Lược Sử Về Thuyết Tương Đối Của Einstein

--- Bài mới hơn ---

  • Các Định Luật Của Newton Về Chuyển Động Là Gì 83
  • Vì Sao E = Mc2?
  • Ronaldo Theo Định Luật Euclid Còn Messi Theo Trường Phái Einstein
  • Vì Sao Bạn Không Hạnh Phúc? Hãy Áp Dụng “định Luật Festinger”
  • Muốn Sống Hạnh Phúc: Áp Dụng “định Luật Festinger”
  • Stephen Hawking: “Vũ trụ trong một vỏ hạt”

    Einstein thiết lập hai lý thuyết căn bản của thế kỷ hai mươi:

    Lý thuyết tương đối rộng và lý thuyết lượng tử như thế nào?

    Albert Einstein năm 1920

    Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng sinh ra ở Ulm, Đức vào năm 1879. Một năm sau đó gia đình ông chuyển đến Munich, tại đó cha ông – Herman và cậu ông – Jacob khởi sự kinh doanh về đồ điện nhưng không mấy thành công. Einstein không phải là thần đồng nhưng có người cho rằng ông là một học sinh cá biệt ở phổ thông thì lại là một sự cường điệu. Năm 1894 công việc làm ăn của cha ông bị đổ bể nên gia đình chuyển đến Milan. Gia đình quyết định ông nên ở lại để hoàn thành bậc học phổ thông, nhưng ông không thích chủ nghĩa độc đoán của trường học nên chỉ sau đó mấy tháng ông đoàn tụ với gia đình ở Ý. Sau đó ông tốt nghiệp phổ thông ở Zurich và tốt nghiệp đại học trường Bách khoa liên bang vào năm 1900. Bản tính hay tranh luận và và ác cảm với quyền lực đã không mang cho ông một chân giáo sư ở trường Bách khoa liên bang và không một giáo sư nào của trường mời ông làm trợ giảng, mà thời bấy giờ đó là con đường bình thường để theo đuổi sự nghiệp khoa học. Cuối cùng thì hai năm sau ông cũng xoay sở được một việc ở Văn phòng sáng chế ở Bern. Ông làm việc tại đó trong thời gian ông viết ba bài báo, trong đó hai bài đã đưa ông trở thành nhà khoa học hàng đầu thế giới và bắt đầu hai cuộc cách mạng về tư tưởng làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về không gian, thời gian và bản thân thực tại vào năm 1905.

    Gần cuối thế kỷ thứ 19, các nhà khoa học tin rằng họ gần như đã mô tả vũ trụ một cách toàn vẹn. Họ cho rằng không gian được lấp đầy bởi một loại vật chất liên tục gọi là Ê-te (ether). Ánh sáng và các tín hiệu vô tuyến là các sóng lan truyền trong ê-te giống như sóng âm lan truyền trong không khí. Và tất cả các điều cần làm cho một lý thuyết hoàn thiện là phép đo chính xác để xác định tính đàn hồi của ê-te. Thực ra các phép đo như thế đã được xây dựng hoàn chỉnh tại phòng thí nghiệm Jefferson ở trường đại học Harvard mà không dùng đến một cái đinh sắt nào để tránh làm nhiễu các phép đo từ trường yếu. Tuy vậy những người xây dựng hệ đo đã quên rằng các viên gạch nâu đỏ xây nên phòng thí nghiệm và phần lớn các tòa nhà ở Harvard đều chứa một lượng lớn sắt. Ngày nay các tòa nhà đó vẫn được sử dụng, nhưng họ vẫn không chắc là nếu không có các đinh sắt thì sàn thư viện của trường có thể nâng đỡ được sức nặng là bao nhiêu.

    Nếu ánh sáng là sóng trong một loại vật chất đàn hồi được gọi là ê-te thì vận tốc của ánh sáng đối với người ở trên tàu vũ trụ chuyển động ngược hướng ánh sáng (a) sẽ nhanh hơn vận tốc của ánh sáng đối với người trong con tàu chuyển động cùng hướng với ánh sáng (b).

    Người ta không thấy sự khác biệt về vận tốc ánh sáng theo các hướng trong mặt phẳng quỹ đạo của trái đất và hướng vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo đó.

    Và một loạt các thí nghiệm để chứng minh điều đó đã thất bại. Albert Michelson và Edward Morley của trường khoa học ứng dụng ở Cleveland, bang Ohio đã thực hiện các thí nghiệm cẩn thận và chính xác nhất vào năm 1887. Họ so sánh tốc độ ánh sáng của hai chùm sáng vuông góc với nhau. Vì trái đất tự quay quanh mình và quay quanh mặt trời nên dụng cụ thí nghiệm sẽ di chuyển trong ê-te với tốc độ và hướng thay đổi. Nhưng Michelson và Morley cho thấy rằng không có sự khác biệt giữa hai chùm sáng đó. Hình như là ánh sáng truyền với tốc độ như nhau đối với người quan sát, không phụ thuộc vào tốc độ và hướng của người chuyển động.

    Dựa trên thí nghiệm Michelson-Morley, một nhà vật lý người Ai-len tên là George Fitzgerald và nhà vật lý người Hà Lan tên là Hendrik Lorentz giả thiết rằng các vật thể chuyển động trong ê-te sẽ co lại và thời gian sẽ bị chậm đi. Sự co và sự chậm lại của đồng hồ làm cho tất cả mọi người sẽ đo được một tốc độ ánh sáng như nhau không phụ thuộc vào việc họ chuyển động như thế nào đối với ê-te (George Fitzgerald và Hendrik Lorentz vẫn coi ê-te là một loại vật chất có thực). Tuy vậy, năm 1905, Einstein đã viết một bài báo chỉ ra rằng nếu người ta không thể biết được người ta chuyển động

    Trong giao thoa kế Michenson-Morley, ánh sáng từ nguồn sáng được tách thành hai chùm bằng một gương bán mạ. Hai chùm sáng đi theo hai hướng vuông góc với nhau sau đó lại kết hợp thành một chùm sáng sau khi đập vào gương bán mạ một lần nữa. Sự sai khác về tốc độ ánh sáng của hai chùm sáng đi theo hai hướng có thể làm cho các đỉnh sóng của chùm sáng này trùng với đáy sóng của chùm sáng kia và chúng triệt tiêu nhau.

    Bay từ tây sang đông của những hành khách trên phi cơ bay về hướng tây trong không gian hay không thì khái niệm ê-te không còn cần thiết nữa. Thay vào đó, ông bắt đầu bằng một giả thuyết rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất cả những người quan sát chuyển động tự do. Đặc biệt là họ sẽ đo được tốc độ ánh sánh như nhau không phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của họ. Tốc độ của ánh sáng độc lập với chuyển động của người quan sát và như nhau theo tất cả các hướng.

    Ý tưởng này đòi hỏi phải từ bỏ ý nghĩ cho rằng tồn tại một đại lượng phổ quát được gọi là thời gian có thể đo được bằng tất cả các đồng hồ. Thay vào đó, mỗi người có một thời gian riêng của họ. Thời gian của hai người sẽ giống nhau nếu hai người đó đứng yên tương đối với nhau, nhưng thời gian sẽ khác nhau nếu hai người đó chuyển động tương đối với nhau.

    Giả thuyết này được khẳng định bằng rất nhiều thí nghiệm, trong đó có một thí nghiệm gồm hai đồng hồ chính xác bay theo hướng ngược nhau vòng quanh trái đất và quay lại cho thấy thời gian có sai lệch chút ít. Giả thuyết gợi ý rằng nếu ai đó muốn sống lâu hơn thì người đó nên bay về hướng đông vì như thế thì tốc độ của trái đất sẽ bổ sung vào tốc độ của máy bay. Tuy vậy, các bữa ăn trên máy bay sẽ rút ngắn cuộc sống của bạn gấp nhiều lần một phần nhỏ của giây mà bạn có được.

    Trong thuyết tương đối, mỗi người quan sát sẽ đo thời gian khác nhau. Điều này có thể dẫn đến nghịch lý anh em sinh đôi (twin paradox).

    Một người trong cặp anh em sinh đôi (a) trong một phi thuyền thám hiểm không gian chuyển động với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng (c) trong khi người anh em của anh ta (b) vẫn trên mặt đất.

    Vì thời gian của (a) trong phi thuyền chậm hơn thời gian của (b) trên trái đất. Nên khi người (a) trở về (a2) anh ta sẽ thấy người anh em của anh ta trên trái đất (b2) già hơn anh ta.

    Giả thuyết của Einstein cho rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự do là cơ sở của thuyết tương đối. Gọi như vậy vì nó ngụ ý rằng chỉ có chuyển động tương đối là quan trọng. Vẻ đẹp và sự đơn giản của giả thuyết này đã thuyết phục rất nhiều các nhà tư tưởng, tuy nhiên, vẫn có rất nhiều các ý kiến trái ngược. Einstein đã vứt bỏ hai khái niệm tuyệt đối của khoa học thế kỷ 19: đứng yên tuyệt đối – đại diện là ê-te và thời gian tuyệt đối và phổ quát mà tất cả các đồng hồ đo được. Rất nhiều người thấy rằng đây là một khái niệm không bình thường. Họ hỏi, giả thuyết ngụ ý rằng tất cả mọi thứ đều tương đối, rằng không có một tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối? Sự bứt rứt này tiếp diễn trong suốt những năm 20 và 30 của thế kỷ 20. Khi Einstein được trao giải Nobel vào năm 1921 về một công trình kém quan trọng hơn cũng được ông cho ra đời vào năm 1905. Lúc đó, thuyết tương đối không được nhắc đến vì nó vẫn còn gây nhiều tranh cãi (đến bây giờ tôi vẫn nhận được vài ba bức thư hàng tuần nói rằng Einstein đã sai). Tuy vậy, hiện nay, các nhà vật lý hoàn toàn chấp nhận thuyết tương đối, và các tiên đoán của nó đã được kiểm chứng trong vô vàn ứng dụng.

    Mặc dù nó có vẻ chống lại cảm nhận chung của chúng ta, rất nhiều thí nghiệm chứng minh rằng trong kịch bản này, người du hành vũ trụ sẽ trẻ hơn người còn lại.

    Một phi thuyền đi ngang qua trái đất từ trái sang phải với vận tốc bằng bốn phần năm vận tốc ánh sáng. Một xung ánh sáng phát ra từ cabin và phản xạ lại ở đầu kia (a). Người trên trái đất nhìn ánh sáng trên phi thuyền. Vì phi thuyền chuyển động nên hai ngưới sẽ quan sát khoảng cách mà ánh sáng đã đi được khi phản xạ lại không bằng nhau (b). Và với họ thời gian mà ánh sáng dùng để truyền cũng không bằng nhau, vì theo giả thuyết của Ein-stein, tốc độ ánh sáng là như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự do.

    Một hệ quả quan trọng của thuyết tương đối là hệ thức giữa khối lượng và năng lượng. Giả thiết của Einstein về tốc độ của ánh sáng là như nhau đối với tất cả các người quan sát ngụ ý rằng không có gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Nếu ta dùng năng lượng để gia tốc một vật nào đó, dù là một hạt hay một tàu vũ trụ, thì khối lượng của vật đó sẽ gia tăng cùng với tốc độ và do đó sẽ khó có thể gia tốc thêm được nữa. Ta không thể gia tốc một hạt đến tốc độ ánh sáng vì ta cần một năng lượng lớn vô cùng để làm điều đó. Khối lượng và năng lượng là tương đương và điều đó được tổng kết trong một phương trình nổi tiếng E = mc 2. Có lẽ đây là phương trình vật lý duy nhất mà chúng ta có thể nhìn thấy nó được viết trên đường phố. Một trong số các hệ quả của phương trình trên là hạt nhân của nguyên tử Uranium phân rã thành 2 hạt nhân nhỏ hơn có tổng khối lượng nhỏ hơn khối lượng của hạt nhân ban đầu, việc này sẽ giải tỏa một năng lượng vô cùng lớn.

    Vào năm 1939, khi mà khả năng một cuộc chiến tranh thế giới nữa đang lờ mờ xuất hiện, một nhóm các nhà khoa học đã nhận ra tầm quan trọng và đã thuyết phục Einstein vượt qua sự lưỡng lự của bản thân để điền tên của ông vào một bức thư gửi Tổng thống Roosevelt nhằm thúc giục Hoa Kỳ khởi động chương trình nghiên cứu hạt nhân Việc này dẫn đến dự án Manhattan và kết quả của nó là 2 quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945. Một số người đã đổ tội cho Einstein về bom nguyên tử bởi vì ông đã khám phá ra mối liên hệ giữa khối lượng và năng lượng; nhưng điều này giống như là đổ tội cho Newton đã gây ra các vụ tai nạn máy bay vì đã phát hiện ra định luật hấp dẫn.

    Sau các bài báo gây chấn động vào năm 1905, Einstein trở lên nổi tiếng trên thế giới. Nhưng đến tận năm 1909 ông mới được mời vào làm việc tại trường đại học Zurich và do đó, ông có thể từ bỏ công việc ở văn phòng sáng chế Thụy Sỹ. Hai năm sau, ông chuyển sang đại học Đức ở Prague, nhưng ông quay trở lại Zurich vào năm 1912, nhưng lần này ông về trường Bách khoa liên bang. Mặc dù chủ nghĩa bài Do thái (anti-semitism) đang phổ biến ở châu Âu, ngay cả ở trong các trường đại học, nhưng ông vẫn là một tài sản quý của trường đại học. Có nhiều đề nghị làm việc đến từ Vienna và Utrecht, nhưng ông đã chấp nhận một vị trí ở Viện hàn lâm khoa học Prussian ở Berlin vì ở đó ông không phải đảm nhiệm công việc giảng dạy. Ông chuyển đến Berlin vào tháng 4 năm 1914 và sau đó ít lâu vợ và hai con của ông cũng chuyển đến đó với ông. Cuộc hôn nhân của ông gặp nhiều sóng gió, do vậy, vợ và các con ông nhanh chóng trở lại Zurich. Mặc dầu thỉnh thoảng ông vẫn trở lại thăm họ nhưng cuối cùng cuộc hôn nhân của họ cũng tan vỡ. Sau đó Einstein lấy một người em họ tên là Elsa sống ở Berlin. Trong những năm chiến tranh ông đã sống độc thân và không có ràng buộc về gia đình, có lẽ chính vì thế đây là thời kỳ thăng hoa nhất của ông về mặt khoa học.

    Mặc dầu thuyết tương đối rất phù hợp với các định luật điện và từ nhưng nó lại không tương hợp với định luật hấp dẫn của Newton. Định luật của Newton nói rằng nếu một lượng vật chất trong một vùng của không gian bị thay đổi thì trường hấp dẫn mà nó tạo ra trong toàn vũ trụ cũng thay đổi ngay lập tức. Điều này có nghĩa là người ta có thể gửi các tín hiệu nhanh hơn ánh sáng (mâu thuẫn với thuyết tương đối); để hiểu tức thời có nghĩa là gì, người ta lại cần đến khái niệm thời gian tuyệt đối và phổ quát, chính điều này lại loại bỏ thời gian cá nhân.

    Bức thư tiên đoán của Einstein gửi tổng thống Roos-evelt năm 1939 “Trong thời gian bốn tháng qua, thông qua các công trình của Joliot ở Pháp cũng như Fermi và Szilard ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể xây dựng một phản ứng hạt nhân với một khối lượng lớn Urani-um, nhờ đó mà sinh ra một nguồn năng lượng lớn. Bây giờ, chúng ta có thể làm điều này trong một tương lai gần. Mặc dù chưa chắc chắn, nhưng hiện tượng mới này có khả năng dẫn đến việc tạo ra các quả bom có sức công phá cực lớn.”

    Nếu phản ứng này tự duy trì thì nó được gọi là “tới hạn” và khối lượng U-235 được gọi là khối lượng tới hạn.

    Năm 1907, Einstein nhận ra khó khăn này khi ông còn làm việc ở văn phòng sáng chế ở Bern, nhưng phải đến khi ông ở Prague vào năm 1911 ông mới suy nghĩ về vấn đề này một cách nghiêm túc. Ông nhận ra rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa gia tốc và trường hấp dẫn. Một người nào đó ở trong một cái hộp đóng kín như là trong một cái thang máy chẳng hạn không thể nhận biết được cái hộp đó đang đứng yên trong trường hấp dẫn của trái đất hay đang bị gia tốc bởi một tên lửa trong không gian (tất nhiên lúc này là trước kỷ nguyên của Star Trek, và Einstein nghĩ về những người đứng trong thang máy hơn là về những con tàu vũ trụ). Nhưng người ta không thể gia tốc hoặc rơi tự do lâu được trong cái thang máy trước khi tai nạn xảy ra!

