Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học

--- Bài mới hơn ---

  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng
  • Phân Tích Khái Niệm Sản Xuất Vật Chất Và Tại Sao Quá Trình Sản Xuất Vật Chất Là Cơ Sở Của Sự Tồn Và Phát Triển Của Xã Hội
  • Họ tên: Nguyễn Ngọc Trâm Lớp: K3423 Đại học Luật Hà Nội BÀI TẬP CÁ NHÂN TUẦN Câu hỏi 8: Trong định nghĩa vật chất của Lênin, những cụm từ nào thể hiện việc Lênin đã giải quyết trên lập trường của chủ nghĩa Duy vật biện chứng hai mặt vấn đề cơ bản của triết học? BÀI LÀM Thế giới về bản chất là vật chất, và vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm. Xung quanh phạm trù này đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, có thể nói vật chất có mối liên hệ mật thiết và vai trò quan tọng với việc giải quyết hai vấn đề cơ bản của triết học. Nói về vật chất, Lênin đã đưa ra quan điểm “vật chất là một phạm trù rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được”. Với định nghĩa này, ta cần khẳng định rằng phạm trù vật chất là phạm trù rộng lớn nhất, chưa có phạm trù nào rộng hơn, vì thế không thể quy nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào như chủ nghĩa duy vật chất phác. Do vậy vật chất chỉ có thể được định nghĩa trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó: trong quan hệ đó vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Bằng phương pháp đó Lênin đã định nghĩa vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Định nghĩa về vật chất này của Lênin mang lại nhiều ý nghĩa to lớn đặc biệt là trong việc giải quyết hai vấn đề cơ bản của triết học đó là: giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau? cái nào quyết định cái nào? Thứ hai là con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Tại sao lại khẳng định như vậy? Bởi ở định nghĩa này Lênin đã phân biệt được những vấn đề quan trọng. Thứ nhất: “Vật chất là một phạm trù triết học” – cụm từ này đã phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng các dạng vật chất khác nhau. Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã khái quát được vật chất theo nghĩa rộng lớn, vật chất trong khái niệm của Lênin là vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra và cũng không mất đi. Trong khi đó, các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giới hạn, nó sinh ra, mất đi để chuyển hoá thành cái khác. Chính vì vậy, không thể đồng nhất vật chất nói chung và vật thể như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại đã làm. Thứ hai, trong nhận thức luận, khi vật chất đối lập với ý thức, cái quan trọng để nhận biết vật chất chính là thuộc tính khách quan, tức là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được vật chất để chỉ thực tại khách quan tồn tại sẽ lệ thuộc vào cảm giác. Ví dụ như hiện nay hạt quắc được coi là hạt nhân nhỏ nhất, trên thế giới mà các nhà khoa học mới phát hiện ra được xuất hiện trong 10-8 giây điều đó có nghĩa là tới nay con người mới nhận thức được nó và không vì thế mà tới nay nó mới xuất hiện, nó đã có mặt trong thế giới vật chất từ rất lâu. Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay giáp tiếp tác động đến giác quan của con người, ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh. Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh… ta có thể thấy rất nhiều dạng tồn tại cụ thể của vật chất mà ý thức con người có thể phản ánh được như ngọn lửa, khối băng khi trực tiếp trạm vào những dạng vật chất đó, ý thức phản ánh cho ta thấy màu sắc hình khối và cả cảm giác nóng, lạnh. Với những nội dung cơ bản này, phạm trù vật chất của Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn. Khẳng định vật chất là “thực tại khách quan được đem lại cho con người cảm giác”, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác “, Lênin đã thừa nhận rằng, trong nhận thức luận vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức có nghĩa là vật chất có trước và là cái quyết định ý thức. Vật chất là cái “được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh” Lênin đã nhấn mạnh rằng bằng những phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại phản ánh…) con người có thể nhận thức được thế giới vật chất. Với định nghĩa vật chất này, Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết, đã khắc phục được khiếm khuyết trong quan điểm siêu hình về vật chất. Ngoài ra nó còn có ý nghĩa to lớn là định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức mới của vật thể trong thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lê
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm Đó?
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm
  • 300 Câu Hỏi Trắc Nghiệm Lý Luận Chính Trị ( Có Đáp Án )1 100
  • Giải Bài Tập Trang 39, 40 Sgk Hình Học 12, Giải Toán Lớp 12 Bài 1, 2,
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Khái Niệm ‘lịch Sử’ Trong Sử Học
  • Khái Niệm ‘sử Luận’ Trong Sử Học
  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Đề tài : Vật chất với tư cách là phạm trù trong triết học Mac – Lê nin LỜI NÓI ĐẦU Vấn đề phạm trù là một trong những vấn đề cơ bản của bất kì một môn khoa học nào, đó là những khái niệm chung nhất và rộng nhất. Chủ nghĩa duy tâm coi phạm trù là những cấu tạo thuần tuý thuộc tư duy, tồn tại độc lập với thế giới khách quan. Khi định nghĩa các khái niệm, các phạm trù, các quy luật khoa học, triết học mac – xít xuất phát từ lí luận phản ánh biện chứng của chủ nghĩa duy vật cho rằng các sự vật và hiện tượng của hiện thực, các thuộc tính và quan hệ của chúng đều tồn tại ở bên ngoài và độc lập với quá trình nhận thức. ” Vấn đề học thuyết về vật chất và cấu tạo của vật chất. Đó là một phương tiện tốt để chống lại các ”nọc độc” cần gọi chủ nghĩa duy tâm và thuyết không thể biết là ”nọc độc”. (V.I Lê nin : Toàn tập) Phạm trù vật chất bao gồm tất cả các nét chung của mọi phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó phản ánh bản chất của hiện thực. Phạm trù vật chất bao gồm tất cả các nét chung của mọi phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó phản ánh bản chất vật chất của hiện thực. Phạm trù vật chất có ý nghĩa quan trọng vè nhận thức luận vì nó phản ánh nguồn gốc nhận thức, do đó xác định và chỉ đạo công việc nghiên cứu của tất cả các vấn đề khác của nhận thức. Phạm trù vật chất giữ một vị trí quan trọng so với các phạm trù khác của Triết học Mác – Lê nin, trước hết vì nó xác định rằng thế giới quan Mác – xít là thế giới quan duy vật, phép biện chứng Mác – xít là phép biện chứng duy vật và lí luận phát triển xã hội của chủ nghĩa Mác là lí luận duy vật. Trong khi phản ánh bản chất vật chất của thế giới bao gồm cả tự nhiên và khoa học, phạm trù vật chất gắn bó chặt chẽ với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Muốn nêu bật được nội dung triết học sâu sắc của phạm trù vật chất cần nghiên cứu lịch sử phát triển của nước, phân tích rõ nó đã được phong phú thêm cùng với sự phát triển của triết học duy vật và khoa học tự nhiên, đồng thời nó được kết tinh lại trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm như thế nào. Việc nghiên cứu sự phát triển của phạm trù vật chất trong lịch sử triết học đã làm cho sự hiểu biết của chúng ta về lí luận nhận thức chủ nghĩa duy vật biện chứng thêm phong phú. Phải nói rằng định nghĩa của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất với tư cách là một phạm trù triết học là sự tổng kết, sự tóm tắt về mặt lí luận, sự đúc kết toàn bộ lịch sử triết học và khoa học tự nhiên, toàn bộ lịch sử đấu tranh của chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, phép siêu hình và thuyết không thể biết. Lần đầu tiên triết học Mác – xít đã giải đáp một cách rõ ràng vấn đề khác nhau giữa vật chất với tính cách là một phạm trù triết học với các khái niệm phản ánh các thuộc tính nhất định và cấu tạo của vật chất, cũng như vấn đề liên hệ giữa khái niệm vật chất của triết học và các quan niệm cụ thể của khoa học tự nhiên về dạng riêng biệt của vật chất. NỘI DUNG I.Phạm trù vật chất trong thời kì cổ đại Quan điểm về vật chất trong triết học phương Đông cổ đại Điểm xuất phát và cơ sở của nhận thức là từ thực tiễn. Phạm trù triết học là kết quả hoạt động nhận thức và thực tiễn loài người. Trong quá trình lao động do quan sát nhiều lần, con người đã dần phát hiện những đặc tính mới của các sự vật xung quanh. Ấn Độ là một trong những nước đầu tiên mà triết học ra đời và bắt đầu phát triển, vào khoảng cuối thế kỉ II – đầu thế kỉ I trước công nguyên. Nhiều hệ thống triết học ấn độ trong thời gian này đã có các yếu tố duy vật và các khuynh hướng tìm ra một cách giải thích biện chứng các hiện tượng của tự nhiên, đồng thời truyền bá rộng rãi ý nghiệm về thuyết nguyên tử. Các quan điểm duy vật đầu tiên ấy đều gắn liền với việc thừa nhận một trong những dạng cụ thể của vật chất là cơ sở vật chất đầu tiên của thế giới như : Nước, lửa, không khí, ánh sáng. Các nhà duy vật khẳng định rằng thế giới vật chất phát sinh do sự kết hợp của các yếu tố vật chất do những quy luật vốn có của chúng. Quan niệm này còn mang tính chất trực quan, cảm tính khi cho rằng vật chất là tập hợp các yếu tố như : Lửa, nước, không khí, ánh sáng. Tuy nhiên nó cũng góp phần chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo khi thừa nhận sự tồn tại của thần linh và các lực lượng siêu tự nhiên, đã sáng tạo ra thế giới vật chất. Cũng giống như ở Ấn độ, các quan điểm duy vật ở Trung quốc cổ đại đã hình thành cùng với sự phát triển của các tri thức khoa học tự nhiên. Các nhà bác học Trung quốc cổ đại đã đúc kết các thành tựu của nhận thức về tự nhiên và ra sức đi tìm cơ sở đầu tiên của tất cả các vật thể và các quá trình tự nhiên. Để đạt được mục đích đó họ xuất phát từ sự xem xét trực tiếp các hiện tượng của tự nhiên. Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật chất phác ở Trung quốc cổ đại đã đạt tới một trình độ cao hơn ở Ấn độ. Ngay từ đầu thế kỉ XI và X Trước công nguyên các nhà tư tưởng của Trung quốc cổ đại đã cho rằng các nguyên tử vật chất : Nước, lửa, không khí và ánh sáng là những nguyên tố đầu tiên của thế giơi. Trong các nguyên thể vật chất ấy có hai mặt đối lập nhau : Khí dương và khí âm. Do sự tác động qua lại giữa các nguyên thể ấy, các vật thể được tạo ra và biến đổi. Thế kỉ VI đến thế kỉ IV trước công nguyên, trong lịch sử Trung quốc là thời kì đấu tranh của giai cấp gay gắt, chính trong thời kì này đã xuất hiện các trường phái triết học chủ yếu : Khổng Tử, Mặc Tử, Lão Tử…. Lão Tử đã cố chứng minh rằng vật chất là cơ sở tồn tại của thế giới, là nguồn gốc của tất cả mọi vật thể và hiện tượng, là bản chất của mọi đối tượng và quá trình. 2. Sự phát triển của các quan niệm về vật chất trong triết học Hy lạp cổ đại. Các quan điểm duy vật cổ đại về vật chất của các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại đã được tiếp tục phát triển trong triết học Hy lạp cổ đại ra đời vào thế kỉ VI trước công nguyên. Aristot cho rằng : Vật chất là cái tạo thành tất cả mọi vật, cái đầu tiên từ đó tất cả mọi vật đều khai sinh. Theo Ta – let các vật thể riêng biệt đều là những biến thể, những sản phẩm của nước, một nguyên thể vật chất không biến đổi và không bị tiêu diệt. Thức ăn của mọi sinh vật đều ẩm ướt, hạt giống của tất cả mọi vật đều có bản chất ẩm ướt mà nguồn gốc của các vật thể ẩm ướt theo Ta-let chính là nước. Anaximen khẳng định nguyên thể đầu tiên ấy chính là không khí còn Hêraclit lại cho rằng đó là lửa. Xu hướng thống trị trong triết học duy vật thời bấy giờ là sự thừa nhận một nguyên thể vật chất dưới dạng những vật thể cảm tính cụ thể riêng biệt.Họ chỉ ra rằng trạng thái của vật chất và các đặc tính của nó đều biến đổi,nhưng bản thân nó thì không sinh ra và cũng không chết đi mà tồn tại vĩnh viễn, sự vận động của nó là một quá trình tự nhiên không phụ thuộc vào bất kì một lưc lượng siêu tự nhiên nào. Angghen đã nhận xét rằng : ” Chủ nghĩa duy vật biện chứng Hylạp cổ đại có tính thống nhất của những hiện tượng tự nhiên muôn hình muôn vẻ là một điều hiển nhiên và đi tìm tính thống nhất đó ở một cái gì hữu hình, rõ rệt ở một cái gì đặc biệt, chẳng hạn Talet đã đi tìm ở nước.” Những ngưòi sáng tạo ra thuyết nguyên tử của Hylạp cổ đại như Đêmôcrit cho rằng trong thế giới có cái tồn tại là nguyên tử. Nguyên tử là những hạt không thể phân chia,không thể thâm nhập,đồng nhất về bản chất nhưng khác nhau về hình thức .Sự hợp nhất và tách rời các nguyên tử theo trật tự khác nhau tạo nên tính muôn vẻ của vật chất. Một cống hiến quan trọng của Đêmôcrit là ông đặt vấn đề xem vật chất như một phạm trù triết học. Nhưng những người theo chủ nghĩa duy tâm như Platon thì cho rằng ý niệm là cái có trước và tồn tại vĩnh viễn, ý niệm sản sinh ra mọi hiện tượng tự nhiên, thế giới ý niệm có trước thế giới các sự vật cảm biết. Theo Platon thế giới ý niệm hoàn thiện và ưu việt hơn thế giới các sự vật cảm biết do chúng không vận động và biến đổi. Theo quan điểm của ông đối tượng của tri thức không phải là các vật thể của quá trình tự nhiên mà là những bản chất tinh thần, ông không quan tâm đến thế giới vật chất vì theo ông đó là thế giới của những hình ảnh tưởng tượng, những hình bóng. 3. Đánh giá những cống hiến của triết học cổ đại về quan niệm vật chất. Triết học cổ đại đã có những cống hiến quan trọng đối với việc phát triển học thuyết về vật chất. Các nhà duy vật cổ đại đã nêu nên những tác phẩm thiên tài về học thuyết vật chất với tính cách là phạm trù triết học và cấu tạo của vật chất. II. Quan điểm vật chất trong thời kì trung cổ và cận đại 1. Các quan điểm vật chất trong thời kì trung cổ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm tiếp diễn trong thời kì trung cổ từ thế kỉ thứ V đến thể kỉ XIV ở cả phương Đông và Tây âu. Ở Tây âu diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy danh và chủ nghĩa duy thực. Các nhà duy danh coi các vật thể cá biệt tồn tại khách quan và được nhận biết bằng cảm giác có trước các ý niệm chung. Ngược lại, các nhà duy thực cho rằng các ý niệm chung có trước các vật thể. Các tư tưởng của phái duy danh đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà triết học duy vật Anh như : Hop-xo và J.Lôc-cơ. Mac viết rằng : Chủ nghĩa duy danh là một trong những yếu tố chính ở các nhà duy vật Anh nói chung là sự biểu hiện đầu tiên của chủ nghĩa duy vật. 2.Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm về tính vật chất của thế giới. Các quan điểm duy vật về tự nhiên và vật chất đã được phát triển trong cuộc đấu tranh quyết liệt với hệ tư tưởng phong kiến. Trọng tâm của cuộc đấu tranh giữa khoa học và tôn giáo trong thời kì Phục Hưng là quan hệ giữa Trời và Đất. Theo quan điểm của triết học kinh viện trung cổ, Trái đất là trung tâm của vũ trụ, tuyệt đối không vận động, Trời là bản chất tồn tại của các lực lượng siêu nhiên. Việc sáng tạo ra học thuyết lấy Mặt trời làm trung tâm của thế giới, là cơ sở của thiên văn học, khoa học đã xoá bỏ ranh giới thần bí giữa Trái đất và các thiên thể. Khoa học chỉ ra rằng Trời không phải là nơi chứa các lực lượng siêu tự nhiên, nó cũng là vật chất và vận động theo quy luật bên trong vốn có của nó. Bruno đã chỉ ra rằng xét về phương diện vật chất và thực thể vật chất cũng như xét về những quy luật thống nhất đã chi phối Trời và Đất thì thế giới là thống nhất, nghĩa là tính thống nhất của thế giới ở tính vật chất của thế giới. Bruno coi vật chất là nguyên nhân và nguồn gốc của tất cả mọi hiện tượng tự nhiên, là nền tảng và cơ sở của hiện thực vì sự biến đổi của vật chất sinh ra tính nhiểu vẻ của hiện thực. 3.Vật chất là phạm trù của tồn tại khách quan. F.Bêcơn là người sáng lập ra ” Hình thức mới” của chủ nghĩa duy vật ở Anh. Ông đã nghiên cứu những quan điểm triết học của mình về vật chất trong cuộc đấu tranh với triết học kinh viện. Ông cho rằng đối tượng chân chính của nhận thức là vật chất, cấu tạo của vật chất và sự biến hoá của vật chất. Ông phê phán quan niệm của chủ nghĩa kinh viện, lấy các khái niệm trừu tượng làm điểm xuất phát. Đối với Bêcơn : Vật chất, tự nhiên tồn tại ở bên ngoài độc lập với ý thức và chỉ được nhận thức băng giác quan của chúng ta. Chỉ có thể hiểu được các quy luật của tự nhiên, cấu tạo của tự nhiên mới có thể nắm giữ được các lực lượng tự nhiên bắt nó phục vụ con người. Mac viết : ”ở Bê cơn người sáng tạo đầu tiên ra chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa duy vật mạng trong mình nó những mầm mống của sự phát triển toàn diện, dù là còn dưới hình thức mộc mạc.” Bê cơn xuất phát từ chỗ cho rằng vật chất có tính chất hoạt động, nhiều hình vẻ và vận động là thuộc tính quan trọng của nó. Theo Bê cơn có cả thảy 19 hình thức vận động nhưng ông lại đưa tất cả về hình thức vận động chung : Vận động cơ giới. Đây là hạn chế trong quan điểm của ông về các hình thức vận động. Người sáng lập ra một trào lưu triết học khác đấu tranh chống lại học thuyết kinh viện là Đề cac tơ – nhà triết học, nhà bác học nổi tiếng của nước Pháp. Ông và những học trò của ông những người theo phái Đềcáctơ giải thích rằng thế giới chỉ xuất phát từ vật chất và vận động. Công lao vĩ đại nhất của Đề các là đã nêu lên nguyên tắc bảo toàn số lượng vận động đó là định luật bảo toàn năng lượng về mặt số lượng. Cố gắng của Đề các nhằm giải thích tất cả các hiện tượng của tự nhiên, xuất phát từ nguyên tắc thống nhất của vận động. Như thế ở Đề các tơ vật chất là sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng của hiện thực. Tuy nhiên Đề các tơ vẫn không thoát khỏi quan điểm siêu hình khi xem xét cấu tạo của vật chất cho rằng vật chất không tách rời với vận động cơ học. 4.Phạm trù vật chất trong triết học trong cổ điển Đức ( cuối XVIII – nửa đầu XIX) Trong triết học cổ điển Đức thì Hêghen là nhà triết học mang trong đầu nhiều nhiều tư tưởng có tính mâu thuẫn. Ông vừa là nhà duy vật nhưng cũng đồng thời là nhà duy tâm. Theo quan điểm của Hê ghen thì “một tinh thần tuyệt đối” nào đó tồn tại trước khi có tự nhiên và con người. Tinh thần là cái có trước và vĩnh viễn còn tự nhiên là cái có sau và do tinh thần sản sinh ra. Ông cho rằng toàn bộ tính nhiều vẻ của hiện tượng tự nhiên, xã hội chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối. Theo quan niệm của ông những thực tế đem lại cho chúng ta trong cảm giác không phải là hiện thực. Vật chất với tính cách là một phạm trù, ở Hê ghen được xem như một trình độ phát triển nhất định và sự tự ý thức của tinh thần tuyệt đối. ậ Hêghen các phạm trù : thực tại, tồn tại, vật thể, hiện thực khách quan đều được xem như những trình độ phát triển, trình độ nhận thức về những ý niệm tuyệt đối, những hình thức phát triển trừu tượng của tư duy thuần tuý. Ông viết rằng : ” Không có vật chất không vận động, điều đó cũng đúng như không có sự vận động nào không có vật chất” nhưng cần thấy rằng ở Hê ghen vật chất chỉ như một cái gì đó ở bên ngoài, có thể nhân thức được bằng tri giác, bằng cảm tính, còn vận động chỉ như là sự thay đổi vị trí giản đơn trong không gian, là sự lặp lại cái đã từng tồn tại. Đóng ghóp quan trọng của Hê ghen là đã phát biểu một loạt những dự đoán biện chứng có giá trị về mặt bản chất của thế giới khách quan sau này những dự đoán đó được chủ nghĩa duy vật tiếp tục phát triển thành hệ thống hoàn chỉnh. Đến thế kỉ XIX các quan điểm duy vật về vật chất đã được nhà triết học duy vật Phơ – bách phát triển. Phơ – bách bảo vệ chủ nghĩa duy vật, những quan điểm của ông về vật chất trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm của Hê ghen. Phơ – bách khẳng định rằng : “Đặc trưng cơ bản của tồn tại khách quan, của tồn tại bên ngoài tư duy là tính cảm giác được”. Theo quan niệm của Phơ – bách thì các vật thể không những tồn tại ở bên ngoài, độc lập với tư duy mà nó còn là đối tượng tác động vào các giác quan của con người và được các giác quan phản ánh. Ông phê phán quan điểm của thuyết không thể biết ở chỗ cho rằng : ” vật tự nó là một cái trừu tượng, không có thực”. Nhưng trong khi khẳng định tính khách quan của tự nhiên, tính có thể nhận thức và tính nhiều màu vẻ của nó. Phơ – bách không nêu lên được một định nghĩa tổng hợp về phạm trù triết học vật chất. Ông đã đem đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó. Phơ – bách coi vật chất là cái đang vận động trong không gian và thời gian có thuộc tính căn bản là vận động. III. Phạm trù vật chất và vấn đề cơ bản của triết học 1. Định nghĩa vật chất với tính cách là phạm trù triết học Theo định nghĩa của Ănghen, chủ nghĩa duy vật là thế giới quan chung dựa trên cơ sở một quan niệm nhất định về quan hệ giữa vật chất và tinh thần. Vì vậy, Lê Nin đã coi sự phủ nhận vật chất là hiện thực khách quan như sự phủ nhận những cơ sở của thế giới quan Mác – xít. Phạm trù vật chất trong chủ nghĩa duy vật biện chứng không còn là khái niệm hẹp dùng để chỉ các chất, các nguyên tử, mà là khái niệm cựu kì rộng bao trùm toàn bộ thực tại khách quan. Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã gác lại thuộc tính cụ thể sẵn có của các dạng cụ thể của vật chất, các mối liên hệ, quan hệ giữa các thuộc tính ấy với nhau mà nêu bật lên cái bản chất chủ yếu trong các thuộc tính ấy và tính khách quan của chúng. Bản chất của các phạm trù triết học là ở chỗ chúng phản ánh các mặt, các mối liên hệ phổ biến của các đối tượng và các quá trình của hiện thực. Công lao của C.Mác và F.Ănghen là chứng minh được rằng vấn đề quan hệ giữa ý thức với vật chất là vấn đề cơ bản của triết học, rằng giải quyết vấn đề này, xét cho cùng quyết định bản chất của mỗi hệ thống triết học, quyết định tính Đảng của người sáng lập ra hệ thống đó. Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chứng minh rằng vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và như thế là có trước ý thức, ý thức do vật chất sản sinh ra. Ý thức là sản phẩm và kết quả phát triển của vật chất, là thuộc tính của vật chất. Vật chất là nguồn gốc và là nguyên nhân của các cảm giác, biểu tượng, tư tưởng….xem như tập hợp các hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nhờ thực hiện triệt để chủ nghĩa duy vật trong giải thích các hiện tượng của tự nhiên và xã hội nên C.Mác và F.Ănghen đã xây dựng được một cách toàn diện một trong những nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng là nguyên lý về tính vật chất và tính thống nhất của thế giới. Dựa vào các nguyên lý ấy và toàn bộ các tư tưởng phong phú của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đúc kết các thành tựu quan trọng nhất của khoa học sau này, khi Ănghen mất, trong những điều kiện mới, V.I Lê nin đã phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác và lần đầu tiên nêu lên trong lịch sử triết học duy vật định nghĩa sâu sắc về vật chất với tính cách là một phạm trù triết học. V.I Lênin chỉ ra rằng : Để định nghĩa phạm trù có tính vật chất không thể sử dụng những phương pháp quen thuộc trong lôgic học. Để định nghĩa vật chất phải xét nó trong quan hệ với ý thức, nghĩa là giải quyết một cách khoa học vấn đề cơ bản của triết học: Vấn đề quan hệ của ý thức với vật chất. V.I Lênin nêu lên một định nghĩa sâu sắc, triệt để và khoa học nhất về vật chất. Lênin định nghĩa rằng : ” Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, nghĩa là được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh lại và tồn tại độc lập với các cảm giác ấy”. Định nghĩa mở rộng của Lê nin giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là có thể nhận thức được thế giới khách quan. Định nghĩa kinh điển này nêu ra những đặc điểm quan trọng nhất của vật chất : nó là cái có trước và có thể nhận thức được, được đem lại trong cảm giác. 2. Vật chất – vấn đề cơ bản của triết học Trong thế giới tồn tại rất nhiều những hiện tượng phong phú và đa dạng nhưng nếu khái quát lại thì có những hiện tượng thuộc về tự nhiên và những hiện tượng thuộc về tinh thần hay mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Có rất nhiều nhà triết học đi nghiên cứu về vấn đề này, giữa họ có những tranh cãi xung quanh vật chất- ý thức tạo nên hai trường phái triết học : Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Chúng ta đã biết những vấn đề cơ bản của triết học được Ănghen nêu ra một cách đầy đủ nhất trong “Lut vich Phơ – bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. Khi nêu ra vấn đề cơ bản của triết học Ănghen đã nêu ra cách giải quyết duy tâm của Hê ghen và chỉ ra rằng cách giải quyết theo chủ nghĩa duy tâm có nguyên nhân lịch sử do gắn liền với quan niệm chật hẹp của xã hội, quan niệm về tôn giáo. Ănghen đặc biệt chú trọng phê phán cách giải quyết của chủ nghĩa duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học : ” Những người nào quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên và do đó cuối cùng thừa nhận rằng thế giới đã được sáng tạo ra bằng cách này hay cách khác đều thuộc về phái duy tâm. Ngược lại những người nào cho rằng tự nhiên là yếu tố có trước, thì đều thuộc về các trường phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.” Như vậy thì cách giải quyết duy vật về vấn đề cơ bản của triết học của Ănghen là nhằm chống lại tất cả các biến tướng của chủ nghĩa duy tâm đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm khách quan. Lê nin cũng đặc biệt chú ý phê phán chủ nghĩa duy tâm chủ quan ở chỗ chủ nghĩa duy tâm cho rằng khách thể không tồn tại ở ngoài tâm trí, khách thể là những phức hợp cảm giác. IV. Tính vật chất và tính thống nhất của thế giới. 1. Tính vật chất của thế giới Trong ” Chống Đuyrinh” Ănghen viết : ” Tính thống nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, mà tính vật chất ấy chỉ được chứng minh bởi sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên”. Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là thế giới quan khoa học xây dựng những kết luận của nó trên cơ sở những dữ kiện của khoa học về các thuộc tính và các quy luật phát triển của thế giới. Lênin đã nêu lên hai đặc điểm của vật chất xem như một thực tại khách quan : Sự độc lập của vật chất với ý thức với tinh thần và khả năng của nó tác động vào ý thức, nghĩa là được phản ánh trong cảm giác. Trước hết, thuộc tính của tất cả mọi sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh ta là thuộc tính tồn tại khách quan. Thứ hai, các vật thể và hiện tượng đều mang tính chất cảm giác chứ không phải là siêu cảm giác, siêu tự nhiên. Phủ nhận các nguyên lý đó thì sẽ không thể nào nêu lên được những mối liên hệ qua lại và những mối quan hệ giữa các mặt của thế giới vật chất, không thể nghiên cứu được một cách có ý thức, quy luật phát triển của các dạng vật chất riêng lẻ, cũng như cấu tạo và thuộc tính của chúng. 2. Sự gắn liền giữa vật chất và vận động Triết học Mac – xit không phải chỉ xây dựng và xác minh quan điểm về sự có trước của vật chất và tính vật chất của thế giới mà còn nghiên cứu các thuộc tính bên trong quan trọng nhất của nó ở trạng thái vận động, cũng như các hình thái tồn tại của vật chất. Cách giải quyết duy vật biện chứng triệt để về vấn đề liên hệ giữa vật chất với vận động, giữa vật chất đang vận đông với các hình thức tồn tại của vật chất là một phạm trù hiện thực. Triết học Mac-xit cho rằng vận động là một thuộc tính gắn liền với vật chất, vận động là hình thức, là phượng thức vận động của vật chất. Vận động là sự biến đổi của vật chất, sự chuyển hoá từ những hình thức này sang những hình thức khác. Nguyên nhân và nguồng gốc của vận động nằm trong các mâu thuẫn bên trong của vật thể, các hiện tượng. Vận động của vật chất là tự thân vận động, không thể tách rời giữa vật chất và vận động vì vật chất là vật chứa vận động là nội dung và thực thể của vận động, còn vận động là hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính của nó. Nếu tất cả mọi hiện tượng và quá trình của thế giới bên ngoài đều có tính vật chất, đều là kết quả của vật chất đang vận động thì thế giới là một thể thống nhất hoàn chỉnh. Thế giới về bản chất là thống nhất và sự thống nhất của thế giới ở tính vật chất. Nhưng nếu coi thế giới như một tổng thể các vật thể giản đơn và hiện tượng riêng lẻ không liên hệ với nhau, không có tác động qua lại với nhau, không vận động thì chúng ta không bao giờ quan niệm được tính thống nhất vật chất của thế giới. Ănghen cho rằng : Chỉ có trong vận động các thuộc tính của các vật thể mới được biểu lộ ra, rằng : “bản chất của vật thể vận động là rút ra từ các hình thức của vận động”. Ănghen chỉ ra rằng sự phát triển của các hình thức trong vận động giản đơn nhất đến các hình thức cao làm cho vật chất đang vận động trở nên phức tạp. Theo các nhà duy vật biện chứng thì có năm hình thức vận động : Vận động cơ học, vận động vật lý, vận động hoá học, vận động sinh học, vận động xã hội. Trong đó vận động xã hội là hình thức vận động cao nhất. Với quan điểm giải thích tất cả các hiện tượng của hiện thực là những hình thức vận động khác nhau của vật chất, có liên hệ và chuyển hoá cho nhau, phép biện chứng đã đồng thời khẳng định quan điểm duy vật với tự nhiên không dành chỗ đứng cho các lực lượng siêu tự nhiên, thần linh. Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu phạm trù vật chất giúp chúng ta chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Vật chất có trước ý thức nên trước khi đưa ra quyết định phải xem xét thật kỹ những yếu tố bản chất tất yếu bên trong mỗi sự vật hiện tượng, nghiên cứu nó trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác để không mắc sai lầm trong định hướng hoạt động thực tiễn. Góp phần tạo hiệu quả trong công việc của mỗi đơn vị, tổ chức, mỗi nghành, mỗi địa phương. 2. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu phạm trù vật chất trong triết học có ý nghĩa chỉ đạo phổ biến về mặt thế giới quan cũng như về mặt phương pháp luận đối với tất cả mọi nghành khoa học và đối vơi mọi hoạt động thực tiễn của con người. Phạm trù vật chất có ý nghĩa quan trọng về nhận thức luận vì nó phản ánh nguồn gốc, nhận thức và do đó chỉ đạo công việc nghiên cứu tất cả các vấn đề khác của lý luận nhận thức. Là điểm xuất phát giải quyết các vấn đề của lôgic biện chứng. D. KẾT LUẬN Thời đại quá độ hiện nay từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời đại đấu tranh tư tưởng cực kì gay gắt giữa thế giới quan của tư sản phản động và thế giới quan của giai cấp vô sản cách mạng. Do đó đòi hỏi chúng ta phải tuyên truyền mạnh mẽ các tư tưởng của chủ nghĩa Mac – Lê nin cũng như phải phát triển hơn nữa một số nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng trên cơ sở đúc kết thực tiễn trong công cuộc xây dựng CNXH và chủ nghĩa cộng sản cũng như trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Nghiên cứu phạm trù vật chất giúp con người giải quyết được các vấn đề quan trọng nhất của lí luận nhận thức. Vấn đề vật chất với tính cách là một phạm trù triết học luôn luôn là một vấn đề trung tâm được các nhà triết học Mac-xit đặc biệt chú ý. Đó là vũ khí chống lại những tư tưởng duy tâm thần bí, quan điểm tôn giáo xung quanh vấn đề vật chất. Giúp con người định hướng các hoạt động thực tiễn đi đúng các quy luật khách quan của nhận thức. E. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Triết học ấn độ cổ đại 2. V.I Lê nin toàn tập : Tập 1, 5, 14, 38 3. F.Ănghen : Biện chứng của tự nhiên 4. Hêghen toàn tập 5. Lịch sử triết học 6. C.Mác và Ănghen toàn tập : Tập 1, tập 2 7. Chống Đuyrinh – Ănghen 8. Những vấn đề triết học 9. C.Mác và Ănghen : Các tác phẩm cổ đại. 10. Giáo trình triết học : Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Phương Đông
  • Có Những Quan Niệm Về Con Người Cá Nhân Ở Phương Đông Không?
  • Nhận Thức Luận Trong Triết Học Cổ Điển Ấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Nét Về Nhận Thức Luận Trong Triết Học Phật Giáo
  • Phạm Trù Là Gì? Vấn Đề Liên Quan Đến Phạm Trù Trong Triết Học
  • Có Những Quan Niệm Về Con Người Cá Nhân Ở Phương Đông Không?
  • Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Phương Đông
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, chúng tôi ước mong được sự lượng thứ của các bậc cao minh. Những sự sửa sai và bổ khuyết của quý vị độc giả sẽ giúp bài viết này được đầy đủ và hoàn hảo hơn trong lần viết lại; đó quả là niềm vinh hạnh cho chúng tôi.

