17 Câu Trắc Nghiệm Định Nghĩa Và Ý Nghĩa Của Đạo Hàm Có Đáp Án

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Đại Số 11
  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 11 Bài 2: Quy Tắc Tính Đạo Hàm
  • Giáo Án Đại Số 11 Chuẩn
  • Giải Bài Tập Toán 11 Bài 1: Định Nghĩa Và Ý Nghĩa Của Đạo Hàm
  • Giải Toán Lớp 11 Bài 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 Trang 156, 157 Sgk Đại Số
  • A. -19

    B. 7

    C. 19

    D. – 7

    Gọi ∆x là số gia của đối số và ∆y là số gia tương ứng của hàm số.

    Ta có :

    Chọn đáp án C

    Câu 3: Tỉ số của hàm số f(x) = 2x.( x – 1) theo x và Δx là

    A. 4x + 2Δ + 2

    C. 4x + 2Δ – 2

    D. 4x.Δx + 2(Δ) 2 – 2Δx

    Với số gia ∆x của đối số x tại x 0 = -1 ,ta có:

    Chọn đáp án A

    Câu 5: Tính đạo hàm của hàm số tại điểm x 0 = 1.

    A. 1/3

    B. 1/5

    C. 1/2

    D. 1/4

    Câu 6: Cho hàm số . Với giá trị nào sau đây của a, b thì hàm số có đạo hàm tại x = 1?

    Câu 7: Tính đạo hàm của hàm số tại x = 1.

    A. 2

    B. 0

    C. 3

    D. Đáp án khác

    Nhận xét: Hàm số y = f(x) có đạo hàm tại x = x 0 thì phải liên tục tại điểm đó.

    Chọn đáp án D

    C. Cả ba đều đúng.

    D. Cả ba đều sai.

    (1) Nếu hàm số f(x) có đạo hàm tại điểm x = x 0 thì f(x) liên tục tại điểm đó. Đây là mệnh đề đúng.

    (2) Nếu hàm số f(x) liên tục tại điểm x = x 0 thì f(x) có đạo hàm tại điểm đó.

    Phản ví dụ

    Nhưng ta có

    Nên hàm số không có đạo hàm tại x = 0.

    Vậy mệnh đề (2) là mệnh đề sai.

    (3) Nếu f(x) gián đoạn tại x = x 0 thì chắc chắn f(x) không có đạo hàm tại điểm đó.

    Vì (1) là mệnh đề đúng nên ta có f(x) không liên tục tại x = x 0 thì f(x) không có đạo hàm tại điểm đó.

    Vậy (3) là mệnh đề đúng.

    Chọn đáp án A

    Câu 10: Xét hai câu sau: (1) Hàm số liên tục tại x= 0. (2) Hàm số có đạo hàm tại x=0 . Trong hai câu trên:

    A. Chỉ có (2) đúng.

    B. Chỉ có (1) đúng.

    C. Cả hai đều đúng.

    D. Cả hai đều sai.

    A. Chỉ (1) đúng.

    B. Chỉ (2) đúng.

    C. Cả hai đều đúng.

    D. Cả hai đều sai.

    A. 9

    B. 4

    C. 7

    D. 6

    Kết luận theo định nghĩa, hàm số có đạo hàm tại x = 2 và f'(2) = 9.

    Chọn đáp án A

    Câu 13: Tính số gia của hàm số tại x 0 = 1

    A.

    B.

    C.

    D. Đáp án khác

    Cho x 0 = 1 một số gia ∆x. Khi đó hàm số nhận một số gia tương ứng:

    Chọn đáp án B

    Câu 14: Tính đạo hàm của hàm số tại x = 3

    A. 1/6

    B. 3/16

    C. 2/9

    D. 4/5

    Câu 15: Tính đạo hàm của hàm số tại x 0 = 1.

    A. 0

    B. 4

    C. 5

    D. Đáp án khác

    Câu 16: Cho hàm số . Khi đó f'(0) là kết quả nào sau đây?

    A. 1/4

    B. 1/16

    C. 1/32

    D. Không tồn tại.

    Câu 17: Cho hàm số . Để hàm số này có đạo hàm tại x = 2 thì giá trị của b là

    A. b = 3

    B. b = -6

    C. b = 1

    D. b = 6

    KHÓA HỌC GIÚP TEEN 2004 ĐẠT 9-10 THI THPT QUỐC GIA

    Đăng ký khóa học tốt 11 dành cho teen 2k4 tại chúng tôi

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Dạng Toán Về Đạo Hàm Của Hàm Số, Cách Tính Và Bài Tập Áp Dụng
  • Tài Liệu Bài Giảng Bài Định Nghĩa Và Ý Nghĩa Của Đạo Hàm Giải Tích 11 (2)
  • Bài Tập Định Nghĩa Đạo Hàm
  • Giáo Án Đại Số 11 Tiết 62
  • Bai Tap Co Loi Giai Dao Hamieng_Va_Vi_Phan
  • Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Định Nghĩa Tiếng Anh Vui
  • Chương I. §7. Hình Bình Hành
  • Cách Chứng Minh Tứ Giác Là Hình Bình Hành
  • Nội Dung Thuyết Bronsted, Thuyết Điện Li, Hóa Học Phổ Thông
  • Anime Là Gì? Sự Tranh Luận Xung Quanh Khái Niệm Anime
  • Nguyễn Xuân Quang

    Những từ mà chúng ta ngày nay cho là “thô tục”, đối với tổ tiên ta chúng mang đầy ý nghĩa về triết lý, vũ trụ quan và nhân sinh quan, nói một cách khác những từ này mang ý nghĩa của Dịch lý.

    Vì đây là một bài khảo cứu về ngôn ngữ và Dịch học, nên tác giả xin phép viết các từ thô tục này “nguyên con” (nguyên chữ). Xin các nhà đạo đức tạm gác cái bầu đạo đức qua một bên khi đọc loạt bài này kẻo không sẽ nguy hại tới sức khỏe (đây là lời khuyên của một thầy thuốc).

    NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ

    Trước hết xin nói về những từ chỉ bộ phận sinh dục phái nữ vì xã hội loài người bắt đầu từ mẫu hệ và hư vô trung tính chuyển qua vũ trụ âm trước. Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, dánh, ke, ghe, nốc, dốc, đốc v. v…

    NƯỜNG

    Nường là tiếng cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua từ kép “nõ nường”. Nõ là nọc là cọc là cặc (xem dưới). Nường là nương, là nang có nghĩa là cái bao, cái túi, cái bọc. Nường là nòng, nõ là nọc. Nõ nường là nọc nòng dương âm là càn khôn. Ta cũng có từ nõn nường hàm nghĩa chỉ bộ phận sinh dục:

    Ba mươi sáu cái nõn nường, Cái để đầu giường, cái gối đầu tay.

    (ca dao).

    Thật ra nõn nường chỉ bộ phận sinh dục gái tơ với nõnnon, trẻ, mượt mà như vải phin nõn, trắng nõn trắng nà. Từ nõn nà với nà là ná, nạ (mẹ) nàng, nường. Nõn nà là nường non, gái tơ, cái nường trắng nõn, trắng nà. Nõn nà là nàng đẹp tương đương với mị nương chính là Mã Lai-Java ngữ nona, nàng.

    LỒN

    Lồn là lồng, lòng, nòng, nàng, nường, nang có nghĩa là cái bao cái túi, cái bọc.

    Cũng xin nói thêm ở đây là vì có biến âm d=l nên ta có từ nói lái đôn lò.

    GHE

    Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

    Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

    Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

    (ca dao).

    Xin bước ra ngoài lề bài viết để kể một câu chuyện lúc tôi đi tuần du hải dương (sea cruise). Trong một buổi gặp mặt thuyền trưởng, một du khách hỏi vị thuyền trưởng là tại sao ship có giống cái và nói là she. Vị thuyền trưởng trả lời là các người đi biển coi con tầu, chiếc thuyền như một mỹ nhân, một người yêu, họ sống chết theo con tầu, chiếc thuyền. Tôi có nói nhỏ với vị thuyền trưởng là trong Việt ngữ ghe ship có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Ông ta há hốc miệng. Bằng chứng là Ainu ngữ của thổ dân ở Nhật có từ chip là ghe thuyền cũng có nghĩa lóng là bộ phận sinh dục nữ (xem dưới).

    NỐC, DỐC, ĐỐC

    Nốc là cổ ngữ Việt chỉ thuyền, ghe. Ngày nay chỉ thuyền nhỏ, còn dùng ở miền bắc Trung Việt:

    Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

    (Tục ngữ).

    Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

    Hay

    Một trăm chiếc nốc chèo xuôi,

    Không có chiếc mô chèo ngược, để tôi gởi lời viếng thăm.

    (Hát đò đưa Nghệ Tĩnh).

    Hay

    Đêm khuya thắp ngọn đèn chai,

    Quen o nốc đáy, ăn hoài cá tươi.

    (ca dao).

    Cũng nên biết nốc ở dưới nước nên liên hệ tới nước. Nốc còn có nghĩa là uống như nốc nước, nốc rượu. Nốc biến âm với nác, nước, núc. Nguyên thủy nốc cũng làm từ một thân cây khoét rỗng. Nốc liên hệ với Anh ngữ nog (cái chốt bằng khúc cây) log (thân cây). Nốc là ghe cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Nốc liên hệ với An ngữ nook (chỗ lõm, “xó” nhà, chỗ lõm dùng làm chỗ ngồi ăn gần bếp). Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục như thấy qua câu ca dao:

    Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

    Thật ra phải viết là ” cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim lốc là dạng nam hóa của nốc (giống như của ) vô nghĩa. Như thế nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc. Cổ ngữ Việt cũng có từ dốc, đốc chỉ thuyền. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ dốc chỉ cơ quan sinh dục đàn bà. Theo n = d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà như thấy qua từ mồng đốc chỉ hạt tình (clitoris) (1). Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

    Như thế ta thấy một nhóm chỉ bộ phận sinh dục nữ qua các từ có nghĩa là ghe, nốc liên lạc với nước mang tính thái âm, thuần âm. Ngay cả từ đò đôi khi cũng được dùng để chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

    Khi xưa anh ở cùng đò,

    Bây giờ đò rách anh mò thuyền nguyên.

    Từ đò gần âm với đồ. Từ đồ có nghĩa là ông đồ nho và cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục như thấy qua câu thơ của một nhà thơ cổ chế riễu hai ông nhà nho:

    Hai đứa tranh nhau một cái đồ!

    Đò biến âm với đỏ. Đỏ cũng có một nghĩa là con gái, bộ phận sinh dục nữ như thấy trong câu hát:

    Thằng cu vỗ chài, Bắt trai bỏ giỏ. Đi xem đánh cá…

    Cái đỏ đối với thằng cu, “đỏ” đối với “cu”.

    Đò cũng biến âm với đó, dụng cụ bắt cá có hình túi cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu tục ngữ:

    Đó rách ngáng chỗ.

    Ý nói các bà vợ có ” đó đã rách ” nên nằm ngáng chỗ khiến các ông chồng không thể mò được “thuyền nguyên”. Cái hay nữa là “đó” cũng có nghĩa là “ấy”. Cái đó là cái ấy.

    Điều rất thú vị là không những các từ cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ còn có nghĩa là ghe, nốc mà trong ngôn ngữ của người Ainu (Hà Di), thổ dân sống ở Nhật Bản có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe, nốc. Ainu ngữ chip chỉ ghe thuyền. Ta thấy rất rõ chip liên hệ với Anh ngữ ship (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ chip cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo:chip, a slang word for the vagina (Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905). Người cổ Việt đã gặp người Ainu “trong phòng the” cách đây hàng mấy ngàn năm. Nên biết là cái nốc, cái độc mộc có thể đi khắp bốn biển sang tới tận Madagascar (ngày nay thuyền độc mộc còn dùng nhiều ở đảo này, ngôn ngữ Magdagascar liên hệ với tiếng Mã-Nam Dương và Nam Á) thì thuyền độc mộc hay cái “nốc” của phái nữ cổ Việt sang tới đất Nhật Bản cũng là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên cả.

    Dĩ nhiên, ngoài ra còn có những tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Chỉ xin nói tới một từ phổ thông nhất là từ lá đa.

    LÁ ĐA

    Lá đa chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu ca dao:

    Sự đời như cái lá đa,

    Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

    Như đã giải thích ở chương Giống Đực Giống Cái trong Tiếng Việt Huyền Diệu, miền Bắc gọi là cây đa trong khi Trung Nam gọi là cây da. Từ da của Trung Nam theo duy âm, nòng có một nghĩa là cái túi cái bao, cái bọc thân người như da người, da trời. Thái ngữ nang là da. Với nghĩa là túi, bọc, nang nên lá đa là lá nường, là lá nàng, lá nòng, là lồng, lồn.

    Về ngôn ngữ học, lá đa theo duy dương, nọc có nghĩa là lửa, mặt trời, đỏ.

    Như thế lá đa theo duy dương là lá trời, lá đỏ (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Như trên ta đã thấy đỏ cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ như “con đỏ ẵm em”. Lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ vì thế lá vông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ vì vông biến âm với vang có nghĩa là đỏ. Đỏ biến âm với đẻ, Phạn ngữ ja là đẻ cùng âm với Việt ngữ da, đa. Lá đa, lá vông có thể hiểu là “lá đỏ”, “lá đẻ”. Lá vông chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ thấy rõ qua tục mai táng của Việt Nam:

    Cha gậy tre, mẹ gây vông.

    Khi cha chết con trai chống gậy tre. Như đẵ biết tre là cây “que”, loài thảo mộc thẳng như cái que không có cành nhánh lớn. Que biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam, phái nam vì thế mà khi cha chết con trai phải chống gậy tre là vậy. Trong khi đó lá vông là lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ nên khi mẹ chết con trai phải chống gậy vông.

    Ngoài ra về hình dạng lỗ sinh dục phái nữ cũng giống lá đa. Hình lá đa chỉ lỗ sinh dục phái nữ còn thấy rất rõ trong gốm cổ Moche của Peru (Gốm Tình Dục Peru Cổ).

    Gốm diễn tả bộ giống phái nữ làm theo cơ thể học, người nữ hình Mẹ Đời ngồi ở tư thế sinh con, hai tay giơ lên phía đầu, ở trong Trứng Vũ Trụ (ở giữa), hình nòng O (bên trái) và hình lá đa (bên phải), Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

    Lá đa, lá vông, lá mơ đều có hình dạng giống nhau vì thế “hiện thực” hơn nữa, lá mơ lông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ.

    Hơn nữa tổ tiên ta chọn lá đa, lá da và từ lá đa, lá da được dùng phổ thông hơn các thứ lá khác vì cây đa, cây da là cây thờ, cây linh thiêng, Cây Đời (Tree of Life), Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree) sinh ra vũ trụ muôn loài. Người đàn bà đầu tiên của loài người hay Mẹ Đời của truyền thuyết Mường Việt cổ là Dạ Dần sinh ra từ một cây si, cùng họ với cây đa (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Cái lá đa của phụ nữ Việt là một thứ lá “thiêng liêng” vì thế tục thờ “lá đa” nói riêng và thờ nõ nường, thờ dâm thần của người cổ Việt theo mẫu hệ là chuyện dĩ nhiên.

    THÌ LA, THÌ LẨY, THÈ LE, TÈ LE

    Xin nói tới một từ chỉ bộ phận sinh dục nữ rất bí hiểm không một ai biết nghĩa. Ta có bài đồng dao nói về con gái:

    Con gái bẩy nghề, Ngồi lê là một, Dựa cột là hai, Kêu ca là bốn, Trốn việc là năm, Hay nằm là sáu, Láu táu là bẩy.

    Ông đồ nào là tác giả làm bài đồng dao này cho con nít hát quả thật là một ông “đồ thâm” nho, một ông đồ “nho nặng” (nhọ), đồ này rất “đen” và rất “nhọ”. Cũng nên biết là bài đồng dao này rất phổ biến ở miền Bắc vì thế không phải chỉ có Trung Nam có liên hệ với Nam Đảo như Mã- Phi Luật Tân mà miền Bắc cũng có liên hệ.

    NU NA NU NỐNG

    Ta cũng thường nghe trẻ em hát bài đồng dao:

    Cái bống nằm trong, Con ong nằm ngoài. . .

    Như đã giải nghĩa ở chương Dịch Học trong Tiếng Việt Huyền Diệu, na là một tiếng cổ Việt có nghĩa là (ná, nạ là mẹ), nàng, nang, nường như nõn nà = nõn nường (cái nà, cái nường trắng nõn). Cổ Việt nống là cái nọc để chống, để nâng vật gì lên. Na và nống là nường nõ, nòng nọc. Na là nà, là nàng, là nường là nòng là dòng là nước nên đi với câu hát thứ nhì có con cá bống, còn nống là cọc là nọc nên đi với câu thứ ba có con ong là loài có nọc (“ong non ngứa nọc”). Hai câu sau giải thích nghĩa của hai từ cổ ‘na” và nống”. Còn từ “nu” nghĩa là gì? Nu biến âm với neo, néo, đeo, đéo với đu, đụ. Nu na nu nống hiển nhiên là “đu na đu nống” là làm tình. Ông đồ nào làm ra bài đồng dao này cũng là loại đồ thâm.

    NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NAM

    Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ, lõ, ke, que, buồi, cặc, chông, chim, cò, cu v. v…

    Nhìn chung những từ chỉ bộ phận sinh dục nam có nghĩa là “vật nhọn” như nọc, cọc, que, roi, dùi…

    Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ nường (nọc nòng). Nõ là cây cọc, nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lõ”: ‘làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa’ và có từ “lô”, “con lô”: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện kim chỉ vật gì đâm ra như cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Có phương ngữ nói là cặc lỏ (dấu hỏi). Theo l=n, lỏ = nỏ, vật bắn mũi tên (một thứ nọc, cọc nhọn). Thời cổ con người dùng cây nõ, cây cọc nhọn đâm thú vật mải về sau mới phát minh ra cây nỏ, cây ná bắn mũi tên. Ta thấy cây nõ đẻ ra cân nỏ, cây ná.

    Ở đây ta thấy lõ (dấu ngã) và lỏ (dấu hỏi) theo hai cách nói và viết với hỏi ngã khác nhau của hai phương ngữ khác nhau đều đúng cả, chỉ có từ này cổ hơn từ khác mà thôi. Vì thế trong Việt ngữ vùng này nói theo âm dấu hỏi vùng kia nói theo âm dấu ngã chưa hẳn là ai đúng ai sai. Chúng ta phải chờ cho tới khi có một hàn lâm viện Việt Nam quyết định chọn viết theo dấu nào để dùng trong pháp ngữ Việt thì khi đó ta đem dùng trong các viết theo học viện (academic). Giả dụ các ông học viện sĩ (hàn lâm viện sĩ, viện sĩ) hỏi ý kiến tôi chọn cách viết theo dấu ngã hay theo dấu hỏi, thì tôi chọn viết theo lõ (dấu ngã) dựa vào các lý lẽ sau đây:

    ./ gốc nõ (cây cọc) cổ hơn nỏ (vật bắn cọc nhọn) như đã nói ở trên cây nõ đẻ ra cây nỏ.

    ./ theo cách giúp trí nhớ về hỏi ngã mà chúng ta thường nghe nói tới là “(Chị) Huyền ngã nặng, hỏi sắc (thuốc) không?” thì dấu ngã (lõ) đi với dấu nặng (cặc).

    ./ta thường viết mũi lõ rồi thì viết cặc lõ cho nó thuận chiều với nhau.

    NỌC

    Heo nọc là heo đực.

    CỌC

    Cọc chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua thơ Hồ Xuân Hương:

    Quân tử có thương thì đóng cọc,

    Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

    (vịnh Quả Mít).

    Hay

    Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

    (vịnh Cái Đu).

    Anh ngữ cock gà sống cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam, có coc – chính là cọc.

    CHÔNG

    Chông là cọc nhọn cũng chỉ bộ phận sinh dục nam:

    . . . . . .

    Thịt chó tiểu đánh tì tì,

    Bao nhiêu lỗ tội tiểu thỉ cắm chông. Nam mô xứ Bắc xứ Đông, Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

    (ca dao).

    Chông cùng vần với chống là que, nọc để đỡ vật gì, với trống là đực với chồng là người có chông, có chống là người trống. Trong khi đó vợ biến âm với vỏ là cái bao, cái bọc, cái túi (xem Dịch Lý).

    KE, QUE

    Như đã nói trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ bộ phận sinh dục nữ và nam. Theo duy dương, ke biến âm với kẻ (kèo nhỏ, thước kẻ), với que chỉ bộ phận sinh dục nam.

    CẶC

    Trung Nam gọi bộ phận sinh dục nam là cặc. Cặc là biến âm của cược, cọc như tiền đặt cọc là tiền đặt cược (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Từ cặc liên hệ với những từ chỉ bộ phận sinh dục nam của Tây Ban Nha carajo, Latin dân dã caracium, Hy Lạp karas (pointed stake, cọc nhọn, REW. 1862) có car– là cặc; với Breton kalc’h, Cornish cal, Welsh col (sting, ngòi, nọc), Ái Nhĩ Lan colg (sword, gươm, kiếm, Pederson 1.105), giáo hội Slavic kocanu (c và u có dấu ă), Albanian kotsh (rod, stalk, que, roi, cọng cây, Berneker 536); Phạn ngữ kaprt(h) – (r có chấm ở dưới) (Walde -P. 1.348, 2.49). . .

    BUỒI

    Miền Bắc dùng từ buồi chỉ bộ phận sinh dục nam không dùng từ cặc. Buồi biến âm với bổ, búa (búa đây là búa có mỏ nhọn tức búa chim) cũng là vật nhọn. Buồi liên hệ với Anh ngữ bur (mũi khoan), ebur (ngà voi), spur (mấu nhọn như cựa gà, mấu nhọn ở gót giầy để thúc ngựa). Buồi biến âm thành “bòi “: trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ bòi: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Buồi ngày naycũng nói trại đi thành “bòi” như “Đứa nào cười tớ nó ăn bòi”. Buồi, bòi liên hệ với Anh ngữ boy (con trai). Thằng ” boy” có bòi, có buồi. Theo biến âm b=v, bòi = vòi, vọi. Khái Hưng trong truyện Trống Mái có một nhân vật rất nổi tiếng, một biểu tượng về tình dục (sex symbol) mang đầy hùng tính, nam tính tên là Vọi. Có lẽ Khái Hưng đã chọn tên này vì nó gần cận với Vòi, Bòi. Theo biến âm b=m, buồi = muồi, muỗi. Con muỗi là con mũi có vòi nhọn như kim nhọn hút máu; buồi = mùi. Trong mười hai con giáp Mùi là con dê là con thú có sừng biểu tượng cho dương, nam tương đương với con hươu. Hán Việt dương là dê. Dương có một nghĩa là đực. Đực biến âm với đục (chisel) là vật nhọn.

    Nhìn chung buồi là bổ, búa, vật nhọn liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ * pes-, * pesos– (Walde-P. 2.68, Ernout-M 7520. Anh ngữ penis có gốc pen- có một nghĩa là cây bút, viết. Bút là bót, vót, viết là vót, vọt, que vót nhọn, nguyên thủy que vót nhọn dùng làm viết vạch lên đất sét, đá mềm. Pháp ngữ verge, Latin virga phát xuất từ gốc rod (roi), stalk (que, cọng cây) ta thấy rõ gốc ver-, vir– liên hệ với Việt ngữ vọt. Hòa Lan ngữ roed (penis) liên hệ với Việt ngữ roi

    CHIM, CÒ, CU.

    Dưới một góc cạnh, chim cò, cu có mỏ nhọn biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam. Theo biến âm ch= k như chặt = cắt, chim = kim (vật nhọn). Ta có từ ghép đồng nghĩa chim chóc. Chóc là chim. Tày-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok là nọc. Cò biến âm với cồ là đực. Đực biến âm với đục (chisel), vật nhọn. Đực là nọc như heo đực là heo nọc. Tục ngữ có câu:

    Cơm no, cò đói.

    Câu này cùng nghĩa với câu:

    No cơm, ấm cật,

    Rậm rật tối ngày.

    Cu biến âm với cò, cồ. Chim cu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam:

    Mù u, ba lá mù u,

    Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa.

    (ca dao).

    Con trai nhỏ thường gọi là thằng cu. Như thế chim, cò, cu có gốc từ vật nhọn, kim, nọc, cọc nên biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam.

    Tóm lại, qua những từ chỉ bộ phận nam nữ ta thấy có những điểm quan trọng cầm lưu tâm như sau:

    -Trong những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, ghe, nốc, khe, kẽ v. v. từ lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng (ngược với Nọc), Khôn (ngược với Càn) dùng trong vũ trụ quan, vũ trụ giáo, thờ mặt trời, Dịch học. Lồn, lồng là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n). Từ lồn dùng phổ thông cả ba miền Bắc Trung Nam. Còn những từ khác gọi theo “bề ngoài” như ke, ghe, nốc v. v… ít phổ thông. Ghe, nốc dùng nhiều ở Trung Nam thôi.

    -Trong tất cả các từ chỉ bộ phận sinh dục nam như ke (que), buồi, cặc, chim cò đều có nghĩa là vật nhọn, nọc, cọc. Miền Bắc dùng buồi trong khi Trung nam dùng cặc. Điểm này một lần nữa ngôn ngữ cho thấy hai xã hội Bắc Nam mang màu sắc Nam Bắc phân ranh (giới) có thể một phần là do hậu quả của một thời Nam Bắc phân tranh. Từ buồi của miền Bắc có gốc là bổ, búa. Từ bổ biến âm với bố (ngược với mẹ). Điểm này ta thấy gần cận với Hán ngữ phụ (bố) biến âm với phủ (rìu, búa). Bố có bổ, có buồi; phụ có phủ. Buồi của miền Bắc gần cận văn hóa Trung Hoa. Bố Việt và phụ Trung Hoa đều có búa cả. Trong khi từ cặc của Trung Nam như đã thấy liên hệ với Phạn ngữ kaprt(h)- (r có chấm ở dưới), bộ phận sinh dục nam (nên nhớ là trong Chàm ngữ, Mã Lai ngữ có rất nhiều gốc Phạn) và gần cận với Mã Lai ngữ (bang Riau Johor) chok chỉ bộ phận sinh dục nam. Chok chính là cọc là cặc. Mã-Lai cận đại theo Hồi giáo vay mượn tiếng Ả Rập hak, zaka r (cặc). Theo h = c (hủi = cùi) hak = cak, cặc và zakar có -kar là cặc. Từ cặc của Trung Nam gần cận với văn hóa Mã Lai Đa Đảo.

    -Về bộ phận sinh dục nam Bắc Trung Nam có hai từ riêng biệt buồi và cặc, trong khi từ lồn ngày nay được dùng phổ thông khắp ba miền. Điều này cho thấy mẹ Việt Nam đời đời như nhất, ảnh hưởng mẫu hệ vẫn còn duy trì kiên cố trong xã hội Việt Nam; vai trò phụ nữ trong xã hội Việt Nam vẫn không thay đổi, nói một cách khác vẫn được duy trì, tôn thờ dù ở xã hộ mẫu quyền hay phụ quyền dù ở bất cứ một thể chế chính trị nào. . . Trong khi nam phái đã chia rẽ, phân biệt Bắc Trung Nam và đi theo các xu hướng, thể chế văn hóa , chính trị khác nhau.

    -Lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng. Mặt khác buồi và cặc tuy là hai từ khác nhau nhưng đều có nghĩa gốc là vật nhọn, nọc. Như thế những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ, nam phổ thông hiện nay đều mang nghĩa nòng nọc (âm dương). Điểm này cho thấy Dịch lý giữ một vai trò cốt yếu trong tiếng Việt nói riêng và trong văn hóa Việt nói chung. Ta thấy rõ bai chữ cái nòng (O) và nọc (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

    Điều này giải thích cho thấy rất rõ là người cổ Việt thờ nõ nường. Khảo cổ học tìm thấy những đôi tượng đá tạc bộ phận sinh dục nam nữ (nõ nường) ở Sông Mã, tượng bộ phận sinh dục nam ở Văn Điển, trên nắp thạp Đào Thịnh có những cặp nam nữ đang làm tình… Nhiều nơi ở vùng đất tổ Việt như ở xã Khúc Lạc và Dị Hậu tỉnh Phú Thọ gần đây còn giữ tục thờ sinh thực khí. Hàng năm hai xã vào đám ngày mồng 7 và 26 tháng giêng. Đồ lễ ngoài trầu cau rượu thịt còn có 36 âm vật và dương vật (18 cặp) gọi là nõ nường, dân địa phương gọi là “nọ nường”. Làng Đông Kỵ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội xuân rước nõ nường vào ngày mồng 6 tháng giêng. Một bô lão dẫn đầu đám rước một tay cầm dương vật và một tay cầm âm vật bằng gỗ vừa đi vừa hát:

    Cái sự làm sao, cái sự làm vầy,

    Cái sự thế này, cái sự làm sao.

    Vừa hát cụ vừa múa điệu âm dương diễn tả theo động tác làm tình. Cụ lồng hai hai bộ phận nam nữ vào nhau v. v… Một vài xã ở Hải Dương cũng có tục này. Khi đi rước thanh nam hát:

    Cái nạo thế sừ, là cái sự thế nào?

    Thanh nữ hát đáp lại:

    Cái nạy thế sừ, là cái sự thế này. . .

    (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Sự thờ phượng nõ nường, thờ phượng dâm thần hay sinh thực khí của cổ Việt không phải là thứ “man di mọi rợi”, là thứ ‘dâm phong” “ngoài vòng lễ giáo” như người Trung Hoa gán cho người cổ Việt. Nhiều người Việt ngày nay đã sai lầm cho rằng sự thờ phượng nõ nường là thô tục, là điều đáng xấu hổ. Phải hiểu nõ nường là nọc nòng là nguồn cội, là sinh tạo, là tạo hóa sinh ra vũ trụ muôn loài. Thờ nõ nường là đạo thờ nòi giống, là đạo duy trì giống nòi, là đạo hiếu sinh, trường tồn. Thờ nõ nường là đạo tối cổ của nhân loại. Hình bóng thờ nõ nường để lại trong những nền văn minh “tiến bộ hơn” nghĩa là muộn hơn như thờ lingayoni của Ấn Độ. Vào thời phụ quyền sự thờ phượng “nõ” ngự trị hơn như hình thạch bi obelisk của Ai Cập, Menhirs ở Anh và các trụ thạch ở nhiều nơi khác. . . với ý nghĩa đã xa rời “đạo gốc”, nõ nường âm dương.

    Một điểm rất lý thú là trong truyền thuyết vũ trụ tạo sinh của người Hawaii có hai vị thần tổ sinh tạo ra trần thế (Earth and the things on the Earth) có tên là thần KuLono (Martha Beckwith, Hawaiian Mythology, tr.32) tương ứng với Việt ngữ là thần Cu và thần Lồn. Điều này cũng dễ hiểu vì những tộc Mặt trời nước liên hệ với cổ Việt hay phát xuất từ cổ Việt ở Đa Đảo (Polynesia), Mã-Nam Dương đã dùng thuyền đi tìm đất mới tới tận các đảo xa xôi, trong đó có quần đảo Hawaii.

    Chim biểu của bang Hawaii là con ngỗng ne ne ruột thịt với con vịt trời le le (ne ne là âm cổ của le le ; ne biến âm với na, nã là nước và le biến âm với lã là nước ngọt, ngỗng ne ne và vịt trời le le đều là loài chim nước). Ngỗng ne ne của Hawaii ruột thịt với le le Vụ Tiên của Việt Nam. Con vịt trời le le Vụ Tiên bay tận đến Hawaii biến thành con ngỗng ne ne. Do đó ngôn ngữ cũng như truyền thuyết về vũ trụ tạo sinh của người Hawaii vẫn còn sót lại những dấu tích của cổ Việt.

    Người cổ Việt thờ nõ nường nên Việt Dịch nòng nọc là Dịch nguyên thủy. Trong khi Trung Hoa có thuyết âm dương nhưng không thờ nõ nường chứng tỏ Dịch Trung Hoa không phải là Dịch nguồn cội, là loại Dịch đã tân tiến, đã muộn.

    NHỮNG TỪ CHỈ LÀM TÌNH

    Những từ phổ thông chỉ làm tình miền Bắc có những từ như địt, đéo, lẹo (loài vật), phủ…, Trung Nam có từ đụ.

    ĐỊT

    Miền Bắc dùng từ địt chỉ làm tình, trong khi đó Trung Nam từ địt chỉ đánh hơi (Miền Bắc nói đánh hơi là đánh rắm). Trong những năm còn là sinh viên y khoa tôi thường được nghe kể lại câu chuyện một vị gáo sư Y Khoa người miền Nam, sau khi giải phẫu bụng cho một cô gái người Bắc di cư, lúc đi thăm hậu giải phẫu, vị giáo sư này hỏi người bệnh “Chị đã địt chưa?”. Con bệnh đỏ mặt, xấu hổ . . . Cho tới khi tôi viết những dòng này, không ai hiểu tại sao. Xin giải toả thắc mắc này.

    -Địt là làm tình.

    Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = r (dăng = răng), dịt = rịt, rít. Rít có nghĩa là dính như rít rịt. Theo d = ch như giăng = chăng, dịt = chịt, chít. Chằng chịt là cột cứng bằng nhiều dây rợ qua lại nhiều lần. Chít khăn là cột, quấn khăn. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây, đai, thắt lưng; nai nịt là cột người bằng thắt lưng, bằng dây. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau. Ta thấy rất rõ miền Bắc có từ đi tơ chỉ loài vật (thường là chó) giao hợp với nhau. Tơ là sợi dây. Đi tơ là cột vào nhau như cột bằng sợi tơ, sợi dây. Địt liên hệ với Phi Luật Tân Tagalog dikit, joined, Paiwan d’ekets (e ngược), to stick, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction * deket (e ngược), to stick (Davidson). Rõ nhất là địt và Tagalog dik-, joined có nghĩa là nối với nhau, giao nhau cùng nghĩa với giao hợp. Địt liên hệ với Phạn ngữ snit, to love, yêu, có -nit là địt (n=đ như này = đây). Phạn ngữ snit biến âm với Phạn ngữ snih, attached, đính vào, cột vào. Rõ như ban ngày địt biến âm với dịt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ snit, snih. Ngoài ra địt cũng liên hệ với Phạn ngữ nidhuvana, sexual intercourse, làm tình. Rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana. Nid- = nịt = địt.

