【#1】Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?

Thế giới chúng ta đang biết không phải là vô hạn, đó là những gì mà vũ trụ học ngày nay đã nói cho chúng ta biết. Vậy nó có phải là tất cả không? Người ta sẽ luôn thắc mắc rằng “nếu vũ trụ hữu hạn, thì nó phải là một phần của một cái gì đó?”. Những thắc mắc như vậy sẽ chẳng bao giờ chấm dứt cho dù một ngày kia có thể ta sẽ biết cái gì nằm ngoài biên giới của vũ trụ…

Vũ trụ của chúng ta (universe) ra đời từ một vụ nổ lớn (big bang). Vụ nổ này xuất phát từ một điểm kì dị với mật độ lớn không xác định, và có lẽ là không giới hạn, sau vụ nổ này không gian và thời gian được tạo ra, trước hết là các bức xạ ánh sáng, rồi dần hình thành các hạt cơ bản nặng hơn, chúng lại kết hợp nhau thành các nguyên tử, phân từ, những hạt bụi và khí nhỏ nhất, để rồi kết quả cuối cùng là các thiên hà, sao, hành tinh … và cả sự sống của chúng ta ngày nay. Theo những số liệu ngày nay thì chúng ta ước đoán khá chính xác rằng vụ nổ lớn nêu trên xảy ra cách đây khoảng hơn 14 tỷ năm, 10 tỷ năm sau (4,5 tỷ năm trước) thì Trái Đất của chúng ta mới ra đời, và con người có trí tuệ thì mới xuất hiện được khoảng 15-20.000 năm trước (giữa và cuối kỉ băng hà).

Từ lâu con người đã không ngững tìm hiểu về vị trí và nguồn gốc của mình trong vũ trụ. Trải qua mấy nghìn năm sai lầm khi tin rằng chúng ta là trung tâm của vũ trụ, thì những cuộc cách mạng về nhận thức từ thời của Copernics, Galilei (thế kỉ 16, 17) cho đến tận thời điểm này khi chúng ta đã tiến sâu tới hơn 10 năm vào thế kỉ thứ 21, đã cho chúng ta biết nhiều hơn về vị trí thật sự của chúng ta. Chúng ta không chỉ là sinh vật trên một hành tinh quay quanh Mặt Trời, mà chính Mặt Trời cũng không phải ngôi sao duy nhất, nó chỉ là một trong số 200 tỷ ngôi sao của thiên hà Milky Way. Trong khi đó thiên hà này lại chỉ là một trong số hơn 50 thành viên của Cụm địa phương (Local Group), một quần thiên hà nằm trong siêu quần thiên hà Virgo – một trong số hàng nghìn, hàng triệu hay hàng tỷ siêu quần thiên hà trong vũ trụ. Vậy mà đến tận thời điểm này, nơi xa nhất con người tứng đặt chân tới mới là Mặt Trăng, một vệ tinh của chúng ta. Con số 384.000 km từ Trái Đất tới Mặt Trăng nghe có vẻ lớn khi chúng ta so sánh với thước đo hàng ngày, nhưng hãy thử làm một phép so sánh. Với vận tốc lên tới xấp xỉ 300.000 cây số mỗi giây, ánh sáng chỉ mất có hơn 1 giây để đưa một hình ảnh từ Trái Đất lên tới Mặt Trăng, nhưng nó sẽ phải mất tới hơn 50 tỷ năm để tới được rìa của vũ trụ. Có lẽ nền văn minh của chúng ta trong vài trăm năm tới sẽ khó có thể cho phép chúng ta đi được dù chỉ thoát ra khỏi thiên hà nhỏ bé này.

Tuy vậy cho dù không thể tự mình đi ra ngoài không gian xa xôi, nhưng con người vẫn khong ngừng quan sát nó. Đến nay chúng ta đã có thể thu được tín hiệu từ những nơi cách xa hàng tỷ năm ánh sáng (cho dù đó chỉ là thông tin về chúng nhiều tỷ năm trước và có thể khi đó thì khoảng cách của chúng chưa phải là vài tỷ năm ánh sáng). Các mô hình vũ trụ với cơ sở khá vững chắc từ các phương trình của cơ học lượng tử cũng như các quan sát trực tiếp cho chúng ta biết phần nào về kích thước và giới hạn của vũ trụ. Vũ trụ là một không gian nhiều chiều (nhiều hơn 4) và nó cũng có giới hạn của nó, giới hạn này đang ngày càng gia tăng do sự giãn nở không ngừng. Những nghiên cứu trong những năm gần đây cho biết vũ trụ của chúng ta có lẽ sẽ không thể kết thúc bằng một vụ co lại và sụp đổ vật chất, nó cứ tiếp tục giãn nở làm mật độ ngày càng loãng cho tới khi mọi tương tác đều biến mất.

Mặc dù như vậy, cho dù vũ trụ có giãn nở ra bao nhiêu, nó vẫn chỉ là một quả bóng bay được thổi căng dần, nó có thể cứ lớn mãi, lớn mãi, nhưng suy cho cùng nó phải có một giới hạn. Bên ngoài giới hạn đó không phải vũ trụ, không có cả không gian và thời gian nên có lẽ ta còn không cả được phép dùng từ “trong” và “ngoài”, nhưng vì phạm vi của ngôn ngữ chúng ta chưa có một thuật ngữ nào mới mẻ để mô tả nên xin được tiếp tục dùng 2 từ này cho những mô tả tiếp theo. Cái chính là liệu rằng đó đã phải tất cả hay chưa, hay còn một cái gì đó nằm ngoài phạm vi của không gian và thời gian. Nó có tính chất hoàn toàn khác, qui định bởi những định luật vật lý khác vũ trụ của chúng ta nên ta không thể gọi nó là “không gian”, đơn gainr đó là cái gì đó nằm phía ngoài của vũ trụ.

Đến nay, chưa có bất cứ bằng chứng nào xác thực cho sự tồn tại của cái gì đó bên ngoài vũ trụ, nhưng một mô hình có tên là Đa vũ trụ (multiverse) vẫn được nhiều người quan tâm vì nó là một lí giải cho những cơ may của những vũ trụ và sự sống bên ngoài giới hạn của chúng ta.

Nhiều nhà khoa học cho rằng có nhiều vũ trụ khác nhau song song tồn tại như những “bong bóng” lơ lửng trong một môi trường chung nào đó chưa được xác định. Nhiều tác phẩm viễn tưởng, chẳng hạn như của Marvel và DC comics đã từ lâu sử dụng ý tưởng này xây dựng nên những cuộc gặp gỡ và những cuộc chiến liên vũ trụ.

Về cơ bản, đa vũ trụ mới chỉ là một mô hình được đề xuất dựa trên giả thuyết đa lịch sử và tính xác xuất trong cơ học lượng tử. Đôi khi nó còn được gọi là các vũ trụ song song (parallel universes), với nội dung chính là vũ trụ của chúng ta không phải là duy nhất mà có thể còn có những vũ trụ khác đang tồn tại song song với chúng ta.

Thuyết đa vũ trụ ngày nay có 4 dạng, chia thành 4 cấp với sự sai khác khác nhau so với vũ trụ của chúng ta.

Cấp 1 (level 1): Có sự tồn tại của các vũ trụ khác độc lập với vũ trụ của chúng ta. Chúng cũng có các tính chất vật lý y như chúng ta không có gì khác biệt, chỉ trừ các xác xuất và điều kiện trong khác nhau nên sẽ sinh ra những kết quả khác

nhau. Có thể có sự sống như chúng ta, cũng có nên văn minh giống y như chúng ta, cũng có người đang ngồi gõ những dòng này và có các độc giả đang đọc chúng, chỉ có tính chất có thể khác đôi chút, giống như trong một tập ngắn trong bộ truyện tranh Doraemon khi Nobita bay vào vũ trụ và vô tình đến một nơi y như nhà mình với những người xung quanh y như vậy, chỉ khác nhau đôi chút về trình độ văn minh. Hiện nay một bằng chứng còn khá lờ mờ cho việc này là sự không đồng đều ở một vài điểm trong bức xạ nền thu được. Như chúng ta biết, bức xạ nền này phát ra không lâu sau vụ nổ lớn Big Bang và lan rộng khắp vũ trụ, những gì chúng ta thu được ngày nay là phần tàn dư của nó, do đó nó chĩnh là những nhân chứng cho thời kì đầu của vũ trụ. Sự không đồng đều trong nền bức xạ này đặt nghi vấn rằng vũ trụ từng có va chạm với những vũ trụ khác như lý thuyết đa vũ trụ đề xuất. tất nhiên đến nay thì đây vẫn chỉ là những nghi vấn vì ngay cả kết quả các phép đo của chúng ta ngày nay vẫn chưa hoàn toàn chính xác, chưa tính đến những biến cố trong thời kì tạo thành vật chất của vũ trụ.

Cấp 2 (level 2): Ở cấp này, chúng ta nhìn nhận đa vũ trụ là những “bong bóng” sinh ra trong một không gian trống rỗng (khác với không gian của chúng ta, và một ngày chúng ta sẽ phải tìm một từ khác để mô tả nó). các bong bóng này (mỗi bong bóng là một vũ trụ) có thể đang được đẩy ra xa nhau giống như các thiên hà đang rời xa nhau trong vũ trụ của chúng ta. Ở giả thuyết cấp 2 này có sự khác biệt hơn. Các phương trình vật lý và toán học vẫn không có gì khác nhau giữa các vũ trụ nhưng không chỉ các điều kiện đầu khác nhau mà có thể các hằng số vật lý cũng khác nhau như vận tốc của ánh sáng, hằng số hấp dẫn …, kết quả do các cấu trúc vật chất khác nhau.

Cấp 3 (level 3): cấp này về cơ bản sự sai khác về vật lý giống như sự sai khác do mô hình cấp 2 đề ra. Nhưng về mô tả có hơi khác. Đây chính là giả thuyết đa lịch sử/đa thế giới mà chúng ta hay bắt gặp trong các bộ phim hay truyện viễn tưởng. Có thể có những thế giới song song với chúng ta nhưng với những hằng số khác dẫn đến những hệ quả khác, giống như con mèo trong nghịch lý của Schrodinger có thể sống và cũng có thể chết sau một hiệu ứng lượng tử. Một sai khác rất nhỏ, hay trong cơ học lượng tử thì đơn giản là tính xác xuất sẽ quyết định con mèo sống hay chết. Nhưng nếu nó là sống thì có thể ở một thế giới song song khác có một con mèo tương tự đã chết. Hay lại nói tới câu chuyện Doraemon, trên thực tế khi chú mèo máy Doraemon trở về quá khứ giúp Nobita thì đó là một thế giới và lịch sử khác, trong khi lịch sử ban đầu vẫn xảy ra ở một thế giới song song khác.

Cấp 4 (level 4): Đây là cấp cuối cung trong 4 mô hình của Đa thế giới. Ở mô hình này, sự sai khác là rõ rệt nhất. Các vũ trụ song song với chúng ta gần như không có bất cứ điểm nào giống với chúng ta. Không chỉ các điều kiện trong, các hằng số vật lý mà cả các định luật vật lý cũng hoàn toàn khác. Hình học của các vũ trụ ở cấp này khác nhau hoàn toàn, trong khi vũ trụ của chúng ta ngày nay là vũ trụ mở thì có thể lại có nhiều vũ trụ đóng, các vũ trụ phẳng hay các vũ trụ với cấu tạo không thời gian phức tạp, liên tục thăng giáng … và thậm chí cũng có những vũ trụ mở nhưng với các định luật vật lý khác, các hạt cơ bản hoàn toàn xa lạ, nơi chúng ta không có cơ hội sống sót nếu giả sử bị đẩy sang đó.

Hiện nay, người ta vẫn đang cố gắng tìm kiếm thêm các dấu hiệu tương tự như sự không đều trong bức xạ nền để làm bằng chứng cho sự tồn tại của đa vũ trụ (bất cứ cấp nào), nhưng một lần nữa chúng ta cần nhắc lại rằng với công nghệ ngày nay bất cứ phép đo nào đối với bức xạ nền này đều chưa phải là tuyệt đối chính xác. Mặt khác nếu như giả sử có bằng chứng về các vũ trụ khác thì khả năng chúng ta có thể quan sát được chúng là không thể. Chúng ta hãy tiếp tục chờ đợi thêm các kết quả từ tương lai.

Đặng Vũ Tuấn Sơn

Vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn trích dẫn chúng tôi khi bạn sử dụng bài viết này

【#2】Top 10 Đoạn Văn Viết Về Giáng Sinh Bằng Tiếng Anh Hay Nhất

Bài viết về Noel bằng tiếng Anh

1. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 1

Christmas Day

On the last day of school, I always give out Christmas psents and cards to my teacher and my friends in class. We always have a party the last day of the term and we play games.

When school is over we usually go down town and finish our Christmas shopping. Then we go home and have our dinner and we go to bed. The next day we go down town and we see all the Christmas lights and there is always carol singers on the street. We sometimes meet our friends and go for coffee. At around 6 pm we go home to get tea for our dad. When he comes home we open some psents that our friends have given us. At 9 we go to mass and when we go home we get our snacks for Santa ready.

Dịch:

Ngày Giáng sinh (Noel)

Vào ngày cuối cùng trước khi nghỉ Giáng sinh, tôi luôn tặng quà và thiệp chúc mừng Giáng sinh cho các thầy cô và bạn bè. Cả lớp có bữa tiệc nhỏ và cùng chơi trò chơi trước khi nghỉ kết thúc học kì.

Sau đó chúng tôi thường xuống thị trấn và mua sắm cho Giáng sinh. Mua sắm xong, chúng tôi về nhà, ăn tối và đi ngủ. Ngày hôm sau, mọi người cùng đi xuống thị trấn để ngắm nhìn những ánh đèn Giáng sinh và nghe các ca sĩ hát mừng giáng sinh trên đường phố. Thi thoảng chúng tôi có cùng bạn bè đi uống vài cốc cà phê. Khoảng 6 giờ chiều chúng tôi trở về nhà uống trà và chờ bố về. Khi bố về, cả nhà cùng mở những món quà được bạn bè tặng. Khoảng 9 giờ tối, cả nhà đi dạo phố, sau đó trở về nhà, thưởng thức vài đồ ăn nhẹ để chờ ông già Noel.

Ngày hôm sau là ngày Giáng sinh. Khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi thức dậy và xuống cầu thang để nhận những món quà mà ông già Noel đã để lại. 12 giờ trưa, cả nhà đi đến nhà ông bà. Khoảng 2 giờ chiều, một số họ hàng ghé qua để tặng ít quà. 7 giờ tối chúng tôi đi dạo quanh thị trấn, sau đó về nhà, uống chút đồ và đi ngủ.

2. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 2

What Is Christmas?

Christmas is a celebration of Jesus Christ’s birth. Some people celebrate Christmas differently, but it is all based upon the birth of Christ. Christmas is on December 25th. This is the day that Jesus is said to be born. Nobody really knows the exact date Jesus was born. Yet, in 137 AD, the Bishop of Rome ordered the birthday of The Christ child be celebrated as a solemn feast. In 350 AD, another Roman Bishop named Julius I, choose December 25th as the observance day of Christmas.

People celebrate Christmas differently form one another. For example, my family celebrates Christmas by decorating our entire house. We also exchange gifts, go to church, and cook a big dinner. Even though we do all these things, we remember the “true” meaning of Christmas – To Celebrate the Birth of Jesus Christ.

Dịch: Lễ Giáng sinh(Noel) là gì?

Lễ Giáng Sinh là ngày kỉ niệm sự ra đời của Chúa Jesus. Mỗi người có cách ăn mừng Giáng sinh khác nhau, nhưng tất cả đều để chào mừng ngày sinh của Chúa Jesus. Giáng sinh diễn ra vào ngày 25/12 – ngày được cho là khi Chúa Jesus ra đời. Không ai thực sự biết chính xác ngày Chúa Jesus ra đời. Tuy nhiên, năm 137 sau Công nguyên giám mục thành La Mã là Telesphoros đã chọn ngày Giáng Sinh là quốc lễ. Vào năm 350 sau Công nguyên, một vị giám mục khác của Roma tên là Julius I, chọn ngày 25/12 làm ngày Lễ Giáng sinh (Noel).

Mọi người tổ chức Lễ Giáng sinh khác nhau. Ví dụ, gia đình tôi kỷ niệm Giáng sinh bằng cách trang trí toàn bộ ngôi nhà của mình. Chúng tôi cũng trao đổi quà tặng, đi nhà thờ và nấu một bữa tối thịnh soạn. Nhưng dù thế nào đi nữa, chúng tôi vẫn nhớ ý nghĩa thật sự của Giáng Sinh là kỷ niệm ngày ra đời của Chúa Jesus.

3. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 3

Christmas

Holidays hold an important part in everyone’s life and one of the most popular holidays around the world is Christmas day. According to ancient peoples, Xmas day is celebrated primarily on December 25th to commemorate the day Jesus was born. In some weeks before Xmas, people often decorate their house with lights, Christmas trees and much more, ppare the meals for this special day. Besides, children will hang their Christmas socks with the hope of receiving some lovely gifts from the Santa Claus. Christmas day is the day that family members gather together around the fireplace, enjoy the meal, talk and play games in the warm atmosphere. Then people come to the church and pray to the God, confess about their all sins and sufferings, their hope for healthiness and happiness. Many schools and works are usually closed on Christmas Eve so families can stay together at that special night. The most well-known symbol is Santa Claus- the imaginary old man with long, white hair and beard with a red coat who children believe to bring them psents at Christmas. To sum up, Christmas is one of the most meaningful holidays of the year for people to stay together and take a rest after a hard working year.

Dịch: Giáng sinh

Các ngày lễ đóng một vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của mọi người và một trong những ngày lễ lớn nhất trên thế giới là ngày Giáng sinh. Theo người cổ đại, Giáng sinh được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 để kỷ niệm ngày Chúa Giêsu được sinh ra. Trong một vài tuần trước lễ Giáng Sinh, người ta thường trang trí nhà của họ bằng đèn, cây Giáng sinh và nhiều hơn nữa, chuẩn bị bữa ăn cho ngày đặc biệt này. Hơn nữa, trẻ em sẽ treo vớ Giáng sinh của họ với hy vọng nhận được một số món quà đáng yêu từ Santa Claus. Ngày Giáng sinh là ngày mà những người trong gia đình tụ họp bên cạnh lò sưởi, ăn bữa ăn, nói chuyện và chơi trò chơi trong bầu không khí ấm áp. Sau đó mọi người đến nhà thờ và cầu nguyện với Thượng Đế, thú nhận về tất cả tội lỗi và đau khổ của họ, hy vọng của họ về sức khỏe và hạnh phúc. Nhiều trường học và công trình thường đóng cửa vào đêm Giáng sinh để gia đình có thể ở cùng nhau vào đêm đặc biệt này. Biểu tượng nổi tiếng nhất là Santa Claus – ông già được tạo nên từ trí tưởng tượng với mái tóc dài màu trắng và một bộ râu và một chiếc áo khoác màu đỏ được trẻ em tin tưởng mang đến cho chúng những món quà vào dịp Giáng sinh. Có thể nói, Giáng sinh là một trong các ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm khi mọi người có dịp quây quần bên nhau và nghỉ ngơi sau một năm làm việc chăm chỉ.

4. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 4

Christmas Day

Along with global cultural persities, there are more and more festivals held annually over the world and most people expss concern and look forward to the coming of a special occasion, Christmas. Xmas occurs on December 25th to commemorate the day Jesus was given to birth. During these days, there are different activities pparing for the big day. Most houses are decorated with colorful lights; shops, stores, groceries, restaurants are always crowded to satify the need of customers. Everyone is busy with dressing gorgeously, choosing meaningful gifts, pparing for a delicious meal to enjoy a Xmas night with their beloved ones. For Christian followers, this day is so important that they often go to the church at night to pray. To sum up, Christmas day has brought great pleasure and happiness for all citizens in the world, making our boring life more exciting and meaningful.

Dịch: Ngày Giáng sinh

Cùng với sự đa dạng văn hoá toàn cầu thì ngày càng có nhiều lễ hội được tổ chức hằng năm trên thế giới và mọi người đều dành sự quan tâm và mong chờ cho một ngày lễ đặc biệt, đó chính là lễ Giáng sinh. Lễ giáng sinh được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 hằng năm để tưởng nhớ ngày Chúa Giêsu ra đời. Trong những ngày này, có rất nhiều các hoạt động khác nhau chuẩn bị cho ngày lễ trọng đại này. Hầu hết mọi nhà được trang trí với những ánh đèn rực rỡ sắc màu; những cửa hàng, tiệm tạp hoá, shops luôn đông đúc người nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng. Mọi người đều bận với việc ăn mặc sao cho lộng lẫy, chọn những món quà giáng sinh ý nghĩa nhất, chuẩn bị bữa ăn tuyệt vời nhất để tận hưởng một đêm giáng sinh tuyệt vời với người mà chúng ta yêu thương. Với những tín đồ Công giáo, đây là một dịp lễ quan trọng vì vậy mà mọi người thường đến nhà thờ vào ban đêm để cầu nguyện. Có thể nói, ngày lễ giáng sinh đã mang đến niềm vui và niềm hạnh phúc cho mọi công dân trên toàn thế giới, khiến cho cuộc sống tẻ nhạt này của chúng ta trở nên vui vẻ và ý nghĩa hơn.

5. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 5

What Christmas Means to me

Christmas to me is a celebration, which includes spending time with my family, decorating the entire house, inside and out, and shopping, for the people I love. Doing this with the people I love is what means the most to me.

We usually gather and celebrate at my parent’s house, in East Tennessee. My husband, our three children, and myself travel from California. My two sisters, their husbands, and children come from a nearby town, for our celebration. We spend the day baking cookies, making fudge and pparing a big Christmas dinner, with all the trimmings. The children love to see each other. They spend the day playing games and sharing their new gifts and toys that Santa Claus brought for each of them. Happy Merry Christmas to my friend.

Dịch: Giáng sinh là ngày lễ ý nghĩa đối với tôi

Đối với tôi, Giáng sinh là dịp quây quần bên gia đình, trang trí toàn bộ nhà cửa, từ trong ra ngoài, mua sắm cho những người tôi yêu thương. Cùng những người mình yêu thương làm những công việc đó có ý nghĩa rất lớn đối với tôi.

6. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 6

Activities on christmas day

Christmas is a vitally important annual festival for the Christians. It takes place on the 25th of December to celebrate the birthday anniversary of Jesus Christ. From a purely religious holiday, Christmas has become a global cultural festival.

When Christmas was spad to different countries, its customs were modified to create a distinct identity. However, they still share some common traditions such as cleaning, decorating houses, and churches with flowers and a Christmas tree. The dinner on Christmas Day is also very important. It repsents joy, gratitude, and unity. Traditionally, the Christmas celebration lasts 12 days with a lot of activities. Nevertheless, the official occasion only starts from Christmas Eve.

The modern-day Christmas is celebrated in many different ways. Themed-parties, decoration races are always hot topics during the season. Moreover, Christmas is one of the biggest discount occasions of the year because of the strong growth in demand for shopping.

Dịch: Những hoạt động trong ngày giáng sinh

Giáng sinh là một ngày lễ thường năm cực kỳ quan trọng của các Ki-tô hữu. Nó diễn ra vào ngày 25 tháng 12 để kỷ niệm sinh nhật của Chúa Giê-su Ki-tô. Từ một ngày lễ tôn giáo thuần túy, Giáng sinh đã trở thành một lễ hội văn hóa toàn cầu.

Khi Giáng sinh được lan truyền đến các quốc gia khác nhau, phong tục của nó đã được sửa đổi để tạo ra một bản sắc riêng biệt. Tuy nhiên, chúng vẫn có chung một vài truyền thống phổ biến như dọn dẹp, trang trí nhà cửa và nhà thờ bằng hoa và cây thông Noel. Bữa tối vào ngày Giáng sinh cũng rất quan trọng. Nó đại diện cho niềm vui, lòng biết ơn và sự thống nhất. Theo truyền thống, lễ Giáng sinh kéo dài 12 ngày với rất nhiều hoạt động. Tuy nhiên, dịp chính thức chỉ bắt đầu từ đêm Giáng sinh.

7. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 7

There are several holidays held in a year. It is Christmas holiday that is interesting. Christmas occurs on 24 and 25th December but it starts from the beginning of the month. During Christmas, people are more friendly and gentle with each other because they believe to have a happier life without sorrow. I enjoy decorating Christmas tree and walk around the streets looking at the buildings and the trees around the city such as in squares and parks, shops and offices. Especially, there is always a big tree at city’s center, in which people gather and pray together in Christmas night. All the city is decorated with color and lights; therefore, it is a chance for citizens go out, take many beautiful photos and transfer to each other. We take part in several interesting activities like creating snowman, playing in snow, making homemade candy or cake, cleaning house. The snow is a symbol of Christmas. To me, it is a symbol of renewal and cleanliness of the upcoming event. Besides, the children enjoy receiving psents, which are put at the tree by Santa Clause. They believe he brings obedient kid joy, good health and hope for a new year. Actually, the gifts are ppared by parents or relatives in order to encourage them study and well behave with other. The tradition of giving psents originates from the old days and it becomes one of features of Christmas holiday. Christmas reinforces the belief of one’s soul and heals all sadness and dissatisfaction. In my opinion, it is essential to continue this holiday because of its beneficial role in culture of one country.

Dịch:

Có rất nhiều ngày lễ được tổ chức trong một năm nhưng lễ Giáng sinh vẫn luôn thú vị. Giáng sinh được tổ chức vào ngày 24 và 25 tháng 12 nhưng nó thường bắt đầu vào đầu tháng. Trong lễ giáng sinh, mọi người trở nên gần gũi và tốt bụng với nhau hơn vì họ tin rằng sẽ sống một cuộc sống hạnh phúc mà không buồn phiền. Tôi thích việc trang trí cây thông Nô-en và dạo quanh các khu phố, ngắm nhìn những toà nhà và cây trong thành phố như: khu thương mại, công viên, cửa hàng và văn phòng. Đặc biệt, luôn luôn có một cây thông to đặt giữa thành phố, ở đó người ta tụ họp và cầu nguyện cùng nhau trong đêm giáng sinh. Cả thành phố đều được trang hoàng bằng màu sắc và ánh sáng cho nên đây là cơ hội tốt cho người dân ra ngoài, chụp những bức ảnh đẹp và trao đổi với nhau. Chúng tôi tham gia vào nhiều hoạt động như tạo hình người tuyết, chơi trong tuyết, làm kẹo tại nhà, dọn nhà. Tuyết là biểu tượng của giáng sinh. Đối với tôi, tuyết tượng trưng cho sự tươi mới và sạch sẽ của những điều sắp tới trong tương lai. Ngoài ra, trẻ con còn rất hứng thú với việc được nhận quà để dưới cây nô-en bởi ông già nô-en. Chúng tin rằng ông ấy mang đến cho những đứa trẻ ngoan niềm vui, sức khoẻ tốt và hy vọng cho một năm mới. Thực ra, những món quà được ba mẹ hoặc họ hang chuẩn bị để động viên trẻ con học tập và cư xử tốt với mọi người. Truyền thống tặng quà này bắt nguồn từ rất lâu và trở thành một trong những nét đặc trưng của lễ giáng sinh. Giáng sinh củng cố niềm tin cho tâm hồn mỗi người và chữa lành những nỗi buồn và thất vọng. Theo tôi, tiếp tục giữ gìn ngày lễ này rất quan trọng bởi vì vai trò to lớn của nó trong văn hoá của mỗi quốc gia.

8. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 8

From very old days, Christmas is well known all around the world for its special features. It is usually held in the last month of year, when people ppare for new year. I love Christmas for many reasons. First, it maintains cozy atmosphere and mutual care and share between people. During the holiday, people gather together to decorate house, ppare delicious meal and spend time doing good things. People share thought, feeling and opinion to each other. They also behave well with others to show their kindness, love and care for both relative and friends. Christmas tree plays an important role as everyone ppares and decorates it with colorful electric lights, gift and little detail. During Christmas, a lot of delicious dishes are made such as: fried chicken, bbq, sweet cake and candy and so on. People enjoy making meal and clean their house and street in the town so as to hope for good thing and best wish for everyone. Although Christmas weather is cold, one feels cozy and not lonely when being with their beloved. Christmas is said to be one of the biggest holiday of a year especially in European countries. They celebrate Christmas as a special party for everyone to join and have wonderful time together. In my opinion, Christmas is not only a usual holiday but also tradition and culture, which reflect human’s lifestyle.

Dịch:

Đã từ rất lâu. Giáng sinh được biêt đến trên toàn thế giới bửi những đặc trưng thú vị của nó. Nó thường được tổ chức vào tháng cuối cùng của năm, khi mà mọi người chuẩn bị đón chào một năm mới. Tôi thích giáng sinh bởi rất nhiều lý do. Đầu tiên, nó đem lại không khí ấm cúng và sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau giữa mọi người. Trong suốt kì lễ, mọi người tụ tập lại để trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị những món ăn ngon và dành thời gian làm nững việc có ích. Mọi người chia sẻ tâm tư, cảm xúc và ý kiến với nhau. Họ cũng cư xử rất tốt với nhau để bày tỏ sự tốt bụng, tình yêu thương và quan tâm tới họ hàng và bạn bè. . Lễ giáng sinh đóng vai trò quan trọng bởi vì mọi người chuẩn bị và trang trí mọi thứ với đèn điện nhiều màu, quà và nhiều dồ dung khác. Trong giáng sinh, rất nhiều món ăn ngon được chế biến như gà chiên, đồ nướng, bánh ngọt, kẹo và nhiều thứ khác nữa. Mọi người yêu thích việc nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa và đường phố để cầu ước cho những điều tốt đẹp đến với mọi người. Mặc dù thời tiết giáng sinh khá lạnh, mọi người vẫn cảm thấy ấm cúng và không cô đơn khi ở bên những người thân yêu. Giáng sinh được biết đến như một trong những ngày lễ lớn nhất của năm đặc biệt là những nước phương Tây. Họ tổ chức giánh sinh như một bữa tiệc đặc biệt cho mọi người sum họp và có những khoảng thời gian tuyệt vời. Theo tôi, giáng sinh không chỉ là một ngày lễ bình thường mà còn là truyền thống và văn hoá, phản ánh đời sống con người.

9. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 9

Holidays hold an important part in everyone’s life and one of the most popular holidays around the world is Christmas day. According to ancient peoples, Xmas day is celebrated primarily on December 25th to commemorate the day Jesus was born. In some weeks before Xmas, people often decorate their house with lights, Christmas trees and much more, ppare the meals for this special day. Besides, children will hang their Christmas socks with the hope of receiving some lovely gifts from the Santa Claus. Christmas day is the day that family members gather together around the fireplace, enjoy the meal, talk and play games in the warm atmosphere. Then people come to the church and pray to the God, confess about their all sins and sufferings, their hope for healthiness and happiness. Many schools and works are usually closed on Christmas Eve so families can stay together at that special night. The most well-known symbol is Santa Claus- the imaginary old man with long, white hair and beard with a red coat who children believe to bring them psents at Christmas. To sum up, Christmas is one of the most meaningful holidays of the year for people to stay together and take a rest after a hard working year.

Dịch:

Các ngày lễ đóng một vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của mọi người và một trong những ngày lễ lớn nhất trên thế giới là ngày Giáng sinh. Theo người cổ đại, Giáng sinh được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 để kỷ niệm ngày Chúa Giêsu được sinh ra. Trong một vài tuần trước lễ Giáng Sinh, người ta thường trang trí nhà của họ bằng đèn, cây Giáng sinh và nhiều hơn nữa, chuẩn bị bữa ăn cho ngày đặc biệt này. Hơn nữa, trẻ em sẽ treo vớ Giáng sinh của họ với hy vọng nhận được một số món quà đáng yêu từ Santa Claus. Ngày Giáng sinh là ngày mà những người trong gia đình tụ họp bên cạnh lò sưởi, ăn bữa ăn, nói chuyện và chơi trò chơi trong bầu không khí ấm áp. Sau đó mọi người đến nhà thờ và cầu nguyện với Thượng Đế, thú nhận về tất cả tội lỗi và đau khổ của họ, hy vọng của họ về sức khỏe và hạnh phúc. Nhiều trường học và công trình thường đóng cửa vào đêm Giáng sinh để gia đình có thể ở cùng nhau vào đêm đặc biệt này. Biểu tượng nổi tiếng nhất là Santa Claus – ông già được tạo nên từ trí tưởng tượng với mái tóc dài màu trắng và một bộ râu và một chiếc áo khoác màu đỏ được trẻ em tin tưởng mang đến cho chúng những món quà vào dịp Giáng sinh. Có thể nói, Giáng sinh là một trong các ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm khi mọi người có dịp quây quần bên nhau và nghỉ ngơi sau một năm làm việc chăm chỉ.

10. Viết đoạn văn về giáng sinh bằng tiếng Anh số 10

Every country has its own national holiday which brings such joyful moments and pleasure for everyone. While Tet is considered as an important festival in Vietnam, Christmas is the most meaningful day in USA. For the time being, Christmas is almost a common holiday not only for worldwide Christian followers but also global citizens. Xmas is annually held in 25th December to commemorate the day Jesus was born. On this special occasion, from Christian families, parishes, churches to cathedrals are decorated with man- made stone cave. This tradition reconstitute the historic event of Christmas and Bethlehem cave- a place where Jesus was given to birth. A few days before great day, American houses are decorated with colorful lights of neon and flashlight, a pine tree with sparkling crystals, candle and gold lame’ located near the radiator and on the floor lies many different gift boxes. Under the cover of darkness on 25th December night, people often go to the church to pray for best things or gather to share happiness together. In conclusion, Christmas day has become one of the most popular festivals in our country, brings a new color to the picture of a civilized religious culture in Viet Nam.

Dịch:

Mỗi đất nước đều có một kì nghỉ riêng, cái mà mang đến những giây phút đáng nhớ và niềm vui cho mọi người. Nếu như Tết được coi là một ngày lễ quan trọng ở việt nam thì giáng sinh là kỳ nghỉ ý nghĩa ở Mỹ. Hiện nay, lễ giáng sinh được coi là ngày lễ chung không chỉ dành riêng cho người công giáo trên toàn thế giới mà còn tất cả mọi công dân toàn cầu. Lễ giáng sinh được tổ chức hằng năm vào ngày 25 tháng 12 hàng năm để kỷ niệm ngày Chúa Jesus ra đời. Trong kì nghỉ đặc biệt này, từ những gia đình công giáo, giáo xứ, nhà thờ đến nơi thánh đường đều được trang trí với những hang đá nhân tạo. Truyền thống này tái hiện lại một sự kiện lịch sử về lễ giáng sinh và hang đá Bê lem- nơi mà Chúa Jesus ra đời. Một vài ngày trước ngày lễ trọng đại, những ngôi nhà ở Mỹ thường được trang trí với những ánh đèn sáng rực rỡ của đèn neon, đèn nháy, cây thông với ánh sáng lấp lánh của tinh thể pha lê, nến và dây kim tuyến lấp lánh được đặt ở gần lò sưởi và trên sàn là những hộp quà của ông già noel. Trong sự bao phủ của màn đêm ngày lễ giáng sinh, mọi người thường đi đến nhà thờ để cầu nguyện cho mọi điều tốt đẹp hoặc tụ tập để chia sẻ niềm vui với nhau. Kết lại, lễ giáng sinh ngày đang trở thành một trong những ngày lễ quan trọng ở nước ta, mang đến màu sắc mới cho bức tranh tôn giáo văn hoá văn minh ở việt nam.

【#3】Viết Đoạn Văn Về Giáng Sinh, Noel Bằng Tiếng Anh Có Dịch Tiếng Việt

Đề bài: Write a paragraph( a passage ) about Christmas

Bài luận 1: Viết đoạn văn ngắn về noel, giáng sinh bằng tiếng Anh có dịch tiếng Việt

Holidays hold an important part in everyone’s life and one of the most popular holidays around the world is Christmas day. According to ancient peoples, Xmas day is celebrated primarily on December 25th to commemorate the day Jesus was born. In some weeks before Xmas, people often decorate their house with lights, Christmas trees and much more, ppare the meals for this special day. Besides, children will hang their Christmas socks with the hope of receiving some lovely gifts from the Santa Claus. Christmas day is the day that family members gather together around the fireplace, enjoy the meal, talk and play games in the warm atmosphere. Then people come to the church and pray to the God, confess about their all sins and sufferings, their hope for healthiness and happiness. Many schools and works are usually closed on Christmas Eve so families can stay together at that special night. The most well-known symbol is Santa Claus- the imaginary old man with long, white hair and beard with a red coat who children believe to bring them psents at Christmas. To sum up, Christmas is one of the most meaningful holidays of the year for people to stay together and take a rest after a hard working year.

Dịch:

Các ngày lễ đóng một vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của mọi người và một trong những ngày lễ lớn nhất trên thế giới là ngày Giáng sinh. Theo người cổ đại, Giáng sinh được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 để kỷ niệm ngày Chúa Giêsu được sinh ra. Trong một vài tuần trước lễ Giáng Sinh, người ta thường trang trí nhà của họ bằng đèn, cây Giáng sinh và nhiều hơn nữa, chuẩn bị bữa ăn cho ngày đặc biệt này. Hơn nữa, trẻ em sẽ treo vớ Giáng sinh của họ với hy vọng nhận được một số món quà đáng yêu từ Santa Claus. Ngày Giáng sinh là ngày mà những người trong gia đình tụ họp bên cạnh lò sưởi, ăn bữa ăn, nói chuyện và chơi trò chơi trong bầu không khí ấm áp. Sau đó mọi người đến nhà thờ và cầu nguyện với Thượng Đế, thú nhận về tất cả tội lỗi và đau khổ của họ, hy vọng của họ về sức khỏe và hạnh phúc. Nhiều trường học và công trình thường đóng cửa vào đêm Giáng sinh để gia đình có thể ở cùng nhau vào đêm đặc biệt này. Biểu tượng nổi tiếng nhất là Santa Claus – ông già được tạo nên từ trí tưởng tượng với mái tóc dài màu trắng và một bộ râu và một chiếc áo khoác màu đỏ được trẻ em tin tưởng mang đến cho chúng những món quà vào dịp Giáng sinh. Có thể nói, Giáng sinh là một trong các ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm khi mọi người có dịp quây quần bên nhau và nghỉ ngơi sau một năm làm việc chăm chỉ.

Every country has its own national holiday which brings such joyful moments and pleasure for everyone. While Tet is considered as an important festival in Vietnam, Christmas is the most meaningful day in USA. For the time being, Christmas is almost a common holiday not only for worldwide Christian followers but also global citizens. Xmas is annually held in 25th December to commemorate the day Jesus was born. On this special occasion, from Christian families, parishes, churches to cathedrals are decorated with man- made stone cave. This tradition reconstitute the historic event of Christmas and Bethlehem cave- a place where Jesus was given to birth. A few days before great day, American houses are decorated with colorful lights of neon and flashlight, a pine tree with sparkling crystals, candle and gold lame’ located near the radiator and on the floor lies many different gift boxes. Under the cover of darkness on 25th December night, people often go to the church to pray for best things or gather to share happiness together. In conclusion, Christmas day has become one of the most popular festivals in our country, brings a new color to the picture of a civilized religious culture in Viet Nam.

Dịch:

Mỗi đất nước đều có một kì nghỉ riêng, cái mà mang đến những giây phút đáng nhớ và niềm vui cho mọi người. Nếu như Tết được coi là một ngày lễ quan trọng ở việt nam thì giáng sinh là kỳ nghỉ ý nghĩa ở Mỹ. Hiện nay, lễ giáng sinh được coi là ngày lễ chung không chỉ dành riêng cho người công giáo trên toàn thế giới mà còn tất cả mọi công dân toàn cầu. Lễ giáng sinh được tổ chức hằng năm vào ngày 25 tháng 12 hàng năm để kỷ niệm ngày Chúa Jesus ra đời. Trong kì nghỉ đặc biệt này, từ những gia đình công giáo, giáo xứ, nhà thờ đến nơi thánh đường đều được trang trí với những hang đá nhân tạo. Truyền thống này tái hiện lại một sự kiện lịch sử về lễ giáng sinh và hang đá Bê lem- nơi mà Chúa Jesus ra đời. Một vài ngày trước ngày lễ trọng đại, những ngôi nhà ở Mỹ thường được trang trí với những ánh đèn sáng rực rỡ của đèn neon, đèn nháy, cây thông với ánh sáng lấp lánh của tinh thể pha lê, nến và dây kim tuyến lấp lánh được đặt ở gần lò sưởi và trên sàn là những hộp quà của ông già noel. Trong sự bao phủ của màn đêm ngày lễ giáng sinh, mọi người thường đi đến nhà thờ để cầu nguyện cho mọi điều tốt đẹp hoặc tụ tập để chia sẻ niềm vui với nhau. Kết lại, lễ giáng sinh ngày đang trở thành một trong những ngày lễ quan trọng ở nước ta, mang đến màu sắc mới cho bức tranh tôn giáo văn hoá văn minh ở việt nam.

Along with global cultural persities, there are more and more festivals held annually over the world and most people expss concern and look forward to the coming of a special occasion, Christmas. Xmas occurs on December 25th to commemorate the day Jesus was given to birth. During these days, there are different activities pparing for the big day. Most houses are decorated with colorful lights; shops, stores, groceries, restaurants are always crowded to satify the need of customers. Everyone is busy with dressing gorgeously, choosing meaningful gifts, pparing for a delicious meal to enjoy a Xmas night with their beloved ones. For Christian followers, this day is so important that they often go to the church at night to pray. To sum up, Christmas day has brought great pleasure and happiness for all citizens in the world, making our boring life more exciting and meaningful.