    NVT

    Trong bài ” Nhận thức luận trong triết học cổ điển Ấn độ và trong triết học ” (Epistemology in Classical Indian Philosophy and in Buddhist Philosophy) chúng tôi sẽ trình bày:

    Phần I: Dẫn nhập:

    – Định nghĩa: Nhận thức luận.

    Phần II: Nhận thức luận trong:

    I.- triết học cổ điển Ấn độ: có 6 nguồn của nhận thức.

    II.- trường phái Nyaya: chỉ chấp nhận 4 trong 6 nguồn của nhận thức.

    Phần III: Nhận thức luận Phật giáo trong thời kỳ Phật giáo nguyên thủy/ Phật giáo sơ kỳ ( Original Buddhism/ Early Buddhism).

    Phần IV: Nhận thức luận Phật giáo trong thời kỳ Phật giáo Phát triển ( Developmental Buddhism)/ Phật giáo Đại thừa ( Srt. Mahayana/ Great Vehicle):

    I.-Nhận thức luận của Vasubandhu (Thế Thân).

    II.-Nhận thức luận của Dignaga (Trần Na).

    III.-Nhận thức luận của Dharmakirti (Pháp Xứng)

    Phần V : Tổng kết.

    Trong lịch sử triết học Tây phương cũng như trong lịch sử triết học Đông phương, ” nhận thức luận ” đã đóng góp cho sự phát triển tư tưởng triết học của các trường phái triết học.

    Trước hết chúng tôi sẽ tìm hiểu ý nghĩa của nhận thức luận.

    Nhận thức luận ( Epistemology) hay tri thức luận có mục đích nghiên cứu về nhận thức hay tri thức (knowledge), và sự phán đoán niềm tin của tri thức. Nhận thức luận nghiên cứu các vấn đề chính yếu sau đây:

    a. Nguồn gốc của tri thức, của cái biết.

    b. Khả năng và giới hạn của tri thức.

    Một thuật ngữ của nhận thức luận (epistemological term) trong triết học Ấn độ và trong triết học Phật giáo là Pramana, tiếng Sanskrit, có nghĩa là ” đo lường” (Av. measure); Tàu dịch là lượng có nghĩa là tính toán, đo lường, suy luận. Thuật ngữ này nhằm chỉ các phương tiện nhờ chúng mà con người mới có thể đạt được một sự hiểu biết chính xác và đúng đắn (obtaining accurate and valid knowledge) trong thế tục. Để đạt được Prama (Av. correct knowledge) hay một tri thức đúng đắn thì phải sử dụng phương cách tính toán đo lường (Srt. Pramana, Av.Sources of Knowledge/ Means of knowledge).

    Trong triết học, giữa Luận Lý Học (Logic) và Siêu Hình Học (Metaphysics) có một mối tương quan rất mật thiết. Luận Lý Học có những lãnh vực chính yếu là Nhận thức luận, Phương pháp luận.

    Phần II: Nhận thức luận trong triết học cổ điển Ấn độ và trong trường phái Nyaya.

    Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày:

    1.-Tri giác.

    2.-Suy luận.

    3.-Lý luận loại suy.

    4.-Lời chứng

    5.-Giả định.

    6.-Không-tri giác.

    II.-Nhận thức luận trong trường phái Nyaya: có 4 nguồn của nhận thức.

    1.-Tri giác.

    a.-Loại tri giác bình thường.

    b.-Loại tri giác phi thường.

    2.-Suy luận:

    2.-2.-Cấu trúc của suy luận: Luận thức có-5-bước (Ngũ chi tác pháp).

    2.-3.-Giải thích cấu trúc suy luận của trường phái Nyaya.

    3.-Lý luận loại suy.

    4.-Lời chứng.

    I.- Nhận thức luận trong triết học cổ điển Ấn độ:

    Phương pháp nghị luận của tư tưởng là nền tảng của Nhận Thức Luận trong triết học cổ điển Ấn độ, và cũng là nền tảng cho sự phát triển Nhận Thức Luận trong triết học Phật giáo.

    Trong các kinh văn của Ấn độ vào thời cổ đại và thời trung cổ đã xác định có 6 nguồn của (Srt. Pramanas, Av. Sources of knowledge) như là những phương tiện đúng đắn của nhận thức chính xác và chân lý.

    Pramana, chữ Sanskrit, có nghĩa là những nguồn của nhận thức hay phương tiện của nhận thức (Av. Sources of knowledge).

    Để đạt được nhận thức xác thực và đứng đắn ( Prama), nguồn của nhận thức đúng ( Pramana) phải hội đủ 3 yếu tố sau đây:

    1.- Pramata (chủ tri, Av. the subject, the knower): chủ thể nhận biết.

    2.- Pramana: các phương tiện để nhận thức (Av. the means of obtaining the correct knowledge).

    3.Prameya: (sở tri, Av. the object, the knowable): đối tượng để nhận thức hay khách thể để nhận thức.

    Đơn độc một mình chủ thể nhận thức thì không có gì để nhận thức, mà chỉ có một mình khách thể/ đối tượng thì cũng không phát sanh ra nhận thức. Chủ thể và khách thể có một mối liên hệ mật thiết để tạo ra nhận thức/ ý thức. Ý thức thì luôn luôn giao động : ” tâm viên ý mã ” ý nói tâm và ý của con người thì khi nghĩ tới điều này rồi lại nhớ tới điều khác không khác gì con vượn luôn chuyển từ cành cây này qua cành cây khác, cũng như con ngựa chạy nhanh như gió bay.

    *Nhận thức luận trong triết học cổ điển Ấn độ :

    Triết học cổ điển Ấn độ chủ trương có 6 nguồn của nhận thức hay 6 phương tiện của nhận thức (Av. Six Sources of knowledge / or six Means/ Ways of Knowledge):

    1.- (Srt. Pratyaksa, Av. Perception):

    Pratyaksha, tiếng Sanskrit, có nghĩa là tri giác từ con mắt hay nhãn quan. Tri giác là nhận thức một cách trực tiếp và ngay tức khắc các sự kiện hay hiện tượng như đau đớn, sung sướng, yêu, ghét, giận, nguy hiểm, an toàn qua các đối tượng khác nhau ở trong tâm thức.

    Chúng ta có sáu giác quan/ lục căn (six sense organs), gồm có:

    – (five sense organs) là ngoài như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và da (eye, ear, nose, tongue, body & skin). Ngũ căn là năm cơ quan cảm giác bên ngoài (six external sense organs) giao tiếp với các đối tượng thuộc thế giới bên ngoài (external objects/ worldly objects) như sắc, thanh, hương, vị, xúc (form, sounds, odor, taste, tangible objects). Mỗi cơ quan cảm giác bên ngoài có đối tượng bên ngoài tương ứng với nó.

    một cơ quan cảm giác bên trong (one internal sense organ) là (Srt. Manas, Av. Mind)

    -Trải nghiệm trực tiếp bởi giác quan của một người với một đối tượng.

    -Không qua trung gian của ngôn ngữ và văn tự.

    -Không có thay đổi lòng vòng.

    -Xác định tức là loại bỏ sự phán đoán nghi ngờ.

    , còn gọi là giác quan thứ 6 (Av.sixth sense), có trước 5 giác quan bên ngoài. 5 giác quan bên ngoài như nhãn thức, nhỉ thức, tỉ thức, vị thức, xúc thức (sight, hearing, smell, taste, touch) lần lượt phát triển từ cảm giác này đến cảm giác khác.

    Tâm thức có thể tập trung vào một đối tượng khiến một chủ thể nhận thức đặc thù có thể tiên đoán được các biến cố, các sự kiện có thể xảy ra mà chủ thể nhận thức đã không biết một sự việc gì có liên hệ với biến cố hay với sự kiện này. Đây là linh tính về một sự kiện, một biến cố sẽ xảy ra.

    Con thú thì có một bản năng riêng về thức thứ sáu, trong khi con người thì có người có thể có bản năng bẩm sanh về ” thức thứ sáu“, nhưng có người có thể phát triển được cái nhìn thấu thị hay dự đoán điều gì bởi ” thức thứ sáu” bằng cách thiền định (Srt. Yoga, Av. Meditation), hoặc bằng cách luyện tinh thần như một số nhà tiên tri.

    2.-Suy luận (Srt. Anumana, Av. Inference)

    Anumana, tiếng Sanskrit, kết hợp hai chữ: – chữ gốc: mana có nghĩa là nhận thức, hiểu biết (Av. knowledge); – tiếp đầu ngữ: anu có nghĩa là sau (Av. after). Do đó, anumana có nghĩa là nhận thức theo sau nhận thức khác . Thí dụ: ” Không thấy bình hoa ở trên bàn cà-phê“, chúng ta biết ngay không có bình hoa ở đó.

    -” Không thấy thầy giáo ở trong lớp học“, chúng ta biết ngay thầy giáo đang vắng mặt.

    -” Các hoa hồng này không có mùi thơm“, Chúng ta biết ngay mùi thơm của hoa hồng không có ở mấy cành hoa hồng đó.

    Ghi chú: Các điều trên có vẽ nghịch lý (Av. paradoxical), ” Không-tri giác” về một đối tượng có nghĩa là sự nhận thức về sự vắng mặt/ không hiện hữu của đối tượng đó. Nhưng trong hiện thực cả (Av. perception) và không- tri giác (Av. non-perception) đều là hai phương tiện khác nhau để thâu nhận sự nhận biết về một đối tượng. Điều này cho thấy chủ thể nhận thức/ chủ tri (Av. knower) đều sử dụng hai phương tiện này của nhận thức.

    – * –

    II.- Nhận thức luận trong trường phái Nyaya:

    Trường phái Nyaya(H.V. Trường phái , Av. Nyaya School), là một trong 6 trường phái triết học chính thống cùng thời với Đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni:

    Nyaya (HV. Chính Lý hay Luận Lý), chữ Sanskrit, có nghĩa là phép tắc, phương pháp, thẩm định (Av. rule, method, judgement).

    Trường phái này lấy kinh điển Nyaya Sutras, gồm có 538 câu làm căn cứ. Các Kinh Nyaya Sutras bàn luận chính về luận lý, phương pháp luận lý và nhận thức luận (Nyaya Sutras primarily discusses logic, methology, and epistemology).

    Khai tổ là Aksapada Gotama (khoảng 50 – 150 CN). Triết gia này có họ là Gotama, và có biệt danh là Aksapada (Tàu dịch là Túc Mục 足目 ). Tương truyền Gotama luôn luôn suy tư về các vấn đề tư tưởng triết học, khi bước chân đi ông không quan sát mặt đất mà chỉ chú tâm vào các vấn đề triết học mình đang suy tư; một hôm ông bước chân lọt xuống giếng, Thượng đế đã vớt ông lên và tạo ra đôi mắt ở dưới chân ông (túc= cái chân, mục= mắt) để giúp ông có thể quan sát mặt đường trong khi bước chân đi.

    Trường phái Nyaya đã chấp nhận 4 trong 6 nguồn (Pramanas) như là những phương cách đáng tin cậy để đạt được nhận thức đúng đắn:

    1.-Tri giác (Srt.Pratyaksa, Av. Perception):

    Tri giác/ trực giác/ hiện lượng là nhận thức được khởi lên do sự tiếp xúc giữa cảm giác quan và đối tượng, tri giác hay tri thức không thể diễn tả bằng lời, tri giác thường được cho rằng không sai lầm, không sai lệch và xác định rõ ràng.

    Nyaya Sutra (1.1.4) định nghĩa: ” A perceptual cognition arises by means of the connection between sense faculty and object, is not dependent on words, is non-deviating, and is determinate”. Như vậy, theo phái Nyaya, tri giác /tri thức phải hội đủ 4 điều kiện:

    1.-Tri thức/ tri giác phát khởi từ sự nối kết các cảm giác quan và đối tượng.

    chúng tôi thức/ tri giác phát khởi không tuỳ thuộc vào ngôn ngữ.

    3.-Tri thức/tri giác có điều kiện không bị sai lệch để ngăn chặn những tri thức sai lầm. 1: trường hợp nhận thức sai về ” võ hến” (Av. oster shell) mà tưởng là một miếng bạc (Av. piece of silver). 2: Đêm tối, nhìn sợi dây thừng mà tưởng là con rắn.

    Trường phái Nyaya quan niệm rằng các nguồn nhận thức (pramanas) là sự thực đứng đắn, không sai lầm, và rằng các nhận thức sai lầm không phải là pramanas mà nó chỉ là nguỵ- pramanas / giả pramanas (Srt. Pramanas- abhasa, Av. pseudo-pramanas) như ngồi trên chiếc tàu đang di chuyển thấy như bờ sông và cây cối ở bờ sông di chuyển.

    4.-Tri thức/tri giác có điều kiện xác định để ngăn chặn tri thức khỏi những sai lầm về đối tượng. như từ xa một người đang đứng trong sương mù, chúng ta không rõ đó là một con người hay là một cây cột.

    Tri giác có thể có hai loại: tri giác bình thường và tri giác khác thường:

    a.Loại tri giác bình thường (Srt. Laukika, Av. ordinary perception): là tri thức được phát khởi khi có sự tiếp xúc giữa các giác quan (sense organs) và đối tượng đang hiện có. 5 giác quan bên ngoài (Av.outer organs) như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) được dây thần kinh đưa vào một bộ phận của não bộ gọi là (Av.sense mind/mind consciousness/ mental phenomena consciousness), ý thức là giác quan ở bên trong (Av. inner organ).

    Nhận thức trực tiếp có tính tự ý của ý thức/ tâm thức. Thí dụ: chúng ta có cảm giác buồn thì chúng ta tự biết rằng chúng ta đang buồn; còn nếu chúng ta buồn mà không biết vì sao mà buồn thì trong trường hợp này chúng ta thiếu tỉnh giác mà thôi.

    b.-Loại tri giác phi thường (Srt. Alaukika, Av. Extra-ordinary/ non-normal perception), loại này có 3 loại:

    b.1.- Nhận thức có tính tổng quát hoá từ các đối tượng đặc biệt(Srt. Samanyalakshana, Av. Perceiving generalityfrom a particular object). : Nhìn thấy ” một loại khói” đặc biệt cho một loại lửa, chúng ta tổng quát hoá ” khói” (smokiness) là đặc tính của mọi ” ngọn lửa” (fieriness).

    b.2.- Nhận thức về tính chất của một vật/ một đối tượng bằng cách nhớ lại những tính chất của đối tượng mà chúng ta đang nhìn thấy (Srt. Jnanalaksana, Av. Perception of the properties of an object mediated by memory involves the visual experience of unpsented properties of an object which is currently seen). 1: Khi nhìn một trái ớt hiểm đỏ, chúng ta nhận biết rằng nó có vị cay. 2: Khi nhìn cụt nưuớc đá, ta biết nó lạnh. 3: Khi nhìn một miếng gỗ “”, chúng ta biết nó có mùi thơm.

    Đôi khi chúng ta nhận thức một đối tượng bởi một giác quan mà đối tượng không phải là đối tượng của giác quan này, như ” tôi nhìn mùi thơm của hoa hồng ” (Av. I see a fragrant rose), chúng ta biết rằng mùi thơm là đối tượng của lỗ mũi, nhưng ở câu này thì mùi thơm được nhận thức bởi mắt.

    b.3.- Nhận thứctrong lúc thiền định ( Srt. Yogaja, Av. Yogic perception) hay trực giác thiền định. Trong tình trạng đang nhập thâm sâu vào thiền định, thiền giả có thể thấy các đối tượng/sự kiện/biến cố thuộc quá khứ, hiện tại hoặc thuộc về tương lai; thiền giả có thể đạt được một khả năng siêu phàm. : Thiền giả có thể quán chiếu vào đối tượng để đạt đạo/ đạt chân lý như trong ” Bát-nhã Tâm kinh “: Bồ-tát Quán-tự-tại quán chiếu “”.

    Đôi khi tri giác bị sai lệch vì có sự can thiệp bởi một vật khác, hoặc cảm giác quan bị bịnh. Thí dụ: ” cặp kính màu” làm ta nhận thức màu sắc của đối tượng không như ” chính màu” của nó. ” Cặp mắt bị bịnh” có thể làm thấy nhiều đom đóm ở phía trước mặt.

    2.-(Srt. Anumana, Av. Inference) (Av. Characteristics of Inference):

    Theo Nyaya sutra, 1.1.5 thì: ” Tri thức đi trước suy luận, suy luận có 3 bước: -từ nguyên nhân đến hậu quả, từ hậu quả bước ngược về nguyên nhân, hoặc từ những cái gì thường thấy”.

    Nói cách khác, loại suy là một hình thức suy luận dựa vào một điểm giống nhau đã biết trước để kết luận về một điểm giống nhau chưa biết.

    Thí dụ1:Một người đặt câu hỏi: con trâu nước (Av. water buffalo) là con thú có hình thù như thế nào? Người ấy được một vị khác diễn tả rằng con trâu nước trông giống như con bò (Av. cow), và trâu nước thường xuất hiện ở vài vùng đồng quê. Sau đó, người này có dịp ra vùng quê, anh ta thấy một con thú trông giống như con bò, nên anh ta biết rằng đó là con trâu nước. Cái nhận thức ” con thú này là con trâu nước ” được sanh khởi từ những nét tương tự với con bò, nhận thức này là một lý luận loại suy.

    : Một học sinh không biết con bò hoang (Av. wild cow) là con thú có hình thù ra sao? Nhưng được một người sống trong rừng nói rằng con bò hoang giống con bò (cow). Nếu sau đó, học sinh này có dịp đi vô rừng, và gặp một con thú giống con bò thì cậu ta sẽ nhận thức ngay đây là con bò hoang. Sự nhận thức để nhận thức con bò hoang là do sự so sánh (comparison) hay loại suy (analogy) điều đã nghe được giải thích trước khi con bò hoang xuất hiện ở trước mặt.

    4.-Lời chứng / Thánh lượng (Srt. Sabda, Av. Testimony, Words):

    Nyaya Sutras, 1.1.5, định nghĩa:

    Lời chứng/ Thánh lượng là lời xác nhận của một vị phát ngôn có đủ tư cách”.

    Căn cứ theo cách phân loại này, Luận lý học của Aristotle là một môn Luận lý học hình thức (Av. a formal logic); tương tự môn Nhân minh học hay môn Luận lý học Ấn độ / Luận lý học Phật giáo cũng là một môn Luận lý học hình thức.

    Ở đây, thuật ngữ (Av. intuition) có thể coi như đồng nghĩa với tri thức/ (Av.perception) mà trong Luận lý học và Tâm lý học Phật giáo gọi là (Srt. Pratyaksa – pramana). được phân chia là hai loại:

    a.- Chân hiện lượng là nhận thức trực tiếp đúng như là bản tính của đối tượng. : Thấy ” bông sen ” như chính là bông sen.

    b.- Tợ hiện lượng : nhận thức trực tiếp không đúng như là chính bản chất của đối tượng đó. :Ban đêm thấy sợi dây thừng tưởng là con rắn.

    Còn (Srt.Anumana, Av. Inference), Tàu dịch là . được chia làm 2 loại:

    Giữa trực giác/ tri giác/ hiện lượng suy luận/ tỉ lượng có một mối tương quan như sau:

    A.-:

    1.-Trực giác là khởi điểm của mọi suy luận.

    2.-Trực giác hướng dẫn suy luận.

    3.-Trực giác tổng hợp suy luận.

    B.-:

    1.-Suy luận chuẩn bị trực giác (nhất là trực giác phát minh).

    2.-Suy luận khai triển trực giác.

    3.-Suy luận kiểm soát trực giác.

    Phần III: Nhận thức luận Phật giáo trong thời kỳ Phật giáo nguyên thủy/ Phật giáo sơ kỳ.

    Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày:

    I.-Khái quát.

    18 lãnh vực tâm-sinh-vật lý:

    1.-Sáu căn.

    2.-Sáu cảnh.

    3.-Sáu trần.

    I.-Khái quát:

    Tinh thần của các nhà tư tưởng Phật giáo là muốn diệt bỏ ” sự bất hài lòng”/ “sự khổ đau” (Av. Dissatisfaction/ Suffering) để đạt được hạnh phúc (Av. Happiness), để đạt được giải thoát (Av. Liberation). Để đạt được mục đích này, con người phải diệt bỏ vô minh (Srt. Avidya, Av. Ignorance). Vô minh là nguyên nhân chính tạo ra sự khổ đau. Để diệt trừ vô minh con người phải diệt trừ quan niệm đề cao bản ngã của mình, do đó các nhà triết học Phật giáo nhấn mạnh rằng con người phải nhìn các sự vật, các sự kiên như là chính nó hiện hữu : ” nhìn cái cây như là một cái cây (Av. We see the tree as a tree), ” Chúng ta nhìn cái núi như là cái núi ” (Av. We see the mountain as a mountain). Như vậy , nhận thức đúng về sự vật, sự kiện là một sự cần thiết. Đây là mối quan tâm về nhận thức luận trong tư tưởng Phật giáo.

    3.-Nhận thức luận trong tư tưởng của trường phái Yogacarin (Tàu dịch là Du-già hành tông), còn gọi là Vijnatimatravadin (Tàu dịch là Duy thức tông) thuộc Phật giáo Phát triển, sau ngày Đức Phật nhập niết bàn khoảng một ngàn năm. Theo tư tưởng Duy thức tông thì ” chỉ có thức mà thôi ” (Av. Only mind), không có đối tượng/ cảnh/ trần.

    Vasubandhu (Thế Thân), Dignaga (Trần Na), Dharmakirti ( Pháp Xứng) và các đại sư kế thừa sau này đều căn cứ vào nhận thức luận của trường phái Nyaya (trường phái Chính Lý, Av. Nyaya school). Các Ngài này đã chỉnh sửa và phát triển môn nhân Minh Học/ Luận Lý Học của trường phái Nyaya; và rồi các Ngài đã tạo nên một hệ thống luận lý học độc đáo trong tư tưởng Phật giáo mà các nhà Phật học đều gọi là Nhận thức luận Phật giáo (Buddhist Epistomology), thường gọi là Luận Lý học Phật giáo (Buddhist Logic).

    II. Nhận thức luận Phật giáo trong thời kỳ Phật giáo nguyên thủy/ Phật giáo sơ kỳ (Early Buddhism):

    Ngài cũng đã tu tập thiền định (Av. Yogic meditation). Hai vị Thầy cuối cùng của Ngài đã dạy cho Ngài nhiều cách thực nghiệm tâm linh, đã dạy cho Ngài những kỹ thuật của thiền định hay sự trầm tư mặc tưởng trước khi Ngài đắc đạo. Trong khi thực hành thiền định, Ngài cũng đã nhận thấy về các sức ngoại cảm (Av. extra-sensory powers) được phát triển do những phương cách này. Thái tử Siddharta Gotama đã nhận thấy những giới hạn của cảm giác nhận thức (Av. sense perception) như là nguồn của nhận thức. Sau khi đắc đạo, Ngài đã cố gắng làm sáng tỏ nhiều nguồn của tri thức, chỉ ra những giới hạn của tri thức cũng như những hiệu lực của nó.

    Trong Trung Bộ Kinh (Srt. Majjhima Nikaya), Đức Phật lịch sử đã quả quyết rằng các triết thuyết dựa vào truyền thống có thể hoặc là đúng hoặc là sai. Bởi vì không có gì bảo đảm rằng các triết thuyết này là đúng hay sai, nên không nên tùy thuộc vào các triết thuyết này như là một phương cách chắc chắn cho tri thức. Cũng trong Trung Bộ Kinh, Đức Phật lịch sử đã cho rằng một người đang lý luận và suy đoán một điều gì thì lý luận của anh ta có thể tốt hay có thể xấu, có thể đúng hay có thể sai. Do đó, theo Ngài thì sự đúng hay sai của một triết thuyết dựa theo những sự kiện có được thì cũng không có thể phán quyết được tính chắc chắn của lý luận ấy. Có những lý thuyết có lý luận thấy vững chắc nhưng lại sai lầm khi đem ra áp dụng; ngược lại có những lý thuyết có lý luận đơn sơ nhưng lại là chân lý.