    Nhưng khi ông quay lại Zurich vào năm 1912, ông đã có một bước đột phá khi nhận ra rằng sự tương ứng đó là đúng nếu hình dáng của không thời gian bị bẻ cong chứ không thẳng như người ta vẫn nghĩ cho tới thời điểm đấy. Ý tưởng của ông là khối lượng và năng lượng.

    Nếu trái đất phẳng thì người ta có thể giải thích bằng một trong hai cách tương đương sau: quả táo rơi xuống đầu Newton do lực hấp dẫn hoặc do Newton gia tốc lên phía trên. Sự tương đương này không còn đúng khi trái đất hình cầu vì những người ở mặt kia của trái đất sẽ rời xa nhau. Einstein đã giải quyết bài toán này bằng việc giả thiết không gian và thời gian bị cong đã làm cong không thời gian theo một cách có thể xác định được. Các vật thể như là quả táo hoặc là hành tinh sẽ cố gắng chuyển động thẳng trong không thời gian, nhưng quỹ đạo của chúng sẽ bị bẻ cong bởi một trường hấp dẫn do không thời gian bị cong.

    Lý thuyết mới về sự cong của không thời gian được gọi là thuyết tương đối rộng để phân biệt với lý thuyết ban đầu không có lực hấp dẫn được mọi người biết đến với cái tên là thuyết tương đối hẹp. Lý thuyết này được khẳng định trong một thí nghiệm rất ấn tượng vào năm 1919, trong một cuộc thám hiểm của các nhà khoa học người Anh về phía Tây châu Phi đã quan sát được độ lệch rất nhỏ của ánh sáng đến từ một ngôi sao đi gần mặt trời trong quá trình nhật thực. Đây là một bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng không thời gian bị bẻ cong, và nó đã khích lệ sự thay đổi lớn nhất của con người trong nhận thức của chúng ta về vũ trụ mà chúng ta đang sống từ khi Euclid viết cuốn sách Hình học cơ sở vào khoảng 300 năm trước Công nguyên.

    Thuyết tương đối rộng của Einstein đã biến không thời gian từ vai trò là một khung nền thụ động trong đó các hiện tượng xảy ra trở thành một tác nhân chủ động trong chuyển động của vũ trụ. Điều đó dẫn tới một bài toán rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu của vật lý ở thế kỷ 20. Vũ trụ tràn đầy vật chất và vật chất bẻ cong không thời gian theo một cách làm cho các vật thể rơi vào nhau. Einstein thấy rằng các phương trình của ông không có nghiệm mô tả một vũ trũ tĩnh tại và không thay đổi theo thời gian. Thay vì việc từ bỏ một vũ trụ vĩnh cửu mà ông và phần lớn những người khác tin, ông đã thêm vào một số hạng gọi là hằng số vũ trụ một cách khiên cưỡng. Hằng số này làm cong không thời gian theo hướng ngược lại, do đó, các vật thể sẽ chuyển động ra xa nhau. Hiệu ứng đẩy của hằng số vũ trụ có thể cân bằng với hiệu ứng hút của vật chất, cho phép ông thu được một vũ trụ tĩnh tại. Đây là một trong những cơ may bị mất đáng tiếc nhất trong vật lý lý thuyết. Nếu Einstein dừng lại ở các phương trình ban đầu của ông, ông có thể tiên đoán rằng vũ trụ sẽ giãn nở hoặc co lại. Khả năng vũ trụ thay đổi theo thời gian chỉ được xem xét một cách nghiêm túc cho đến khi có được những quan sát thu được từ kính thiên văn 2,5 m đặt trên đỉnh Wilson vào những năm 1920.

    Những quan sát này cho thấy rằng các thiên hà ở càng xa nhau thì chuyển động ra xa nhau càng nhanh. Vũ trụ đang giãn nở với khoảng cách giữa 2 thiên hà tăng dần theo thời gian. Phát hiện này đã loại bỏ sự có mặt của hằng số vũ trụ để có được một vũ trụ tĩnh. Sau này Einstein nói rằng hằng số vũ trụ là sai lầm lớn nhất của đời ông. Tuy vậy, ngày nay, người ta thấy rằng hằng số vũ trụ hoàn toàn không phải là một sai lầm: những quan sát gần đây sẽ được mô tả trong chương 3 gợi ý rằng thực ra là có một hằng số vũ trụ có giá trị rất nhỏ.

    Thuyết tương đối rộng đã làm thay đổi hoàn toàn việc bàn luận nguồn gốc và số phận của vũ trụ. Một vũ trụ tĩnh tại có thể tồn tại mãi mãi hoặc có thể được tạo ra với hình dạng hiện nay của nó tại một thời điểm trong quá khứ. Tuy vậy, nếu bây giờ các thiên hà đang rời xa nhau, điều đó có nghĩa là trong quá khứ chúng đã từng rất gần nhau. Khoảng 15 tỷ năm trước đây, chúng đã từng chập lại với nhau và mật độ rất lớn. Trạng thái này được một linh mục Công giáo tên là Georges Lemaitre, người đầu tiên nghiên cứu về nguồn gốc của vụ trụ gọi là “nguyên tử nguyên thủy” mà ngày nay chúng ta gọi là vụ nổ lớn.

    Thậm chí Einstein còn miễn cưỡng hơn thừa nhận rằng thuyết tương đối rộng tiên đoán thời gian sẽ kết thúc đối với các ngôi sao nặng khi chúng ở giai đoạn cuối của cuộc đời và khi chúng không còn đủ nhiệt lượng để cân bằng với lực hấp dẫn của bản thân chúng. Lực hấp dẫn này đang cố làm chúng nhỏ đi. Einstein nghĩ rằng, các ngôi sao như vậy sẽ kết thúc cuộc đời ở một trạng thái cuối cùng, nhưng ngày nay chúng ta biết rằng sẽ không có trạng thái cuối cùng cho các ngôi sao có khối lượng lớn hơn hai lần khối lượng mặt trời. Các ngôi sao như vậy sẽ tiếp tục co lại cho đến khi chúng trở thành các hố đen, những vùng mà không thời gian bị bẻ cong đến nỗi ánh sáng không thể thoát ra khỏi đó được.

    Penrose và tôi cho thấy rằng thuyết tương đối rộng tiên đoán thời gian sẽ kết thúc trong một hố đen, đối với bản thân ngôi sao và đối với một nhà du hành vũ trụ không may bị rơi vào nó. Nhưng cả điểm khởi đầu và kết thúc của thời gian là những nơi mà các phương trình của thuyết tương đối rộng không thể được xác định. Do đó, lý thuyết không tiên đoán được cái gì tham gia vụ nổ lớn. Một số người thấy rằng đây là biểu hiện cho tự do của Chúa sáng tạo thế giới theo bất kỳ cách nào mà ngài muốn, nhưng những người khác (trong đó có tôi) cảm thấy rằng sự khởi đầu của vũ trụ cũng được điều khiển bởi các định luật khoa học mà điều khiển vũ trụ tại các thời điểm sau khi vũ trụ hình thành. Chúng ta đã đạt được một số tiến bộ trong vấn đề này, như sẽ được mô tả trong chương 3, nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu hoàn toàn nguồn gốc của vũ trụ.

    Lý do mà thuyết tương đối không còn đúng tại thời điểm vụ nổ lớn là thuyết tương đối không tương hợp được với lý thuyết lượng tử, một cuộc cách mạng khác về tư tưởng vào thời điểm đầu thế kỷ 20. Bước đầu tiến tới thuyết lượng tử được thực hiện vào năm 1900, khi Max Plank ở Berlin khám phá ra rằng bức xạ phát ra từ các vật thể nóng đỏ có thể được giải thích nếu ánh sáng chỉ có thể được phát ra hoặc bị hấp thụ theo những lượng rời rạc được gọi là các lượng tử (quanta). Một trong số các bài báo cách mạng của ông được viết năm 1905, khi ông còn làm việc ở văn phòng sáng chế, Einstein đã chứng minh rằng giả thuyết lượng tử của Plank có thể giải thích một hiệu ứng gọi là hiệu ứng quang điện, trong hiệu ứng này, các kim loại sẽ phát ra các điện tử khi bị ánh sáng chiếu vào. Hiệu ứng là là cơ sở của các đầu thu ánh sáng và vô tuyến, và cũng nhờ công trình này Einstein được trao giải Nobel vật lý.

    Einstein tiếp tục nghiên cứu lý thuyết lượng tử cho đến những năm 1920, nhưng ông rất băn khoăn về công trình của Heisenberg ở Copenhagen, Paul Dirac ở Cambridge và Erwin Schrodinger ở Zurich, đó là những người đã phát triển một bức tranh mới về thực tại được gọi là cơ học lượng tử. Những hạt tí hon không còn có vị trí và tốc độ chính xác nữa. Thay vào đó, nếu người ta xác định vị trí của hạt càng chính xác bao nhiêu thì người ta càng khó xác định vận tốc của nó bấy nhiêu và ngược lại. Einstein rất khó chịu về những yếu tố ngẫu nhiên, bất định trong các định luật cơ bản và ông chưa bao giờ chấp nhận hoàn toàn cơ học lượng tử. Suy nghĩ của ông được thể hiện trong câu châm ngôn “Chúa không chơi trò xúc sắc”. Tuy vậy, phần lớn các nhà khoa học chấp nhận tính đúng đắn của lý thuyết lượng tử mới này bởi vì chúng đã giải thích được một loạt các hiện tượng khó hiểu trước đó và rất phù hợp với các quan sát. Các quy luật lượng tử là cơ sở cho sự phát triển của hóa học, sinh học phân tử, và điện tử hiện đại và là cơ sở cho nền công nghệ đã thay đổi thế giới trong 50 năm qua.

    1. Ngôi sao đang đốt cháy nhiên liệu hạt nhân làm cong không thời gian xung quanh nó.

    2. Khi ngôi sao co lại thì độ cong tăng lên

    3. Thời gian sẽ kết thúc trong một hố đen.

    Tháng 12 năm 1932, nhận thấy Đức quốc xã và Hitler sắp lên nắm quyền, Einstein rời nước Đức và 4 tháng sau đó ông từ bỏ quyền công dân để giành trọn 20 năm cuộc đời còn lại của mình cho Viện nghiên cứu cấp cao ở Princeton, bang New Jersey.

    Ở Đức, đảng Quốc xã đã tiến hành một chiến dịch chống lại “khoa học Do thái” và vì rất nhiều các nhà khoa học Đức là người Do thái, nên đây cũng là một nguyên nhân làm cho người Đức không chế tạo được bom nguyên tử. Einstein và thuyết tương đối của ông là đối tượng chính của chiến dịch này. Khi được hỏi về một cuốn sách được xuất bản với tiêu đề 100 tác giả chống lại Einstein thì ông trả lời: “Tại sao lại một trăm? Nếu tôi sai thì một cũng đủ”. Sau thế chiến hai, ông thúc giục các nước đồng minh thiết lập một tổ chức quốc tế kiểm soát bom nguyên tử. Năm 1948, ông được mời làm tổng thống của nhà nước Israel non trẻ nhưng ông đã từ chối. Một lần ông nói: “Chính trị là nhất thời, chỉ có các phương trình mới là vĩnh cửu”. Các phương trình thuyết tương đối của Einstein là tấm bia ghi nhận công lao của ông. Chúng sẽ tồn tại mãi mãi cùng vũ trụ.

    Trong vài trăm năm qua, thế giới đã thay đổi nhiều hơn bất kỳ thế kỷ nào trước đó. Nguyên nhân không phải là các thành tựu về kinh tế hay chính trị mà là sự phát triển vượt bậc về công nghệ được xây dựng trên nền khoa học cơ bản. Vậy thì ai xứng đáng là biểu tượng cho sự tiến bộ đó hơn Einstein?

    CHIA SẺ BÀI VIẾT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Định Luật Di Truyền Của Menđen
  • 8 Định Luật Tiến Hoá Phần Mềm Của Lehman
  • Luật Của Morgan / Toán Học
  • 7 Tư Duy Làm Giàu Của Người Do Thái
  • 3 Định Luật Từ Hoa Sen, Cây Tre Và Ve Sầu Bạn Cần Phải Biết Để Thành Công!
  • Fantasy Và Những Định Nghĩa Trái Chiều Của Cộng Đồng Game Thủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Học Dân Gian Việt Nam Có Những Thể Loại Nào?hãy Định Nghĩa Ngắn Gọn Và Nêu Ví Dụ Theo Từng Thể Loại
  • Khái Quát Chung Về Tác Phẩm
  • Tìm Hiểu Về Hàm Xây Dựng, Hàm Hủy Trong C#
  • Sử Dụng Delegate Trong C# Hàm Ủy Quyền
  • Tìm Hiểu Hàm Trong C#
  • Nhắc đến Fantasy là nhắc đến Final Fantasy, đó là một sự thật không thể chối cãi. Fantasy là cái tên bắt nguồn từ một tựa game, nơi mà ở đó bắt đầu khai sinh ra khái niệm “Thể loại game Fantasy”. Về cơ bản “Fantasy” không phải là một thể loại, nhưng sức ảnh hưởng của nó lớn đến mức khiến rất nhiều nhà làm game lấy bối cảnh game Châu Âu, Giả Tưởng, Thần Tiên… luôn phải cân nhắc mỗi khi bắt tay vào phát triển dự án.

    Tựa game Final Fantasy đầu tiên xuất hiện vào tận những năm 1978, vào thời điểm đó, Squaresoft chỉ là một hãng sản xuất game nhỏ với số vốn ít ỏi. Mọi hi vọng của họ đều đặt vào tựa game cuối cùng này, nếu thất bại, mọi sự cố gắng, ước mơ, vọng tưởng của họ đều tan biến. Đó là lí do vì sao có cái tên Final Fantasy – “Ảo Vọng Cuối Cùng”.

    Sự thành công của Final Fantasy đã khiến cho mọi ý kiến, đánh giá, nhận định vào thời điểm đó tưởng như không giấy mực nào tả hết. Nhiều game thủ cho rằng, khái niệm về game Fantasy là không có cơ sở khi chỉ dựa vào một tựa game mà có thể khai sinh ra cả một khái niệm game mới. Một số khác cho rằng, cái nét đặc biệt mà “chỉ Fantasy có” đã tạo nên khái niệm game Fantasy hoàn toàn mới mà không có bất cứ thể loại game RPG nào có thể có.

    Fantasy là một thế giới muôn màu, rộng lớn, một nơi mà trí tưởng tượng của con người được hiện thực hóa. Từ những người anh hùng, những tên quỷ vương, những ngôi làng, thị trấn tấp nập, nơi có những vị thần (hay còn gọi là Eidolon) và con người cùng chung sống. Bối cảnh game luôn nói về một thế giới bị một thế lực tà ác nào đó thống trị và luôn có những người anh hùng đứng lên tập hợp nhau để chống lại thế lực tà ác đó.

    Với một thế giới, nơi mà trí tưởng tượng của con người được thỏa sức vẫy vùng như thế đã tạo điều kiện cho rất nhiều nhà phát triển game tự do phát triển tựa game của mình, và từ đó thể loại game Fantasy cũng được định nghĩa một cách rõ ràng. Chúng ta có thể nhắc đến rất nhiều tựa game ăn theo khái niệm Fantasy và thành công lớn chính nhờ cái sức hút mang tên “Fantasy” đó.

    Trên hệ máy chơi game Play Station nổi tiếng của hãng Sony, chúng ta chắc chắn không thể không biết đến Persona 4, một trong những tựa game RPG xuất sắc nhất từng được phát hành, xây dựng bối cảnh game bằng việc kết hợp hài hòa yếu tố hoạt động thường ngày và hệ thống chiến đấu trong thế giới Fantasy. Nhờ nắm bắt tốt, Persona 4 hiện nay đã có hơn 10 phụ bản ăn theo từ Anime, Manga, Game thùng cho tới các loại đồ chơi…

    Trên Smartphone, chúng ta cũng không xa lạ gì với dòng game Zenonia, một trong những tựa game RPG lấy bối cảnh Fantasy xuất sắc đã có trên 5 phiên bản khác nhau với nội dung ngày một được cải tiến. Thậm chí, ngay trong truyện tranh, phim hoạt hình… chúng ta cũng không khó để bắt gặp những sản phẩm gắn mác Fantasy như thế. Có thể kể tới những cái tên như Sword Art Online, Strike the Blood hay Fate/Stay Series…

    Trong hơn 25 năm phát triển, khái niệm Fantasy cũng dần thay đổi dọc theo tiến trình phát triển của dòng game mẹ đẻ – Final Fantasy. Ban đầu, chúng ta dễ dàng thấy yếu tố “Đoàn kết tất thắng” thường thấy của văn hóa game Nhật Bản trong những tựa game Fantasy. Thế nhưng, với xu thế hiện nay, khái niệm anh hùng cá nhân đang ngày được đề cao hơn tất thảy và dần thay thế khái niệm Fantasy truyền thống.