Dịch:

Cùng với sự đa dạng văn hoá toàn cầu thì ngày càng có nhiều lễ hội được tổ chức hằng năm trên thế giới và mọi người đều dành sự quan tâm và mong chờ cho một ngày lễ đặc biệt, đó chính là lễ Giáng sinh. Lễ giáng sinh được tổ chức vào ngày 25 tháng 12 hằng năm để tưởng nhớ ngày Chúa Giêsu ra đời. Trong những ngày này, có rất nhiều các hoạt động khác nhau chuẩn bị cho ngày lễ trọng đại này. Hầu hết mọi nhà được trang trí với những ánh đèn rực rỡ sắc màu; những cửa hàng, tiệm tạp hoá, shops luôn đông đúc người nhằm phục vụ nhu cầu của khách hàng. Mọi người đều bận với việc ăn mặc sao cho lộng lẫy, chọn những món quà giáng sinh ý nghĩa nhất, chuẩn bị bữa ăn tuyệt vời nhất để tận hưởng một đêm giáng sinh tuyệt vời với người mà chúng ta yêu thương. Với những tín đồ Công giáo, đây là một dịp lễ quan trọng vì vậy mà mọi người thường đến nhà thờ vào ban đêm để cầu nguyện. Có thể nói, ngày lễ giáng sinh đã mang đến niềm vui và niềm hạnh phúc cho mọi công dân trên toàn thế giới, khiến cho cuộc sống tẻ nhạt này của chúng ta trở nên vui vẻ và ý nghĩa hơn.

【#4】Luận Văn: Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam, Hay

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành luật: Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, cho các bạn tham khảo làm đề tài nghiên cứu

  1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGÔ THỊ HƢƠNG THƠM XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số : 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: chúng tôi TRỊNH ĐỨC THẢO HÀ NỘI – 2014
  2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Ngô Thị Hƣơng Thơm
  3. 4. 2.4. Thực trạng xây dựng mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân 63 2.4.1. Những thành tựu đạt được 63 2.4.2. Một số hạn chế cần khắc phục 65 2.5. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 66 Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY 70 3.1. Quan điểm 70 3.2. Những giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay 71 3.2.1. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội 71 3.2.2. Đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước 82 3.2.3. Đẩy mạnh cải cách tư pháp 86 3.2.4. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật 93 3.2.5. Thực hiện dân chủ hóa các lĩnh vực của đời sống xã hội 99 3.2.6. Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước 103 3.2.7. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 108 3.2.8. Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước 111 KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
  4. 5. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT HĐND : Hội đồng nhân dân QPPL : Quy phạm pháp luật UBND : Ủy ban nhân dân VBQPPL : Văn bản quy phạm pháp luật XHCN : Xã hội chủ nghĩa
  5. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Học thuyết nhà nước pháp quyền từ lý luận vận dụng vào thực tiễn như thế nào đến nay vẫn còn là một vấn đề cần bàn luận. Việc vận dụng lý luận xây dựng nhà nước pháp quyền trên các quốc gia trên thế giới không theo một khuôn mẫu xác định, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chế độ chính trị, truyền thống lịch sử và bản sắc văn hoá mà mỗi quốc gia xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền riêng. Hơn hai thế kỷ qua, các quốc gia phát triển đã và đang hoàn thiện việc xây dựng nhà nước pháp quyền, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, giảm thiểu biên chế trong bộ máy nhà nước, tiết kiệm ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, thực hiện nguyên tắc sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cũng như giao lưu văn hoá, chuyển giao khoa học – công nghệ, dân chủ hóa toàn diện đời sống xã hội hiện nay, đòi hỏi các quốc gia phải có những quy định pháp lý chung, những chế tài pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ quốc tế. Để hội nhập quốc tế Việt Nam phải cấp thiết xây dựng bộ máy hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh, hoạt động linh hoạt có tính hiệu quả cao theo hướng lấy pháp luật làm phương tiện quản lý nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xã hội. Xây dựng nhà nước pháp quyền không chỉ là một cuộc cách mạng, nó là một cuộc đại cách mạng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Cuộc đại cách mạng ấy lại được tiến hành trong bối cảnh đất nước đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, còn muôn vàn khó khăn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Vì vậy, đây là quá trình lâu dài, khó khăn, phức tạp phải có sự chuẩn bị chu đáo cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Điều đó đòi hỏi các nhà nghiên cứu lý luận phải khảo sát đời sống thực tế, phân tích phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội. Qua phân tích những phương diện đó, phải vạch ra lộ trình, tìm bước đi thích hợp, xây dựng
  6. 7. 2 những giải pháp, từng bước hoàn thiện lý luận, đẩy nhanh tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là một vấn đề có nội dung rất lớn, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện cả về lý luận và thực tiễn. Để góp phần vào quá trình nghiên cứu đó, tôi chọn đề tài Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam làm đề tài luận văn của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn – Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. – Để thực hiện mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau: + Hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận về nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền Việt Nam. + Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam từ năm 1986 đến nay. + Đề xuất quan điểm và giải pháp tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu – Dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn nghiên cứu lý luận, thực trạng về nhà nước pháp quyền, nhà nước pháp quyền Việt Nam. – Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, về vấn đề dân chủ và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. – Thời gian nghiên cứu từ năm 1986 đến nay (từ thời kỳ đổi mới). 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu – Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền và
  7. 9. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM 1.1. Khái quát chung về Nhà nƣớc pháp quyền 1.1.1. Quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền qua các thời kỳ 1.1.1.1. Quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời kỳ cổ đại ở Châu Âu Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị – pháp lý, gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ, loại trừ chuyên quyền, độc tài, vô chính phủ, vô pháp luật, đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng thời cổ đại như Xocrat, Đemocrit, Platon, Arixtot, Xixeron… trong đó nổi bật nhất là quan điểm của Đemocrit, Arixtot và Xixeron. Đemocrit (460 – 370 tr. CN): Được coi là người đầu tiên lý giải một cách khoa học về sự xuất hiện và sự hình thành con người, xã hội loài người. Ông cho rằng Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài của con người nhằm liên kết với nhau thành cộng đồng. Nhà nước là sự thể hiện quyền lực chung của công dân. Tự do của công dân nằm trong sự tuân thủ pháp luật. Arixtot (384 – 322 tr. CN): Ông được C.Mác đánh giá là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại cho rằng pháp luật cần thống trị trên tất cả. Theo ông thì yếu tố cấu thành cơ bản của phẩm chất chính trị trong pháp luật là sự phù hợp của tính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền; không thể có pháp luật nếu như việc cầm quyền không tuân theo pháp luật, chà đạp lên pháp luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực. Những quan điểm nêu trên được Arixtot trình bày trong tác phẩm “Đạo đức học” và “Thuật hùng biện”. Xixeron (106 – 43 tr. CN): Ông là nhà hoạt động nhà nước, nhà luật học và nhà hùng biện của thời kỳ La Mã cổ đại, tác giả của những tác phẩm nổi
  8. 10. 5 tiếng như “Về nhà nước”, “Về những đạo luật” và “Về các nghĩa vụ”… Ông đã có những tư tưởng tiến bộ như: nhà nước là công việc chung của nhân dân; phân biệt ba hình thức nhà nước: dân chủ, quý tộc và quân chủ; người điều hành công việc nhà nước phải sáng suốt, công minh, có khả năng hùng biện và hiểu biết những nguyên lý cơ bản của pháp luật… Đặc biệt, Xixeron đưa ra quan điểm nổi tiếng: tất cả mọi người đều ở dưới hiệu lực của pháp luật và nhân dân phải coi pháp luật như chốn nương thân của mình. Như vậy, theo các nhà triết học thời kỳ này, pháp luật không chỉ là công cụ cai trị của nhà nước mà còn là phương thức điều chỉnh quan trọng nhất đối với các quan hệ xã hội, bản thân nhà nước cũng phải phục tùng pháp luật. 1.1.1.2. Quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thời kỳ cách mạng tư sản Những quan điểm, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền nêu trên được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản đánh đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc tài ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII. Trong thời kỳ này tư tưởng về Nhà nước pháp quyền được phát triển khá phong phú, toàn diện, hình thành hệ thống quan điểm trong các học thuyết chính trị – pháp lý. Những người có công xây dựng tư tưởng ấy là các học giả tư sản tự do ở châu Âu như J.Locke, S.L.Montesquieu, I.Kant, Heghel…trong đó đáng chú ý là học thuyết của S.L.Montesquieu và J.J.Rút – xô Nhà tư tưởng vĩ đại nước Pháp S.L.Montesquieu (1698 – 1755) đã xây dựng thuyết phân quyền trong tổ chức nhà nước, ông là tác giả của cuốn sách nổi tiếng Bàn về tinh thần pháp luật (1748). Trong tác phẩm này từ việc phân tích chế độ chuyên quyền độc đoán, chuyên quyền, tùy tiện xâm hại tự do dân chủ, Montesquieu đề cao cơ quan đại biểu của nhân dân, lập luận về sự cần thiết phải phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ông cho rằng ba thứ quyền này phải được tổ chức
  9. 13. 8  Tư tưởng của V.I.Lênin Những tư tưởng về Nhà nước pháp quyền nêu trên của C.Mác và Ph.Ănghen được V.I.Lênin tiếp thu và phát triển trong quá trình xây dựng nhà nước Xô Viết. Ông chỉ rõ “Mục đích của chính quyền Xô viết là thu hút những người lao động tham gia vào quản lý nhà nước” và “việc thu hút được mọi người lao động tham gia vào quản lý là một trong những ưu thế quyết định của nền dân chủ XHCN” V.I.Lênin đã khái quát nhiều quan điểm về Nhà nước kiểu mới, đó là “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, “nhà nước nửa nhà nước”, “nhà nước quá độ” để rồi chuyển dần tới một chế độ tự quản của nhân dân. Muốn vậy, trước mắt phải thực hiện chế độ dân chủ mà nội dung cơ bản là quyền bầu cử, quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền bãi miễn, quyền thẩm tra giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và cán bộ công chức nhà nước của nhân dân. Về pháp luật, V.I.Lênin khẳng định vai trò của pháp luật và pháp chế trong quản lý xã hội mới, bảo đảm sự tuân thủ pháp luật nghiêm chỉnh, thống nhất trên phạm vi toàn quốc, coi đó là một trong những điều kiện cơ bản để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.  Tư tưởng Hồ Chí Minh Quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền thể hiện trình độ kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin với việc kế thừa, tiếp thu có chọn lọc kho tàng tri thức, kinh nghiệm của nhân loại, vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam. Có thể khái quát trên những nội dung cơ bản sau đây: – Giai cấp vô sản phải lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân. – Nhà nước XHCN là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, bảo đảm nền dân chủ thực sự. – Phải xây dựng Hiến pháp dân chủ để bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.
  10. 14. 9 – Nhà nước XHCN là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, thực hiện quản lý xã hội theo pháp luật và kết hợp chặt chẽ với giáo dục đạo đức. – Pháp luật trong nhà nước XNCN là pháp luật dân chủ, thể hiện được ý chí và lợi ích của nhân dân. – Nhà nước XHCN là nhà nước có trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước nhân dân, công dân phải làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. – Nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân là nhà nước trong sạch; ngăn chặn, loại trừ được quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước. Cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước là những “công bộc của dân”. – Nhà nước XHCN phải có biện pháp kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước . Tiếp sau đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VII (1991), khái niệm nhà nước pháp quyền một lần nữa được nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đề cập đến. Vậy nhà nước pháp quyền là gì? Theo cách hiểu của các nhà lý luận Việt Nam, nhà nước pháp quyền có những đặc trưng cơ bản nào? Trong cuốn “Từ điển xã hội học” do Nguyễn Khắc Viện chủ biên viết: “Nhà nước pháp quyền xây dựng trên cơ sở dân chủ, đối lập với nhà nước độc tài, chuyên chế toàn trị….Nhà nước pháp quyền không đồng nghĩa với nhà nước cai trị bằng pháp luật….Nhà nước pháp quyền xây dựng trên cơ sở “xã hội công dân”… pháp luật là thước đo của tự do” . GS.TSKH. Đào Trí Úc viết trong cuốn Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nhà nước pháp quyền là một khái niệm có thể được hiểu ở hai mức độ, với tính cách là học thuyết, là tư tưởng và với tính cách là thực tiễn tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, thực thi dân chủ…. Chủ điểm của các tư tưởng, quan niệm, quan điểm về nhà nước pháp quyền đều là vấn đề giá trị của pháp luật được thừa nhận đến đâu trong xã hội” . Những nhận định trên tuy có những điểm khác biệt, song đều thống nhất ở điểm cho rằng, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước (với ý nghĩa như cách phân loại của lý luận xã hội chủ nghĩa về 4 kiểu nhà nước trong lịch sử) mà nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước, một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ mà bất kì nhà nước nào, thể chế chính trị nào muốn đạt đến trình độ văn minh đều phải hướng tới. Giá trị lịch sử của nhà nước pháp quyền là ở tính nhân văn, tôn trọng tự do và những quyền cơ bản của con người. Bản chất của nhà nước pháp quyền được quy định bởi hệ thống pháp luật và Hiến pháp. Từ những quan điểm trên có thể hiểu Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp; nhà nước đề cao vai trò của Hiến pháp và pháp luật; tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 1.2.2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam Nhà nước pháp quyền với tính cách là học thuyết về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, là một giá trị, là tinh hoa của nhân loại có nguồn gốc xa xưa, từ thời cổ đại có thể được áp dụng ở các nước trên cơ sở những nét đặc trưng về văn hóa, chính trị, tư tưởng – pháp lý, truyền thống dân tộc. Chính vì vậy việc áp dụng học thuyết nhà nước pháp quyền vào nước ta hiện
  11. 22. 17 nay với những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội là điều hoàn toàn có thể được. Điều quan trọng là chúng ta phải tìm ra được những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam với bản sắc dân tộc, truyền thống, văn hóa và những điều kiện riêng của Việt Nam. Từ thực tiễn xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân ngày càng được định hình, có thể nêu lên một số đặc trưng cơ bản sau đây: 1.2.2.1. Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Hơn nửa thế kỷ nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành năm bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X), Hiến pháp năm 2013. Cả năm bản Hiến pháp trên đều khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước, mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước đều hướng tới mục đích phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, vấn đề nhà nước của dân, do dân, vì dân, như đã nói từ trước đến nay vẫn còn nhiều điều đáng bàn. Vì trong thực tế, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức nhà nước đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để xâm phạm quyền công dân, tham ô, lãng phí. Vì nhiều lý do khác nhau, nhân dân vẫn chưa được hưởng nhiều quyền lợi một cách trọn vẹn, chính sách xã hội mà cụ thể là vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội còn bất cập, gây bất bình trong dư luận xã hội. Mặc dầu ở các nước phương Tây, phản biện xã hội đã trở thành hiện thực, người dân có quyền biểu tình phản đối các chính sách của nhà nước nếu các chính sách đó không phù hợp với nguyện vọng của họ. Những cuộc biểu tình phản đối nhà nước như vậy được coi là hợp Hiến, được tổ chức chặt chẽ
  12. 24. 19 pháp. Sự hiện diện của Hiến pháp là điều kiện quan trọng nhất đảm bảo sự ổn định của xã hội và sự an toàn của người dân. Nhà nước pháp quyền trước hết phải là một nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, các đạo luật có vai trò tối thượng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, người có chức vụ và công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Không một ai đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật, đi ngược lại ý chí và lợi ích của nhân dân. Khác với nhà nước cực quyền hay nhà nước pháp trị, việc quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước pháp quyền dựa trên cơ sở một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, có giá trị pháp lý cao, phản ánh nguyện vọng và ý chí của nhân dân, là chuẩn mực của dân chủ, tự do, công bằng và nhân đạo. Ở Việt Nam, xây dựng và hoàn thiện Hiến pháp luôn luôn là phương hướng quan trọng để thực hiện dân chủ, giữ vững quyền lực chính trị của nhân dân, tạo điều kiện để thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội. 1.2.2.3. Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền công dân, quyền con người, tất cả vì hạnh phúc của con người Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước. Mọi hoạt động của nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các qui định của luật pháp. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, do vậy, tư tưởng “trọng dân” phải được quán triệt trong toàn bộ tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Tư tưởng “trọng dân” hoàn toàn không mâu thuẫn với đặc trưng “trọng pháp”, “thượng tôn pháp luật” của nhà nước pháp quyền, trái lại đây chính là nguyên lý dân chủ – pháp quyền tiến bộ đã được các nhà tư tưởng pháp quyền như Rút xô, Môngtekiơ…xác định.
  13. 25. 20 Có thể nói, quyền công dân là sự thể hiện cụ thể quyền con người. “Quyền công dân là quyền con người trong một xã hội cụ thể, trong một chế độ xã hội – chính trị nhất định với một nền pháp luật cụ thể do nhà nước đó thừa nhận, qui định” . Với những đặc trưng nêu trên, nhà nước pháp quyền của chế độ ta thể hiện những tư tưởng quan điểm tích cực, tiến bộ, phản ánh ước mơ và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai cấp. Trong điều kiện đổi mới hiện nay, chúng ta đặt vấn đề đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực chất là tiếp thu những quan điểm tích cực, tiến bộ và khoa học về nhà nước pháp quyền nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân – nông dân – trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
  14. 30. 25 Đó là, Nhà nước đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đó là, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước. Đó là, Nhà nước mà mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng, cán bộ, công chức đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. 1.2.3. Nội dung xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam có nhiều nội dung khác nhau nhưng trong phạm vi luận văn chỉ nghiên cứu một số nội dung sau: Một là, xây dựng và phát huy được các giá trị của nền dân chủ XHCN và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Chủ quyền nhân dân là tư tưởng xuyên suốt tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam, điều này thể hiện một cách cô đọng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân, dân là gốc, dân là chủ, dân là lực lượng vĩ đại và nhân dân là nền tảng của Nhà nước. Cũng từ đây mà Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân vừa là bản chất, vừa là nguyên tắc, đồng thời là nội dung quan trọng cần hướng tới trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là một nhà nước đại diện cho quyền lực chân chính của nhân dân; một tổ chức nhà nước dựa trên nền dân chủ, vì dân chủ và do đó bằng pháp luật và vì công lý. Hai là, xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước. Việc xây dựng cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước là nội dung rất quan
  15. 31. 26 trọng. Theo đó, bản Hiến pháp mới đã quy định rõ vai trò chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương. Đồng thời, Hiến pháp cũng quy định cơ chế vận hành: Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Xây dựng, hoàn thiện bộ máy Nhà nước gắn liền với xây dựng đội ngũ công chức có trình độ, năng lực đạo đức, trách nhiệm và thượng tôn pháp luật. Hiến pháp là cơ sở để đổi mới hoạt động của Quốc hội, đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, bảo đảm cho quản lý của Nhà nước có hiệu quả và hiệu lực. Ba là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bắt đầu từ Hiến pháp và khẳng định tính tối thượng của pháp luật. Pháp luật là công cụ quản lý chủ yếu của nhà nước. Hiến pháp vừa được thông qua là căn cứ để xây dựng hệ thống pháp luật, ban hành luật mới và sửa đổi các luật đã có cho phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện thông suốt và nghiêm minh. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phải gắn liền với tăng cường giáo dục pháp luật và chú trọng văn hóa pháp luật. Bốn là, xây dựng và hoàn thiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Nhà nước coi quyền của công dân là nghĩa vụ của mình và công dân cũng xem quyền của nhà nước là nghĩa vụ của mình. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải tuân thủ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, nếu vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật. 1.3. Mô hình nhà nƣớc pháp quyền của một số nƣớc trên thế giới và giá trị tham khảo cho Việt Nam 1.3.1. Mô hình nhà nước pháp quyền của một số nước trên thế giới Từ những tư tưởng, quan điểm về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tùy thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước và đặc điểm, truyền thống về lịch sử, văn hóa của mỗi nước mà sự vận dụng có khác nhau.
  16. 32. 27 Trong lịch sử nhà nước hiện đại đến nay có bốn mô hình khác nhau về tổ chức quyền lực nhà nước như sau: 1.3.1.1. Mô hình chính thể Cộng hòa Tổng thống Điển hình của mô hình Cộng hòa Tổng thống là Hoa kỳ. Mô hình cộng hòa Tổng thống có những đặc điểm sau đây: – Áp dụng triệt để quan điểm về phân chia quyền lực nhà nước trong học thuyết tam quyền phân lập của S.L.Montesquieu. Các cơ quan thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân định rạch ròi đồng thời có cơ chế kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. – Tổng thống do nhân dân bầu ra vừa là người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ, có quyền thành lập Chính phủ, có quyền bổ nhiệm các thành viên chính phủ, các thẩm phán tòa án Liên bang. – Quốc hội gồm Thượng nghị viện và Hạ nghị viện đều do nhân dân bầu ra thực hiện quyền lập pháp. – Pháp viên tối cao và Tòa án các cấp thực hiện quyền tư pháp, hoàn toàn độc lập trong các phán quyết của mình. Để bảo đảm tính độc lập của Tòa án, các thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời và không bị cách chức nếu không tham nhũng và vi phạm pháp luật; tiền lương của thẩm phán được bảo đảm bằng ngân khố quốc gia và không bị giảm trong quá trình tại chức. – Có các thiết chế kìm chế và đối trọng lẫn nhau giữa lập pháp, tư pháp như: Tổng thống có quyền phủ quyết các dự luật do hai viện của Quốc hội đã thông qua; Hạ nghị viện có quyền buộc tội, Thượng nghị viện có quyền xét xử Tổng thống theo thủ tục đàn hạch nếu lạm dụng quyền lực và vi phạm pháp luật, đạo đức; Quốc hội có quyền không phê chuẩn ngân sách cho chính sách mà Tổng thống đệ trình; Tổng thống có quyền bổ nhiệm các quan chức cao cấp trong Chính phủ, Thẩm phán Tòa án liên bang nhưng phải được sự đồng thuận của Thượng nghị viện.
  17. 35. 30 tính nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền mang tính tham khảo cho Việt Nam như sau: – Xây dựng Hiến pháp thể hiện chủ quyền của nhân dân, là nền tảng pháp lý cho tổ chức, hoạt động của nhà nước pháp quyền – Nguyên tắc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, có cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp và tranh chấp thẩm quyền trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp (mô hình Tòa án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp, Ủy ban Hiến pháp) – Nguyên tắc cam kết tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước bảo đảm sự ngự trị của pháp luật trong đời sống xã hội. – Nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để hạn chế việc lạm dụng quyền lực nhà nước. – Nguyên tắc tôn trọng, thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền con người, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. – Nguyên tắc quyền tư pháp độc lập với quyền lập pháp và hành pháp. Khi xét xử Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. – Nguyên tắc nhà nước chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. (Tổng thống có thể bị đàn hạch khi xét xử; Nghị viện có thể bị giải tán; Chính phủ, Thủ tướng, các quan chức cao cấp có thể bị bỏ phiếu bất tín nhiệm và bị bãi miễn, bắt buộc từ chức nếu tham nhũng, vi phạm pháp luật, đạo đức, hoặc không hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao. – Nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của Nhà nước.
  18. 36. 31 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY (TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY) 2.1. Thực trạng xây dựng pháp luật 2.1.1. Thành tựu đạt được Từ cuối năm 1986 đến nay, việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật là mối quan tâm lớn, thường xuyên và là một trong những chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, được ghi nhận trong hầu hết các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (Khoá VII), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (Khoá VIII), Nghị quyết Đại hội IX và Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ngày 2.1.2002. Trải qua hơn 25 năm Đổi mới, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Bước chuyển biến cơ bản nhất, rõ nét nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở chỗ, trước đây, Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội chủ yếu bằng chính sách, nghị quyết và mệnh lệnh hành chính, sau hơn 25 năm Đổi mới, pháp luật đã trở thành công cụ quản lý chủ yếu của Nhà nước. Nguyên tắc pháp quyền ngày càng được khẳng định và phát huy hiệu quả trên thực tế. Hoạt động của các cơ quan nhà nước ngày càng trở nên công khai hơn, dân chủ XHCN ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia và thực hiện quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp, trong đó có quyền khởi kiện cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước trước Toà án. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” do Đại hội VI đề ra, từng bước đã được khẳng định trong thực tế. Kể từ khi tiến hành chính sách Đổi mới, thành tựu nổi bật nhất được thể hiện trong hoạt động lập pháp của Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
  19. 37. 32 Nếu so với khoảng thời gian 40 năm trước đó (1945-1985), thì từ khi đổi mới đến cuối năm 2004 số văn bản luật và pháp lệnh được ban hành nhiều gấp hơn 2 lần so với cả 40 năm trước cộng lại (chỉ tính đến tháng 6 năm 2001, đã ban hành 203 văn bản, trong đó có 5 bộ luật, 87 luật và 111 pháp lệnh), về cơ bản đã tạo dựng được khung pháp luật phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, từng bước thay thế cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mệnh lệnh hành chính bao cấp, hiện vật trước đây, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới toàn diện đất nước. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý để đưa công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dần dần đi vào nề nếp, theo một quy trình thống nhất, chặt chẽ. Bảo đảm tính công bằng, minh bạch, tính khả thi của các quy định, tính đồng bộ và thống nhất của các văn bản. Thời gian qua, chất lượng về nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật có những tiến bộ đáng kể. Có thể nói, các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta đang dần dần tiếp cận gần hơn với những tiêu chí của một văn bản quy phạm pháp luật tốt, văn bản “chứa đựng đúng đắn, khách quan các giá trị chính trị – kinh tế – xã hội ở trong nước, đồng thời chứa đựng các giá trị nhân loại được thừa nhận chung” [13, tr.5]. Việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức của toàn xã hội về vị trí, vai trò của pháp luật và việc thi hành pháp luật trong đời sống xã hội. Nhìn lại gần 10 năm thực hiện Nghị quyết, có thể nhận thấy công tác xây dựng và thực thi pháp luật ở nước ta đã thực sự có những chuyển biến tích cực. Nghị quyết không chỉ tác động tích cực đến những cơ quan, cán bộ trực tiếp tham gia vào công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật mà còn tác động đến văn hóa pháp luật, ý thức pháp luật của người dân, doanh nghiệp thông qua việc tạo cho họ nhiều cơ hội hơn trong việc tham gia góp ý, phản biện chính sách, các
  20. 38. 33 dự án pháp luật; tiếp cận hệ thống pháp luật thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau; cơ hội được lựa chọn các dịch vụ pháp lý tốt hơn so với trước. Nghị quyết với những định hướng đúng đắn và các giải pháp đồng bộ khi đi vào cuộc sống đã bước đầu tạo nên những chuyển biến khá cơ bản, tích cực cả về nội dung, hình thức của hệ thống các văn bản pháp luật và kỹ thuật lập pháp, làm cho hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vững, hội nhập quốc tế. Việc đổi mới cách xây dựng chương trình và quy trình xây dựng pháp luật đã mang lại những kết quả đáng trân trọng. Trong 5 năm (5/2005- 6/2010) chúng ta đã ban hành 124 luật, pháp lệnh, hoàn thành 73% kế hoạch ban hành luật, pháp lệnh hàng năm. Năm 2005, Quốc hội và UBTVQH đã thông qua 33 dự án luật, pháp lệnh trên tổng số 42 dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình chính thức (đạt 78,5%); năm 2006: thông qua 23 luật, pháp lệnh/37 (đạt 67,5%); năm 2007: thông qua 17 luật, pháp lệnh/24 (đạt 70,8%); năm 2008: thông qua 26 luật, pháp lệnh/32 (đạt 81,2%); năm 2009: thông qua 20 luật, pháp lệnh/30 (đạt 66,6%). Nếu so với tổng số 7 bộ luật, 133 luật, 151 pháp lệnh được ban hành trong 20 năm đổi mới trước đó (1986-2005) thì đây là một con số rất ấn tượng về số lượng và tốc độ làm luật. Về mặt nội dung, các văn bản quy phạm pháp luật đã đáp ứng được phần nào các tiêu chí, tố chất của một văn bản pháp luật trong nhà nước pháp quyền như: thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động (số đông người trong xã hội); phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội tồn tại một cách khách quan trong thời kỳ đó; phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; có nội dung hợp hiến, hợp pháp; có nội dung điều chỉnh rõ ràng, minh bạch. Điều đó thể hiện tư duy lập pháp mới, đảm bảo được sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa thể chế về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người, phù hợp hơn với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước.
  21. 39. 34 Đường lối, chính sách đổi mới của Đảng được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật. Trong thời gian qua, nội dung các dự án luật, pháp lệnh đã bám sát nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ, thể chế hóa được đường lối, chính sách đổi mới của Đảng trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, nội dung của luật, pháp lệnh chứa đựng những tư duy pháp lý mới, làm cho luật, pháp lệnh trở thành phương tiện đầy hiệu lực để đưa đường lối, chính sách của Đảng vào cuộc sống và làm cho đường lối, chính sách của Đảng trở thành hiện thực. Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh tế, những chủ trương lớn của Đảng về “phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, về “tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, cải thiện đời sống nhân dân”…được cụ thể hóa trong các quy định của luật, pháp lệnh. Có thể kể đến một số luật, pháp lệnh tiêu biểu sau: Luật đất đai, luật đầu tư, Luật doanh nghiệp…Việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong nội dung các dự án luật nói trên đã góp phần quan trọng tạo nên thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội của đất nước trong những năm qua. Các đạo luật, pháp lệnh ngày càng thể hiện sâu sắc ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động. Để thể hiện ý chí của nhân dân lao động vào nội dung dự án luật, pháp lệnh, cơ chế dân chủ trong xây dựng pháp luật như: lấy ý kiến của nhân dân, lấy ý kiến của các ngành, các cấp, của đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của văn bản, việc tiếp thu và chỉnh sửa dự án luật, pháp lệnh theo ý kiến của nhân dân và đại biểu Quốc hội đặc biệt là việc trưng cầu ý dân để xây dựng Hiến pháp 2013 vừa qua đã phản ánh ngày càng đầy đủ những mong muốn, yêu cầu của người dân, điều chỉnh các vấn đề dựa trên lợi ích của đông đảo nhân dân lao động. Về hình thức văn bản, chủ trương đơn giản hoá các hình thức văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành luật trong Nghị quyết số 48-NQ/TW
  22. 41. 36 cơ bản và thực hiện các quyền, trong đó có các quyền dân chủ của công dân được coi trọng. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật là nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa lâu dài và đã trở thành quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội. 2.1.2. Một số hạn chế Mặc dù đã có những cố gắng và đạt được những kết quả quan trọng trong xây dựng và thi hành pháp luật nhưng nhìn chung hệ thống pháp luật vẫn còn một số yếu kém và bất cập. Hệ thống pháp luật còn chưa theo kịp và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hệ thống các cơ quan thi hành và bảo vệ pháp luật đặc biệt là các cơ quan tư pháp chưa có những bước đột phá mạnh mẽ. Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều yếu kém và hạn chế về trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần và trách nhiệm; ý thức sống và làm việc theo pháp luật của cán bộ và nhân dân vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật còn có nhiều bất cập cần phải được khắc phục và hoàn thiện. Thứ nhất, chất lượng của hệ thống pháp luật còn hạn chế, thể hiện trên các tiêu chí đánh giá sau: + Về tính toàn diện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống pháp luật nước ta rất đa dạng về thể loại văn bản và khổng lồ về số lượng văn bản quy phạm pháp luật (có 26 loại văn bản được xác định là văn bản quy phạm pháp luật). Theo số liệu của Cơ sở dữ liệu pháp luật Bộ Tư pháp, tính từ ngày 1 tháng 1 năm 1987 đến 30 tháng 11 năm 2008, chỉ tính riêng văn bản pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành thì hệ thống pháp luật nước ta đã có tới 19126 văn bản, trong đó có 208 luật, bộ luật, 192 pháp lệnh, 2097 nghị định, 267 nghị quyết và 36 thông tư, 1213 thông tư liên tịch. Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã cần đến trên 40 văn bản pháp luật khác nhau để hướng dẫn thi hành. Luật đất đai năm 2003 muốn được thực
  23. 43. 38 pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành gồm có Hiến pháp, Luật, Nghị quyết; do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành có Pháp lệnh, Nghị quyết. Hình thức nghị quyết của Quốc hội và nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể là văn bản quy phạm pháp luật, song cũng có thể là các văn bản áp dụng pháp luật, không chứa quy phạm. Tuy nhiên, quy định nêu trên đã dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng, không bảo đảm nguyên tắc về thứ bậc pháp lý của hệ thống văn bản. Cụ thể như Hiến pháp luôn được coi là đạo luật gốc, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, song lại có thể bị sửa đổi, bổ sung một số điều bằng hình thức nghị quyết (là hình thức phổ biến được dùng để ra các văn bản áp dụng pháp luật). Do luật không phân biệt rõ trường hợp nào thì sử dụng loại văn bản nào nên trên thực tế có lúc việc quyết định sử dụng hình thức văn bản pháp luật, pháp lệnh hay nghị quyết mới dựa trên suy luận cảm tính về mức độ phức tạp của văn bản hoặc của vấn đề cần điều chỉnh, gây ra sự thiếu thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Những mâu thuẫn giữa Luật nhà ở, Luật đất đai, Bộ Luật dân sự về một số vấn đề như: hiệu lực các giao dịch, về căn cứ xác định sở hữu, đăng ký quyền sở hữu là ví dụ cho tính thống nhất thấp của pháp luật hiện hành ở nước ta. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, “qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành của cấp bộ và địa phương trong năm 2009, phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Năm 2011, kiểm tra 1.968 văn bản thì phát hiện 490 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (trong đó có 93 văn bản cấp bộ và 397 văn bản của địa phương). Như vậy, khoảng từ 20 – 25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm”. + Tính đồng bộ, cân đối của hệ thống pháp luật tuy có cải thiện nhưng vẫn còn sự chênh lệch lớn trong các lĩnh vực khác nhau. Mặc dù việc soạn thảo và thông qua các văn bản QPPL, nhất là các luật, pháp lệnh, theo 6 định hướng của Nghị quyết số 48-NQ/TW đã làm cho hệ thống pháp luật trong những năm qua trở nên cân đối, đồng bộ hơn, nhất là

