【#1】Định Luật Coulomb Về Tĩnh Điện (Phần 2)

Charles-Augustin de Coulomb (1736-1806), nhà vật lí Pháp nổi tiếng với định luật mô tả lực tương tác giữa hai điện tích điểm.

HIẾU KÌ. Sở trường kĩ thuật của Coulomb giữ một vai trò lớn trong việc xây dựng công sự Martinique, một hòn đảo ở Caribbean. yC là đơn vị chính thức cho yocto-coulomb, bằng 10 -24 coulomb. Coulomb giành giải thưởng của Viện hàn lâm Khoa học Pháp cho phương pháp tốt nhất chế tạo la bàn dành cho tàu thuyền.

Những đóng góp của Coulomb cho khoa học về lực ma sát là vô cùng to lớn. Không hề cường điệu, người ta có thể nói rằng ông đã sáng lập lĩnh vực khoa học này.

Có thể xem Coulomb là một trong những kĩ sư vĩ đại nhất ở châu Âu thế kỉ mười tám.

Ai có thể quên được cái lần “Chuck” Coulomb thuyết trình trước Viện hàn lâm Khoa học ở Paris năm 1773 khi ông bàn về lí thuyết cơ học đất tiên phong?

Charles-Augustin de Coulomb là một trong những nhà vật lí và kĩ sư lỗi lạc nhất của mọi thời đại có đóng góp cho các lĩnh vực điện học, từ học, cơ học ứng dụng, lực ma sát, và lực xoắn. Coulomb sinh ra trong một gia đình khá giả ở Angoulême ở tây nam nước Pháp. Sau đó gia đình ông chuyển đến Paris, ông vào học trường Collège Mazarin. Ông được hưởng một nền giáo dục phổ thông tốt về nhân chủng học, cũng như toán học, thiên văn học, và hóa học.

Có một dạo, cha ông mất trắng tiền bạc trong đầu cơ tài chính. Tình trạng khó khăn này, cộng với sự bất đồng của Coulomb với mẹ ông về các dự tính nghề nghiệp, làm cho gia đình ông li tán, Coulomb cùng cha chuyển đến Montpellier còn mẹ ông vẫn ở lại Paris. Theo một số nguồn thông tin, mẹ Coulomb muốn ông trở thành một bác sĩ, còn cậu con trai của bà nhất quyết đòi học một chuyên ngành định lượng hơn như là kĩ thuật hoặc toán học. Các bất đồng dần trở nên nảy lửa, và mẹ ông hầu như không thèm nhìn mặt ông.

Năm 1760, Coulomb vào học trường École du Génie tại Mézières và sau đó tốt nghiệp kĩ sư trong hàng ngũ đại úy hải quân trong Quân đoàn Kĩ sư (Corps du Génie). Trong hai thập niên sau đó, ông đã chu du khắp nơi, ở đâu ông cũng tham gia vào kĩ thuật cấu trúc, thiết kế công sự, và cơ học đất – chẳng hạn, ông đã dành ra vài năm ở West Indies với vai trò kĩ sư quân sự – trước khi trở lại Pháp, nơi ông bắt đầu viết các bài báo quan trọng về cơ học ứng dụng.

Coulomb đã chế tạo một cân xoắn vào khoảng năm 1777 để đo lực tĩnh điện. Cân xoắn gồm hai quả cầu kim loại gắn với một thanh cách điện. Thanh được treo tại ngay giữa của nó bằng một sợi tơ hoặc sợi chỉ mảnh không dẫn điện. Để đo lực điện, một trong hai quả cầu được làm cho nhiễm điện. Một quả cầu thứ ba có điện tích giống như vậy được đặt gần quả cầu nhiễm điện của cân, làm cho quả cầu trên cân bị đẩy ra. Lực đẩy này làm cho sợi tơ xoắn đi một lượng nhất định. Nếu chúng ta đo xem cần một lực bao nhiêu để làm xoắn sợi dây một góc bằng như vậy, thì ta có thể ước tính mức độ lực gây ra bởi quả cầu nhiễm điện. Nói cách khác, sợi dây tác dụng như một lò xo rất nhạy cung cấp một lực tỉ lệ thuận với góc xoắn. Coulomb chỉ ra rằng lực biến thiên theo 1/ r2 đối với lực đẩy giữa các điện tích cùng dấu, và lực hút giữa các điện tích trái dấu, cách nhau khoảng r lúc ban đầu. Hình như chưa bao giờ ông thật sự chứng minh được rằng lực giữa các điện tích tỉ lệ thuận với tích các giá trị điện tích – ông chỉ đơn giản thừa nhận điều này là đúng. C. Stewart Gillmor, viết trong Từ điển tiểu sử khoa học, chỉ ra mức độ mà cân xoắn của Coulomb ảnh hưởng đến nền khoa học trong nhiều thế hệ:

Giải phép đơn giản, đẹp đẽ của Coulomb cho vấn đề lực xoắn trong bình trụ rằng lực hút điện tuân theo quy luật giống với lực hấp dẫn và do đó phụ thuộc theo bình phương khoảng cách; vì như thế dễ dàng chứng tỏ rằng Trái Đất có dạng một lớp vỏ, một vật thể mà ở bên trong nó sẽ không bị hút về một phía nhiều hơn phía kia?

Mặc dù Priestly chẳng nêu ra bằng chứng thuyết phục cho Định luật Coulomb, song những suy đoán của ông về cơ bản là đúng. Priestly còn độc lập phát minh ra cân xoắn và dùng nó để chỉ ra rằng lực giữa hai cực nam châm biến theo theo nghịch đảo bình phương khoảng cách giữa hai cực.

Ngày nay, chúng ta gọi quy luật 1/ r2 là Định luật Coulomb để tôn vinh những kết quả độc lập mà Coulomb thu được thông qua bằng chứng do hệ thống cân xoắn của ông đem lại. Nói cách khác, Coulomb đã cung cấp các kết quả định lượng có tính thuyết phục cho một điều mà mãi đến năm 1785 thường chỉ là một suy đoán tốt.

Lực Coulomb cũng thích ứng ở cấp độ nguyên tử, và thật vậy, để có thông tin ta hãy so sánh lực hấp dẫn với lực Coulomb đối với nguyên tử hydrogen. Lấy gần đúng, ta xem electron là một hạt điểm quay xung quanh hạt điểm proton, với khoảng cách trung bình giữa electron và proton là 5,3 × 10 -11 mét, lực Coulomb có thể được tính bởi

Độ lớn của lực hấp dẫn Fg giữa proton và electron có thể được tính gần đúng bằng khối lượng electron me và khối lượng proton mp:

Lưu ý rằng lực Coulomb lớn hơn rất nhiều so với lực hấp dẫn giữa hai hạt hạ nguyên tử này.