    -Địt là đánh hơi

    Như thế ta thấy rất rõ hai từ địt của miền Bắc và Trung Nam là hai từ đồng âm dị nghĩa. Đúng ra Trung Nam phải nói đánh dít hay rít cho đồng điệu với từ rắm của miền Bắc theo đúng như từ đôi rắm rít thay vì địt mới không gây ra hiểu nhầm.

    ĐÉO, LẸO.

    Miền Bắc cũng thường dùng từ đéo chỉ làm tình như giai thoại “đá bèo” (nói lái lại là ‘đéo bà”) của Trạng Quỳnh và thơ Cao Bá Quát có câu:

    Hai hồi trống giục, đù cha kiếp,

    Một lưỡi gươm đưa, đéo mẹ đời.

    Đéo biến âm với đeo, có nghĩa là bám cứng vào nhau, dính chặt vào nhau như ” đeo như đỉa đói“. Đéo biến âm với “đèo” là chở nhau, ôm nhau, cõng nhau như đèo bòng tức đèo bồng (bồng là bế, bồng bế”). Đéo cũng biến âm với néo, hai khúc cây nối bằng một khúc dây dùng “neo” bó lúa để đập lúa. Néo hàm nghĩa cột cứng vào nhau (cùng nghĩa với nai, nịt, địt). Néo liên hệ với Anh ngữ nail, vật nhọn dùng đóng chặt hai vật vào nhau. Nguyên thủy neo, nailnêu, cọc nhọn. Như thế từ đéo cũng có nghĩa giống như từ địt làm tình là dính vào nhau, cột vào nhau. Từ đéo biến âm với đeo, đèo, néo nghiêng nhiều về hình ảnh bám chặt vào nhau, ôm nhau, cõng nhau thường thấy nhiều ở loài vật khi giao cấu với nhau như hai con sam khi giao hợp ôm cứng nhau nên tục ngữ có câu “đeo như sam“, cóc ếch khi giao cấu ôm nhau, cõng nhau, đèo nhau… Theo biến âm đ = l như đãng tai = lãng tai, ta có đéo = lẹo. Lẹo cũng có nghĩa là làm tình như con đó với thằng đó lẹo tẹo với nhau. Hai con chó giao cấu với nhau thường nói là “mắc lẹo “.

    ĐỤ

    Trung Nam nói làm tình là đụ. Ta thấy có thể:

    -Đụ là biến âm với đu có một nghĩa là bám cứng như đeo, với đâu (nối lại như đâu lại với nhau) cũng hàm nghĩa như từ địt của miền Bắc. Theo t = n như túm = núm (nắm, bắt) ta có địt = địn. Địn là từ nói trại đi của địt. Ta có từ đụn địn là từ nói trại đi của hai từ đụ địt. Địa khai ngôn ngữ đụn địnđụ địt còn đào tìm thấy qua bài đồng dao sau đây:

    Mười rằm trăng náu,

    Mười sáu trăng treo, Mười bẩy sẩy chiếu, Mười tám rám trấu, Hai mươi giấc tốt

    . . . . . .

    “Mười bẩy sẩy chiếu” là đêm mười bẩy sải chiếu, trải chiếu. “Mười tám rám trấu” là đêm mười tám đốt trấu làm lò sưởi đã cháy rám, đã cháy nám, đã bén cháy. Tất cả đã sửa soạn sẵn sàng xong, “Mười chín đụn địn” là đêm mười chín đụn địn, tức là làm tình đụ-địt. Các tác giả hiện nay thường giải thích “né tránh” cho khỏi thô tục cho đụn địn có nghĩa là “đi ngủ”. Từ ngủ cũng có nghĩa là làm tình như ” con đó ngủ với nhiều thằng“. “Hai mươi giấc tốt” là đêm hai mươi ngủ ngon. Rõ ràng đêm mười chín đâu có ngủ, suốt đêm thức lục đục lo “đụn địn” nên đêm hôm sau mới lăn ra ngủ, mới có “giấc tốt”. Làm tình là liều thuốc ngủ thiên nhiên tốt nhất.

    -Đụ là dạng giảm thiểu của đục. Từ đục bị đục bỏ chữ “c” cuối còn lại “đụ”. Đục chỉ động tác làm tình. Theo biến âm đ = th (đủng đỉnh = thủng thỉnh), ta có đục = thục, thúc, thọc, thụt, thọt liên hệ với Anh ngữ thrust, chỉ động tác làm tình.

    -Đụ là biến âm với tụ, tủ (theo đ = t). Tụ có nghĩa là qui vào nhau như tụ tập, tụ họp. Đụ, tụ là kết vào nhau, dính vào nhau, đến với nhau. Những nghĩa này đều hàm ý làm tình thấy rất rõ qua từ Latin coitus, coire, Pháp ngữ coit có nghĩa đen là come together (có gốc “co-“, cùng, chung). Coitus, coit gần âm với Việt ngữ chơi (chơi là đến với nhau, cùng vui với nhau), chọi

    Còn tủ là phủ là che đậy. Phủ cũng chỉ nghĩa giao cấu, giao hợp như trong truyền thuyết có chuyện thuồng luồng “phủ” người. Làng Ngãi ở Bắc Việt có tục thờ bà Phạm Ngọc Dong. Bà đã được thuồng luồng phủ và sinh ra một bọc trứng nở ra Đại Hải Long Vương. Ông này sau làm tướng giúp vua Hùng đánh thắng quân Thục bằng các quân lính hoàn toàn là loài thủy tộc. Hàng năm vào ngày mồng 3 tháng giêng, dân làng mở hội, cúng tế, bao giờ cũng có món gỏi cá để cúng ông thần sông Hà Bá và bà Chúa Đầm; cúng ở đình và ở các bến nước bằng gỏi cá. Vì thế tại vùng này có câu ca dao “Trống Mơ, cờ Sỏi, gỏi Nghìa” để ca tụng món gỏi cá nổi tiếng của làng Nghìa, làng Nghĩa tức làng Ngãi (Lê Thị Nhâm Tuyết). Mổ xẻ ta thấy quân Thục thuộc sắc dân Tầy-Thái thuộc họ ngoại Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương dòng Nước, âm, họ ngoại Âu Cơ (An Dương Vương dựng nước Âu Lạc kết hợp giữa Âu Việt của Âu Cơ và Lạc Việt của Lạc Long Quân). Vì thế phải có một vị tướng con của Thuồng Luồng có cốt cá sấu (cá sấu mới đẻ ra trứng) thuộc dòng nước là Đại Hải Long Vương (rõ ràng rồng Long có cốt cá sấu thuồng luồng) và phải dùng quân là các loài thủy tộc mới đánh thắng được quân Thục thuộc dòng nước. Ta cũng thấy tên Dong có nghĩa là bao bọc như thấy qua từ ghép đồng nghĩa bao dong. Lá dong là thứ lá dùng để bao, để bọc, để gói như bánh chưng. Dong là bao bọc là Nong là Nòng. Tên bà là Bao, Bọc nên bà đẻ ra một bọc trứng và bà là di duệ của Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra trăm Lang Hùng). Bà Phạm Ngọc Dong thuộc dòng nòng, dòng nước nên được thuồng luồng phủ là vậy. Ta cũng thấy công chúa Ngọc Dung (Dung biến âm của Dong như bao dung = bao dong) con vua Hùng vương có dòng máu “mẹ”, nước nên lấy một gã thuyền chài tên là Chử Đồng Tử (Cậu Con Trai sống bên Bến Sông) ở làng Chử Xá (Làng Ven sông). Cuối cùng tại sao chọn ngày 3 tháng giêng làm ngày hội? Xin thưa số 3 là số Đoài tức ao đầm và số 1 là số Chấn (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002) tức nước dương có một khuôn mặt là biển (Vua Mặt Trời Nước Lạc Long Quân có mạng Chấn nên có một khuôn mặt là Long Vương Thần biển hóa thành con Rùa Vàng Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây thành xong con Rùa Vàng quay về Biển. An Dương Vương thuộc dòng nước Âu-Lạc, cuối đời cầm sừng tê giác bẩy khấc rẽ nước đi xuống biển là vậy). Ngày 3 tháng giêng đều là ngày của dòng nước, ao hồ sông biển.

    Ở đây ta có thể dùng tiếng Việt tìm nguyên ngữ của Anh ngữ fuck. Từ “fuck” có gốc fu- ruột thịt với Việt ngữ phủfu(ck) = phủ = tủ = đụ.

    Cuối cùng, như đã nói ở trên, là từ địt của miền Bắc liên hệ với phần đầu nid– của Phạn ngữ nidhuvana (sexual intercourse). Nid- = nịt = địt. Ta cũng thấy từ đụ của Trung Nam cùng âm -dhu- phần thứ hai của Phạn ngữ nidhuvana. Phải chăng miền Trung Nam lấy phần âm giữa còn miền Bắc lấy phần âm đầu? Cả hai cùng một gốc Phạn?

    Những từ làm tình của Việt cũng mang ý nghĩa kết hợp, giao hòa, giao hợp nghĩa là mang ý nghĩa của Dịch lý. Qua hai từ địt của miền Bắc và đụ của miền Nam ta cũng thấy có sự phân biệt, chia rẽ như hai từ buồi và cặc.

    Cước Chú

    (1). Tôi gọi clitoris là hạt tình vì clitoris về cơ thể học tương đương với glans (qui đầu) của dương vật. Tiếng phổ thông glans chỉ một thứ hạt dẻ rừng, vì cơ thể học tương đương với nhau nên đã gọi glans là hạt thì clitoris cũng phải dùng từ hạt cho cân xứng.

    Ta cũng thấy dân dã Việt Namgọi clitoris là “hạt chay” như thấy qua câu ca dao:

    Chị em rủ nhau tắm đầm, Của em son đỏ, chị thâm thế này? Chị thâm là tại anh mày, Xưa kia chị cũng hạt chay đỏ lòm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yandere Là Gì, Kiểu Tính Cách Nhân Vật Yandere Trong Anime Và Manga
  • Đặc Điểm Nhận Dạng Của 15 Loại “dere” Nổi Tiếng Trong Thế Giới Anime
  • Hướng Dẫn Phân Biệt Một Số Thuật Ngữ Trong Anime Như Tv Anime, Movie Và Ova
  • Thuật Ngữ Anime: Tsundere, Yandere Là Gì?
  • Bạn Tìm Được Gì Trong Từ Điển Của Một Otaku?
  • Chủ Nghĩa Yêu Nước Vn

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam
  • Bài 16: Chủ Nghĩa Yêu Nước Và Chủ Nghĩa Quốc Tế
  • Nghị Luận Về Lòng Yêu Nước Của Giới Trẻ
  • Dàn Ý Nghị Luận Về Tinh Thần Yêu Quê Hương Đất Nước Lớp 9 Câu Hỏi 35668
  • Viết Đoạn Văn Về Tình Yêu Quê Hương Đất Nước
  • Nhiệt liệt chào mừng

    Các đai biểu và học viên

    về dự khai mạc

    lớp đối tượng Đảng

    khóa I năm 2008

    Kính chúc sức khoẻ các đồng chí !

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    * Mục đích, ý nghĩa môn học: 4ý

    Môn học

    – CN yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta .

    – Giáo dục CNYN để thêm lòng tự hào tự tôn dân tộc.

    – Giáo dục CNYN là tăng cường giữ gìn bản sắc VH d/ tộc.

    – Giáo dục CNYN là tăng cường khối đại đoàn kết toàn

    dân , tạo động lực mới cho sự nghiệp CNH- HĐH

    Cơ sở hình thành và phát triển

    của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    ( 4 fần lớn )

    Bài 1

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    1) Khái niệm :

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    * Mục đích, ý nghĩa môn học:

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển

    của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    ( 4 fần lớn )

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    1) Khái niệm : – Là một trong những tình cảm sâu sắc nhất được củng cố qua hàng ngàn năm , tồn tại của các quốc gia riêng biệt, nó trở thành bậc thang giá trị chi fối quan niệm sống về tình yêu quê hương đất nước .

    Bài 1

    – CNYN là nguyên tắc đạo đức và chính trị , tình cảm XH mà nội dung là: Tình yêu và lòng trung thành với Tổ quồc.

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    1) Khái niệm :

    Bài 1

    2) Đặc trưng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    – Yêu nước mang tính phổ biến của các dân tộc

    – CNYN Việt Nam mang bản sắc rất riêng biệt:

    + Là tư tưởng tình cảm thiêng liêng nhất.

    + Là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử dân tộc

    + Là chuẩn mực cao nhất của đạo lý đân tộc.

    + Là năng lực nội sinh , sức mạnh tiềm tàng trong suốt

    chiều dài của lịch sử dân tộc ta .

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    Bài 1

    II) Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam(4nd)

    1) Lịch sử dựng nước đã gắn bó con người Việt Nam với quê

    hướng xứ sở và cộng đồng: (3ý)

    Khí hậu thời tiết vừa vừa thuận lợi vừa khắc nghiệt nên con người muốn tồn tại phải gắn bó chặt chẽ với nhau.( sáng chắn..chièu)

    Quá trình xây dựng quê hương đã thấm đẫm mồ hôi máu xương của bao thế hệ nên con người gắn bó máu thịt với quê hương.

    Nền kinh tế nông nghiệp lúa nước phụ thuộc vào thiên nhiên cần sức mạnh của nhiều người thành cộng đồng bền chặt (trị thuỷ+ ơn trời mưa nắng..+ ai ơi bưng bát.. Tục mời cơm)

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    Bài 1

    II) Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam(4nd)

    1) Lịch sử dựng nước :(3ý)

    2) Lịch sử chống ngoại xâm (4ý)

    – V/n với vị trí địa lý- kinh tế – chính trị đặc biệt quan trọng nên nhiều kẻ thù muốn xâm lược (lịch sử chọn ta là điểm tựa, ta xp là..)

    – Lịch sử dựng nước và giữ nước, chống giặc ngoại xâm của nước ta mang tinh đặc thù : với độ dài thời gian, tần số xuất hiện, số lượng các cuộc kháng chiến hơn hẳn các nước khác.

    – Dân tộc ta thường phải chống lại các kẻ thù mạnh gấp bội.

    – Xây dựng và baỏ vệ đất nươc luôn gắn chặt với bảo vệ giống nòi, bảo vệ văn hoá dân tộc , chống bị đồng hoá.

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    Bài 1

    II) Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam(4nd)

    1) Lịch sử dựng nước :(3ý)

    2) Lịch sử chống ngoại xâm (4ý)

    3) Nền Vh thống nhất trong đa dạng của các dân tộc (3ý)

    – Sự đa dạng, fong fú và thống nhất là nét nổi bật của VH V/Nam

    – 54 dtộc đều có nét VH, bản sắc riêng tạo nên tính đa dạng p/phú

    – Có 3 trung tâm văn hoá ở 3 miền, nhưng cùng hoà vào một dòng chủ lưu là nền vh Đông Sơn của nước VănLang- ÂuLạc của các vua Hùng , qua Đại Cồ Việt, Đại Việt tới Việt Nam ngày nay mà không có xung đột VH.

    Người Thái với tục ném còn ngày hội

    Một số hình ảnh về nền văn hoá các dân tộc

    Người Thái

    với nghề dệt thổ cẩm

    Nhà Rông Tây nguyên

    Làng quê của người Việt ( Kinh)

    Người Dao lên nương

    Tục nhảy lửa của người Pà Thẻn ( Hà Giang)

    Trống đồng Đông Sơn

    Văn hoá Sa Huỳnh

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    Bài 1

    II) Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam(4nd)

    1) Lịch sử dựng nước :(3ý)

    2) Lịch sử chống ngoại xâm (4ý)

    3) Nền Vh thống nhất trong đa dạng của các dân tộc (3ý)

    4) Quá trình hình thành và t/ nhất sớm của quốc gia dân tộc (3ý)

    – Nứơc Viêt Nam ra đời sớm còn là do nhu cầu trị thuỷ của nền nông nghiệp lúa nước .

    – Nhà nứơc Viêt Nam là nhà nước TW tập quyền không cát cứ ( trong l/sử có giai đoạn fân chia nhưng đó là sự fân chia quyền lực ở TW, dưới địa fương vẫn là sự thống nhất lòng dân.

    – Quá trình t/nhất quốc gia cũng là quá trình t/nhất dân tộc , thống nhất văn hoá , thống nhất nền tảng tinh thần xã hội Việt Nam.

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

    Môn học

    Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam

    I) CNYN Việt Nam là gì ? (2nd)

    Bài 1

    II) Cơ sở hình thành và phát triển của CNYN Việt Nam(4nd)

    * Kết luận: (3ý cần nhớ kỹ)

    – Quá trình hình thành và fát triển của CNYN-VN qua hàng ngàn năm lịch sử trên nền tảng các hình thái k/ tế XH đặc thù

    và trên một trục kết cấu XH bền chặt : Nhà ( gia đình ) – Làng ( công xã nông thôn ) – Nước ( quốc gia dân tộc ). Nước mất nhà tan.