【#5】Hành Trình Từ “chuyên Chính Vô Sản” Đến “làm Chủ Tập Thể” Và “nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam” :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

Trên đất nước ta, đó là một hành trình gian truân với cái giá phải trá khá đắt. Nhưng là những bước thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, và là sự trở lại với tư tưởng . Đó cũng là hành trình của nhận thức nhằm chứng minh thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, quy luật của cuộc sống mạnh hơn những giáo điều xơ cứng, tuy có sức trì kéo, kìm hãm nặng nề sự phát triển, nhưng không thể ngăn chặn được sự phát triển đó. Và rồi, cái gì cần đến, cũng đã đến.

Trên đất nước ta, đó là một hành trình gian truân với cái giá phải trả khá đắt. Nhưng là những bước thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, và là sự trở lại với tư tưởng . Đó cũng là hành trình của nhận thức nhằm chứng minh thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, quy luật của cuộc sống mạnh hơn những giáo điều xơ cứng, tuy có sức trì kéo, kìm hãm nặng nề sự phát triển, nhưng không thể ngăn chặn được sự phát triển đó. Và rồi, cái gì cẩn đến, cũng đã đến.

I. Về chuyên chính vô sản

Quả thật chuyên chính vô sản là khái niệm đã chi phối hoạt động của các Đảng Cộng sản trong một thời gian rất dài nhất là khi Đảng đã nắm chính quyền. Một khái niệm có ảnh hưởng tác động đến sinh mệnh của triệu triệu con người. Khái niệm ấy gắn liền với giai cấp và đấu tranh giải cấp, được xem là động lực của phát triển. Người ta từng cho rằng đây là một khái niệm then chốt trong tư duy lý luận của học thuyết C.Mác. Tuy vậy, đã đến lúc phạt thật sự tường minh trong cách nhận định và phân tích về khái niệm quan trọng vốn có một diễn biền khá phức tạp. Làm sáng tỏ điều này là một nhu cẩu trực tiếp của việc đẩy tới sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện và triệt để.

Vì đổi mới là nhằm vứt bỏ những công thức, những giáo điều của một thời cứ ngỡ như là “thiên kinh địa nghĩa” song đã bị cuộc sống bác bỏ hoặc vượt qua, những gì mà qua khảo nghiệm khách quan và nghiêm khắc của thực tiễn, lý luận ấy đã tỏ rõ sự bất cập, sai lầm hoặc thiếu hoàn chỉnh. Do vậy phái bổ sung sức sống mới, nhằm hình thành những luận điểm mới, phạm trù mới giúp hoàn chinh một lý luận phản ánh được thực tiễn đang vận động. Nhờ đó, làm cho lý luận gần kết được với thực tiễn, gắn với chân lý hơn, có tác động thúc đẩy sự phát triển. Quả thật là,”vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thé đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phái chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình”, điều mà C.Mác đã căn dặn. Hãy vận dụng quan điểm ấy vào việc xem xét luận điểm về “chuyên chính vô sản” của chính ông.

1. Lần đầu tiên C.Mác dùng từ “chuyên chính vô sản” là năm 1848. Thật ra thì “chuyên chính vô sản” xuất hiện vào quãng 1837, là cụm từ của , một nhà cách mạng nổi tiếng của Pháp. Chuyên chính vô sản với C.Mác là một chiến lược cách mạng. cụm từ này được nhắc lại nhiều lần hơn cả trong “Đấu tranh giai cấp ớ Pháp”, xuất bán năm l950. Bối cảnh ra đời của khái niệm này là giữa cuộc cách mạng Tháng 2/1848 đến tháng 6/1848 thì bị phản cách mạng bóp chết. Hoạt động cách mạng ở vào tình thế ẩn náu đợi chờ cao trào, mãi cho đến bốn năm sau mới kết luận được rằng tình thề cách mạng đã hết, chế độ tư bản đã bước qua giai đoạn khủng hoảng chu kỳ và lại bắt đầu giai đoạn phồn thịnh của nó. Từ đó, C.Mác và Ph.Ăngghen suốt 20 năm tiếp theo không dùng thuật ngữ chuyên chính vô sản nữa. Nếu xem xét thật kỹ thì, dưới ngòi bút của C.Mác kể cả trong bản nháp, bản thảo viết tay và trong các tài liệu nội bộ không nhằm công bố ra, trong các bức thư viết cho anh em, bè bạn hoặc thư góp ý cho đồng chí của mình hiện còn lưu giữ được, thi tần số xuất hiện của thuật ngữ “chuyên chính vô sản” không đến 10 lần.

, đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản và nền chuyên chính đó chỉ là sự quá độ tiến đến một xã hội không giai cấp. Chuyên chính vô sản là một chiến lược gồm hai bước. Bước một là chuyển từ chuyên chính của kẻ thù sang chuyên chính của đồng minh bao gồm giai cấp nông dân và giai cấp trung đẳng, thuật ngữ của C.Mác trong “Nội chiến ở Pháp”, làm thành chuyên chính của đồng minh chiến lược. Khi đã làm được cuộc chuyển đổi liên minh ấy trở thành đa số rồi, thì bước thứ hai là dùng con đường dân chủ, tự do đầu phiếu, lập ra Chính phủ cách mạng và chế độ cách mạng. Quan điểm trên chịu ảnh hướng khá rõ của phái tả trong cách mạng tư sản Pháp 1789. Và chiến lược đó đã không thực hìện đuợc!

2. Lần thứ hai thuật ngữ chuyên chính vô sản được dùng là sau thất bại của Công xã . Từ tổng kết sự thất bại đó, C.Mác nêu lên nhưng bài học về vẫn để hình thành Nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản, không giống với bất kỳ một hình thức Nhà nước nào đã có trước đó, một hình thái Nhà nước báo hiệu sự tiêu vong của Nhà nước. Nếu xem xét thật kỹ thì trong những nội dung này có mang màu sắc ảo tưởng, vì kinh nghiệm của Công xã còn quá nghèo nàn. Cần nhớ rằng, Công xã chỉ tồn tại có 72 ngày (từ 18/3/1871 đến 28/5/1871). Tuy nhiên, nếu đọc kỹ “Nội chiến ở Pháp” thì sẽ hiểu rõ chuyên chính vô sản theo quan niệm của C.Mác, là một hình thức Nhà nước cách mạng đã không còn thuần túy là Nhà nước nữa, mà đã nằm trong cái logic của Nhà nước dần dần tự tiêu vong.

Thật ra, đây chỉ là một tiên đoán. Mà là một tiên đoán chưa có bao nhiêu căn cứ lý luận cũng như thực tiễn. Trong thực tiễn, thời C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ có duy nhất 53 ngày công xã trong một thành phố là Paris, ngoài ra không có thực tiễn nào khác về cách mạng vô sản thắng lợi và thiết lập chuyên chính vô sản cả. Nói nôm na thì “chưa có bột để gột nên hồ”, hoặc là quá ít bột, chưa thể đủ “gột” nên bất cứ thứ “hồ” gì! Thực tế lịch sử đã chứng minh sự phân tích của C.Mác về tình thế khủng hoảng và cách mạng vào giữa thế kỷ XIX là không đúng. Và C.Mác đã sớm nhận ra điều đó.

3. Khái niệm “chuyên chính vô sản” trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chuyển đổi và mở rộng nội dung của nó ra. Cùng với thời gian và diễn biến rất phức tạp, việc nhận cho ra đâu là tư tưởng lý luận của chính C.Mác là điều hết sức cần thiết vì nó tránh được những ngộ nhận sai lầm.

, ông từng xác định: “Lịch sử thế giới nhất định sẽ đi tới chuyên chính vô sán, nhưng tuyệt nhiên sẽ không phải đi theo những con đường bằng phẳng, giản đơn, thắng tắp”. Cho nên, với ông, chuyên chính vô sản là nội dung chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, dân quyền, dân sinh, dân chủ…cửa cả thời đại quá độ, mở rộng ra trên căn bản tư tưởng C.Mác, là đấu tranh vừa bạo lực vừa hòa bình, vừa hành chính, vừa giáo dục, tuyên truyền…

Có nghĩa là, với , nội dung của chuyên chính vô sản bao quát toàn bộ các vấn đề của thời đại chứ không phái chỉ có đóng khung trong vấn đề Nhà nước. V.I Lênin cho rằng Nhà nước Chuyên chính vô sản ngay từ khi mới thành lập đã là vừa là Nhà nước, vừa không còn là Nhà nước nguyên nghĩa, đã bước ngay vào quá trình tự tiêu vong của Nhà nước. Điều này không diễn ra trong thực tế.