    Trong Final Fantasy XIII, Lightning xuất hiện như một đại diện hùng mạnh nhất cho một thế hệ “nữ siêu anh hùng”. Tài năng xuất chúng và khả năng chiến đấu không khoan nhượng của Lightning đã khiến các nhân vật khác như Snow hay Hope bị lu mờ. Với Final Fantasy XIII – Lightning Return, chúng ta hoàn toàn không nghi ngờ về điều đó nữa. Với Final Fantasy XV cũng vậy, không khó để các game thủ nhận ra rằng nhân vật trung tâm, người trở thành chúa tể của cả phiên bản game này là Noctis và Stella.

    Sự thay đổi của dòng game Fantasy đã đẩy sự tranh luận cho định nghĩa Fantasy của cộng đồng game thủ lên một tầm cao mới. Nhiều người cho rằng, chiến đấu vì đồng đội, hi sinh vì lí tưởng chung và sát cánh bên nhau là định nghĩa rõ ràng nhất cho khái niệm game Fantasy. Số khác lại khẳng định rằng, thời của khái niệm ăn chung nồi, uống chung bát đã qua, giờ là thời của những siêu anh hùng, những bá chủ. Thời đại hoàng kim của game Fantasy là nơi đề cao sức mạnh cá nhân, với ước mơ trở thành “Chúa Tể”.

    Dù muốn hay không, sự xuất hiện của khái niệm anh hùng cá nhân và chúa tể thế giới Fantasy đã góp phần đẩy cao và hoàn thiện khái niệm game Fantasy truyền thống, tạo nên những sản phẩm game mới có tính thức thời hơn, giống như dự án Fantasy GO mới được tiết lộ gần đây đang thu hút sự chú ý của game thủ Việt. Độc giả quan tâm có thể tìm hiểu thêm thông tin tại fanpage của trò chơi: chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thiết Bị Đo Từ Trường
  • Từ Trường Là Gì? Đường Sức Từ Của Dòng Diện Và Quy Tắc Nắm Tay Phải
  • Định Nghĩa Nguyên Thủy Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Nguyên Thủy
  • Thế Nào Là Sản Xuất Nông Nghiệp Hữu Cơ?
  • “nông Sản Chất Lượng Cao” Như… Con Rơi Chưa Được Thống Kê
  • Tư Duy Tài Chính Thế Hệ Mới Và Sự Chuyển Mình Của Thế Giới Mỹ Phẩm Xa Xỉ

    --- Bài mới hơn ---

  • Trải Nghiệm Xa Xỉ Từ Các Chuyên Gia
  • Đi Tìm Định Nghĩa Mới Cho Nghỉ Dưỡng Xa Xỉ
  • Trẻ Hoá Sự Xa Xỉ (Kỳ 1): Trước Rolls
  • Có Thể Bạn Chưa Nhận Ra Chiến Lược Giá Sản Phẩm Mới Của Apple Sẽ Khiến Các Đối Thủ Lo Sợ Đến Mức Nào
  • Định Nghĩa Xã Hội Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Xã Hội
  • Cùng với sự thay đổi về quan điểm, ưu tiên và kỳ vọng của tầng lớp khách hàng giàu có, kết hợp tiến bộ công nghệ, thì các mô hình kinh doanh mới sáng tạo cũng đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thị trường xa xỉ, biến chúng thành những thứ dễ tiếp cận hơn dưới các hình thức khác nhau, với các mức giá khác nhau và thông qua các kênh tiêu thụ khác nhau.

    Trong số đó, việc lựa chọn hình thức thanh toán trả góp để sở hữu không chỉ sản phẩm, dịch vụ cao cấp, mà còn là những trải nghiệm cá nhân xa xỉ đã thể hiện một thế giới quan mới của tầng lớp người tiêu dùng thông minh và tư duy tài chính hiện đại của thế hệ khách hàng cấp tiến.

    Ngành công nghiệp mỹ phẩm – lãnh địa phù hoa lộng lẫy của phái đẹp – cũng đã ghi nhận những sự thay đổi lớn.

    Xu hướng này không chỉ đúng với riêng một ngành hàng cao cấp, mà đang ảnh hưởng đến mọi loại hình của thế giới tiêu dùng xa xỉ. Trong đó, ngành công nghiệp mỹ phẩm – lãnh địa phù hoa lộng lẫy của phái đẹp – cũng đã ghi nhận những sự thay đổi lớn.

    Giá trị vô hình của sản phẩm cao cấp và niềm kiêu hãnh đến từ những trải nghiệm xa xỉ

    SHERYL CONNELLY – Giám đốc Toàn cầu về Xu hướng &amp Tương lai của FORD nhận định trong công bố vào 26/11/2015: “Thế giới đang đi theo xu hướng mọi thứ nhỏ gọn hơn, đơn giản hơn và hiệu quả hơn”.

    Phong cách chế tác chạm trổ lấp lánh vàng son hay những thiết kế phô trương bề thế, thể hiện đẳng cấp người dùng thông qua kích thước và lối trang trí cầu kỳ đang dần trở nên lỗi thời và thể hiện nhiều bất cập. Giờ đây, sự cao cấp được thể hiện tinh tế hơn rất nhiều khi đa số các xa xỉ phẩm đều nhỏ gọn, các chi tiết được tinh giản tối đa. Thị hiếu toàn cầu này khiến người tiêu dùng không còn lựa chọn những hàng hóa có thiết kế quá bóng bẩy mà chuyển sang những sản phẩm thanh lịch hơn.

    Mọi thứ nhỏ gọn hơn, đơn giản hơn và cùng với sự phát triển của công nghệ – đồng nghĩa với hiệu quả hơn. Bước tiến của công nghệ khiến chúng ta hiểu rằng, những sản phẩm được tinh giản và thu gọn là những sản phẩm mang tính cách mạng nhất.

    Với một thiết bị làm đẹp được thiết kế dành riêng để đi kèm bộ sản phẩm, mỗi người phụ nữ đã tự mang theo trong túi xách của mình một “spa di động”, đáp ứng những nhu cầu của da từ cơ bản như làm sạch, thư giãn đến nâng cao hơn: làm săn chắc da và đẩy sâu tinh chất, là giải pháp tổng thể cho những nhu cầu của chủ nhân vừa hài hòa với nhịp sống hiện đại.

    Thiết bị spa di động – giải pháp tổng thể cho những nhu cầu của chủ nhân vừa hài hòa với nhịp sống hiện đại.

    Nhu cầu phô bày việc chi tiêu và thói khoe khoang sự giàu có thông qua giá tiền của sản phẩm cũng dần phai nhòa. Giờ đây, khách hàng sẽ sẵn sàng chi trả cho một sản phẩm xa xỉ nếu thương hiệu đó sở hữu chung niềm tin và triết lý với khách hàng, gọi tên được và hiện thực được những ước vọng trong mỗi cá nhân.

    Claudia D’Arpizio, một đối tác của công ty tư vấn quản lý Bain & Company, cho biết “Khách hàng đánh giá cao trải nghiệm mà sản phẩm mang lại nhiều hơn bản thân sản phẩm, vì trải nghiệm có khả năng chia sẻ, có tính lan tỏa và đem lại niềm vui lâu dài.”

    Các thương hiệu trang sức Chopard và Tiffany & Co. đã bắt đầu sử dụng đá quý khai thác và tái chế vàng, bạc và bạch kim vì số lượng khách hàng ngày càng tăng yêu cầu họ làm như vậy – với mong muốn trở thành những công dân đầu tiên của thế hệ tiêu dùng bền vững.

    Với phụ nữ, giày cao gót Christian Louboutin là một thái độ sống, ông tạo ra những đôi giày cao gót đế đỏ như trải thảm đỏ dưới đôi chân phụ nữ, biến họ thành minh tinh trong chính sân khấu cuộc đời mình và hơn hết, cho nàng được nhìn thẳng vào mắt đàn ông ngang hàng.

    Khi tìm đến những thương hiệu mỹ phẩm sở hữu quy trình chế tác công phu, nguyên liệu thượng hạng, thiết kế bao bì tối giản để tập trung nguồn lực tối đa cho chất lượng và đa dạng công năng trong các sản phẩm, người phụ nữ mong muốn sở hữu sản phẩm đó với hàm ý thể hiện tuyên ngôn cá nhân rằng họ xứng đáng với những điều tốt đẹp nhất khi biết tìm đến những trải nghiệm mang lại giá trị bền vững theo thời gian và trở thành những tài sản vô giá trong cuộc sống.

    Những trải nghiệm xa xỉ không được đong đếm bởi giá tiền, sự chuyên nghiệp đích thực là khi khách hàng được thụ hưởng những cung cách phục vụ đúng điệu và dịch vụ đẳng cấp – nơi thương hiệu luôn đặt trọn tâm trí vào mỗi cảm nhận tinh tế nhất của khách hàng và nỗ lực hoàn hảo trong từng tiểu tiết, khiến mỗi giây phút trải nghiệm sản phẩm trở thành niềm vui cho tâm hồn, thành hạnh phúc cho cuộc sống.

    Tư duy tài chính thế hệ mới – Thời đại của những người tiêu dùng thông minh

    Cùng với sự thay đổi về quan điểm chế tác và thiết kế của các nhà nghiên cứu và điều chế mỹ phẩm, hàng hóa xa xỉ hiện nay cũng trở nên dễ tiếp cận hơn nhờ những mô hình kinh doanh sáng tạo và hình thức thanh toán linh hoạt.

    Theo báo cáo THE NEW LUXURY của tạp chí ROBB REPORT, sự thay đổi trong hành vi người tiêu dùng giàu có cũng được thể hiện rõ với 71% người được hỏi đánh giá cao tính dễ tiếp cận của sản phẩm/dịch vụ. Có thể thấy rằng, với khảo sát này, tính dễ tiếp cận là một yếu tố quan trọng trong thế giới xa xỉ kiểu mới.

    Sản phẩm cao cấp với các nguyên liệu thượng hạng xuất hiện trong bảng thành phần, như vàng 24 karat, khoáng chất từ vùng Biển Chết mỗi năm chỉ được cấp phép khai thác một lượng nhất định không còn là đặc quyền riêng của tầng lớp thượng lưu với những quy trình bán hàng phức tạp và già cỗi, chỉ hiện diện trong các cửa hiệu sang chảnh ở Đại lộ Madison (New York) hay Rodeo Drive (Beverly Hill).

    Hàng xa xỉ, không còn được định nghĩa bởi những tiêu chí quý, hiếm và độc đáo, giờ đây đã trở nên dễ tiếp cận hơn rất nhiều nhờ hình thức thanh toán trả góp.

    Trước đây, sự hào nhoáng của các thương hiệu xa xỉ đã vô tình khiến nhiều phụ nữ e dè khi muốn bước chân vào thế giới làm đẹp cao cấp. Tuy nhiên, với quyền lực mua sắm của thế hệ Y – hay còn gọi là thế hệ Millennial, thế hệ những người sinh sau năm 1980 và trước năm 2000 – thế giới xa xỉ giờ đây đã có bước chuyển mình rõ rệt.

    Sự tăng trưởng mạnh mẽ này bắt nguồn từ những thay đổi lớn trong thói quen của người tiêu dùng và nhu cầu cao về việc chăm sóc bản thân, tận hưởng cuộc sống.

    Sự chuyển đổi trong thói quen của người tiêu dùng từ hình thức vay mượn của người thân bạn bè hoặc thị trường tài chính không chính thống sang hình thức vay mượn từ các công ty tài chính hoặc ngân hàng đã mang lại những chuyển biến tích cực, góp phần lớn vào sự tăng trưởng của ngành hàng xa xỉ. Theo Claudia D’Arpizio – ngành công nghiệp cao cấp toàn cầu đã tăng 5% từ năm 2014 đến 2021 và vượt qua 1 nghìn tỷ USD doanh số bán lẻ.

    Tại Việt Nam, xét về độ tuổi, phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến dưới 30 vay trả góp nhiều nhất, và phụ nữ miền Nam có thu nhập cao vẫn thích vay trả góp, theo phân tích dữ liệu dựa trên thống kê khách hàng nữ vay trả góp được một công ty tài chính công bố. Phóng viên Miriam Wohlfarth. tở The Paypers cho biết, hình thức thanh toán trả góp không chỉ dành cho đối tượng khách hàng không đủ khả năng chi trả theo cách thức truyền thống. Thanh toán trả góp giúp khách hàng giữ được khả năng linh hoạt trong chi tiêu, duy trì mức độ cân bằng của tình hình tài chính cá nhân và mở ra nhiều lựa chọn hơn trong việc đầu tư cũng như sở hữu những món đồ mơ ước khác. Nhờ chứng minh được những lợi thế đó, trả góp đã trở thành lựa chọn của một thế hệ khách hàng cấp tiến, thể hiện tư duy tài chính hiện đại.

    Milton Pedraza – Giám đốc điều hành của Luxury Institute – một tổ chức nghiên cứu ở New York cho biết. ngành công nghiệp xa xỉ nói chung và mỹ phẩm cao cấp nói riêng đang chú ý đặc biệt đến phụ nữ, không chỉ bằng các sáng kiến ​​tiếp thị hay chiến dịch truyền thông, công nghệ được phát triển để đáp ứng như cầu của phụ nữ, các hình thức kinh doanh sản phẩm và dịch vụ xa xỉ cũng được tối ưu để làm vừa lòng phái đẹp.

    “Phụ nữ có tiếng nói và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong xã hội.” ông nói, “Và điều đó sẽ góp phần thay đổi to lớn như thế nào? Có lẽ là tạo ra một thế giới đẹp hơn”.

    Chắc chắn đó sẽ là sự thay đổi được chào đón nhiều nhất. Bởi, khi choàng một mỹ từ âu yếm là “phái đẹp” lên một nửa kia của thế giới, là đã đặt vào trong đó cả sự khát khao và mong muốn được thưởng thức cái đẹp. Phụ nữ làm đẹp không chỉ là tô điểm cho chính họ, mà còn là thêm sắc thêm hương cho cuộc sống này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Yếu Tố Định Nghĩa Sự Xa Xỉ Của Maserati
  • Hành Trình Định Nghĩa Lại Khái Niệm Nghỉ Dưỡng Xa Xỉ Tại Việt Nam
  • Thế Nào Là Sự Xa Xỉ Đích Thực? 8 Đặc Tính Không Thể Thiếu Trên Xa Xỉ Phẩm
  • Khái Niệm Wifi Là Gì? Nguyên Lý Wifi Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Về Wifi Cách Hoạt Động Của Wifi
  • Training Workshop Là Gì ? Ưu Điểm Của Workshop Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Workshop Là Gì? Các Bước Để Thực Hiện Workshop Thành Công
  • Pdw: Dự Án Định Nghĩa Hội Thảo
  • Workshop Là Gì? Bật Mí Các Bước Tiến Hành Workshop Thành Công!
  • Workshop Là Gì? Vai Trò Của Các Đối Tượng Tham Dự Workshop
  • Wg: Hội Thảo Về Các Khái Niệm Lý Thuyết Đồ Thị Trong Khoa Học Máy Tính
  • 1. Workshop là gì? Training workshop là gì ?

    “Workshop” là một từ tiếng Anh đa nghĩa, nó có nghĩa là “phân xưởng”, “nhà xưởng”, nhưng trong đời sống, nó chủ yếu được hiểu với có nghĩa là “hội thảo”.

    Giải nghĩa một cách chính xác hơn thì “workshop” là một buổi trao đổi kiến thức, kỹ năng… Của một nhóm người về một lĩnh vực nào đấy trong cuộc sống.

    Workshop là gì? Nó có nghĩa là “hội thảo”

    Hội thảo thường kéo dài khoảng 2 đến 4 tiếng; nội dung sẽ gồm hai hoạt động chính là phần trò chuyện giữa host với khách mời và phần hỏi đáp (còn gọi là Q&A). Chủ đề của workshop cũng có thể được “chủ nhà” chọn trước sao cho phù hợp với các khách mời nhất. Số lượng người tham dự sẽ không bị giới hạn bởi một con số cụ thể nào cả. thế nhưng, ban tổ chức sẽ là đối tượng mục tiêu quyết định cuối cùng xem số lượng người tham gia là bao nhiêu.

    1. Training workshop là gì?

    Cụm từ này có nghĩa là hội thảo đào tạo. Nó là hình thức huấn luyện có tính tương tác cao, trong số đó những người tham dự sẽ chủ động thực hiện các hoạt động đào tạo thay vì ngồi nghe một bài giảng hay bài thuyết trình một cách bị động. Hội thảo loại này hay được chia thành 2 loại:

    • Workshop chung cho người tham dự đại chúng
    • Workshop riêng được thiết kế nhằm phục vụ cho mục đích đào tạo, huấn luyện của một nhóm đối tượng mục tiêu cụ thể.