1. Ampère (André-Marie Ampère, nhà toán học và nhà vật lí)

2. Arago (Dominique François Jean Arago, nhà thiên văn học và nhà vật lí)

3. Barral (Jean-Augustin Barral, nhà nông học, nhà hóa học, nhà vật lí)

4. Becquerel (Antoine Henri Becquerel, nhà vật lí)

5. Bélanger (Jean-Baptiste-Charles-Joseph Bélanger, nhà toán học)

6. Belgrand (Eugene Belgrand, kĩ sư)

7. Berthier (Pierre Berthier, nhà khoáng vật học)

8. Bichat (Marie François Xavier Bichat, nhà giải phẫu học và nhà sinh lí học)

9. Borda (Jean-Charles de Borda, nhà toán học)

10. Breguet (Abraham Louis Breguet, thợ máy và nhà phát minh)

11. Bresse (Jacques Antoine Charles Bresse, kĩ sư dân sự và kĩ sư thủy lực)

12. Broca (Paul Pierre Broca, thầy thuốc và nhà nhân chủng học)

13. Cail (Jean-François Cail, nhà tư bản công nghiệp)

14. Carnot (Nicolas Léonard Sadi Carnot, nhà toán học)

15. Cauchy (Augustin Louis Cauchy, nhà toán học)

16. Chaptal (Jean-Antoine Chaptal, nhà nông học và nhà hóa học)

17. Chasles (Michel Chasles, nhà hình học)

18. Chevreul (Michel Eugène Chevreul, nhà hóa học)

19. Clapeyron (Émile Clapeyron, kĩ sư)

20. Combes (Émile Combes, kĩ sư và nhà luyện kim)

21. Coriolis (Gaspard-Gustave Coriolis, kĩ sư và nhà khoa học)

22. Coulomb (Charles-Augustin de Coulomb, nhà vật lí)

23. Cuvier (Baron Georges Leopold Chretien Frédéric Dagobert Cuvier, nhà tự nhiên học)

24. Daguerre (Louis Daguerre, nghệ sĩ và nhà hóa học)

25. De Dion (Albert de Dion, kĩ sư)

26. De Prony (Gaspard de Prony, kĩ sư)

27. Delambre (Jean Baptiste Joseph Delambre, nhà thiên văn học)

28. Delaunay (Charles-Eugène Delaunay, nhà thiên văn học)

29. Dulong (Pierre Louis Dulong, nhà vật lí và nhà hóa học)

30. Dumas (Jean Baptiste André Dumas, nhà hóa học)

31. Ebelmen (Jean-Jacques Ebelmen, nhà hóa học)

32. Fizeau (Hippolyte Fizeau, nhà vật lí)

33. Flachat (Jeugène Flachat, kĩ sư)

34. Foucault (Léon Foucault, nhà vật lí)

35. Fourier (Jean Baptiste Joseph Fourier, nhà toán học)

36. Fresnel (Augustin-Jean Fresnel, nhà vật lí)

37. Gay-Lussac (Joseph Louis Gay-Lussac, nhà hóa học)

38. Giffard (Henri Giffard, kĩ sư)

39. Goüin (Ernest Goüin, kĩ sư và nhà tư bản công nghiệp)

40. Haüy (René-Just Haüy, nhà khoáng vật học)

41. Jamin (Jules Célestin Jamin, nhà vật lí)

42. Jousselin (Alexandre Louis Jousselin, kĩ sư)

43. Lagrange (Joseph Louis Lagrange, nhà toán học)

44. Lalande (Joseph Jérôme Lefrançais de Lalande, nhà thiên văn học)

45. Lamé (Gabriel Lamé, nhà hình học)

46. Laplace (Pierre-Simon Laplace, nhà toán học và nhà thiên văn học)

47. Lavoisier (Antoine Lavoisier, nhà hóa học)

48. Le Chatelier (Henri Louis le Chatelier, nhà hóa học)

49. Le Verrier (Urbain Le Verrier, nhà thiên văn học)

50. Legendre (Adrien-Marie Legendre, nhà hình học)

51. Malus (Etienne-Louis Malus, physicist)

52. Monge (Gaspard Monge, nhà hình học)

53. Morin (Jean-Baptiste Morin, nhà toán học và nhà vật lí học)

54. Navier (Claude-Louis Marie Henri Navier, nhà toán học)

55. Petiet (Jules Petiet, kĩ sư)

56. Pelouze (Théophile-Jules Pelouze, nhà hóa học)

57. Perdonnet (Albert Auguste Perdonnet, kĩ sư)

58. Perrier (François Perrier, nhà địa lí và nhà toán học)

59. Poinsot (Louis Poinsot, nhà toán học)

60. Poisson (Simeon Poisson, nhà toán học và nhà vật lí)

61. Polonceau (Antoine-Rémi Polonceau, kĩ sư)

62. Poncelet (Jean-Victor Poncelet, nhà hình học)

63. Regnault (Henri Victor Regnault, nhà hóa học và nhà vật lí)

64. Sauvage (Jean-Pierre Sauvage, thợ máy)

65. Schneider (Jacques Schneider, nhà tư bản công nghiệp)

66. Seguin (Marc Seguin, thợ máy)

67. Sturm (Jacques Charles François Sturm, nhà toán học)

68. Thénard (Louis Jacques Thénard, nhà hóa học)

69. Tresca (Henri Tresca, kĩ sư và thợ máy)

70. Triger (Jacques Triger, kĩ sư)

71. Vicat (Louis Vicat, kĩ sư)

72. Wurtz (Charles-Adolphe Wurtz, nhà hóa học)

ĐỌC THÊM

Blau, Peter J., Friction Science and Technology (New York: Marcel Dekker, 1995).

Elert, Glenn, “Dielectrics,” trong The Physics Hypertextbook; xem hypertextbook. com/physics/electricity/dielectrics/.

Gillmor, C. Stewart, “Charles Coulomb,” trong Dictionary of Scientific Biography, Charles Gillispie, biên tập chính (New York: Charles Scribner’s Sons, 1970).

James, Ioan, Remarkable Physicists: From Galileo to Yukawa (New York: CambridgeUniversity Press, 2004).

Kovacs, J., “Coulomb’s Law,” Project PHYSNET, Michigan State University; xem physnet.org/modules/pdfmodules/m114.pdf.

Priestley, Joseph, The History and Present State of Electricity (London: J. Doddsley, J. Johnson, B. Davenport, & T. Cadell, 1767).

Shamos, Morris, Great Experiments in Physics: Firsthand Accounts from Galileo to Einstein (New York: Dover, 1987).

Wikipedia, ” The 72 Names on the Eiffel Tower “; xem chúng tôi The_72_names_on_the_Eiffel_Tower.

LUẬN BÀN

Từng sự thật được chọn lọc và nhóm lại với nhau sao cho các kết nối hợp lẽ của chúng trở nên tường minh. Bằng cách nhóm những quy luật này với nhau, người ta có thể thu được những quy luật khác tổng quát hơn… Tuy nhiên… những tiến bộ lớn về tri thức khoa học chỉ hình thành … Ở cấp độ lượng tử, chúng ta đang nhìn vào ngôn ngữ máy, bên dưới đó có lẽ chính là cái máy, và chẳng có thuật toán nào ở cấp độ ấy, chỉ có các thay đổi trạng thái của cái máy cho phép các thuật toán vận hành. Đây là lí do vì sao các hạt lượng tử trông hành xử quá thất thường và khó tóm bắt – chúng không chính thức “ở trong” mô phỏng; chúng là cái đang làm cho mô phỏng xảy ra.

James Platt, trò chuyện cá nhân, 1 tháng Ba 2007

Thế nhưng toàn bộ lịch sử khoa học là một câu chuyện rõ ràng về những lí giải liên tục đổi mới và thay đổi của các sự thật cũ. Tuổi thọ của sự trường tồn hình như là hoàn toàn ngẫu nhiên nên nó chẳng nhìn thấy trật tự nào ở chúng cả. Một số chân lí khoa học có vẻ tồn tại hàng thế kỉ, số khác thì kéo dài chưa tới một năm. Chân lí khoa học không phải giáo điều, nó tốt cho đời sau, mà là một thực thể nhất thời định lượng có thể nghiên cứu được như bất kì thứ gì khác.