Vào cuối đời, những năm 1923 và 1924, V.I Lênin nhiều lần vạch rõ những lệch lạc, suy thoái của chính quyền Xô Viết, nhất là tệ quan liêu và tham nhũng. đã chỉ rõ: “Trên lời nói thì bộ máy Chính quyền Xô viết là bộ máy chính quyền của tất cả quần chúng lao động, nhưng trên thực tế thì mọi người chúng ta không còn ai xa lạ rằng còn xa lạ mới được như thế”. Có một sự thật hết sức có ý nghĩa là, chính vào những năm đó, Lênin đã nhận thức ra và tuyên bố rõ: quan niệm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội phải thay đổi về cơ bản! Đáng tiếc là con người với bản lĩnh sáng tạo và dám thẳng thắn chỉ ra những sai lầm và tìm cách khắc phục ấy đã chưa kịp thực hiện ý chính của mình.

4. Đến J.Stalin thì chuyên chính vô sản chỉ còn là Đảng trị, Đảng trở thành “siêu Nhà nước”, Đảng mới chính là Nhà nước. Với J.Stalin, hệ thống chính trị chuyên chính vô sản gồm: Đảng là hạt nhân trưng tâm lãnh đạo toàn bộ hệ thống còn Nhà nước, Công đoàn và các đoàn thể quần chúng là những dây chuyền chuyền tải giữa Đảng và nhân dân. Và như thế là nhân dân ở ngoài hệ thống chính trị. Nhà nước chuyên chính vô sản trong nhận thức và trong hành động của J.Stalin đã mất hẳn triển vọng tự tiêu vong. Ngược lại, ngày càng tăng cường trong chế độ Đảng – Nhà nước. Mô hình chính trị, kinh tế, xã hội cua “chuyên chính vô sản” thời J.Stalin dần dần thể hiện bốn đặc điểm bản chất sau đây:

Một là Đảng lãnh đạo, mà thật ra là nhân danh Đảng mà cai trị, thực chất là sự cai trị của những người có chức có đặc quyền, đặc lợi trong Đảng và trong xã hội. Hai là, nhanh chóng thực hiện chế độ công hữu dưới hai hình thức Nhà nước và tập thể, xóa bỏ tư nhân và thị trường. Ba là, quản lý kinh tế, xã hội theo thể chế tập trung quan liêu bao cấp. Bốn là, đóng cửa với bên ngoài. Sau này khi có phe XHCN thì cỉh chủ yếu quan hệ trong phe, chiến tranh lạnh với chủ nghĩa tư bản hiện đại.

Sai lầm và nguy hiểm nhất là chủ rương của J.Stalin khẳng định rằng, sau khi Liên Xô đã kết thúc thời kỳ quá độ, xây dựng thành công CHXH năm 1936, thì từ đó về sau, đấu tranh giai cấp trong xã hội Xô Viết ngày càng gay gắt. Những cuộc trấn áp và khủng bố rất tàn khốc đã diễn ra sau năm 1936.

Liên bang Xô Viết dưới thời J.Stalin đã có những thành tựu vĩ đại, những chiến công hiển hách trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, những bước dẫn đầu rất ngoạn mục về xây dựng kinh tế, phát triển khoa học và công nghệ, sáng tạo văn hoá, văn học nghệ thuật, nâng cao phúc lợi xã hội cho nhân dân, giúp đỡ rất nhiều và có hiệu quả cho nhiều nước, nhiều dân tộc, có cống hiến lớn lao cho cả loài người.

Tuy nhiên, chuyên chính vô sản thời J.Stalin đã phạm những sai lầm và cả những tội ác. Đã từng có đến 70% ủy viên và ủy viên dụ khuyết BCHTW của Đảng được bầu tại Đại hội năm 1934 bị bắt, bị bỏ tù và bắn chết, tức là 98 trên tổng số 139 ủy viên! Đã từng có những sự cưỡng bức nặng nề và cá những sự chuyên chính tàn bạo với công dân, nông dân, đặc biệt là đối với trí thức. Nhiều nhà khoa học lỗi lạc bị vô hiệu hoá, thậm chí bị tù đày, bị thủ tiêu, nhiều ngành khoa học có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của đất nước và con người như xã hội học, tâm lý học, điều khiển học, di truyền học… bị xem là những “khoa học tư sản”, đồng nghĩa với việc cấm hoạt động, xây dựng, phát triển. Đây sẽ là lý do cơ bản khiến cho nền khoa học vốn một thời ở trình độ cao của thế giới dần dần trở thành lạc hậu, không bắt kịp với sự phát triển chung của loài người. Hệ lụy nặng nề nhất là sự bóp nghẹt tự do và dân chủ khiến cho đời sống tinh thần của xã hội lâm vào khủng hoăng nặng nề.

Sinh thời Stalin, rồi sau J.Stalin cho đến ngày Liên Xô sụp đổ, nguyên nhân suy thoái dần từ bên trong, tạo thuận lợi cho lực lượng thủ địch bên ngoài, dẫn đến tan rã không phải là do không nắm vững “chuyên chính vô sản”, mà là đã thực hiện chuyên chính vô sản một cách cực kỳ sai lầm. Ngay cả thời kỳ hàng chục năm khi Liên Xô bỏ hẳn không dùng cụm từ “chuyên chính vô sản” và tuyên bố không thi hành “chuyên chính vô sản ” nữa, thì những hệ lụy của mô hình J.Stalin tiếp diễn với những biến thái mới đặc biệt là sự thiếu dân chủ và không dân chủ, đã dần dần làm mất lòng tin của nhân dân Xô Viết và của cả 20 triệu Đảng viên Đảng cộng sản Liên Xô. Và đó chính là nguyên nhân cơ bản đẩy tới sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu.

Ở Trung Quốc, tuy chủ trương thực hiện nhân dân dân chủ chuyên chính của bốn giai cấp chứ không dùng “chuyên chính vô sản”nhưng sai lầm của mô hình Mao-ít với lý thuyết cũng tương tự như lý thuyết của J.Stalin đã dẫn ra ở trên, là càng đi sâu vào xây dựng CHXH thì đấu tranh giai cấp càng gay gắt, mở đường cho những cuộc trấn áp phản dân chủ rồi những cuộc đấu tố trong cái gọi là “đại cách mạng văn hóa” mà thực chất là các cuộc thanh trừng lẫn nhau trong nội bộ thế lực cầm quyền mà hậu quả là mấy chục triệu người chết, trong đó có cả những “khai quốc công thần”! Trong một Hội thảo khoa học tại HàNội năm 2005, một học giả TrungQuốc chỉ ra rằng: trong lịch sử Đảng cộng sản đã có 14 Đại hội có những cuộc đấu như vậy. Mao từng nói: “đấu tranh với người là niềm vui lớn “. Chính lời nói này đã đem tai họa đến cho người dân .

Trong phong trào cộng sản quốc tế, trong những người cộng sản, trong các nước XHCN một thời, đã có không ít ý kiến cho rằng quan niệm và thực tiễn chuyên chính vô sản chứa đựng nhiều bất ổn cần phải được nhìn nhận lại. Những ý kiến ấy đã bị lên án nặng nề, bị gạt bỏ, bị trấn áp để suốt gần nửa thế kỷ, từ năm 19/9, khi thành lập “Quốc tế cộng sản”, đến cuối những năm 60 của thế kỷ XX, các Đảng cộng sản trên thế giới đểu coi chuyên chính vô sản là lý luận kinh điển và chủ trương cơ bản. Cho đến cuối thập kỷ 1960, nhiều Đảng cộng sản lớn như Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Ý… rồi đến những Đảng cộng sản trung bình và nhỏ đã có chính quyền hoặc chưa nắm được chính quyền, đều lần lượt từ bỏ chuyên chính vô sản. Có Đảng lẳng lặng từ bỏ, có Đảng giải thích rằng cụm từ “chuyên chính vô sản” dễ gây phản cảm, không được tán thành bởi nhiều người tiến bộ và yêu nước.

Và rồi, cho dù bị quyết liệt ngăn chặn, cản trở bới những thế lực bảo thủ, giáo điều tìm thấy sự duy trì “chuyên chính vô sản” phù hợp với việc bảo vệ lợi ích và quyển lực đang có của họ, mô hình sai lầm ấy đã bị vứt bỏ. Cuộc sống không chấp nhận cả lý thuyết và thực tiễn “chuyên chính vô sản” kiểu “Stalinnit”.

5. Thật oái oăm, khái niệm “chuyên chính vô sản” mà một thời được tiếp thu và vận dụng ở một số nước XHCN, trong đó có nước ta, lại rơi vào đúng cái nội dung kiểu “Stalinnit” ấy!

Ở ta, vấn đề “chuyên chính vô sản” quả thật đã từng giữ vị tri “then chốt” trong tư duy của Đảng cầm quyền. Những ngộ nhận về nội dung của “chuyên chính vô sản” theo quan điềm Stalin đã đầy tới những tai họa quá nặng nề có lẽ cũng không cần phái nói nhiều ở đây. Cho đến nay, tuy khái niệm đã chính thức bị đưa ra khỏi những đoạn nói về đường lối chung trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, những hệ lụy của nô thì vẫn len lỏi, gây ảnh hưởng trong cách hành xử của bộ máy chuyên chính như đã nói ở trên. Cũng không ít trường hợp, “dẫu lìa ngỏ ý còn vuông tơ lòng trong những người đã có sự gắn kết qủa sâu với vấn đề vốn bị ngộ nhận là then chốt nhất của học thuyết Mác.

Khắc phục cho được hệ lụy này xem ra còn phải có một cố gắng lâu dài và hết sức nhẫn nại. Vì rằng, như Lênin đã từng cảnh báo: “Đối với một người cách mạng chân chính thì mối nguy hiểm lớn nhất, thậm chí có thể là mối nguy hiểm duy nhất, là phóng đại tinh thần cách mạng, là h am những giới hạn và những điều kiện của một sự vận dụng có kết quá và thóa đáng nhữngphươngpháp cách mạng “. Cái lối “phóng đại” này, mà lại là “phóng đại tinh thần cách mạng” xem ra không chỉ có ở nước Nga thời Lênin! Nó được vận dụng rất phổ biến trong nhiều quốc gia mà nước ta cũng không thoát khỏi cái vòng ” kim cô” oan nghiệt đó. Đặc biệt nguy hại là ở những nơi mà người ta cố dung tục hóa, thô thiển hóa học thuyết của C.Mác. Rõ ràng là “phóng đại tinh thần cách mạng” không phải để cách mạng, mà thực chất là để thoái lui, hoặc để lao vào những phiêu lưu cách mạng không có chút nội dung cách mạng nào. Những ví dụ dễ thấy trên đất nước ta là những lúc chịu ảnh hưởng nặng nề hoặc bị áp đặt bởi sự “phóng đại tinh thần cách mạng” có chủ ý để cố tìm cho ra “kẻ thù giai cấp” theo đúng “chuẩn” đã được đề ra một cách võ đoán, cực kỳ chủ quan cho đủ “tỷ lệ” mà các đội cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức phải thực hiện, dẫn đến chuyện “tố điêu”, “tố sai” mà hậu quả của nó thì chúng ta đã biết.

Hiểu rõ cánh báo của V.ILênin, cũng đã từng nhắc nhở Đảng: “phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cánh nước mình như thế nào để làm cho đúng. Ngay từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Người đã khẳng định nếu không giải quyết được vấn để giải phóng dân tộc, không đòi hỏi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

Đến năm 1 937, Người lại nhắc nhở “Các đồng chí trong Đảng cần phải hiểu rằng: Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp vô sản mà thôi, mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho toàn thể dân chúng nữa. Đảng phải làm tròn vai trò ấy”. Nhớ lại, từ 1924, đã sớm chỉ rõ “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước… Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Chỉ ra điều ấy vì hiểu rằng ở Việt , “cuộc đấu tranh giai cấp” không diễn ra giống như ở phương Tây”.

Bằng tầm nhìn ấy, Hồ Chí Minh đã hạn chế đến mức thấp nhất những sai lầm trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức theo sự dẫn dắt của quan điểm phóng đại tinh thần cách mạng nằm trong nội dung của “chuyên chính vô sản” được tác động của đường lối kiểu “Stalinnít” hoặc “Mao ít” cố sức cường điệu và “phóng đại tinh thần cách mạng”, đưa tới những hệ lụy đau đớn. Cần phải có sự nghiêm túc và sòng phẳng đối với những sai lầm và hệ lụy ấy.

6. Tóm lại, C.Mác và Ph.Ăngghen có một số ý tưởng về “chuyên chính vô sản”, nhưng không có và không thể có lý luận về “chuyên chính vô sản”. Những ý tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen có điều đúng nhưng cũng có nhiều điều không đúng do đánh giá sai tình hình chủ nghĩa tư bán, và do khái quát hóa quá vội vàng từ một kinh nghiệm quá ngắn ngủi và không thành công của Công xã Paris (mà về điểm này, về sau C. Mác và nhất là Ph.Ăngghen đã có tự phê bình).

Vì thế, khẳng định rằng chuyên chính vô sản là vấn đề chú yếu, cũng như khắng định giá tri thặng dư là hòn đá tảng của học thuyết Mác là những ý kiến của những người học trò của C. Mác chứ C.Mác không hề khẳng định như vậy. Ở đây có những lý do, những động cơ rất khác nhau của sự khẳng định ấy mà trong một bài viết ngắn chưa thể nói kỹ.

Chính vì thế, ý tưởng về “làm chủ tập thể” là một cố gắng tìm tòi, bứt phá nhằm vượt ra khỏi mô hình “chuyên chính vô sản” trên hành trình trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về “Nhà nước pháp quyền”.

1. Phạm trù làm chủ tập thể hình thành trong suy tư về vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện được quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của mình. Phải biết tước bỏ những cách hiểu dung tục, thô thiển để nhìn vào chiều sâu triết lý và sự vận động của lịch sử hướng tới một hình thái xã hội mới ra đời ngay trong lòng xã hội hiện tồn. Đó là khi bằng cách mạng giành lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân trong một Nhà nước dânchủ, thì không thể áp dụng hình thái “Nhà nước chuyên chính vô sản” được nữa. Hạt nhân của triết lý làm chủ tập thể chính là sự khẳng định “‘quyền hành và lực lượng đều nơi dân” và đấy cũng là cốt lõi của tư tưởng . là người đầu tiên nói đến quyền làm chủ của nhân dân. Trong bài “Đạo đức công dân” đăng trên báo “Nhân dân” ngày 15/01/1955, khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”.

2. Tuy vậy, do chịu ảnh hưởng của sự áp đặt mô hình Xô Viết, nên tại Đại hội II năm 1951, trong “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Trường Chinh, khái niệm “chuyên chính vô sản” được xác định là một hình thức Nhà nước xuyên suốt tiến trình cách mạng, thể hiện dưới dạng của “chuyên chính nhân dân” theo kiều nói của Trung Quốc đã dẫn ra ở trên. Kể từ đó, phạm trù “Nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ “chuyên chính vô sản” được nói đến thường xuyên trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước.

Vì vậy, có thề nói, thực chất của sự hình thành luận điểm “làm chủ tập thể” của Lê Duẩn là nhằm thay thế cho lý luận về “chuyên chính vô sản ” mà với cương vị là người có trách nhiệm lớn nhất với đất nước, với dân tộc, ông không đồng tình. Tư tưởng chính trị cơ bản của là nhân dân làm chủ tập thể, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý là cốt để nhân dân làm chủ tập thể.

Mặc dù nhận thức như vậy, song vì ý thức tổ chức và kỷ luật, phục tùng một ý kiến đa số trong lãnh đạo của Đảng còn dai dẳng những năm 70 của thế kỷ XX, chứ trong tư duy, Lê Duẩn đang tìm mọi cách đề thoát ra khỏi cái mô hình áp đặt mà ông đã nhìn thấy là không ổn, là bất cập. Quả đúng như tác giả của bài viết về Lê Duẩn nhân ký niệm 50 năm “Đề cương cách mạng Miền Nam” nhận xét: “Vói vị trí Tổng Bí thư của mình, ông cũng không đột phá nổi độ dày của bảo thủ, giáo điều, đường mòn xơ cứng”. Độ dày ấy đã hằn quá sâu trong đời sống tinh thần của xã hội, trước hết là trong não trạng của những người chịu trách nhiệm về hoạt động lý luận của Đảng. Vì thế trong báo cáo chính trị đọc tại Đại hội IV có đoạn: “Muốn đưa sự nghiệp cách mạng ấy đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chú tập thể của nhân dân lao động”. Tuy nhiên, tiếp ngay câu trên, Lê Duẩn trình bày đường lối chung của Đảng, trong 16 dờng, làm nổi rõ lên tư tưởng nắm vững chuyên chính vô sản chính là thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Tiếp đó, trong 183 dòng thuyết trình về xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, đầy đủ hơn nhiều, độ dài cũng gấp 10 lần so với mấy dòng trình bày về chuyên chính nói trên.

Lý do chính là, trong tìm tòi suy ngẫm, tư duy của Lê Duẩn không tán thành áp đặt mô hình Xô Viết với thể chế Nhà nước chuyên chính vô sản khi mà nhân dân đã bằng cuộc chiến đấu ròng rã với biết bao hy sinh của nhiều thế hệ kế tiếp nhau để giành được quyển làm chú đất nước, làm chủ xã hội. Lẽ nào lại có thể “chuyên chính” theo kiểu trấn áp tàn khốc cán bộ, đáng viên, công nhân nông dân, trí thức diễn ra ở Liên Xô dưới thời J.Stalin hay ở Trung Quốc thời Mao như đã dẫn ra ở trên. Phạm trù làm chủ tập thể hình thành vả hoàn chỉnh dần, tuy vẫn còn dang dở và còn nhiều vấn đề gây tranh cãi nhưng đã thể hiện sự bứt phá ra khỏi những giáo điều gây ra quá nhiều tai hại mà hầu hết các Đảng Cộng sần trên thế giới, các Đảng đã nắm chính quyền hoặc đang đấu tranh đều đã từ bỏ.

3. Cũng chính vì thế, tại Đại hội VI, Báo cáo chính trị chỉ có một lần dùng cụm từ “chuyên chính vô sản” trong hai câu: “Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị. Trong thời kỳ quá độ, đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa” để ” khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung của cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN do các Đại hội lần thứ IV và lần thứ V của Đảng”. Tuy một lần nhắc lại cụm từ “chuyên chính vô sản”, nhưng thực tế là trong Văn kiện đại hội VI, lại quyết định nhiều chủ chương để phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Cụm từ “làm chủ tập thể” được nêu cao và nhắc đến hàng chục lần và cũng lần đầu, chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”được Đại hội VI đưa ra.

Tại Đại hội VII, lần đầu tiên khái niệm “chuyên chính vô sản” với tư cách là bản chất của Nhà nước XHCN đã không được nói đến nữa. Thay vào đó là khái niệm “xây dựng Nhà nước XHCN, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Đặc biệt, đã xác định: “là tổ chức thể hiên và thực hiên ý chí, quyền lực của nhân dân thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội trong luật pháp”. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng của tư duy về “Nhà nước pháp quyền”.

Đến Đại hội VIII thì khái niệm Nhà nước pháp quyền được chính thức đi vào đời sống xã hội bằng sự khẳng định: “Tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền. Quản lý xã hội bằng pháp luật…”. Quả thật, đây là một sự điều chỉnh muộn màng so với hầu hết các Đảng cộng sản trên thế giới. Đáng tiếc là sự muộn màng ấy lại đã thường xảy ra. Mà xảy ra trước hết lại là ở lĩnh vực hoạt động lý luận ở những nhà lý luận vốn chiếm giữ những vị trí có tác động lớn đến đời sống tinh thần của xã hội. Ở đây, cái bóng dáng của “chuyên chính vô sán” thể hiện khá rõ trong tệ độc quyền chân lý, áp đặt tư duy và tùy tiện quy kết, của cái thói chỉ quen độc thoại đề “ban phát chân lý” đã bị độc quyền chiếm dụng, mà không chịu nổi sự đối thoại bình đẳng và công khai để làm sáng tỏ chân lý khách quan, nhân danh sự đề phòng “chệch hướng” ra khỏi quỹ đạo “xã hội chú nghĩa”.

Ấy thế mà, như Phạm Văn Đồng đã từng khẳng định, các nhà sáng lập ra học thuyết Mác “chưa bao giờ đề ra một định nghĩa có tính chất hình mẫu về chủ nghĩa xã hội khoa học, chính khoa học là ở chỗ đó”. Ông thường hay dẫn ra câu nói nổi tiếng của Gớt để cảnh báo các nhà lý luận: “Lý thuyết thì màu xám. Còn cây đời thì mãi mãi xanh tươi”.Và chính ông đã từng tự phê bình về việc “sao mà mình có thể quay lưng lại với biết bao sự thật hằng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những cái giá đắt phải trả. Rõ ràng đây là một sự thiếu sáng suốt trong nhận thức và hành động, trong lý luận và thực tiễn”

Nhận thức là có một quá trình không kém gian nan, nhất là khi tự mình phải vượt lên chính mình để tiếp cận được với sự vận động không ngừng của cuộc sống. Thậm chí, cho đến nay, vẫn có ý kiến cho rằng “các vấn đề lớn trong Văn kiện Đại hội X đều ẩn chứa nội dung và chức năng của chuyên chính vô sản… mặc dầu không nhắc đến cụm từ chuyên chính vô sản”.