    2. Cafe workshop là gì?

    Cafe workshop hay workshop coffee là gì? đây là một loại hình quán cafe đáng chú ý nơi khách hàng đến không những để thưởng thức đồ uống mà còn để gặp gỡ những người có niềm yêu thích chung; để giao lưu, học hỏi lẫn nhau và trao đổi hiểu biết và kinh nghiệm về một đề tài nào đó. Chủ đề ấy có thể là nghệ thuật, ẩm thực, âm nhạc, đồ cổ, trang trí nội thất, decor nhà cửa…

    3. Workshop online là gì? Training workshop là gì ?

    Đây chính là hình thức hội thảo trực tuyến, được thực hiện thông qua internet. Những người tham gia sẽ liên kết với nhau qua màn hình máy tính/điện thoại để trao đổi và giao lưu. Trong thời điểm dịch bệnh đang hoành hành thì giải pháp hội thảo trực tuyến này đang rất được ưa chuộng!

    3. Tổ chức Workshop truyền thống – Training workshop là gì ?

    Người ghi chép trong Workshop giữ nhiệm vụ tài liệu hóa tất cả các quyết định và nội dung đã trao đổi, cũng như lưu lại những hạng mục chưa hoàn thiện cần tối ưu giải pháp. Cơ sở vật chất được trang bị để tổ chức workshop gồm có các thiết bị cơ bản: bàn ghế hội họp, máy chiếu, bảng viết,…

    Khi nhu cầu được học hỏi và cập nhật thông tin, xu thế và kiến thức ngày càng lên cao, các sự kiện Workshop được sáng tạo hóa theo hình thức tối tân và mở rộng tới các ngành nghề nghệ thuật cũng giống như quy mô lớn hơn hình thức truyền thống.

    1. Tổ chức Workshop và Training workshop là gì ? – là chiến lược marketing hấp dẫn khách hàng:

    tệp khách tham dự của Workshop chính là khách hàng và đối tác của công ty. mục tiêu của sự kiện sẽ trao cho khách hàng kiến thức, thông tin họ cần và đưa ra giải pháp từ đấy tạo dựng uy tín và đáp ứng được khách hàng dùng và mua sản phẩm của tổ chức. Vì lẽ đó, tại các buổi sự kiện worskhop, khách tham dự sẽ có cơ hội tham quan và trải nghiệm nhiều sản phẩm của công ty và trải nghiệm không gian sự kiện được đầu tư thiết kế chuyên nghiệp.

    2. Quy mô tổ chức Workshop có khả năng lên đến 500 khách hoặc hơn

    Khi mở rộng tệp khách tham dự sự kiện workshop, số lượng các đối tượng mục tiêu tiềm năng như khách hàng, đối tác và nội bộ công ty có khả năng lên tới 500 khách. Đối với sự kiện quy mô lớn, phải chọn địa điểm tổ chức workshop thích hợp như các trung tâm yến tiệc hội nghị để được trang bị cơ sở vật chất hiện đại. Khi tổ chức workshop với số lượng khách lớn, các cơ quan tổ chức cần thiết kế sân khấu sự kiện, hệ thống trình chiếu màn hình rộng (màn hình LED là một sự chọn lựa phù hợp), hiệu ứng âm thanh ánh sáng linh động phù hợp với chương trình.

    Cần chú ý rằng, khi quy mô Workshop lớn, số lượng khách mời nhiều thì việc chọn địa điểm tổ chức Workshop phù hơp với quy mô là cực kì quan trọng.

    Một khi thương hiệu định hướng tổ chức workshop như dịp giới thiệu dịch vụ đặc trưng, nội dung kiến thức chuyên môn của ngành hàng đến độc giả. Sự kiện có thể được tổ chức theo cách thức bán vé và lên thiết kế chương trình chuyên nghiệp cùng các diễn giả đầy kinh nghiệm tham dự. Vậy nên, sự kiện Workshop tối tân xuất hiện các hạng mục đặc trưng sau:

    Người ghi chép (Note – taker): Cũng như workshop truyền thống, người ghi chép lưu giữ lại các nội dung quyết định cũng giống như các giúp sức ý kiến từ khán giả.

    Người giám sát thời gian (Time-keeper): Khi tổ chức chương trình workshop lớn, Time – keeper đảm bảo các hạng mục trong Agenda chạy đúng khung thời gian và quản lý tiến độ của các phiên tranh luận.

    Vũ – Tổng hợp, chỉnh sửa (Nguồn tổng hợp: chúng tôi chúng tôi … )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Wibu (Weeaboo) Là Gì? Hãy Cẩn Thận, Bạn Có Thể Đang Nhầm Lẫn Wibu Và Otaku!
  • Biên Niên Sử Wibu: Lịch Sử Hình Thành Và Sự Phát Triển Của Thuật Ngữ Này Là Gì?
  • Top 10 Workstation Laptop Tốt Nhất Năm 2021
  • Workstation Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Workstation Và Server
  • Máy Tính Workstation Chuyên Đồ Họa Là Gì, Tại Sao Máy Tính Workstation Bền Rẻ Nhanh Chạy Bộ Vi Xử Lý Xeon
  • Vai Trò, Vị Trí Của Doanh Nhân Trong Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Doanh Nhân Mỹ Tham Vọng Định Nghĩa Lại Từ ‘thịt’
  • Danh Nhân Là Gì? Vai Trò Của Doanh Nhân?
  • Doanh Nhân Là Ai? Ai Là Doanh Nhân !
  • Tùng Dương Khẳng Định Không ‘đá Xoáy’ Khi Thu Minh Xưng Diva
  • Tùng Dương Lên Tiếng Định Nghĩa ‘diva’ Sau Khi Thu Minh Tự Nhận
  • Trong lịch sử phát triển xã hội của loài người, có thể nhận ra một tầng lớp người mà có lúc bị gọi là con buôn, lúc lại là thương nhân, và nay gọi là doanh nhân. Đó là một tầng lớp có một vai trò, vị trí quan trọng, không thể thiếu trong mọi xã hội. Mặc cho có lúc, do nhận thức chưa chuẩn người ta đã phủ nhận vai trò của họ, nhưng vị trí đó vẫn tồn tại một cách khách để duy trì nhu cầu cuộc sống của con người, duy trì sự tồn tại của nền kinh tế.

    Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại và tổ chức xã hội hiện nay, nhu cầu cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của từng cá nhân và của cả cộng đồng xã hội đã cao hơn nhiều so với trước đây. Ngay cả cuộc sống của một người dân bình thường trong một quốc gia phát triển trung bình cũng có thể cao hơn những gì mà giới quý tộc, thậm chí vua chúa ngày xưa thụ hưởng. Do đó đặc tính, khả năng của doanh nhân so với thương nhân hay con buôn trước đây cũng rất khác.

    Nếu trước kia, thương nhân chỉ là người có khả năng nhận dạng ra của cải hàng hóa ở nơi thừa để làm nhiệm vụ đáp ứng cho nơi thiếu thì doanh nhân ngày nay là người tạo ra những sản phẩm hàng hóa mới, tạo nên những nhu cầu mới cho xã hội. Họ còn hướng dẫn xã hội dùng hàng hóa đó không những ở khía cạnh công năng, mà còn thụ hưởng cả về cái đẹp cùng những nét văn hóa của sản phẩm. Đôi lúc, trị giá văn hóa (tính ra bằng tiền) của sản phẩm còn lớn hơn nhiều lần so với trị giá của công năng. Những sản phẩm thời trang, sản phẩm tiêu dùng cao cấp là một minh chứng.

    Bên cạnh những nhận dạng về doanh nhân thời nay như nêu trên, cần biết làm cách nào để có một tầng lớp doanh nhân đúng tầm vóc. Kinh tế học là môn học cung cấp cho ta những kiến thức về kinh tế, không chỉ cho ta kiến thức về sử dụng tài nguyên, lao động một cách tối ưu, mà còn cung cấp các kiến thức sản xuất – kinh doanh, cách thức sử dụng của cải vật chất, đồng vốn của nhà đầu tư, của xã hội một cách có hiệu quả nhất. Đó là những kiến thức mà doanh nhân nên được trang bị trong nền kinh tế hôm nay.

    Để trở thành một doanh nhân thực sự, không phải chỉ học Kinh tế học là đủ, mà còn phải hội đủ nhiều yếu tố quan trọng khác nhau. Theo sự trưởng thành của doanh nghiệp, doanh nhân càng phải thể hiện đầy đủ năng lực và phẩm giá để đủ tầm dẫn dắt doanh nghiệp lớn mạnh.

    Trong xã hội chúng ta ngày nay, sự nhìn nhận về người làm nghề kinh doanh còn nhiều điều chưa đúng. Luật lệ quản lý kinh tế cũng còn nhiều hạn chế. Để trở thành doanh nhân thành đạt, vừa làm giàu cho bản thân, vừa góp phần phát triển kinh tế quốc gia thì doanh nhân phải biết kinh doanh đúng pháp luật, đúng đạo đức xã hội. Thế nên lượng doanh nhân giỏi, có tầm cỡ của Việt Nam chưa nhiều. Sự thành đạt ở đẳng cấp như thế không phải chỉ cần sự nỗ lực của bản thân doanh nhân, mà còn phải có yếu tố môi trường xã hội, trong đó luật lệ của Nhà nước có tạo được môi trường kinh doanh lành mạnh hay không là một yếu tố có tính chất quyết định.

    Trong tình hình thế giới hiện nay, xây dựng được một đội ngũ doanh nhân yêu nghề, có kiến thức, có tấm lòng với xã hội, có hoài bão với đất nước là một điều mong mỏi của xã hội. Vì đó là lực lượng quan trọng nhất trong công cuộc hội nhập với thế giới để rút ngắn thời gian đưa nước ta vào hàng ngũ những nước phát triển. Đội ngũ này phải được rèn luyện trong môi trường cạnh tranh công bằng (mọi doanh nghiệp đều được đối xử bình đẳng trong nền kinh tế về quyền tự chủ kinh doanh, được hưởng sự công bằng trong sử dụng vốn xã hội, tài nguyên thiên nhiên…). Có như thế, tài năng của doanh nhân mới có dịp thăng hoa, từ đó họ mới có đủ khả năng cạnh tranh thành công trên thương trường quốc tế, góp phần bảo vệ quyền lợi của đất nước.

    Nếu vẫn còn duy trì tình trạng dành đặc quyền đặc lợi cho một loại hình doanh nghiệp nào đó thì không những làm cho vốn, tài nguyên quốc gia không được sử dụng hiệu quả, mà còn làm hư hỏng một bộ phận trong đội ngũ doanh nhân. Cơ chế quản lý kinh tế xã hội không thể là “xin – cho”, buộc doanh nhân phải đáp lại bằng phương thức đút lót để cùng tham gia chia chác cái bánh đặc quyền đặc lợi. Hậu quả của cơ chế “xin – cho” nếu tiếp tục kéo dài sẽ là một thảm họa cho đất nước.

    Trong điều kiện toàn cầu hóa như hiện nay, sự cạnh tranh trên thương trường ngày càng phức tạp. Doanh nhân không thể dựa vào sự bảo hộ của Nhà nước và càng không thể thông qua mối quan hệ với các quan chức để có những đặc quyền đặc lợi. Nguồn lợi nhuận của một doanh nhân chân chính chỉ có thể khai thác bền vững từ những phương châm, biện pháp sau:

    – Đầu tư sáng tạo ra sản phẩm mới nhằm đáp ứng được nhu cầu cuộc sống ngày càng cao của con người. Hình thành ra những nhu cầu mới, thị trường mới trong xã hội. Tạo ra sản phẩm mới, khai thác thị trường mới luôn là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Lợi ích của doanh nghiệp có được từ sự sáng tạo để phục vụ và nâng cao đời sống cho cộng đồng mới là đỉnh cao nghề nghiệp của một doanh nhân.

    – Phát hiện, khai thác ra thị trường mới đối với những sản phẩm truyền thống, thông qua các kỹ thuật gia tăng chức năng sản phẩm, tăng sức hấp dẫn về mặt thị hiếu, tăng cường công tác tiếp thị…

    – Xem xét sản phẩm của mình đang ở công đoạn nào của chuỗi giá trị của sản phẩm để điều chỉnh phương thức kinh doanh, chọn chuỗi phân khúc giá trị phù hợp và có lợi nhất cho doanh nghiệp. Đồng thời đánh giá các đối tượng canh tranh, nhằm có sách lược liên kết với các đối tượng khác nhau để tìm vị thế có lợi nhất cho sản phẩm của mình.

    – Tăng cường lợi ích cho khách hàng bằng các kỹ thuật kinh doanh như chính sách hậu mãi, khuyến mãi…

    – Loại bỏ các yếu tố lãng phí, hợp lý hóa sử dụng lao động, tinh gọn hiệu quả bộ máy điều hành… để giảm giá thành sản phẩm, tạo sức cạnh tranh bằng giá hợp lý, đem lại lợi ích cho người tiêu dùng và cho chính doanh nghiệp.

    – Xem xét đề xuất với Nhà nước hợp lý hóa các công cụ luật pháp, các thủ tục hành chính, khả năng tiếp cận với nguồn tín dụng trong xã hội, chính sách thuế…, để tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

    Để có thể hỗ trợ doanh nhân thực hiện các biện pháp trên, phải có những tổ chức hiệp hội theo những ngành nghề khác nhau. Đồng thời Nhà nước phải tổ chức các cơ quan xúc tiến kinh doanh “bán dân lập” như tổ chức Kotra của Hàn Quốc, Cetra của Đài Loan… để hỗ trợ các nhà sản xuất, các doanh nghiệp tiếp cận thị trường thế giới dễ dàng hơn, giúp họ cải tiến sản phẩm, xây dựng kênh thông tin kịp thời về giá cả hàng hóa trên thế giới, tổ chức đào tạo đội ngũ chuyên môn phục vụ cho công tác kinh doanh. Có như vậy, đội ngũ doanh nhân nước ta mới có điều kiện trưởng thành. Những tổ chức nêu trên đã là những lực lượng nòng cốt hỗ trợ tích cực cho đội ngũ doanh nghiệp của bốn con rồng châu Á (Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore) trong 50 năm qua mà chúng ta cần học tập.

    Vai trò của Doanh nhân: Cần phải nhìn thẳng

    Ông Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch HĐQT Vingroup

    Gần đây, có một vài cuộc hội thảo đánh giá về tình trạng của đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Tuy nhiên những nghiên cứu về giới Doanh nhân Việt Nam, xét về mặt khoa học, còn chưa rõ ràng và chưa nhất quán. Ví dụ, hiện nay, xã hội chưa nhất trí rằng các Giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũng là doanh nhân khi định nghĩa doanh nhân là người bỏ tiền ra để kinh doanh và mục tiêu là vì lợi nhuận. Tuy vậy, theo tôi, khi nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập đến mức như hiện nay thì không thể định nghĩa doanh nhân theo quy mô vốn mà họ bỏ ra bởi trên thế giới có rất nhiều doanh nhân không bỏ tiền ra nhưng vẫn tham gia hiệu quả vào nền kinh tế dựa trên việc huy động tiền của xã hội.

    Doanh nhân Việt – Anh là ai?

    Sở dĩ có tình trạng như vậy là do chúng ta mới có nền kinh tế thị trường khoảng 10 năm nay. Tuy nhiên, xét về mặt hiện tượng thì chúng ta phải kết luận rằng, trên thực tế chúng ta đã có một giới doanh nhân và họ đang tạo ra những hoạt động kinh tế có thật, tạo ra những thành tích, những mối quan hệ thương mại được phát triển rộng khắp thế giới. Vậy doanh nhân Việt Nam gồm những đối tượng nào? Theo tôi, có 3 nhóm doanh nhân đã, đang hình thành và làm nên diện mạo của doanh nhân Việt Nam.

    Thứ nhất là những người điều hành, quản lý hoặc sở hữu các doanh nghiệp nhỏ và vừa, một đối tượng có tốc độ phát triển nhanh về số lượng. Xét theo tiêu chuẩn của những nhà kinh doanh hiện đại thì đây chưa phải là đội ngũ chuyên nghiệp nhưng rõ ràng họ đã có những hoạt động kinh doanh thực thụ. Gần đây, do tình trạng lạm phát mà đối tượng này đang rơi vào một số khó khăn. Số lượng những doanh nhân này bớt đi do phá sản, song lại tăng lên theo sự vận động, phát triển của nền kinh tế.