    – Quá trình ấy đã tác động sâu sắc đến sự sự fát triển của tinh thần yêu nước VN và ý thức cộng đồng dân tộc

    – Đó cũng là quá trính tự ý thức, tự khẳng định của dân tộc ta đạt tới trình độ khá toàn diện về quốc gia, dân tộc và là cơ sở hình thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

    học bài 2

    Hết bài 1

    Chúng ta chuyển sang

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    – CN yêu nước V/n không tự có , nó là sản phẩm của lịch sử.

    – Từ những tình cảm yêu quê hương đất nước lúc ban đầu phát

    triển thành tư tướng sâu sắc, toàn diện và trở thành CNYN -VN.

    – Sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước VN trải qua 4 thời kỳ :

    I) Thời kỳ dựng nước ( Hùng Vương + An Dương Vương=2000 năm)

    1) Đặc điểm : Các thị tộc, bộ lạc đã liên kết thành một cộng đồng quốc gia với cương vực riêng là nhà nước Văn Lang- Âulạc

    2) Những biểu hiện:

    – Đoàn kết dựng nước

    của 15 bộ lạc

    + Trống đồng Đông Sơn

    + Sơn Tinh – Thuỷ Tinh

    + Phù Đổng Thiên Vương

    Bài 2

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    I) Thời kỳ dựng nước

    1) Đặc điểm :

    2) những biểu hiện:

    – Đoàn kết dựng nước

    của 15 bộ lạc

    + Trống đồng Đông Sơn

    + Sơn Tinh – Thuỷ Tinh

    + Phù Đổng Thiên Vương

    – Tình nghĩa

    ruột thịt đồng bào

    + Truyền thuyết LlQuân + Âu Cơ

    + TT đẻ đất đẻ nước ( dt ít người )

    – Truyền thống

    Anh hùng

    + Chiến thuyền khắc trên trống đồng

    + Mũi tên đồng ở Cổ Loa ( Đông Anh)

    + Các trò võ vật dân gian của lễ hội

    Bài 2

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    I) Thời kỳ dựng nước:

    1) Đặc điểm :

    2) những biểu hiện:

    Bài 2

    II) Ngàn năm chống ách đô hộ phong kiến phương Bắc:

    – Năm 179 – cn Triệu Đà thôn tính Âu Lac – An Dương Vương

    – Kể từ đó nước ta bị PK fương Bắc đô hộ trên 1000 năm

    – 1000 năm Bắc thuộc luôn có các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ

    – Năm 938 Ngô quyền đánh bại quân Nam Hán giành lại quyền tự chủ

    + ý chí độc lập tự chủ , không chịu khuất phục

    + Bám trụ quê hương , giữ quê cha đất tổ

    + Bảo vệ giống nòi, bảo vệ văn hoá dân tộc

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    I) Thời kỳ dựng nước

    1) Đặc điểm :

    2) Những biểu hiện của CNYN VN:

    Bài 2

    II) Ngàn năm chống.

    III) Thời kỳ phong kiến Việt Nam tự chủ ( 938 – 1858)

    – Hơn 900 năm đọc lập dưới chế độ phong kiến, Dân tộc ta đã phải chiến đấu không ngừng, 8 lần đánh bại các cuộc xâm lăng của phonh kiến fương Bắc

    – Khẳng định rõ ràng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ :

    * Nam quốc sơn hà Nam đế cư . Lý Thường Kiệt .

    * Bình Ngô đại cáo : Nguyên Trãi.

    – Nêu cao CN nhân đạo + đạo lý sống của người Việt Nam

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    I) Thời kỳ dựng nước

    1) Đặc điểm :

    2) Những biểu hiện của CNYN VN:

    Bài 2

    II) Ngàn năm chống

    III) Thời kỳ phong kiến

    IV) Thời kỳ chống thực dân, đế quốc (1858-1975)

    – Nhà Nguyễn đầu hàng, thưc dân Pháp xâm lược nước ta.

    – Nhân dân ta không cam chịu nô lệ, nổi nên khởi nghĩa

    chống lại ở khắp nơi, nhưng đều thất bại.

    – CM VN lâm vào khủng hoảng đường lối cứu nước.

    – Bác tìm thấy con đường cứu nước gpdt . Đảng ra đời lãnh đạo nhân dân ta đánh bai 2 tên đế quốc đầu sỏ: Pháp Mỹ

    – Chủ nghĩa YN trở thành CN anh hùng CM, CN anh hùng Tập thể.

    – ý chí độc lập tự cường, tự chủ . đem sức ta mà giảI Phóng cho ta .

    – Chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gắn bó trong cộng đồng dân tộc:

    – Là yêu làng quê thanh bình

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    – Là yêu cây đa

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Giếng nước

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Sân đình

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Có đồng lúa thẳng cánh cò bay

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Là cánh diều mây trắng

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Là phố nhỏ- ngõ nhỏ

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Là thiên nhiên tươi đẹp , giang sơn gấm vóc

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Nơi mẹ cha ta tảo tần hôm sớm

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    Đó chính là hồn quê

    + Nơi ta đến chỉ là nơi đất ở – Khi ta đ đất bỗng hoá tâm hồn.

    + Quê hương mỗi người chỉ mộ t- Như là chỉ 1 mẹ thôi .

    + Quê hương nếu ai không nhớ – sẽ không lớn nổi thành người.

    + Nếu ai không có tình quê- Như cây mất gốc người ơi !

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương xứ sở, gán bó trong cộng đồng dân tộc:

    2) ý thức sâu sắc về độc lập tự chủ, giữ gìn b/ sắc văn hoá.

    Coi độc lập dân tộc là thiêng liêng bất khả xâm fạm: + Dù có phải đốt .: Không có gì quý hơn độc lập tự do .

    Độc lập dân tộc không chỉ là bờ cõi, biên cương tổ quốc mà còn là cả bản sắc văn hoá đân tộc

    Đó chính là sức mạnh quật khởi của dân tộc trong suốt chiiêù dài lịch sử dựng nứoc và giữ nước.

    Chủ nghĩa yêu nước việt nam

    Qua các thời kỳ lịch sử

    Bài 2

    V) Những nội dung cơ bản của CNYN VN (4nd)

    1) Yêu quê hương.

    2) ý thức sâu sắc về độc lập.

    3) Mưu trí, dũng cảm, sẵn sàng xả thân cứu nước, cần cù

    sáng tạo trong lao động sản xuất:

    – Sáng tạo nhiều hình thức chiến tranh độc đáo : + lấy ít thắng nhiếu + lấy yếu thắng mạnh + lấy nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo.

    – Sẵn sàng hy sinh vì độc lập tư do của tổ quốc.

    – Thông minh sáng tạo trong lao động sản Xuất , xây dựng quê hương ngày càng giầu đẹp

    Ngưòi TB nói chung và Hưng hà nói riêng hội tụ đầy đủ và điển hình những phẩm chất đó trong quá khứ cũng như hiện tại , làm nên 1 truyền thống vô cùng vẻ vang, chói lọi trang sử dân tộc. ( minh hoạ)

    Xin cảm ơn các đồng chí

    Chúc các đồng chí mạnh khoẻ

    Hẹn gặp lại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Yêu Nước Trong Văn Học Trung Đại
  • Nội Dung Yêu Nước Và Nhân Đạo Trong Văn Học Trung Đại Việt Nam
  • Cảm Hứng Yêu Nước Trong Thơ Ca Việt Nam Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp (1946
  • Bài 28. Truyền Thống Yêu Nước Của Dân Tộc Việt Nam Thời Phong Kiến
  • Tư Tưởng Yêu Nước Trong Văn Hóa Chính Trị Truyền Thống Việt Nam
  • Bài 4. Ền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Dân Chủ Và Đại Đoàn Kết Dân Tôc Dan Chu Va Suc Manh Dai Doan Ket Dan Toc Doc
  • Bài 7: Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ
  • Công Dân Với Các Quyền Dân Chủ, Trắc Nghiệm Gdcd Lớp 12
  • Xa Rời Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ
  • Thu Vien Ha Si Phu Online
  • PHÂN VIỆN MIỀN NAM

    KHOA LÝ LUẬN & KHOA HỌC CƠ SỞ

    BÀI 3: CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

    Giảng viên: Bùi Văn Tuyển

    Nội dung chính

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    Dân chủ = Demos Kratos

    1.1. Khái niệm về dân chủ

    * Nguyên nghĩa

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Không có khái

    niệm dân chủ

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ

    chủ nô

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ bị thủ

    tiêu hoàn toàn

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ

    tư sản

    . Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ

    XHCN

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Không còn

    dân chủ nữa

    . Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    tương lai

    cổ đại

    Lênin : Con đường biện chứng của quá trình phát triển dân chủ là ” Từ chuyên chế đến dân chủ tư sản, từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không con dân chủ nữa”

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    * Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về dân chủ

    – Khái niệm : Dân chủ là hình thức tổ chức Nhà nước mà đặc trưng cơ bản là thừa nhận quyền lực chính trị của nhân dân, quyền tự do bình đẳng của công dân, thực hiện nguyên tắc thiểu số phục vụ đa số

    1.Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.2. Bản chất của nền dân chủ

    – Trong các xã hội có giai cấp đối kháng quyền lực Nhà nước thuộc về giai cấp thống trị, nên dân chủ mang bản chất của giai cấp thống trị

    – Thước đo mức độ thực hiện dân chủ của một chế độ xã hội là mức độ và khả năng thu hút quần chúng nhân dân tham gia vào các công việc Nhà nước và xã hội

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa

    * Dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Là quyền lực chính trị thuộc về giai cấp công nhân và quảng đại nhân dân lao động có lợi ích căn bản thống nhất, phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa

    * Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Là một tập hợp, hệ thống các thiết chế nhà nước, xã hội được xác lập, vận hành và từng bước được hoàn thiện nhằm đảm bảo thực hiện trên thực tế các quyền lực chính trị thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.2 Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Bản chất chính trị : dân chủ XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân rộng rãi và tính chất dân tộc sâu sắc.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.2. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Bản chất kinh tế : dân chủ XHCN dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân lao động.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.2. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Bản chất tư tưởng – văn hoá : dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác Lênin làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái xã hội khác ( văn học, nghệ thuật, văn hoá, giáo dục, lối sống… ); kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống của các dân tộc, tiếp thu những giá trị tư tưởng – văn hoá, văn minh tiến bộ mà nhân loại đã tạo ra ở các quốc gia – dân tộc trên thế giới.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    Kết luận:

    So với dân chủ tư sản – một thứ dân chủ nửa vời, cắt xén – dân chủ xã hội chủ nghĩa, như Lênin nhận xét, là chế độ dân chủ gÊp triệu lần hơn.

    2.2 Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.3. Sự khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.3. Sự khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Thuận lợi

    Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

    Xây dựng trong điều kiện có Đảng cộng sản do chủ tich Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện

    Xây dựng nền dân chủ xhcn trong điều kiện mới ( quá độ, cnh,hđh, toàn cầu hóa quốc tế)

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Khó khăn

    Giai cấp công nhân lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân từ nông dân vì thế không tránh khỏi tàn tích tư tưởng tiểu nông sản xuất nhỏ.

    Chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cũng có nghĩa là xã hội nước ta chưa trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển với nhà nước pháp quyền tư sản và xã hội công dân

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Khó khăn

    Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa cái mới và cái cũ sinh ra nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Thành tựu:

    – Thứ nhất, Sự hiểu biết về dân chủ, pháp luật, quyền lợi và nghĩa vụ công dân của đông đảo nhân dân ta ngày càng được nâng cao

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Thành tựu:

    – Thứ hai, năng lực thực hiện dân chủ của nhân dân ta có bước trưởng thành

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Thành tựu:

    – Thứ ba, nhu cầu dân chủ của nhân dân ngày càng cao, phong phú, đa dạng hơn.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    – Một số cán bộ, nhân dân hiểu biết không đầy đủ về nội dungn dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa dẫn tới mơ hồ, dễ dao động, nghi ngờ bản chất tốt đẹp của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, ca ngợi một chiều nền dân chủ tư sản.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    -Một số người còn non yếu về chính tri và ý thức công dân bị kẻ địch lợi dụng, kích động đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Gây rối trật tự xã hội hoặc tỏ ra hoài nghi, dao động, mất phương hướng chính trị đúng đắn.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    -Tình trạng quan liêu, mất dân chủ, vi phạm dân chủ ở một số cán bộ của một số địa phương cùng với tình trạng dân chủ quá trớn, cực đoan vô chính phủ, tùy tiện, coi thường kỷ cương pháp luật, vi phạm các thể chế, quy định dân chủ… một bộ phận nhân dân thờ ơ với chính trị, an phận, né tránh…

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    -Văn hóa pháp luật của đa số nhân dân thấp do xuất phát điểm của Việt nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    – Việc thực hiện chế độ dân chủ đại diện chưa có hiệu quả do sự yếu kém của cơ quan quyền lực ở một số địa phương

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    3.2. Đổi mới hoạt động của nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Khái niệm: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, thay mặt nhân dân, được nhân dân ủy quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quản lý mọi mặt hoạt động xã hội bằng hệ thống pháp luật và những thiết chế dưới luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự giám sát, bảo vệ của nhân dân.

    37

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    – Về đối nội:

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Chức năng của nhà nước:

    + Quản lý, xây dựng và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH; Không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    38

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    – Về đối nội:

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Chức năng của nhà nước:

    + Quản lý văn hóa xã hội nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe của nhân dân…

    Phiên chợ của người H’Mông

    Các đại biểu dân tộc thiểu số dự

    Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng

    39

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    – Về đối ngoại

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Chức năng của nhà nước:

    + Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.

    40

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    *Vai trò của các bộ phận

    Cơ quan lập pháp: Ban hành, sửa đổi, bổ sungra các hiến pháp, luật các bộ luật

    Cơ quan hành pháp: Là cơ quan chấp hành các luật pháp, hiến pháp, các văn bản cấp trên…

    Cơ quan tư pháp: Bảo vệ pháp luật

    41

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Quyền lực của nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    42

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo sự thống nhất hoạt động và phát huy sức mạnh của cả hệ thống và từng bộ phận, từng công dân.

    43

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Nhà nước quản lý mọi mặt xã hội bằng hệ thống pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa cho nhân dân, coi nhân dân là chủ thể của quyền lực.

    44

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Nhà nước dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

    45

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.1. Yêu cầu khách quan và thành tựu đổi mới nhà nước

    + Yêu cầu khách quan:

    Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao;

    Phát huy dân chủ vẫn còn nhiều hạn chế nhất là trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm;

    46

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.1. Yêu cầu khách quan và thành tựu đổi mới nhà nước

    + Yêu cầu khách quan:

    – Tổ chức bộ máy nhà nước hoạt động còn chưa thực sự hiệu quả do việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn còn chưa rõ ràng, tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập;

    – Hiệu lực quản lý điều hành của nhà nước chưa cao;

    – Nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

    47

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.1. Yêu cầu khách quan và thành tựu đổi mới nhà nước

    +Thành tựu đổi mới

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Được mùa

    Hạ tầng xã hội

    Khai mạc Seagame 22

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Kinh tế

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Y tế

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.2. Các nguyên tắc của đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà Nước

    Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận; đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    – Phát huy dân chủ phải đi liền với việc củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.2. Các nguyên tắc của đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà Nước

    – Xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cơ sở nói riêng có năng lực tổ chức và vận động quần chúng thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân.