“Màu xám” của lý luận đang thách thức “cây đời xanh tươi”. Và chúng ta đủ kiên nhẫn để tin rằng, cuộc sống mạnh hơn mọi giáo điều đã học thuộc lòng.

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đất nền móng xây dựng “Nhá nước pháp quyền” ở Việt . Hồ Chí Minh hiểu rõ mục tiêu của từng chặng đường trên con đường dẫn đến lý tưởng đúc kết khát vọng của cá loài người “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” mà “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” thế kỷ XIX đã nêu lên.

Hồ Chí Minh không lẫn lộn mục tiêu cụ thể và trực tiếp của từng chặng với cái đích lý tưởng ở phía chân trời để tránh đi những ảo tưởng duy ý chí, dẫn đến hành động nôn nóng “đốt cháy giai đoạn”, gây hậu quả ngược lại với mục tiêu Hồ Chí Minh “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều, rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”, Người đòi hỏi không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn, điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể” nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

2. đang vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn biện chứng. Bôn ba khắp năm châu bốn biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những khiếm khuyết mà phong trào cách mạng đã trải qua, để khi về đến Tổ quốc, hôn nắm đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ, Người hiểu rõ cẩn phải làm gì cho nhân dân mình. Tiếp nhận tinh hoa của nền văn minh phương Tây mà Người đã có nhiều năm chiêm nghiệm, học hỏi, đề rồi gắn kết với bản lĩnh và tri thức cách mạng, Hồ Chí Minh thấy được những vấn đề mà có thể những người khác chưa thấy hoặc thấy chưa rõ.

Bằng chứng là, mãi gần 60 năm sau Tuyên ngôn Độc lập và Tổng tuyển cứ 46, lập ra Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ra đời Hiến pháp 1946, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền vẫn còn gặp không ít trở ngại do sự áp đặt máy móc và giáo điều của mô hình “chuyên chính vô sản” trong tư duy về Nhà nước. Có thấm thía chuyện này mới hiểu sâu ý nghĩa của việc đặt viên gạch đầu tiên cho nền móng của một Nhà nước pháp quyền.

3. Mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập ngày 45, Hồ Chí Minh dẫn ra những câu tiêu biểu nhất trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1791. Những câu hay nhất thể hiện tập trung nhất khát vọng của con người, của loài người, đề từ đó, nói về những “lẽ phải không ai chối cãi được”.

Từ tầm cao trí tuệ của thời đại, ngay từ nhũng ngày đầu tiên của nền độc lập vừa giành lại được, đã khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chứ! Trong hoàn cảnh cực ký phức tạp của giặc ngoài, thù trong, Hồ Chí Minh vẫn kiên quyết tổ chức tổng tuyển cứ bầu ra Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam mới, một nước dân chủ, trong đó dân là chủ, dân làm chủ! tin vào dân, hiểu rõ khát vọng dân chủ của dân.

Bằng việc thực thi quyền dân chủ trực tiếp trong cuộc phổ thông đầu phiếu bầu ra Quốc hội năm 1946, dân ta đã chứng minh với thế giới rằng, một dân tộc vừa thoát khỏi vòng nô lệ trăm năm thực dân thuộc địa, khi đã vùng lên dưới ngọn cờ của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đã vững bước trên hành trình dân chủ. Vậy thì, cơ sở xã hội của Nhà nước theo tư tưởng là gì?

Là dân tộc. , dân tộc không chỉ là địa bàn ứng dụng của lý tưởng cách mạng, mà dân tộc chính là chỗ xuất phát, mảnh đất màu mỡ và cội nguồn sáng tạo của lý tưởng cách mạng đó. Cơ sở xã hội mới của Nhà nước ấy rất rộng lớn và không hề thay đổi phạm vi trong quá trình cách mạng. Đó là phạm vi các giai cấp và tầng lớp không thay đổi, chỉ tăng lên về chất lượng để thành một tập hợp mới mạnh mẽ hơn, bền chắc hơn của khối đại đoàn kết dân tộc. Trong đó, có thể có rơi rớt người này hoặc người khác, chứ không có chuyện loại bở tầng lớp này hoặc tầng lớp khác theo kiểu sứ dụng “bạn đường” có thời hạn để khi cần thì vứt bỏ. Trong tư tưởng và trong hành động, trong ứng xử với con người, với đồng bào mình, tuyệt đối không có chuyện đó. Vì biết đứng trên cái nền vững chãi ấy nên mới hình thành và xác lập được tư duy độc lập và sáng tạo, luôn gắn kết với thực tế đất nước.

4. Qua tổ chức Tổng tuyển cử vừa nhắc ở trên, thấy rõ điều ấy trong cách vận dụng, cách thức thực hiện dân chú đại diện và dân chủ trực tiếp. Khi dùng dân chủ đại diện, HồChíMinh đã không hoàn toàn theo chỉ dẫn của C.Mác cũng như không theo V.Lênin về mô hình dân chủ hội đồng, tức là dân chủ . Qua thực tế, đã thấy rõ mô hình tháp hội đồng ấy là không ổn, vì vậy phải quay trở lại việc bầu cử theo đơn vị hành chính dân cư. Nhận ra điều đó, đã chủ trương ấn hành những cuộc bầu cử theo mô hình bầu cử đại điện của phương Tây có lựa chọn. Chỉ một năm sau khi giành được chính quyền, đã tổ chức được một cuộc bầu cử thật sự tự do và dân chủ đối với những người ứng cử, cũng như đối với cử tri. Nên nhớ, số người ứng cử lần ấy đông nhất trong những lần bầu cử Quốc hội ở nước ta cho đến nay.

Là một nhà cách mạng từng trải đã hiểu rõ về phong trào cách mạng với sứ mệnh cao cả cũng như những khó khăn của tiến trình thực hiện sứ mệnh ấy, Hồ Chí Minh h biết được phải làm gì với một dân tộc vừa thoát ách nô lệ và gần một trăm năm bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Là một nhà văn hóa, Hồ Chí Minh thấm nhuần những tinh hoa của văn hóa loài người, kết tinh ở những đỉnh cao trí tuệ tiêu biểu cho trình độ văn minh mà con người đạt được vào những thời điểm lịch sử nhất định, để biết vận dụng một cách thích hợp và sáng tạo vào thực tế nước mình. Hiến pháp 1946 do trực tiếp làm “Trường Ban soạn thảo” nói lên rất rõ điều ấy.

Ở đây thể hiện rõ những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực. Trong nội dung của Hiến pháp, nét nổi bật làm việc kiểm soát quyền lực Nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống Việt . Ngay tại điều 1 của Hiến pháp đã nổi rõ lên tinh thần ấy “Nước Việt dân chủ cộng hòa là một nước dân chủ. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt không phân biệt nòi giống, gái trai, giai cấp, tôn giáo”. Những điểm khác như Hội đồng Nhân dân cũng được xác định như một cơ quan “tự quản ” của nhân dân địa phương, quyết định các vấn đề của địa phương, do nhân dân địa phương bầu chọn và chịu trách nhiệm trước họ. Ở đây đã thấp thoáng bóng dáng những đường nét tư duy về cái ngày nay ta gọi là “xã hội dân sự”. Ngay cả đuhnh chế luật sư cũng đã được đề ra.

Ở một đất nước mà Nhà nước xuất hiện từ rất sớm và mang nặng “truyền thống” quan liêu, Hồ Chí Minh đã đòi hởi xây dựng một “Nhà nước đầy tớ của dân”, điều mà nhiều nhà tư tưởng lớn của loài người đã từng ấp ủ và cũng đã được nhấn mạnh trong học thuyết của C. Mác. Nhưng, vấn đề là đã sớm đưa ngay ý tưởng đó vào việc tổ chức Nhà nước và cố gắng thực hiện. đã nghiêm khắc cảnh báo ngay từ ngày chính quyền cách mạng còn trong trứng nước: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân… Dân chủ thì chp phài là đầy tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. phủ làm hại dân thì có quyền đuổi Chính phủ”.

Có thể nói, cơ cấu tổ chức quyền lực Nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, trong đó các quyển tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công nhận và được bảo đảm bằng luật pháp. Hiến pháp năm 1946 thể hiện rất tập trung tư duy của về Nhà nước. Sáu mươi năm của hành trình dân tộc, những nền móng ban đầu của “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” đã không được củng cố và xây đắp thành hình hài ngày một rõ nét mà lại dần dà bị chìm đi bởi sự áp đặt của mô hình “chuyên chính vô sản”. Thế nhưng, sự vận động của thực tiễn đã trả về cho cái nền tảng ban đầu ấy sức thuyết phục và ý nghĩa sâu sắc của tầm cao trí tuệ và bề dày văn hóa trong tư duy về Nhà nước của .

Khi Đại hội X của Đảng, phát triển những thành tựu của nhận thức về Nhà nước của các Đại hội VII, VIII, IX để khẳng định rõ: “‘Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN. Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân…”, thì đó chính là sự trở lại với tư tưởng về Nhà nước.

Phải bằng một chặng đường hơn nửa thế kỷ, tư duy về Nhà nước pháp quyền mới được chính thức trở thành tư tưởng chỉ đạo trong việc xây dựng Nhà nước. Hành trình gian chuân của hơn nửa thế kỷ xây dựng một Nhà nước thật sự là Nhà nước của dânk do dân và vì dân như đã đặt nền móng chưa thể nói là đã hoàn toàn thuận buồm xuôi gió. C.Mác đã từng cánh báo: “mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra như là một sự xúc phạm tôi cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ, đang suy đồi nhưng được tập quán thần thánh hóa”. Tính ngoan cố của tập quán, nhất lại là tập quán đã được “thần thánh hóa” sẽ là sức ta kéo ghê gớm sự phát triển.

Thế nhưng sự vận động của lịch sử đã chứng minh, cuộc sống sẽ tự mở lấy đường đi cho nó bất chấp mọi trở lực. Đó là quy luật không sao đảo ngược được.

【#6】Sử Thi Trong Văn Học Việt Nam

Sử thi vốn là một khái niệm dùng để chỉ một thể loại hoặc một loại hình nội dung văn học thường xuất hiện trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Thường xây dựng hình tượng ở thang giá trị cao nhất, đẹp nhất, hoàn hảo nhất, nên sự thể hiện cái tôi sử thi luôn ở tâm thế ngưỡng mộ, sùng kính. Lời nói của sử thi là lời của nhân dân, lời của cộng đồng, lời đầu tiên và cũng là lời kết luận cuối cùng…

Sau này, những đặc trưng cơ bản của sử thi dần biến đổi, từ khái niệm sử thi – thể loại văn học, giới nghiên cứu văn học đã đưa ra khái niệm văn học sử thi. Văn học sử thi không thuộc thể loại sử thi, nhưng chứa đựng những đặc điểm cơ bản của sử thi. Nghĩa là cái tôi trữ tình sử thi vừa phải mang đặc tính loại hình (sử thi) vừa phải mang đặc trưng loại thể (trữ tình). Không lặp lại sử thi cổ đại, nhưng nguyên tắc sử thi vẫn được các nhà nghiên cứu vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào phạm trù văn học hiện đại. Sự biến đổi của thể loại sử thi đã được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành một thể loại mới: “Tiểu thuyết sử thi”.

Văn học sử thi hướng tới cái chung, cái cao cả, sự kiện lịch sử, số phận toàn dân, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nó thường phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân. Sử thi không phải là những số phận cá nhân mà là tiếng nói của cộng đồng, của dân tộc trước thử thách quyết liệt. Nhân vật trung tâm không đại diện cho con người cá nhân, mà đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại với tính cách dường như kết tinh đầy đủ những phẩm chất cao quý của cộng đồng. Con người sống chủ yếu với hiện tại và tương lai.

Sử thi anh hùng dân gian: kể về những bậc thủy tổ – những anh hùng văn hóa, về các tích truyện dũng sĩ; xa xưa hơn nữa là các truyền thuyết lịch sử, các bài tụng ca

Sử thi cổ điển: nhân vật thường là các dũng sĩ kiêm thủ lĩnh và các chiến binh đại diện dân tộc ở tầm lịch sử; các kẻ thù của họ thường được đồng nhất với bọn xâm lược, những kẻ áp bức, ngoại bang và dị giáo

Sử thi anh hùng: ác tác phẩm sử thi anh hùng cỡ lớn, thể hiện sự tương quan giữa yếu tố cá nhân anh hùng và yếu tố sử thi tập thể rõ rệt, đủ để bộc lộ tính tích cực cá nhân, đã trở thành công cụ đắc lực cho sự biểu hiện yếu tố toàn dân, toàn dân tộc

Xây dựng hình tượng: Các nhân vật, hình tượng trong các tác phẩm mang cảm hứng sử thi, dù là những con người bình dị, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc… đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí cũng như phẩm chất chung của cả cộng đồng. Số phận cá nhân gắn chặt với số phận cộng đồng. Các vấn đề đời tư hầu như không được đặt ra, nếu có thì cũng chỉ nhằm nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tình cảm của người anh hùng với cộng đồng.

Ngôn ngữ: Ngôn ngữ thường có tính chất trang trọng, giàu hình ảnh, có tính biểu tượng cao và giàu giá trị gợi cảm.

Giọng điệu tác phẩm thường mang âm hưởng hùng tráng, lay động và khích lệ mạnh mẽ tình cảm người đọc.

Các tác phẩm mang cảm hứng sử thi luôn lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của đất nước, vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc. Khi xây dựng những hình tượng, nhân vật, thường là cảm hứng khẳng định, ngợi ca, tự hào..Cho nên cảm hứng sử thi thường gắn với cảm hứng lãng mạn

Không gian sử thi: Không gian sử thi có hai dạng: Không gian của sử thi thần thoại mang đặc điểm của không gian thần thoại và truyền thuyết suy nguyên. Không gian sử thi anh hùng có cả không gian truyền thuyết anh hùng và không gian cổ tích thần kì. Đó là không gian cộng đồng, không gian bao gồm tất cả mọi khía cạnh: không gian thiên nhiên, không gian xã hội. Không gian thiên nhiên là núi non, sông ngòi, cây cỏ, chim chóc, thú vật, sản vật. Không gian xã hội là bản làng, sinh hoạt lao động sản xuất và chiến đấu. Không gian sử thi có chiều sâu và chiều rộng. Chiều sâu không gian kéo dài từ quá khứ đến hiện tại, trải qua nhiều loại hình xã hội từ hồng hoang đến công xã nguyên thủy rồi công xã thị tộc, tiếp cuối cùng là xã hội phụ quyền. Chiều rộng là không gian bao quát từ làng quê đến bộ lạc, từ nông thôn đến núi rừng, từ mặt đất đến bầu trời, từ cảnh người đến cảnh vật và cảnh trời.

Thời gian sử thi: Thời gian sử thi là thời gian kéo dài nhiều triều đại, nhiều biến cố. Đó là thời gian lịch sử một dân tộc, bộ lạc, thời gian lịch sử của một dòng họ, một chế độ. Trong suốt thời gian dài có những khoảng thời gian ngắn tương ứng với từng thời kỳ, từng cuộc đời, từng số phận con người. Có khoảng thời gian xác định như thời gian của cuộc đời nhân vật nhưng cũng có khoảng thời gian không xác định đó là thời gian thời kỳ hồng hoang, thời kỳ hình thành dân tộc. Như vậy là ở sử thi có hai loại thời gian: thời gian thần thoại là thời gian không xác định và thời gian truyền thuyết là thời gian xác định, tất cả đều là thời gian quá khứ.

Nếu quý vị thấy bài viết Sử Thi trong văn học Việt Nam thú vị và hữu ích đừng quên chia sẻ để nhiều người được biết đến.

【#7】Chàng Trai Đi Phượt Bằng Xe Lăn, Chinh Phục Những Con Đèo Hiểm Trở Nhất Việt Nam: Mất 10 Năm Định Nghĩa Hai Từ “tự Do” Bằng Cách Chưa Ai Từng Làm!

Chẳng biết bắt đầu từ đâu để kể cho thật trôi chảy câu chuyện về một mầm sống nhưng nếu bạn đang cảm thấy uể oải và chán nản mọi thứ xung quanh thì hãy ở đây một chút để liên kết, để biết thái độ sống ảnh hưởng cuộc đời chúng ta nhiều như thế nào. nếu như các bài viết trước đây, tôi đã dùng sự nể phục để viết về những tấm gương sống thì bài viết này lại khác, tôi đã dùng sự đồng cảm của một người từng không thể đứng được bằng chân để hiểu được nhân vật mà mình sẽ phải “phác thảo” bằng ngôn từ.

Phan vũ minh – chàng trai vừa hoàn tất cuộc hành trình vô cùng đặc biệt của đời mình.

Có hẹn với phan vũ minh từ hồi tháng 4 nhưng đến tháng đầu tháng 11 chúng tôi mới có thể gặp mặt. minh 29 tuổi, khác với những gì tôi và mọi người nghĩ minh chủ động bắt chuyện với cả ekip, không phải bằng sự tháo vát mà bằng nguồn năng lượng “có chất” từ bên trong bản thân mình. tôi nghĩ, nếu như ngày xưa mình có dũng khí dùng đôi tay làm đôi chân, để xe lăn trở thành một vật bất ly, tự do ngồi trên xe lăn đến những nơi mình muốn… thì can đảm thật.

“Minh đi cùng ai đến đây thế?”, đó là câu đầu tiên tôi hỏi Minh khi gặp cậu ở một quán cà phê khu trung tâm thành phố. Cậu nhanh nhẹn dùng tay xoay bánh xe, thân người trườn lên phía trước theo nhịp lăn của bánh xe. Kể mọi người nghe, không phải đồng cảm mà sự thấu hiểu là cảm giác đầu tiên mà tôi có khi gặp cậu ấy.

– Minh đến với ai thế?

Ở anh chàng này có một sự ấm áp, giản dị nhưng lại quyết liệt đến lạ thường.

Sự chủ động và điềm tĩnh ấy thật khác. tôi đã kể cho minh nghe về câu chuyện vì sao tôi phải ngồi xe lăn. sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như nó không rơi vào khoảng thời gian đẹp đẽ nhất của cuộc đời, trước mắt bạn ai nấy đều tốt nghiệp loại giỏi, dư sức vào các trường đại học điểm. thế nhưng, nhìn lại mình ngày ấy tôi chỉ nhớ không biết bao nhiêu lần mình đã ước: được chết! đó gần như từng là tâm nguyện lớn nhất của tôi hay ngay cả minh đang ngồi ở đây cũng vậy.

– Minh đi một mình thôi. Đến lâu chưa? Mọi người đã ăn sáng chưa? – Ơ, nhưng mà nhân dịp gì cậu? – Ừ, Chính xác là 9 năm 7 tháng…

mất gần 10 năm để định nghĩa hai từ “tự do”

Ngày xưa, minh sống ở sài gòn là một chàng trai có ước mơ, hoài bão, sự ưu tú trên khuôn mặt giúp minh chiếm được tình cảm của tất cả mọi người. và rồi chẳng may, chỉ dám nói là chẳng may vì đó là cách nói duy nhất giúp cho mọi người nhìn minh một cách… bình thường!

Minh sống ở vĩnh long, được biết đến là chàng trai truyền cảm hứng sống cho cộng đồng bằng việc đi phượt trên xe lăn. năm 11 tuổi, căn bệnh “dị dạng mạch máu tủy sống” gần như thế chỗ tất cả những ký ức đẹp đẽ, sự nội tâm của minh để thay vào đó những tháng ngày trong bệnh viện tự dằn vặt và trách cứ mình.

“Ngày đó mình tự kỳ thị mình vì mình không đi được. Người ta thì đi được còn mình thì không. Khi mình thấy ấm ức lắm nên tập đi từ trong nhà ra đến cổng mà chỉ dám nhìn thẳng vì Minh thấy mọi người đang nhìn mình. Mình sợ ánh mắt đó, đến giờ vẫn sợ dù nó vô hình. Người ta nhìn thôi thì chẳng sao nhưng có người còn soi mói nữa”.

Với người khác, ký ức đẹp đẽ nhất luôn rơi vào khoảng thời gian từ 11 tuổi đến 20 tuổi và với Minh những ký ức ấy dù sao cũng không quên đi được nhưng mà nhớ với một cách khác, không bao giờ tha thiết quay trở lại dù có chút biết ơn.

“Đầu tiên Minh đau lưng, sau đó là chân bắt đầu yếu, người có những vết bầm. Thời điểm đó gia đình đưa mình đi khám khắp các bệnh viện ở Sài Gòn rồi một trong số đó bác sĩ nói với mình: “Căn bệnh này hiếm lắm, trên thế giới rất hiếm”.

Khi bạn hỏi một người không đi được thứ họ muốn nhất, trong đầu bạn luôn đoán rằng chắc là đi được, tôi với Minh thì không ước thế. Tôi và Minh có lẽ đều biết thậm chí nhớ rất rõ câu nói của nhà văn Mỹ – Helen Keller:

“Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi nhìn thấy một người không có chân để đi giày”.