Khoa học hoạt động là do vũ trụ được xếp trật tự theo một cách có thể hiểu được. Hiện thân tinh tế nhất của sự trật tự này được tìm thấy ở các định luật vật lí, các quy tắc toán học cơ bản chi phối mọi hiện tượng thiên nhiên. Một trong những câu hỏi lớn nhất của khoa học đó là nguồn gốc của các định luật đó: do đâu mà có chúng, và tại sao chúng có hình thức như chúng vốn thế?… Các định luật vật lí có một tính chất kì lạ và bất ngờ: cùng với nhau, chúng đem lại cho vũ trụ khả năng tạo ra sự sống và sinh vật có ý thức, ví dụ như chúng ta, những người có thể nêu ra những câu hỏi lớn ấy.

Paul Davies, “Thiết lập Các Định luật”, New Scientist

Trích từ Archimedes to Hawking (Clifford Pickover) Vui lòng ghi rõ “Nguồn chúng tôi khi đăng lại bài từ CTV của chúng tôi.

Thêm ý kiến của bạn

【#2】Chương 3: Các Định Luật Chất Khí Và Thuyết Động Học

Nghiên cứu khoa học là ở chỗ thấy được mọi người những gì người khác đã thấy, nhưng lại nghĩ được những gì mà chưa ai từng nghĩ ra.

A. Szent-Gyorgyi (1893-1986)

Những khái niệm cơ bản

  1. Áp suất của chất khí, đơn vị áp suất.
  2. Định luật Boyle liên hệ áp suất với thể tích. P = a/V.
  3. Định luật Charles liên hệ thể tích với nhiệt độ. V = bT. Nhiệt độ không tuyệt đối và thang nhiệt độ Kelvin.
  4. Định luật khí kết hợp: PV = nRT. Nhiệt độ chiêu chuẩn, áp suất tiêu chuẩn. Động thái lý tưởng và không lý tưởng.
  5. Thuyết động học phân tử. Chuyển động của phân tử, năng lượng phân tử, và nhiệt độ.
  6. Những dự đoán suy ra từ thuyết động học phân tử. Kích thước và tốc độ của phân tử. Định luật Dalton về áp suất riêng phần. Định luật Graham về hiện tượng xì thoát khí.
  7. Khí thực và sự khác biệt so với động thái lý tưởng. Định luật van der Waal về chất khí.

Từ “khí” ( gas) xuất phát từ gaos, theo tiếng Hà Lan có nghĩa là “hỗn loạn” ( chaos). Các khí được xếp vào loại chất cuối cùng mà con người hiểu được về mặt hóa học. Chất rắn và chất lỏng thì dễ nhận dạng và phân biệt, nhưng còn quan niệm về các loại “khí” khác nhau mới chỉ hình thành từ từ. Đến mãi năm 1756, khí cacbonic mới được điều chế từ đá vôi. Năm 1766 mới phát hiện ra hydro, năm 1772 phát hiện nitơ và năm 1781, oxy. Mặc dù các khí đều được phát hiện muộn nhưng chúng là những chất đầu tiên mà các thuộc tính vật lý có thể được trình bày theo những định luật đơn giản. Thật may rằng dù các chất ở thể khí khó định hình nhưng dưới ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ và áp suất, chúng sẽ biểu hiện hiện tuân theo quy luật đơn giản hơn nhiều so với trường hợp các chất rắn và lỏng. Hơn nữa, một tỏng những phép kiểm tra tốt nhất đối với lý thuyết nguyên tử là khả năng của nó trong việc giải thích động thái của các chất khí. Đây chính là câu chuyện được đề cập trong chương này.

Với một mẫu khí được thu giữ bất kì, ta có thể cân khối lượng, đo thể tích, đo áp suất của khí tác dụng lên thành bình chứa, đo độ nhớt, nhiệt độ, cũng như tốc độ truyền nhiệt và âm của khí này. Ta cũng có thể đo tốc độ thoát (xì) hơi qua một lỗ nhỏ vào ngăn chứa kế bên, và tốc độ khuếch tán của khí vào trong một chất khí khác. Ở chương này ta sẽ thấy được rằng những thuộc tính trên không phải độc lập lẫn nhau, mà chúng liên hệ được qua lại bằng một lý thuyết đơn giản trong đó coi khí gồm có những hạt chuyển động và va chạm lẫn nhau.

3-1 Định luật Avogadro

Một trong những giả thuyết đơn giản nhất trong quá trình phát triển lý thuyết nguyên tử được Amedeo Avogadro (1776-1856) sáng lập năm 1811. Ông đã đề xuất rằng những thể tích bằng nhau của mọi loại khí, ở một nhiệt độ và áp suất định trước, đều chứa số phân tử bằng nhau. Điều này nghĩa là khối lượng riêng của khí tính theo gam trên millilit phải tỉ lệ với khối lượng phân tử của khí đó. Nếu như ý tưởng của Avogadro không bị quên lãng trong vòng 50 năm, thì hẳn là quá trình thiết lập bảng khối lượng nguyên tử cho mọi nguyên tố đã diễn ra nhanh hơn nhiều. Để ghi nhớ công trạng của nhà khoa học đã bị đối xử thờ ơ một cách vô lý, số phân tử trong mỗi mol được gọi là số Avogadro.

Nếu ta chấp nhận nguyên lý Avogadro, thì số các phân tử, n, và cả số mol, đều tỉ lệ thuận với thể tích V của chất khí:

Trong phương trình này, k là một hằng số tỉ lệ; nó thay đổi theo áp suất và nhiệt độ. Ta sẽ xét những mối liên hệ khác như vậy đối với chất khí-hệ thức giữa áp suất P, thể tích V, nhiệt độ T, và số mol n trong mẫu.

3-2 Áp suất của chất khí

Nếu một ống thủy tinh với một đầu được bịt kín có chứa đầy thủy ngân (Hg) được dốc ngược vào một chậu thủy ngân như ở Hình 3-1a, thì mực thủy ngân trong ống sẽ hạ xuống đến khi chiều cao của cột thủy ngân còn lại 760 mm so với mực thủy ngân ở chậu. Áp suất của cột thủy ngân lên mặt thủy ngân trong chậu cân bằng với áp suất khí quyển. Vì có một cân bằng áp suất như vậy, nên thủy ngân sẽ không chảy vào hay chảy ra khỏi ống. Một thiết bị như thế này (gọi là khí áp kế) có thể đo được áp suất khí quyển, như nhà toán-lý học người Ý, Evangelista Torricelli (1608-1647) đã nhận thấy trước tiên. Ông đã chỉ ra rằng chính áp suất tại đáy cột thủy ngân mới là vấn đề, chứ không phải tổng trọng lượng cột thủy ngân. Như vậy, chiều cao của cột thủy ngân trong ống khí áp kế không phụ thuộc vào kích thước hay hình dạng của ống. Áp suất khí quyển tại mặt biển ứng với cột thủy ngân cao 760 mm. Vì cột thủy ngân hay được dùng trong những thí nghiệm sơ khai về áp suất, nên “milimet thủy ngân” đã trở nên một đơn vị thường dùng để đo áp suất. Áp suất là lực trên một đơn vị diện tích ( P = F/ A), và đơn vị áp suất trong hệ SI là pascal (Pa), được định nghĩa là 1 newton trên 1 mét vuông (N m −2). (Bạn có thể nhớ lại từ Chương 2, newton là lực mà truyền cho vật khối lượng 1 kg một gia tốc bằng 1 m s −2; 1 N = 1 kg m s −2.)