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, có sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    Giải pháp nhằm đổi mới

    xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của quốc hội

    đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    Giải pháp nhằm đổi mới

    xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người

    nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, đảm bảo quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    Giải pháp nhằm đổi mới

    đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn

    đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

    Cải cách có thể sai lầm, nhưng quan trọng là việc

    nhận ra sai lầm và sữa chữa nó

    CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE CHÚC CÁC BẠN HỌC TẬP TỐT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Cách Lãnh Đạo Là Gì? Tìm Hiểu Các Phong Cách Lãnh Đạo Phổ Biến Nhất
  • Phong Cách Lãnh Đạo Là Gì? Có Các Loại Phong Cách Lãnh Đạo Nào?
  • Các Phong Cách Lãnh Đạo Cơ Bản
  • Hiểu Về Phong Cách Lãnh Đạo Của Bạn
  • Phong Cách Lãnh Đạo (Leadership Style) Là Gì? Các Kiểu Phong Cách Lãnh Đạo
  • Bài 4. Ền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Nen Dan Chu Xa Hoi Chu Nghia Va Nha Nuoc Xhcn Pptx

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 10. Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Thực Hiện Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở: Trọng Dân, Gần Dân, Lắng Nghe Dân
  • Dân Chủ Và Thực Trạng Thực Hiện Dân Chủ Những Năm Qua
  • Vấn Đề Của Khái Niệm ‘dân Chủ Phi Tự Do’
  • Hệ Thống Chính Trị Dân Chủ Nhân Dân (1945
  • PHÂN VIỆN MIỀN NAM

    KHOA LÝ LUẬN & KHOA HỌC CƠ SỞ

    BÀI 3: CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

    Giảng viên: Bùi Văn Tuyển

    Nội dung chính

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    Dân chủ = Demos Kratos

    1.1. Khái niệm về dân chủ

    * Nguyên nghĩa

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Không có khái

    niệm dân chủ

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ

    chủ nô

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ bị thủ

    tiêu hoàn toàn

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ

    tư sản

    . Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Dân chủ

    XHCN

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    Không còn

    dân chủ nữa

    . Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    tương lai

    cổ đại

    Lênin : Con đường biện chứng của quá trình phát triển dân chủ là ” Từ chuyên chế đến dân chủ tư sản, từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không con dân chủ nữa”

    1. Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.1. Khái niệm

    * Khái lược lịch sử vấn đề dân chủ

    * Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về dân chủ

    – Khái niệm : Dân chủ là hình thức tổ chức Nhà nước mà đặc trưng cơ bản là thừa nhận quyền lực chính trị của nhân dân, quyền tự do bình đẳng của công dân, thực hiện nguyên tắc thiểu số phục vụ đa số

    1.Khái niệm dân chủ và bản chất giai cấp của nền dân chủ

    1.2. Bản chất của nền dân chủ

    – Trong các xã hội có giai cấp đối kháng quyền lực Nhà nước thuộc về giai cấp thống trị, nên dân chủ mang bản chất của giai cấp thống trị

    – Thước đo mức độ thực hiện dân chủ của một chế độ xã hội là mức độ và khả năng thu hút quần chúng nhân dân tham gia vào các công việc Nhà nước và xã hội

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa

    * Dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Là quyền lực chính trị thuộc về giai cấp công nhân và quảng đại nhân dân lao động có lợi ích căn bản thống nhất, phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa

    * Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Là một tập hợp, hệ thống các thiết chế nhà nước, xã hội được xác lập, vận hành và từng bước được hoàn thiện nhằm đảm bảo thực hiện trên thực tế các quyền lực chính trị thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.2 Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Bản chất chính trị : dân chủ XHCN mang bản chất giai cấp công nhân, có tính nhân dân rộng rãi và tính chất dân tộc sâu sắc.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.2. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Bản chất kinh tế : dân chủ XHCN dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân lao động.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.2. Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa

    Bản chất tư tưởng – văn hoá : dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác Lênin làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái xã hội khác ( văn học, nghệ thuật, văn hoá, giáo dục, lối sống… ); kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống của các dân tộc, tiếp thu những giá trị tư tưởng – văn hoá, văn minh tiến bộ mà nhân loại đã tạo ra ở các quốc gia – dân tộc trên thế giới.

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    Kết luận:

    So với dân chủ tư sản – một thứ dân chủ nửa vời, cắt xén – dân chủ xã hội chủ nghĩa, như Lênin nhận xét, là chế độ dân chủ gÊp triệu lần hơn.

    2.2 Bản chất nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.3. Sự khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.3. Sự khác biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản

    2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa – Bản chất và sự khác biệt với dân chủ tư sản

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Thuận lợi

    Nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

    Xây dựng trong điều kiện có Đảng cộng sản do chủ tich Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện

    Xây dựng nền dân chủ xhcn trong điều kiện mới ( quá độ, cnh,hđh, toàn cầu hóa quốc tế)

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Khó khăn

    Giai cấp công nhân lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân từ nông dân vì thế không tránh khỏi tàn tích tư tưởng tiểu nông sản xuất nhỏ.

    Chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cũng có nghĩa là xã hội nước ta chưa trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển với nhà nước pháp quyền tư sản và xã hội công dân

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.1. Những thuận lợi, khó khăn tác động tới việc xây dựng, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta

    Khó khăn

    Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa cái mới và cái cũ sinh ra nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Thành tựu:

    – Thứ nhất, Sự hiểu biết về dân chủ, pháp luật, quyền lợi và nghĩa vụ công dân của đông đảo nhân dân ta ngày càng được nâng cao

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Thành tựu:

    – Thứ hai, năng lực thực hiện dân chủ của nhân dân ta có bước trưởng thành

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Thành tựu:

    – Thứ ba, nhu cầu dân chủ của nhân dân ngày càng cao, phong phú, đa dạng hơn.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    – Một số cán bộ, nhân dân hiểu biết không đầy đủ về nội dungn dân chủ tư sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa dẫn tới mơ hồ, dễ dao động, nghi ngờ bản chất tốt đẹp của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, ca ngợi một chiều nền dân chủ tư sản.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    -Một số người còn non yếu về chính tri và ý thức công dân bị kẻ địch lợi dụng, kích động đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Gây rối trật tự xã hội hoặc tỏ ra hoài nghi, dao động, mất phương hướng chính trị đúng đắn.

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    -Tình trạng quan liêu, mất dân chủ, vi phạm dân chủ ở một số cán bộ của một số địa phương cùng với tình trạng dân chủ quá trớn, cực đoan vô chính phủ, tùy tiện, coi thường kỷ cương pháp luật, vi phạm các thể chế, quy định dân chủ… một bộ phận nhân dân thờ ơ với chính trị, an phận, né tránh…

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    -Văn hóa pháp luật của đa số nhân dân thấp do xuất phát điểm của Việt nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu

    2.4. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    2.4.2. Một số thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Hạn chế:

    – Việc thực hiện chế độ dân chủ đại diện chưa có hiệu quả do sự yếu kém của cơ quan quyền lực ở một số địa phương

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    3.2. Đổi mới hoạt động của nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Khái niệm: Nhà nước xã hội chủ nghĩa là cơ quan thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân dân lao động, thay mặt nhân dân, được nhân dân ủy quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Quản lý mọi mặt hoạt động xã hội bằng hệ thống pháp luật và những thiết chế dưới luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự giám sát, bảo vệ của nhân dân.

    37

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    – Về đối nội:

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Chức năng của nhà nước:

    + Quản lý, xây dựng và phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho CNXH; Không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    38

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    – Về đối nội:

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Chức năng của nhà nước:

    + Quản lý văn hóa xã hội nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe của nhân dân…

    Phiên chợ của người H’Mông

    Các đại biểu dân tộc thiểu số dự

    Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng

    39

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    – Về đối ngoại

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    * Chức năng của nhà nước:

    + Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi, vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.

    40

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    *Vai trò của các bộ phận

    Cơ quan lập pháp: Ban hành, sửa đổi, bổ sungra các hiến pháp, luật các bộ luật

    Cơ quan hành pháp: Là cơ quan chấp hành các luật pháp, hiến pháp, các văn bản cấp trên…

    Cơ quan tư pháp: Bảo vệ pháp luật

    41

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Quyền lực của nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

    42

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo sự thống nhất hoạt động và phát huy sức mạnh của cả hệ thống và từng bộ phận, từng công dân.

    43

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Nhà nước quản lý mọi mặt xã hội bằng hệ thống pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa cho nhân dân, coi nhân dân là chủ thể của quyền lực.

    44

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.1. Khái niệm và chức năng, vai trò của các bộ phận

    Nguyên tắc tổ chức

    – Nhà nước dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

    45

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.1. Yêu cầu khách quan và thành tựu đổi mới nhà nước

    + Yêu cầu khách quan:

    Hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao;

    Phát huy dân chủ vẫn còn nhiều hạn chế nhất là trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm;

    46

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.1. Yêu cầu khách quan và thành tựu đổi mới nhà nước

    + Yêu cầu khách quan:

    – Tổ chức bộ máy nhà nước hoạt động còn chưa thực sự hiệu quả do việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn còn chưa rõ ràng, tổ chức bộ máy còn nhiều bất cập;

    – Hiệu lực quản lý điều hành của nhà nước chưa cao;

    – Nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

    47

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.1. Yêu cầu khách quan và thành tựu đổi mới nhà nước

    +Thành tựu đổi mới

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Được mùa

    Hạ tầng xã hội

    Khai mạc Seagame 22

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Kinh tế

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Y tế

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    Một số thành tựu sau 20 năm đổi mới:

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.2. Các nguyên tắc của đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà Nước

    Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận; đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    – Phát huy dân chủ phải đi liền với việc củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.2. Các nguyên tắc của đổi mới tổ chức, hoạt động của Nhà Nước

    – Xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ cơ sở nói riêng có năng lực tổ chức và vận động quần chúng thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân.

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, có sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    Giải pháp nhằm đổi mới

    xây dựng cơ chế vận hành của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

    tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của quốc hội

    đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    Giải pháp nhằm đổi mới

    xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người

    nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, đảm bảo quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương

    3. Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa

    3.2. Đổi mới hoạt động của Nhà nước ta, đảm bảo quyền dân chủ cho nhân dân.

    3.2.3. Phương hướng và giai pháp đổi mới

    Giải pháp nhằm đổi mới

    đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn

    đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

    Cải cách có thể sai lầm, nhưng quan trọng là việc

    nhận ra sai lầm và sữa chữa nó

    CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ LẮNG NGHE CHÚC CÁC BẠN HỌC TẬP TỐT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Nền Dân Chủ Xhcn Ở Nước Ta
  • Lý Thuyết Gdcd 9 Bài 3: Dân Chủ Và Kỷ Luật Hay, Chi Tiết.
  • Bí Ẩn Đế Chế Hùng Mạnh Nhất Trong Lịch Sử Loài Người
  • Mẫu Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở 2021 (Xây Dựng Báo Cáo)
  • Dân Chủ Trực Tiếp Là Gì ? Khái Niệm Về Dân Chủ Trực Tiếp
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Công (Public Policy) Là Gì? Đặc Trưng
  • Khái Niệm Chính Sách Tiền Tệ
  • Khái Niệm Và Công Cụ Của Chính Sách Tiền Tệ
  • Khái Niệm Và Vai Trò Của Chính Sách Tiền Tệ Trong Việc Kiểm Soát Lạm Phát
  • Khái Niệm Về Chính Sách Của Tiền Tệ
  • 1. Tóm tắt nội dung bài học

    • Khái niệm về ca dao
    • Những đặc trưng cơ bản về ca dao (nội dung và nghệ thuật)
    • Nội dung của các bài ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa trong SGK thể hiện nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ.
    • Nghệ thuật dân gian đã tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong các câu ca dao.

    2.

    Hướng dẫn học bài

    Câu 1: Bài 1, 2

    a) Hai lời than thân đều mở đầu bằng Thân em như… với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thấn là ai và thân phận họ như thế nào?

    • Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi:
    • Cả hai lời than thân đều của người con gái chưa có chồng. Thân phận của họ chỉ là những người bình thường, thua kém trong xã hội, cho nên mới chờ đợi sự may rủi của cuộc đời (không biết vào tay ai), cũng như cầu mong mọi người thấu hiểu cho thực chất bên trong (ngọt bùi), chứ không căn cứ vào vẻ bề ngoài (như củ ấu).

    b) Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng được diễn tả bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau. Anh (chị) cảm nhận được gì qua mỗi hình ảnh? (Chú ý mối liên hệ giữa tấm lụa đào với phất phơ giữa chợ biết vào tay ai; giữa ruột trong thì trắng với vỏ ngoài thì đen).

    Trong nỗi đau đó, ta vẫn thấy nét đẹp của họ. Đó là nét đẹp gì và nó được ẩn chứa trong lời than thân như thế nào?

      Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại có những sắc thái riêng, được diễn ra bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau:

    Bài 1:

    • “Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” có ý nghĩa biểu thị nỗi đau của ngưòi con gái đẹp (được ví như tấm lụa đào) không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào? Đây cũng là nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng, đem ra để mua bán, đổi chác (Ghi chú: Với những hoàn cảnh giao tiếp nhất định, nội dung câu ca dao trên được hiểu như đã phân tích, vẫn có thể hiểu nó theo cách khác: Lời hát của người con gái kiêu kì đang thách thức các chàng trai).
    • Nét đẹp của người con gái trong câu ca này mang màu sắc sang trọng, cao quý, kiêu kì (được ví như tấm lụa đào).

    Bài 2: “Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

    • Nỗi đau của người con gái lại được biểu hiện trong hoàn cảnh không được đánh giá đúng mức chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí (như củ ấu). Sự trái ngược giữa hình thức với nội dung “Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen” khiến cho cô gái bị hiểu nhầm (Tuy nhiên, cũng có thể hiểu đâu là một cách nói khiêm nhường cốt để nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong).
    • Nét đẹp của cô gái trong bài ca này chủ yếu nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm.

    Câu 2: Bài 3

    a) Cách mở đầu bài ca dao này có gì khác với hai bài trên? Anh (chị) hiểu từ “ai” trong câu “Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!” như thế nào?

      Bài ca dao này không mở đầu trực tiếp như hai bài thơ trên mà dùng lối nói đưa đẩy, gợi cảm hứng. Cách mở đầu này thường xuất hiện trong ca dao với hình thức: “Trèo lên cây bưởi hái hoa…”, “Trèo lên cây gạo cao cao…”. Nếu hình thức “Thân em như…” là nỗi đau về thân phận người phụ nữ thì hình thức “Trèo lên…” là nỗi đau vì tình duyên lở dở, thường là lời của chàng trai.

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững, thuỷ chung. Điều đó được nói lên bằng một hệ thống so sánh, ẩn dụ như thế nào? Vì sao các tác giả dân gian lại lấy những hình ảnh của thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tình nghĩa của con người?

      “Ai” là đại từ phiếm chỉ hàm ý chỉ những thế lực cản trở tình duyên đôi lứa. Câu hỏi tu từ bật ra như lời ai oán, xót xa cho số phận. Tình duyên không thành nhưng tình nghĩa của người con trai vẫn trước sau không thay đổi. Tình nghĩa đó được ví như mặt trời, mặt trăng, các vì sao từ xưa đến nay vẫn thế. Nhân vật trữ tình đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trũ là cái to lớn, vĩnh hằng để nói lên tình nghĩa con người bền vững, thủy chung.

    c) Phân tích để làm rõ vẻ đẹp của câu cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” (xem kĩ chú thích)

      Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    Câu 3: Bài 4: Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung – nhất là thương nhớ người yêu – vậy mà trong bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm. Đó là nhơ thủ pháp gì và thủ pháp đó đã tạo được hiệu quả nghệ thuật như thết nào (phân tích thêm cách gieo vần trong thể thơ bốn tiếng của bài ca dao)?

    • Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.
    • Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.
    • Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.
    • Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.
    • Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    Câu 4: Bài 5: Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp độc đáo của hình ảnh nghệ thuật này (có thể so sánh với những hình ảnh chiếc cầu khác trong ca dao về tình yêu).

      Đây là một câu ca dao rất đẹp, giàu chất thơ. Nó là sự thổ lộ tình yêu của người con gái một cách ý nhị. Hình ảnh chiếc cầu là một chi tiết xuất hiện nhiều trong ca dao như : “Cô kia cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”. “Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu”. Xưa nay, ước mong được ở gần nhau là ước mơ chính đáng của các đôi lứa yêu nhau. Ca dao đã thể hiện ước mong đó một cách sâu sắc, duyên dáng. Cô gái ước mong “sông rộng một gang” để “bắc cầu dải yếm” cho chàng sang chơi. Hình ảnh chiếc cầu giải yếm mãnh liệt và cũng là một ý tưởng táo bạo của cô gái.

    Câu 5: Bài 6: Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người, ca sao lại dùng hình ảnh muối – gừng? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và giá trị biểu cảm của hình ảnh này trong bài ca dao và tìm thêm một số câu ca dao khác có sử dụng hình ảnh muối – gừng để minh hoạ.

    • Khi nói đến tình nghĩa, ca dao Việt Nam đã dùng hình ảnh muối và gừng bởi hai phẩm vật này có những nét đặc trưng giống với tình cảm con ngưòi. Gừng là loại có vị cay để lại dư vị (không giống như các loại có vị cay khác như ớt, quế…) muốn cũng là một loại có vị mặn có hậu (dễ chịu về sau). Nói chung cả hai vị đều rất cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người, và chúng đều mang đặc điểm chung là có dứ vị dễ chịu. Điều đó thích hợp để ví với tình cảm có trước có sau, sâu nặng, mặn mà…
    • Phân tích ý nghĩa biểu trưng của gừng và muối trong bài ca dao:

    Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

    • Muối mặn, gừng cay biểu trưng cho nghĩa tình mặn nồng.
    • Ba năm, chín tháng biểu trưng cho sự bền lâu, vĩnh cửu.
    • Ba vạn sáu ngàn ngày tức 100 năm, .biểu trưng cho suốt cuộc đời, cũng có nghĩa là vĩnh hằng.

    Câu 6: Qua chùm ca dao đã học, anh (chị) thấy những biệtn pháp nghệ thuật nào thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có nét gì khác so với nghệ thuật thơ của văn học viết?

    • Tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn).
    • Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.
    • Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn.
    • Một số câu ca dao có biểu tượng muối – gừng:

    “Tay nâng chén muối, đĩa gừng Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau”

    hay

    “Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay, Đạo nghĩa cang thường chớ đổi từng ngày Dẫu làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày, ta cũng theo nhau”.

    3. Hướng dẫn luyện tập:

    Câu 1: Tìm 5 bài ca dao mở đầu bằng thân em như… và phân biệt sắc thái ý nghĩa của chúng

    Câu 2: Tìm thêm những bài ca dao nói về nỗi nhớ người yêu, về cái khăn để thấy bài Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống của các bài ca dao đó lại vừa có vị trí đặc biệt, độc đáo riêng. Từ đó, lí giải ý nghĩa câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm: “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (trích Trường ca mặt đường khát vọng)

    Câu 1:

    Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày “ Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa “ Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu “ Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày “ Người khôn rửa mặt, người phàn rửa chân.”

      Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

      • Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.
      • Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.
      • Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    Câu 2: “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than” “Nhớ ai như nhớ thuốc lào Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên” “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ Đêm quên giấc ngủ, ngày mơ tiếng cười”. “Nhớ anh em chỉ nằm dài Cơm ăn thì nghẹn, nước mắt chảy hoài không khô” “Trông anh đã mấy thu tròn, Khăn lau nước mắt đã mòn con ngươi”. “Nhớ chàng như bút nhớ nghiên Như mực nhớ giấy, như thuyền nhớ sông”. “Nhớ chàng như vợ nhớ chồng Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây”.

      Ca dao có hình ảnh chiếc khăn:

    “Gửi khăn, gửi áo, gửi lời Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa” “Nhớ khi khăn mở, trầu trao Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình” “Cầm lược thì nhớ tới gương Cầm khăn nhớ túi, đi đường nhớ nhau” “Ước gì anh hóa ra hoa Để em nâng lấy rồi mà cài khăn”. “Khăn đào vắt ngọn cành mơ Mình xuông đằng ấy, bao giờ mới lên”. “Em về anh mượn khăn tay Gói câu tình nghĩa lâu ngày sợ quên”. “Khăn rằn quấn cổ hay hay Thấy em ôm ốm mình dây anh thương liền”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Than Thân
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Ca Dao Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Ca Dao 1.thuật Ngữ Và Khái Niệm…
  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Việt Nam Trường Thpt Vũng Tàu
  • Giáo Án Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Ngữ Văn 10
  • Giáo Án Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa Ngữ Văn 10

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Ca Dao Việt Nam Trường Thpt Vũng Tàu
  • Ca Dao Là Gì? I. Giới Thiệu Chung Về Ca Dao 1.thuật Ngữ Và Khái Niệm…
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Hài Hước, Châm Biếm
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 10 Bài Ca Dao Than Thân
  • Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa
  • Giáo án điện tử môn Ngữ Văn lớp 10

    Giáo án bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

    Để hỗ trợ các thầy cô trong quá trình soạn giáo án ngữ văn lớp 10 để giảng dạy thì chúng tôi cung cấp tới quý thầy/cô bài giáo án Ngữ văn 10 bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa được trình bày khoa học cùng nội dung chi tiết.

    CA DAO THAN THÂN

    YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA

    A. Mục tiêu bài học

    • Hiểu được, cảm nhận được tiếng hát than thân và tiếng hát yêu thương tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến xưa qua nghệ thuật riêng, đậm màu sắc dân gian của ca dao.
    • Biết cách tiếp cận và phân tích ca dao qua đặc trưng thể loại.
    • Đồng cảm với tâm hồn người lao động và yêu quý những sáng tác của họ.

    B. Phương tiện thực hiện C. Cách thức tiến hành

    D. Tiến trình giờ giảng

    • Yêu cầu học sinh đọc một vài bài ca dao mà em biết….qua những câu ca dao đó, tác giả dân gian đã phản ánh điều gì?
    • GV: để hiểu rõ hơn về tâm tư, tình cảm của người bình dân hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu chùm Ca dao thân thương, yêu thương tình nghĩa.

    GV: Yêu cầu 1 HS nhắc lại KN Ca Dao.

    HS: CD là lời thơ trữ tình dân gian thường kết hơp với âm nhạc (làn điệu) khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả TG nội tâm của con người. Ca dao còn được gọi là 1 thể thơ dân gian.

    GV: Lời thơ:

    Con cò bay lả bay la, bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng.

    Em nào có thể hát để chúng ta cảm nhận về làn điệu trong ca dao?

    Yêu cầu học sinh đọc phần Tiểu dẫn.

    CH: Trong phần em vừa đọc có điểm gì đáng chú ý?

    HS: Phần vừa đọc nêu 2 ý cơ bản: Nội dung và nghệ thuật của ca dao.

    CH: Nội dung chủ yếu của các bài ca dao là gì?

    Về NT, ca dao có đặc điểm như thế nào?

    (GV đưa ra những câu hỏi gợi mở để dẫn dắt: thể thơ, ngôn ngữ, lối diễn đạt)

    I. Khái quát chung

    – Diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ gia đình, lứa đôi, quê hương, đất nước. Trong đó có 3 chủ điểm:

    + Những tiếng hát than thân.

    + Những lời ca yêu thương tình nghĩa.

    + Những bài ca dao hài hước.

    3. Nghệ thuật:

    – Lời ca thường ngắn (lục bát, lục bát biến thể).

    – Ngôn ngữ: gần gũi với lời nối thường ngày, giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ.

    – Lối diễn đạt: bằng một số công thức mang đậm sắc thái dân gian.

    * TL: NT của ca dao là nghệ thuật truyền thống mang đậm sắc thái dân gian.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 26
  • Bài 5 Trang 75 Sách Bt Sinh 11: Quang Chu Kì Là Gì? Giải Thích Vì Sao Thực Vật Ngày Dài Và Thực Vật Ngày
  • Sự Khác Biệt Giữa Cây Ngày Dài Và Cây Ngày Ngắn
  • Bài 36. Phát Triển Ở Thực Vật Có Hoa
  • Tạp Chí Xây Dựng Đảng
  • Soạn Bài Lớp 10: Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa Soạn Bài Môn Ngữ Văn Lớp 10 Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 16. Ôn Tập Tác Phẩm Trữ Tình
  • Giải Thích Khái Niệm Than Thân, Châm Biếm
  • Dàn Ý Phân Tích Những Câu Hát Châm Biếm
  • Ca Dao Than Thân Yêu Thương Tình Nghĩa Cadao2 Ppt
  • Soạn Bài Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình
  • Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa Soạn bài môn Ngữ văn lớp 10 học kì I

    Soạn bài: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

    Soạn bài lớp 10: Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo về khái niệm của ca dao và ý nghĩa của những câu ca dao than thân, cao dao yêu thương tình nghĩa quê hương, đất nước giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 10 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ mới sắp tới đây của mình.

    Soạn bài lớp 10: Ca dao hài hước Soạn bài lớp 10: Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Soạn bài lớp 10: Tam đại con gà nhưng nó phải bằng hai mày

    CA DAO THAN THÂN

    VÀ CA DAO YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Khái niệm ca dao

    Ca dao là những bài hát dân gian. Khái niệm này đặt ca dao vào đúng môi trường diễn xướng, nghĩa là khi ấy, lời thơ và làn điệu của ca dao gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng nếu ta tách khỏi điệu hát thì ca dao là thơ và vì vậy ca dao còn có nghĩa là một thể thơ dân gian.

    Khi sưu tầm, các nhà nghiên cứu thường chỉ ghi chép phần lời thơ. Cũng vậy, khi học chúng ta cũng chỉ chú ý nhiều đến phần văn tự.

    2. Đặc điểm của ca dao

    Về nội dung, ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, thế giới tâm hồn của người lao động. Nó thường được biểu hiện thành: những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm…

    Về nghệ thuật, ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân. Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu… (ví dụ lối so sánh ví von, sự lặp đi lặp lại các hình ảnh giàu tính nghệ thuật, lối diễn đạt theo kiểu công thức…).

    II. RÈN KĨ NĂNG 1. Chùm ca dao trữ tình gồm hai nội dung lớn được chia ra cụ thể thành các nhóm bài sau:

    Nội dung than thân: bài 1, 2, 3 đều nói về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa.

    Nội dung yêu thương tình nghĩa:

    • Bài 4,5: Thể hiện nỗi nhớ và niềm ước ao mãnh liệt trong tình yêu đôi lứa.
    • Bài 6: Là câu hát về tình nghĩa thủy chung của con người (nhất là trong tình yêu và tình chồng vợ).

    2. Về các bài 1, 2

    a) Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ “thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mìn. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

    b) Cả hai bài ca dao tuy đều nói đến thân phận nổi nênh, thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội xưa. Thế nhưng mỗi bài lại có một sắc thái tình cảm riêng:

    • Bài 1: Người phụ nữ ý thức được tuổi xuân và vẻ đẹp của mình (như tấm lụa đào). Nhưng thân phận lại thật xót xa khi không thể tự quyết định được tương lai của chính mình (phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?).
    • Bài 2: Đây là lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp đích thực của con người (ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen). Bài ca còn là lời mời mọc da diết của cô gái. Lời mời mọc ấy là khát khao của con người mong muốn được khẳng định cái chân giá trị, cái vẻ đẹp của mình. Tư tưởng của bài ca dao vẫn là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của người con gái trong xã hội xưa.

    3. Về bài 3

    a) Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần, ví như:

    Ở trong bài ca dao này từ “ai” cũng mang nghĩa như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, là những hủ tục cưới cheo phong kiến hay có khi là chính người tình…

    b) Mặc dầu lỡ duyên, tình nghĩa vẫn thuỷ chung bền vững. Cái tình ấy được nói lên bằng những hình ảnh so sánh ẩn dụ (mặt trặng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai). Điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

    c) Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

    4. Về bài 4

    Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ trong tình yêu. Vậy mà ở bài ca dao này, nó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm bằng các hình tượng nghệ thuật: khăn, đèn, mắt.

    Hai hình tượng khăn, đèn được xây dựng bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa (khăn, đèn chính là cô gái), còn hình ảnh mắt được xây dựng bằng phép hoán dụ (dùng bộ phận để chỉ toàn thể – nhân vật trữ tình). Hình ảnh khăn, đèn, mắt đã trở thành biểu tượng cho niềm thương nỗi nhớ của cô gái đang yêu.

    Cái khăn được nhắc đến đầu tiên và được điệp đi điệp lại nhiều lần bởi nó thường là vật kỉ niệm, vật trao duyên. Nó lại luôn luôn ở bên mình người con gái. Chính vì thế mà nó có thể cất lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Hình ảnh chiếc khăn gắn với các động từ như: thương nhớ, rơi xuống, vắt lên, chùi nước mắt… nói lên tâm trạng ngổn ngang trăm mối của người con gái.

    Nỗi nhớ thương của cô gái còn thể hiện qua hình ảnh ngọn đèn – đó là nỗi nhớ được trải dài ra theo nhịp thời gian. Đèn chẳng tắt hay chính là ngọn lửa tình trong lòng cô gái đang thắp sáng suốt đêm thâu.

    Từ hình ảnh khăn, đèn đến hình ảnh ánh mắt là cả một sự đổi thay rất lớn. Đến đây, không còn cầm lòng được nữa, cô gái đã hỏi chính lòng mình: mắt thương nhớ ai. Các hình tượng vẫn là một mạch thống nhất về ý nghĩa. Các câu hỏi vẫn cứ được cất lên. Và câu trả lời chính là ở trong niềm thương nỗi nhớ của người con gái đang yêu.

    5. Trong ca dao tình yêu, chiếc cầu là một mô típ rất quen thuộc. Nó là biểu tượng để chỉ nơi gặp gỡ, trao duyên của những đôi lứa đang yêu. Chiếc cầu thường mang tính ước lệ độc đáo – là cành hồng, là ngọn mồng tơi,… và ở đây là dải yếm. Con sông đã không có thực (rộng một gang) nên chiếc cầu kia cũng không có thực. Nó thực ra là một “cái cầu tình yêu”. Bài ca dao còn độc đáo hơn ở chỗ nó là chiếc cầu do người con gái bắc cho người yêu mình. Nó chủ động, táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng trữ tình và ý nhị biết bao. Chiếc cầu ở đây được làm bằng vật thuộc về chủ thể trữ tình (khác với cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi… những vật ở bên ngoài chủ thể). Vì thế mà chiếc cầu – dải yếm như là một thông điệp tượng trưng cho trái tim rạo rực yêu thương mà người con gái muốn mời gọi, dâng hiến cho người yêu của mình.

    Cách nhau có một con đầmGần đây mà chẳng sang chơi

    Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu

    Sợ rằng chàng chả đi cầu

    Cho tốn công thợ, cho sầu lòng em… 7. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng là:

    Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang8. Có thể kể ra các bài ca dao mở đầu bằng “thân em như…”:

    Cành trầu lá dọc lá ngang9. Một số bài ca dao về nỗi nhớ người yêu và về cái khăn: Đêm qua ra đứng bờ ao

    Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

    Buồn trông con nhện giăng tơ

    Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

    Buồn trông chênh chếch sao mai

    Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

    Đố người bên ấy bước sang cành trầm

    Gợi ý phân tích ý nghĩa sắc thái của các câu ca dao:

    Hai bài ca dao trên đều là lời mời gọi của nhân vật trữ tình. Nó có hình thức giống như những câu hát giao duyên. Hai câu ca dao tuy khác nhau ở hình ảnh “chiếc cầu” (cành hồng, cành trầm) nhưng đều có giá trị thẩm mĩ cao.

    Ở bài ca dao dưới, hình ảnh chiếc cầu vẫn rất gần gũi và giản dị (ngọn mùng tơi) nhưng nội dung cả bài lại mang hàm ý là lời trách móc, hờn dỗi nhẹ nhàng của cô gái hướng đến chàng trai (người ở phía bên kia).

    6. Bài 6 là câu hát về tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao. Ở đây, để biểu đạt nội dung ý nghĩa, tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao (gừng cay – muối mặn).

    Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà. Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

    Bài ca dao là câu hát về tình nghĩa thủy chung nhưng nó hướng nhiều hơn đến tình nghĩa vợ chồng – những người đã từng chung sống với nhau, từng cùng nhau trải qua những ngày tháng gừng cay – muối mặn. Bài ca dao được viết bằng thể thơ song thất lục bát nhưng câu bát phá cách (Có cách xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa) kéo dài tới mười ba tiếng như là một sự luyến láy vừa tạo ra tính nhạc cho câu, vừa khẳng định cái giá trị bền vững không phai của tình nghĩa vợ chồng.

    • Sự lặp đi lặp lại của mô thức mở đầu: Thân em như…
    • Những hình ảnh (mô típ) đã trở thành biểu tượng: cái cầu, khăn, đèn, gừng cay – muối mặn…
    • Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ: lụa đào, ủ ấu gai…
    • Các mô típ thời gian li biệt, không gian xa xôi cách trở.
    • Thể thơ: lục bát – lục bát biến thể, vãn bối (4 chữ), song thất lục bát (có cả biến thể).

    Những biện pháp nghệ thuật này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết: nó mang nhiều dấu ấn của cộng đồng. Những dấu hiệu nghệ thuật này đều quen thuộc, dễ nhận ra. Trong khi đó nghệ thuật thơ của văn học viết thường mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ – dấu ấn đặc trưng của từng tác giả.

    Gợi ý phân tích sắc thái ý nghĩa của các bài ca dao:

    • Hai bài đầu sử dụng cùng một hình ảnh so sánh: thân em – hạt mưa, để nói lên nỗi khổ của cô gái khi số phận của mình (buồn – vui, sướng – khổ) chỉ có thể trông nhờ vào sự may mắn mà thôi.
    • Bài thứ ba nói lên thân phận nhỏ bé tội nghiệp của người phụ nữ trước những phong ba, bão táp của cuộc đời.
    • Hai câu cuối là lời than của người phụ nữ khi giá trị và vẻ đẹp của họ không được người đời quan tâm và trân trọng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Ca Dao Hài Hước Ngắn Nhất
  • Quản Lý Chất Thải Rắn Và Chất Thải Y Tế
  • Mức Độ Ảnh Hưởng Của Chất Lượng Dịch Vụ Y Tế Đến Sự Hài Lòng Của Bệnh Nhân Nội Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Dược
  • Tổng Quản Về Quản Lý Chất Lượng Trong Y Tế
  • Vật Chất Và Ý Thức
  • Top 5+ Bài Văn Nghị Luận Về Tình Cảm Gia Đình Hay Và Ý Nghĩa Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ Ghép Là Gì? 3 Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Nhanh Và Dễ Hiểu Nhất
  • Cách Phân Biệt Từ Láy
  • Cách Phân Biệt Từ Ghép, Từ Láy Dễ Lẫn Lộn
  • Yêu Thương Vô Điều Kiện Là Gì Và Tầm Quan Trọng Của Nó Trong Thời Đại Này
  • Sống Chậm, Suy Nghĩ Khác Và Yêu Thương Nhiều Hơn
  • Đề bài: Trình bày suy nghĩ của em về tình cảm gia đình.

    Hướng dẫn làm bài nghị luận về tình cảm gia đình

    Phân tích đề

    – Yêu cầu đề bài: nghị luận về vấn đề tình cảm gia đình

    – Phương pháp làm bài: nghị luận

    Hệ thống luận điểm

    Luận điểm 1: Giải thích tình cảm gia đình là gì?

    Luận điểm 2: Biểu hiện của tình cảm gia đình

    Luận điểm 3: Ý nghĩa của tình cảm gia đình

    Luận điểm 4: Cần làm gì để duy trì tình cảm trong gia đình

    Lập dàn ý nghị luận về tình cảm gia đình

    Xem Hướng dẫn xây dựng dàn ý chi tiết bài nghị luận về tình cảm gia đình

    Sơ đồ tư duy nghị luận về tình cảm gia đình

    Người ta có nhiều nơi để đến nhưng chỉ có một nơi để về đó là gia đình. Chính vì thế, gia đình chính là ngôi nhà yêu thương và thiêng liêng nhất trên trái đất cho ta sự bao dung và vị tha, nguồn suối nóng chân thành của yêu thương, vì thế mái ấm gia đình và tình cảm gia đình chính là thứ mà tất cả kho báu trên trái đất không thể nào sánh được.