    Từ những yếu tố trên, Đức Phật lịch sử đã có suy tư về vấn đề nhận thức. Ngài cho rằng có 3 nhóm nhận thức, gồm có: 1.- (Av. Retro-cognition); 2.- Trí sáng suốt/ trí thấu thị (Av. Clairvoyance); 3.- Nhận thức về sự (Av. Knowledge of the destruction of defiling impulses).

    1.- Sáu căn (Six sense Organs) là 6 giác quan: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và ý. . 6 cảnh/ trần là đối tượng của 6 căn. : -: sông, núi, cỏ cây, nhà cửa, màu đỏ, màu trắng . . . là đối tượng của con mắt. – là đối tượng của lỗ tai: âm thanh lớn nhỏ, êm dịu, giọng nói . . . – là đối tượng của mũi: mùi thơm, thúi . . . .- là đối tượng của lưỡi: vị chua, ngọt, đắng, cay. – là đối tượng của thân (da, khớp xương): lạnh, nóng, mền, cứng. – là hình bóng của sự vật, của hiện tượng còn lưu lại nơi tiềm thức và vô thức (tức là Ý căn).

    3.- Sáu thức (Av. Six consciousnesses):

    , đã là học trò của Vasubandhu (Thế Thân). Ngài là một luận sư Phật giáo nổi tiếng đã cải cách và phát triển ngành Nhân Minh Học (Srt. Hetu Vidya)/ Luận Lý Học Ấn độ (Indian Logic) nói chung, và đã đặt nền tảng cho Nhân Minh Học Phật giáo (Buddhist Logic) nói riêng.

    Dignaga có hai tác phẩm rất quan trọng về Nhân Minh Học là:

    Dignaga (Trần Na) đã kế thừa Nhân Minh Luận của trường phái triết học chính thống Nyaya; và Ngài đã kết hợp quan điểm của Tông (Srt. Vijnaptimatravadin) / hay Du-già Hành Tông (Srt. Yogacarin) với trường phái Kinh Lượng Bộ (Srt. Sautrantika) để tạo thành một nhánh của Duy Thức Học là Nhân Minh Học để đưa ra các phương pháp tranh luận bằng luận lý: ” Yogacara Sautrantika “, còn gọi là Luận Lý Học Phật giáo (Buddhist Logic).

    Ở đây chúng ta nhận thấy có 3 điều:

    1.- Yogacara-Sautrantika không có giảng dạy con đường gì đặc biệt để tiến tới Niết-bàn.

    2.-Siêu hình học của Yogacara-Sautrantika được giảng dạy từ các quan điểm nhận thức luận (epistemological views) của thuyết này.

    2.-Nhận Thức Luận của Dignaga (Trần-Na):

    Như đã nói trên, Pramana Samuccaya (Tập Lượng Luận) là một tác phẩm chính của Dignaga (Trần- Na) về Nhân Minh Học. Trong chương một, Dignaga đã viết rằng nhận thức luận của Ngài chỉ chấp nhận có hai nguồn của nhận thức xác thực (Srt. Pramana, Av. Sources of Knowledge) là: – (Srt. Pratyaksa, Av. Perception), và (Srt. Anumana, Av. Inference/ Reasoning). Trong chương một, Ngài viết:

    Tri giác là sự nhận biết về các tính đặc thù của đối tượng không có khái niệm bởi vì tri giác do luật nhân quả tạo ra, trong khi suy luận là lý lẽ, ngôn ngữ và khái niệm tạo ra.

    2.1- Tri giác (Srt. Pratyaksa, Av. Perception):

    Trong chương hai, Ngài viết: “Tri giác thì không có cấu trúc. Sự nhận thức này chỉ là do cảm giác, không có một sắp xếp nào cả”.

    Trong các sách Nhân Minh Học/ Luận Lý Học Phật giáo tiếng Hán việt thường dịch chữ ” Pramana” là lượng có nghĩa là so đo, tính toán (Av. measuring); còn chữ ” Pratyaksa” là (Av. Perception) có nghĩa tương đương với tri giác (Av. perception) hay trực giác (Av. intuition). Như định nghĩa về tri giác ở trên, hiện lượng/ tri giác/ trực giác là một sự nhận biết đối tượng một cách trực tiếp không qua một trung gian của suy luận. Hiện lượng có hai loại:

    a.-Chân hiện lượng là nhận thức một đối tượng một cách xác thực như là chính nó. : Thấy hoa hồng liền biết là hoa hồng. Thấy con người liền biết là con người. Thấy núi biết là núi. Thấy cây biết là cây. . .

    b.-Tợ hiện lượng là nhận thức về một đối tượng nhưng lại không xác thực, không như là chính nó. :1.-trong đêm tối, tôi thấy sợi dây thừng, tôi nghĩ là con rắn. Trong bóng đêm, một người nhìn cái cây chết mà cho rằng đó là người đàn ông, nhận thức này thì không xác thực (the cognition is therefore inaccurate) 2.-Thấy mây bay tưởng là khói bay. 3.- vì bị loạn giác, một người thấy hoa đớm ở trong hư không.4.-Ngồi trên thuyền đang chạy mà cảm thấy bờ sông đang chạy ngược chiều với mình. 5.-Vì say rượu mà tôi thấy mọi vật thay đổi khác và tôi bị mất thăng bằng.

    2.2.-Suy luận (Srt. Anumana, Av. Inference)

    2.2.1.- Định nghĩa: Anumana, chữ Sanskrit, có nghĩa là lý luận, so sánh. Tàu dịch là . là cách nhận thức gián tiếp qua trung gian của nhiều nhận thức chuyển tiếp.

    Dignaga chú trọng đến những dấu hiệu lý luận (Av. inferential sign)để giải thích, tức là căn cứ vào nguyên nhân, bằng chứng (Srt. Hetu, Av. reason, evidence) để suy luận về một sự kiện hay một việc nào. : từ chỗ thấy ” khói” dẫn đến suy luận là có ” lửa “.

    Trường phái Dignaga cho rằng mỗi nguồn của nhận thức thì nhận biết một đối tượng đặc biệt cho chính nguồn nhận thức này. : các sự vật như khói, lửa và ngọn đồi đang hiện hữu. Giả sử tôi đang đứng dưới thung lủng thì tôi thấy khói ở trên ngọn đồi rồi tôi suy luận rằng có lửa ở trên ngọn đồi. Trong khi đó, bạn đang đứng ở trên ngọn đồi, từ nơi này bạn nhìn thấy ngọn lửa một cách trực tiếp. Ngọn lửa mà bạn nhìn thấy thì khác với ngọn lửa mà tôi suy luận ra. Như vậy, nhận thức của tôi và nhận thức của bạn về đối tượng ” ngọn lửa” có khác nhau. Bạn tri giác ngọn lửa có tính đặc thù và có thật, còn tôi thì suy luận ra có ngọn lửa đang cháy ở trên ngọn đồi. Tôi nhận thức về ” ngọn lửa ” như là một đối tượng có vẻ trừu tượng, cái mà nó giống như ngọn lửa tổng quát.

    1.- là một phương thức suy luận căn cứ vào các quy luật luận lý để tiến từ một hay nhiều mệnh đề, được nhận làm tiền đề, đến một kết luận chắc chắn, tất yếu của tiền đề. : – ” Tam đoạn luận ” (Diễn dịch hình thức) là suy luận từ tiền đề đến kết luận tất yếu đã có sẵn trong tiền đề. – ” Diễn dịch toán học ” có kết luận tất yếu được cấu tạo thực sự từ các tiền đề, chứ không được chứa sẳn trong tiền đề.

    2.- Qui nạp là hình thức suy luận căn cứ vào các quy luật luận lý để tiến từ một số mệnh đề đặc thù đến một mệnh đề tổng quát bao hàm trọn vẹn những gì đã được xác nhận trong các mệnh đề đặc thù. : -” Qui nạp hình thức” phát biểu một đặc tính đã được khẳng định cho từng cá thể trong chủng loại thành một công thức duy nhất chung cho tất cả cá thể cùng một chủng loại. – ” Qui nạp phóng đại ” phát biểu một đặc tính của một sự vật chỉ được khẳng định cho vài cá thể trong chủng loại thành trường hợp chung cho tất cả cá thể cùng chủng loại.

    3.- là phương pháp suy luận, so sánh giữa hai đối tượng, hoặc hệ thống của những đối tượng, dựa vào những điểm giống nhau, những điểm tượng tự giữa hai đối tượng để kết luận từ những điểm giống nhau đã biết đến những điều giống nhau chưa biết.

    Như trên đã nói, trường phái Dignaga cho rằng “” và ” Lời chứng ” thuộc vào nguồn nhận thức “”.

    Như trên đã nói, các sách Nhân Minh Học chữ Hán Việt dịch chữ Anumana là . Tỷ lượng là nhận thức suy đoán, cái biết bằng so sánh, loại suy. Nhờ sự kiện hay sự vật đã được biết, đã được thấy mà suy ra biết được những sự kiện, những sự vật chưa biết, chưa thấy. Có hai loại tỷ lượng:

    a.-Chân tỷ lượng : là sự suy đoán đúng với thực cảnh, đúng với thực tại. : 1.-Thấy khói mà suy ra biết có lửa. 2.-Thấy mây đen khéo đến mà biết rằng sắp có mưa. 3.-Thấy mặt trời mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây ngày hôm nay mà suy đoán ra ngày hôm qua và ngày mai mặt trời cũng mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây. 4.- Thấy cành cây đang bị giao động thì biết rằng đang có gió. 5.-Thấy hạt giống lúa tốt mà suy ra cây lúa sẽ mọc lên tốt.5.-Thấy bức tranh sơn mài đẹp và tốt, ta suy đoán nó được làm do người thợ khéo tay.

    b: là suy luận sai lầm, không đúng hay không xác thực với đối tượng. : Thấy kim cương bị đốt cháy mà suy ra vàng cũng bị đốt cháy

    Aristotle đã nối liền một câu hay một mệnh đề theo một mô thức (model) như sau:

    Chủ ngữ (chủ từ, Av. subject) + Vị ngữ (Av. pdicate)/ hay thuộc từ (Av. attribute) là một phần của câu hay của một mệnh đề chứa đựng động từ và lời kể một điều gì

    1.- Tôn: Đá kim cương bị đốt cháy.

    2.-Nhân: Vì là vật có chất thán tố.

    3.- Dụ : -: như củi, dầu có chất thán tố.

    -: như tuyết băng giá không có thán tố nên không cháy.

    Thứ hai:

    X giống Y.

    Y có tính chất P.

    Nên X có tính chất P.

    . Trong lịch sử Phật giáo, nhà Phật thường cho rằng ” chúng ta đang sống trong thời mạt pháp ” Các nhà luận lý còn muốn nói sự sai lầm của lý luận loại suy khi họ nói: ” so sánh trái táo giống như trái cam ” .

    Tóm lại, Aristotle đã đưa ra 4 tiêu chuẩn rất quan trọng, và có nhiều ảnh hưởng trong luận lý học Tây phương nhằm giúp chúng ta đánh giá ” “:

    4.-Một “” cần phải không tiên đoán trước việc đã quen biết với điều phổ quát cơ bản hay sự tổng quát hoá.

    ).

    Nội dung của hai tác phẩm nói trên:

    1.- Pramana-Varttika (HV. Lượng Thích Luận):

    Tương truyền Dharmakirti đã đọc 2 lần quyển Pramana-Samuccaya (Tập Lượng Luận) của Dignaga thì Ngài hiểu rõ yếu nghĩa của quyển luận này. Rồi Dharmakirti tiếp tục đọc quyển luận này lần thứ 3, Ngài đã nghiên cứu thâm sâu và có ý muốn bình chú quyển luận này theo quan điểm của mình. Ngài Isvarsena, đệ tử của Dignaga, đã khuyến khích Dharmakirti viết lời bình chú và bổ xung chỗ nào còn thiếu sót trong quyển Pramana-Samuccaya (Tập Lượng Luận). Dharmakirti đã đặt tựa cho quyển sách này của Ngài là Pramana-Varttika (Lượng Thích Luận). Đây là một cuốn sách bình chú quan trọng về Nhân Minh Luận của Dignaga. Cuốn sách này có nguyên bản chữ Sanskrit, và bản chữ Tây Tạng. Nội dung của quyển sách này gồm có 4 chương:

    1.- Tự Ngộ (Srt. Svartha-Numana, Av. Inference for one’s own self).

    3.- Tri giác (Srt. Pratyaksa, Av. Perception).

    4.- Tha ngộ (Srt.Parartha-Vakya, Av. Works for the sake of others/ Inference for others).

    Công việc in ấn và dịch ra các ngôn ngữ khác của ” Lượng Thích Luận ” (Pramana-Varttika):

    -Ấn hành bằng tiếng Sanskrit và Tây Tạng tại Miyasaka (1971, 1972).

    -Nhiều phần của cuốn luận này đã được dịch ra: -Tiếng Anh tại Nagasaki (1964), Hayes (1991) v…v…; -Tiếng Pháp (2007); – Tiếng Nhật tại Tosaki (1979, 1985); -Tiếng Đức (1932).

    2.-Nyaya Bindu (HV. Chính Lý Nhất Đích Luận, Av. A Short Treatise of Logic, V. Tiểu luận về Nhân Minh Học). Đây là một tác phẩm thượng thặng về Nhân Minh Luận của Dharmakirti.

    Cuốn sách nguyên bản chữ Sanskrit được khám phá trong các kinh sách viết bằng lá bối (palm leaf) ở đền thờ Kỳ-na giáo (Jaina Temple): Santinatha Temple ở xứ Cambay (Khambat). Sách này được ấn hành bởi GS Peterson ở Calcutta. Bản dịch tiếng Tây Tạng có ở Bstanhgyur, Mdo, Cefolios, 347-355. Tựa bản dịch bằng tiếng Tây Tạng là “ Rigs -pahi- thigs-pa“ có nghĩa là “ Một giọt luận lý“ (Av. A Drop of Logic). Nyaya Bindu dịch xác nghĩa hơn là ” Chính Lý Nhất Đích Luận“ (Av. A Short Treatise of Logic). Như đã biết Nyaya là tên của trường phái Chính Lý, nyaya thường được hiểu là Nhân Minh Học hay Luận Lý Học.

    Nội dung của quyển sách Nyaya Bindu gồm có 3 chương:

    1.- Tri giác .

    2.- Suy luận (Av. Inference for one`s own self, Internal inference).

    3.- Tam đoạn luận hay Luận thức có-3-bước (Av. A formal three-step argument):

    Bản dịch cuốn luận này ra tiếng Anh của GS Theodor Ippolitovich Stcherbatsky rất nổi tiếng (Nga, 1866 – 1942). Ông là một hội viên của Viện Hàn Lâm Khoa học Nga (Av. The Academician of the Russian Academy of Sciences), Gs cũng là một nhà nghiên cứu Phật học (Av. Buddhologist) rất nổi tiếng trên thế giới. Gs đã dịch cuốn sách luận này với tựa đề là ” A Short Treatise of Logic).

    Gs T. I. Stcherbatsky là một trong những nhà sáng lập ra Hội Phật học và Khoa học Nga (Av. Russian Indology and Buddhogy). Trong số các sinh viên của ông có Gs O. Rosenberg là một nhà Phật học nổi tiếng.

    2.-Nhận thức luận của Dharmakirti:

    Mở đầu Nyaya Bindu, Dharmakirti viết: ” (Nyaya Bindu).

    Nhận thức đúng đắn là (Av. right knowledge) trong Bát Chánh Đạo, tám con đường dẫn tới cứu cánh Niết-bàn). Bát Chánh Đạo là một trong Tứ Diệu Đế.

    Tiếp nối quan điểm của Dignaga (Trần Na) trong quyển Pramana-Samuccaya (Tập Lượng Luận), Dharmakirti (Pháp Xứng) chấp nhận chỉ có hai nguồn của nhận thức (Srt. Pramana) là: và .

    Tương tự như quan niệm của Dignaga (Trần Na), Dharmakirti định nghĩa “” là sự nhận biết trực tiếp được dẫn xuất từ giác quan, độc lập với khái niệm, không qua trung gian của ngôn ngữ.

    Tợ hiện lượng là trải nghiệm dựa vào những hình ảnh sai lầm khi một ” sự vật thực” như là được tiếp cận. : -đêm tối thấy cái dáng của ” cây chết ” tưởng rằng dáng người đứng; hoặc đêm tối thấy sợi dây thừng tưởng là con rắn. Sự sai lầm do tri giác có thể do các nguyên nhân: bóng tối, đối tượng di chuyển nhanh . . ., : một người ngồi trên tàu đang chạy, có thể cảm thấy các cây ở 2 bên bờ sông đang di chuyển ngược lại; hoặc có thể do bị hoa mắt thấy các đớm nhỏ bay lơ lững trước mặt.

    Tri giác có 4 loại:

    1.-Tri giác do ngũ giác quan.

    2.-Tri giác do tâm thức.

    3.-Tri giác do tự ý thức.

    4.-Tri giác do sự chiêm nghiệm thánh thiện như trong lúc suy niệm thiền định.

    Một đối tượng của tri giác thì y như là chính nó, trong khi đối tượng của suy luận thì y như là một vật trong chủng loại ấy. : ” con bò” mà tôi đang thấy là một con bò đặc thù mà tôi nhận biết được, con bò này được phân biệt khỏi tất cả những con bò khác. Nhưng “con bò” mà tôi suy luận ra một cách tổng quát thì có đặc tính chung với những con bò khác. Điều này có nghĩa là tri giác là sự nhận biết có tính cách cá nhân trong khi suy luận là sự nhận biết tổng quát. : cùng một thực tại là ” bình hoa“, nhưng ý tưởng về ” bình hoa” của mỗi người có thể khác nhau. Đối tượng ” bình hoa” là một thực tại giống nhau nhưng khái niệm được tiếp thu ” tổng quát về bình hoa” thì lại khác nhau. Tuỳ theo khoảng cách gần hoặc xa đối với một đối tượng thì tri giác cũng có thay đổi. Nói khác, tri giác là một nguồn của nhận thức xác thực đối với một đối tượng được tiếp nhận. Tuy nhiên trong trường hợp ” tợ hiện lượng ” thì giá trị chân thực của đối tượng có thay đổi.

    Dharmakirti trình bày về ở chương 2: Suy luận; và về ở chương 3: Tam đoạn luận.

    hay suy luận cho chính bản thân (Srt. Svartha- Numanas, Av. Inference for oneself) là sự nhận biết của suy luận được dẫn xuất từ các duyên cớ (Av. reason) hay (Av. middle term). :

    Trên đồi có lửa.

    Vì trên đồi có khói.

    .

    2.- Tiếng trung gian/ hay phải có trong các trường hợp mà nó có sự đồng thuận/ tương đồng (homologous) với đại từ. Như trong thí dụ trên: lý do là khói phải có ở trong bếp mà nó đồng thuận/ tương đồng với những vật có chứa lửa.

    3.- Tiếng trung gian / hay phải không bao giờ chứa đựng các trường hợp mà nó không đồng thuận/ tương dị (heterologous) với đại từ. Như trong thí dụ trên: “” là ” khói ” không bao giờ có trong ao hồ mà nó không chứa vật gì có lửa.

    Thêm vào đây, từ trung gian hay lý do có 3 loại:

    Đây là ” cái cây “.

    Bởi vì đó là cây Simsapa.

    3.- Không nhận biết được bản tánh (Srt. Anupalabdhi, Av. Non-perception of Identity). :

    Ở đây không có khói.

    Bởi vì khói không được nhận thấy.

    của Dignaga), Dharmakirti đã sửa chửa thuyết loại trừ của Dignaga về ” phủ định“. Theo Dharmakirti (Pháp Xứng) thì ” apoha” có nghĩa là sự đối lập (Srt. Virodha,. Av. Opposition). Triết học Phật giáo không phủ nhận ” khái niệm của ý nghĩa” (the concept of meaning) mà chỉ nói ” khái niệm của ý nghĩa ” có tánh cách nhất thời mà thôi. Dharmakirti quan niệm rằng những sự phủ định thì có gốc rể ở trong “”, Ngài phân chia sự phủ nhận ra làm hai nhóm:

    2.- Mâu thuẩn luận lý (Logical contradiction) như màu xanh (blue) và màu không-xanh (non-blue); con bò (cow) và không-là-con bò (non-cow).

    Trong nhóm (1), hai đối tượng tồn tại song song với nhau mà không có sự đối lập với nhau. Sự đối lập trở thành có hiệu quả ngay cả khi chúng được đặt để cùng một chổ. Nói một cách khác, này có hiệu quả một ” sự phủ định ” của hai thực thể.

    Trong nhóm (2), nếu không có ” sự loại trừ” (excluding) thực thể kia thì chúng ta không thể nào định nghĩa hai thực thể mâu thuẩn một cách phổ quát. Như trường hợp ” màu xanh” và ” không-là-màu xanh“: bản chất của một thực thể thì loại trừ thực thể kia. ” Sự mâu thuẩn luận lý” (Logical contradiction) chỉ có ý chỉ về sự phủ định của một thuộc từ mà thôi. Theo Dharmakirti, thuyết apoha không đem ” sự tiếp cận phủ định” (dialectical approach) đến thực tại mà chỉ là một tiếp cận biện chứng (dialectical approach). Nó tuỳ thuộc vào luật về đối lập hay mâu thuẩn. : cụm từ ” bông sen màu xanh ” (blue lotus) không những loại trừ các bông sen (lotuses) không có màu xanh (non-blue), nhưng còn loại trừ các vật xanh (blue things) mà nó không phải là bông sen (lotus).

    Vào hậu bán thế kỷ 20, các triết gia và học giả Tây phương đã khởi xướng phong trào nghiên cứu tư tưởng luận lý của Dharmakirti:

    -1982, cuộc hội thảo đầu tiên về Dharmakirti ở Kyoto, nước Nhật Bản.

    -2014, cuộc hội thảo về Dharmakirti tại Đại học Heidelberg, nước Đức.

    Rồi đây, trong tương lai, hy vọng sẽ có nhiều công trình nghiên cứu thâm sâu về tư tưởng triết học của Dharmakirti (Pháp Xứng).

    – * –

    Đối với các đại tư tưởng gia Phật giáo, luận lý học là kho vũ khí chính yếu, tạo ra những vũ khí phê bình huỷ diệt phổ quát. Phật giáo phụng sự như là một liều thuốc thanh tẩy tâm thức khỏi những hậu quả quá cứng nhắc của những rào cản cổ xưa”.

    (For the great Buddhist thinkers, logic was the main arsenal, where were forged the weapons of universal destructive criticism. Buddhism served as a cathartic in cleaning the mind of cramping effects of ancient obstructions.)

    (S. Radhakrishnan, Indian Philosophy, first edition published 1923, second edition published 2009, USA: Oxford University Press, Volume II, p. 17)

    a.- 9 lỗi của tôn.

    b.- 14 lỗi của nhân.

    c.- 10 lỗi của dụ.

    Toronto, 22 March 2021

    Nguyễn Vĩnh Thượng

    Dr. Dinod Bihari Satpathy, Indian Culture and Heritage,

    Source: http:/dceutkalac.in/Syllabus/MA-history/paper-8.Pdf

    -Hiriyanna, M., Outlines of Indian Philosophy,

    London: George Allen & Unwin Ltd; 1932.

    -Nguyễn Đăng Thục, , gồm 5 tập, xuất bản ở Saigon:-Tập I: NXB Linh Sơn, 1956; Tập II: NXB Linh Sơn, 1956; Tập III: NXB Đông Phương, 1956; Tập IV: Bộ Quốc Gia Giáo Dục Saigon, 1962; Tập V: Bộ Quốc Gia Giáo Dục Saigon, 1964.

    -in lại trọn bộ 5 tập do NXB TPHCM, 1991.

    -Radhakrishman, S., Indian Philosophy, Published by S. K. Mookerjee,

    Oxford: Oxford University Press, 1930.

    -Sinha, J., Outlines of Indian Philosophy, Calcutta: chúng tôi 1985.

    – Suhas Chatterjee, Indian Civilization and Culture, New Delhi: MD Publications PVT Ltd, 1998.

    -Thích Mãn Giác, , Saigon: Đại học Vạn Hạnh, 1967.

    in lại NXB Văn Hóa Sài Gòn, 2007.

    -Thích Quảng Liên, , Saigon: tác giả x.b., bài cours cho sinh viên chứng chỉ Triết học Ấn độ, ĐHVK Saigon, 1965.

    -Thích Thanh Kiểm, , Saigon: Lê Thanh Thư xã, 1963.

    -Thích Thiện Hoa, Phật học Phổ thông từ khóa I đến khóa XII (gồm 12 quyển), đã xuất bản ở Saigon từ 1955 – 1964. Tái bản: Phật Học Viện Quốc tế, Sepulveda, CA, USA, 1982.

    Tài liệu tham khảo chính yếu 2:

    Arnold, Dan, The philosophical works and Influence of Dignaga and Dharmakirti, Source: Internet.

    -Dr. Bhaskar Jha, A Critical Study about the Nyaya theory of Prama and Pramanas, Internet Source: IOSR Journal of Humanities and Social Science, Nov. 2021.

    -Dan, Arnold, The philosophical works and influence of Dignaga and Dharmakirty, Source: internet, last reviewed 05 May 2021.

    -Dune, John D., Foundations of Dharmakirti’s Philosophy, Boston: Wisdom Publications, 2004.

    -Gangopadhyaya, Mrinalkanti, trans., Nyaya: Gautama’s Nyaya-Sutra with Vatsyayana’s Commentary, Calcutta: Indian Studies, 1982.

    -Kalupahana, David J., Buddhist Philosophy: A Historical Analysis, USA: University Press of Hawai, 1976.

    -Lê Thành Trị, Luận Lý Học, bài course chứng chỉ Luận Lý-Siêu Hình, niên khóa 1969 – 1970, ĐHVK Saigon.

    -Lê Thành Trị, Luận Lý Toán học, Saigon: tác giả x.b, 1969.

    -Nguyễn Vĩnh Thượng, Luận Lý Học lớp 12 ABCD,

    Saigon: Hiện Đại phát hành, 1972.

    -Nguyễn Vĩnh Thượng, lớp 12 ACD,

    Saigon: Hiện Đại phát hành, 1972.

    Further Reading:

    Tuyển Tập Biên khảo Nguyễn Vĩnh Thượng, USA: Amazon phát hành on line 2021.

    Bát-nhã Tâm Kinh chú giảng, USA: Amazon phát hành on line 2021.