    Thứ hai là đội ngũ khá đông đảo những người đang điều hành các doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù còn có những tranh cãi về việc họ có phải là doanh nhân không nhưng tôi cho rằng, phải xem họ là doanh nhân vì họ phải chịu trách nhiệm xã hội về đồng vốn mà mình sử dụng, về khối tư liệu sản xuất mà trên thực tế, nó vẫn đang chiếm một tỷ trọng rất lớn trong đời sống kinh tế Việt Nam.

    Thứ ba là các nhà kinh doanh chuyên nghiệp hoặc bắt đầu có chất lượng chuyên nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế, làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thậm chí có những người đã vươn tới vị trí điều hành tại các doanh nghiệp lớn. Đây là lực lượng có năng lực chuyên nghiệp tốt nhất nếu xét theo tiêu chuẩn hội nhập ở Việt Nam hiện nay. Đặc biệt trong đội ngũ này là những người kinh doanh tài chính dưới hình thức là các nhà môi giới, các nhà tư vấn tài chính, những người buôn bán các sản phẩm của nền kinh tế trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng. Đối tượng này một vài năm trở lại đây phát triển rất nhanh và rất đông. Họ đang trở thành một lực lượng chiếm giữ địa vị rất quan trọng trong việc làm tốt lên hoặc làm xấu đi nền kinh tế Việt Nam.

    Cần có cái nhìn công bằng và thiện cảm

    Phải khẳng định rằng, trong điều kiện mới mở cửa mà có được đội ngũ doanh nhân đa dạng như vậy là điều rất đáng ngạc nhiên, và là một trong những cố gắng rất lớn của Việt Nam. Cho nên, đánh giá đội ngũ này theo khía cạnh tiêu cực hay tích cực dựa theo một số tiêu chuẩn cứng nhắc là không công bằng. Trong xã hội, tâm lý kinh doanh đã bắt đầu nở rộ và tâm lý không trọng thương của nền văn hoá Việt Nam cũng đã được khắc phục. Giờ đây, các chức danh của doanh nhân như giám đốc hay trưởng đại diện bán hàng… đã có giá trị xã hội và trong cấu trúc của đời sống xã hội, kể cả trong đời sống gia đình, đội ngũ này đã bắt đầu giữ một địa vị rất đáng kể. Đây là một bước chuyển về nhận thức.

    Vấn đề cơ bản là chất lượng của kiến thức kinh doanh, của các thói quen kinh doanh, của nền văn hoá kinh doanh đang còn nhiều vấn đề; hệ thống pháp luật kinh doanh cũng có nhưng chưa đủ chuyên nghiệp để có thể điều chỉnh và hỗ trợ việc hình thành các thói quen kinh doanh hiện đại. Và điều này hình thành trong xã hội một sự ngờ vực nhất định về phẩm hạnh của các nhà kinh doanh Việt Nam. Vì vậy, xét về quy mô phát triển, tốc độ xuất hiện các năng lực của đội ngũ doanh nhân Việt Nam thì chúng ta rất đáng tự hào nhưng xét về chất lượng, do những điều kiện mới, do hệ thống đào tạo còn hạn chế nên tính chuyên nghiệp của đội ngũ này chưa cao, sự tôn trọng các quan hệ có tính chất hợp đồng chưa đạt được chuẩn.

    Tuy nhiên, chúng ta không thể sốt ruột mà cần có thời gian để biến đổi quy mô về lượng thành quy mô về chất. Do đó, chúng ta phải thận trọng khi khen và công bằng khi chê đối với đội ngũ này. Điều đáng khen là sức sống và sức phát triển của đội ngũ này mặc dù quy mô phát triển mới chỉ là sự nở rộ một cách bản năng trên những khía cạnh kinh doanh thông thường, và chưa chuyên nghiệp. Nhưng những khía cạnh này thể hiện sự mới mẻ của nền văn hóa kinh doanh Việt Nam và sự mới mẻ này cần được trân trọng, tạo điều kiện để trở thành một trong những động lực phát triển của nền kinh tế.

    Chung sức, đồng lòng

    Vietnam Airlines – Vingroup ký thỏa thuận hợp tác

    Để có đội ngũ doanh nhân phát triển thực sự vững mạnh, có một số việc mà Nhà nước và xã hội cần quan tâm.

    Thứ nhất, chúng ta phải tiếp tục tạo ra một môi trường vĩ mô ổn định, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, từ đó tạo động lực cho sự phát triển của đội ngũ doanh nhân. Phải xây dựng một hệ thống pháp lý bền vững nhưng đủ chi tiết để điều chỉnh hành vi kinh doanh từ khu vực căn bản nhất của nền kinh tế là lĩnh vực ngân hàng, tài chính đến mũi nhọn của nền kinh tế như công nghiệp và đến sức sống của nền kinh tế là kinh doanh. Muốn vậy, Nhà nước phải hình thành những cơ sở nghiên cứu để hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô một cách chuyên nghiệp. Tình trạng những chính sách thay đổi nhiều khi mâu thuẫn khiến các doanh nhân rất khó để trở nên chuyên nghiệp, sự ứng phó một cách “tháo vát” của họ với sự thay đổi của chính sách tạo ra sự phát triển của một đặc tính là cơ hội trong kinh doanh.

    Thứ hai, phải phát triển các cơ sở đào tạo, cung cấp cho xã hội kiến thức kinh doanh nói chung và cung cấp cho các nhà kinh doanh những kiến thức kinh doanh chuyên nghiệp. Để cung cấp kiến thức, kỹ năng kinh doanh cho đội ngũ doanh nhân thì việc du học là hoàn toàn không đủ. Và nếu có đủ thì cũng không hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể của một nước như Việt Nam. Cho nên, việc phát triển các cơ sở đào tạo những nhà kinh doanh, những nhà quản lý kinh tế chuyên nghiệp là một việc cấp bách cần phải làm ngay.

    Thiết nghĩ, trong giai đoạn hiện nay, Chính phủ làm hai việc đó là đủ. Phải thẳng thắn thừa nhận rằng, kinh doanh chưa chuyên nghiệp phản ánh trình độ của nền kinh tế, đồng thời phản ánh cả tình trạng chưa chuyên nghiệp của điều hành môi trường vĩ mô. Cho nên, để có đội ngũ kinh doanh chuyên nghiệp, trước tiên chúng ta phải xây dựng một đội ngũ điều hành môi trường vĩ mô chuyên nghiệp. Như vậy, chúng ta không thể sốt ruột để mong có đội ngũ doanh nhân chuyên nghiệp trong một sớm một chiều được. Chất lượng của đội ngũ doanh nhân sẽ tăng lên cùng với chất lượng của hệ thống chính sách vĩ mô, của hệ thống pháp luật, cũng như chất lượng của người tiêu dùng. Nếu không có đội ngũ tiêu dùng thông thái thì chúng ta cũng không thể đòi hỏi được một hệ thống sản xuất, phân phối chuyên nghiệp.

    Mặc dù hiện nay đội ngũ doanh nhân đang có vị trí quan trọng song chưa hẳn đã được trọng vọng trong xã hội. Nhìn nhận vai trò của doanh nhân là quan trọng và trọng vọng doanh nhân là hai thái độ khác nhau của xã hội. Một nhà kinh doanh bản năng và một nhà kinh doanh có học vấn, hai người đó có địa vị giống nhau trong đời sống kinh tế nhưng có địa vị rất khác nhau trong đời sống tinh thần. Làm thế nào để biến sự quan trọng đơn giản thành một sự quan trọng có chất lượng văn hóa là một quá trình phấn đấu lâu dài. Vì vậy, mỗi doanh nhân phải phấn đấu trở thành một người quan trọng và từ một người quan trọng trở thành một người được kính trọng. Đó chính là chất lượng văn hóa, chất lượng giáo dục của người đó và đồng thời là năng lực của xã hội trong việc nhận ra giá trị và kính trọng họ.

    Phan Chánh Dưỡng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Của Bạn Về Doanh Nhân Là Gì?
  • Sự Khác Biệt Giữa Dễ Thương / Xinh Đẹp / Tuyệt Đẹp Là Gì?
  • Giải Đáp Giải Mã: 50 Từ Dễ Thương Và Ý Nghĩa Thực Sự Của Họ
  • Cô Gái Nhật Gây Sốt Vì Sở Hữu Gương Mặt Dễ Thương Nhưng Cơ Bắp Cuồn Cuộn
  • Định Nghĩa Đáng Yêu Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Đáng Yêu
  • Dấu Hiệu Chứng Tỏ Bạn Là Người Đàn Ông Của Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Hóa Gia Đình Là Thế Nào?
  • Gần 1/3 Hộ Gia Đình Mỹ Thuộc Nhóm Thu Nhập Thấp
  • Gia Đình Và Pháp Luật Hôn Nhân
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Gd Hn: Định Nghĩa Kinh Tế Học Dinh Nghia Kinh Te Hoc Doc
  • Người đàn ông của gia đình là mẫu người lý tưởng mà phái nữa luôn mong đợi ,tìm kiếm

    Bất kỳ cô gái nào trên thế giới này cũng không ngừng kỳ vọng về người bạn đời của mình sẽ là người đàn ông của gia đình. Trong mắt phái nữ, người đàn ông của gia đình phải là người…

    Yêu thương vợ con hết mực

    Cho dù, ngoài xã hội anh là người thành đạt đến đâu chăng nữa thì khi trở về với ngôi nhà thân yêu của mình, anh phải là người chồng, người cha mẫu mực của các con, là trụ cột của gia đình.

    Người đàn ông của gia đình là người không ngần ngại thể hiện tình yêu thương vô hạn đối vợ con ở mọi lúc mọi nơi. Vì vợ con, họ sẵn sàng gác bỏ thể diện, làm bất kể mọi việc khi hậu phương của mình yêu cầu. Rất nhiều người chồng ngại ngùng trong việc đỡ đần vợ nấu cơm, trông con. Họ cho rằng: đó là công việc của người phụ nữ, còn đấng mày râu phải làm những công việc “đao to búa lớn” ở ngoài xã hội. Tuy nhiên, hạnh phúc gia đình chỉ vững bền khi ngôi nhà ấy có sự chung tay, góp sức của cả hai. Nếu yêu thương vợ con chân thành cho dù là “hái sao trên trời”, họ cũng vui vẻ tự nguyện làm, chứ đừng nói đến việc nhà.

    Với người phụ nữ- sinh ra vốn đã yếu đuối, đa cảm, họ không đòi hỏi gì quá cao xa ở người bạn đời của mình. Chỉ cần trong mắt anh, tim anh có gia đình thì cho dù khó khăn gian khổ đến đâu người phụ nữ cũng sẽ vượt qua để “chèo lái” cuộc hôn nhân của cả hai cập bến bờ hạnh phúc.

    Bình đẳng và tôn trọng vợ con

    Tình yêu chỉ bền vững khi nó đã trải qua những sóng gió, trắc trở. Trong đời sống hôn nhân cũng vậy, không phải lúc nào mặt sóng cứ lặng im, dịu nhẹ mà đôi lúc nó quẫy đạp đến dữ dội. Cho dù muốn dù không nó vẫn xảy ra, nó vẫn hiện hữu, len lỏi trong cuộc sống gia đình. Những lúc như thế, người đàn ông của gia đình cần mở rộng tấm lòng khoan dung, thấu hiểu với người bạn đời, có cách cư xử tinh tế, thể hiện sự quan tâm tôn trọng vợ mình. Vì lẽ, những dỗi hờn, tức giận kia cũng chỉ là biểu hiện muôn mặt cho tình yêu của cả hai thêm phần nồng cháy.

    Thành thật với vợ con trong bất kể mọi tình huống

    Lừa dối trong hôn nhân là kết quả báo trước cho những đổ vỡ sẽ xảy ra trong tình yêu. Trong bất cứ tình huống nào, người đàn ông mẫu mực của gia đình cũng sẽ thành thật với chính mình, với vợ con của mình. Người phụ nữ, họ có thể chịu khổ, chịu vất vả nhưng không bao giờ can tâm bị lừa dối và phản bội.

    Luôn làm mới tình yêu của cả hai

    Nhiều năm sống cạnh nhau, không ít cặp vợ chồng cảm thấy cuộc sống của cả hai thật đơn điệu và tẻ nhạt. Nếu đã là người đàn ông của gia đình, coi hạnh phúc hôn nhân là số 1, thì người bạn đời của bạn sẽ tìm đủ mọi cách để khơi dậy những hứng khởi mới trong tình yêu. Du lịch, shopping, dã ngoại cùng nhau trở thành sự lựa chọn hoàn hảo trong công cuộc hâm nóng tình yêu của chàng dành đối với người vợ “đầu ấp tay kề”.

    Tự chăm sóc bản thân

    Người đàn ông của gia đình phải là người biết tự chăm sóc bản thân. Trong mọi cuộc chơi, họ biết đâu là điểm dừng. Họ không để vợ con mình nhắc nhở, rầy la, không muốn nỗi khổ tâm nào thêm nữa trong những bộn bề lo toan của người vợ tảo tần.

    Minh Toàn (Theo Namplus.vn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phim Người Đàn Ông Của Gia Đình
  • 14 Tính Cách Của Người Đàn Ông Xem ‘gia Đình Là Trên Hết’
  • Fom: Gia Đình Của Người Đàn Ông
  • Ca Dao Việt Nam Về Tình Cảm Gia Đình
  • Thế Nào Là Bạo Lực Gia Đình? Hành Vi Bạo Lực Gia Đình Nào Thường Xảy Ra Trong Thực Tế?
  • Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Doanh Nghiệp Theo Mô Hình 3 Chiều
  • Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa (Sme) Là Gì? Vai Trò Và Tiêu Chí Xác Định
  • Sme Là Gì? Vai Trò Và Đóng Góp Của Doanh Nghiệp Sme Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Tại Việt Nam
  • Tổng Hợp Các Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Năm 2021
  • Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015, với những cải cách mạnh mẽ và sâu rộng, đặc biệt là cải cách về người đại diện theo pháp luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh và tiệm cận hơn với các chuẩn mực của quốc tế, Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Úc, Hoa Kỳ, Singapore,… đều cho phép một công ty có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật. Điển hình như, LDN của Úc và Luật CTTNHH của Đức đều cùng quy định Giám đốc là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và một doanh nghiệp có thể có nhiều Giám đốc Còn ở Singapore, công ty có Ban Giám đốc, từng Giám đốc (như Giám đốc điều hành – CEO, Giám đốc nhân sự, Giám đốc bán hàng,…) đều có quyền đại diện cho công ty về những vấn đề trong phạm vi, quyền hạn của họ và phải có ít nhất một Giám đốc thường trú tại quốc gia sở tại., còn tất cả các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của CTHD

    Quy định trên tuy là một trong những điểm mới mang tính đột phá của LDN năm 2014, nhưng xét ở góc độ kỹ thuật lập pháp thì vẫn còn chưa hợp lý khi được đặt ở phần quy định chung, nên sẽ dẫn đến cách hiểu là chỉ có CTTNHH và CTCP mới có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật, còn các loại hình doanh nghiệp còn lại sẽ không được có nhiều người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, CTHD luôn có ít nhất từ hai người đại diện theo pháp luật trở lên và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Đối với CTTNHH có hai thành viên trở lên, nếu người đại diện theo pháp luật của công ty trốn khỏi nơi cư trú thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của HĐTV về người đại diện theo pháp luật của công ty Thế nhưng, cũng cùng là một loại hình doanh nghiệp nhưng CTTNHH hai thành viên trở lên thì lại không có quy định, trong khi đó Điều lệ và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lại thể hiện thông tin về người đại diện theo pháp luật. Mặt khác, LDN năm 2014 còn quy định quyền và nghĩa vụ của Giám đốc, Tổng Giám đốc được “ký kết hợp đồng nhân danh công ty, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên”., còn CTTNHH và CTCP thì sự phân công quyền và nghĩa vụ của những người đại diện theo pháp luật sẽ được quy định cụ thể trong điều lệ của công ty. Ngoài ra, chưa kể đến việc Điều lệ có thể thay đổi theo thời gian và nội dung dài nên có thể một số nội dung thay đổi mà bên thứ ba khó có thể kiểm chứng và xác định được tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật. Cho nên, rất dễ dẫn đến trường hợp giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện hoặc người có thẩm quyền đại diện nhưng đã bị thay đổi, chấm dứt, từ đó sẽ dẫn đến những rủi ro do giao dịch vô hiệu mang lại.