Hình 3-1 Đo khí áp. (a) Khí áp kế của Torricelli. Khi một ống thủy tinh chứa đầy thủy ngân được dốc ngược vào chậu thủy ngân, thì mực thủy ngân trong ống hạ xuống, từ đó hình thành nên chân không ở đỉnh của ống. Chỉ có một phần rất nhỏ hơi thủy ngân có ở khoảng trống này. Độ cao của cột thủy ngân được xác định bằng áp suất khí quyển lên mwajt thủy gnaan trong chậu. (b) Với hệ thống có bình khí, áp suất P (tính theo mm Hg) được xác định bằng đo mức chênh lệch độ cao giữa hai cột thủy ngân của một áp kế. Nếu bình được thoát khí hoàn toàn, thì hai mực thủy ngân sẽ ngang bằng nhau.

Ví dụ 1

Khối lượng riêng của thủy ngân lỏng bằng 13,596 g cm −3. Bạn biểu diễn giá trị áp suất 1 mm Hg theo pascal như thế nào?

Lời giải. Hãy tưởng tượng một lớp thủy ngân rộng 1 mét vuông và dày 1 mm. Để cho tiện, trước hết ta chuyển đổi ra cm, khi đó thể tích của lớp này sẽ là

0,100 cm × 100 cm × 100 cm = 1000 cm 3

và khối lượng của nó là

1000 cm 3× 13,596 g cm −3 = 13596 g hay 13,596 kg.

Vì lực bằng khối lượng nhân với gia tốc, mà gia tốc trọng trường ở mặt biển, g, thì bằng 9,806 m s −2, nên lực do thủy ngân tác dụng lên mặt sàn là

F = mg

F = 13,596 kg × 9,806 m s −2 = 133,32 kg m s −2, hay 133,32 N.

Vì diện tích của lớp thủy ngân này là 1 m −2), nên áp suất lên mặt sàn là

P = F/A

P = = 133,32 Nm −2 = 133,32 pascal (Pa).

Ví dụ 2

Áp suất tiêu chuẩn ở mặt biển đúng bằng 760 mm Hg hay 760 Torr. Hãy biểu diễn giá trị này theo pascal.

Lời giải. Từ Ví dụ 1, ta biết rằng một áp suất giá trị 1 mm Hg thì bằng 133,3 Pa. Do đó,

760 mm Hg × 133,32 Pa mm −12 = 101323 Pa

Đơn vị pascal quá nhỏ và bất tiện cho việc đo áp suất khí, cũng giống như mét khối thì quá lớn để đo thể tích chất lỏng. Vì vậy ta sẽ theo truyền thống lâu đời là đo khí áp theo át-mốt-phe tiêu chuẩn, với

1 át-mốt-phe (atm) = 101325 Pa = 760 mm Hg.

Như vậy át-mốt-phe đã trở thành một đơn vị phụ trợ bên cạnh đơn vị quy định nghiêm ngặt bởi SI, cũng như đơn vị lít cho thể tích, và điện tích electron cho điện tích của các hạt mang điện.

Ví dụ 3

Ở độ cao 8000 ft trên Dãy núi Colorado, áp suất khí quyển bằng khoảng 3/4 giá trị ở mặt biển. Hãy biểu diễn áp suất này theo át-mốt-phe tiêu chuẩn, theo pascal, milimet thủy ngân, và Torr.

Lời giải. Áp suất này bằng 0,750 atm, 76000 Pa, 570 mm Hg, hay 570 Torr.

3-3 Định luật Boyle, liên hệ giữa áp suất và thể tích

Robert Boyle (1627-1691), người đã cho chúng ta định nghĩa khả dụng đầu tiên về một nguyên tố, cũng rất quan tâm đến hiện tượng xảy ra trong khoảng không. Khi chế tạo bơm chân không để hút không khí khỏi những bình chứa, ông đã nhận thấy một đặc tính thường gặp lúc ta dùng bơm tay để làm căng lốp xe hoặc quả bóng đá, hay lúc bóp méo quả bóng bay mà không làm nổ. Khi đó, khí được nén ép, và nó đấy dội ngược lại mạnh mẽ hơn. Boyle đã gọi điều này là “lò xo không khí”, và tiến hành đo đạc nó với thiết bị đơn giản như trong Hình 3-2a và b.

Boyle đã giam lại một chút khí ở đuôi ống chữ J như trên Hình 3-2a, rồi nén nó lại bằng cách đổ dần ít một thủy ngân vào miệng ống (b). Trong thí nghiệm này, bất cứ lúc nào tổng áp suất lên lượng khí bị giam cũng bằng áp suất khí quyển cộng với áp suất gây bởi cột thủy ngân vượt thêm ( h). Dữ liệu gốc của Boyle về áp suất-thể tích chất khí được cho trên Bảng 3-1. Dù ông không tỉ mỉ trong việc giữ nguyên nhiệt độ của khí, nhưng có lẽ nhiệt độ này chỉ thay đổi chút ít. Boyle cũng đã ghi chú rằng sức nóng từ ngọn lửa cây nến đã gây ảnh hưởng đáng kể đến biểu hiện ứng xử của chất khí.

Hình 3-2. Sự phụ thuộc thể tích của mẫu khí vào áp suất. (a) Thiết bị ống chữ J đơn giản được Boyle dùng để đo áp suất và thể tích. Khi mực thủy ngân ở hai nhánh ngang nhau thì áp suất tác dụng lên mẫu khí bằng với áp suất khí quyển. (b) Áp suất lên mẫu khí được tăng cường bằng cách cho thêm thủy ngân vào ống. (c) Ống tiếp khí (buret), một thiết bị tuân theo quy luật giống như với ống chữ J. Mẫu khí đang chịu áp suất khí quyển. (d) Áp suất tác dụng lên mẫu khí được tăng cường bằng cách nâng cao bình thủy ngân. Ở (a) và (b), mặt cắt ngang của ống chữ J coi như là không đổi, vì vậy chiều cao của mẫu khí chính là số đo thể tích. Ở (c) và (d) thể tích của mẫu khí được đo bằng vạch trên buret đã được kiểm định.

Bảng 3-1 Số liệu gốc của Boyle liên hệ giữa áp suất và thể tích của không khí

Được phép in từ J. B. Conant, Harvard Case Histories in Experimental Science, Harvard University Press, Cambridge, 1957, Vol. 1, p. 53.

Các điểm cuối A và B tương ứng với điểm ghi trên Hình 3-3.

Chiều cao h trên Hình 3-2b, cộng với 29⅛ inch áp suất khí quyển.

Phân tích số liệu

Đối với nhà khoa học, sau khi thu được số liệu như trong Bảng 3-1, họ cố gắng suy ra một phương trình toán học liên hệ hai đại lượng phụ thuộc lẫn nhau vừa được đo. Một kĩ thuật xử lý là chấm điểm đo của các đại lượng lần lượt nâng theo từng cấp lũy thừa, đến khi thu được một đường thẳng trên đồ thị. Phương trình tổng quát cho đường thẳng là

trong đó xy là các biến, còn ab là các hằng số. Nếu b bằng không thì đường thẳng này đi qua gốc tọa độ.

Hình 3-3 cho thấy vài biểu đồ có thể lập được với số liệu áp suất P và thể tích V trong Bảng 3-1. Các biểu đồ của P theo 1/ VV theo 1/ P đều là đường thẳng qua gốc tọa độ. Biểu đồ thể hiện logarit của P theo lgoarit của V cũng là một đường thẳng với độ dốc âm, -1. Từ những biểu đồ này, ta suy ra được các phương trình tương ứng:

Các phương trình này biểu diễn những dạng thức của biểu thức định luật Boyle: Đối với một số mol cho trước các phân tử khí, áp suất sẽ tỉ lệ nghịch với thể tích nếu nhiệt độ được giữ không đổi.

