân hàng do

    Nestle chỉ định. Nhưng rồi, tiền thì được gửi đi mà hàng thì mãi vẫn chưa thấy về.

    17

    Tìm hiểu kỹ thì Nestle mới vỡ lẽ ra rằng, Latel chỉ là một công ty ảo trên mạng,

    không có thật.

    4.5. Rủi ro đối với nhà xuất khẩu

    Chi phí cao, đôi khi không đáp ứng được những quy định của L/C nên việc

    thanh toán có thể bị trì hoãn, thậm chí bị từ chối thanh toán. Một ví dụ điển hình đó

    là:

    Lagergren, một hãng kinh doanh các sản phẩm nội thất lớn của Thuỵ Điển,

    đã bán một lô hàng đồ gỗ cho tập đoàn Cadtrak Furniture chúng tôi của Đài Loan. Về

    phần mình, theo thoả thuận giữa hai bên, Cadtrak đã mở tại ngân hàng của mình

    một thư tín dụng L/C để chuyển nhượng số tiền hàng trị giá 760.000 USD cho

    Lagergren qua một ngân hàng Thuỵ Điển. Theo thoả thuận giữa hai bên, hàng sẽ

    được giao thành hai chuyến, mỗi chuyến cách nhau muộn nhất là 20 ngày . Tiền

    hàng cũng được thanh toán làm hai lần và việc thanh toán qua L/C sẽ tuân theo

    UCP500.

    Có hai điều kiện được quy định cho thư tín dụng. Thứ nhất, ngân hàng Đài

    Loan sẽ tiến hành thanh toán khi nhận được một bộ đầy đủ vận đơn đường biển đã

    xếp hàng hoàn hảo. Thứ hai, ngân hàng Thuỵ Điển sẽ phải đợi giấy chấp nhận hàng

    do ngân hàng tại Đài Loan của Cadtrak cấp. Giấy này sẽ được cấp sau khi có thông

    báo của Cadtrak rằng họ đã nhận được hàng và hàng đã được cơ quan y tế Đài Loan

    tại cảng chấp nhận. Sau khi hàng đến Đài Loan, ngân hàng Thuỵ Điển đã gửi bộ

    chứng từ của chuyến hàng cho Cadtrak và đã bị Cadtrak từ chối với lý do thời gian

    giữa hai chuyến giao hàng đã vượt quá 20 ngày. Ngân hàng Thuỵ Điển đã không

    chấp nhận điều này. Do vậy, ngân hàng đã thuyết phục Cadtrak chấp nhận điều

    không đúng nguyên tắc trên. Sau cùng, Cadtrak chấp nhận thời gian giao hàng quá

    20 ngày nhưng vẫn bảo lưu ý kiến từ chối của mình với lý do đợi sự chấp nhận lô

    hàng của Bộ Y tế Đài Loan, cơ quan mà công ty Cadtrak nộp đơn xin kiểm tra

    hàng. Sau đó không lâu, Cadtrak thông báo rằng họ chính thức từ chối hàng của

    Lagergren vì Cơ quan Y tế Đài Loan tại cảng đã phát hiện ra nguy cơ mối mọt

    trong lô hang đồ gỗ này.Lagergren lập luận rằng, trong biên bản của Cơ quan y tế

    đã không có dòng chữ bác bỏ sản phẩm. Tuy nhiên, Cadtrak vẫn giữ nguyên quan

    điểm của mình vớI nhận định rằng: “theo thông lệ, hàng đồ gỗ phải đủ độ tin cậy để

    lưu kho trong vòng 12 tháng”. Cadtrak cho rằng sản phẩm mà họ đặt đã không

    được đảm bảo về chất lượng và bởi vậy khăng khăng không chấp nhận lô hang này.

    18

    19

    PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG

    THANH TOÁN QUỐC

    I. Một số giải pháp hạn chế rủi ro với chủ thể là các Ngân hàng Thương

    mại.

    1. Đối với bản thân mỗi Ngân hàng thương mại cần phải thực hiện:

    1.1. Các giải pháp chung:

    * Nhanh chóng xây dựng quy trình quản trị rủi ro chính thức trong thanh

    toán quốc tế:

    Quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế phải là một quá trình gồm

    những công đoạn khác nhau, chịu ảnh hưởng lẫn nhau: kết quả của công đoạn này

    là cơ sở để tiến hành các công đoạn tiếp theo. Quy trình phải bao gồm ít nhất 5

    bước cụ thể: (1) Nhận dạng rủi ro có thế xảy ra trong hoạt động thanh toán quốc tế;

    (2) Đo lường rủi ro, tổn thất trong hoạt động thanh toán quốc tế; (3) Giám sát rủi

    ro trong thanh toán quốc tế; (4) Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong thanh

    toán quốc tế; (5) Báo cáo và đánh giá về quản trị rủi ro trên thực tế.

    * Hoàn thiê nê chiến lược quản trị rủi ro tổng thể và phổ cập một cách rộng rãi

    trong toàn hệ thống ngân hàng:

    Rủi ro có thể xảy ra từ tất cả các hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng

    thương mại, do vậy ngân hàng thương mại không thể chỉ có chiến lược quản trị rủi

    ro thanh toán quốc tế hay một vài loại rủi ro cụ thể nào khác. Các ngân hàng cần

    hoàn thiê ên chiến lược quản trị rủi ro toàn diện và mang tính dài hạn đối với tất cả

    các hoạt động kinh doanh. Tất cả mọi cán bộ công nhân viên, cổ đông của Ngân

    hàng đều phải tham gia đóng góp ý kiến hoàn thiện chiến lược.

    * Kiện toàn về tổ chức cũng như hoạt động của bộ phận quản trị rủi ro để

    tăng cường quản trị rủi ro của Ngân hàng.

    Chất lượng và hiệu quả của công tác quản trị rủi ro phản ánh năng lực quản

    trị rủi ro của ngân hàng. Để đạt được chất lượng và hiệu quả cao, một trong những

    giải pháp cần thiết là phải tách bạch giữa bộ phận quản trị rủi ro và bộ phận kinh

    doanh tiến tới quản trị rủi ro theo ngành dọc. Trên cơ sở đó bộ phận này mới có thể

    giám sát chặt chẽ toàn bộ các rủi ro và điều hành chính sách quản lý rủi ro phù hợp

    với từng thời kỳ.

    * Đầu tư cơ sở vật chất và kỹ thuật và công nghệ hiện đại phục vụ hoạt động

    quản trị rủi ro trong thanh toán quốc tế:

    * Nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với đội ngũ cán bộ quản lý các cấp

    * Chú trọng đào tạo và phổ câ pê kiến thức về quản trị rủi ro cho cán bô ê nhân

    viên:

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Country Risk Premium (Crp) Là Gì? Định Nghĩa, Ví Dụ, Giải Thích
  • Rủi Ro Quốc Gia (Country Risk) Là Gì? Đánh Giá Rủi Ro Quốc Gia
  • Định Nghĩa Rủi Ro Quốc Gia Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Rủi Ro Quốc Gia
  • Nhận Dạng Rủi Ro (Risk Identification) Là Gì? Cơ Sở Và Phương Pháp Nhận Dạng Rủi Ro
  • Các Loại Rủi Ro Cơ Bản Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Bạn đang xem bài viết Rủi Ro Trong Hoạt Động Thanh Toán Quốc Tế trên website Zdungk.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Tin tức online tv