    V…V…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Án: Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Của C.mác, Hay
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học
  • 12 Định Nghĩa Về Hạnh Phúc Của Các Nhà Triết Học Cổ Đại
  • Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học Và Kinh Tế Học Chính Trị Mác
  • Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học
  • Tiểu Luận Phạm Trù Chất Và Lượng Trong Triết Học Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Và Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học
  • Đối Tượng Nghiên Cứu Của Triết Học Và Kinh Tế Học Chính Trị Mác
  • 12 Định Nghĩa Về Hạnh Phúc Của Các Nhà Triết Học Cổ Đại
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học
  • Luận Án: Quan Niệm Về Con Người Trong Triết Học Của C.mác, Hay
  • LỜI NÓI ĐẦU Triết học Mác ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX đã chỉ ra rằng Thế giới vật chất không chỉ tồn tại trong sự thống nhất đa dạng của các sự vật hiện tượng mà còn giữa chúng có mối liên hệ biện chứng trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của nó. Thế giới vật chất như một chỉnh thể thống nhất, trong đó các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới vừa tách biệt nhau vừa có sự quan hệ qua lại thâm nhập chuyển hóa lẫn nhau. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại cho biết phương thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự liên hệ, tác động qua lại làm cho các sự vật vận động và phát triển không ngừng. Phát triển theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là kết quả của quá trình thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất. Đây là nội dung quan trọng của quy luật chuyển hóa về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại -một trong những vấn đề cơ bản của phép biện chứng duy vật triết học Mác Bài tập nhóm gồm những phần sau đây: Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận chung Phần thứ hai: Lý giải và minh họa sự biểu hiện của nó trong các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy. Phần thứ ba: Ý nghĩa phương pháp luận. Phần thứ tư: Kết luận. Phần thứ nhất: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG I. PHẠM TRÙ “CHẤT” VÀ “LƯỢNG” Theo Arixtốt, “chất” là tất cả những gì có thể phân ra thành những bộ phận cấu thành, còn “lượng” được phân thành hai loại: số lượng (là loại lượng mang tính rời rạc) và đại lượng (là loại lượng mang tính liên tục). Arixtốt là người đầu tiên nêu ra quan niệm về tính nhiều chất của sự vật, từ đó ông phân biệt sự khác nhau về hình thức với chất căn bản của sự vật – cái sẽ xuất hiện (hoặc mất đi) cùng với sự sinh thành (hay mất đi) của bản thân sự vật. Ông cũng đạt được bước tiến đáng kể trong việc nghiên cứu phạm trù “độ”, xem “độ” là cái thống nhất, cái không thể phân chia giữa “chất” và “lượng”. Quan điểm biện chứng về “chất” và “lượng” đạt được bước phát triển mới trong triết học cổ điển Đức, đặc biệt là trong triết học Hê-ghen. Với quan điểm biện chứng, Hê-ghen cho rằng chất phát triển từ “chất thuần túy” đến “chất được xác định”, chất phát triển đến tột độ thì ra đời lượng. Lượng cũng không ngừng tiến hóa, “số lượng” là đỉnh cao nhất trong sự tiến hóa của lượng. Hê-ghen cũng xem xét tính độc lập tương đối giữa sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất trong một khoảng nhất định, đó là cơ sở để hình thành phạm trù “độ”. Trong việc xem xét mối quan hệ giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất, Hê-ghen đặc biệt chú ý tới phạm trù “bước nhảy”. Chính dựa trên tư tưởng này của Hê-ghen mà Lê-nin đã rút ra một kết luận quan trọng: việc có thừa nhận bước nhảy hay không là tiêu chí cơ bản để xem đó là người theo quan điểm biện chứng hay quan điểm siêu hình về sự phát triển. Tất nhiên, với tư cách là nhà triết học duy tâm, Hê-ghen đã xem các phạm trù chất, lượng, độ chỉ như những nấc thang tự phát của tinh thần, của “ý niệm tuyệt đối”. Sự ra đời của phép biện chứng duy vật đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng trong quan niệm về chất, lượng và quy luật về mối quan hệ qua lại giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất nói chung. Khi quan sát các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên cũng như xã hội, chúng ta thấy rằng, các sự vật và hiện tượng đó luôn tác động qua lại với nhau. Chính qua những sự tác động qua lại đó, sự vật bộc lộ ra những tính chất của mình. Tất cả những tính chất đó được khái quát trong phạm trù “thuộc tính”. Thuộc tính là những cái vốn có của sự vật, nhưng nó chỉ bộc lộ ra bên ngoài qua sự tác động qua lại của sự vật mang thuộc tính đó với các sự vật khác. Để nhận thức được các thuộc tính của sự vật, chúng ta phải nhận thức qua các mối quan hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác. Trong số các thuộc tính đó, có một số có thể thay đổi, thậm chí mất đi, nhưng sự vật vẫn là nó. Chẳng hạn, thuộc tính “tự do cạnh tranh” của chủ nghĩa tư bản có thể mất ở mức độ đáng kể, thay thế vào đó là sự độc quyền ngày càng áp đảo, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn là chủ nghĩa tư bản. Do vậy, các thuộc tính của sự vật là sự biểu hiện của một cái gì đó căn bản hơn, chính cái đó đặc trưng cho sự vật. Cái căn bản hơn đó là chất của sự vật. Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác. Thuộc tính là một khía cạnh nào đó về chất của một sự vật, nó được bộc lộ ra trong mối quan hệ qua lại với sự vật khác. Đặc trưng khách quan nói trên quy định phương thức nhận thức của con người đối với chất của sự vật. Để nhận thức được những thuộc tính, từ đó nhận thức được chất của sự vật, chúng ta cần nhận thức nó trong mối quan hệ giữa các sự vật. Trong mối quan hệ cụ thể thường bộc lộ ra một thuộc tính (một khía cạnh về chất) của sự vật. Do vậy, để nhận thức được chất với tư cách là sự tổng hợp tất cả các thuộc tính vốn có của nó, chúng ta phải nhận thức sự vật trong tổng hợp các mối quan hệ có thể có giữa sự vật đó với sự vật khác. Mỗi sự vật có muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính của sự vật cũng có một phức hợp những đặc trưng về chất của mình, khiến cho mỗi thuộc tính lại trở thành một chất. Điều đó cũng có nghĩa là mỗi sự vật có vô vàn chất. Cho nên khi diễn đạt tính không thể tách rời giữa chất và sự vật cũng như tính nhiều chất của nó. Ph. Ăng ghen cho rằng, những chất lượng không tồn tại, mà những sự vật có chất lượng, hơn nữa, những sự vật có vô vàn chất lượng mới tồn tại. Mỗi sự vật có vô vàn thuộc tính. Các thuộc tính khác nhau có vị trí không như nhau, trong đó, có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản của sự vật. Ở mỗi một sự vật chỉ có một chất cơ bản, đó là loại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật. Chất của sự vật không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc của sự vật, bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó. Trong tự nhiên và trong xã hội có không ít sự vật, mà xét riêng về các yếu tố cấu thành, chúng hoàn toàn đồng nhất, nhưng các sự vật đó lại khác nhau về chất. Việc nắm được tính cấu trúc của sự vật cho phép hiểu được vì sao sự thay đổi hay mất đi của một số thuộc tính này hay thuộc tính khác của sự vật nhưng không trực tiếp dẫn đến thay đổi chất của nó. Chẳng hạn, ngày nay do tiến bộ khoa học – công nghệ, do đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động … mà sự quản lý trực tiếp của nhà tư bản đối với doanh nghiệp có xu hướng giảm, giai cấp tư sản ở một số nước thực hiện chủ trương cổ phần hóa một bộ phận cho những người lao động, trung lưu hóa một bộ phận đáng kể dân cư, nhưng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất vẫn tồn tại, quan hệ giữa tư bản với lao động vẫn là quan hệ bóc lột và bị bóc lột. Bởi vì, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối vẫn do quan hệ chiếm hữu tư liệu sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa quy định. Có thể nói, tuy có một số thay đổi như nêu trên, nhưng ở các nước đó, chủ nghĩa tư bản vẫn là chủ nghĩa tư bản. Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật không chỉ phụ thuộc vào sự thay đổi những yếu tố cấu thành, nó còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố đó. Tính xác định về chất của một loại đối tượng nào đó là tính như nhau của các đối tượng đó. Giữa các đối tượng thuộc cùng loại có thể có sự khác nhau về lượng. Chúng có thể lớn hơn hay nhỏ hơn, chúng có thể khác nhau về thể tích, về đại lượng…Như vậy ngoài tính quy định về chất, bất kỳ sự vật nào cũng có tính quy định về lượng. Đối với các đối tượng cùng loại, lượng là cái nói lên mặt đồng nhất giữa chúng. Trong thực tế, như trên đã đề cập, ngay các đối tượng cùng loại cũng có nhiều thuộc tính không như nhau. Từ những đối tượng vốn rất đa dạng đó, muốn tìm ra sự đồng nhất để từ đó đi đến ý niệm về lượng, đòi hỏi phải có sự trừu tượng hóa, tư duy bỏ qua tất cả những sự khác nhau vốn có thật của các đối tượng cùng loại. Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó. Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng, trình độ, quy mô, nhịp điệu của sự vận động và phát triển – tức là được thể hiện trong các thuộc tính không gian, thời gian của các sự vật và hiện tượng. Lượng cũng mang tính khách quan, con người không thể sáng tạo ra hay hủy bỏ được lượng của sự vật. Những đặc trưng về lượng (đặc biệt là đại lượng) cũng được biểu hiện trong những mối quan hệ nhất định. Trong thực tế có những thuộc tính về lượng của sự vật không thể biểu thị một cách chính xác bằng số lượng hay đại lượng. Thí dụ, trình độ giác ngộ cách mạng, phẩm chất tư cách đạo đức của một người … Trong những trường hợp như thế, để có tri thức đúng đắn về lượng phải có sự trừu tượng hóa cao với một phương pháp khoa học. II. MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA SỰ THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG VÀ THAY ĐỔI VỀ CHẤT Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, chất và lượng đều biến đổi. Lượng của sự vật có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản về chất của sự vật đó. Vượt qua giới hạn đó, cũng có thể làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời. Phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất là độ, khoảng giới hạn, mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật. Độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút. Điểm nút là sự thay đổi căn bản về chất được thực hiện. Sự thay đổi về lượng đạt tới điểm nút sẽ dẫn tới sự ra đời của chất mới. Sự thống nhất giữa lượng và chất mới tạo thành một độ mới với điểm nút mới. Sự vận động và phát triển là không cùng. Do đó, sự vận động, biến đổi của các sự vật sẽ hình thành một đường nút của những quan hệ về độ. Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là “bước nhảy”. Nói cách khác, bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra. Trong lịch sử triết học, do tuyệt đối hóa tính tiệm tiến, tính dần dần của sự thay đổi về lượng nên các nhà siêu hình đã phủ nhận sự tồn tại trong thực tế những bước nhảy. Theo Hê-ghen, bất kỳ sự thay đổi nào về chất cũng là sự đứt đoạn của tính tiệm tiến về lượng, đó là bước nhảy. Thừa nhận bước nhảy là điều kiện lý giải đúng tính đa dạng về chất trong hiện thực, Lê-nin nhấn mạnh “Tính tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt, thì không giải thích được gì cả “(1). Sau khi ra đời, chất mới có tác động trở lại sự thay đổi của lượng. Chất mới có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật đó. Thế giới muôn hình, muôn vẻ cho nên sự thay đổi về chất cũng hết sức đa dạng, với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau. Tính chất của các bước nhảy được quyết định bởi tính chất của bản thân sự vật, bởi những mâu thuẫn vốn có của nó, bởi điều kiện trong đó diễn ra sự thay đổi về chất. Trong tính đa dạng của những hình thức thay đổi về chất, chúng ta lưu ý tới một số loại bước nhảy cơ bản: Bước nhảy đột biến và bước nhảy diễn ra một cách dần dần, bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ. Sự phân chia thay đổi về chất thành bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dân vừa dựa trên thời gian của sự thay đổi về chất, vừa dựa trên tính chất của bản thân sự thay đổi đó. Những bước nhảy được gọi là đột biến, khi chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản cấu thành của nó. Những bước nhảy được thực hiện một cách dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ. Thời kỳ quá độ từ một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thí dụ cho bước nhảy dần dần đó. Bước nhảy dần dần là một quá trình phức tạp, trong đó có cả những quá trình tuần tự lẫn những bước nhảy nhỏ. Như vậy, sự khác nhau giữa hai loại bước nhảy vừa nêu không chỉ ở thời gian diễn ra sự thay đổi về chất, mà cả ở cơ chế của sự thay đổi đó. Mặc khác, cũng cần phân biệt bước nhảy dần dần với sự thay đổi dần dầnvề lượng. Những thay đổi dần dần về lượng diễn ra một cách liên tục trong khuônkhổ của chất đang có, bước nhảy dần dần là sự chuyển hóa chất này sang chất khác, là sự đứt đoạn của tính liên tục. Bước nhảy toàn bộ là loại bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật. Bước nhảy cục bộ là loại bước nhảy làmthay đổi một số mặt, một số yếu tố, một số bộ phận của sự vật đó. Đối với các sựvật phức tạp về tính chất, về những yếu tố cấu trúc, về những bộ phận cấu thành…bước nhảy thường diễn ra bằng con đường từ những thay đổi về chất cục bộ đếnthay đổi về chất toàn bộ. Khi xem xét sự thay đổi về chất, người ta còn chia sự thay đổi đó ra thành thay đổi cách mạng và thay đổi có tính chất tiến hóa. Trong trường hợp này, cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự cải tạo căn bản về chất của sự vật, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó được diễn ra như thế nào. Tiến hóa là sự thay đổi về chất không cơ bản của sự vật. Do vậy, cách mạng là một khái niệm có ngoại diên hẹp hơn so với phạm trù bước nhảy. Bước nhảy là phạm trù dùng để chỉ mọi sự thay đổi về chất, cách mạng là sự cải tạo chất căn bản của nó. Hơn nữa, không phải bất kỳ sự thay đổi căn bảnnào về chất cũng là cách mạng. Chỉ những thay đổi mang tính tiến bộ, tiến lên, chỉ có sự chuyển hóa từ nấc thang phát triển thấp sang nấc thang phát triển cao mới là cách mạng. Từ những phân tích trên, có thể rút ra nội dung cơ bản của quy luật chuyển dần từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại như sau: Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng. Phần 2: lý giải và minh họa sự biểu hiện của nó trong các lĩnh vực 1. Quy luật lượng chất trong khoa học tự nhiên. Như chúng ta đã biết, quy luật về sự thay đổi của lượng dẫn đến sự thay đổi về chât và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản chủa chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nội dung của nó không chỉ giới hạn trong một hay một số lĩnh vực cụ thể mà bao trùm lên mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trước hết, ta hãy xét ví dụ về sự chuyển hóa thành các dạng tồn tại khác nhau của nước. Nước (ở đây chỉ xét nước tinh khiết) xét trên phương diện cấu tạo hóa học là một hợp chất được cấu tạo nên bởi hai nguyên tố là hiđro và oxi. Nước có công thức cấu tạo hóa học là H2O. Ở điều kiện bình thường nước tồn tại ở dạng lỏng nhưng ở những điều kiện đặc biệt, nước còn có thể tồn tại ở những dạng khác như rắn, khí hay plasma. Quy luật lượng chất thể hiện rõ nhất trong quá trình chuyển hóa giữa những dạng tồn tại khác nhau của nước. Ở ví dụ này, trong mối quan hệ giữa các trạng thái tồn tại của nước ta có thể thấy rằng chất của nước chính là trạng thái tồn tại (rắn, lỏng, khí hay plasma) còn lượng chính là nhiệt độ nước, vận tốc của các phân tử nước. Có thể nhận thấy rõ rằng, trạng thái của nước luôn tương ứng với nhiệt độ của nó. Khi nhiệt độ của nước ở -273oC thì nước ở thể rắn, nhiệt độ có tăng thêm tới -270oC, 250oC hay thậm chí lên tới -10C thì nước vẫn ở thể rắn mà thôi. Cũng trong khoảng nhiệt độ này, vận tốc của các phân tử nước cũng tăng dần theo nhiệt độ của nước nhưng chưa đủ để tạo nên sự thay đổi trong trạng thái tồn tại của nước, tức là mặc dù lượng của nước đã thay đổi nhưng về cơ bản thì chất của nó vẫn được giữ ổn định. Tuy nhiên, Khi nhiệt độ của nước tăng lên đến 0oC và cao hơn nữa thì trạng thái của nước bắt đầu có sự thay đổi, chuyển từ thể rắn sang thể lỏng, tức là về cơ bản, chất của nước đã thay đổi. Quá trình chuyển hóa giữa các dạng của nước cũng diễn ra tương tự ở những nhiệt độ khác nhau. Như vậy, có thể thấy rằng, Khoảng nhiệt độ từ -273oC đến 0oC chính là độ của nước. Đây là khoảng giới hạn mà lượng của nước đựơc tích lũy nhưng không làm thay đổi chất căn bản của nước. Đến 0oC thì sự thay đổi về chất diễn ra, như vậy, 0oC chính là điểm nút mà ở đó, sự tích lũy về lượng của nước đã đủ để làm nó có sự thay đổi về chất. Từ 0°C, nước không còn ở thể rắn nữa mà chuyển hoàn toàn sang thể lỏng, vì vậy, đây chính là bước nhảy của nước trong quá trình chuển từ thể rắn sang thể lỏng. Chất mới được sinh ra lại tiếp tục quay trở lại tác động đến lượng mới, điều này thể hiện ở vận tốc của các phân tử nước ở trạng thái lỏng được tăng lên đáng kể so với trạng thái rắn khi mà nhiệt độ của nước tiếp tục được nâng lên… Tương tự như sự phân tích trên, căn cứ vào sơ đồ ta sẽ có được những độ, những điểm nút (100°C, 550°C) và những chất mới. Quy luật này của nước được thể hiện rõ ràng nhất ở vòng tuần hoàn của nước trong tự nhiên. Ví dụ về nước chỉ là một trong vô vàn ví dụ về quy luật lượng chất trong tự nhiên. Việc nhận thức đúng đắn quy luật này có ý nghĩa rất to lớn, trước hết, nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn và đầy đủ về thế giới tự nhiên và từ đó đem những gì nhận thức được quay trở lại, cải tạo tự nhiên, phục vụ cho cuộc sống của con người. 2:quy luật của lượng và chất trong tư duy Biển lớn tri thức nhân loại thật bao la vô tận. Con người, bên cạnh việc phát triển về thể xác, tinh thần còn phải luôn tự mình tiếp thu những tri thức của nhân loại, trước hết là để phục vụ cho bản thân. Tri thức tồn tại dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú, do vậy con người có thể tiếp thu nó bằng nhiều cách khác nhau. Quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm diễn ra ở mỗi người khác nhau là khác nhau, tùy thuộc vào mục đích, khả năng, điều kiện… của mỗi người. Quá trình tích lũy tri thức của con người cũng không nằm ngoài quy luật lượng chất. Bởi vì, dù nhanh hay chậm thì sớm muộn, sự tích lũy về tri thức cũng sẽ làm con người có được sự thay đổi nhất định, tức là có sự biến đổi về chất. Quá trình biến đổi này trong bản thân con người diễn ra vô cùng đa dạng và phong phú, ở ví dụ này chúng tôi chỉ xin giới hạn việc làm rõ quy luật lượng chất thông qua quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên. Là sinh viên, ai cũng phải trải qua quá trình học tập ở các bậc học phổ thông kéo dài trong suốt 12 năm. Trong 12 năm ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh đều được trang bị những kiến thức cơ bản của các môn học thuộc hai lĩnh vực cơ bản là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Bên cạnh đó, mỗi học sinh lại tự trang bị cho mình những kĩ năng, những hiểu biết riêng về cuộc sống, về tự nhiên, xã hội. Quá trình tích lũy về lượng (tri thức) của mỗi học sinh là một quá trình dài, đòi hỏi nỗ lực không chỉ từ phía gia đình, nhà trường mà còn chính từ sự nỗ lực và khả năng của bản thân người học. Quy luật lượng chất thể hiện ở chỗ, mỗi học sinh dần tích lũy cho mình một khối lượng kiến thức nhất định qua từng bài học trên lớp cũng như trong việc giải bài tập ở nhà. Việc tích lũy kiến thức sẽ được đánh giá qua các kì, trước hết là các kì thi học kì và sau đó là kì thi tốt nghiệp. Việc tích lũy đủ lượng kiến thức cần thiết sẽ giúp học sinh vượt qua các kì thi và chuyển sang một giai đoạn học mới. Như vậy, có thể thấy rằng, trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh thì quá trình học tập tích lũy kiến thức chính là độ, các kì thi chính là điểm nút, việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy làm cho việc tiếp thu tri thức của học sinh bước sang giai đoạn mới, tức là có sự thay đổi về chất. Trong suốt 12 năm học phổ thông, mỗi học sinh đều phải tích lũy đủ khối lượng kiến thức và vượt qua những điểm nút khác nhau, nhưng điểm nút quan trọng nhất, đánh dấu bước nhảy vọt về chất và lượng mà học sinh nào cũng muốn vượt qua đó là kì thi đại học. Vượt qua kì thi tốt nghiệp cấp 3 đã là một điểm nút quan trọng, nhưng vượt qua được kì thi đại học lại còn là điểm nút quan trọng hơn, việc vượt qua điểm nút này chứng tỏ học sinh đã có sự tích lũy đầy đủ về lượng, tạo nên bước nhảy vọt, mở ra một thời kì phát triển mới của lượng và chất, từ học sinh chuyển thành sinh viên. Cũng giống như ở phổ thông, để có được tấm bằng đại học thì sinh viên cũng phải tích lũy đủ các học phần theo quy định. Tuy nhiên, việc tích lũy kiến thức ở bậc đại học có sự khác biệt về chất so với học phổ thông. sự khác biệt nằm ở chỗ, sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức một cách đơn thuần mà phải tự mình tìm tòi nghiên cứu, dựa trên những kĩ năng mà giảng viên đã cung cấp. Nói cách khác, ở bậc đại học, việc học tập của sinh viên khác hẳn về chất so với học sinh ở phổ thông. Việc tiếp thu tri thức diễn ra dưới nhiều hình thức đa đạng và phong phú, từ cơ bản đến chuyên sâu, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều. Từ sự thay đổi về chất do sự tich lũy vê lượng trước đó (ở bậc học phổ thông) tạo nên, chất mới cũng tác động trở lại. Trên nền tảng mới, trình độ, kết cấu cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng thay đổi, tiếp tục hướng sinh viên lên tầm tri thức cao hơn. Cũng giống như ở bậc học phổ thông, quá trình tích lũy các học phần của sinh viên chính là độ, các kì thi chính là điểm nút và việc vượt qua các kì thi chính là bước nhảy, trong đó bước nhảy quan trọng nhất chính là kì thi tốt nghiệp. Vượt qua kì thi tốt nghiệp lại đưa sinh viên chuyển sang một giai đoạn mới, khác về chât so với giai đoạn trước. Quá trình đó cứ liên tục tiếp diễn, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng ngay trong chính bản thân con người, tạo nên động lực không nhỏ cho sự phát triển của xã hội. Việc nhận thức quy luật lượng chất trong quá trình học tập của học sinh sinh viên có ý nghĩa rất to lớn trong thực tiễn, không chỉ với bản thân người học mà còn rất có ý nghĩa với công tác quản lý và đào tạo. Thực tế tong nhiều năm qua, giáo dục nước ta đã mắc phải nhiều sai lầm trong tư duy quản lý cũng như trong hoạt động đào tạo thực tiễn. Việc chạy theo bệnh thành tích chính là thực tế đáng báo động của nghành giáo dục bởi vì mặc dù sự tích lũy về lượng của học sinh chưa đủ nhưng lại vẫn được “tạo điều kiện” để thực hiện “thành công” bước nhảy, tức là không học mà vẫn đỗ, không học nhưng vẫn có bằng. Kết quả là trong nhiều năm liền, giáo dục nước ta đã cho ra lò những lớp người không “lượng” mà cũng chẳng có “chất”. Xuất phát từ việc nhận thức một cách đúng đắn quy luật trên cho phép chúng ta thực hiện những cải cách quan trọng trong giáo dục. Tiêu biểu là việc chống lại căn bệnh thành tích trong giáo dục vẫn tn tại hàng thập kỉ qua. Bên cạnh đó là việc thay đổi phương giáo dục ở bậc phổ thông và đào tạo đại học. Việc chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ và cho phép người học được học vượt tiến độ chính là việc áp dụng đúng đắn quy luật lượng chất trong tư duy con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Chính Trị Tôn Đức Thắng
  • Câu “tư Bản Ko Thể Xuất Hiện Từ Lưu Thông Và Cũng Ko Thể Xuất Hiện Ở Bên Ngoài Lưu Thông. Nó Phải Xuất Hiện Trong Lưu Thông Và Đồng Thời Ko Phải Trong Lưu Thông” (Trích Mác
  • Bài 1: Các Nguyên Tắc Khách Quan Và Nguyên Tắc Toàn Diện
  • Dap An Cau Hoi Triet Hoc (1)
  • Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Thị Trường Và Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Thời Kỳ Quá Độ Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Ở Nước Tanguyễn Gia Thơ
  • Phương Thức Tồn Tại Của Vật Chất Theo Quan Điểm Của Triết Học Duy Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Hàng Hóa Và Hai Thuộc Tính Hàng Hóa
  • Vị Trí, Đối Tượng, Phương Pháp Và Chức Năng Của Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
  • Bài 8. Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Mối Quan Hệ Giữa Tình Cảm Và Lý Trí Trong Ý Thức Đạo Đức
  • Cách Sử Dụng Hàm Iferror Trong Excel Dễ Hiểu Nhất
  • 37239

    Để viết bài tiểu luận triết học em xin chọn đề tài: “Hãy trình bày quan điểm duy vật biện chứng về những phương thức tồn tại của vật chất”.

    Do kiến thức và tầm hiểu biết còn hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi sai sót rất mong được thầy giáo xem xét và góp ý kiến cho bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    PHẦN II: NỘI DUNG – QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ NHỮNG PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT

    1. Phạm trù vật chất.

    Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm. Ngay từ lúc mới ra đời xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời, giống như mọi phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và với sự hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên.

    Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới tự nhiên của thế giới, cơ sở của mọi tồn tại là một bảng nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí” của thượng đế, “ý niệm tuyệt đối” vv chẳng hạn, Platôn nhà triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ cho rằng vật chất bắt nguồ từ “ý niệm”, sự vật cảm tính là cái bóng của “ý niệm”. Mặt khác, ông tỏ ra căm thù căm thù chủ nghĩa duy vật, kết tội các nhà duy vật, nhất là các môn đồ của Đemô out là vị thần – một tội kết án tử hình theo luật của Aten thời bấy giờ, và đã đốt hết tác phẩm của Đêmôrit. Hêghen nhà duy tâm khách quan tâm của triết học cổ điển Đức cho rằng “vật chất là do ý niệm tuyệt đối sinh ra”. Mặt khác, ông có thái độ thiên lịch đối với chủ nghĩa duy vật, đã cố tình xuyên tạc, vu khống triết học duy vật của Heraclit và Êpiquya. Béccli đã hệ thống hoá một số quan điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan đưa ra một số công thức chung:”tồ tại tức là được tri giác”. Ý nghĩa của công thức là mọi sự tồn tại trong chừng mực con người cảm thấy chúng, cái gì ngoài tri giác là không tồn tại, không có chủ thẻ thì không có khách thể công thức này đã phủ nhận khách quan sự tồn tại của vật chất, kể cả con người, tất yếu dẫn tới chủ nghĩa duy ngã, nghĩa là ngoài cái tôi ra thì không có cái gì hết.

    Vào thời kỳ cổ đại các nhà triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung là những dạng cụ thể của nó, tức là những vật thể hữu hình cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài. ở Trung Hoa thời cổ đại, các nhà duy vật coi khí là thực thể của thế giới ở Ấn Độ thời cổ đại phái Ngaya – Vaisếika coi nguyên tử là thực thể của thế giới ở Hy Lạp cổ đại, Talet coi thực thể của thế giới là nước Anaximen coi thực thể ấy là khí Hêraclit coi thực thể ấy là lửa. Phủ nhận quan điểm thực thể của thế giới là một chất cụ thể, Ămpêđoclơ đã coi thực thể và không khí Anaximanctrơ cho rằng thực thể về thế giới là một bản nguyên tử không xác định về chất, vô tận về mặt lượng, đó là Apeirôn. Đỉnh cao của tư tưởng duy vật cổ đại về vật là thuyết nguyên tử của Lơxip, và Đêmôgrip… Nguyên tử là các phần tử cực nhỏ, cứng không thể xâm nhập được không cảm giác được. Nguyên tử có nhiều loại sự kết hợp hoặc tách rời nguyên tử theo trật tự khác nhau của không gian tạo nên toàn bộ thế giới. Thuyết nguyên tử còn mang tính chất phác nhưng phỏng đoán thiên tài ấy về cấu tạo vật chất đã có ý nghĩa định hướng đối với sự phảt triển khoa học nói chung đặc biệt là vật lý học khi phát hiện ra sự tồn tại hiện thực của nguyên tử.