    Thứ hai, cần sửa đổi thuật ngữ “người quản lý doanh nghiệp” để không mâu thuẫn với quy định tại Điều 55 và Điều 182 LDN năm 2014 như đã phân tích trên. Trong thời gian tới, khi sửa đổi LDN năm 2014 các nhà làm luật cần xây dựng khái niệm người quản lý doanh nghiệp sao cho phù hợp với cơ cấu tổ chức của từng mô hình doanh nghiệp và không mâu thuẫn với các điều luật còn lại của LDN. Và có thể tham khảo khái niệm người quản lý doanh nghiệp của LDN năm 2005. Do vậy, cần bổ sung quy định về người đại diện theo pháp luật đương nhiên của CTTNHH hai thành viên trở lên vào Điều 55 LDN năm 2014 theo hướng như sau: “Trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật”. Việc quy định các chức danh Chủ tịch HĐTV hoặc Giám đốc, Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật đương nhiên là phù hợp với quy định tại Điều 55 LDN năm 2014 về cơ cấu tổ chức quản lý công ty và cũng phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch HĐTV, Giám đốc, Tổng Giám đốc. và Chương XIX. Bên cạnh đó, nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng không ghi nhận phạm vi được đại diện.

    Vì vậy, theo tác giả nên có quy định theo hướng: “Mọi quy định hạn chế của doanh nghiệp về phân công thẩm quyền giữa những người đại diện theo pháp luật trong cùng một doanh nghiệp chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi họ biết được về sự hạn chế đó”. Quy định này sẽ tạo cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc công bố thông tin về người đại diện theo pháp luật với bên thứ ba, từ đó hạn chế được những rủi ro do những giao dịch vô hiệu mang lại và đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 179 LDN năm 2014 Do vậy, qua hơn 03 năm đi vào cuộc sống thì hiệu quả thực chất trong thực tế đã được kiểm chứng và cho thấy vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng và phù hợp về mặt lý luận cũng như thực tiễn như đã phân tích trên. Chính vì vậy, trong thời gian tới Điều 323.2 Luật Công ty Anh năm 2006,

    http://www.legislation.gov.uk/ukpga/2006/46/section/323 Điều 250D Luật Doanh nghiệp Úc năm 2001,

    http://www.austlii.edu.au/au/legis/cth/consol_act/ca2001172/s250d.html Điều 11.1 Luật Công ty Nhật Bản năm 2005,

    http://www.japaneselawtranslation.go.jp/law/detail/?id=2035&vm=04&re=02 Điều 35.2 Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Đức năm 2021,

    http://www.gesetze-im-internet.de/englisch_gmbhg/englisch_gmbhg.html Chẳng hạn, Công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 5 Điều 67, khoản 1 Điều 74); Công ty cổ phần (khoản 1 Điều 116); Công ty hợp danh (khoản 1 Điều 137); Doanh nghiệp tư nhân (khoản 4 Điều 143).

    Khoản 1 Điều 179 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Điểm a khoản 1 Điều 172 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Công ty hợp doanh là doanh nghiệp phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng kinh doanh dưới một tên chung” và tại khoản 1 Điều 179 quy định: “Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty”.

    Khoản 6 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Khoản 1 Điều 177 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Điểm b khoản 2 Điều 182 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Điểm e khoản 2 Điều 64 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Bùi Sưởng, “Nhiều người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”, http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/nhieu-nguoi-dai-dien-theo-phap-luat-can-song-van-vuong-155815.html Khoản 4 Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2021.

    Quách Thúy Quỳnh – Nguyễn Thị Vân Anh (2016), “Lại chuyện hợp đồng vô hiệu do vi phạm thẩm quyền”, https://www.thesaigontimes.vn/148793/Lai-chuyen-hop-dong-vo-hieu-do-vi-pham-tham-quyen.html Khoản 2 Điều 78, khoản 2 Điều 134 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

    Nguyễn Thị Tình (2014), Một số ý kiến về quy định “người đại diện theo pháp luật” và “con dấu” trong Dự thảo Luật doanh nghiệp, Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/886/language/vi-vn/Default.aspx Khoản 3 Điều 29 Luật doanh nghiệp năm 2014.

    Nghị quyết số 57/2018/QH14 ngày 08/6/2018 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2021, thì Luật doanh nghiệp năm 2014 là một trong các luật được sửa đổi vào năm 2021.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Quản Lý Công Ty Gồm Những Ai?
  • Người Quản Lý Doanh Nghiệp Là Ai?
  • Chủ Doanh Nghiệp Bị Phá Sản Liệu Có Thể Thành Lập Doanh Nghiệp Mới Hay Không?
  • Thu Nhập Và Lợi Nhuận Của Doanh Nghiệp
  • Chi Phí Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp: Những Điều Nên Biết
  • Tính Từ Trong Tiếng Anh: Phân Loại Và Cách Dùng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Kiến Thức Và Bài Tập Về Các Thì Trong Tiếng Anh
  • Ba Bước Dịch Thuật Tiếng Anh Khái Niệm Đơn Giản Chính Xác
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Chính Xác, Chất Lượng Và Giá Rẻ, Tại Hà Nội
  • Dich Thuat Tieng Anh Tai Tphcm, Dịch Thuật Tiếng Anh Tại Tphcm
  • Tất Tần Tận Tiếng Anh Chuyên Ngành Du Lịch
  • Định nghĩa, phân loại, ví trí và cách sử dụng tính từ sở hữu, tính từ miêu tả, tính từ chỉ thị….trong tiếng anh cũng như các giới từ đi kèm với tính từ đầy đủ nhất.

    Tính từ trong tiếng anh là gì?

    Tính từ (Adjective) là từ bổ trợ cho danh từhoặc đại từ, nó giúp miêu tả các đặc tính của sự vật, hiện tượng mà danh từ đó đại diện. Tính từ là những từ chỉ màu sắc, trạng thái, tính chất… Các tính từ này thường đứng trước danh từ để bổ nghĩa cho danh từ, làm cho ta hiểu thêm về danh từ.

    Tính từ cũng thường đi sau một vài động từ như động từ “to be” hay “look”, “seem”, “appear”, “turn”…

    VD: – We can’t go out because of the heavy rain.

    – He is kind to us.

    Một tính từ có thể đứng trước hoặc đứng sau danh từ hay đại từ mà nó mô tả.

    Nhiều tính từ có thể được dùng để mô tả cho cùng một danh từ (khi có nhiều tính từ đứng trước và miêu tả về cùng 1 danh từ thì các tính từ sẽ sắp xếp theo trật tự là: opinion – size – shape – age – color – origin – material: quan điểm nhận xét về đối tượng danh từ – kích thước – hình dáng – tuổi tác – màu sắc – xuất xứ – chất liệu danh từ).

    Nếu có nhiều tính từ miêu tả thì tính từ ngắn đứng trước tính từ dài, tính từ chỉ tinh thần trước tính từ chỉ vật chất.

    Thứ tự sắp xếp của tính từ trong tiếng anh

    Trật từ của tính từ trong tiếng anh được sắp xếp theo các vị trí như sau:

    ( be và các động từ như seem, look, feel..) She is tired. Jack is hungry. John is very tall.

    * Sau danh từ: Tính từ có thể đi sau danh từ nó bổ trợ trong các trường hợp sau đây:

      Khi tính từ được dùng để phẩm chất/tính chất các đại từ bất định:

    There is nothing interesting.

      Khi hai hay nhiều tính từ được nối với nhau bằng “and” hoặc “but”, ý tưởng diễn tả bởi tính từ được nhấn mạnh:

    The writer is both clever and wise. The old man, poor but proud, refused my offer.

      Khi tính từ được dùng trong các cụm từ diễn tả sự đo lường:

    The road is 5 kms long A building is ten storeys high

      Khi tính từ ở dạng so sánh:

    They have a house bigger than yours The boys easiest to teach were in the classroom

      Khi các quá khứ phân từ là thành phần của mệnh đề được rút gọn:

    The glass broken yesterday was very expensive

      Một số quá khứ phân từ (P2) như: involved, mentioned, indicated:

    The court asked the people involved Look at the notes mentioned/indicated hereafter

    * Hậu tố (đuôi) của tính từ trong tiếng anh

    Thông thường các hậu tố thường gặp ở tính từ là: -able, -ible, -al, -tial, -ic, -y, -ful, -ous, -ive, -less, -ish, -ent, -ary VD: honorable, possible, national, economic, funny, useful, dangerous, expensive, colorless, childish, independent, necessary… Tính từ kết thúc là -ing và -ed:

      Loại tính từ này thường được cấu tạo từ động từ và sau đó thêm -ing và -ed

    VD: surprise (v) à surprising (adj) – surprised (adj)

      Tuy nhiên có sự khác nhau giữa adj -ing và adj -ed

    – ing adj: thường mang nghĩa chủ động (tác động tới cái gì đó, ai đó, có ảnh hưởng này), chỉ tính chất, bản chất, dùng để miêu tả nơi chốn, sự vật, sự việc, hành động. VD: She has an interesting film. – ed adj: thường mang nghĩa bị động (bị cái gì đó tác động lên, bị ảnh hưởng theo cách này), thường dùng để chỉ cảm xúc. VD: I feel bored when I listen to classical music.

    Phân loại và cách sử dụng các loại tính từ trong tiếng anh

    Tính từ trong ngữ pháp tiếng anh thường được phân thành 2 loại, tính từ theo chức năng và tính từ theo vị trí.

    Phân loại và cách dùng tính từ theo chức năng

    * Tính từ riêng: xuất phát từ một danh từ riêng

    VD: Vietnam à Vietnamese France à French England à English Japan à Japanese

    Lưu ý: những tính từ riêng phải viết hoa

    * Tính từ miêu tả: những từ miêu tả hoặc định phẩm một danh từ Phần lớn tính từ đều thuộc loại này

    VD: – a tall boy: một đứa trẻ cao

    – a round ball: một quả bóng tròn

    – a ptty girl: một em bé xinh

    Các tính từ miêu tả thường được sắp xếp như sau: sự miêu tả tổng quát (bao gồm những tính từ chỉ cá tính và sự xúc cảm) – kích thước – hình dáng – màu sắc – nguồn gốc – chất liệu – mục đích (những từ này là danh động từ được dùng để hình thành danh từ kép: fishing rod (cần câu cá), sleeping bag (túi ngủ)…)

    VD: – a small round bath: một cái chậu tắm tròn nhỏ

    – a long sharp knife: một con dao sắc dài

    – blue velvet curtains: những tấm màn nhung xanh

    * Tính từ sở hữu: dùng để chỉ danh từ đó thuộc về ai

    VD: – my house: ngôi nhà của tôi

    – our garden: khu vườn của chúng tôi

    – their grandparents: ông bà của họ

    Lưu ý: khi chủ sở hữu là một đại từ bất định: one à hình thức sở hữu tính từ là one’s Chủ sở hữu là những từ như “everyone” hay những danh từ tập hợp thì tính từ sở hữu ở hình thức ngôi thứ ba số nhiều “their”

    * Tính từ số mục: từ chỉ số đếm hoặc số thứ tự

    VD:- one, two, three…: một, hai, ba

    – first, second, third…: thứ nhất, thứ hai, thứ ba

    – I am the second daughter in the family.

    * Tính từ phân phối: từ không chỉ rõ các vật

    VD:

    – all: tất cả

    – every: mọi – some: một vài, ít nhiều

    – many, much: nhiều

    – Each và every: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Every chỉ một tập thể, Each chỉ cá thể.

    VD: – Each student must try his best.

    – Every man knows what to do.

    – Both: cả hai, dùng với động từ ở số nhiều.

    VD: – Both the children play in the garden.

    – Both his legs were broken.

    – Either và Neither: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Either nghĩa là cái này hoặc cái kia trong số hai. Neither nghĩa là không cái này cũng không cái kia trong số hai.

    VD: – Hedges ran on either side. (hàng rào chạy dài ở mỗi một bên đường.)

    – Other, another : khác

    – Neither answer is correct. (cả hai câu trả lời đều không đúng.)

    VD: – You have to learn many other things. – Another boy has taken my

    *Tính từ chỉ thị: từ đi với danh từ để chỉ cái này, cái kia Đây là loại tính từ duy nhất thay đối theo số của danh từ. This, That thay đổi thành These, Those khi đi trước danh từ số nhiều. This, vàThese được dùng cho các đối tượng, vật và người ở gần trong khi That và Those dùng cho các đối tượng ở xa hơn.

    VD:

    – this chair: cái ghế này;

    – these chairs: những cái ghế này

    – that child: đứa trẻ đó; those children: những đứa trẻ đó

    * Tính từ liên hệ: từ có hình thức như đại từ liên hệ

    VD: whichever, whatever

    * Tính từ nghi vấn: từ dùng để hỏi

    Tính từ nghi vấn chỉ có hai hình thức:

    – In what place were you born?

      What (gì, nào) (nói chung) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật, ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

    VD: – What boy beats you? (đứa trẻ nào đánh bạn?) – What books have you read? (những cuốn sách nào bạn đã đọc?)

      Which (gì, nào) (ngụ ý lựa chọn) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

    VD: – Which book do you like best? (cuốn sách nào bạn thích nhất?) – Which friend do you pfer? (người bạn nào anh ưa hơn?)

    Cách sử dụng và phân loại tính từ theo cách thành lập

    * Tính từ phát sinh

    * Tính từ đơn: long, blue, good, bad

    – Thêm tiền tố: unhappy, inexpensive, impatient, irregular, asleep, illegal…

    – Thêm hậu tố: thường cấu tạo từ một danh từ thêm các đuôi như y, ly, ful, less, en, like, able, al, an, ian, ical, ish, some, một động từ thêm đuôi ing, ed

    VD: rainy, friendly, careful, wooden, musical, atomic, republican, honorable, troublesome, weekly, dreamlike, fairylike, quarrelsome, Southern, Northern, lovely, amazed, amazing…

    * Tính từ ghép Tính từ ghép là sự kết hợp của hai hay nhiều từ lại với nhau và được dùng như một tính từ duy nhất. Khi các từ được kết hợp lại với nhau để tạo thành tính từ ghép, chúng có thể được viết:

    VD: – life + long = lifelong – car + sick = carsick

      thành hai từ có dấu “-” ở giữa

    VD: – world + famous = world-famous

    Tính từ ghép thành lập theo những thể thức sau:

    Cách viết tính từ ghép được phân loại như trên chỉ có tính tương đối.

    VD: – dark-blue: xanh thẫm, xanh đậm

    – wordly-wise: từng trải

    VD: – coal-black: đen như than

    – snow-white: trắng như tuyết

    VD: – dark-eyed: có mắt huyền

    – round-faced: có khuôn mặt tròn

    VD: – snow-covered: có tuyết phủ

    – handmade: làm bằng tay

    VD: – newly-born: sơ sinh

    – white-washed: quét vôi trắng

    VD: – good-looking: trông đẹp mắt, ưa nhìn

    – heart-breaking: làm tan nát cõi lòng

    Ngoài ra còn có nhiều tính từ ghép được thành lập không theo một thể thức nào nhất định

    VD:

    – a heart-to-heart talk: một cuộc nói chuyện tâm sự

    – a never-can-be-finished task: một việc không bao giờ làm xong

    – a need-to-do list: một danh sách những việc cần làm

    Các giới từ đi kèm với tính từ trong tiếng anh

    Đi kèm theo cấu trúc: S + be + adj + giới từ + N / Ving (doing something)

    VD: I am excited about the film. We are interested in learning English. Tùy từng tính từ sẽ có giới từ đi kèm cụ thể. Một số ví dụ về tính từ đi kèm với giới từ:

    Afraid ofAware of Bad at / to Capable of Confident of Fit for Fond of Frightened at / of Good at / to Interested in Keen on Pleased with Prepared for Proud of Ready for Responsible for / to Sorry for / about Successful in Tired of

    e ngại, lấy làm tiếcý thức được tồi, dở về / không tốt với có khả năng về tin chắc về thích hợp với thích khiếp đảm về giỏi về / tốt với quan tâm đến mê thích về hài lòng với sửa soạn cho tự hào về sẵn sàng để có trách nhiệm về/ với xin lỗi vì thành công về chán nản, mệt mỏi về

    • Cách dùng tính từ trong tiếng anh
    • danh sách tính từ trong tiếng anh
    • tính từ trong tiếng anh là gì
    • bài tập về trật tự tính từ trong tiếng anh
    • vị trí của tính từ trong tiếng anh
    • phân loại tính từ trong tiếng anh
    • trật từ tính từ trong tiếng anh
    • cách sắp xếp thứ tự tính từ trong tiếng anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đầy Đủ Về Cách Nhận Biết Các Loại Từ Trong Câu Tiếng Anh
  • Danh Từ (Nouns) Trong Tiếng Anh
  • Câu Bị Động Trong Tiếng Anh: Định Nghĩa, Cấu Trúc, Cách Dùng Và Bài Tập
  • Câu Bị Động (Passive Voice): Định Nghĩa, Phân Loại ,cách Sử Dụng Và Bài Tập Câu Bị Động Trong Tiếng Anh
  • Phân Biệt Câu Ghép Và Câu Phức Trong Tiếng Anh Chi Tiết Nhất
  • Tính Chất Điện Của Hệ Keo

    --- Bài mới hơn ---

  • Zeolite Là Gì? Sự Hình Thành, Cấu Tạo & Ứng Dụng Của Hạt Zeolite
  • Mô Hình Lean Six Sigma Là Gì?
  • Six Sigma Là Gì? Cẩm Nang 6 Sigma Dành Cho Người Mới Tìm Hiểu
  • Thế Hệ Z: Những Công Dân Sẽ Định Nghĩa Lại Giáo Dục?
  • Thế Hệ Z Tại Việt Nam Và Việc Định Nghĩa Lại Đào Tạo Đại Học
  • Năm 1008, Giáo sư Reix, một nhà vật lý học tại Trường Đại học Mat-xcơ-va đã tiến hành thí nghiệm sau: nối nguồn điện một chiều với hai điện cực cắm trong hai ống thủy tinh đựng nước, đáy ống thủy tinh hở và cắm vào đất sét ướt. Sau một khoảng thời gian, ông nhận thấy ống cắm cực dương đục, còn ống cực âm vẫn trong nhưng mực nước có cao hơn ống cắm cực dương một ít.