Khi giữa hai đại lượng đo đạc có mối quan hệ đơn giản như trên, thì ta có thể xác định hệ thức theo cách số trị. Nếu từng giá trị của P được nhân với giá trị tương ứng của V thì tất cả những tích số đều gần bằng nhau, với một mẫu chất khí ở nhiệt độ không đổi (Bảng 3-1). Do vậy

PV = a ≈ 1410 (3-3d)

Phương trình 3-3d biểu diễn đường hyperbol thu được bằng cách vẽ đồ thị P theo V (Hình 3-3a). Bây giờ hàm số thực nghiệm liên hệ giữa PV có thể được kiểm tra bằng cách chấm điểm PV theo P để xem liệu có thu được một đường thẳng nằm ngang hay không (Hình 3-3e).

Boyle đã phát hiện được rằng với một lượng cho trước của bất kì loại khí nào, ở nhiệt độ không đổi, thì sự liên hệ giữa PV được viết gần như chính xác là

PV = const (với Tn không đổi) (3-4)

Để so sánh cùng một mẫu khí ở cùng nhiệt độ dưới các điều kiện áp suất và thể tích khác nhau, định luật Boyle có thể được viết một cách tiện lợi là:

với các chỉ số 1 và 2 để biểu thị những điều kiện khác nhau.

Hình 3-3 Biểu đồ chấm điểm số liệu ở Bảng 3-1 trên các trục có tỉ lệ khác nhau. (a) P theo V, thể hiện một đường hyperbol. (b) P theo 1/ V. (c) V theo 1/ P. (d) log V theo log P. (e) PV theo P. Các điểm A và B trên mọi biểu đồ đều biểu diễn hai điểm đầu và cuối trong bảng số liệu. Nếu các số liệu được vẽ trên đồ thị với các trục P theo 1/ V (hoặc V theo 1/ P) thì các đường đồ thị tuân theo phương trình tuyến tính y = ax + b, trong đó P là tung độ y, còn 1/ V là hoành độ x. Hệ số tỉ lệ a có thể xác định được bằng độ dốc của đường thẳng ở (b), hay từ tung độ của đường nằm ngang ở (e). Hãy lưu ý biểu đồ (e), với trung tung được giãn rộng, trở nên nhạy như thế nào đối với sai số trong số liệu đo đạc (và có thể cả những khuynh hướng không ngờ đến).

Từ những dữ liệu gồm kích thước của phân tử, tốc độ chuyển động của nó, và số lượng phân tử khác bao quanh nó trong một đơn vị thể tích, ta có thể tính được quãng đường tự do trung bình (quãng đường chuyển động của một phân tử giữa hai lần va chạm liên tiếp) và tần số va chạm. Các phân tử như O 2 và N 2 chuyển động một quãng đường trung bình dài 1000 Å giữa các lần va chạm, và mỗi giây chúng va chạm trung bình 5 tỉ lần, ở ĐKTC (Hình 3-12).

Hình 3-12 Quãng đường tự do trung bình, hay quãng đường chuyển động giữa các lần va chạm, vào khoảng 1000 Å hay 10 −6 cm, đối với phân tử khí với động thái lí tưởng ở ĐKTC. Ta có thể hình dung kích thước của phân tử trên hình vẽ này bằng cách so sánh kích thước tương đối của khối lập phương cạnh 33,4 Å trên hình này và trên Hình 3-10.

Định luật Dalton về áp suất riêng phần

Nếu mỗi phân tử khí chuyển động độc lập với các phân tử khác, chỉ trừ những lúc va chạm, và nếu toàn bộ va chạm này đều đàn hồi, thì trong một hỗn hợp các khí khác nhau, tổng động năng của tất cả khí sẽ bằng các động năng của từng khí thành phần cộng lại:

Vì mỗi phân tử khí chuyển động độc lập với nhau nên áp suất mà mỗi khí tác dụng lên thành bình chứa có thể được tính riêng rẽ (phương trình 3-25). Chẳng hạn,

p1 = p2 = p3 =

Áp suất này, với tác dụng bởi một thành phần khí trong hỗn hợp, được gọi là áp suất riêng phần, p. Từng phương trình trong số nói trên có thể được viết lại để cho ta động năng tính theo áp suất:

Thay vào biểu thức năng lượng và triệt tiêu số hạng (3/2) V ở cả hai vế, ta được

Kí hiệu đặc biệt ở vế phải là dấu tổng, một cách viết tắt cho phép tính: Cộng tất cả những số hạng có kiểu giống như với mọi giá trị của j. Nó sẽ được thường xuyên dùng đến.

Khi đó, áp suất tổng cộng, P, sẽ là tổng các áp suất riêng phần của từng thành phần trong hỗn hợp khí, với mỗi áp suất được tính như chất khí đó duy nhất có mặt trong thể tích cho trước. John Dalton (1766-1844) đã đề xuất định luật áp suất riêng phần trong quá trình khảo sát chất khí mà cuối cùng đã dẫn ông đến lí thuyết nguyên tử.

Một thang đo quan trọng của nồng độ trong một hỗn hợp khí (và cũng trong cả thể lỏng và rắn) là phần mol, X. Phần mol của thành phần thứ j trong một hỗn hợp các chất được định nghĩa là số mol ( n) của chất định trước chia cho tổng số mol của tất cả các chất:

(3-32)

Một dạng khác của định luật Dalton phát biểu rằng áp suất riêng phần của một chất khí trong hỗn hợp là nồng độ của nó trong phần mol nhân với tổng áp suất. Nếu có mol khí thứ j trong hỗn hợp, thì áp suất riêng phần của khí đó có thể tính được từ định luật khí lí tưởng:

( n = n­ 1 + n­ 2 + n­ 3 + n­ 4 + … = ∑j nj)

Ví dụ 15

Một hỗn hợp khí ở 100ºC và áp suất 0,800 atm có chứa 50% heli, He, và 50% xenon, Xe, theo khối lượng. Tính áp suất riêng phần của từng khí.

Lời giải. Trước hết, hãy tìm số mol heli và xenon trong một mẫu bất kì cho trước. Để cho tiện, ta chọn mẫu 100 g. Khi đó số mol của từng khí là

Bước tiếp theo là đi tính phần mol, Xj, của từng thành phần:

Theo định luật Dalton, áp suất riêng phần của từng chất khí thì được biểu diễn bởi = P. Vì vậy, ta có

Lưu ý rằng không có tổng thể tích nào được cho trước, và ta đã dùng một kích thước mẫu tiện lợi nhưng tùy ý để phục vụ tính toán. Tại sao đáp số lại độc lập với cách chọn thể tích này? Liệu đáp số có thay đổi nếu nhiệt độ thay đổi không?

Thông thường, khí được thu giữ qua chất lỏng như nước hoặc thủy ngân, như ở Hình 3-13. Định luật Dalton phải được áp dụng trong những trường hợp như vậy để tính đến áp suất riêng phần của hơi từ chất lỏng bay vào khoảng không trong bình.

Hình 3-13 Khi thu giữ khí oxy bằng cách đẩy qua nước vào trong một bình dốc ngược, sự hiện diện của hơi nước trong bình phải được xét đến khi tính lượng oxy thu được. Cách điều chỉnh được thực hiện dễ dàng bằng việc dùng định luật Dalton về áp suất riêng phần.

Ví dụ 16

Lượng oxy phát sinh từ thí nghiệm được thu giữ ở 25°C vào trong một bình dốc ngược vào chậu nước (Hình 3-13). Áp suất ngoài phòng thí nghiệm là 1,000 atm. Khi mực nước trong bình, vốn ban đầu đầy nước, đã hạ xuống ngang mức của chậu, thì lượng khí thu được là 1750 mL. Hỏi có bao nhiêu mol khí được thu giữ?