“Cơ thể mình không thích nghi được yếu dần, bác sĩ tả lại cho mình biết rằng để chữa được phải luồn kim vào trong từng dây thần kinh ở tủy sống sau đó chích bỏ các mạch máu dị dạng. Mà dây thần kinh của con người ai cũng biết rồi đó, nó bắt chéo nhau và cực kỳ khó để điều trị, nếu được thì phải mất một số tiền rất lớn. Gia đình Minh lúc ấy có bao nhiêu tiền đổ hết vào việc trị những mạch máu dị dạng. Phẫu thuật không biết bao nhiêu lần, mình luôn hy vọng rằng mình có thể sớm khỏi bệnh và đi lại được thế nhưng hy vọng đó tắt lịm vào năm mình 20 tuổi, trong một lần phẫu thuật, tủy sống bị phù lên và nó chính là dấu chấm hết cho đôi chân của mình!”. – T. từng ước mình chết đi. Bởi vì thấy người nhà mình khổ quá!.

Minh hỏi tôi, thời điểm ngồi trên xe lăn tôi tập đi như thế nào? tôi đã thuật lại những ký ức ấy bằng sự hoan hỉ. năm 18 tuổi, để đi được sau khi bị liệt ½ cơ thể vì mắc phải căn bệnh về dây thần kinh tôi đã phải mất một thời gian dài để tập vật lý triệu liệu ở tại bệnh viện chấn thương chỉnh hình và trung tập vật lý trị liệu ở quê. may mắn sau đó đi được nhưng thứ tôi học được không phải là những ngày tháng kiên cường ở đấy. để trưởng thành bài học mà tôi hay minh phải học có giá đắt gấp 3 hay 4 lần một người bình thường, tôi may mắn vượt qua được và hoàn toàn bình phục cho đến hiện tại đã rất nhiều năm trôi qua và không phát hiện di chứng, đôi khi cánh tay đau lên hoặc căng thẳng dẫn đến rất nhiều suy nghĩ dại dột nhưng rồi bằng cách nào đấy tôi cũng đã vượt qua được. minh cũng thế.

– Đó là cảm giác của Minh. Minh cũng từng thử chết rồi đấy chứ, nhưng vậy thì hèn lắm! Cuộc sống không quy định cho mình người đứng được mới là người có thể sống. – Nhưng sống mà không đi được thì làm sao? – Vì mình không muốn thôi, chứ cách thì lúc nào cũng có. Minh lúc ấy nghĩ chẳng lẽ mình cứ như vậy hoài. Sao mình không tập đi, Minh cũng tập đi nhưng T. biết gì không? Tập đi không đi được nhưng Minh vui lắm, vui vì mình tập được thứ khác nó lớn lao hơn nhiều và có lẽ nó là chìa khóa mở cánh cửa khác cho mình sống đến tận bây giờ.

Ngồi trên chiếc “chiến mã” của mình, Minh tự tin và cũng vô cùng tự hào vì “người bạn” song hành trên mọi nẻo đường. Lúc chúng tôi chụp ảnh cho Minh, mọi người xung quanh ai cũng trầm trồ rồi lại ngưỡng mộ khi nghe chúng tôi kể về những gì Minh làm.

– Minh tập vượt qua nhỉ?

phượt bằng xe tự chế từ nam ra bắc đã chinh phục 3 con đèo hiểm trở nhất việt nam

– Không phải tập vượt qua, mà tập chiến thắng! Vượt qua thôi không đủ đâu mà phải chiến thắng. Ở bất kỳ suy nghĩ nào Minh cũng đặt cho mình một cái luật, gọi là luật chiến thắng. Mình phải thắng suy nghĩ của mình bằng bất cứ giá nào. Đừng phục theo nó, mình sẽ thua vì nội tâm chính là kẻ thù của con người. Kể cả bây giờ, Minh đi đâu cũng thường nói với mọi người đừng tập quen khuyết điểm của mình, điều đó chỉ khiến mình trở thành một người mang khuyết điểm nặng nề. Dùng ưu điểm lấp khuyết điểm là cách mà Minh đã dùng rất nhiều năm, ưu điểm của mình là sự mạnh dạn, tự tin”.

Để thực hiện tất cả những chuyến đi, minh nhờ một thợ cơ khí cùng chế tạo một chiếc xe máy thành chiếc xe 3 bánh theo những phác thảo của mình. phần đầu và thân xe máy được tháo rời ra sau đó bên trên người ta lắp cho minh một khung sàn sắt đủ diện tích chứa một chiếc xe lăn. khi di chuyển chỉ cần hạ sàn cho xe lăn lên trên sau đó điều khiển bằng đầu xe máy. như vậy là chàng trai này cũng đã có thể thực hiện ước mơ bằng chiếc xe “thần thánh” có một không hai ấy, vào năm 2021 minh đến bạc liêu đánh dấu chuyến đi xa đầu tiên trong hành trình phượt bằng xe ba bánh của mình.

– Không hẳn, mình đi bằng tinh thần.

Chiếc xe đã được sửa lại, thêm một số phụ kiện và chức năng để giúp Minh di chuyển thuận lợi.

Minh vừa lăn xe ra khỏi quán, vừa kể cho tôi nghe hành trình phượt đà lạt cách đây một vài tháng của cậu ấy. không phải bắt đầu từ chúng tôi mà bắt đầu từ vĩnh long nơi cậu đang sống. bóng chúng tôi đổ xuống đường, nắng sớm không gay gắt quá nhưng quan trọng hơn hết là tôi được dịp hưởng một nguồn năng lượng không phải nhờ không gian tuyệt vời này mà nhờ một người đồng hành tuyệt vời.

Đây là những bức ảnh mà minh đã đi phượt trong hành trình lần đó.

Hơn 30 tỉnh thành là một số lượng không hề nhỏ với một người như Minh. Ngày xưa, từ giường ra đầu ngõ thôi tôi đã thấy kiệt sức, từng dây thần kinh cứ tê và đau đớn không ngừng, mồ hôi tuôn lã chã ngay cả khi tôi cảm thấy lạnh. 100 mét đã là mơ ước huống hồ là vài trăm cây số, chưa từng dám nghĩ đến.

Tôi hỏi về nơi Minh đến, hẳn là ai cũng sẽ nghĩ nói phải là một hành trình dễ đi hơn những nơi hiểm hóc như đèo núi, dốc đá cheo leo.

Đủ hiểu biết người ta sẽ chỉ cần sức khỏe

Minh kể về cơ ngơi mà cậu ấy gầy dựng được trong mấy năm vừa qua. Một shop mỹ phẩm và một cửa hàng cây cảnh giao hàng từ Nam ra Bắc.

“5 năm trước, hoa hồng nhập từ Thái Lan khá phổ biến nhưng ở miền Nam rất hiếm người bán nên người bán có thu nhập khá cao. Sau này khi người ta nhân giống được nên nguồn cây này khá đa dạng và không còn khan hiếm như trước đó. Lúc trước Minh tìm nguồn cây hoa hồng ở Thái Lan về, về phải dày công chăm sóc và cắt tỉa, chưa kể công vận chuyển và đầu tư về kiến thức. Vốn cao, công bỏ ra cũng cao nhưng bù lại mình bán được, có thể nói công việc này đã mang lại nguồn thu nhập tốt cho Minh, tạo điều kiện cho Minh đi đây đi đó”, Minh bộc bạch về công việc của mình.

Không ai có thể tưởng tượng được rằng trên chiếc xe lăn tự chế của mình, minh vận chuyển hàng chục chậu cây đi giao và hướng dẫn người ta cách bón cây và chăm sóc chúng.

“Minh định sẽ đi đến bao giờ?” “Minh không đặt ra chỉ tiêu mà khi sẵn sàng là Minh sẽ đi, có khi sẽ đi hết cả nước. Nếu năm nay không do dịch bệnh thì có lẽ mình đang ở Bắc rồi”.

Có đôi lúc tôi nghĩ để trưởng thành, tôi và Minh phải học một bài học đắt quá. Với người khác họ chỉ cần những lần vấp ngã rồi đứng lên, còn với cả hai chúng tôi, chúng tôi học cách tự lập, cách thích nghi, chúng tôi học cách vượt qua và học cảm hoá cả sự yếu mềm từng dày vò chúng tôi đến bên bờ vực của cái chết. Hôm nay gặp nhau, tôi và Minh đều ổn, rất vui và phấn khởi.

Tôi nhắc đến những nơi xa hơn và không thể di chuyển bằng xe máy, Minh trả lời bằng một phương tiện khác như mọi người đó là máy bay. “Máy bay không cấm người ngồi xe lăn!”

Chúng tôi cảm ơn cuộc đời vì những bài học… dẫu phải trả cái giá đắt ra sao!

Môi trường nhà nước không phù hợp, lương thấp, cựu sinh viên Luật mở quán bún đậu mắm tôm, thu nhập 30 triệu/tháng: “Nghề chọn người” quả không sai

Bảo Trân

Nguồn: CafeBiz (https://cafebiz.vn/chang-trai-di-phuot-bang-xe-lan-chinh-phuc-nhung-con-deo-hiem-tro-nhat-viet-nam-mat-10-nam-dinh-nghia-hai-tu-tu-do-bang-cach-chua-ai-tung-lam-20201113113955443.chn)

“Mình bỏ thời gian ra nghiên cứu lộ trình trước khi đi, nhờ đứa cháu mà Minh di chuyển thuận tiện hơn. Hoặc khi không có cháu thì mình đi một mình. Mọi sinh hoạt cá nhân mình đều tự làm được, gia đình chỉ cực một vài năm đầu sau đó Minh tự làm hết, mình đôi lúc cũng thấy mẹ mình sướng ở khoản này ấy chứ!”. – Mình không từ chối bất kì điểm đến nào cả. Hành trình vượt đèo, vượt núi của mình cũng gian truân lắm, từ Bảo Lộc, đèo Hải Vân, đèo Cả hay kể cả đỉnh Langbiang ở Lâm Đồng Minh đều đã chinh phục. Để nói nhớ nhất thì chắc là đỉnh Langbiang, đi lần đó về cứ tưởng mình không còn sống được, rách cả vai, trầy trật lắm thì mới tai qua nạn khỏi, trải qua rồi mình thấy mình liều lĩnh thôi!. – Chừa nhỉ? Rồi Minh sẽ thấy chúng ta cần nhất vẫn là sự an toàn! – Không phải. Chúng ta cần nhất là sức khỏe! “Người không đi được thì ước được đi. Vào viện rồi mới hiểu khao khát lớn nhất của đời người là sự khỏe mạnh. Nếu Minh không khỏe, ngày hôm nay sẽ không thể ngồi đây với mọi người. Nghe nó nhàm chán quá nhưng đủ hiểu biết thì sẽ chỉ cần sức khỏe, sức khỏe giúp mình có những thứ mình mong muốn”.

【#8】Định Nghĩa Từ Ơi Trong Tiếng Việt

Định Nghĩa Từ ơi Trong Tiếng Việt, Từ Định Nghĩa Trong Tiếng Anh, Định Nghĩa âm Tiết Trong Tiếng Anh, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, ý Nghĩa Câu Thơ Tiếng Việt ơi Tiếng Việt ân Tình, Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam, Những Tương Đồng Và Khác Biệt Của Từ Láy Trong Tiếng Việt Và Tiếng Hàn, Hướng Dẫn Viết Tiếng Việt Trong Proshow Producer 6.0, Hướng Dẫn Viết Tiếng Việt Trong Proshow Producer, Lợi Thế Trong Việc Học Tiếng Việt Của Người Biết Tiếng Hoa, Cơ Cấu Xã Hội Giai Cấp Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, ý Nghĩa Từ Vựng Tiếng Việt, Từ Đồng Nghĩa Tiếng Việt, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, Lớp Từ Xưng Hô Trong Tiếng êĐê (Đối Chiếu Với Tiếng Việt), Bài 14 Hệ Thống Chính Trị Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, Giáo Trình Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam, Đề Cương Từ Vựng Ngữ Nghĩa Tiếng Việt, Từ Điển Đồng Nghĩa Tiếng Việt, Time Discount – Nghĩa Tiếng Việt, Cách Viết Số 5 Trong Tiếng Việt, Những Dấu Hiệu Của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam Qua Sáng Tác Của Nguyễn Huy Thiệp V, Nguyên Lý Mác Lenin Vấn Đề Tôn Giáo Trong Tiến Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, Những Dấu Hiệu Của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam Qua Sáng Tác Của Nguyễn Huy Thiệp, Định Nghĩa Hai Góc So Le Trong, Định Nghĩa Trọng Tâm, Định Nghĩa ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây, Quy ước Gõ Văn Bản Trong Tiếng Việt, Định Nghĩa ở Việt Nam, Định Nghĩa Về Nguồn Gen Cây Trồng, Định Nghĩa 2 Góc Sole Trong, ý Nghĩa Tầm Quan Trọng Của Quy Định Số 08, Định Nghĩa Hai Góc Sole Trong, Định Nghĩa 4p Trong Marketing, Định Nghĩa 7p Trong Marketing, Cách Viết Giờ Trong Tiếng Anh, Viết Thư Trong Tiếng Pháp, Ngữ Văn 12 Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt, Ngữ Pháp Viết Lại Câu Trong Tiếng Anh, ổn Định Nghĩa Tiếng Anh Là Gì, Định Nghĩa Tiếng Anh, Định Nghĩa 3 Đường Cao Trong Tam Giác, Tính Mạch Lạc Trong Văn Bản Tiếng Việt, 4 Kỹ Năng Nghe Nói Đọc Viết Trong Tiếng Anh, Cach Dung Tu Va Dat Cau Trong Tieng Viet, Định Nghĩa ô Nhiễm Tiếng ồn, Định Nghĩa 5s Tiếng Nhật, Quyết Định Nghĩa Tiếng Anh Là Gì, Định Nghĩa Dòng Điện Trong Kim Loại, Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Được Quy Định Trong:, Bài Viết Mẫu Tiếng Nhật Trong Công Việc, Viết Về Kế Hoạch Trong Tương Lai Bằng Tiếng Anh, Cách Viết Phiên âm Tiếng Anh Trong Word, Về Xử Lý Tiếng Việt Trong Công Nghệ Thông Tin, Viết Về Kế Hoạch Trong Tương Lai Bằng Tiếng Hàn, Định Nghĩa Nào Về Dlst Của Hiệp Hội Du Lịch Việt Nam, Định Nghĩa Một Thủ Tục Dạng Public Trong Một Module Thì Có Thể Sử Dụng Nó Tro, Định Nghĩa Nào Đúng Với Chức Phán Sự Trong Truyện, Định Nghĩa Công Trong Trường Hợp Tổng Quát, Luận án Tiến Sĩ Hành Vi Nịnh Trong Tiếng Việt, Tiểu Luận Cách Dùng Từ Và Câu Trong Tiếng Việt, Tiểu Luận Cách Đặt Câu Và Dùng Từ Trong Tiếng Việt, Tìm Hiểu Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Dạy Học Môn Tiếng Việt, Cách Viết Bản Kiểm Điểm Trong Tiếng Nhật, Định Nghĩa ô Nhiễm Không Khí Bằng Tiếng Anh, Định Nghĩa Ethanol 90 Theo Dược Điển Việt Nam, Khảo Sát Thành Ngữ Tiếng Việt Trong Sách Giáo Khoa Từ Lớp 1 Đến Lớp 12, Về Từ Ngữ Địa Phương Trong Sách Giáo Khoa Tiếng Việt Bậc Tiểu Học, Quy Trình 4 Việc Trong Dạy Tiếng Việt 1 Công Nghệ Giáo Dục Là, Thực Trạng Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Y Nghia Cua Mo Hinh Ha Rrod Domar Trong Hoach Dinh Chinh Sach, Liên Hệ Với Những ưu Thế Của Nền Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Của Việt Nam, Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chỉ Nghĩa ở Việt Nam Bao Hàm Những Đặ Trưng Có Tính Phổ Biến Củ, Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Chưa Bao Hàm Những Đặc Trưng Có Tính Phổ B, Từ Quy Định Trong Tiếng Anh, Từ Quyết Định Trong Tiếng Anh Là Gì, Từ Quy Định Trong Tiếng Trung, Quyết Định Trong Tiếng Anh, Từ Quyết Định Trong Tiếng Anh, Lý Luận Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và ý Nghĩa Trong Việc Hình Thành Cộng Đồng Asean, Quy Định 72 Về Tổ Chức Đảng Trong Cand Việt Nam, Chỉ Thị Quy Định Về Xây Dựng Chính Quy Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Hướng Dẫn Viết Quyết Định Trong Doanh Nghiệp, Viet Ve Du Dinh Cuoi Tuan Bang Tieng Anh, Đề Kiểm Tra Định Kỳ Tiếng Việt Lớp 3 Theo Thông Tư 22/2016, Quyết Đinh Ban Hanh Quy Che Giao Duc Chính Tri Trong Quan Đôi Nhân Dân Việt Nam, Quy Chế Công Tác Gdct Trong QĐnd Việt Nam Và Dân Quân Tự Vệ (quyết Định Số: 438/qĐ-ct, Ngày 21/3/201, Quy Định Số 72-qĐ/tw, Ngày 24/2/2017 Của Bộ Chính Trị Về Tổ Chức Đảng Trong Cand Việt Nam, Quy Chế Công Tác Gdct Trong QĐnd Việt Nam Và Dân Quân Tự Vệ (quyết Định Số: 438/qĐ-ct, Ngày 21/3/201, Quy Định Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tổ Công Tác Dân Vận ở Đơn Vị Cơ Sở Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Na, Quy Định Số 92-qĐ/tw Của Bộ Chính Trị (khóa Xi) Về Tổ Chức Đảng Trong Công An Nhân Dân Việt Nam, Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Đường Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, Toàn Văn Quy Chế Công Tác Gdct Trong QĐnd Việt Nam Và Dân Quân Tự Vệ (quyết Định Số: 438/qĐ-ct, Ngày, Thong Tu Qui Đinh Kích Cỡ Biển Trong Danh Trại Quân Đọi Nhan Dan Viet Nam, Toàn Văn Quy Chế Công Tác Gdct Trong QĐnd Việt Nam Và Dân Quân Tự Vệ (quyết Định Số: 438/qĐ-ct, Ngày, Định Hướng Phát Triển Năng Lực Dạy Học Sinh Tiểu Học Môn Tiếng Việt, Nội Dung Quy Chế Gdct Trong QĐnd Và Dqtv Việt Nam(ban Hành Kèm Theo Quyết Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21/, Nội Dung Quy Chế Gdct Trong QĐnd Và Dqtv Việt Nam(ban Hành Kèm Theo Quyết Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21/,

Định Nghĩa Từ ơi Trong Tiếng Việt, Từ Định Nghĩa Trong Tiếng Anh, Định Nghĩa âm Tiết Trong Tiếng Anh, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, Trong 30 Năm Đổi Mới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hộ Chủ Nghĩa Việt Nam Tửng Bước Được Hình, ý Nghĩa Câu Thơ Tiếng Việt ơi Tiếng Việt ân Tình, Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam, Những Tương Đồng Và Khác Biệt Của Từ Láy Trong Tiếng Việt Và Tiếng Hàn, Hướng Dẫn Viết Tiếng Việt Trong Proshow Producer 6.0, Hướng Dẫn Viết Tiếng Việt Trong Proshow Producer, Lợi Thế Trong Việc Học Tiếng Việt Của Người Biết Tiếng Hoa, Cơ Cấu Xã Hội Giai Cấp Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, ý Nghĩa Từ Vựng Tiếng Việt, Từ Đồng Nghĩa Tiếng Việt, Từ Khái Niệm Trong Tiếng Anh Nghĩa Là Gì, Lớp Từ Xưng Hô Trong Tiếng êĐê (Đối Chiếu Với Tiếng Việt), Bài 14 Hệ Thống Chính Trị Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, Giáo Trình Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam, Đề Cương Từ Vựng Ngữ Nghĩa Tiếng Việt, Từ Điển Đồng Nghĩa Tiếng Việt, Time Discount – Nghĩa Tiếng Việt, Cách Viết Số 5 Trong Tiếng Việt, Những Dấu Hiệu Của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam Qua Sáng Tác Của Nguyễn Huy Thiệp V, Nguyên Lý Mác Lenin Vấn Đề Tôn Giáo Trong Tiến Trình Xây Dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, Những Dấu Hiệu Của Chủ Nghĩa Hậu Hiện Đại Trong Văn Học Việt Nam Qua Sáng Tác Của Nguyễn Huy Thiệp, Định Nghĩa Hai Góc So Le Trong, Định Nghĩa Trọng Tâm, Định Nghĩa ăn Quả Nhớ Kẻ Trồng Cây, Quy ước Gõ Văn Bản Trong Tiếng Việt, Định Nghĩa ở Việt Nam, Định Nghĩa Về Nguồn Gen Cây Trồng, Định Nghĩa 2 Góc Sole Trong, ý Nghĩa Tầm Quan Trọng Của Quy Định Số 08, Định Nghĩa Hai Góc Sole Trong, Định Nghĩa 4p Trong Marketing, Định Nghĩa 7p Trong Marketing, Cách Viết Giờ Trong Tiếng Anh, Viết Thư Trong Tiếng Pháp, Ngữ Văn 12 Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt, Ngữ Pháp Viết Lại Câu Trong Tiếng Anh, ổn Định Nghĩa Tiếng Anh Là Gì, Định Nghĩa Tiếng Anh, Định Nghĩa 3 Đường Cao Trong Tam Giác, Tính Mạch Lạc Trong Văn Bản Tiếng Việt, 4 Kỹ Năng Nghe Nói Đọc Viết Trong Tiếng Anh, Cach Dung Tu Va Dat Cau Trong Tieng Viet, Định Nghĩa ô Nhiễm Tiếng ồn, Định Nghĩa 5s Tiếng Nhật, Quyết Định Nghĩa Tiếng Anh Là Gì, Định Nghĩa Dòng Điện Trong Kim Loại,

【#9】Cách Tìm Giới Hạn Của Dãy Số Bằng Định Nghĩa Cực Hay

Cách tìm giới hạn của dãy số bằng định nghĩa cực hay

A. Phương pháp giải & Ví dụ

– Để chứng minh limu n = 1 ta chứng minh lim(u n-1) = 0.