    2. Theo quan niệm về vật chất thời cận đại Tây âu.

    Từ thời kỳ Phục Hưng, đặc biệt là thời kỳ cận đại thế kỷ XVII – XVIII, khoa học tự nhiên thực nghiệm Châu Âu phát triển khá mạnh. Chủ nghĩa duy vật nói chung và phạm trù vật chất nói riêng đã có bước phát triển mới chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng. Mở đầu thời kỳ này lần đầu tiên Copecnich chứng minh mặt trời là trung tâm đã làm đảo lộn truyền thuyết của kinh thánh và quan điểm thần học về thế giới. Phranxi Bêcơn coi thế giới vật chất tồn tại khách quan, vật chất là tổng hợp các hạt, coi tự nhiên là tổng hợp của những vật thể có chất lượng muôn màu, muôn vẻ coi vận động là một thuộc tính không tách rời khỏi vật chất Pierơ Gat xăng đi phát triển học thuyết nguyên tử cổ đại và cho rằng thế giới gồm những nguyên tử có đặc tính tuyệt đối như tính kiên cố và tính không thể thông qua. Đêcáctơ trong học thuyết vật lý duy vật của mình đã xuất phát từ vật chất vận động để giải thích thế giới. Xpinôza cho rằng chỉ có tự nhiên là tồn tại, tự nhiên là nguyên nhân tự nó, để tồ tại thì tự nhiên chẳng cần cái gì khác. Ông cho rằng thực thể là thống nhất còn vật hữu hạn thì nhiều vô kể .Vào thế kỷ XVIII các nhà duy vật Pháp đã phát triển phạm trù vật chất lên một bước mới. Điđrô cho rằng, trong vũ trụ, trong con người, trong mọi sự vật chỉ chỉ có thực thể duy nhất là vật chất vật chất là nguyên nhân duy nhất của máy móc về vân động, ông nêu lên tư tưởng biện chứng rằng bản tính cố hữu của vật chất là vận động, vận động là năng lực sống động của vật chất vận động có cả ở vật chất đang vận động lẫn đứng yên. Ông coi quá trình vận động và phát triển của vật chất, giới tự nhiên sẽ chọn lọc những gì giúp cho ngày càng hoàn thiện, đồng thời đào thải những vật không thích nghi Honbach khẳng định rằng tự nhiên là nguyên nhân đầu tiên của vạn vật. Vật chất theo honbach đó là tất cả những gì tác động bằng cách nào đó vào cảm giác của chúng ta tuy vậy khoahọc thời kỳ này chỉ có cơ học cổ điển phát triển nhất, còn các ngành khoa học khác như vật lý học, hoá học, sin học, địa chất học còn ở trình độ thấp khoa học lúc này chủ yếu dừng lại ở trình độ sưu tập mô tả. Tương ứng với trình độ trên của khoa học thì quan điểm thống nhất trong triết học và khoa học tự nhiên thời bấy giờ đó đã chi phối triết học về vật chất. Người ta giải thích mọi hiện tượng tự nhiên bằng sự tác động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy củacác phân tử vật tư, theo đó các phần tử của các phân tử vật thể, theo đó các phần tử của vật trong quá trình vận động là bất biến còn cái thay đổi chỉ là trạng thái không gianvà tập hợp của chúng. Mọi phân biệt về chất giữa vật thể đều bị quy giảm về sự phân biệt về lượng, mọi sự vận động đều bị quy giảm về sự phân biệt về lượng, sự dịch chuyển vị trí trong không gian, mọi hiện tượng phức tạp đều bị quy về cái giản đơn mà từ đó chúng được thành thành. Niềm tin vào các chân lý trong cơ học Niutơn đã khiến các nhà khoa học đồng nhất vật chất với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vật động cơ học, nguồn gốc vận động nằm ngoài vật chất. Kế thừa quan điểm nguyên tử luận cổ đại, các nhà triết học duy vật cận đại vẫn coi nguyên tử là phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia được, tách rời nguyên tử với vận động, không gian với thời gian.v.v…

    Đến cuối thế XIX đầu thế kỷ XX khi xuất hiện những phát minh mới trong khoa học tự nhiên con người mới có những hiểu biết căn bản hơn sâu sắc hơn về nguyên tử. Năm 1895 Ronghen phát hiện ra tia X, một loại máy điện từ có bước sóng từ 0,01 đến 100.10-8 cm. Năm 1896 Beccơren đã phát hiện ra hiện tượng phóng xạ, đã bác bỏ quan niệm về sự bất biến của nguyên tử. Năm 1897 Jonson phát hiện ra điện tử và chứng minh được điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử. Nhờ phát minh này, lần đầu tiên trong khoa học sự tồn tại hiện thực của nguyên tử đã được chứng minh bằng thực nghiệm. Năm 1901, Kauyman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là khối lượng tĩnh, mà là khối lượng thay đổi theo tốc độ vận động của điện tử. Những phát hiện đó là bước tiến mới của loài người trong việc nhận thức và làm chủ giới tự nhiên nó bác bó quan niệm siêu hình về vật chất. Những quan niệm đương thời về thế giới hạn tột cùng của vật chất là nguyên tử hoặc khối lượng đã sụp đổ trước khoa học. Vấn đề là ở chỗ trong nhận thức lúc đó các hạt điện tích và trường điện từ là cái gì đó phi vật chất. Đây chính là mảnh đất để chủ nghĩa duy tâm lợi dụng những người theo chủ nghĩa duy vật đã biến mất, nền tảng của chủ nghĩa duy vật đã sụp đổ chính trong hoàn cảnh như vậy Lênin đã khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên và chỉ rõ rằng vật chất không bị tiêu tan.

    Tổng kết lại ta thấy được rằng từ lúc mới xuất hiện, phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩ duy tâm. Phạm trù vật chất có quá trình phát triển gắn liền với con người. Quan niệm về vật chất ở thời kỳ cận đại và cổ đại Tây âu và trong triết học Mác – Lênin là rất khác nhau. Ở thời kỳ cận đại Tây Âu đặc biệt là ở thế kỷ 17- 18 khoa học châu Âu phát triển khá mạnh. Do đó chủ nghĩa duy vật nói chung và phạm trù vật chất nói riêng đã có những bước phát triển mới chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng. Theo quan niệm của Lênin thì vật chất là một phạm trù rộng lớn, do đó chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với ý thức. Đó chính là phạm trù vận động không gian và thời gian. Như vậy ta có thể thấy được rằng vật chất là một phạm trù tồn tại từ rất lâu và luôn luôn phát triển với yếu tố con người. Chính vì tính cấp thiết và sự quan trọng của nó mà em đã chọn đề tài: “Quan điểm của Mác – Ănghen về vật chất” làm đề tài bài viết tiểu luận triết học của mình. Trong quá trình làm bài viết này chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót, rất mong được thầy góp ý và đánh giá.

    1. Giáo trình triết học Mác-Lênin tập 2 CNXB chính trị quốc gia 1997

    2. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VI

    3. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VII

    4. Văn kiện đại hội toàn quốc lần VIII

    5. Kinh tế 1998 -1999 Việt Nam và thế giới(thời báo kinh tế Việt Nam)

    6. Thời báo kinh tế Việt Nam

    7. Tạp chí nghiên cứu kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tồn Tại Xã Hội, Ý Thức Xã Hội Và Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Chúng?
  • Phân Tích Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Tồn Tại Xã Hội Và Ý Thức Xã Hội
  • Thuật Ngữ Triết Học Hegel: ‘tồn Tại, Hư Vô Và Trở Thành (Sự)’
  • Phương Pháp Biện Chứng Là Gì? Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Là Gì?
  • Làm Thế Nào Để Viết ​một Triết Lý Quản Lý Lớp Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Lý Giáo Dục Của Bạn Là Gì?
  • Mối Tương Thông Giữa Pháp Luật Và Triết Học
  • Tìm Hiểu Về Triết Học Pháp Quyền Của Hêghen
  • Về Lòng Biết Ơn Và Mối Quan Hệ Sòng Phẳng Giữa Nhà Nước Và Nhân Dân
  • Biết Định Nghĩa Về Tiếng Mẹ Đẻ Và 20 Ngôn Ngữ Hàng Đầu Thế Giới
  • Lượt Xem:759

    Làm thế nào để viết một triết lý quản lý lớp học

    Viết triết lý quản lý lớp học của bạn

    Viết triết lý của bạn không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, có rất nhiều điều phải suy nghĩ. Để bắt đầu, bạn nghĩ vai trò của sinh viên là gì? Bạn có nghĩ rằng sinh viên nên có tiếng nói trong các quy tắc? Còn vai trò của giáo viên thì sao? Giáo viên có nên là người đặt ra tất cả các quy tắc? Niềm tin của bạn về việc quản lý lớp học là gì, bạn có thích ý tưởng sử dụng hệ thống khen thưởng không? Tự hỏi bản thân những loại câu hỏi này sẽ giúp bạn định hình cơ thể cho câu nói của mình.

    Quan điểm về vai trò của học sinh

    Bạn có nghĩ rằng học sinh nên được uốn nắn để cư xử đúng đắn?

    Bạn có nghĩ rằng sinh viên nên bị kỷ luật?

    Bạn có tin rằng sinh viên nên tự điều chỉnh, hoặc bạn nghĩ sinh viên có thể được dạy tự kiểm soát?

    Bạn có xem các sinh viên như nhau, hoặc bạn nghĩ họ không nên nói?

    Bạn có tin vào việc giao trách nhiệm cho sinh viên, hay bạn nghĩ rằng điều đó sẽ cho họ quá nhiều quyền kiểm soát?

    Quan điểm về vai trò của giáo viên

    Bạn có thấy mình là một ông chủ hay hơn là một người hướng dẫn không? Hay bạn là người hướng dẫn hay đại biểu nhiều hơn?

    Quan điểm của bạn về việc tạo quy tắc là gì? Giáo viên nên làm cho tất cả hoặc nên là một cuộc đàm phán với các sinh viên?

    Bạn có phải là một nhà giáo dục quyết đoán, hay bạn nghĩ giáo viên nên thoải mái hơn?

    Giáo viên là người lãnh đạo, hay bạn nghĩ học sinh nên có tiếng nói trong việc học hay cách học?

    Niềm tin của bạn vào kỷ luật là gì? Học sinh có nên nói không?

    Quan điểm quản lý lớp học

    Bạn có tin vào việc thiết lập một bầu không khí độc đoán, cho phép hoặc dân chủ?

    Bạn có tin vào một lớp học tập trung nhiều sinh viên hơn, hay một lớp học truyền thống hơn?

    Quan điểm của bạn về hành vi gây rối là gì?

    Niềm tin của bạn về việc khen thưởng học sinh vì hành vi tốt là gì?

    Bạn có ổn không khi sử dụng kế hoạch quản lý hành vi của hệ thống trường học, hoặc bạn muốn áp dụng kế hoạch của riêng mình vì bạn có quan điểm khác?

    Báo cáo mẫu

    Tôi tin rằng tất cả các sinh viên nên được đối xử công bằng, và tốt hơn là dạy kỷ luật hơn là áp đặt nó. Tôi sẽ làm điều này bằng cách có một thói quen nghiêm ngặt và luôn dạy cho học sinh của mình hành vi chấp nhận được.

    Một khi bạn đã trả lời những câu hỏi này và những câu hỏi mà bạn tự đưa ra, bạn nên có một ý tưởng khá hay về triết lý quản lý lớp học tổng thể của bạn. Hãy chắc chắn để giới thiệu tuyên bố của bạn với quan điểm tổng thể của bạn, và mục tiêu của bạn về kế hoạch quản lý lớp học của bạn. Sau đó làm theo điều đó với một đoạn về vai trò của học sinh, vai trò của giáo viên và quan điểm chung của bạn về việc quản lý lớp học. Tổng hợp tất cả những suy nghĩ của bạn về cách kế hoạch của bạn sẽ cung cấp cho sinh viên của bạn một môi trường học tập an toàn và hỗ trợ, và bạn có cho mình một tuyên bố triết lý quản lý lớp học. Chúc may mắn!

    Các bài viết mới

    Các tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Thức Về Chân Lý Trong Phật Giáo
  • Lực Lượng Sản Xuất Là Gì ?
  • Giá Trị Cốt Lõi Của Chủ Nghĩa Mác
  • Lực Lượng Sản Xuất Và Quan Hệ Sản Xuất Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Hệ Thống Câu Hỏi Lớp 10 Gdcd Phần Triết Học Câu 1
  • Tình Yêu Là Vật Chất Hay Ý Thức Trong Triết Học?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ví Dụ Về Sự Thay Đổi Về Lượng Dẫn Đến Sự Thay Đổi Về Chất Và Ngược Lại
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?
  • Nội Dung Cơ Bản Nhất Của Nho Giáo Qua Lịch Sử Của Nó
  • Biện Pháp Khai Thác Truyện Kể Trong Dạy Học Các Bài Triết Học
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Là Gì? Nó Có Những Hình Thức
  • ỦNG HỘ WEBSITE BẰNG CÁCH BẤM “ĐĂNG KÝ” OR “SUBSCIREBE” KÊNH YOUTUBE ĐỂ CHÚNG TÔI CÓ KINH PHÍ DUY TRÌ WEBSITE VÀ ĐĂNG TẢI NHIỀU TÀI LIỆU MỚI CHO BẠN.

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Có ngồn tin nói rằng:

    “Tình yêu không phải là do ý thức quyết định mà là vật chất. Người ta vẫn thường lầm tưởng rằng tình yêu là đến từ con tim, từ ý thức con ng, nhưng thực tế khoa học cũng chứng minh rằng trái tim là vô tội. Mọi cảm xúc, tình cảm của con người đều bị chi phối, điều khiển từ não bộ của con người. Mà bạn biết đấy, não bộ của con ng cũng chính là 1 dạng vật chất còn gì. Kỳ thực ý thức của con ng cũng do vật chất, tức bộ não quyết định. Cho nên nói tình y là vật chất không sai.

    Tuy nhiên cũng ko thể phủ nhận sự tác động của ý thức đối với ty.Bởi vì mọi sự vật tồn tại trong thế giới điều chịu sự quy định của vật chất và sự tác động của vật chất, vật chất và ý thức không tách rời.”

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Và cũng nguồn tin bảo rằng:

    “Tình yêu là ý thức chứ kô phải vật chất

    Tình yêu là một từ có rất nhiều ý nghĩa khác nhau trong tiếng Việt.

    Nó có thể một thứ gì đó gây thích thú (tôi yêu bữa ăn này), tới điều gì mà một người sẵn sàng chết vì nó (lòng yêu tổ quốc). Nó có thể miêu tả một cảm giác mãnh liệt, một sự xúc động. Trong cách sử dụng thông thường thì đó là tình yêu giữa cá nhân với nhau. Tình yêu là đề tài phổ biến nhất trong nghệ thuật.

    Có nhiều kiểu tình yêu. Tình yêu là vấn đề vốn có, cố hữu trong mọi nền văn hóa con người. Thực sự nhiều nền văn hóa khác nhau đã làm cho định nghĩa nói chung về tình yêu rất khó thiết lập.

    Sự biểu lộ của tình yêu có thể bao gồm tình yêu dành cho linh hồn, cho thiên nhiên, cho tiền bạc, cho học tập, cho sức mạnh, cho nữ giới, cho thức ăn, cho sự tôn trọng người khác… Nhiều người khác nhau đặt những tầm quan trọng khác nhau cho những loại tình yêu mà họ nhận được. Tình yêu về cơ bản khá trừu tượng, khó hiểu, hiểu theo kinh nghiệm dễ hơn là giải thích.

    Tình yêu không dành cho con người

    Một người có thể coi là yêu tổ quốc, một địa danh, hay một bàn thắng nếu họ coi trọng và tận tâm một cách sâu sắc với nó.

    Tình yêu trong văn hóa thế giới

    Hình thiên thần nhỏ, có cánh cũng là một biểu tượng cho tình yêu

    Trung Quốc

    Trong ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, nhiều thuật ngữ thể hiện khái niệm “tình yêu”:

    愛 ái được dùng như một động từ (ví dụ trong 我愛你 ngã ái nễ “anh/em yêu em/anh”) hay một danh từ, đặc biệt ái tình(愛情).

    La tinh

    Ngôn ngữ La tinh có nhiều động từ ứng với “tình yêu”.

    Amare là gốc của động từ “yêu”, mà ngày nay vẫn còn sử dụng trong tiếng Ý.

    Bản chất tình yêu

    (theliquidimage)

    Các nhà khoa học vừa khám phá ra một hỗn hợp hoá chất trong não đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo nên sự lãng mạn của những đôi uyên ương và sự hấp dẫn mãnh liệt ở giới nam – nữ. Đó thực sự là điều mà mọi người gọi là tình yêu.

    Yêu là chết, vẫn yêu

    Tại sao một đối tượng nào đó dù chỉ là lần gặp gỡ đầu tiên đã hớp hồn ta? Tại sao người ta luôn tìm kiếm sự lãng mãn của nhau? Tại sao có người chỉ yêu duy nhất một người đến trọn đời?

    Muôn vàn câu hỏi tại sao vẫn chưa có lời đáp, vì nếu đã có đáp số thì người ta đã biết tình yêu là gì và sẽ chẳng còn ai lao vào tìm tình yêu nữa.

    Nhà nhân chủng học thuộc Đại học Rutgers ở Mỹ – Helen Fisher đã dành hàng chục năm trời để nghiên cứu về những con đường hoá học của tình yêu ở mọi hình thức biểu lộ của nó: thèm khát lẫn nhau, lãng mạn, ôm ấp, giận hờn và ghen tuông. Bà cho biết: “Người phụ nữ thường sử dụng những cảm giác vô thức của mình để quyết định xem liệu anh chàng nào đó có phù hợp với mình hay không. Nếu anh ta thiếu can đảm và cứng nhắc thì cô ta sẽ không thấy hứng thú vì cho rằng anh chàng này không thể nào là ông chồng tốt trong tương lai. Các nhà khoa học tin rằng chính điều này đã giúp phái nữ biết phân biệt đâu là người tốt và đâu là Sở Khanh”.

    Khi hai người khác giới nhìn thẳng vào người mình yêu, những phần não bộ liên kết với nhau tạo ra cảm giác hứng thú và thu hút lẫn nhau, hay còn gọi là chất dopamine – được thấy với nồng độ cao trong tuỷ thượng thận và trong não có thể hoạt động như chất dẫn truyền thần kinh. Ở phần não phải, chất dopamine tạo ra năng lượng mạnh, niềm phấn chấn, tập trung và động cơ thúc đẩy.

    Điều đó giải thích vì sao khi mới bước vào tình trường, bạn có thể thức suốt đêm, ngắm mặt trời mọc, chạy đường trường không biết mệt, dám làm những điều bình thường không dám làm… Chính tình yêu tạo thêm hưng phấn, làm bạn sáng suốt hơn, giúp bạn vượt qua những trở ngại để đạt được điều mơ ước.

    Tình yêu bắt đầu từ lỗ… mũi

    Các chuyên gia phân tâm học hiện đại cho rằng, chúng ta thường mong muốn gặp gỡ những người thật hấp dẫn và do đó khi chọn bạn đời, ta luôn chọn những người trông khoẻ khoắn.

    Khoẻ mạnh ở người phụ nữ có nghĩa là phải đạt 70% tỷ lệ eo và mông, còn ở nam giới phải có mức testosterone trong máu cao. Tỷ lệ vòng eo và mông đóng vai trò quan trọng trong việc sinh sản của phụ nữ và một hệ miễn dịch khoẻ ở nam giới để cho ra đời con cái khoẻ mạnh.

    Có lẽ sự lựa chọn bạn đời phụ thuộc vào chiếc… mũi! Claus Wedekind ở Đại học Lausanne đã làm một thí nghiệm hấp dẫn với… áo pull.

    Ông yêu cầu 49 phụ nữ thử ngửi những chiếc áo được những người đàn ông bí mật mặc trước đó, theo kiểu di truyền khác nhau nhằm tác động đến mùi cơ thể và hệ miễn nhiễm. Sau đó ông yêu cầu họ phân loại áo mùi tốt nhất và có mùi ghê nhất. Kết quả phụ nữ thích hương thơm từ chiếc áo được mặc bởi anh chàng có kiểu gene khác với mình.

    Khi nghiên cứu khía cạnh sinh học của tình dục, ông đã phát hiện những cơ thể gắn bó khiến con người là một sinh vật mang tính xã hội cao và không thể sống đơn lẻ. Chính phân tử ocytocine tạo ra cảm giác sung sướng khi đạt cực khoái trong giao hợp cũng giúp gắn kết tình cảm mẹ con khi người mẹ cho con bú, và là phân tử tạo ra sự chung thuỷ. Khi tiêm ocytocine vào chuột thích “đa thê” thì chúng trở nên chung thuỷ thấy rõ.

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học? Tình yêu triết học Thầy giáo Vũ Đình Bảy, khoa GDCT – ĐHSP Huế Em đến với anh bằng tình yêu triết học Tình ta chứa chan đầy mâu thuẫn Mâu thuẫn ấy không thể tách rời tranh đấu Mà làm cho tình yêu phát triển đi lên Anh khuyên em đừng phủ định vùng lên Đừng vội cho anh là duy tâm hạng nhất Và ” Đa nguyên” là không thể biết Anh ghét nhị nguyên dao động lưng chừng Và lên án cả siêu hình máy móc Ta vận động đâu chỉ bằng cơ học Mình đến với nhau bằng khối óc tư duy Anh phán đoán xem em đang nghĩ gì ? Có phải vì em mà anh đang “duy lý” Sẽ theo anh đến tận ngàn thu Hai đứa chúng ta là một cặp phạm trù Và hai mặt “đối lập” của tình yêu bất diệt Và hai trái tim cùng nhịp đập Đang chuyển hoá giữa không gian hừng hực Lửa tình yêu vũ trụ quay cuồng Đánh thức dậy những tâm hồn đã tắt Giọt nắng “hư vô” ý niệm bay về Và cả thánh Valentin đáng kính Tình đôi ta như chân lý phân minh Mối liên hệ vững bền em hãy ghi nhớ Em ơi ! Xin đừng vì nguyên cớ Vì nguyên nhân mà phụ tình anh Em giữ gìn ngôn hạnh công dung Những khái niệm thân thương dệt thành tri thức Vì yêu em nên anh thú thực Con người anh cũng có lúc riêng chung Cũng có lúc nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả Em hãy nhẹ nhàng thư thả nhắc anh nghe Ta phải làm gì tránh những nguy cơ Kẻo chệch hướng tình yêu về hiện tượng Để tình ta mãi mãi xanh thực tiễn Anh báo thế gian này không hề chuyển biến Không ai tắm hai lần trên dòng sông Sau mỗi Satna em ơi mình đã khác Dù anh xin em đừng có khóc Đừng cho đi phủ định sạch trơn Đừng dấu diếm bờ môi thất vọng Đừng bỏ qua một cách vội vàng Ở phía trước vận động không phải là vô tận Tồn tại hay không là cả một vấn đề Em đừng mải mê trực quan sinh động Muốn hiểu rõ về nhau hay tư duy trừu tượng Tránh chủ quan trong đánh giá con người Ta sẽ biến khả năng thành hiện thực sáng ngời Và mãi đây dù vật đổi sao dời Người yêu hỡi Thời gian em ơi hãy đợi Anh cùng em bước qua thời quá độ Hướng đến ngày “hất đổi” ánh bình minh Hướng đến tình yêu cộng sản văn minh Giữa hiện thực khách quan hai đứa chúng mình Vận động mãi trong tình yêu hạnh phúc Để tình yêu đang chờ phía trước Kết độ rồi nhảy vọt tới hôn nhân Và bước tới hình thái gia đình riêng cụ thể Ta ngày càng biện chứng trong nhau Anh khái quát mấy lời gửi em yêu mến Ta hãy mong chờ thực tiễn của ngày mai Khúc khải hoàn biện chứng của tương lai Như quy luật muôn đời tất yếu Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    Tình yêu là vật chất hay ý thức trong triết học?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triết Học Về Chính Trị: 6
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Dân Chủ Và Phát Huy Quyền Làm Chủ Của Nhân Dân
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Mác
  • Phẩm Giá Con Người Trong Triết Học Kant
  • Khoa Học Về Vi Sinh Vật Đang Định Nghĩa Lại Triết Học: Con Người Là Gì?
  • Những Quan Niệm Khác Nhau Trong Lịch Sử Triết Học Về Bản Chất, Con Đường Nhận Thức Và Tiêu Chuẩn Của Chân Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Luật Là Gì? Định Nghĩa Và Phân Loại Quy Luật Theo Triết Học Mác
  • Để Triết Học Không Còn Là Nỗi Ám Ảnh Của Sinh Viên
  • Những Đặc Trưng Cơ Bản Của Phạm Trù Quy Luật
  • ‘các Nguyên Lý Của Triết Học Pháp Quyền’: Từ Pháp Quyền Tự Nhiên
  • Nhân Học Triết Học Hiện Đại Với Vấn Đề Tồn Tại Người
  • 1. Về vấn đề bản chất và con đường nhận thức

    Về bản chất của nhận thức, tựu trung có ba cách hiểu khác nhau: a) Quan điểm duy vật cho rằng, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan; b) Quan điểm duy tâm chủ quan cho rằng, nhận thức là sự phản ánh trạng thái chủ quan (như cảm giác, biểu tượng, xúc cảm …), hoặc cho rằng, tri thức có tính chất tiên nghiệm, tức có sẵn trong đầu óc con người và c) Quan điểm duy tâm khách quan và tôn giáo cho rằng, tri thức có bản chất siêu tự nhiên, con người có được nhờ sự hồi tưởng, sự hòa nhập, sự đốn ngộ, sự mặc khải, niềm tin, v.v..

    Từ các cách hiểu khác nhau về bản chất của nhận thức, hình thành những quan niệm khác nhau về con đường nhận thức.

    Các quan điểm duy vật trong lịch sử đều khẳng định rằng, tri thức không phải là cái có sẵn trong đầu óc con người; nhận thức là quá trình con người phản ánh thế giới khách quan; nhận thức xuất phát từ nhận thức cảm tính (nhận thức bằng giác quan) và phát triển lên trình độ, giai đoạn cao hơn là nhận thức lý tính (nhận thức bằng tư duy trừu tượng).

    Ở Hy Lạp cổ đại, Hêraclít thừa nhận cảm giác là điểm xuất phát của nhận thức, nhưng theo ông, nhận thức cảm tính chỉ cho ta biết cái bề ngoài, vì “giới tự nhiên thích giấu mình”; do đó, tư duy phải tiến lên nhận thức được cái logos của vũ trụ. Đêmôcrít, đại biểu xuất sắc của trường phái nguyên tử luận, cũng thừa nhận nhận thức bắt nguồn từ cảm tính, nhưng nhận thức cảm tính là “sự nhận thức mờ tối”, chỉ có nhận thức lý tính mới cho ta biết được nguyên tử.

    Tuân Tử ở Trung Hoa cổ đại coi cảm giác là nguồn gốc của tri thức, nhưng theo ông, cảm giác có thể sai lầm; do đó, con người phải có cái “tâm” (khái niệm “tâm” được các nhà duy vật hiểu là tư duy) sáng suốt thì mới đạt được tri thức đúng đắn.

    Ở phương Tây, trong truyền thống Do Thái – Kitô, Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước) được coi là toàn bộ tri thức được Chúa Trời mặc khải cho con người thông qua Môxe (Moses), Giêxu (Jesus)… Trong sách Khải huyền (Revelation), kinh cuối cùng trong Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, chương 22 điều 18 và 19 có viết: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy tai ương mô tả trong sách này!.

    Ai mà bớt điều gì trong các lời ở sách sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng về cây Trường sinh và Thành thánh đã được mô tả trong sách này!”(1).

    Đối lập với Kitô giáo, Hồi giáo lại coi Kinh Côran – ra đời vào thế kỷ thứ VII là lời tiên tri cuối cùng, chính xác nhất, đầy đủ nhất do Chúa Trời mặc khải cho nhà tiên tri Môhamét (Muhammad), còn các kinh sách khác được các nhà tiên tri (như Môxe, Giêxu, v.v..) truyền đạt trước đó đều thiếu sót và có nhiều điều nhầm lẫn.

    Suốt thời Trung cổ, các nhà thần học Kitô giáo coi niềm tin là cội nguồn cao nhất của tri thức con người. Con người phải có lòng tin tuyệt đối vào tất cả những tín điều, ngay cả khi chúng trái với lý tính thông thường. Téctuliêng (160-230) nói: “Tôi tin, bởi vì điều đó là phi lý”. Ôguýtxtanh, Tômát Đacanh,… đều cho rằng, niềm tin cao hơn lý trí; triết học (theo cách hiểu lúc bấy giờ là khoa học nói chung) phải phục tùng tôn giáo, là “đầy tớ” của tôn giáo.

    Ở phương Tây hiện đại, truyền thống kinh nghiệm chủ nghĩa cũng được các nhà triết học thuộc trường phái chủ nghĩa thực chứng mới, như B.Rátxen (1872 – 1970), L.Wittgenstein (1889 – 1951) và R.Cácnáp (1891 – 1970)… phát triển và vận dụng. Trong Tri thức của chúng ta về thế giới bên ngoài (1926) và Tìm hiểu về ý nghĩa và chân lý (1962), Rátxen giải thích rằng: mọi tri thức thực sự của chúng ta đều được xây dựng từ những kinh nghiệm trực tiếp(3).

    Các nhà triết học thuộc trường phái chủ nghĩa thực dụng ở Mỹ cũng là những người vận dụng chủ nghĩa kinh nghiệm trong lý luận nhận thức. W.James đã gọi hệ thống triết học của mình là chủ nghĩa kinh nghiệm triệt để (radical empiricism) và J.Dewey gọi triết học của mình là chủ nghĩa kinh nghiệm trực tiếp (immediate empiricism)(4).

    Chủ nghĩa duy lý (rationalism) là trào lưu triết học đối lập với chủ nghĩa duy cảm, chủ nghĩa kinh nghiệm. Đại biểu của khuynh hướng này là R.Đêcáctơnhà triết học Pháp, B.Xpinôda – nhà triết học Hà Lan và G.W.Lépnít nhà triết học Đức. Nếu chủ nghĩa kinh nghiệm tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính thì các nhà triết học duy lý lại khẳng định rằng, lý tính con người có thể nhận thức được thế giới một cách độc lập với kinh nghiệm cảm tính. Họ tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức lý tính, coi thường kinh nghiệm cảm tính.

    Cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý đều phạm phải sai lầm là sự phiến diện khi tuyệt đối hóa một mặt của nhận thức.

    Quan điểm triết học khoa học của C.Pốppơ được chúng tôi (1922 – 1996) – nhà triết học Mỹ phát triển. Trong Cơ cấu của những cuộc cách mạng khoa học (1962), Kuhn luận chứng quan điểm cho rằng, tất cả các nhà khoa học đều xuất phát từ một hệ chuẩn (paradigm) nào đó, như là hệ thống những tín điều có tính chất chủ quan để suy diễn ra toàn bộ hệ thống khoa học của mình. Cuộc cách mạng trong khoa học được đánh dấu bằng sự thay thế một hệ chuẩn này bằng một hệ chuẩn khác; chẳng hạn, sự thay thế hệ chuẩn của Niutơn về một vũ trụ cơ giới bằng hệ chuẩn của Anhxtanh về một vũ trụ tương đối. Mỗi hệ chuẩn chẳng qua là một cách giải thích hơn là tri thức khách quan(5).