Lời giải. Nếu mực nước bên ngoài và trong bình là ngang nhau, thì tổng áp suất trong bình bằng 1,000 atm. Nhưng ở 25°C áp suất hơi nước (hoặc áp suất của cân bằng với pha lỏng) là 23,8 mm Hg hay 0,0313 atm, vì vậy áp suất từng phần của khí oxy chỉ bằng 1,000 − 0,031, hay 0,969 atm. Phần mol của khí oxy trong bình là 0,969 chứ không phải 1,000; và áp suât riêng phần của oxy cũng là 0,969 atm. Số mol là

n =

= 0,0694 mol

Nếu bỏ qua áp suất hơi nước thì kết quả sẽ thế nào?

Ví dụ 17

Mưa rào ở New Orleans thường làm tăng độ ẩm tương đối lên đến 100% (không khí bão hòa hơi nước). Sau một cơn mưa vào buổi chiều, áp suất khí quyển là 0,997 atm và nhiệt độ là 94°F. Hãy tính khối lượng nước có trong 15,0 lít khí.

Lời giải. Áp suất hơi nước ở 94°F (°C = (5/9)(°F − 32) = 34°C) là 41 Torr hay 0,054 atm. Vì vậy, phần mol của hơi H 2O bằng PH2O/0,997 atm hay 0,054.

Tại 0,997 atm và 34°C, 15,0 lít khí có chứa

= 0,032 mol H 2 O

Khối lượng H 2O = 0,032 mol × 18,02 g mol −1 = 0,58 g H 2 O

Những suy đoán khác dựa trên cơ sở thuyết động học phân tử

Các suy luận rút ra từ thuyết động học phân tử, về nguyên tắc không phức tạp hơn so với những gì ta đã thấy ở áp suất chất khí, lại cho phép ta tiên đoán rất nhiều về động thái của chất khí. Những tiên đoán này đã được nhiều nhà khoa học kiểm chứng giúp củng cố niềm tin vào lí thuyết. Một suy luận từ xác suất của phân tử đập vào thành bình đã dẫn tới định luật Graham về sự xì thoát khí định luật này phát biểu rằng tốc độ thoát khí qua một lỗ nhỏ trên thành bì sẽ tỉ lệ nghịch với căn bậc hai của khối lượng phân tử (Hình 3-14).

Hình 3-14 Xì thoát là chuyển động của dòng khí qua một lỗ nhỏ trên thành bình ra khoảng không bên ngoài có cùng áp suất. Theo định luật Graham, tốc độ xì thoát của hai khí ở điều khiện nhiệt độ bằng nhau thì tỉ lệ nghịch với căn bậc hai của các khối lượng phân tử của chúng, hay theo thuyết động học phân tử, thì tỉ lệ thuận với vận tốc của chúng.

Vào năm 1846, Thomas Graham (1805-1869) đã quan sát thấy tốc độ xì thoát của các khí tỉ lệ nghịch với căn bậc hai khối lượng riêng của chúng. Theo định luật Avogadro, vì khối lượng riêng của khí tỉ lệ thuận với khối lượng phân tử của nó nên quan sát của Graham phù hợp với thuyết động học, với sự tiên đoán rằng tốc độ thoát khí tỉ lệ thuận với vận tốc phân tử hay tỉ lệ nghịch với căn bậc hai của khối lượng phân tử (phương trình 3-29):

(3-34)

Tuy vậy, định luật này bắt đầu sai lệch với khí có khối lượng riêng lớn, khi đó các phân tử va đập với nhau vài lần trong quá trình thoát khỏi lỗ. Định luật cũng sai lệch khi lỗ đủ lớn để không khí thổi qua theo quy luật khí động lực, và dẫn tới việc hình thành một dòng tia khí. Nhưng với điều kiện các phân tử đơn lẻ phải thoát quả lỗ trong quá trình chuyển động ngẫu nhiên qua một thể khí tĩnh tại, thì tiên đoán của thuyết động học phân tử mới chính xác.

Ví dụ 18

Một thể tích khí oxy cho trước xì thoát hết qua một lỗ nhỏ vào trong chân không sau thời gian 1 phút. Cùng thể tích của một khí khác thì mất 1 phút 34 giây để xì thoát, ở cùng nhiệt độ. Hỏi khối lượng phân tử gần đúng của khí chưa biết? Nếu công thức thực nghiệm của nó là CH thì công thức phân tử của nó và khối lượng phân tử là gì?

Lời giải. Từ phương trình 3-34 ta có thể rút ra

trong đó chỉ số 1 biểu thị oxy còn chỉ số 2 biểu thị khí chưa biết. Thay số liệu quan sát vào rồi sắp xếp lại phương trình để giải ra

M2, ta được

M2 = 32,00 g mol −1 × = 78,9 g mol −1.

Đây là giá trị gần đúng, với sai số trong phép đo đạc dòng khí. Vì khối lượng công thức của khí chưa biết bằng 13,02 g (ta biết được điều này từ công thức thực nghiệm, CH), nên khối lượng phân tử đúng thì phải bằng sáu lần khối lượng công thức. Công thức phân tử là và khối lượng phân tử là C 6H 6 và khối lượng phân tử là 6 × 13,02 = 78,12.

Ví dụ 19

Tính các tốc độ xì thoát tương đối giữa hai dạng đồng vị của uran hexaflorua, 238UF 6235UF 6. Tất cả flo đều là 19 F.

Lời giải. Khối lượng phân tử của 238UF 6 là 352,0 amu, và của 235UF 6. là 349,0 amu. Từ đó, tỉ số giữa các tốc độ xì thoát là

= 1,004

Mặc dù hai tốc độ xì thoát của đồng vị urani hexaflorua này chỉ chênh nhau 0,4% nhưng các nhà khoa học đã tận dụng sự khác biệt đó để phân tách 235U có khả năng phân rã hạt nhân, ra khỏi 238U, trong quá trình chế tạo những quả bom hạt nhân đầu tiên vào cuối Chiến tranh thế giới II. Thời đó chưa có phương pháp phân tách nào khác mang tính thực thi. Giới khao học dùng UF 6 vì nó là một hơp chất khí của urani, nhưng tỉ số phân tách nhỏ cũng đồng nghĩa với việc chất khí phải đi qua nhiều tầng màng lọc xốp trong nhà máy khuếch tán khí đặc biệt ở Oak Ridge, Tennessee, để đạt được mức phân tách hữu ích.

Thuyết động học phân tử cũng cho phép ta tiên đoán sự khuếch tán khí, độ nhớt, và độ dẫn nhiệt-những thuộc tính chuyển tải của khí. Từng hiện tượng có thể được xét về mặt toán học như sự khuếch tán của một thuộc tính phân tử theo một hướng độ dốc. Với sự khuếch tán khí, khối lượng đã khuếch tán từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp, nói cách khác là theo chiều dốc xuống của gra-đien nồng độ. Chất lỏng sở dĩ có độ nhớt là vì những phân tử chuyển động chậm thì khuếch tán (đồng thời cản lại) lớp các phân tử chuyển động nhanh, còn những phân tử chuyển động nhanh hơn thì khuếch tán vào (đồng thời thúc đẩy) khu vực chuyển động chậm. Đây là sự chuyển tải động lượng theo chiều gra-đien vận tốc. Còn sự dẫn nhiệt là sự tản mát của những phân tử chuyển động nhanh vào khu vực chuyển động chậm hơn. Hiện tượng này có thể được mô tả là hình thức chuyển tải động năng theo chiều gra-đien nhiệt độ. Trong cả ba trường hợp trên, thuyết động học phân tử tiên đoán được hệ số khuếch tán, với độ chính xác cao nhất là ở áp suất thấp và nhiệt độ cao. Đó cũng chính là những điều kiện để cho định luật khí lí tưởng đơn giản được phù hợp nhất.