    Hiện tượng đó chứng tỏ hạt keo sét tích điện âm, do ảnh hưởng của điện trường ngoài nên đã di chuyển về cực dương. Những nghiên cứu tiếp theo cho thấy rằng, sự vận chuyển các hạt trong điện trường có một tốc độ không đổi, và tốc độ càng lớn khi hiệu thế đặt tại hai cực càng lớn và hằng số điện môi của môi trường càng lớn. Tốc độ di chuyển càng nhỏ khi độ nhớt môi trường càng tăng.

    Trong điện trường, sự chuyển vận tương đối các hạt pha rắn so với pha lỏng được gọi là sự điện di.

    Reix cũng nhận xét rằng nếu cho bột thạch anh mịn (SiO 2) vào ống hình chữ U, nén lại sao cho nó tạo nên một màng xốp, rồi đổ đầy nước ở hai bên nhánh, đặt hai điện cực vào hai nhánh của ống rồi cho dòng điện một chiều đi qua; sau một thời gian mực nước trong ống chứa điện cực âm sẽ dâng lên, cho đến khi hiệu số mực nước trong hai nhánh đạt đến một giá trị xác định. Quá trình này cũng xảy ra với tốc độ không đổi. Mặt khác lượng chất lỏng chuyển vận cũng tỷ lệ thuận với hiệu thế ở hai cực và với hằng số điện môi, đồng thời tỷ lệ nghịch với độ nhớt của môi trường, tương tự như sự điện di.

    Trong điện trường, sự chuyển vận tương đối của pha lỏng so với pha rắn (như hiện tượng) trên gọi là sự điện thẩm. Nguyên nhân của hai hiện tượng này như nhau, đó là pha rắn và pha lỏng đều tích điện và tích điện ngược dấu nhau.

    Sau đó người ta đã phát hiện hai hiện tượng ngược với hai hiện tượng trên. Năm 1859, Quincke cho chất lỏng chảy qua màng xốp, hai bên màng có đặt hai điện cực thì xuất hiện điện thế trên các điện cực- gọi là điện thế chảy và hiện tượng trên gọi là hiệu ứng chảy, ngược lại với sự điện thẩm.

    Năm 1878, Dorn đã phát hiện ra hiện tượng ngược với sự điện di. Khi các hạt phân tán sa lắng trong chất lỏng, thì tại hai điện cực gắn vào cột chất lỏng ở những cao độ khác nhau xuất hiện điện thế – gọi là điện thế sa lắng. Hiện tượng này ngược với sự điện di được gọi là hiệu ứng sa lắng hay hiệu ứng Dorn.

    Bốn hiện tượng này được gọi chung là các hiện tượng điện động học và đều gắn liền với sự có mặt của một lớp điện kép trên bề mặt phân cách pha của hệ phân tán.

    Các hiện tượng điện động học diễn ra yếu trong môi trường có hằng số điện môi nhỏ (trong đó sự điện ly rất yếu), ví dụ cloroform, eter dầu hoả, benzen, carbon disunfur; trong các môi trường phân cực như nitrobenzen, aceton, rượu etylic, nhất là trong nước thì các hiện tượng này thể hiện khá rõ.

    * Để đơn giản ta hãy giả thiết lớp điện kép như là một lớp phẳng, mặc dù thực tế bề mặt lớp điện kép có độ cong khá lớn. Sự giản ước này vẫn có thể chấp nhận được vì bề dày của lớp điện kép thường rất bé so với bán kính hạt.

    Nói chung lớp điện kép gồm: lớp ion quyết định hiệu thế (ion tạo thế) có được do sự ion hóa hay hấp phụ ion bám trên bề mặt chất rắn và loại ion ngược dấu (gọi là ion nghịch) được chuyển vào dung dịch hay còn tồn tại trong dung dịch.

    (Trong dung dịch keo còn có thể có các ion khác sao cho hệ trung hòa điện).

    * Có nhiều giả thuyết khác nhau về cấu tạo của lớp điện kép, nhất là cấu tạo của lớp ion nghịch. Helmholtz đã đưa ra lý thuyết đầu tiên về lớp điện kép, xem đó như một tụ điện phẳng. Qua nhiều năm, Gouy, Chapman, Stern, cùng nhiều người khác đã dần hoàn thiện lý thuyết cũng như thực nghiệm kiểm chứng các quan điểm.

    – Theo quan điểm hiện đại đã được kiểm chứng qua thực nghiệm, sự xuất hiệnlớp ion quyết định điện thế là do sự hấp phụ chọn lọc một trong các ion có trong dung dịch hoặc là do các phân tử trên bề mặt rắn ion hóa.

    Về sự hấp phụ chọn lọc để tạo thành lớp điện kép, có thể lấy ví dụ điển hình như dung dịch keo AgI với môi trường có thừa ion Ag+ hoặc ion I . Về sự ion hóa các phân tử bề mặt để tạo thành lớp điện kép, có thể lấy ví dụ keo acid silicic; các phân tử H 2SiO 3 sẽ ion hóa như sau : H 2SiO 3 = SiO 32- + 2H+ .

    Ion SiO 32- sẽ được giữ lại trên bề mặt làm ion quyết định điện thế cho nhân.

    – Đối với lớp ion nghịch, sự phân bố của các ion trong không gian tồn tại hai pha được thiết lập trên cơ sở có những xu hướng trái ngược nhau: Lực tương tác tĩnh điện và lực hấp phụ phân tử giữ cho các ion nghịch ở gần bề mặt phân cách. Chuyển động nhiệt của các ion có tác dụng san bằng nồng độ các ion trong lớp bề mặt và cả trong thể tích dung dịch gây nên sự khuếch tán ion.

    – Khi sự phân bố đạt cân bằng thì bản phẳng các điện tích được hình thành ở gần bề mặt dung dịch. Các ion tạo thế tạo thành “bản trong” của tụ điện. Còn các ion nghịch nằm ở “bản ngoài” của tụ điện, tức là nằm trong dung dịch và lại được phân thành hai lớp: lớp phẳng gần sát bề mặt pha rắn nhất, tiếp theo là lớp khuếch tán.

    Năm 1924, Stern đưa ra lý thuyết về cấu tạo lớp kép khá hoàn chỉnh vì giải thích được nhiều hiện tượng mà các thuyết trước đó giải thích không được, như hiện tượng đổi dấu điện của hạt keo khi thêm vào hệ chất điện ly có ion ngược dấu với bề mặt, có hoá trị cao và hiện tượng các ion cùng hoá trị có ảnh hưởng khác nhau đến giá trị ζ. Theo ông, ion có một kích thước xác định, do đó khoảng cách từ tâm điểm của nó đến lớp bề mặt không thể bé hơn bán kính ion; giữa ion và bề mặt có một tương tác đặc biệt chủ yếu do lực phân tử gây ra tại một khoảng cách rất nhỏ gần bề mặt.

    Theo Stern, đối với các ion nghịch có hai phần

    + Phần thứ nhất nằm sát bề mặt phân chia gọi là lớp hấp phụ (lớp Helmholtz hay lớp Stern) gồm một hay vài lớp phân tử liên kết với bề mặt rắn do lực tĩnh điện vàì lực hấp phụ Van der Waals. Do một phần ion nghịch bị hút vào bề mặt tạo nên một tụ điện phẳng như trong thuyết Helmholtz, tại đó hiệu thế giảm rất nhanh (nghĩa là theo phương trình biểu diễn số liệu thực nghiệm giảm rất dốc theo đường thẳng). Các điện tích ở lớp này gần như không được tự do.

    + Phần ion nghịch thứ hai bị chi phối bởi chuyển động nhiệt tạo thành lớp khuếch tán của lớp điện kép (còn gọi là lớp Gouy), chiều dày của lớp này dao động trong khoảng từ vài A o đến hàng trăm micron. Nồng độ ion nghịch giảm dần từ bề mặt rắn đến sâu trong dung dịch, tại đó nó bằng nồng độ các ion cùng loại. Trong lớp khuếch tán hiệu thế giảm từ từ (theo đường cong).

    Nếu mật độ điện tích của hai phần ion nghịch đó là Φ 1 và Φ 2 thì mật độ điện tích bề mặt Φbằng tổng của Φ 1 và Φ 2. Mật độ điện tích ion nghịch trong lớp hấp phụ bị ảnh hưởng theo nồng độ mạnh hơn, nên khi pha loãng dung dịch Φ 1 giảm nhanh hơn Φ 2 và cấu tạo lớp điện kép giống như lớp điện kép của Gouy. Khi làm đậm đặc dung dịch Φ 1 tăng nhanh hơn Φ 2 và cấu tạo lớp điện kép giống như lớp điện kép của Helmholtz.

    + Giá trị φ là điện thế trên bề mặt pha rắn (x = 0), φ 1 là điện thế trên ranh giới lớp hấp phụ và lớp khuếch tán (x = d). Trong lớp điện tích kép, φ 1 là một đại lượng xác thực, có vai trò trong việc xác định nhiều thông số khác, song thực tế không đo được mà chỉ có thể đo được đại lượng gần với nó, đó là thế điện động ζ (thường gọi tắt là điện thế zêta).

    Xác định thế điện động ζ

    Thế điện động ζ là độ giảm thế trong lớp khuếch tán, quyết định các hiện tượng điện động học, về mặt giá trị nó chỉ bằng một phần bước nhảy thế tại bề mặt rắn φ o.

    Trong đó: E là thế đặt vào hệ, (V); l là khoảng cách giữa hai điện cực, (m);

     là độ nhớt của chất lỏng (N.m.s-2); ε là hằng số điện môi của chất lỏng (F.m-1);

    ε o là hằng số điện môi chân không (8,85.10-12 F.m-1).

    Các phương trình Helmholtz – Smolukhopski xác định ζ

    * Trong sự điện thẩm: ζ = 4 πηχQ/εI (4.2)

    Trong đó, χ: độ dẫn điện riêng; Q: tốc độ thể tích; I: cường độ dòng điện

    Với thực nghiệm có được Q,I; các giá trị, η, χ, ε lấy từ bảng tra, sẽ tính được điện thế. Thực nghiệm cho thấy có thể sử dụng phương trình này cho trường hợp điện di khi tốc độ điện di bằng tốc độ điện thẩm.

    * Trong trường hợp hiệu ứng chảy: ζ = 4 πηχE/εP (4.3)

    Trong đó, E: điện thế chảy. P: độ chênh lệch áp suất ở các đầu mao quản

    * Trong trường hợp có hiệu ứng sa lắng: ζ = 3γH / εr 3 (γ – γ o)gν (4.4)

    Trong đó, r: bán kính hạt γ: khối lượng riêng của hạt

    γ o: khối lượng riêng của dung môi ν: số hạt trong một đơn vị thể tích

    g: gia tốc trọng trường H: điện trường

    Các giá trị η, χ, ε có ý nghĩa như trên

    Các yếu tố ảnh hưởng đến thế điện động

    a. Ảnh hưởng của chất điện ly trơ: khi tăng nồng độ của chất điện ly trơ thì điện thế đzeta giảm, do phần khuếch tán của lớp điện kép bị nén lại.

    b. Ảnh hưởng của chất điện ly không trơ, có chứa ion có khả năng xây dựng mạng lưới tinh thể với pha rắn :

    – Nếu ion của chất điện ly mới thêm vào cùng dấu với ion quyết định hiệu thế, lúc đầu điện thế zêta tăng, sau đó những ion cùng loại với ion nghịch sẽ nén lớp khuếch tán lại do đó điện thế zêta lại giảm.

    – Nếu ion của chất điện ly mới thêm vào khác dấu với ion quyết định điện thế, thì có thể xảy ra sự đổi dấu điện của hạt keo.

    Ví dụ trong sol AgI với ion quyết định hiệu thế là I , nếu thêm AgNO 3 vào hệ, ion Ag+ có thể làm điện tích của hạt keo chuyển từ âm sang dương

    c. Sự pha loãng: Sự pha loãng làm dãn lớp điện kép, do đó điện thế đzeta sẽ tăng (nhưng nếu có sự phản hấp phụ ion tạo thế thì điện thế zêta lại giảm). Khi cô đặc keo, ta lại có tác dụng ngược lại.

    d. Nhiệt độ: Khi nhiệt độ tăng, chuyển động nhiệt của các ion tăng, phần khuếch tán của lớp điện kép tăng lên do đó điện thế zêta cũng tăng, nhưng nếu sự tăng nhiệt độ đi kèm theo sự phản hấp phụ ion tạo thế thì điện thế zêta có thể giảm.

    e. Ảnh hưởng của bản chất môi trường phân tán: Các hiện tượng điện động học và do đó sự tồn tại của lớp điện kép chỉ duy trì trong môi trường phân cực. Nếu độ phân cực của môi trường càng nhỏ thì điện thế zêta càng nhỏ.

    * Hiện tượng điện di được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật như:

    – Tách một số oxid ra khỏi kaolin trong kỹ nghệ làm đồ gốm sứ: cho huyền phù của kaolin chạy qua những dĩa chì tích điện dương, các hạt kaolin tích điện âm sẽ lắng vào dĩa, còn các hạt oxid tích điện dương sẽ bị cuốn theo nước.

    – Tạo lớp phủ bề mặt bảo vệ kim loại (phủ latex- huyền phù cao su trong nước). Anod là chi tiết vật liệu cần phủ latex. Các hạt của latex tích điện âm di chuyển về anod kết tủa lên đó tạo nên một màng cao su dày hay mỏng tùy ý. Trong latex người ta có thể cho thêm vào đó những chất độn hoạt động và các tác nhân lưu hóa, kết quả là trên chi tiết kim loại ta sẽ có một lớp cao su chất lượng cao.

    – Sự điện di cũng được sử dụng trong việc sản xuất các dây đốt lò xo cách điện, các catod hoạt động trong các đèn điện tử (đó là các dây kim loại đươc phủ bằng một lớp mỏng của oxid kim loại kiềm thổ).

    – Tách các protid: Protid là hỗn hợp của amino acid nên là chất lưỡng tính. Sự phân ly của mỗi amino acid phụ thuộc vào pH của môi trường. Người ta cho giọt protid lên giữa một băng giấy để thấm một dung dịch có pH xác định, hai đầu giấy được thiết lập một điện áp lớn (khoảng 120 đến 600 V). Dưới tác dụng của pH tẩm trên giấy, các amino acid trong thành phần của protid sẽ phân ly khác nhau về cả hai mặt: độ phân ly, điện tích phân ly. Do mang điện tích khác nhau và khối lượng phân tử khác nhau nên các amino acid sẽ tách ra và di chuyển về các cực tương ứng với tốc độ khác nhau.

    * Hiện tượng điện thẩm được sử dụng để làm mất nước vật xốp, hay làm giảm ma sát. Vật xốp đặt giữa hai điện cực, trong điện trường nước sẽ đi về một cực, thường là catod, nên vật xốp mất nước. Sự điện thẩm còn được dùng để làm mất nước kết hợp với tác dụng của áp suất kém trong sự siêu lọc.

    Khi sử dụng máy cày, lưỡi cày tiếp xúc với đất bị ma sát lớn. Nếu lưỡi cày được tích điện âm, thì nước trong đất sẽ điện thẩm qua đất để tạo thành một màng nước trên mặt lưỡi cày và lực ma sát có thể giảm đến 80%.

    Phương pháp ứng dụng điện thẩm trong khai thác dầu mỏ bằng cách dùng nước đẩy dầu ra khỏi giếng đang được hoàn thiện có hiệu quả.

    * Ý nghĩa thực tế của hiệu ứng chảy cũng rất lớn. Máu chảy qua các mạch máu của hệ thống tuần hoàn làm sản sinh điện thế chảy. Hiện tượng này được xem là một trong những nguồn gốc phát sinh điện thế sinh vật. Các pic trong điện tâm đồ có được là do máy ghi lại điện thế chảy của máu trong hệ tuần hoàn.