    Chủ nghĩa kinh nghiệm với phương pháp quy nạp và chủ nghĩa duy lý với phương pháp diễn dịch đều chứa đựng những hạt nhân hợp lý và những đóng góp nhất định. Tuy nhiên, mỗi khuynh hướng đó đều có những hạn chế: ví dụ, kinh nghiệm cảm tính và phương pháp quy nạp chỉ đem lại những tri thức ít ỏi về các nguyên lý, quy luật chung; nếu không có phương pháp diễn dịch thì không thể tìm ra tri thức mới, không thể áp dụng các nguyên lý, quy luật vào đời sống và hoạt động thực tiễn được. Hình học Ơclít chỉ xuất phát từ một số tiên đề hiển nhiên được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn; từ đó, hình thành nên một hệ thống tri thức hình học đồ sộ nhờ phương pháp diễn dịch. Ngược lại, phương pháp suy diễn không thể thực hiện được nếu không có những tiền đề được rút ra bằng phương pháp quy nạp. Các nhà duy lý tưởng rằng tri thức của mình được suy diễn từ những tiên đề đã có sẵn, từ trực giác thuần túy; song họ lại không biết một sự thực là, những tiên đề này hoàn toàn không có tính chất bẩm sinh, tiên nghiệm mà là kết quả của hoạt động thực tiễn lặp đi lặp lại hàng triệu lần của nhân loại, nên được coi là tri thức hiển nhiên và không bác bỏ được. Ngoài ra, không phải bất cứ điều gì được rút ra bằng phương pháp suy diễn cũng đều trở thành chân lý.

    Trên cơ sở kế thừa những giá trị và khắc phục những hạn chế của các trào lưu triết học trong lịch sử về bản chất và con đường nhận thức, triết học Mác – Lênin vạch ra rằng, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, thế giới khách quan tồn tại độc lập với nhận thức, là khách thể của nhận thức và con người là chủ thể của nhận thức. Triết học Mác – Lênin bác bỏ quan điểm nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Sai lầm của các nhà triết học thuộc trào lưu này là ở chỗ, họ không thấy rằng, những phán đoán, suy luận đều dựa trên những tài liệu đã có sẵn trong đầu óc con người và đó đều có nguồn gốc khách quan, là sự phản ánh cái khách quan thông qua các giác quan của chúng ta, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”. Triết học Mác – Lênin cũng bác bỏ quan điểm duy tâm khách quan về bản chất siêu tự nhiên, thần thánh của tri thức. Đồng thời, nó còn khắc phục những hạn chế của quan điểm duy vật trước đó và bổ sung thêm một số đặc trưng mới của nhận thức, như tính sáng tạo (nhận thức không phải là sự sao chép đơn giản, máy móc, mà là sự phản ánh sáng tạo), tính biện chứng của quá trình nhận thức chân lý (nhận thức là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn; là quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn, từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là cái mới phủ định cái cũ).

    Về con đường nhận thức, triết học Mác – Lênin không thừa nhận bất cứ con đường nhận thức nào khác ngoài nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. V.I.Lênin đã khẳng định rằng, “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”(7). “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” (tức là từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính) là điều mà các nhà triết học trước Mác ít nhiều đã nói đến; nhưng “từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” thì thực sự là sự đóng góp và phát triển của triết học Mác – Lênin đối với lý luận nhận thức.

    2. Về vấn đề tiêu chuẩn của chân lý

    Một quan niệm, tư tưởng, niềm tin chỉ trở thành tri thức, trở thành chân lý khi nó được chứng minh, được xác nhận là đúng đắn. Cái có thể chứng minh, xác nhận tính đúng đắn của một phán đoán, quan niệm, tư tưởng được coi là “tiêu chuẩn” (criterion) của chân lý.

    Một số khuynh hướng triết học, như chủ nghĩa hiện sinh, triết học khoa học phủ nhận chân lý khách quan; cho rằng sự vật không có một bản chất khách quan nào và con người cũng không có tiêu chuẩn khách quan nào để xác định một quan niệm, tư tưởng nào đó là đúng hay không đúng. Chủ nghĩa hiện sinh không thừa nhận bản chất, tính tất yếu, tính quy luật khách quan của các sự vật; từ đó, quả quyết rằng, con người được tự do tuyệt đối trong việc lựa chọn niềm tin và hành động của mình. Đối với họ, sự vật không có giá trị khách quan; trái lại, giá trị của sự vật được quyết định bởi sự lựa chọn xuất phát từ cảm xúc chủ quan của từng cá nhân. ” Hiện sinh có trước bản chất” (L’ existence précède l’essence) là một luận điểm quan trọng của J.P.Xáctơrơnhà triết học hiện sinh Pháp.

    Theo quan niệm của tôn giáo, không có gì là tiêu chuẩn để kiểm tra những điều được ghi trong các sách thánh, ngoài niềm tin. Chẳng hạn, không có một sự quan sát, thực nghiệm, hay lập luận lôgíc nào có thể xác định tính chân thực của những tín điều nói về Chúa Trời sáng tạo nên thế giới trong bảy ngày, về tội tổ tông, về trận đại hồng thủy, về ngày tận thế, v.v.. Tôn giáo cho rằng, niềm tin vừa là tri thức, vừa là tiêu chuẩn cao nhất của chân lý; bởi vì, niềm tin là cái bẩm sinh do Chúa Trời ban cho mỗi người. Tuy nhiên, các nhà triết học duy vật lại kiên quyết bác bỏ quan niệm coi niềm tin là cội nguồn của tri thức, là tiêu chuẩn của chân lý. Thử hỏi, nếu niềm tin là cái bản năng, là do Chúa Trời ban cho con người, thì tại sao loài người lại không có chung một niềm tin. Trên thực tế, Phật giáo không tin Chúa Trời, người vô thần thì không tin thần thánh nói chung, Hồi giáo không tin Giêxu (Kitô) là con của Chúa Trời; Kitô giáo cũng không tin Đấng Tiên tri Môhamét của Hồi giáo; Tin Lành phủ nhận sự đồng trinh của Đức Mẹ Maria. Ngay cả trong nội bộ một tôn giáo cũng có những niềm tin đối lập nhau, dẫn đến những cuộc chiến tranh, xung đột đẫm máu giữa các giáo phái.

    Đối lập với chủ nghĩa thực chứng, triết học khoa học của C.Pốppơ bác bỏ quan niệm của các nhà triết học thực chứng về khả năng có thể chứng minh tính chân thực của một phán đoán, một lý thuyết bằng con đường kinh nghiệm và phương pháp quy nạp. Theo ông, kinh nghiệm (quan sát, thực nghiệm) chỉ có thể chứng minh sự sai lầm của những mệnh đề. Từ đó, C.Pốppơ bác bỏ nguyên tắc thực chứng và đưa ra nguyên tắc tính có thể chứng minh sự sai lầm (falsiability principle, tạm dịch là nguyên tắc phủ chứng). Như vậy, theo C.Pốppơ, tri thức khoa học được rút ra từ trực giác của các nhà khoa học; nếu những tri thức này chưa bị kết quả thực nghiệm bác bỏ thì chúng tạm thời được chấp nhận như là những giả thuyết. Tuy nhiên, phương pháp suy diễn cũng không có gì đảm bảo tính chân thực của những phán đoán khoa học; ngoài ra, cũng không có phương pháp nào để chứng minh tính chân thực của chúng. Do đó, không có chân lý khoa học nào được thiết lập cả. Quá trình tiến triển của tri thức khoa học là quá trình người ta đưa ra các giả thuyết, là sự thay thế một giả thuyết (sau khi đã chứng minh được sự sai lầm của nó) bằng một giả thuyết mới mà người ta tạm thời chấp nhận (vì chưa chứng minh được sự sai lầm của nó). Như vậy, khoa học không phải là quá trình đi tìm chân lý, mà chỉ là một chuỗi những sai lầm nối tiếp nhau mà thôi.

    Tuy nhiên, theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, tiêu chuẩn thực tiễn cũng có tính tương đối. Thực tế cho thấy, năng lực và phạm vi hoạt động thực tiễn của loài người trong một thời kỳ nhất định không thể thoát khỏi những hạn chế lịch sử, do đó những tri thức đã được thực tiễn kiểm nghiệm cũng chưa thoát khỏi tính tương đối của nó, mặc dù trong đó đã chứa đựng những yếu tố tuyệt đối. Vì vậy, việc thường xuyên đối chiếu với thực tiễn để kiểm tra, đổi mới và phát triển tri thức là điều tất nhiên và cần thiết. Yêu cầu này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc nhận thức lại, không ngừng đổi mới, phát triển và hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển
  • Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền Từ Góc Nhìn Triết Học
  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất Và Chức Năng Của Nhà Nước
  • Học Triết Học Ra Trường Làm Gì? Thách Thức Đi Kèm Cơ Hội
  • Câu 1: Triết Học Là Gì? Các Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Triết Học Về Vật Chất

    --- Bài mới hơn ---

  • Con Người Và Bản Chất Của Con Người
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chế Độ Dân Chủ Nhân Dân
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • Triết Học Là Gì ? Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Của Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học ? Từ Đó Xác Định Vai Trò Của Triết Học Trong Đời Sống Xã Hội
  • I. M. Bochenski. Triết học tây phương hiện đại. Chương II: “Triết học về vật chất (Triết lý Duy vật)”. Tuệ Sỹ dịch, Nxb. Ca Dao, 1969, tr. 84-130

    Nhiều phong trào khác nhau được bao gồm dưới đầu đề tổng quát này: triết học của Russell, tân thực chứng luận (néo-positivisme), và duy vật biện chứng (matérialisme dialectique). Các hệ thống này có thể là không quan trọng lắm, theo quan điểm triết học hạn hẹp, nhưng chúng gây ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn hơn bất cứ một trào lưu triết học nào khác. Lý do thành công vượt mức của chúng thật dễ hiểu, vì rằng chúng đang làm sống lại những ý niệm đích thực quan trọng trong triết học hằng trăm năm về trước và quảng đại quần chúng luôn luôn chậm trễ khoảng một thế kỷ đằng sau sự phát triển của triết học khoa học.

    Tất cả các triết gia thuộc nhóm này đều là chủ duy nhiên (naturalistes) những nhà duy khoa học; họ là những nhà chủ lý (rationalistes) công khai, hướng về chủ nghĩa duy vật phần nào. Họ là những nhà duy nhiên, theo đó họ coi con người một cách đơn giản là một thành phần toàn bộ của thiên nhiên và không thừa nhận có sự sai biệt nào giữa chính con người và những sinh thể thiên nhiên khác. Họ là những nhà duy khoa học vì họ tin tưởng tuyệt đối rằng khoa học thiên nhiên là thẩm quyền tối thượng. Như vậy, với họ duy chỉ có những phương pháp của khoa học thiên nhiên mới có thể nắm được thực tại, và bất cứ điều gì không thể tương xứng với những phương pháp này đáng được coi là những ngụy đề (pseudo-problèmes), và tất cánh là vô nghĩa: họ không công nhận kinh nghiệm đạo đức, thẩm mỹ và tôn giáo cung cấp thêm những nguồn mạch của nhận thức. Như thế, một lập trường chống tôn giáo quyết liệt điển hình là Russell và những nhà duy vật biện chứng. Với họ, phận sự duy nhất của triết học là để phân tích những khái niệm của khoa học thiên nhiên hay tổng hợp những thành quả của nó, ngược lại là vô nghĩa. Dù phần lớn môn đệ của các trường phái này không thể đi đến hoàn toàn duy vật, nhưng các khuynh hướng rõ rệt duy vật đều có mặt tất cả ở họ. Ngay cả những nhà tân thực chứng cũng chỉ khảo cứu những hiện tượng vật chất mà thôi; theo họ, bàn luận về những hiện tượng tinh thần là vô vị. Sau hết, tất cả những tư tưởng gia này đều rõ ràng là chủ lý với ý nghĩa là họ đặt tin tưởng của mình ở những phương pháp thuần lý và phân tích.

    Để hiểu rõ những học thuyết triết học của Russell và tân thực chứng trong sự liên tục lịch sử của chúng, chúng ta sẽ giới thiệu một cách vắn tắt về chủ nghĩa tân duy thực ở Anh. Đúng ra, điều này nên bàn ở sau này, có thể trong liên lạc với hiện tượng học, vì nó là một trong những phong trào tiền phong của thời đại mới đã dẫn đến sự kiến thiết siêu hình học và luận lý toán học ngày nay. Đặc biệt ta chỉ cần ghi nhận rằng mặc dù phong trào tân duy thực dính chặt với duy nhiên khoa học nhưng nó có tầm quan trọng lớn hơn vì nó dẫn một số tư tưởng gia (Whitehead) đến một thế giới quan hầu như chủ Platon.

    A. TÂN DUY THỰC

    Hậu bán thế kỷ XIX ở Anh chứng kiến sự xuất hiện của một phong trào duy thực. Chắc chắn nó rất yếu, không đủ sức để hình thành một trường phái, cũng không thách đấu trào lưu duy tâm của Bradley và Bosanquet đang ngự trị. Dù vậy, nó đã có thể công bố một số đại biểu quan trọng: tỉ dụ, Robert Adamson (1852-1902) , vẫn còn là một người chủ Kant nhưng vào cuối đời thì bước sang duy thực phê phán (réalisme critique); George Dawes Hicks (1862-1941) với học thuyết về ý hướng tính, nó dẫn ông đến gần Meinong và Husserl và ông giữ địa vị lưng chừng giữa duy tâm và tân duy thực; Thomas Case (1844-1925), duy thực phê phán, ông nghĩ là mình có thể luận về bản thân của sự vật từ những ngoại ảnh; và nhiều vị khác.

    George Edward Moore (-1873) khai sinh phong trào tân duy thực khi ấn hành bài báo nổi tiếng của ông năm 1903: The Refutation of Idealism. Ảnh hưởng của Moore trên triết học Anh hiện đại rất rộng khiến cho không một ai ngoài Bergson hay James có thể so sánh với ông.

    Thế hệ thứ nhấ: C. Leyod Morgan (1852-1936), Alfred North Whitehead (1861-1947), Sir T. Percy Nunn (1870-1944), Bertrand Russell (-1873), Sammul Alexander (1859-1938), Charlie Dunbar Broad (-1877), John Laird (1859-1945); thế hệ thứ hai: C.E.M. Joad (1891-1953), H.H. Price (-1899), chúng tôi (-1899), và Gillbert Ryle (-1900). Tất cả chịu ảnh hưởng của Moore. Vì Morgan, Alexander, Whitehead và Laird, mỗi người đều xây dựng một siêu hình học nên ta sẽ bàn về họ trong một đoạn khác. Về những triết gia khác, Russell quan trọng nhất cả về ảnh hưởng và về sản lượng của ông nên mục này sẽ viết về học thuyết của ông, sau một thoáng nhìn về các đặc điểm của tân duy thực.

    B. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TÂN DUY THỰC

    Đúng như danh hiệu tiêu biểu, những nhà tân duy thực nước Anh đối lập với những nhà duy tâm qua chủ trương duy thực và trên đại thể duy thực trực tiếp; họ quả quyết rằng không những chỉ có thể trực tiếp lĩnh hội những ảnh tượng tinh thần mà còn cả thực tại siêu chủ quan nữa. Họ còn có thêm những sắc thái chung, đặc biệt là chủ trương duy nghiệm quả quyết của họ. Với họ, không có gì nghi ngờ rằng tất cả nhận thức của chúng ta khởi lên từ kinh nghiệm và phần lớn họ cho rằng nhất định kinh nghiệm phát xuất từ các giác quan. Sự thừa nhận định đề này thực là quảng bá suốt trong truyền thống Anh, kể từ Locke, Berkeley và Hume, và nhất là có thể cả từ Reid. Các nhà tân duy thực cũng nghiêng nặng về các khoa học thiên nhiên mà họ hầu như tất cả, đều coi những phương pháp của chúng là những phương pháp đích thực triết học. Những lưu tâm chính của họ là vật lý học và toán học, và những vấn đề lý thuyết thường là vấn đề số một đối với họ. Sự thực là, Moore đã xuất bản một tác phẩm quan trọng về luận lý, và Whitehead, cũng như Russell, thỉnh thoảng đặt sự chú tâm của mình vào những vấn đề đạo đức và tôn giáo, nhưng trên toàn thể, mối lưu tâm của các nhà tân duy thực là những vấn đề thuần lý thuyết về luận lý học, nhận thức luận, vật lý học hay sinh vật học.

    Tuy nhiên, sắc thái nổi bật nhất của các nhà tân duy thực, là đường lối đi sâu vào sự nghiên cứu chi tiết những vấn đề của họ. Trước nhất, lập trường của họ là chống hệ thống và họ tấn công tất cả những cố gắng trước kia của triết học với chủ nghĩa phê phán gắt gao, và thường thường vô căn cứ. Ngay dù một số trong bọn họ vào những năm cuối đời mình đã khởi lên tư biện có hệ thống nhưng lúc nào họ cũng vẫn trung thành với phương pháp “hiển vi” – xu hướng tế phân các vấn đề và phân tích chúng. Về phương diện này, C.D.Broad là điển hình, nhưng tất cả bọn họ đều tán thành một phương pháp tương tự, và thường ứng dụng nó với sự tỉ mỉ lạ lùng. Trường phái tân duy thực rõ là trường phái phân tích.

    C. BERTRAND RUSSELL: CÁ TÍNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

    Bertrand Russell, sinh trong một gia đình quý tộc Anh; điều không thể chối cãi, ông là một trong những triết gia được đọc và được bàn đến nhiều nhất ở giữa hai trận thế chiến. Ông đã phô trương một hoạt động văn hóa có hiệu quả phi thường. Năm 1896, ông xuất bản tác phẩm đầu tiên, và sau đó cứ mỗi năm một hoặc hai tác phẩm cho đến 1947, ngoài vô số bài báo trong các tờ báo khác nhau không kể. Những xuất bản phồn thịnh này phản ảnh những mối bận tâm đa dạng của ông; không có một lĩnh vực triết học nào mà ông không thám hiểm tới. Thường thường, ông còn bận tâm đến những vấn đề khác như chủ trương hòa bình, vì bảo vệ nó mà ông bị cầm tù trong một thời gian suốt kỳ thế chiến I. Những tác phẩm của ông được phổ biến vượt mức. Tỉ dụ, trong khi không có một dịch phẩm bằng tiếng Đức nào về Whitehead, Alexander hay Broad cho đến thế chiến thứ II, thì 17 quyển sách của Russell đã được phiên dịch trước năm 1935. Rất minh bạch, rất “khoa học”, Russell đã là, và đang còn là một triết gia của một nhóm lớn vẫn trung thành với những lý tưởng thực chứng của thế kỷ XIX. Với chủ trương triệt để về chính trị và chống tôn giáo, được bày tỏ bằng ngôn ngữ sáng sủa, ông có vẻ là một thứ Voltaire kiểu mới – hiển nhiên là một dáng vóc nhỏ hơn. Với tất cả những điều này, Russell khác hẳn với những tác giả bình dân khác thuộc cùng loại, như Haeckel hay cả Voltaire, bởi vì ông không những chỉ có ảnh hưởng ở quảng đại quần chúng mà còn ở triết học Âu châu qua những công trình chuyên môn triết học của ông, những công trình ấy chỉ là đại chúng hóa.

    Người ta cũng có thể phân biệt hai giai đoạn trong sự diễn tiến của ông. Trước hết, Russell chú tâm nghiên cứu về toán học mà theo ông hình như đó là mô thức cho triết học. Ông nói về toán học bằng sự nhiệt tâm của một đồ đệ Platon; quả thực, trong thời kỳ này ông là đồ đệ xác tín Platon. Ông quả quyết rằng ngoài những thực tại thường nghiệm còn có tổng thể (universaux) mà chúng ta tiếp nhận trực tiếp và chúng có một hiện hữu riêng của chúng, độc lập với các sự vật hay tâm. Đồng thời, ông coi triết học như là một khoa học diễn dịch có phần độc lập với kinh nghiệm giác quan. Từ thời kỳ này xuất hiện tác phẩm Principia Mathematica của ông, một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của tư tưởng Âu châu ở thế kỷ XX.

    Tuy nhiên, về sau Russell dần dần thay đổi lập trường. Trong khi Whitehead, người viết chung với ông tác phẩm to lớn Principia, đi sâu hơn vào siêu hình học, thì về phần Russell, ông quay về những nhà thực chứng luận. Vấn đề tổng thể (universaux) đối với ông hình như vô vị, siêu hình học bất cứ loại nào đều vô nghĩa, triết học không còn là diễn dịch mà được xác định một cách duy nghiệm, trong tinh thần truyền thống Anh. Ngay cả trong toán học, ông không còn bàn tới cái “mỹ” của Platon mà chỉ là một khí cụ đơn giản, thực tiễn, khoa học. Trong giai đoạn tư tưởng này Russell là một đại biểu của duy kinh khoa học. Ông tuyên bố rằng những phương pháp khoa học là duy nhất cung cấp nhận thức cho chúng ta; ông tin tưởng sự toàn thiện của nhân loại qua kỹ thuật, và hăng hái nói về sự tiến bộ. Chủ nghĩa duy thực của ông giống với của Hume, một thứ hoài nghi trầm trọng đè nặng trên mọi bước tiến của tư tưởng ông.

    D. KHÁI NIỆM VỀ TRIẾT HỌC

    Khái niệm về triết học mà ngày nay Russell chủ trì là chủ điểm của tất cả trường phái tân duy thực. Thêm nữa, ở phương diện này chính Russell chịu ảnh hưởng của Moore. Theo ông, triết học chính yếu phải là khoa học. Những vấn đề mà nó đặt ra phải được đưa ra từ những khoa học thiên nhiên và không phải từ những pháp điển tôn giáo hay đạo đức; lý tưởng của nó phải là một lý tưởng khoa học. Trong cứu cánh, lĩnh vực của nó duy nhất thiết lập bằng những vấn đề không thể nghiên cứu một cách khoa học được và như thế nó chỉ để sửa soạn lối đi cho khoa học. Tất cả chủ thuyết “lãng mạn” (romantisme), tất cả chủ thuyết “thần bí” (mysticisme) phải hoàn toàn loại hẳn. Ta cũng không nên tìm ở triết học một “phương thuốc cho những đau khổ tinh thần”; trái lại, bằng một cách kiên nhẫn và điềm tĩnh, người ta phải đào sâu vào chi tiết những khảo cứu.

    Thoạt đầu, Russell không tin rằng triết học có thể đưa ra nhiều giải đáp chắc chắn. Vì tự bản chất, nó bị hạn hẹp vào lĩnh vực tiền khoa học, (région préscientifique) nên nó chỉ đưa ra những vấn đề hơn là giải quyết. Phận sự chính của nó là phê bình. Triết gia phải làm sáng tỏ những khái niệm, những kết cấu, và những phương pháp kiểm chứng của khoa học, và như thế liệt chúng vào một phân tích hoàn toàn luận lý. Thêm nữa, phương sách này sẽ được áp dụng như một kích thích tố và đồng thời nó sẽ hữu ích hơn những giải đáp mãi mãi không chắc chắn. Về sau, Russell trở thành nhà bất khả tri luận (agnostique) rõ rệt tin rằng chỉ có khoa học thiên nhiên mới thăm dò được thực tại và ở đây khoa học cũng không thể vượt qua tính chất cái nhiên (probabilité). Trên phương diện này một cách đơn giản, Russell đang tiếp tục truyền thống duy nghiệm và thực chứng, đặc biệt là của Hume và Mill.

    E. DUY THỰC VÀ ĐA NGUYÊN LUẬN

    Một trong những ách yếu của triết học Russell cũng như của Moore và phần lớn các nhà duy thực Anh, là chủ thuyết phê bình học thuyết Bradley về những tương quan nội tại. Với Russell, không có tương quan nội tại (relations internes) tất cả những tương quan hiện hữu đều là những tương quan ngoại tại thêm vào tính thể của sự thể đã hiện hữu,vì vậy, bất cứ bằng cách nào, tính thể của sự thể ấy không phụ thuộc vào những tương quan này. Như thế, Russell gạt bỏ tôn chỉ căn bản của học thuyết Bradley. Cũng thế, ông gạt bỏ hai kết luận chủ chốt của Bradley bằng cách bênh vực đa nguyên luận và phân biệt sở tri với chủ tri. Đa nguyên luận là khía cạnh sơ bản của toàn thể phong trào triết học này, theo đó thế giới được coi là gồm nhiều nguyên tử rời rạc, có thể là vô số, được kết hợp lại qua những tương quan ngoại tại. Về sau, Russell phát triển đa nguyên luận này thành thuyết nguyên tử luận lý (atomisme logique), học thuyết cho rằng thế giới do các dữ kiện giác quan liên kết với nhau bằng những tương quan hoàn toàn luận lý. Duy tâm luận Hegel cũng bị bác bỏ, căn cứ vào duy thực trực tiếp. Mối bận tâm với Leiniz và những nghiên cứu toán học đã đưa Russell đến đa nguyên luận này.

    Sự áp dụng đa nguyên luận vào nhận thức luận đã dẫn đến những hậu quả quan trọng của triết học. Khi tống khứ khách quan duy tâm luận bằng lý thuyết về những tương quan ngoại tại của mình, Moore và Russell cùng tấn công mãnh liệt chủ quan luận duy tâm của Berkeley và chúng đô đệ. Với duy tâm luận này, chúng ta chỉ biết được các yếu tố của tâm thức, tức là những ý tưởng; thế giới siêu chủ quan trốn khỏi nhận thức của chúng ta.Các nhà chủ duy thực bây giờ gạt bỏ lý thuyết này, cho là một võng luận (paralogisme) vụng về; rõ ràng Berkeley lẫn lộn hai nghĩa của chữ “ý tưởng” (idée), nó có thể vừa chỉ cho hành động nhận thức, và vừa sự thể được nhận thức. Sự thể được nhận thức không cần phải luôn luôn hiện hữu trong ý thức, nó có thể hiện hữu ở ngoài ý thức và khác với chủ tri. Duy thực trực tiếp được thiết lập bằng cách đó.

    Tuy nhiên, với Russell, vật chất không thể nhận thức trực tiếp được dù là thực hữu, chúng ta chỉ nhận thức những dữ kiện giác quan (Moore cũng chủ trương như thế). Tỉ dụ, màu sắc của cái bàn, tính chất cứng của nó và tiếng động nó phát ra khi chúng ta vỗ tay vào, chắc chắn đều là những thực tại, nhưng chúng không phải là những tự hữu của cái bàn. Điều này có thể chứng tỏ rằng mỗi người kinh nghiệm những dữ kiện giác quan khác nhau. Sự định vị của những dữ kiện giác quan sai biệt tùy theo giác quan tiếp nhận chúng, và như vậy, tùy theo nhân cách tiếp nhận chúng. Sự giả định theo đó những dữ kiện giác quan có một sự thể ở bên dưới chúng là kết quả của quy nạp thuần túy, và không một chứng cứ trực tiếp nào có thể đưa ra cho nó. Khởi đầu, Russell chủ trương rằng hiện hữu của một sự thể như thế phải được hiểu như là một giải thích đơn giản về những dữ kiện giác quan, nhưng về sau, ông thay đổi ý kiến và tiến tới lý thuyết “nguyên tử”, theo đó thế giới gồm những dữ kiện giác quan liên kết với nhau một cách có luận lý. Điều cần phải nhấn mạnh rằng lý thuyết này không thể được đặt ngang với duy tượng luận (phénoménalisme) cổ điển theo đó các dữ kiện giác quan được coi như là những thực tại phi tâm độc lập với bất cứ chủ tri nào ngay cả với một chủ tri siêu nghiệm hay tuyệt đối. Với Russell, chúng là những thành tố của thế giới thực hữu, mặc dù hoàn toàn không có những bản thể. Điều này phù hợp với học thuyết của Hume.

    Trong giai đoạn đầu, Russell cũng chủ trương rằng, ngoài tri giác thuộc những dữ kiện giác quan còn có một nhận thức trực tiếp về những tổng thể (universaux). Tỉ dụ, không những chúng ta chỉ biết được London và Edinburgh mà còn cả mối tương quan (ngoại tại!) giữa hai thành phố này. Nhưng mối tương quan đó không phải thuộc tinh thần chủ quan (vì dù ta có biết hay không biết nó, nó vẫn hiện hữu), cũng không phải là một sự kiện vật lý (vì thực tại vật lý nhất quyết được tổ hợp bằng những dữ kiện giác quan) – quả thực, đó là một thứ lý niệm (idée) kiểu Platon hiện hữu bằng đặc quyền của nó.

    Russell còn khai triển thêm lý thuyết của mình bằng cách bênh vực lập trường cổ điển Platon. Nhưng về sau ông chấp nhận một quan điểm bất khả tri luận tương tự với thực chứng luận.