Tóm lại, thuyết động học phân tử sơ cấp, như đã trình bày qua, cho ta một lời giải thích đúng đắn về động thái của khí lí tưởng. Nó cung cấp cơ sở để tin vào tính hiện thực của phân tử, đồng thời khích lệ ta tìm cách chỉnh sửa lí thuyết đơn giản này để xét tới những sai khác so với động thái khí lí tưởng.

3-8 Khí thực và sự sai khác so với định luật khí lí tưởng

Nếu các khí đều lí tưởng, thì tỉ số PV/ RT đã luôn bằng 1 với mỗi mol khí. Song thực ra mọi khí thực đều sai khác ít nhiều so với biểu hiện lí tưởng này; đại lượng Z = PV/ RT, có tên gọi hệ số nén, là một thang đo cho sự khác biệt này. Z của một số khí được vẽ trên đồ thị theo áp suất ở 273 K (Hình 3-15) và cho một khí ở nhiều nhiệt độ (Hình 3-16). Ta có thể diễn giải động thía của khí thực như một sự kết hợp các lực hấp dẫn liên phân tử (vốn có hiệu lực ở khoảng cách tương đối xa) và lự đẩy gây ra bởi kích thước hữu hạn của phân tử (vốn chỉ trở nên đáng kể khi phân tử cụm lại ở áp suất cao). Trong điều kiện áp suất thấp-nhưng vẫn còn cao so với động thái lí tưởng-thì lực hấp dẫn liên phân tử khiến cho thể tích mol thấp hơn mức dự kiến, và hệ số nén nhỏ hơn 1. Tuy nhiên, ở áp suất đủ cao, sự co cụm của phân tử trở nên phổ biến, và thể tích mol của khí lại lớn hơn thể tích khi ta coi phân tử như những chất điểm. Nhiệt độ càng cao (Hình 3-16) thì sự hấp dẫn liên phân tử càng ít đáng kể so với động năng của phân tử, và càng giảm giá trị áp suất mà tại đó yếu tố tổng hợp là phổ biến, đồng thời Z tăng lên quá 1.

Hình 3-15: Sự sai khác của một số khí so với định luật khí lí tưởng ở 273 K, xét theo hệ số nén Z = PV/ RT. Việc Z hạ xuống dưới 1,0 ở áp suất thấp được là do lực hấp dẫn liên phân tử; và tăng vượt quá 1,0 ở áp suất cao là do lực đẩy liên phân tử ở khoảng cách gần khi các phân tử của khối khí hữu hạn co cụm lại với nhau.

Hình 3-16: PV/ RT của 1 mol khí mêtan ở các nhiệt độ khác nhau. Lưu ý rằng PV/ RT nhỏ hơn 1,0 ở áp suất thấp và lớn hơn 1,0 ở áp suất cao. Chất khí tiệm cận động thái khí lí tưởng ở nhiệt độ cao.

Hình 3-17 Đường cong áp suất – thể tích của khí nitơ và của một khí lí tưởng ở nhiệt độ không đổi. Dưới áp suất thấp, thể tích mol của khí N 2 thì kém so với một khí lí tưởng, do lực hấp dẫn liên phân tử. Dưới áp suất cao, do từng phân tử N 2 có thể tích khác không nên thể tích của khí sẽ lớn hơn so với khí lí tưởng.

Hình 3-18 Sự suy giảm áp suất trong khối khí thực do lực hấp dẫn phân tử. (a) Khí có mật độ thấp. (b) Khí có mật độ cao. Một phân tử M trong khối khí có mật độ cao thì đập vào thành nhẹ hơn so với trong khí mật độ thấp bởi lực hấp dẫn của những phân tử gần nó nhất sẽ làm giảm lực va đập này.

Hơn nữa, một phân tử khí bị các phân tử khí khác hút lại thì sẽ đập vào thành bình chứa với một lưu yếu hơn so với trường hợp không có lực hút nên trên. Bởi vì khi phân tử này đến gần thành bình, sẽ có đông những phân tử khí phía sau trong khối khí hơn so với số phân tử khí trước nó, phía thành bình (Hình 3-18). Số va chạm với thành bình trong một thời gian cho trước thì tỉ lệ với mật độ của khí, và mỗi lần va chạm đều bị yếu đi bởi lực hút ngược lại, vốn tỉ lệ thuận với mật độ những phân tử đang hút. Do đó, hệ số điều chỉnh cho P sẽ tỉ lệ thuận với bình phương của mật đố khí, hay tỉ lệ nghịch với bình phương của thể tích: P* = P + a/ V², trong đó a có liên hệ tới lực hấp dẫn giữa các phân tử. Phương trình van der Waal đầy đủ là

= RT

Trong đó thể tích mỗi mol, hay V/ n. Phương trình trở nên đơn giản hơn khi viết theo cách này. Tương tự, định luật khí lí tưởng có thể viết thành P = RT cũng đơn giản như PV = nRT. Các hằng số ab được chọn theo thực nghiệm để thu được mối quan hệ phù hợp nhất giữa phương trình trên với động thái PVT của một chất khí. Ngay cả khi đó, kích thước phân tử được tính theo giá trị thuần túy thực nghiệm b lại phù hợp tốt với những giá trị thu được bằng cách khác (Bảng 3-2), và điều này giúp ta tin rằng đã có được lí giải đúng đắn về những sai khác so với tính lí tưởng.

Bảng 3-2: Các số đo kích thước phân tử thu được thoe thuyết động học

Với mọi chất khí, đây là cách không tốt để xấp xỉ d, chi trừ hơi Hg và khí He.

bTa đang giả thiết rằng các phân tử có hình cầu, theo đó khi chúng được dồn sát khít lại thì còn trống 74% không gian. Nếu M là khối lượng phân tử, N là số Avogadro, và D là khối lượng riêng, thì thể tích phân tử là

Hình 3-19 Một phân tử sẽ không cho phân tử khác tiến gần hơn giới hạn khoảng cách hai tâm bằng đường kính. Do đó, thể tích xung quanh mỗi phân tử khi đã loại trừ các phân tử khác thì bằng (4/3) πd³, hay bằng tám lần thể tích của phân tử, (1/6) πd ³.

Phương trình van der Waals có thể áp dụng được cho khoảng nhiệt độ và áp suất rộng hơn nhiều so với định luật khí lí tưởng; thậm chí nó còn thích hợp với quá trình ngưng kết từ thể khí sang thể lỏng.

Ví dụ 20

Hãy dùng phương trình van der Waals để tính áp suất gây ra bởi 2,000 mol NH 3 ( a = 4,170 lít² atm mol −2b = 0,03707 lít mol −1) ở 0°C trong thể tích 44,80 lít. Hãy lặp lại cách tính cho heli. So sánh những kết quả này với các áp suất mà khí lí tưởng gây ra ở cùng điều kiện. So sánh hệ số điều chỉnh áp suất của amoni với heli.

Lời giải. Phương trình van der Waals viết cho n mol khí có dạng

Đối với amoni:

= 1,0023 atm − 0,008311 atm = 0,9940 atm.

Đối với heli:

P = 1,0017 atm − 0,000068 atm = 1,002 atm.