    Cái gì ta gọi là bất hạnh, là khổ đau? Phải chăng chính là những số phận vô gia cư, không nơi nương tựa, không người thân, không nơi nương náu, đi về. Mỗi ngày thức dậy lại lo cái ăn, chỗ ngủ làm sao, còn gì bất lực và tủi thân hơn điều ấy. Chính vì thế, mái ấm gia đình là ngôi nhà cho ta nơi an cư, lạc nghiệp, cho ta sự bình yên và hạnh phúc trong tâm hồn. Tình cảm gia đình chính là tình cảm yêu thương chân thành, nồng hậu giữa những người cùng chung huyết thống. Ai qua là bao chốn xa, có nơi đâu cho bằng mái nhà, có nguồn tình cảm thiêng liêng và cũng rất đỗi bình dị, thành thực hơn tình cảm gia đình.

    Gia đình là ngôi thánh đường đầu tiên cho tuổi thơ học những điều hay lẽ phải. Là nơi ngay cả nước sôi cũng reo lên niềm vui hạnh phúc, là nơi mà ngay cả những món ăn đơn sơ cũng trở nên mĩ vị, là nơi mà trên trái đất thì đó là nhà máy cung cấp o xi khổng lồ cho sự sống bình yên và trong lành của mỗi người. Mái ấm gia đình giúp ta có nơi ăn, chốn ở không còn là kẻ bơ vơ, lang thang vật vờ như cô hồn không nơi nương tựa. Mái ấm gia đình là nơi giúp ta sống mà có một điểm tựa và niềm tin vững chãi hơn vào cuộc sống. tình cảm gia đình là tình cảm ruột thịt nồng nàn, chân thật và ấm áp, thiêng liêng. Ngoài kia trong xã hội nhộn nhịp, đầy rẫy những cạm bẫy toan tính kia sẽ không bao giờ cho bạn sự hiền lành và an toàn như vậy đâu. Nếu không người ta đã không ví thương trường như chiến trường, và cuộc sống là cuộc đấu tranh bất tận, rằng cuộc đời là một giấc mộng kê thôi, như một cuộc hí trường. Gia đình là nơi đầu tiên cho tuổi thơ học những điều hay lẽ phải, là nơi ửng hồng gò má ta, là nơi ta cất tiếng khóc oa oa đầu tiên, là nơi rừng cho hoa con đường cho những tấm lòng. Chính vì thế, gia đình chính là quê hương thân thiết và thiêng liêng nhất trong cuộc đời mỗi con người. Duy chỉ có gia đình người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại những tai ương của số mệnh. Tình cảm gia đình là nguồn sức mạnh nâng đỡ ta trong những phút yếu lòng, là điểm tựa cho ta phát triển bền vững và ngay thẳng. Tình cảm ấy giống như một thứ thần dược chữa lành mọi vết thương trong tâm hồn.

    Người không biết trân quý mái ấm gia đình và tình cảm gia đình sẽ bị đồng loại ruồng bỏ, sẽ sống không có cội nguồn và gốc rễ bền vững, cũng chính là kẻ tự biến mình thành cô lập, tự chặt đứt đi vây cánh và điểm tựa của chính mình. Nhưng để sống hạnh phúc và hòa thuận, cần biết nhường nhịn chia ngọt sẻ bùi, thấm nhuần những truyền thống đạo lí muôn thuở của dân tộc.

    Tình cảm gia đình là một tình cảm thiêng liêng không gì có thể sánh được, ai trong chúng ta cũng có những người thân yêu của mình, có một mái ấm gia đình để che chở cho chúng ta mỗi khi chúng ta khó khăn trong cuộc sống. Tình cảm gia đình là tình cảm vô cùng quý giá với mỗi chúng ta, nơi chứa chan những tình cảm ấm áp của một gia đình, chứa đựng những tình cảm giữa những thành viên thân thiết ruột thịt với nhau.

    Trong cuộc sống có nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ, có hoàn cảnh sống thiếu tình thương của gia đình, thường xuyên bị đánh đập bắt làm việc mưu sinh từ khi còn rất nhỏ, khiến chúng ta vô cùng đau lòng. Các em nhỏ đó khiến cho mỗi chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều về những số phận trong cuộc sống. Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng cao quý chúng ta cần phải biết trân trọng giữ gìn tình cảm của gia đình của mình, biết trân trọng tình cảm mà cha mẹ người thân dành cho mình.

    Tình cảm gia đình là nơi chứa đựng nhiều cảm xúc vô cùng to lớn đối với cuộc sống của con người chúng ta. Nó bảo vệ cho chúng ta khi chúng ta gặp khó khăn thử thách trong cuộc sống, dành cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất. Ai cũng có gia đình của mình, có những người thân những mối quan hệ trong xã hội mà chúng ta không thể thay thế được.

    Từ ngày xưa tới nay đó là tình cảm thiêng liêng giữa người thân vô bờ bến của con người. Mái ấm gia đình là nơi mà chở che cho chúng ta mỗi khi ta bị vấp ngã, gặp khó khăn thử thách trong cuộc sống thì chúng ta có thể quay về với gia đình của mình. Bởi cha mẹ luôn bảo vệ, dành cho con cái của mình những tình cảm yêu thương, bao la vô bờ bến. Họ chính là những người có thể tha thứ bao dung cho mọi lỗi lầm của con cái gây ra, giúp con cái nhận ra sai lầm của mình rồi sửa sai.

    Tình cảm cha mẹ dành cho chúng ta không lời nào có thể nói hết, đó là tình cảm xuất phát từ trái tim vô điều kiện. Những ông bố bà mẹ sẵn sàng hy sinh cả cuộc đời mình dành những gì tốt đẹp nhất cho con cái của họ để mong sao con cái trưởng thành nên người.

    Tình cảm gia đình là nơi ấp ủ chứa đựng nhiều tình cảm yêu thương, là nơi mà ở đó con người luôn sống là chính mình, được sống với bản thân mình bao bọc bởi tình cảm máu mủ ruột già. Là nơi mà những người thân thương luôn tìm cách để vun đắp phát triển cho gia đình trở nên toàn diện nhất.

    Mỗi thành viên trong gia đình cần phải có ý thức và làm tốt vai trò trách nhiệm của mình để cuộc sống gia đình trở nên hoàn hảo hơn, tạo ra những giá trị cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong các thành viên cần có sự sẻ chia, yêu thương lẫn nhau thì gia đình đó sẽ luôn hạnh phúc.

    Cần phải có ý thức trân trọng tình cảm của những người xung quanh dành cho mình, bổn phận làm con thì phải vâng lời cha mẹ giúp đỡ cha mẹ những việc làm nhẹ nhàng vừa sức của mình. Học tập chăm chỉ trở thành con ngoan trò giỏi để không phụ lòng cha mẹ làm việc vất vả nuôi dưỡng mình,

    Khi cha mẹ già yếu phận làm con phải chăm sóc hiếu kính có như vậy mới đúng bổn phận và đạo làm con. Trong xã hội hiện nay nhiều người con không chịu phụng dưỡng cha mẹ lúc ốm đau, già cả mà cho vào viện dưỡng lão, bất hiếu với cha mẹ, đùn đẩy trách nhiệm, không nhớ tới công lao cha mẹ nuôi dưỡng sinh thành vất vả. Với những người như vậy cần phải phê phán, để làm gương cho những người khác trong xã hội.

    Mỗi con người chúng ta cần phải có trách nhiệm yêu thương chăm sóc người thân của mình đó vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ.

    Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình hạnh phúc thì xã hội phát triển. Tình cảm gia đình là tình cảm hết sức thiêng liêng không thể thiếu trong cuộc đời của mỗi con người.

    Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục.

    Tình cảm gia đình là tình yêu thương, gắn kết, quan tâm, lo lắng giữa các thành viên trong gia đình. Tình cảm gia đình được xây dựng dựa trên mối quan hệ huyết thống và ý thức về trách nhiệm và bổn phận của mỗi con người đối với người khác trong gia đình.

    Cha mẹ sinh thành, chăm sóc, bảo vệ và yêu thương con cái mà không có bất cứ một đòi hỏi gì. Công ơn sinh thành dưỡng dục là cả đức hi sinh cho con. Con cái yêu thương, quan tâm, biết nghe lời cha mẹ một cách tự giác, tự nguyện, sống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Sự đùm bọc, chỉ bảo, giúp đỡ, đoàn kết, yêu thương của anh chị em sống dưới mái nhà và với những người khác trong huyết thống của gia tộc.

    Tình cảm gia đình là một tình cảm hết sức thiêng liêngg, luôn luôn đúng và được khẳng định, củng cố qua nhiều câu tục ngữ, thành ngữ:

    – Một giọt máu đào hơn ao nước lã. – Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi – Anh em như thể tay chân Rách lành đùm bọc, dở hay đở đần.

    Gia đình là nền tảng vững chắc, là chiếc nôi nuôi dưỡng ta cả về thể xác lẫn tinh thần. Truyền thống gia đình là cơ sở đầu tiên tạo dựng và dưỡng nuôi nhân cách cao đẹp ở con người.

    “Con người có tổ có tông Như cây có cội, như sông có nguồn” “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”

    Gia đình là nguồn động viên, an ủi, là chỗ dựa vũng chắc giúp ta thêm sức mạnh vượt qua mọi khó khăn. Gia đình là một bến đỗ bình yên để ta tránh dông bão cuộc đời. Sức mạnh to lớn của tình cảm gia đình ấy sẽ nâng đỡ ta trên bước đường đời, chắp cho ta đôi cánh vươn đến những ước mơ, khác vọng lớn lao.

    Chính tình yêu thương, dạy dỗ của người mẹ người cha là động lực để con trở thành người tốt đẹp và thành công. Không có cha mẹ, con người thật khó vững bước trên đường đời. Không gì bất hạnh và cô đơn bằng thiếu vắng tình cảm gia đình. Ngược lại, tấm lòng hiếu thảo của con luôn làm cha mẹ vui lòng. Thành công của con cái chính là sự nghiệp của cha mẹ.

    Gia đình quan trọng nhưng nhiều người không biết quý trọng. Có nhiều bậc làm cha mẹ nhẫn tâm đánh đập, bỏ rơi con hoặc làm gương xấu cho con cái. Nhiều đứa con ngỗ ngược, bất hiếu với cha mẹ, phụ bạc tấm lòng nuôi dưỡng và đức hi sinh của bậc sinh thành. Những người như thế thật đáng chê trách và lên án.

    Gia đình là tài sản quý giá nhất đối với mỗi con người. Bởi thế, mỗi chúng ta khi còn có gia đình hãy biết quý trọng, gìn giữ và vun đắp tình cảm gia đình thật tốt đẹp. Sống biết yêu thương và thực hiện trách nhiệm, bổn phận của mình đối với người thân trong gia đình.

    Bạn đã từng nghe câu nói của Elizabeth Berg: “Bạn được sinh ra từ gia đình của mình và gia đình được sinh ra từ trong bạn. Không mưu cầu. Không đổi chác”. Trong cuộc sống mỗi chúng ta, có đôi lúc ta sẽ gặp phải những khó khăn và thử thách, những lúc ấy ta thường tìm đến những điểm tựa tinh thần giúp con người ta yêu đời, lạc quan và vượt qua được gian khổ. Nơi đó không đâu xa xôi mà nó chính là tình cảm gia đình. Vậy thế nào là gia đình? Tình cảm gia đình là gì?

    Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Gia đình là cái nôi cơ sở nền tảng bồi dưỡng để hình thành nên nhân cách con người.

    Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng, giữa những người máu mủ, ruột rà hay cũng là những người không có chung huyết thống nhưng có thể thấu hiểu được nhau.

    Tình cảm gia đình trước hết nó chính là tình cảm của những người trong gia đình dành cho nhau đó là tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em. Mỗi tình cảm ấy đều mang lên ý nghĩa của nó, mỗi ý nghĩa của nó là một phần giúp tình cảm gia đình được bền chặt, sâu nặng. Tình cảm ấy không chỉ là tình cảm giữa những người có cùng huyết thống với nhau mà những người không chung huyết thống cũng có thể cảm nhận được từ cách họ quan tâm đến nhau, cộng tác với nhau trong công việc. Để thể hiện tình cảm, mỗi con người lại có mỗi cách quan tâm khác nhau, không ai giống ai cả. Có người quan tâm bằng lời nói có người lại quan tâm bằng hành động. Nhưng họ đều có một điểm chung là đều yêu quý người thân của mình. Chẳng hạn như khi ông bà bị ốm đau, không cần phải ăn món cao lương mĩ vị gì cả chỉ đơn giản là con cháu quây quần bên cạnh động viên an ủi cũng làm cho ông bà cảm thấy hết bệnh. Đó là những điều vô cùng giản dị của tình cảm gia đình.

    Tình cảm gia đình còn có thể vượt qua được rào cản về địa lí, khiến cho con người cảm thấy luôn được bên cạnh nhau. Dù có ở xa nhau nhưng lúc nào cũng nhớ đến nhau, trong tim luôn đặt họ vào một vị trí quan trọng, gắn bó với nhau bằng cả tấm lòng, khi càng ở xa lại càng nhớ, càng nhớ càng trông ngóng. Đó là điều rất khó giải nhưng là điều khiến ai cũng phải công nhận nó. Nếu thực sự yêu thương nhau dù có ở đâu thì lúc nào cũng hướng về nhau, chẳng có gì có thể ngăn cản được họ. Kể cả một người ở bắc cực và một người ở nam cực thì đó cũng chỉ là một khoảng không gian nhỏ so với tình cảm của họ dành cho nhau.

    Tình cảm gia đình là thứ tình cảm tồn tại mãi mãi, bởi nó thuộc về thế giới tinh thần là những gì cao quý, bền vững nhất. Nó sẽ chẳng bao giờ biến mất khi con người ta biết trân trọng và nâng niu nó. Nếu một người thân trong gia đình bạn ra đi cũng không đồng nghĩa tình cảm của chúng ta dành cho họ biến mất, nó tồn tại ở trong tim của bạn, khi nhắc về họ thì trong lòng bạn họ vẫn có một vị trí đặc biệt.

    Tình cảm gia đình có thể giúp con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Nó là nơi cho ta sự an ủi, niềm tin, sự hi vọng để vượt qua những khó khăn ấy một cách dễ dàng. Tình cảm gia đình là thứ con người tìm về sau một chuyến đi dài mệt mỏi. Xã hội phát triển thì có rất nhiều mối quan hệ nhưng không có mối quan hệ nào đáng giá bằng tình cảm gia đình, nó luôn chiếm vị trí cao trong đời sống tinh thần của con người. Nếu con người sống không có tình cảm gia đình sẽ trở nên khô cằn, héo úa và cũng mất đi một điểm tựa của cuộc đời mình. Nếu các em nhỏ từ nhỏ không có tình yêu thương của gia đình thì nó sẽ trở thành một đứa trẻ cộc cằn, không cảm nhận được tình cảm từ bố mẹ, nó sẽ tìm kiếm đến những người nó cho là hiểu nó, đem đến niềm vui cho nó bằng những thứ trái pháp luật bởi nó đâu có được quan tâm hay dạy bảo điều đó có đúng hay không.

    Mỗi con người phải ý thức được vai trò quan trọng của tình cảm gia đình với cuộc sống để giữ gìn, nâng niu, trân trọng nó. Đừng để một ngày đánh mất nó rồi mới đi tìm lại lúc đó đã muộn lắm rồi. Đơn giản chỉ là hàng ngày quan tâm nhau bằng những việc nhỏ nhất sẽ làm cho tình cảm ấy càng đẹp hơn, ý nghĩa hơn và gắn kết mọi người gần nhau hơn.

    Tình cảm gia đình còn xuất hiện ở những người không chung huyết thống. Nhưng chúng ta vẫn có thể chia sẻ quan tâm với nhau như những người thân trong gia đình. Những em bé sinh ra mồ côi cha mẹ từ nhỏ cùng nhau sống trong cô nhi viện, các em đã coi chính những người chăm sóc, những người bạn sống cùng giống như người mẹ, người anh, người chị. Đối với họ đó chính là tình cảm gia đình đáng được trân trọng. Ở trong xã hội hiện đại người ta đo các giá trị của con người bằng nhiều hình thức khác nhau thì lúc đấy tình cảm lại chính là mắt xích giúp con người ta gắn kết với nhau, giúp xã hội phát triển càng phát triển hơn.

    Tình cảm gia đình là cao quý, vì vậy mỗi người cần phải ý thức và bảo vệ tình cảm đẹp đẽ ấy, xây dựng mối quan hệ và tạo dựng tình cảm với người không chung huyết thống trong xã hội. Phê phán và lên án những con người coi thường và không biết trân trọng tình cảm gia đình, những người như thế một ngày nào đó sẽ nhận được hậu quả thích đáng cho hành động của họ.

    Đối với bản thân của mỗi người hay chính bản thân em cũng vậy tuy sẽ có lúc không biết trân trọng, hiểu được hết ý nghĩa về tình cảm trong gia đình là rất đáng phê phán nhưng nếu chúng ta biết trân trọng thì nó sẽ trở thành một lời khen. Mỗi một con người sẽ có một những chốn bình yên cho riêng mình, đó có thể là tình bạn, cũng có thể là trong tình yêu và có những người cho rằng chốn bình yên nhất là tình cảm gia đình. Sau bao nhiêu gian lao, bão táp con người ta đều mong được về bên gia đình để được yêu thương, an ủi.