    F. TÂM LÝ HỌC

    Thoạt kỳ thủy, Russell nghi ngờ không biết có hay không có một nhận thức trực tiếp về bản ngã, và ngã sang thừa nhận thái độ của Hume, theo đó linh hồn con người, một cách đơn giản, được coi như là một liên hợp của các ý tưởng. Trong The Analysis of Mind, Russell công khai tuyên bố thái độ này và khai triển nó theo một kiểu cách độc đáo; nó giữ thái độ trung lập đối với duy vật và duy tâm và tiến tới chủ trương rằng không phải vật chất hay tinh thần mà chỉ là những dữ kiện giác quan, chúng được tổ hợp một cách sai biệt và được kiểm soát bằng những định luật sai biệt. Những dữ kiện giác quan của những sở tri sai biệt (tỉ dụ: các ngôi sao), nhìn từ một quan điểm duy nhất, tạo ra tinh thần; những dữ kiện giác quan của những chủ tri sai biệt (tỉ dụ: nhiều khía cạnh khác nhau của cùng một ngôi sao) tạo nên cái gọi là vật chất. Đằng khác, những định luật tâm lý và vật lý khác nhau. Những hiện tượng tâm lý được hạn định bằng “ký ức tất định luận” (déterminisme mémonique) hình như phát xuất từ tất định luận về thần kinh hệ; chủ quan tính cũng là một đặc điểm của tâm và được cắt nghĩa, theo phương diện vật chất, là một sự tập trung những dữ kiện giác quan vào một chỗ (óc não). Trường hợp những sự kiện tâm lý hiện hữu ở ý thức theo Russell chưa đủ lẽ để coi chúng chính là tinh thần, bởi vì chúng không luôn luôn hiện hữu trong ý thức; và cũng không thể quy định chúng bằng những khái niệm như taapjo quán, ký ức hay tư tưởng bởi vì những thứ này là những thiết định của ký ức tất định luận.

    Russell thú nhận xu hướng thiên duy vật của mình nhưng điều kiện hiện tại của khoa học và học thuyết của ông không cho phép ông chấp nhận thuyết duy vật trong toàn bộ của nó. Tuy nhiên ông quả quyết rằng các hiện tượng tâm lý hoàn toàn phụ thuộc các hiện tượng vật lý học, dĩ nhiên, thế là phủ nhận hiện hữu của một linh hồn làm bản thể. Dù vậy, theo ông các hiện tượng tâm lý hiện hữu hơn vật chất bởi vì vật chất không được mang đến một cách trực tiếp và nó được thiết lập bằng diễn dịch và tổ hợp.

    G. ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO

    Con người là một phần vô nghĩa của thiên nhiên; những tư tưởng của nó đều là kết quả của các biến tượng trong óc não nó và của những định luật thiên nhiên. Khoa học thiên nhiên, nguồn mạch độc nhất của nhận thức hoàn toàn không biện minh cho tin tưởng Thượng đế hay lẽ bất tử. Thêm nữa, chủ trương về bất tử tính là vô nghĩa, bởi vì nếu linh hồn bất tử, nó sẽ phải chiếm đoạt toàn thể không gian. Tôn giáo được đặt trên sự sợ hãi, và do đó là một tội ác: nó là kẻ thù của mọi lẽ thiện và mọi sự đoan chính trong thế giới ngày nay, và là triệu chứng của con người ấu trĩ.

    Con người có thể chỉ là một mảnh vụn vô nghĩa của thiên nhiên trong trật tự của hiện hữu nhưng nó hưởng một địa vị hoàn toàn sai biệt trong trật tự của những giá trị vượt xa giá trị của hiện hữu. Chúng ta tự do sáng tạo những lý tưởng sinh tồn của mình; và lý tưởng đó, Russell đề nghị là lý tưởng về “đời sống tốt đẹp”, một đời sống của yêu thương đậm đà được hướng dẫn bởi ánh sáng của hiểu biết. Định đề đạo đức này là tất cả những gì chúng ta cần có. Mọi thứ đạo đức lý thuyết đều hời hợt. Để đánh giá điều này, người ta chỉ cần đặt mình vào địa vị một người mẹ với người con đang ốm của bà; điều mà bà ta cần không phải là một nhà đạo đức nhưng là một bác sĩ giỏi. Chắc chắn những luật lệ của đạo đức thực tiễn đều cần thiết nhưng, đáng tiếc, những luật lệ ngày nay thường đứng lại trên những khái niệm mê tín, như ta thấy trong tất cả bộ luật về nam nữ (moralité sexuelle), kể cả chế độ đơn hôn (monogamie) và hình luật. Lý tưởng giải thoát cá nhân là một khái niệm quý tộc vì đối lập với lý tưởng dân chủ là giải thoát xã hội, cũng sai lầm như vậy. Hạnh phúc là mục đích những khát vọng chúng ta và có thể đạt được bằng cách trấn áp sự sợ hãi, bằng cách củng cố cá tính giáo dục, và bằng cách toàn thiện toàn thể loài người. Sự tiến bộ rộng lớn có thể hoàn thành được khi mà con người không còn bám chặt lấy sự kính phục mê tín đối với thiên nhiên, bởi vì toàn thể thiên nhiên, kể cả con người, phải trở thành một đối tượng của luận giải khoa học nếu chúng ta mong đạt tới hạnh phúc.

    A. THỈ TỔ VÀ NHỮNG ĐẠI DIỆN CHÍNH YẾU

    Ngày nay, công trình hoàn toàn mới mẻ của duy nghiệm luận chỉ được tìm thấy trong trường phái thực chứng luận, bắt nguồn từ thực chứng luận cổ điển của Comte và Mill, và vọng lại duy nghiệm luận Anh ở thế kỷ XVIII. Song, tiền nhân trực tiếp của nó là duy nghiệm luận Đức. Chính Joseph Petzoldt (1862-1929), học trò của Avenarius, đã lái trường phái sang chiều hướng của tạp chí Annalen der Philosophie, tạp chí đã ra đời Erkenntnis, tờ báo quan trọng nhất của trường phái tân thực chứng giữa năm 1930 và 1938. Ngoài duy nghiệm phê bình (empiriocriticisme) ra, ảnh hưởng nặng nhất trên tân thực chứng luận là phê bình khoa học ở Pháp, học thuyết Russell, và sự phát triển trong ngành luận lý toán học và tân vật lý học (Einstein).

    Ngoài nước Đức ra, tân thực chứng luận chỉ tạo được ảnh hưởng lớn ở Anh. Ở đây, ngay cả bây giờ, nó là trường phái chính. Một số triết gia có liên hệ chặt chẽ với nó ít nhiều, tỉ dụ, nhóm đã lập nên tờ Analysis năm 1933: A.E. Ducan-Jones, S.A.Mace, L. Susan Stebbing, cả Alfred J. Ayer là những nhà tân thực chứng triệt để nhất, và nhất là Gilbert Ryle, triết gia Anh có lẽ có ảnh hưởng nhất của thời hiện đại. Một số khá lớn những nhà thực chứng luận, như John Wisdom ở Anh, có liên hệ hơi lỏng lẻo với những nhà tân thực chứng. Ở Pháp hiếm có những đại biểu nổi tiếng nào của tân thực chứng luận, nhưng nếu có thì phải kể Louis Rougier, General Charles, Ernst Vouillemin (người đã cố gắng quảng bá công trình của Nhóm thành Viene), và Maurice Boll.

    B. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ TIẾN TRIỂN

    Những nhà thực chứng luận hình thành một trường phái đúng nghĩa: cùng có một quan điểm căn bản chung và cùng sử dụng những phương pháp như nhau để tiến gần những vấn đề chung của họ. Thoạt kỳ thủy, họ tỏ ra hăng hái khác thường và tin tưởng một cách sâu xa rằng những quan điểm của họ tuyệt đối chính xác. Reichenbach, một trong những nhà lãnh đạo xưa kia, nhận xét chí lý rằng trường phái này chấp nhận một thái độ đặc biệt tôn giáo và ngay cả bè phái. Đằng khác ta phải công nhận rằng một ít đối thủ triết học của họ biết phán đoán học thuyết tân thực chứng với sự công bình khách quan, bởi vì, chắc chắn học thuyết này có tính chất cách mạng khiến cho nó đòi hỏi sự chấp nhận điều kiện hay sự đối lập công khai. Ngoài ra, nhóm thành Vienne khởi thủy được cổ vũ vởi một tinh thần “truyền đạo” hăng hái, lại ưa công kích và bút chiến nữa.

    Kết hợp với đặc tính bè phái này là khuynh hướng cực kỳ duy lý, luận lý và phân tích, khiến cho nhìn bên ngoài những tác phẩm của tân thực chứng giống như một thứ chủ kinh viện kiểu mới; dù sao, từ thời trung cổ chúng ta đã không thấy một sự tin tưởng và kính phục luận lý học như thế. Lại nữa, trường phái tân thực chứng duy trì chủ khoa học cực đoan hơn cả tân duy thực hay duy vật biện chứng; nó nhận định rằng phận sự duy nhất của triết học là phân tích ngôn ngữ của những khoa học thiên nhiên, chúng hạn định một cách chật hẹp phương pháp luận của nó.

    Tuy nhiên, một vài thay đổi trong tân thực chứng luận nên được bàn đến. Khởi thủy các đại biểu của nó tin rằng luận lý học trang bị cho họ một khí giới vững mạnh chống lại tất cả những triết học khác. Về sau họ tự thấy là không thể đề cập đến những vấn đề cổ truyền về nhận thức luận khi đang nằm ì trên tân luận lý – mà những trường phái khác cũng đang bắt đầu sử dụng. Sau hết, giai đoạn thứ ba, được phác họa trong học thuyết Reichenbach, mang đặc tính nhiều dung hợp hơn và ít giáo điều hơn đã biểu lộ trong những buổi đầu của trường phái Vienne.

    C. LUDWIG WITTGENSTEIN

    Những đường nét chính yếu của tân thực chứng luận đã được vẽ ra trong Logisch-philosophische Abhandlung (bản dịch: Tractatus Logico-philosophicus (1921) của Ludwig Wittgenstein học trò và là bạn của Russell, và cùng dạy tại Cambridge. Trong tác phẩm rất khó đọc tập hợp nhiều cách ngôn có đánh số này, Wittgenstein đi từ thuyết nguyên tử luận lý của Russell, theo đó thế giới được tạo nên bằng những sự kiện hoàn toàn độc lập với nhau. Nhận thức của chúng ta là một bản sao những sự kiện cụ thể này. Không có ngoại lệ, những mệnh đề toàn xưng (universal statements) – hoàn toàn là những “chức phận chân lý” (truth fuctions) của những mệnh đề đặc xưng (singular propositions); nghĩa là, chúng được thành lập từ những mệnh đề đặc xưng bằng các phương tiện của những tương quan luận lý. Tỉ dụ mệnh đề: “Mọi người đều phải chết” có cúng ý nghĩa như mệnh đề “Peter phải chết và John phải chết, v.v…” Luận lý học hoàn toàn chỉ có đặc tính trùng phức, nó không khẳng định được gì cả; những mệnh đề luận lý đều trống rỗng và chúng không truyền thông cho chúng ta được gì về thực tại. Thực tại phải được khảo cứu bằng khoa học thiên nhiên; triết học không phải là một học thuyết mà chỉ là một hoạt động.

    Wittgenstein cũng có một lý thuyết về ngôn ngữ, theo đó người ta không thể nói đầy đủ ý nghĩa về ngôn ngữ và do đó một phân tích kiểu luận lý về văn pháp trở thành bất khả. Nhưng bởi vì tất cả những vấn đề triết học rút cuộc có thể giản lược vào phân tích này nên chún đặt ra những ngụy đề không giải quyết được. Wittgenstein kết luận quyển sách bí hiểm của ông với quan điểm rằng chính tác phẩm ấy cũng vô nghĩa: “Những gì người ta không thể nói được, vậy người ta phải im lặng” (Wo von man nicht spchen kann, dariiber muss man schweigen).

    D. LUẬN LÝ VÀ KINH NGHIỆM

    E. Ý NGHĨA CỦA MỆNH ĐỀ

    Cũng nên thêm vào đây một thuyết lý khác đã làm cho trường phái này nổi tiếng: thuyết kiểm chứng (doctrine de la vérification). Với những nhà tân thực chứng, ý nghĩa của mệnh đề nằm ở phương pháp kiểm chứng nó, hay theo một công thức thích đáng hơn: “một mệnh đề có ý nghĩa nếu, và chỉ nếu, kiểm chứng được.”

    Thực vậy, các nhà thực chứng luận nói, ta chỉ có thể biết được ý nghĩa của một mệnh đề nếu ta biết dưới điều kiện nào nó sai hay đúng; điều này có nghĩa rằng phương pháp kiểm chứng luôn luôn phải được đưa ra với ý nghĩa, và ngược lại; và thế, bằng định đề Leibniz về đồng nhất tính của những vô phân biệt thể (indiscernables), chúng trở thành cùng một sự thể.

    Điều này đã là một lập trường khả cách mạng nhưng trở nên nghịch lý hơn bởi một thừa nhận thêm, thừa nhận chính yếu đối với học thuyết tân thực dụng; sự kiểm chứng luôn luôn phải là liên chủ thể, nghĩa là, nó phải thực hiện được ít nhất bởi hai quan sát viên. Nếu không được, thì chân lý của mệnh đề không chứng minh được và đó không phải là một mệnh đề khoa học. Nhưng vì mỗi kiểm chứng liên chủ thể được tạo ra do những giác quan, nên không có mệnh đề nào có thể được kiểm chứng khác hơn là những mệnh đề có tương quan với cơ thể và những vận động của nó; tất cả những mệnh đề của tâm lý học nội quan và triết học cổ điển đều không thể kiểm chứng, vì vậy, vô nghĩa. Tiếp theo ngôn ngữ của vật lý học ( chủ vật lý; phisicalisme) và mọi khoa học nên được thống nhất (ngôn ngữ thống nhất và khoa học thống nhất).

    Còn một điều kiện cần phải đủ để một mệnh đề có ý nghĩa: phải thiết lập nó phù hợp theo những quy luật tạo cú của ngôn ngữ. Nói “con ngựa ăn” thì có nghĩa, nhưng nói “cái ăn ăn” thì vô nghĩa. Triết học cổ điển không chỉ cưỡng bức định đề căn bản về liên chủ thể mà thường chính cả cú pháp nữa. Một số những từ ngữ được các nhà hiện sinh sử dụng như thế có vẻ vô nghĩa. “Das Nichts nichtet” (Cái không có không có) của Heidegger là một thí dụ cổ điển cho trường hợp này. “Das Nicht” (cái không có) mang hình thức một thể ngữ (substantif) đúng, nhưng nó không phải là một thể ngữ theo ý nghĩa luận lý học: nó là dấu hiệu của sự phủ định và không thể nhận lãnh chức phận của một chủ từ.

    Đi từ những định đề này các nhà tân thực chứng hăng hái đào bới những ngụy đề của triết học. Carnap phân biệt nhiều chức phận của ngôn ngữ; nó có thể xác nhận, hay có thể chỉ diễn tả những ước muốn và những cảm thức. Các triết gia cổ điển đã lẫn lộn hai chức phận này; những mệnh đề triết học của họ có vẻ diễn tả những cảm thức, nhưng chúng không xác nhận điều gì. Những vấn đề của họ, như duy thực hay hiện hữu của Thượng đế, đều là những ngụy đề, và cố giải quyết chúng chỉ tốn thời giờ. Triết học phải tự giới hạn vào việc phân tích ngôn ngữ khoa học bằng cách những phương pháp luận lý.

    F. NHỮNG MỆNH ĐỀ THẢO BẢN

    Các nhà tân thực chứng cố khám phá những nền tảng thuần túy thường nghiệm của khoa học thoát khỏi mọi kết cấu có tính cách luận lý. Họ coi khoa học như một cơ cấu của những mệnh đề được phối trí hợp luận lý. Cần phải khởi đầu với những mệnh đề căn bản nào đó, mà Carnap đặt tên cho chúng là “Những mệnh đề thảo bản” (Protokol sätze), bởi vì chúng được tìm thấy trong thảo bản của phòng thí nghiệm hay đài quan sát. Trong hình thức đơn thuần của chúng, chúng có thể diễn ra như sau: “X ở vào thời điểm T đã quan sát P tại vị trí L.”

    Tuy nhiên, thuyết này chứa đựng những nan giải của nhiều thứ đa biệt. Về một phía, người ta có thể nhận xét rằng một mệnh đề thảo bản có thể bị nghi ngờ và được chứng nghiệm bằng một mệnh đề thảo bản khác. Tỉ dụ, tình trạng tinh thần của nhà vật lý học có thể bị nghi ngờ và do đó được ý sĩ thần kinh bệnh trắc nghiệm, và cứ thế sự việc diễn ra vô cùng tận. Những nan giải này đưa đến chỗ tranh luận sôi nổi ở nội bộ của trường phái, những tranh luận không mang lại kết quả cụ thể, đó là điều tự nhiên, bởi vì một hậu quả thuần luận lý như thế sẽ là một hoài nghi luận triệt để.

    Về phía khác, người ta có thể tự hỏi một cách chính xác: cái cơ bản của chính mệnh đề thảo bản này là gì? Trung thành với nguồn gốc duy nghiệm phê bình của mình, các nhà tân thực chứng trả lời rằng đối tượng của kinh nghiệm chỉ có thể là những cảm giác – chúng ta không thể nhảy ra ngoài da thịt của mình để năm lấy thực tại. Những vấn đề về thực tại là những ngụy đề, bởi vì chúng ta bao giờ cũng chỉ bắt gặp những cảm giác mà thôi và chúng ta không bao giờ có thể kiểm chứng hiện hữu của mọi sự thể khác với những cảm giác của mình.

    G. HANS REICHENBACH

    Những khuynh hướng tân thực chứng tiếp nhận công thức khả quan nhất của họ nơi công trình của Reichenbach, nhưng phần lớn những nhà tân thực chứng không tán thành điều đó và đến lượt họ lại bị Reichenbach tấn công dữ dội. Ông ta đã áp dụng thuyết của mình để khu biệt những lĩnh vực triết học một cách rất lý thú, nhưng ở đây không thể quảng diễn được những phân tích ấy.

    H. TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH

    Sau cuộc chiến, những lý thuyết của nhóm triết gia này vẫn còn phát triển thêm trên chiều hướng mà Reichenbach đã để lại. Ngày nay, người ta nói về “triết học phân tích” phát xuất từ Moore và từ tân thực chứng luận. Người ta có thể phân biệt nhiều khuynh hướng ở nội bộ của “triết học phân tích” này. (1) Tiếp nối những giai đoạn sau cùng của tư tưởng Rudolf Carnap, các đồ đệ của ông cố lập những định nghĩa chính xác về những khái niệm căn bản của các khoa học trong khung khổ của một ngôn ngữ có định thức lý tưởng. (2) Trường phái của Moore, về phía khác, lấy “ngôn ngữ thường nhật” làm cơ sở và chủ trương rằng điều kiện tiên quyết của sự phân tích chính xác theo khoa học là phù hợp với tục thức. (3) Những chuyên viên trị liệu của Wittgenstein coi triết học như là một thứ trị liệu có tính cách luận lý đối với những ngụy đề, trị liệu phải được hướng dẫn cách tân thực chứng thực thụ. (4) Những nhà biện chứng. (Xem đoạn sau, tr. 114 và tiếp). (5) Ngoài ra, giữ các triết gia phân tích cần phải kể thêm những vị hoạt động trong một tư thế hoàn toàn độc lập và trình bày những quan điểm hoàn toàn khác với thực chứng luận, và những vị bận tâm với sự phân tích chính xác và tế vi về những khái niệm và những phương sách của khoa học và triết học, nhất là với sự phụ giúp của luận lý toán học Nhưng những vị này, và cả những nhà biện chứng không thể được coi như là những đại biểu của triết học về vật chất. Chỉ trong tính chất tương tự về những phương pháp của họ, họ mới có thể được đồng hóa với các triết gia phân tích.

    Những phát triển mới mẻ hơn, hầu khắp cả Hoa Kỳ, đã làm suy yếu nguyên tắc khả chứng, làm suy yếu duy tượng, duy danh, và cả duy vật lý. Toàn thể phong trào này đã tiến đến gần chủ thực dụng một cách rõ rệt.

    A. ĐẶC ĐIỂM

    Duy vật biện chứng chiếm một vị trí hoàn toàn đặc biệt trong triết học Âu châu. Trước nhất nó có rất ít đại biểu tại những môi trường đại học ngoài Nga và các chư hầu ra, mà ở đó, ngược lại, nó được đặt làm môn triết học chính thức va do đó có những đặc quyền mà không một trường phái hiện đại nào khác có được. Ngoài ra, nó độc nhất, vì là triết học của một đảng chính trị – Đảng Cộng sản; vì thế, nó liên hệ chặt chẽ với những lý thuyết kinh tế và chính trị cũng như hoạt động thực tiễn của Đảng, và Đảng được coi là “lý thuyết tổng quát”. Ở Nga, nơi ở dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, không một ai được phép giảng dạy một thứ triết học nào khác hơn duy vật biện chứng, và ngay cả giải thích về những bản văn triết học cổ điển của nó cũng bị giám thị nghiêm mật. Sự giám thị này – chắc chắn là hợp với cá tính quốc gia của Nga – tạo ra một sức thái kỳ lạ của những ấn phẩm duy vật biện chứng; những ấn phẩm này khác hẳn tất cả qua tính cách hoàn toàn nhất dạng của chúng. Tất cả các tác giả của chúng cùng nói một cách chính xác như nhau về một sự thể và cũng trích dẫn rất nhiều từ các tác giả cổ điển, những trích dẫn phải đưa ra những luận chứng cho các thể tài nóng hổi ngay hiện tiền. Có lẽ sự giám thị này là nguyên nhân cho tính chất tầm thường của các triết gia thuộc trường phái này. Dù sao, nó cũng phải mang óc giáo điều cực đoan, óc bài ngoại, và tính gây gỗ của các triết gia duy vật biện chứng.

    Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng hơn những điểm đặc dị này, những điểm có thể là phụ thuộc, đó là đặc tính phản động của duy vật biện chứng, vì triết học này lôi thẳng về giữa thế kỷ XIX và tìm cách tái thiết sinh hoạt tinh thần của thời đại đó mà không một thay đổi nhỏ nhặt nào.

    B. NGUỒN GỐC VÀ CÁC ĐẠI BIỂU

    C. SỰ PHÁT TRIỂN Ở NGA

    D. DUY VẬT

    Theo duy vật, chỉ có một thế giới thực hữu, đó là thế giới vật chất, và tâm chỉ là sản phẩm của một cơ quan vật chất, óc não. Tương phản giữa tâm và vật không có giá trị gì ngoại trừ với nhận thức luận; thực tế chỉ có vật chất. Các nhà duy vật biện chứng hiển nhiên là phê bình các phái duy vật cổ, nhưng chủ phê bình của họ khôn nhằm chống lại duy vật ấy, nhưng nhất loạt nhắm vào sự thiếu sót một yếu tố biện chứng và một khái niệm đúng về sự tiến hóa.

    Hiển nhiên, tầm mực của duy vật biện chứng lệ thuộc vào ý nghĩa mà người ta mang cho từ ngữ “vật”. Về phương diện này, một vài khó khăn được tạo ra bởi định nghĩa của Lenin theo đó vật chất chỉ là một “phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan”; và trong nhận thức luận của ông vật chất hoàn toàn đối lập với tâm bằng cách đồng hóa “vật chất” với “thực tại khách quan”. Nhưng chúng ta khỏi phải nghi ngờ về điểm này, bởi vì ở những nơi khác các nhà duy vật biện chứng chủ trương rằng chúng ta có thể biết được vật chất nhờ các giác quan, rằng vật chất nằm dưới những định luật nhân duyên và tất định (lois causales et déterminites), và rằng nó đối lập với tâm; vắn tắt, rõ ràng rằng, thông dụng chữ “vật chất” theo quan niệm các nhà duy vật biện chứng không có gì khác biệt với quan niệm phổ thông. Duy vật biện chứng là thứ duy vật cổ điển và triệt để.

    E. TIẾN HÓA BIỆN CHỨNG: NHẤT NGUYÊN LUẬN VÀ TẤT ĐỊNH LUẬN

    Vật chất ở trong sự tiến hóa liên tục hướng đến chỗ hình thành những thể tính càng phức tạp hơn: nguyên tử, phân tử, tế bào sống, thực vật, loài người, xã hội. Như thế, sự tiến hóa này không giống như một vòng tròn mà là đường thẳng. Ngoài ra, sự tiến hóa được diễn ra trong chiều lạc quan: giai đoạn cuối cùng luôn luôn phức tạp nhất, phức tạp nhất lại đồng nghĩa với tốt đẹp nhất và cao quý nhất. Các nhà duy vật biện chứng vẫn hoàn toàn duy trì tin tưởng của thế kỷ XIX vì sự tiến bộ bằng tiến hóa.

    Theo họ, sự tiến hòa này gồm một chuỗi những biến cải: những thay đổi nhỏ về lượng trong tính thể của sự vật chồng chất lên nhau, tình trạng căng thẳng xuất hiện, một cuộc phấn đấu ra đời đến một thời hạn cố định thì những yếu tố mới trở nên đủ sức để hủy diệt sự thăng bằng và một tính chất mới khởi lên từ những thay đổi cho thế lực thúc đẩy của tiến hóa tiến hành bằng những bước nhảy: đó gọi là “tiến hóa biện chứng.”

    Toàn thể dòng tiến hóa không có đích điểm, được hoàn thành vì kết quả của những xung đột và tương tranh dưới sự va chạm của những yếu tố thuần nguyên nhân. Nói một cách nghiêm xác, thế giới không có một ý nghĩa hay một mục đích gì và tiến hóa một cách mù quáng phù hợp theo những định luật vĩnh cửu và tất định.

    Không có gì là thường; toàn thể thế giới và tất cả những yếu tố của nó đều bị lôi cuốn theo tiến hóa biện chứng; tại mọi nơi và khắp mọi thời, cái già chết đi và cái mới xuất hiện; không có những bản thể cố định và “những nguyên lý vĩnh cửu.” Chỉ có vật chất và những định luật về sự biến đổi của nó tồn tại miên viễn trong dòng lưu chuyển phổ quát.

    Thế giới là một toàn thể nhất thống. Trái với siêu hình học (Marxists) coi thế giới như một đám những thực thể rời rạc, các nhà duy vật biện chứng là đại diện của một nhất nguyên luận theo hai nghĩa. Họ nhìn thế giới như một thực tại duy nhất (ngoài nó là hư vô, và nhất là không có Thượng đế), và họ coi nguyên lý của nó như là đồng nhất thể (nhị nguyên luận hay đa nguyên luận theo kiểu nào đều bị loại bỏ vì sai lầm).

    Những định luật điều hành thế giới này là tất định theo nghĩa cổ điển của chữ này. Chắc chắn các nhà duy vật biện chứng, với nhiều lý do, không muốn bị xếp loại vào những chủ “tất định”, và vì thế, họ nói rằng, tỉ dụ sự sinh trưởng của một thực vật không hoàn toàn tất định bởi những định luật của thực vật đó, nhưng vì một yếu tố ngoại tại, như mưa đá chẳng hạn, có thể làm cho vô hiệu. Tuy nhiên, trong tương quan với toàn thể các sự vật, các nhà duy vật biện chứng cứng rắn cự tuyệt những ngẫu thể – những định luật của thế giới trong toàn thể tính của chúng ta đã tất định toàn bộ tiến trình của vũ trụ, không có ngoại lệ.

    F. TÂM LÝ HỌC

    Tâm, hay ý thức, chỉ là một hiện tượng phụ đới, một “bản sao, một phản chiếu, một bức ảnh” của vật chất (Lenin). Ý thức không thể hiện hữu mà không có thân thể và là một sản phẩm của óc não. Vật chất là dữ kiện sơ thủy, và ý thức (hay tâm) là thứ yếu; do đó, ý thức không phải là cái tất định cho vật chất, mà ngược lại, vật chất cho ý thức. Tâm lý học như thế là duy vật và tất định.

    Tuy nhiên, tất định luận này tinh tế hơn của duy vật thuở trước. Vì một điều là các nhà duy vật biện chứng không muốn hoàn toàn là những chủ tất định, như chúng ta đã thấy trong tương quan với ngẫu thể. Tự do, theo họ là khả năng khiến những định luật của thiên nhiên thành hữu ích, dĩ nhiên, ngay cả con người cũng lệ thuộc vào những định luật này nhưng nó ý thức được vấn đề, và tự do của nó, một cách đơn giản, là ý thức về sự tất yếu (như với Hegel). Thêm nữa, họ trực tiếp mà hoạt động qua trung gian của xã hội.

    Như thế con người chính yếu là xã hội, không thể sinh tồn ngoài xã hội; chỉ trong xã hội nó mới có thể sản xuất những nhu yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, những phương tiện và phương pháp cho sự sản xuất như thế trước nhất hạn định những mối tương quan người và người và đến lượt chúng hạn định ý thức con người. Đó là đề tài của duy vật sử quan; mọi sự mà con người nghĩ, hay ước muốn, trong một phân tích cứu cánh, đều là một hậu quả những nhu cầu xã hội của nó, cũng như chúng kết quả do những phương pháp sản xuất và những tương quan xã hội được tạo nên bởi sự sản xuất này.

    G. NHẬN THỨC LUẬN

    Vì vật chất xác định, tất định ý thức, nên nhận thức phải được lĩnh hội trong một tư thái duy thực, chủ tri không tạo ra đối tượng, vì đối tượng hiện hữu độc lập với chủ tri; nhận thức kết quả từ sự kiện theo đó những bản sao, những phản chiếu, hay những bức ảnh của vật chất đều có mặt trong tâm. Thế giới không phải bất khả tri mà là hoàn toàn khả tri. Dĩ nhiên phương pháp chân thực để nhận thức duy chỉ là khoa học được kết hợp với sự thực hành có kỹ thuật; tiến trình kỹ thuật đủ chứng tỏ sự kém thế của tất cả bất khả tri luận. Dù nhận thức nhất thiết là nhận thức giác quan, tư tưởng thuần lý cũng cần thiết là nhận thứ giác quan, tư tưởng thuần lý cũng cần thiết để tổ chức những dữ kiện kinh nghiệm này. Thực chứng luận là một “trò phỉnh gạt trưởng giả” và là một “duy tâm luận”; bởi vì trên thực tế chúng ta nắm được yếu tính của các sự vật qua những hiện tượng.