    Nước ngầm chảy trong vỏ trái đất qua lớp nham thạch làm phát sinh điện thế chảy. Nghiên cứu trường tự nhiên đó của vỏ trái đất sẽ có ích cho việc thăm dò khoáng sản. Các dụng cụ ghi chấn động do động đất cũng được thiết kế dựa trên nguyên tắc đo điện thế chảy.

    * Hiện tượng sa lắng mặc dù chưa được áp dụng rộng rãi trong công nghiệp nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên, ví dụ như sự tích điện ở các đám mây là nguyên nhân của hiện tượng sấm, chớp.

    – Hạt keo gồm một nhân, thường có cấu tạo tinh thể,và lớp điện kép bao quanh.

    + Trong lớp điện kép, ion được hấp phụ trên bề mặt nhân đóng vai trò ion quyết định điện thế, (ion quyết định điện thế còn có thể hình thành do sự ion hoá lớp bề mặt hạt keo), còn ion trái dấu với nó là ion nghịch. Nhân và ion quyết định điện thế gọi là nhân micelle keo.

    + Trong lớp ion nghịch bao gồm lớp hấp phụ rồi tới lớp khuếch tán.

    – Khi hạt keo chuyển động tương đối trong môi trường phân tán, chỉ có nhân micelle và phần ion nghịch hấp phụ cùng dịch chuyển với nhau (do gắn liền nhau bởi lực tĩnh điện và lực hấp phụ). Phần ion nghịch còn lại nằm trong lớp khuếch tán thì bất động một cách tương đối. Tổng điện tích của các ion nghịch trong hai lớp hấp phụ và khuếch tán bằng điện tích của ion quyết định hiệu thế. Do đó, micelle keo trung hòa điện.

    * Biễu diễn công thức hạt keo :

    Ta có thể biểu diễn cấu tạo hạt keo (micelle keo) dưới dạng công thức sau :

    Ví dụ : keo AgI trong dung dịch KI.

    Theo tính chất hấp phụ chất điện ly, ion I- được hấp phụ trên bề mặt AgI, có thể tạo thành mạng tinh thể với một số (m) phân tử AgI, và ion này đóng vai trò ion quyết định điện thế. Ion K+ là ion nghịch. Keo AgI trong dung dịch KI là keo âm.

    nhân Micelle keo

    * Ta cũng có thể biểu diễn cấu tạo hạt keo theo sơ đồ.

    Ví dụ : Sơ đồ cấu tạo hạt keo âm AgI.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Gì Bạn Cần Biết Về Zeta Tiềm Năng
  • Tiềm Năng Zeta Là Gì Và Được Đo Lường Như Thế Nào
  • Yoga Là Gì? Lợi Ích Của Yoga Đối Với Sức Khỏe Và Tinh Thần
  • Khái Niệm Yoga Trong Phật Giáo
  • Định Nghĩa Yoga Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Yoga
  • Logo Là Gì? Lịch Sử Hình Thành Của Logo

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Thiết Kế Logo Cho Người Mới Học
  • Lợi Nhuận Ròng Là Gì, Công Thức Tính Như Thế Nào?
  • Lợi Nhuận Ròng Là Gì? Lợi Nhuận Ròng Được Tính Như Thế Nào?
  • Lợi Nhuận Ròng Là Gì? Cách Tính Lợi Nhuận Ròng Ra Sao?
  • Lợi Nhuận Ròng Là Gì? Cách Tính Lợi Nhuận Ròng Giành Cho Doanh Nghiệp
  • Hiện nay tại thị trường Việt Nam, các công ty và doanh nghiệp ngày càng đầu tư nhiều về mặt hình ảnh và thương hiệu. Nhu cầu có một logo, một bộ nhận diện thương hiệu để đại diện được cho giá trị mà doanh nghiệp đóng góp cho xã hội tăng cao trong những năm gần đây.

    Nhằm giải quyết những nhu cầu đó bằng các giải pháp chuyên nghiệp và kinh tế, một trong những đơn vị thiết kế uy tín nhất tại Việt Nam Dizen – Brand Design, đơn vị đã tham gia hàng trăm các dự án về đa dạng các lĩnh vực, ngành nghề, tiêu biểu trong đó có thể kể đến các bộ nhận diện thương hiệu của: FPT, TPBank, Doji, HDBank, TRANANH, naiscorp, alphabooks,.. đã cho ra đời công ty thiết kế logo & thương hiệu ThiCao.

    Dịch vụ của công ty thiết kế logo & thương hiệu ThiCao:

    ThiCao – Thiết kế Cao cấp là đơn vị chuyên thiết kế logo và nhận diện thương hiệu với các gói thiết kế phù hợp với đa dạng các mô hình doanh nghiệp, và các tập đoàn lớn trên thị trường.

    Trong ngành đòi hỏi sức sáng tạo liên tục này, ThiCao luôn luôn cố gắng đem lại sự khác biệt trong từng ý tưởng thiết kế, các sản phẩm được chau chuốt tỉ mỉ, trải qua nghiên cứu trước khi đến tay khách hàng.

    ThiCao – với triết lý “Thiết kế thực chiến” – thành công khác biệt là đem lại sự hiệu quả và tăng trưởng đột phá, là đơn vị có những chuyên gia trong lĩnh vực thiết kế có kinh nghiệm dày dặn, kiến thức đã được tích lũy qua nhiều năm và nhiều dự án thực tế.

    NHẬN TƯ VẤN VÀ BÁO GIÁ DỊCH VỤ THIẾT KẾ THƯƠNG HIỆU CAO CẤP CỦA THICAO

    Khái niệm về Logo

    Khi chúng ta nghĩ đến Logo – Đó đơn giản là một hình ảnh mang tính biểu tượng, đại diện cho một thương hiệu riêng biệt và thường được sử dụng rộng rãi trong quá trình phát triển của bất cứ doanh nghiệp nào. Thế nhưng, trước khi có sự xuất hiện của định nghĩa rõ ràng về “logo” con người chúng ta cũng đã sử dụng các biểu trưng, hay dấu hiệu, chữ kí, biểu tượng nào đó cả hàng trăm hàng ngàn năm nay.

    Suy cho cùng, hầu hết các thiết kế biểu tượng được lưu lại trong lịch sử đều thể hiện mục đích giao tiếp qua hình ảnh của con người.

    Bài học về 10 logo nổi tiếng nhất thế giới

    Ngày nay, các doanh nghiệp đều đã và đang chú trọng hơn trong việc chọn lựa và thiết kế logo cho thương hiệu mình, bởi chúng chính là đại diện cho toàn bộ hình ảnh của doanh nghiệp. Để hiểu rõ hơn về logo, chúng ta cùng bắt đầu tìm hiểu về lịch sử hình thành của chúng. Logo xuất hiện từ đâu, từ bao giờ và phát triển như thế nào?

    9 Nguyên Tắc Cơ Bản Khi Thiết Kế Logo

    9 Xu hướng thiết kế logo 2021

    300 Mẫu Logo Đẹp

    500 Mẫu Logo Chữ

    CV Là Gì? Mẫu CV Đẹp

    Yếu tố cổ đại trong biểu tượng của nghệ thuật đồ họa

    Mặc dù cách xa về mặt địa lý, các nét vẽ hoang sơ của lịch sử, các biểu tượng, nét vẽ minh họa dần được hình thành để thể hiện cho con người và các nền văn hóa. Không có ví dụ nào cụ thể hơn là nền văn minh Ai Cập cổ đại, bắt đầu từ khoảng thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên.

    Người Ai Cập cổ không chỉ phát triển hệ thống chữ viết tượng hình, là hình ảnh đại diện cho ngôn ngữ giao tiếp và âm thanh, mà còn là những bức tranh nghệ thuật thật sự. Nghệ thuật điêu khắc cũng như hình ảnh biểu tượng được tìm thấy và nghiên cứu cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

    Từ năm 2125 đến 1991 trước công nguyên, hệ thống lưới đã bắt đầu xuất hiện trong các thiết kế của người Ai Cập cổ. Sự phát triển này là một yếu tố quan trọng trong quá trình thiết kế logo, bởi nó đảm bảo rằng những người thiết kế có thể duy trì được tỉ lệ hiệu quả, và đảm bảo rằng khi thiết kế lại sẽ không có sự sai lệch nào.

    Cùng trong khoảng thời gian này, ngành thư pháp về chữ tượng hình cũng bắt đầu phát triển tại Trung Quốc. Ai học chữ Hán đều cũng biết rằng, rất nhiều các ký tự xưa, vẫn còn tồn tại cho đến chữ Hán giản thể, đều mang một nét ý nghĩa nhất định.

    Xu hướng Thiết kế Đồ họa

    Di sản của Logo

    Đẩy nhanh mốc thời gian một chút, ở Châu Âu thời trung cổ, có sự xuất hiện riêng biệt của 2 loại ngôn ngữ hình ảnh: huy hiệu, huy chương và biểu tượng.

    Huy hiệu là hệ thống sắp xếp các yếu tố thiết kế, để ám chỉ địa vị trong xã hội của mỗi người đại diện. Với mỗi một màu sắc, hoặc hình dạng khác nhau, sẽ phân cấp vị của người đeo chúng trong xã hội. Mặc dù mục đích ban đầu của thiết kế này là để xác định địch và ta trong các cuộc chiến tranh.

    Nhưng suy cho cùng, các yếu tố thiết kế này đều đem lại nhiều ý nghĩa trong việc giúp mọi người dần xây dựng được “brand-thương hiệu”

    Đối với nhữung người không phải tầng lớp quý tộc, hầu hết đều mù chữ. Từ năm 900-1300, dân số toàn cầu bắt đầu gia tăng nhanh chóng, dẫn đến ngày càng nhiều người di cư về các đô thị thành phố sinh sống.

    Nhu cầu giao thương, trao đổi hàng hóa trở nên đặc biệt quan trọng, các cửa hàng mọc lên ngày càng nhiều, và họ bắt đầu xây dựng hình ảnh đơn giản để phân biệt với các cửa hàng khác.

    Vào năm 1389, Vua Richard II của Vương Quốc Anh đã thông qua điều luật bắt buộc các loại bia ủ phải đặt các dấu hiệu chỉ rõ họ đã làm những công đoạn gì. Đây là một dạng để kiểm soát độ an toàn của sản phẩm. Điều này dẫn đến việc các doanh nghiệp bia thời đo đã thêm các huy hiệu lên biển hiệu của họ như là một cách phân biệt.

    Rồi các hình ảnh này sẽ thành tên, và dần trở thành thương hiệu cho các sản phẩm bia ủ. Mặc dù các hình ảnh thời đó không chính xác giống với những logo hiện tại, nhưng bắt cũng bắt đầu có thể nhận ra dần sự hình thành phát triển của logo …

    Công nghệ sản xuất giấy và giệt may đóng góp vào sự phát triển của logo

    Từ năm 105, nền công nghiệp làm giấy đã bắt đầu hình thành ở Trung Quốc. Phát triển mở rộng sang Nhật Bản vào khoảng năm 610. Nhưng ngược lại, chỉ cho tới năm 1276, nước Ý mới lần đầu tiên sản xuất được giấy sau khi nhập khẩu chúng từ Ả Rập vào Châu Ấu. Và mãi cho đến năm 1495 nước Anh mới có thể sản xuất được giấy.

    Johannes Gutenberg phát minh ra báo chí in ấn vào năm 1440, khiến việc sản xuất các vật liệu in ấn trở nên phát triển rộng rãi, đặt nền móng cho các thiết kế logo hiện đại của các tác giả và đơn vị in ấn thể hiện yếu tố bản quyền của họ.

    Vào cuối thế kỉ thứ 15, hầu hết các nhà in đều bắt đầu sử dụng logo để phân biệt.

    Khi nhắc tới cách mạng công nghiệp, điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí hầu hết người đó chính là việc ra đời các hệ thống máy móc, nhà máy, công xưởng. Nhưng đây không phải là thứ duy nhất được ra đời vào thế kỉ thứ 19.

    Frank Mason Robinson thiết kế logo đầu tiên cho Coca-Cola vào năm 1885, mở đầu cho kỷ nguyên của các logo hiện đại. Và cho đến nay, trải qua nhiều lần rebrand, logo của Coca-Cola là một trong những thiết kế được nhận diện tốt nhất trên thế giới.

    Từ 1910 đến 1913, các logo thương mại đã xuất hiện nhiều hơn tại Mỹ và Châu Ấu. Năm 1914, logo đã tiến xa hơn khỏi ngành thương mại khi Pierre de Coubertin thiết kế là cờ của thế vận hội Olympic.

    Kỷ nguyên của logo sáng tạo và hiện đại bắt đầu

    Vào năm 1956, Paul Rand đã thiết kế logo IBM đầu tiên dưới sự kết hợp của mắt người và hình ảnh của con ong. Rất nhiều các chuyên gia nghiên cứu về thiết kế chỉ ra rằng, logo của IBM đã mở ra một giai đoạn chuyển mình trong lịch sử của logo.

    Thập niên 50 đánh dấu một sự thay đổi trong suy nghĩ về logo. Các công ty doanh nghiệp dần nhận ra sự quan trong và hiệu quả mà các biểu tượng có thể đem lại. Họ đầu tư hơn vào công việc thiết kế này khi thành lập doanh nghiệp, thay vì chỉ đơn giản tạo ra những logo tiện lợi, họ bắt đầu dành nhiều thời gian suy nghĩ về yếu tố thương hiệu trong doanh nghiệp khi thiết kế logo.

    1977 chính là một năm của xu hướng logo biểu ngữ khi Milton Glaser thiết kế cho một chiến dịch marketing của thành phố New York: “I heart New York”.

    Kỷ nguyên của logo trên digital

    Thập niên 70, công nghệ vẽ và hình ảnh trên máy tính được phát triển. Những năm 90 là sự bùng nổ của những chiếc máy tính cá nhân. Và cho tới những năm đầu của 2000, Adobe đã cho ra mắt 2 phần mềm InDesign và Photoshop, mở ra kỷ nguyên của công cụ thiết kế đồ họa trên digital.

    Xã hội dần thay đổi trong kỷ nguyên digital, con người bắt đầu đòi hỏi nhiều hơn về hình ảnh truyền thông. Các nhà thiết kế và thương hiệu đòi hỏi phải đầu tư nhiều chất xám và sự sáng tạo trong quá trình thiết kế. Ví dụ như, vào những năm 80, logo của MTV chỉ xuất hiện dưới dạng đơn giản nhất.

    Nhưng khi được làm lại dưới nhiều dạng hoạt hình, sống động, logo của MTV đem lại hiệu quả nhiều hơn trong việc truyền tải hình ảnh và các thông điệp. Nếu không có digital, điều này chắc chắn đã không thể thành hiện thực.

    Sự xuất hiện của định dạng Web 2.0 cũng tạo ra những sự thay đổi nho nhỏ. Mặc dù chủ yếu là về sự phát triển của các định dang website và các công nghệ ứng dụng của chúng, nhưng yếu tố về hình ảnh thể hiện qua đó cũng thay đổi. Logo của những Web 2.0 trở nên hiện đại, sặc sỡ, kết hợp của nhiều dải gradient hơn.

    6 Xu Hướng Thiết kế Logo cho năm 2021

    Khi không còn ai xa lạ với kỷ nguyên của digital nữa, giờ đây xu hướng thiết kế phẳng đã dần chuyển sang kỷ nguyên của thiết kế 3D.

    Tổng kết lịch sử của Logo

    Tựu chung lại, việc hiệu về lịch sử hình thành và phát triển của Logo qua các mốc thời gian giúp chúng ta ngày nay định hình được bản chất của công việc thiết kế, mặc dù có thể nói, mục đích của thiết kế trong hiện tại khác biệt rất nhiều so với trong quá khứ.

    Series bài viết Hướng Dẫn Thiết kế:

    1. Hướng Dẫn Thiết Kế Card Visit

    2. Hướng Dẫn Thiết Kế Bao Bì

    3. Hướng Dẫn Thiết Kế Catalogue

    4. Hướng Dẫn Thiết Kế Brochure

    (nguồn: 99designs

    dịch bởi: Uplevo)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Logo Là Gì? Logo Thể Hiện Điều Gì Và Có Tầm Quan Trọng Như Thế Nào?
  • Tổng Quan Về Thiết Kế Logo
  • Định Nghĩa Logistics Và Thực Trạng Logistics Việt Nam
  • Nghĩa Và Vai Trò Công Cụ Của Khái Niệm Logarit Trong Dạy Học Toán Ở Bậc Trung Học Phổ Thông
  • Logarit Là Gì? Tính Chất Của Logarit Và Các Dạng Bài Tập Logarit
  • Tin tức online tv