    Mỗi người chúng ta ai ai cũng đều có gia đình riêng của mình, cũng đều được che chở trong vòng tay của người cha, người mẹ của mình, chính vì thế tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất của dân tộc Việt Nam.

    Tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng, vô bờ bến của mỗi cá nhân con người, đây là nơi ấm áp chứa đựng tình thương giữa con người với con người với nhau. Trong nhiều hoàn cảnh con người được sống trong tình yêu thương của người thân, chính vì thế tình cảm gia đình là vô cùng thiêng liêng, cao quý đối với tất cả mọi người trong cuộc sống. Tình cảm đó chúng ta cần phải biết gìn giữ, trân trọng và phát huy những giá trị quý báu của dân tộc Việt Nam, mỗi giá trị đó cần phải biết tôn tạo và giữ gìn mỗi ngày.

    Tình cảm gia đình là nơi thiêng liêng, hàm chứa nhiều xúc cảm quan trọng của con người, nó bao gồm nhiều cung bậc tình cảm quan trọng, cao quý mà con người dành với nhau. Ai cũng đều được cảm nhận tình cảm đó thông qua gia đình, những mối quan hệ trong xã hội. Từ xưa đến nay tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng vô bờ bến của con người, đây là nơi chứa đựng những tình cảm đáng quý của con người với nhau, mỗi người đều được thể hiện tình cảm thiêng liêng với người mà mình yêu quý nhất.

    Cha mẹ luôn dành tình yêu thương của mình cho con cái, họ cũng là người có thể tha thứ mọi lỗi lầm khi con họ mắc lỗi, sẵn sàng cho những người con của họ cơ hội để sửa sai, sửa chữa những lỗi lầm của mình. Cha mẹ cũng là người có thể dành tình cảm yêu quý vô điều kiện cho người con của mình, họ là những người cao cả, sẵn sàng hy sinh cả cuộc đời của mình cho những người con của họ.

    Tình cảm gia đình là nơi chứa đựng nhiều tình thương, ở đó con người được sống là chính mình, được bao bọc và chở che bởi những người mà mình thương yêu nhất. Con người được sống, được vun đắp và được phát triển một cách toàn diện, trong môi trường đó.

    Chúng ta cần phải có ý thức và trách nhiệm hơn trong cuộc sống của mình, cần phải luôn tôn tạo những giá trị của cuộc sống, giá trị đó cần phải được cải thiện, biết giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp của con người. Cần phải có ý thức và biết trân trọng, yêu quý những người thân yêu xung quanh mình, đó là những điều đáng quý, đáng trân trọng của mỗi chúng ta.

    Là con người ai ai cũng đều cần đến tình cảm gia đình, bởi đó là nơi ấm áp, hàm chứa tình cảm và sự yêu thương mà những người thân yêu của chúng ta đang trao tặng cho mình, luôn được sống và hưởng những điều tốt nhất từ cuộc sống này. Cần phải có ý thức, trách nhiệm hơn với cuộc sống, con người là tia sáng, là thành phần không thể thiếu của xã hội, chính vì thế học cách trân trọng và giữ gìn tình cảm gia đình, cũng là điều cực kì quan trọng trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

    Chúng ta cần chủ động, tích cực và biết giữ gìn những tình cảm đáng quý đó từ cuộc sống, biết giữ gìn, làm tròn trách nhiệm của mình với gia đình, xã hội là chúng ta đang góp phần làm nên một xã hội tươi đẹp hơn.

    Con người cần phải có ý thức trách nhiệm của mình với những người xung quanh, đặc biệt đối với người thân của mình, luôn phải ý thức được trách nhiệm, luôn coi trọng tình cảm, giá trị và tình người.

    Đúng như một nhà văn người Hy Lạp đã từng nói “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi không có tình thương”, qua đây chúng ta cũng có thể thấy, tình cảm gia đình là nơi ấm áp, chứa đựng nhiều tình cảm cao quý và thiêng liêng của con người, mỗi chúng ta cần phải có ý thức, trách nhiệm hơn với cuộc sống, với gia đình và với người thân yêu của mình.

    Cần phải nâng cao được trách nhiệm của mình trước xã hội, gia đình, cần phải biết giữ gìn và ý thức được vai trò của mình trước các mối quan hệ xã hội, và người thân. Đặc biệt cần phê phán những thói quen thờ ơ, ghẻ lạnh của một số thành phần trong xã hội, đối với cha mẹ, hay các thành viên trong gia đình.

    Mỗi chúng ta cần có ý thức và giữ gìn tình cảm của mình với người thân, bởi tình cảm gia đình là tình cảm thiêng liêng nhất.

    Có thể bạn cũng quan tâm: Ý nghĩa của bài ca dao Công cha như núi Thái Sơn

    Đoạn văn ngắn 200 chữ về tình cảm gia đình

    Một xã hội chỉ thực sự phát triển khi các cá nhân, tập thể trong xã hội đó hoàn thiện cả về tư duy và nhận thức. Đặc biệt ở đây, ta không thể không kể đến vai trò của gia đình trong việc xây dựng xã hội. Gia đình được coi là nền tảng thúc đẩy cho xã hội ngày một lớn mạnh.

    Gia đình đóng một vai trò quan trọng trong xã hội. Đó là một môi trường tốt giúp cho trẻ nhỏ phát triển về thể chất và tư duy. Trẻ em chính là mầm non của xã hội, là tương lai của đất nước. Được lớn lên trong vòng tay của cha mẹ, các em sẽ được sống đầy đủ về mặt tình cảm. Hơn thế nữa, dưới sự giáo dục của cha mẹ, các em sẽ có những định hướng tích cực trong tương lai. Cha mẹ vừa là người giáo viên, vừa là người bạn để các em sẻ chia, tâm sự. Mỗi khi gặp khó khăn trong đời, gia đình chính là nơi để chúng ta trở về và được an ủi, động viên. Gia đình là chỗ dựa tinh thần và thể xác tốt nhất khi ta suy sụp.

    Tuy nhiên nhiều cha mẹ lại mải mê kiếm sống mà lơ là việc quản lý giáo dục con. Điều này dễ làm cho con em họ bị tiêm nhiễm, sa ngã vào những thói hư tật xấu của xã hội. Các em ăn chơi, đua đòi theo nhóm bạn bè xấu. Nhiều em vì nghe lời rủ rê của kẻ xấu mà bỏ nhà, trộm cắp, cướp giật, … Đã có rất nhiều em vì không được bố mẹ quan tâm mà trở nên hư hỏng. Đồng thời, ở ngoài kia vẫn còn rất nhiều trẻ em lớn lên thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ, gia đình. Có thể là do các em từ nhỏ đã mất cha mẹ, hoặc cũng có thể là do hôn nhân tan vỡ, … Các em chịu nhiều thiệt thòi so với những người bạn đồng trang lứa, đôi khi cảm thấy tủi thân khi bị bạn bè chế giễu, bắt nạt. Lúc nào các em cũng khao khát tình cảm gia đình.

    Không có gì đẹp và đáng quý hơn là được sống trong mái ấm gia đình. Bởi vậy, mỗi người trong chúng ta cần biết nâng niu và trân trọng mái ấm gia đình của chính mình.

    /***/

    Các bạn vừa tham khảo Top 5 bài nghị luận về tình cảm gia đình hay nhất do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn lại. Hi vọng tài liệu này sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình làm bài nghị luận về tình cảm gia đình, cũng như rèn luyện cách làm, vốn từ ngữ rút kinh nghiệm cho những bài nghị luận sau.

    Tâm Phương (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • 999+ Những Câu Nói Hay Về Gia Đình ❤️❤️❤️ Nên Đọc
  • Tình Người Hà Giang Lan Tỏa Yêu Thương Giữa Mùa Đại Dịch
  • Yêu Thương Định Nghĩa Gia Đình!
  • Trắc Nghiệm Gdcd 7 Bài 5: Yêu Thương Con Người
  • Giải Bài Tập Gdcd 7 Bài 5: Yêu Thương Con Người
  • Bắc Kim Thang Là Gì? Ý Nghĩa Ghê Rợn Thật Sự Của Bài Hát Bắc Kim Thang Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 2K Có Nghĩa Là Gì? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Định Nghĩa Độ Phân Giải 4K Là Gì !?
  • Từ Nhiều Nghĩa Là Gì?
  • Khâm Liệm Người Chết Là Gì
  • Bị Liệu Là Gì? Bị Liệu Có Phái Là Một Dấu Hiệu Tâm Thần?
  • Bắc Kim Thang có 2 ý nghĩa.

    Một là tên bài hát dân gian Việt Nam, được ca sĩ bé Xuân Mai trình bày vào năm 2021. Đây là một bài hát rất nổi tiếng được lưu truyền qua các thế hệ trong gia đình.

    Hai, Bắc Kim Thang còn có nghĩa là bộ phim Kinh Dị cùng tên được sản xuất vào 31/1/2020, nói về sự phân biệt “Trọng nam khinh nữ” trong xã hội Việt Nam và các nước Đông Nám Á.

    Ý nghĩa của bài hát Bắc Kim Thang

    Bài hát Bắc Kim Thang được các trẻ em biết đến qua lời hát ru từ người lớn trong gia đình. Với ca từ dễ nhớ, bọn trẻ con đã lớn lên và xem bài hát như một phần tuổi thơ không thể thiếu. Thế nhưng chúng ta đã hiểu hết về ý nghĩa sâu xa của các câu hát đơn giản nhưng vui nhộn này chưa?

    “Bắc kim thang, cà lang bí rợ Cột qua kèo, là kèo qua cột Chú bán dầu qua cầu mà té Chú bán ếch ở lại làm chi? Con le le đánh trống thổi kèn Con bìm bịp thổi tò tí te tò te…”

    Ý nghĩa tích cực: trò chơi dân gian Nam Bộ

    Bài hát còn được biết đến với tên gọi “Bắt Kim Than” (nghĩa là bắt con ngựa màu đen). Bọn trẻ con nông thôn thường bày trò chơi với nhau mỗi lúc rãnh rỗi, vừa chơi vừa hát nghêu ngao trò khoèo chân. Tụi nhỏ thường rủ nhau từ 4 đến 5 đứa để cùng chơi trò này. Chúng nắm tay lại với nhau, bung ra thành vòng tròn, chân trái trụ vững, chân phải duỗi thẳng và gác lên chỗ tay của hai người đối diện đang nắm chặt. Tụi trẻ con vừa hát vừa xoay vòng, nghiêng người sao cho ai rớt chân xuống trước sẽ thành kẻ thua cuộc. Tùy vào độ sáng tạo, chúng có thể “nâng cấp” trò chơi thành các kiểu khác nhau nhưng nguyên bản vẫn là trò khoèo chân và chơi càng đông càng vui.

    Ý nghĩa kinh dị: Sự thật rùng rợn

    Qua nhiều biến thể, bài đồng dao được truyền miệng nhau theo hơi hướng “cổ tích creepy” như thế này:

    Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa, tại một cù lao nhỏ ven sông, có hai anh bạn chơi với nhau rất thân. Một anh làm nghề bắt ếch về đêm, còn một anh làm nghề bán dầu (loại dầu lửa dùng để thắp đèn lúc bấy giờ) lúc rạng sáng. Hai người họ sống tách biệt với nhà của dân làng nên họ chỉ biết nương tựa vào nhau mà sống tình nghĩa như anh em. Hằng ngày, họ phải đi qua một cây cầu khỉ – loại cầu nhỏ với hình dáng mộc mạc, sơ sài bắt qua sông để đến khu họp chợ làng. Vì hoàn cảnh nghèo giống nhau, lại ít người thân nên họ nhanh chóng trở nên thân thiết với nhau hơn cả anh em một nhà. Một hôm, mẹ anh bán ếch do không đủ tiền thuốc thang, bệnh tình trở nặng qua đời. Anh bán dầu đã không hề quản ngại, tính toán liền phụ tiền ma chay để lo đám tang cho mẹ anh bán ếch. Anh bán ếch cảm kích tấm chân tình này nên tình bạn của họ ngày một thắm thiết hơn.

    “Cà, lang, bí rợ” là ba loại củ, quả có cùng họ dây leo. Ở miền Tây Nam Bộ, người dân thường sử dụng những giàn cột làm từ thanh tre dài, bắt chéo vào nhau để tạo thành một tam giác cân, từ “kim” trong “bắc kim thang” chính là ám chỉ giàn cột này để quả cà, khoai lang, bí rợ sinh sôi phát triển. Còn “Cột qua kèo là kèo qua cột” chính là muốn nói đến tình cảm giữa hai anh chàng bán ếch và bán dầu này, bền chặt như keo sơn, quấn quít và gắn bó với nhau như anh em một nhà.

    Vẫn như mọi ngày, anh bán ếch đi làm đêm để kiếm ếch cho phiên chợ buổi sáng, nhưng hôm nay anh phát hiện tiếng kêu thảm thiết từ phía đồng vang lên. Vì tò mò, anh bán ếch liền đi tìm kiếm thì phát hiện bìm bịp và le le bị dính bẫy trên đồng. Hai con vật thấy bóng dáng anh liền ra sức van nài giúp đỡ và hứa sẽ đền đáp ơn này về sau. Vốn bản tính nhân từ, anh bán ếch vội tìm cách để cứu hai con vật đáng thương này ra.

    Biến cố bắt đầu từ đây…

    Vài ngày sau, như lời hứa cứu mạng lúc trước, hai con bìm bịp và le le tranh nhau đến nhà ân nhân để báo tin về đại họa sắp xảy ra. Chúng nghe được tin từ hai con ma da gần khúc sông hằng ngày hai người thường đi qua, bảo với nhau rằng: sẽ kéo chân cả hai người để thế mạng cho chúng đầu thai thành người. Vì đôi bạn thân thường xuyên đi qua cầu vào lúc trời chạng vạng gần sáng nên đây chính là thời điểm phù hợp nhất để chúng ra tay. Cách duy nhất để thoát khỏi nạn này là trong vòng 7 ngày tới, cả hai đều không được ra ngoài vào lúc trời hửng sáng.

    Sau khi nghe được tin, anh bán ếch liền đem chuyện kể với anh bán dầu để bàn với nhau cùng nghỉ ở nhà một tuần vượt qua kiếp nạn. Trớ trêu thay, anh bán dầu lại không tin vào câu chuyện điên rồ và mê tín khiến anh bán ếch vô cùng lo lắng. Bìm bịp và le le liền hiến kế, anh bán ếch cứ viện cớ nhân ngày giỗ mẹ mình mà rủ anh bán dầu ở lại để ăn tiệc. Anh bán ếch cố tình chuốc cho say để bạn mình quá giờ đi bán. Cứ thế, hằng ngày anh bán ếch đều tìm mọi cách, viện mọi lý do nhất quyết không để anh bán dầu ra ngoài vào lúc sáng sớm. Đến ngày cuối cùng trong kì hạn, vì quá mệt mỏi nên anh bán ếch đã ngủ quên, còn bạn mình đã tỉnh từ lúc nào để sửa soạn đồ mang ra chợ bán. Chẳng may lúc đi sang cầu, tụi ma da đã làm phép khiến cây cầu khỉ vốn dĩ chông chênh nay lại thêm trơn trượt, và thế là anh bán dầu sảy chân té nhào xuống sông mà chết. Câu hát “Chú bán dầu qua cầu mà té” cũng chính vì cái ngày định mệnh ấy. Anh bán ếch tỉnh dậy không thấy bạn đâu, biết chắc sự việc chẳng lành lòng đau đớn nhưng không dám ra ngoài do chưa hết hạn của tụi ma da. Đến sáng hôm sau anh mới dám ra khúc sông ấy vớt xác bạn lên: “Chú bán ếch ở lại làm chi?”

    Thấy ân nhân lòng đau như cắt vì cái chết của bạn, bìm bịp và le le vội vã bay đến cất tiếng kêu ai oán như kèn trống đám ma tiễn đưa linh cữu người bạn xấu số.

    “Con le le đánh trống thổi kèn Con bìm bịp thổi tò tí te tò te…”

    Đó cũng chính là hai trong số những giả thiết về tình tiết và nguồn gốc câu chuyện “Bắc Kim Thang” mà dân gian ta đã truyền tai nhau suốt bao đời qua. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có lời khẳng định hay minh chứng nào cho những câu chuyện trên. Bài hát vẫn được người lớn truyền miệng cho lũ trẻ con trong nhà từ đời này sang đời khác và gây ra không ít hoang mang, thắc mắc về ý nghĩa thật sự của nó.

    Còn bạn đã được nghe câu chuyện nào khác về “Bắc Kim Thang” chưa?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Công Mài Sắt Có Ngày Nên Kim Có Nghĩa Là Gì?
  • Ý Nghĩa Tên Khánh Vy Và Những Điều Bạn Chưa Biết
  • Tên Con Nguyễn Nam Khánh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Ý Nghĩa Của Tên Khánh & Những Cái Tên Ghép Với Khánh Đẹp
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Khánh An Có Gì Đặc Biệt Chi Tiết
  • Tin tức online tv