    Như thế nhận thức luận chủ Marx tự chứng tỏ một duy thực tuyệt đối và ngây thơ của một kiểu mẫu duy nghiệm thông thường. Đặc điểm của duy vật chủ Marx nằm ở sự kiện nó kết hợp quan điểm duy thực ấy với một quan điểm duy thực khác, thực dụng luận (pragmatisme). Từ quan niệm rằng mọi yếu tố của ý thức chúng ta đều được tất định bởi những nhu cầu kinh tế, thì tiếp theo đó mỗi giai cấp xã hội có khoa học riêng của nó và triết học riêng của nó. Một khoa học độc lập và biệt lập và bất khả: chân lý là những gì dẫn đến sự thành công, và, chỉ có sự thực hành thôi thiết lập tiêu chuẩn của chân lý.

    Cả hai lý thuyết về nhận thức này được tìm thấy song song trong chủ nghĩa Marxist mà không một ai cố hết sức để điều hòa chúng. Phần lớn người ta công nhận rằng nhận thức chúng ta là một cố gắng cho chân lý tuyệt đối, nhưng bây giờ nó chỉ là tương đối và chỉ để trả lời cho những nhu cầu chúng ta thôi. Ở đây, lý thuyết ấy hình như rơi vào mâu thuẫn, vì nếu chân lý mà tương đối đối với những nhu cầu chúng ta thì nhận thức không bao giờ có thể là một bản sao của thực tại – ngay dù một bản sao phiến diện.

    H. NHỮNG GIÁ TRỊ

    Theo duy vật sử quan tất cả những nội dung của ý thức đều là kết quả của những nhu cầu kinh tế và rồi những nhu cầu ấy lại thay đổi liên tục. Điều này đặc biệt áp dụng cho luân lý, thẩm mỹ và tôn giáo.

    Trên phương diện luân lý, duy vật sử quan không thừa nhận một quy tắc trường cửu nào cả và dạy rằng mỗi giai cấp xã hội có luân lý riêng của nó. Luật luân lý cao nhất là lẽ thiện giúp cho việc hủy diệt xã hội trưởng giả.

    Về thẩm mỹ, những sự thể càng phức tạp hơn. Ta phải sẵn sàng công nhận rằng trong thực tại, trong bản thân những sự vật, hiện hữu một yếu tố khách quan hoạt động như là nền tảng của sự đánh giá thẩm mỹ của chúng ta và cho phép ta nhìn các sự vật vừa đẹp vừa hữu ích. Nhưng về phía khác sự định giá này cũng lệ thuộc sự tiến hóa; mỗi giai cấp có những nhu cầu riêng biệt của nó; mỗi giai cấp thẩm định giá trị theo cách thể riêng biệt của nó. Thế thì nghệ thuật không thể tách biệt khỏi cuộc sống, nó phải tham dự vào cuộc đấu tranh giai cấp; nó phải biểu trưng cho những cố gắng dũng cảm của lớp cần lao trong công cuộc đấu tranh để kiến thiết một thế giới theo xã hội chủ nghĩa (duy thực xã hội).

    Sau hết, đối với tôn giáo, lý thuyết lại thay đổi thêm một lần nữa. Duy vật biện chứng coi tôn giáo như là một kết cấu của những quan niệm sai lầm và quái dị mà khoa học đã kết án, và chỉ có khoa học mới là con đường dẫn đến hiểu biết. Tôn giáo bắt nguồn từ sợ hãi; trong sự bất lực của mình trước thiên nhiên, và sau đó là đối diện với những kẻ lợi dụng, loài người thánh hóa những thế lực đó và cầu nguyện chúng, đồng thời tìm thấy ở tôn giáo và những tín ngưỡng thế giới trên kia một nguồn an ủi mà đời sống nô lệ và bị lợi dụng của họ không thể mang lại được. Tuy nhiên, những kẻ lợi dụng (bọn phong kiến, tư bản, v.v) coi tôn giáo như một phương tiện tốt nhất để đặt quần chúng vào dưới ách thống trị của chúng; trước hết là làm cho quần chúng vâng lời những kẻ lợi dụng họ và thứ đến là ngăn cản lớp lao động nổi loạn bằng cách hứa hẹn cho họ một số phận tốt đẹp hơn sau khi chết. Hạng lao động không lợi dụng một ai, và do đó không cần đến tôn giáo. Trong khi luân lý và thẩm mỹ chỉ bị thay đổi, tôn giáo hoàn toàn bị tiêu hủy.

    Trực giác, cái nằm ở nền tảng của những hệ thống mà chúng ta vừa trình bày, chính là một thứ tình cảm sắc bén về những chiều kích lấn áp của vũ trụ, mà ở trong đó, con người chỉ là một hạt bụi vô nghĩa bị bỏ rơi vào một thế giới hững hờ hay đáng ghét nữa. Điều dễ hiểu, cái trực giác trên căn bản duy vật này phải được nối kết với một thái độ lãng mạn hào hùng. Lạc lối trong vụ trụ vô hạn, con người phải bảo vệ mình bằng sức mạnh của chính mình, bằng khoa học mà mình có, và điều này tạo ra sự tôn sùng khoa học và kỹ thuật và sự đăng quang của lý tính con người.

    Dù cái trực giác ấy có là của chung của tất cả những nhà duy nghiệm, mà đằng khác vẫn còn những sai biệt như thế trong từng hệ thống khiến cho khó mà quy định phong trào này trong toàn bộ của nó. Đại đa số những đại biểu của nó điều tán dương khách quan tính và quyền lực tương đối hiểu biết của con người. Trên toàn thể, họ thừa nhận rằng dù một số ít cương quyết hơn, tinh thần không sáng tạo nên thế giới, rằng thế giới hiện hữu độc lập với tâm thức và rằng, một nhận thức bao quát thế giới là không thể có. Khi biện minh cho những quan niệm này, thì chính họ lại nhận lãnh việc ngăn chặn sự đe dọa từ chủ ngoại lý và chủ quan luận nguy hại đang đe dọa nền văn hóa Tây phương. Nhiều tư tưởng gia kể trên nhất là những triết gia phân tích, đã khiến cho sự tiến bộ của lý luận khoa học và phương pháp luận của khoa học thiên nhiên, rất là được việc.

    Tuy nhiên, những sắc thái tiêu cực của các hệ thống này vẫn còn quá lộ liễu. (1) Họ thảy đều có khuynh hướng quay trở về một lập trường mà đời sống tinh thần của Âu châu đã vượt qua từ lâu, và thế là họ thiết lập nền triết học thoái hóa đối với thời đại chúng ta; điều này đặc biệt đúng cho duy vật biện chứng. (2) Về phương diện lý thuyết thì thật là yếu thế vô cùng. Khỏi phải nói, duy vật biện chứng thường thường tự hạn chế vào trình độ gần như là tiền Socrate, mà ngay cả thực chứng luận cũng nằm trên một thể luận chất phác và trên những tiền đề độc đoán mà các đại biểu của nó chưa từng xét lại. Tính chất một chiều của những hệ thống này thật là kì lạ. (3) Nhưng điều quan trọng nhất là không một hệ thống triết học nào ở đây có một giải đáp cho những vấn đề trọng đại của con người mà tư tưởng hiện đại đang vật lộn với chúng. Đối diện với sự khổ, luân lý và tôn giáo, họ thường bằng lòng với tuyên bố rằng những điều đó không mang lại những nghi vấn nào, hay chính ra những nghi vấn như thế mà được nêu lên chỉ là vô nghĩa. Vì xu hướng thoái hóa ấy, sự yếu kém mặt lý thuyết và sự thiếu sót của họ trước những vấn đề trọng đại về thân phận con người, những nền triết học này ít có giá trị trong tư tưởng hiện đại – ngoại trừ những kết quả thuần phương pháp học của các triết gia phân tích. Nhìn vào toàn thể, triết học hiện đại không những chỉ bỏ qua những kết luận của các nền triết học này mà còn bỏ lối đặt vấn đề của chúng.

    Nguồn: Phiên bản điện tử do bạn Phạm Tấn Xuân Cao, sinh viên khoa Triết trường Đại học Huế, gửi cho triethoc.edu.vn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Của Chân Lý
  • Thế Nào Là Chân Lý?
  • Chân Lý Là Gì Theo Triết Học Mác
  • Tri Thức Và Tri Thức Phương Pháp
  • Và Tri Thức
  • Bản Chất Của Chân Lý

    --- Bài mới hơn ---

  • Triết Học Về Vật Chất
  • Con Người Và Bản Chất Của Con Người
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Chế Độ Dân Chủ Nhân Dân
  • Trả Lời “vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học Là Gì?”
  • Nội Dung Và Hình Thức: Quan Hệ Biện Chứng Và Ý Nghĩa
  • BẢN CHẤT CỦA CHÂN LÝ

    BÙI VĂN NAM SƠN

    Bài viết này là chương 7 với nhan đề “Bản chất của chân lý” trong bản Chú giải Dẫn nhập của Bùi Văn Nam Sơn về tác phẩm Nguồn gốc của tác phẩm nghệ thuật (Der Ursprung des Kunstwerkes, 1935) của triết gia Martin Heidegger. Sách chưa được xuất bản. Phiên bản điện tử bài viết này đăng trên http://www.triethoc.edu.vn đã được tác giả cho phép.

    Ở phần trước, Heidegger cho thấy chân lý “xảy ra” hay “diễn ra” trong tác phẩm, và nghệ thuật là chân lý tự thiết định chính mình thành tác phẩm. Rồi sau đó, ta biết rằng có sự “xảy ra” cuộc tranh chấp giữa Cõi sống và Đất trong tồn-tại-như-là-tác-phẩm của tác phẩm. Câu hỏi là: cuộc tranh chấp giữa Cõi sống và Đất thuộc về việc “xảy ra” của chân lý ở trong tác phẩm như thế nào? Heidegger chỉ mới tạm thời khẳng định rằng chân lý tự thiết định chính mình trong tác phẩm, nhưng chưa nói rõ chân lý xảy ra trong tồn-tại-như-là-tác-phẩm ra sao, và, kỳ cùng, chân lý là gì?

    7.1. Thế nào là: “Ở trong chân lý” (§§89-92)

    Ta cần đọc kỹ tiểu đoạn §90 để tìm hiểu quan niệm của Heidegger về chân lý:

    “Ở trong chân lý” có nghĩa là gì? Chân lý là bản chất của cái đúng thật. Ta nghĩ đến điều gì khi ta nói về “bản chất”? Thông thường, ta nghĩ rằng bản chất là có chung cho mọi cái đúng thật. Bản chất được phát hiện ở trong những khái niệm về loài hay khái niệm phổ biến, tức khái niệm hình dung cái Một có giá trị ngang bằng cho cái Nhiều. Nhưng, cái bản chất dửng dưng, có giá trị-ngang nhau này (tính bản chất theo nghĩa của chữ latinh essentia) chỉ là cái bản chất không-bản chất. Vậy, cái bản chất thực sự có tính bản chất nằm ở đâu? Có lẽ nó nằm ở chỗ cái tồn tại hiện diện ở trong chân lý. Bản chất đúng thật của một sự việc được xác định từ sự Tồn tại đúng thật của nó, từ chân lý của mỗi cái tồn tại. Chỉ có điều: bây giờ ta đâu có đi tìm chân lý của bản chất mà đi tìm bản chất của chân lý. Quả là một sự rối rắm! Đó chỉ là một sự hiếu kỳ hay thậm chí chỉ là một trò chơi tinh tế vô bổ của chữ nghĩa hay – thực sự là một vực thẳm?” (§90).

    – “Chân lý” (Wahrheit/truth) có nghĩa là “bản chất” (Wesen/essence) của cái gì là đúng thật (wahr/true), chẳng hạn cái đẹp là bản chất của những gì là đẹp. Theo đó, ta có thể nhìn vào mọi sự vật được xem là “đúng thật”, rồi rút ra từ đó việc hiểu của ta về bản chất của chân lý. Thế nhưng, Heidegger gọi cách hiểu này chỉ thu hoạch được cái “bản chất không bản chất”, để phân biệt với cái “bản chất có tính bản chất”. Chính cái “bản chất có tính bản chất” này mới được Heidegger gắn liền với việc “cái tồn tại là ở trong chân lý” (ist in der Wahrheit/is in truth).

    – Vậy, “tồn tại ở trong chân lý” cần được hiểu như thế nào? Heidegger đề nghị hãy sử dụng sự hướng dẫn của từ Hy Lạp cổ: aletheia. Tuy nhiên, Heidegger lập tức đặt câu hỏi: “Chân lý có nghĩa là bản chất của cái đúng thật. Ta nghĩ đến “bản chất” này khi nhớ lại chữ Hy Lạp aletheia: sự không-che giấu của cái tồn tại. Nhưng liệu đó có đủ để định nghĩa bản chất của chân lý?” (§91).

    Nói khác đi, cần tự hỏi: từ aletheia hay “không che giấu” (Unverborgenheit/unconcealedness) có nội hàm gì? Phải chăng aletheia chỉ có nghĩa rằng cái gì đó bộc lộ ra, đi vào trong sự mở ngỏ, dưới ánh sáng của ý thức, tức, tự bộc lộ ra cho con người chúng ta mà thôi? Hay từ này còn đòi hỏi nhiều hơn thế: chính sự vật hay cái tồn tại tự bộc lộ ra đúng như chúng “ở trong chân lý”? Vậy, lại phải quay trở lại với câu hỏi: “chân lý” cần được hiểu như thế nào?

    – Heidegger cho rằng việc đơn thuần quay trở lại với từ Hy Lạp aletheia chưa đủ giúp ta thật sự tiếp cận câu hỏi về chân lý. Bởi, như Heidegger nhận định, ngay bản thân triết học Hy Lạp cũng không suy tưởng về chân lý như là sự không-che giấu. Trong “Học thuyết của Platon về Chân lý”, Heidegger đã cho thấy Platon không nhận thức như thế. Ngay từ lúc khởi nguyên, tư tưởng Hy Lạp đã hiểu chân lý như là sự trùng hợp (xem: 7.2). Nếu hiểu sự không-che giấu một cách phiến diện, nó sẽ chỉ cho thấy “chân lý”, vậy cái sai lầm ở đâu, như là cái đối lập với chân lý? Trong khi đó, hiểu một cách đầy đủ, sự không-che giấu ắt phải là điều kiện tiên quyết cho cả hai: chân lý và sai lầm. Cách hiểu phiến diện về aletheia chỉ mới là điều kiện cần, chứ chưa phải là điều kiện đủ của chân lý.

    7.2. Chân lý như là sự không-che giấu (§§93-96)

    – Theo truyền thống, chân lý được hiểu như là sự trùng hợp hay sự đúng đắn giữa nhận thức với thực tại.

    Sự “trùng hợp” hay “nhất trí” (Übereinstimmung/correspondence) ở đây có nhiều nghĩa:

    Đây cũng chính là “chân lý của bản chất”, tức “vực thẳm” phân cách trí tuệ sáng tạo vô hạn của Thượng đế với trí tuệ hữu hạn của con người (§90).

    – Với Nietzsche, trong “Về Chân lý và Dối lừa”, không có một nhịp cầu nào nối liền “vực thẳm” ấy, vì thế, theo nghĩa mạnh mẽ, chân lý không dành cho con người nhận thức hữu hạn như chúng ta

    – Theo một nghĩa nào đó, Kant cũng thế: nếu ta hiểu chân lý như là sự trùng hợp giữa phán đoán của ta và vật-tự thân – hiểu như noumena (= chân lý của sự vật), thì cũng không thể có chân lý đúng nghĩa cho ta. Nhưng Kant lại không đi đến kết luận như Nietzsche, bởi theo Kant, vẫn có thể có một sự biện minh siêu nghiệm về việc con người theo đuổi chân lý để đạt được tính khách quan. Ở đây, cách hiểu về chân lý có nét gần gũi với truyền thống của Thomas Aquino. Theo đó, sự vật, trong chân lý của nó, là phương thức được Thượng đế nhận thức. Đối với trí tuệ của Thượng đế, tất cả điều trong suốt. Thượng đế là đấng toàn tri (người nhận thức lý tưởng). Ý tưởng cho rằng mọi sự vật (ens)đúng thật (verum), bởi chúng mở ra trước trí tuệ thần linh dường như được Kant giữ lại khi ông nhấn mạnh đến chủ thể siêu nghiệm đối tượng siêu nghiệm. Chúng cung cấp cho con người ý niệm điều hành (regulative Idee) hiểu như hình dung về một “người nhận thức lý tưởng” không bị xuyên tạc bởi những viễn tượng chủ quan (như trong Nietzsche).

    – Như sẽ thấy, Heidegger không cầu viện đến Thượng đế như Descartes, không hoàn toàn đồng ý với Nietzsche, và sẽ đặt cược vào bản thân Tồn tại (Sein/Being) như là sự nhị bội: che giấu/không-che giấu.

    Vậy, tại sao ta cần phải hiểu chân lý như là sự không-che giấu: “Thế nhưng, tại sao ta lại không chịu vừa lòng với bản chất của chân lý mà ta đã quen thuộc hàng bao thế kỷ? Ngày nay cũng như đã từ lâu, chân lý có nghĩa là sự trùng hợp giữa nhận thức và sự vật. Tuy nhiên, để cho nhận thức và mệnh đề định hình, và phát biểu về nhận thức ấy có thể trùng hợp với sự vật, để cho bản thân sự vật “có thể trở nên gắn bó với mệnh đề thì bản thân sự vật phải tự biểu lộ ra như là bản thân sự vật đã…” (§93).

    Ta có thể gọi sự khai mở của sự vật đúng như là bản thân chúng là chân lý của sự vật. Câu hỏi vẫn còn là: làm thế nào để hiểu được “chân lý này của sự vật”? Như đã thấy, việc hiểu chân lý như là “sự trùng hợp hay nhất trí giữa nhận thức và sự kiện” (theo cách hiểu truyền thống) tiền giả định “chân lý của sự vật”:

    “… làm sao bản thân sự vật tự biểu lộ ra được, nếu bản thân nó không thể đi ra khỏi sự bị che giấu, nếu bản thân nó không đứng bên trong cái không-che giấu? Mệnh đề phát biểu là đúng thật, khi nó hướng đến cái không-che giấu, nghĩa là, hướng đến cái đúng thật. Chân lý của mệnh đề bao giờ cũng chỉ là “sự đúng đắn” này. Các khái niệm phê phán về chân lý – xuất phát từ quan niệm về chân lý như là sự xác tín kể từ Descartes – đều chỉ là những biến thể của việc xác định chân lý như là sự đúng đắn. Cái bản chất của chân lý vốn quen thuộc với ta này – tức sự đúng đắn của việc hình dung – đứng vững và sụp đổ cùng với chân lý xét như là sự không-che giấu của cái tồn tại” (§93).

    Nói khác đi, cái làm cho mệnh đề là “đúng đắn” thì cũng phải tự tiết lộ chính mình trước đó “đúng như chính mình”, nếu mệnh đề ấy muốn xứng đáng được gọi là đúng thật.

    “Nếu ở đây cũng như ở chỗ khác, ta hiểu chân lý như là sự không-che giấu, ta không chỉ đơn thuần viện đến một sự phiên dịch sát sao hơn về một từ Hy Lạp của sự trình hiện những đối tượng của kinh nghiệm:

    “Cái tồn tại chỉ có thể là cái tồn tại, khi nó đứng vào bên trong và đứng ra bên ngoài chỗ được khai quang của sự khai quang này. Chỉ có sự khai quang này mới ban tặng và đảm bảo cho chúng ta một lối vào cái tồn tại không phải là bản thân ta. Nhờ sự khai quang này, cái tồn tại mới không bị che giấu theo nhiều mức độ nhất định và luôn thay đổi” (§99).

    Nói chính xác hơn, sự khai quang là điều kiện siêu nghiệm vừa cho cả sự ý thức của ta về sự vật, vừa cho cả sự tự-ý thức của ta. Tuy nhiên, khác với trí tuệ thần linh, kinh nghiệm của ta về sự vật không bao giờ là hoàn toàn trong suốt đối với ta. Theo đó, sự khai quang đồng thời không thể tránh khỏi sự che giấu:

    “Song, ngay cả việc bị che giấu thì một cái tồn tại cũng chỉ có thể bị che giấu ở bên trong không gian của cái gì được khai quang. Bất kỳ cái tồn tại nào mà ta gặp gỡ hay gặp gỡ ta đều mang theo mình một sự đối lập kỳ lạ của sự hiện diện ở chỗ luôn cùng lúc rút lui vào trong một sự bị che giấu. Sự khai quang – trong đó cái tồn tại đứng vào – thì tự nó cũng đồng thời là sự che giấu. Tuy nhiên, sự che giấu cũng ngự trị ngay trong lòng cái tồn tại bằng một cách nhị bội mở ngỏ này xảy ra ngay trong lòng cái tồn tại. Nó thể hiện một đặc điểm cơ bản mà ta đã nêu: thuộc về cái trung tâm mở ngỏ này là một Cõi sống và Đất. Nhưng, Cõi sống không đơn giản là cái mở ngỏ, tương ứng với sự khai quang, cũng như Đất không phải là cái khép kín, tương ứng với sự che giấu. Đúng hơn phải nói rằng: Cõi sống là sự khai quang những con đường định hướng để đi đến mọi sự quyết định, bởi mọi sự quyết định đều dựa trên một cái gì không làm chủ được, một cái gì bị che giấu, lầm lạc, nếu không, đã không phải là một sự quyết định. Còn Đất cũng không đơn giản là cái khép kín, mà đúng hơn, là cái gì vươn tới việc tự-khép kín. Cõi sống và Đất, mỗi cái trong bản chất của mình, đều có tính tranh chấp và sẵn sàng tranh chấp. Chỉ với tư cách ấy, cả hai mới đi vào trong cuộc tranh chấp giữa sự khai quang và sự che giấu” (§105).

    – Heidegger mô tả mối quan hệ giữa Cõi sống và Đất như là một trận chiến. Mặt khác, mối quan hệ giữa chân lý và không chân lý cũng mang đặc điểm là một cuộc tranh chấp. Do Cõi sống được gọi là cái mở ngỏ và Đất là cái gì tự thoái ẩn, ta dễ có xu hướng đồng nhất hóa chân lý/sự khai mở với Cõi sống và sự che giấu/hay không chân lý với Đất. Heidegger phủ nhận sự đồng nhất hóa ấy và cho rằng “trong sự khai quang, Cõi sống lẫn Đất đều được khai mở” (§105). Thật thế, theo Heidegger, Cõi sống không đơn giản là sự mở ngỏ tương ứng với sự khai quang, còn Đất không đơn giản là cái khép kín tương ứng với sự che giấu. Như đã thấy, Cõi sống, đúng hơn, là sự khai quang những con đường cho những định hướng thiết yếu mà mọi quyết định của con người phải tương thích. Nhưng mặt khác, bất kỳ quyết định nào như thế đều dựa trên một cái gì không được làm chủ hoàn toàn, tức cái gì bị che giấu hay còn tối tăm. Nếu không như thế, ắt không phải là một quyết định đích thực.

    – Vì thế, Heidegger nói thêm: “Đất trồi lên Cõi sống, và Cõi sống đặt mình trên Đất chỉ khi chân lý xảy ra như là cuộc tranh chấp nguyên thủy giữa sự khai quang và sự che giấu” (§106). “Đặt mình trên” và “trồi lên” không được hiểu như sự cưỡng bách cho bằng một quà tặng. Chính quà tặng này – sự tranh chấp giữa Cõi sống và Đất – cấu tạo nên sự tự do của con người, mà nếu không có nó, sẽ không có sự quyết định đích thực. Nơi đâu có sự quyết định, chân lý xảy ra theo nghĩa của Heidegger.

    – Chân lý sẽ xảy ra bằng một số thể cách cơ bản. Một trong số ấy là cách thức chân lý xảy ra trong tồn tại-như-là-tác-phẩm của tác phẩm nghệ thuật. Khi dựng lên một Cõi sống và chế tạo ra Đất, bản thân tác phẩm “lâm trận”, trong đó sự không che giấu của những cái tồn tại, được nắm lấy như một cái toàn bộ (a-letheia = chân lý) giữ phần thắng.

    – Như thế, “chân lý diễn ra trong việc ngôi đền đứng đó” (§107), không theo nghĩa cái gì đó được thể hiện một cách đúng đắn (correctly), trái lại, là cái gì – “được nắm lấy như là cái toàn bộ” – được đưa vào trong sự không che giấu và được giữ yên ở đó. Động từ “giữ yên” trong tiếng Đức là “halten” (to hold) có nghĩa nguyên thủy là hüten: old) )= chân lý)chở che, chăm sóc. Cũng thế, chân lý diễn ra trong bức tranh của Van Gogh, và cũng không có nghĩa là cái gì đó được mô tả một cách đúng đắn, trái lại, trong sự vén mở Tồn tại-như-là-vật-dụng của đôi giày – xét như cái toàn bộ, tức xét như Cõi sống và Đất được nắm bắt trong sự tương tác của chúng – đi đến chỗ không bị che giấu (§107).

    – Tóm lại, trong tác phẩm nghệ thuật, bản thân chân lý là “cái tác” trong tác phẩm (am Werk/at work), chứ không chỉ là cái gì đúng thật. Những gì ngôi đền ở Paestum, bức tranh của Van Gogh, bài thơ của Meyer về đài phun nước La Mã thể hiện không phải là thực thể hay cái tồn tại bị cô lập. Những gì tác phẩm thể hiện chính là sự không che giấu của cái tồn tại nói chung, xét như cái toàn bộ: “Đôi giày càng giản dị và đích thực bao nhiêu, đài phun nước càng ít màu mè bao nhiêu trong bản chất của nó, thì các cái tồn tại ấy càng đạt tới cấp độ tồn tại lớn hơn một cách trực tiếp và thâm thúy bấy nhiêu. Sự tồn tại tự-che giấu được khai quang như thế đó. Luồng ánh sáng như thế gắn liền sự rọi sáng của nó với tác phẩm và vào cho tác phẩm. Sự rọi sáng gắn liền với tác phẩm và vào cho tác phẩm ấy chính là cái Đẹp. Vẻ đẹp là một thể điệu để chân lý hiện diện như là sự không che giấu” (§108). Chữ “hiện diện” hay “diễn ra” (west/occur) cũng có nghĩa là rọi sáng (scheinen/shine) trong từ Hy Lạp ekphanestaton trong truyền thống từ Platon đến Hegel.

    – Dù nhắc đến ngôi đền, bức tranh, bài thơ, toàn bộ cuộc trao đổi của ta dường như đã bỏ qua điều cốt yếu, đó là xét tác phẩm nghệ thuật như là một vật đặc thù, và, cụ thể hơn, như là một vật vốn là sản phẩm của sự sáng tạo của con người:

    “Bây giờ, bản chất của chân lý quả đã được nắm bắt rõ hơn ở một vài khía cạnh. Theo đó, đã rõ hơn cái gì “tác” ở trong tác phẩm. Chỉ có điều: sự tồn-tại-như-là-tác-phẩm của tác phẩm bây giờ đã lộ diện vẫn chưa nói cho ta biết chút gì về hiện thực gần gũi nhất và dễ nhận thấy nhất của tác phẩm, đó là về tính cách vật nơi tác phẩm. Thậm chí dường như khi theo đuổi ý đồ duy nhất là nắm bắt sự tự tồn của bản thân tác phẩm càng thuần túy càng hay, ta đã hoàn toàn bỏ qua một điều, đó là: một tác phẩm bao giờ cũng là một tác phẩm, nghĩa là, bao giờ cũng là một cái được tác tạo nên. Nếu có điều gì để phân biệt tác phẩm như là tác phẩm, thì đó là việc tác phẩm được sáng tạo ra “… (§109).

    – Vậy, ta cần đi từ chân lý trở lại với tác phẩm: “Chân lý là gì, khiến cho nó có thể xảy ra như là nghệ thuật, hay thậm chí phải xảy ra như thế? Trong chừng mực nào có nghệ thuật?” (§112).

    Nói cách khác, để cho việc bảo rằng chính chân lý là “cái tác” ở trong tác phẩm (am Werk/at work) không chỉ là một khẳng quyết suông (§111), ta phải hỏi câu hỏi sau cùng và cơ bản hơn: trong bản chất của chân lý, phải chăng có một xu hướng hay động lực hướng đến, hay thậm chí, phải hướng đến sự sáng tạo tác phẩm nghệ thuật? (§112).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Chân Lý?
  • Chân Lý Là Gì Theo Triết Học Mác
  • Tri Thức Và Tri Thức Phương Pháp
  • Và Tri Thức
  • Luận Án: Công Bằng Xã Hội Với Việc Phát Triển Con Người Việt Nam
  • Tin tức online tv