– Để chứng minh limu n = -∞ ta chứng minh lim(-u n) = +∞

– Một dãy số nếu có giới hạn thì giới hạn đó là duy nhất.

Ví dụ minh họa

Bài 1: Chứng minh rằng:

Hướng dẫn:

Ta có:

Ta có:

Bài 2: Chứng minh rằng dãy số (u n ) : u n = (-1) n không có giới hạn.

Hướng dẫn:

Vì giới hạn của dãy số nếu có là duy nhất nên ta suy ra dãy (u n) không có giới hạn.

Bài 3: Chứng minh các giới hạn sau:

Hướng dẫn:

1. Với mọi số thực dương M lớn tùy ý, ta có:

Ta chọn

Do đó:

Ta chọn

Do đó:

Bài 4: Chứng minh rằng:

Hướng dẫn:

Ta có:

Ta có:

Ta có:

Bài 5: Chứng minh các giới hạn sau

Hướng dẫn:

2. Ta có

Ta có:

Bài 6: Dùng định nghĩa tìm các giới hạn sau :

Hướng dẫn:

Ta có:

Vậy A = 2

Ta có:

Vậy C = 1

Bài 7: Chứng minh rằng dãy số (u n): u n = (-1) n không có giới hạn.

Hướng dẫn:

Do đó dãy số đã cho không có giới hạn.

Bài 8: Chứng minh các giới hạn sau:

Hướng dẫn:

Ta có:

Từ đó suy ra:

2. Nếu a = 1 thì ta có đpcm

+

B. Bài tập vận dụng

Bài 1: Dãy số nào sau đây có giới hạn khác 0 ?

Đáp án: C

Cách 1.

= lim⁡1 + lim(1/n) = 1 + 0 = 1

Đáp án C

Chọn đáp án C

Bài 2: Dãy số nào sau đây có giới hạn bằng 0 ?

Bài 3: có giá trị bằng:

Đáp án: D

Đáp án là D

Nếu m < p thì limu n = 0. Nếu m = p thì

Bài 4: bằng:

Đáp án: A

Đáp án là A

Bài 5: bằng:

Đáp án: B

Đáp án là B

Bài 6: Dãy số nào sau đây có giưới hạn bằng 1/5 ?

Đáp án: A

Cách 1. Tính được

Bài 7: có giá trị bằng:

Bài 8: có giá trị bằng:

Bài 9: bằng:

Đáp án: B

Trước hết tính

Do đó

Đáp án là B

Bài 10: bằng:

A. -3 B.0 C. -∞ D. +∞

Đáp án: C

Ta có:

nên lim⁡(-3n 3 + 2n 2 – 5) = -∞

Đáp án C

A. -∞ B.0 C. 2 D. +∞

Bài 13: Dãy số nào sau đây có giưới hạn là +∞ ?

Đáp án: C

Đáp án là C

Bài 15: bằng:

A. 0 B.1 C. 2 D. +∞

Đáp án: B

Đáp án là B

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

【#10】Quyền Về Đời Sống Riêng Tư Theo Pháp Luật Dân Sự Việt Nam Hiện Hành

Trong thời đại công nghệ số hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc đưa các thông tin cá nhân của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau, đã dần trở nên quen thuộc. Việc làm này một mặt giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội, nhưng mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác đánh cắp thông tin để thực hiện những hành vi trái pháp luật như giả mạo bạn bè, người thân để lừa đảo, làm giả thẻ ngân hàng… Trong phạm vi bài viết, tác giả trình bày lịch sử phát triển quyền về đời sống riêng tư trên thế giới và quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về quyền về đời sống riêng tư.

Từ khóa: Quyền đời sống riêng tư, bí mật đời tư.

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (gọi chung là bí mật đời tư) là một trong những quyền cơ bản quan trọng nhất của con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.

Việc bảo vệ nó tưởng chừng như đơn giản, nhưng trên thực tế, sự vi phạm trong thời gian qua có thể nói là đang tràn lan, trở thành mối lo cho xã hội. Việc ngăn chặn sự xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân thực sự khó khăn trong kỷ nguyên internet này, khi mà thông tin được lan truyền rất nhanh chỉ sau một cái “nhấp” chuột máy tính, rất nhiều thông tin đời tư cá nhân đáng ra phải được bảo vệ bị phơi bày. Những người có thông tin cá nhân, hoặc người thân của họ bị tiết lộ đôi khi gặp quá nhiều rắc rối trong cuộc sống, khi kẻ xấu sử dụng thông tin của họ nhằm thực hiện hành vi phi pháp…

Trong thời đại công nghệ số hóa phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc đưa các thông tin cá nhân của mình lên mạng để sử dụng vào những mục đích khác nhau đã dần trở nên quen thuộc. Việc làm này một mặt giúp thuận tiện hơn trong việc sử dụng các dịch vụ xã hội, nhưng mặt trái của nó là tồn tại những nguy cơ bị người khác đánh cắp thông tin để thực hiện những hành vi trái pháp luật như giả mạo bạn bè, người thân để lừa đảo, làm giả thẻ ngân hàng…

Bên cạnh đó, không khó để tìm kiếm được trên mạng thông tin cá nhân, những bí mật gia đình, đời sống tình cảm riêng tư của một số chính trị gia, diễn viên, ca sĩ, người mẫu nổi tiếng, thậm chí là những ồn ào xung quanh vụ scandal trong giới showbiz. Chưa bàn tới việc những thông tin này khi đăng tải có được sự cho phép của người trong cuộc hay không, việc công khai những thông tin đó có thể dẫn đến tổn hại về tinh thần, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân người đó. Chính vì thế, việc biết được những thông tin cá nhân của mình có được pháp luật bảo vệ hay không, phạm vi thông tin cá nhân được bảo vệ như thế nào, mức độ bảo vệ ra sao… là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Đây chính là những quy định của pháp luật “quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”, một trong những quyền nhân thân cơ bản của cá nhân được pháp luật dân sự bảo vệ.

2. Lịch sử phát triển quyền về đời sống riêng tư trên thế giới.

Trong tác phẩm “Bàn về tự do”, Stuard Mill (1806 – 1873) đề cập tới sự tồn tại của 2 không gian đối lập, một thuộc về chính quyền quản lý, một dành cho cá nhân tự quản. Trước đó, sự phân biệt giữa không gian riêng và chung cũng đã được John Locke (1632 – 1704) đề cập gián tiếp trong tác phẩm “chuyên luận số hai về chính quyền”, khi bàn về tài sản, Locke cho rằng trong trạng thái tự nhiên của cải xã hội được giữ như là tài sản chung. Một cá nhân có quyền sở hữu đương nhiên đối với thân thể và tinh thần, thông qua lao động một cá nhân có thể sở hữu tài sản thông qua việc kết tinh lao động vào trong tài sản đó, biến nó thành tài sản cá nhân.

Những tư tưởng về quyền về đời sống riêng tư phát triển cực thịnh cùng với sự phát triển của tư tưởng về các quyền cơ bản của con người trong những năm 40 của thế kỷ 20. Ngày 10/12/1948, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. Trong đó, Điều 12 Tuyên ngôn này có ghi nhận về quyền riêng tư của cá nhân: “Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy”.

Để cụ thể hóa các quy định về quyền con người trong hiến chương Liên Hiệp quốc, hai công ước quốc tế đã ra đời vào ngày 16/12/1966: Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Tại Điều 17 Công ước về các quyền dân sự chính trị, Quyền riêng tư tiếp tục được đề cập: “1. Không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín; 2. Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”.

Thập kỷ 70 và khoảng thời gian sau nay là thời kỳ nở rộ của quyền riêng tư trên bình diện quốc tế, rất nhiều quốc gia ban hành những đạo luật nhằm bảo vệ dữ liệu điện tử và bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, có thể kể đến như: năm 1974, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về quyền riêng tư The Privacy Act; Năm 1977, nước Đức cho ban hành đạo luật Liên bang về bảo vệ thông tin (Federal data Protection act); Năm 1978, tại Pháp, Đạo luật bảo vệ thông tin dữ liệu ra đời; Năm 1981, Isarel ban hành Luật về quyền riêng tư; năm 1988 đến lượt Australia ban hành Đạo luật về quyền riêng tư; năm 1992 là Thụy Sỹ và năm 1998 và Vương quốc Anh.

Trong quá trình khảo cứu quy định về quyền về đời sống riêng tư thì thấy tại nhiều quốc gia trong họ luật Civil law, các quy định về quyền về đời sống riêng tư, các quy định về quyền về đời sống riêng tư được ghi nhận trong hiến pháp, luật dân sự và các luật chuyên ngành. Còn trong họ luật Common law, quy định định về quyền riêng tư được xây dựng thông qua các án lệ cũng như pháp luật thành văn, do đó bao quát được những lỗ hổng nhưng thiếu sót mà nhà nước chưa kịp ban hành quy định để giải quyết. Trong các quốc gia thuộc dòng họ Common law, Hoa kỳ là quốc gia có nền pháp lý phát triển nhất, hệ thống quy định của pháp luật Hoa Kỳ về về đời sống quyền riêng cũng rất phong phú đa dạng do đó rất cần phải quan tâm nghiên cứu.

Khi xét xử, bên cạnh việc viện dẫn các án lệ, các thẩm phán cũng dựa trên những nguyên tắc được ghi nhận trong các tuyển tập này để lập luận và đưa ra phán quyết.

Mục 652 tuyển tập số 02 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Reastatement of the law, second, Torts 652) có quy định về các dạng hành vi xâm phạm quyền riêng tư phải chịu trách nhiệm dân sự bao gồm:

– Xâm phạm không gian riêng tư (Instruction upon seclusion).

– Hành vi sử dụng tên tuổi và hình ảnh của người khác (Approriation of name or Likeeness).

– Hành vi công khai đời sống riêng tư (Publicity Given to Private Life).

– Công bố thông tin không có cơ sở đặt người khác vào tình huống gây hiểu lầm (Publicity that unreasonably places the other in a false light before the public).

Như vậy với 4 hành vi nêu trên có thể thấy rằng, nội dung của quyền riêng tư trong pháp luật dân sự Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là sự bảo vệ về khía cạnh thông tin cá nhân mà nó còn có sự giao thoa với các quyền dân sự khác: đó là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và nơi cư trú, quyền bất khả xâm phạm đối với thư tín, quyền của cá nhân đối với tên tuổi hình ảnh. Việc xây dựng các quy định về quyền riêng tư tại Hoa Kỳ, không xuất phát trên cơ sở lý luận pháp lý mà được thể hiện thông qua thực tiễn. Thông qua các cuộc trao đổi, bàn luận về quyền riêng tư xuyên suốt từ đầu thế kỷ 20, năm 1960, học giả William Prosser đã đưa ra hệ thống 4 hành vi xâm phạm tới quyền riêng tư (đã nêu trong chương I) làm tiền đề cho công tác xét xử của các tòa án, từ đó đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cho sự ra đời cho quy định về 04 hành vi xâm phạm riêng tư đã nêu ở trên. Trong 04 hành vi xâm phạm riêng tư theo pháp luật Mỹ thì hành vi đầu tiên (Instrusion upon seclusion) và hành vi thứ ba – Hành vi công khai đời sống riêng tư (Publicity Given to Private Life) là dễ dàng nhận thấy nó đúng là sự xâm phạm vào không gian riêng, phù hợp với những quan niệm của Việt Nam. Tuy nhiên, dạng hành vi thứ hai thì có vẻ giống với hành vi xâm phạm về hình ảnh, còn dạng hành vi thứ tư thì giống với hành vi xâm phạm về danh dự nhân phẩm. Như vậy có thể thấy, pháp luật Mỹ xây dựng, định hình các hành vi xâm phạm riêng tư thông qua hình thức (mặt khách quan) của hành vi mà hướng tới giá trị (khách thể) mà hành vi xâm hại. Sử dụng hình ảnh thì đối tượng tác động là hình ảnh, nhưng về bản chất là làm tổn thương tới đời sống tinh thần, sự riêng tư của cá nhân.

Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về quyền về đời sống riêng tư đó là vấn đề về truyền thống pháp lý, tuy nhiên có một điểm đáng ghi nhận của hệ thống Hoa Kỳ là môi trường lý luận và học thuật phát triển có sự tương tác với đời sống pháp lý, từ đó cho ra đời những quy định rất thiết thực phản ánh đúng bản chất của hành vi chứ không viễn vong xa vời. Hệ thống án lệ của Hoa Kỳ thực sự có giá trị trong việc xác định các hành vi khách quan xâm phạm riêng tư và đường lối xử lý, sao cho đảm bảo nguyên tắc stare decisis khỏa lấp được những thiết sót của pháp luật thành văn.

3. Quyền về đời sống riêng tư trong Luật Dân sự Việt Nam

Từ trước khi Bộ luật Dân sự 2021 được thông qua, hệ thống pháp lý của nước ta chỉ ghi nhận quyền bất khả xâm phạm về nơi cư trú và thư tín, trong hiến pháp 1992 và quyền bí mật đời tư trong Luật Dân sự 1995 và Luật Dân sự 2005 chưa có quy định trực tiếp về quyền về đời sống riêng tư.

Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (gọi chung là bí mật đời tư) là một trong những quyền cơ bản quan trọng nhất của con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.

Năm 2021, Bộ luật Dân sự 2021 với nhiều thay đổi, trong đó có sửa đổi về quyền bí mật đời tư trước đây trong Luật Dân sự 2005, cụ thể điều 38 BLDS 2021 quy đình rằng: “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình”.

BLDS năm 2021 quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là một quy định cần thiết, quan trọng và là một điểm nhấn phản ánh quan điểm lập pháp và trình độ lập pháp ở Việt Nam hiện nay. Nhân tố con người được bảo đảm thực hiện có hiệu quả và thể hiện rõ nhất bản chất của nhà nước pháp quyền, nhà nước của dân, do dân và vì dân. Điều 12 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc quy định: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân”.

Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy. Quyền con người được bảo đảm thực hiện đối với mỗi cá nhân cư trú trong phạm vi lãnh thổ đất nước mình, mà còn được bảo vệ trong trường hợp lưu trú tại một quốc gia khác.

Tại Điều 14 Công ước quốc tế về quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc quy định: “Không ai được phép can thiệp một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện vào cuộc sống gia đình, đời tư, nhà cửa, thư tín hoặc các phương thức giao tiếp khác”… Điều 44 Công ước này quy định: “Thừa nhận gia đình là một tế bào tự nhiên và cơ bản của xã hội và có quyền được xã hội và nhà nước bảo vệ…”.

Như vậy, Luật Dân sự 2021 thay đổi về mặt thuật ngữ, sửa đổi từ “bí mật đời tư” sang “quyền đối với đời sống riêng tư” bổ sung thêm cụm từ bí mật cá nhân, bí mật gia đình. Về mặt nội dung, khoản 1 của hai quy định năm 2005 và 2021 vẫn là thiết lập nguyên tắc bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ cho quyền nhân thân được quy định. Khoản 2 điều 38 BLDS 2021 bãi bỏ quy định tiết lộ thông tin trong trường hợp chủ thể của thông tin đã chết, mất năng lực hành vi, chưa đủ tuổi có năng lực hành vi dân sự. Khoản 3 điều 38 BLDS 2021 so với quy định của BLDS 2005, không có nhiều thay đổi. Khoản 4 quy định thêm về quyền riêng tư của các bên trong quan hệ hợp đồng (một quan hệ đặc trưng trong lĩnh vực dân sự).

Quy định của Bộ luật Dân sự 2021 chỉ có sự đổi mới về hình thức chứ chưa có sự đổi mới nhiều về mặt nội dung. Quy định về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình có 4 điểm mới là: thay đổi về mặt thuật ngữ để tránh khỏi những khúc mắc về khái niệm bí mật đời tư trước đây; bổ sung thêm dữ liệu điện tử tại khoản 3 cho phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin; bổ sung thêm quy định về bảo vệ thông tin trong giao dịch hợp đồng và cuối cùng là bổ sung nội dung quyền đối với bí mật gia đình.

Do những quan niệm pháp lý khác nhau cũng như đặc thù của hệ thống pháp lý mà pháp luật nước ta không có quy định ghi nhận trực tiếp quyền về đời sống riêng tư. Điều này không phải vấn đề lớn bởi lẽ quyền về đời sống riêng tư là một quyền năng mang tính ứng dụng rất cao có thể được quy định trong các trường hợp cụ thể, các điều luật cụ thể chứ không nhất thiết phải có một quy định trực tiếp về quyền riêng tư trong luật dân sự.

Quyền về bí mật đời tư trước đây hay quyền về đời sống riêng tư hiên nay đều chưa thể hiện hết các khía cạnh của quyền riêng tư, hai quyền này mới chỉ đảm bảo sự riêng tư về thông tin, bản chất của quyền riêng tư còn bao gồm sự riêng tư về thân thể, hình ảnh, nơi cư trú, và tự do hành động. Nếu đưa quyền về đời sống riêng tư vào trong Luật Dân sự, vô hình chung sẽ chồng chéo lên các quyền năng khác, cụ thể quyền riêng tư sẽ chồng chéo quyền đối với hình ảnh (mặc dù khách thể bảo vệ là khác nhau, nhưng đối tượng bảo vệ lại giống nhau), quyền về đời sống riêng tư sẽ chồng chéo với quyền tự do đi lại, quyền bất khả xâm phạm nơi cư trú.

Với những phân tích trên có thể thấy pháp luật dân sự nước ta quy định về quyền về đời sống riêng tư là khác so với quyền về đời sống riêng tư của một số quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên cần phải hiểu rằng, quyền về đời sống riêng tư là một lĩnh vực mang tính thực tiễn cao, những quy định về quyền về đời sống riêng tư được xây dựng trên cơ sở nhu cầu thực tế của xã hội, chứ không phải là thông qua quy định khung trong các đạo luật gốc như Hiến pháp, Luật Dân sự. Vấn đề hiện tại của Việt Nam không phải là sửa đổi Hiến pháp hay Bộ luật Dân sự để đưa quyền riêng tư vào, mà là xây dựng các đạo luật, các văn bản pháp luật chuyên ngành quy định bảo vệ đời sống riêng tư cho cá nhân. Hiện nay, Nhà nước ta cũng đã rất tích cực chủ động để sửa đổi các bộ luật hiện hành, bổ sung các quy định về riêng tư, ban hành những quy định mới bảo vệ sự riêng tư trong các lĩnh vực như thông tin mạng, báo chí truyền thông, tố tụng hình sự. Hơn nữa, với sự ra đời của nguồn luật mới là Án Lệ (theo Luật Tổ chức tòa án nhân dân 2014, Nghị quyết 03/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ của Hội đồng thẩm phán TANDTC), hy vọng rằng quá trình xây dựng và áp dụng các quy định để bảo vệ sự riêng tư sẽ diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn nữa ■

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Bộ luật Dân sự năm 2021 (Luật số: 91/2015/QH13 ngày 11/12/2015). 2. Thái Thị Tuyết Dung (2012), ”Quyền tiếp cận thông tin và quyền riêng tư ở Việt Nam và một số quốc gia”, Sách chuyên khảo, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; 3. Vũ Công Giao, Phạm Thị Hậu, ”Pháp luật bảo vệ quyền bí mật dữ liệu cá nhân trên thế giới và Việt Nam”, Tạp chí khoa học Nhà nước và Pháp luật số 2/2017, trang 67; 4. Phùng Trung Tập, ”Bí mật đời tư bất khả xâm phạm”, Tạp chí Luật học số 6/1996, trang 41; 5. ThS. Lê Văn Sua, ”Quyền bí mật đời tư cần được hướng dẫn cụ thể”, Tạp chí Luật sư Việt Nam số 5/2016, trang 27.

CAO THANH TAM

Institute of Resource Development, Tra Vinh University

ABSTRACT:

In the era of a rapid developed digital technology, the publishing your personal information on the Internet for different purposes has gradually become familiar. On the one hand, this activity makes it more convenient for us to use social services. On the other hand, this activity increases risks that our personal information could be stolen to commit illegal acts, such as impostures to commit frauds and making fake bank cards. This article is to propose the history of developing the right to a private life in the world and regulations of Vietnam of this legal issue.

Keywords: The right to a private life, private life.