Độ sai lệch của áp suất so với áp suất khí lí tưởng ở 1,000 atm thì bằng −0,006 atm đối với NH 3 và +0,002 atm đối với He. Hệ số điều chỉnh cho NH 3 thì lớn hơn cho He vì (a) các phân tử NH 3 có thể tích lớn hơn phân tử He, và (b) phân tử NH 3 thể hiện lực hấp dẫn liên phân tử mạnh hơn (sở hữu mô-men lưỡng cực bền vững và có khả năng liên kết cộng hóa trị) so với He (xem Chương 13).

Tóm tắt

Ta đã thấy bốn định nguyên lý, hay định luật về ứng xử về chất khí được rút ra từ thực nghiệm. Theo đó, tất cả chất khí đều tuân theo gần đúng, đặc biệt là trong điều kiện áp suất thấp và nhiệt độ cao.

  1. Định luật Avogadro: Ở áp suất và nhiệt độ cố định, thể tích của chất khí bất kì tỉ lệ với số mol khí có mặt.
  2. Định luật Boyle: Ở nhiệt độ không đổi, thể tích của một mẫu khí thì tỉ lệ nghịch với áp suất tác dụng lên nó.
  3. Định luật Charles: Ở áp suất không đổi, thể tích của một chất khí thì tỉ lệ thuận với nhiệt độ của khí tính theo thang tuyệt đối, hay Kelvin.
  4. Định luật Gay-Lussac: Ở thể tích không đổi, áp suất gây ra bởi một mẫu khí thì tỉ lệ thuận với nhiệt độ tính theo thang độ tuyệt đối.

Mặc dù những khí thực chỉ tuân theo gần đúng những ứng xử nói trên, song ta vẫn có thể định nghĩa một khí lí tưởng là khí tuân theo đúng những định luật trên trong mọi trường hợp. Tất cả những kết quả quan sát nói trên có thể được kết hợp vào thành một biểu thức, đó là định luật khí lí tưởng:

Nếu P là áp suất tính theo atmốtphe, V là thể tích theo lít, T là nhiệt độ Kelvin tuyệt đối, còn n là số mol, thì hằng số tỉ lệ R, với tên gọi hằng số khí, có giá trị bằng

Trong tính toán thực tế, định luật khí lí tưởng thường hữu dụng nhất dưới dạng một trong các tỉ số cho bởi các phương trình từ 3-9 đến 3-12.

Điều kiện tiêu chuẩn, hay ĐKTC, được định nghĩa ở 273,15 K (0°C) và đúng 1 atm. Các thuộc tính cả chất khí thường được quy đổi về ĐKTC để so sánh, kể cả những hơi như H 2O vốn đông đặc ở ĐKTC. Một mol của chất khí bất kì ở ĐKTC đều có thể tích bằng 22,414 lít, và con số này được gọi là thể tích mol chuẩn.

Thuyết động học phân tử chất khí đã giải thích được động thái của khí lí tưởng với những giả thiết ban đầu tối thiểu, và cũng phụ vụ như một cơ sở để hiểu được những khác biệt của động thái khí thực so với khí lí tưởng. Ở dạng đơn giản nhất, thuyết động học này giả thiết rằng kihs được hợp thành từ những phân tử rất nhỏ không phản ứng với nhau, ở trạng thái chuyển động không ngừng, va chạm đàn hồi với nhau và với thành vật chứa. Khi mở rộng thuyết này đối với khí thực, ta nhận thấy rằng các phân tử có thể tích nhất định và tác dụng lực hấp dẫn lên lẫn nhau.

Theo thuyết động học, áp suất đơn giản chỉ là kết quả do các phân tử va đập lên thành vật chứa, và sự truyền động lượng. Tích số giữa áp suất và thể tích thì bằng hai phần ba động năng của các phân tử (phương trình 3-25). Kết hợp điều này với định luật khí lí tưởng quan sát được, ta đi đến kêt luận quan trọng rằng động năng của các phân tử khí tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối (phương trình 2-36), hay nhiệt độ đơn giản chỉ là một hệ quả từ sự chuyển động phân tử.

Qua việc so sánh các khối lượng riêng của chât ở thể khí và thể đặc, ta thấy rằng khoảng không trung bình ứng với một phân tử khí ở ĐKTC thì gấp khoảng ba cỡ độ lớn (hay 10³ lần) so với thể tích của bản thân phân tử. Vận tốc căn quân phương (rms) của một phân tử thì tỉ lệ nghịch với căn bậc hai của khối lượng phân tử (phương trình 3-28), và vận tốc này thì bằng cỡ vài nghìn km/h ở ĐKTC. Phân tử càng nặng thì càng chuyển động chậm.

Vận tốc thực tế của phân tử trong chất khí thì thay đổi theo một phân bố quanh giá trị căn quân phương này, với những giá trị vận tốc gần bằng không và những giá trị khác rất lớn so với trị trung bình. Vận tốc của từng phân tử thay đổi khi các phân tử va chạm lẫn nhau và đập vào thành vật chứa. Tuy vậy, phân bố của vận tốc phân tử thì không đổi ở nhiệt độ cố định. Một khí lí tưởng ở ĐKTC có quãng đường tự do trung bình, hay khoảng cách trung bình giữa các va chạm, dài cỡ 1000 Å, và một tần số va chạm khoảng 5 × 10 9 lần va chạm mỗi giây.

Định luật Dalton về áp suất riêng phần phát biểu rằng từng thành phần của một hỗn hợp khí đều ứng xử như thể đó là khí duy nhất có mặt. Phần mol, , là số mol của khí j có mặt chia cho tổng số các mol của mọi loại khí. Áp suât riêng phần của khí j thì bằng phần mol của j nhân với áp suất tổng: = P. Tổng của những áp suất riêng phần của tất cả khí thành phần thì bằng áp suất tổng.

Thuyết động học chất khí suy đoán rằng tốc độ xì thoát khí qua một lỗ nhỏ sẽ tỉ lệ nghịch với căn bậc hai của khối lượng phân tử (phương trình 3-34), và suy đoán này được bắt nguồn từ thực nghiệm. Lí thuyết này cũng thành công trong việc tính toán định lượng sự khuếch tán khí, tính độ nhớt, và độ dẫn nhiệt.

Khí thực có động thái sai khác đi so với khí lí tưởng vì các phân tử không phải là những chất điểm không thể tích, không hình dạng, và vì giữa các phân tử thật có sự hút nhau. Lực hấp dẫn phân tử không thể được bỏ qua những những phân tử này chuyển động chậm hơn, ở nhiệt độ thấp; thể tích phân tử trở nên đáng kể khi chất khí bị nén lại. Vì vậy các chất khí có động thái xấp xỉ với lí tưởng nhất là ở nhiệt độ cao và áp suất thấp.

Câu hỏi tự học

  1. Tại sao các chất khí tuân theo định luật đơn giản hơn so với những định luật chi phối chất lỏng hay chất rắn?
  2. Những kĩ sư thủy lực thời xưa nhất thấy rằng không có bơm hút nào có thể đưa nước lên cao hơn chừng 34 feet (10 m). Bạn có thể giải thích hiện tượng này dựa vào kiến thức trong chương không?
  3. Boyle đã thiết kế thí nghiệm của ông để kiểm tra lý thuyết “lò xo không khí” như thế nào?
  4. Tại sao một đồ thị của số liệu thực nghiệm có xu hướng đường thẳng thì mới có ích?
  5. Một thang đo nhiệt độ tuyệt đối được định nghĩa theo động thái của chất khí như thế nào?
  6. Định luật Boyle áp dụng được cho điều kiện nào? Khi nào định luật Charles áp dụng được? Những định luật này được suy diễn từ phương trình khí lí tưởng đầy đủ như thế nào?
  7. ĐKTC dùng để chỉ điều gì, và tại sao nó lại có ích?
  8. Trên quan điểm phân tử, hãy giải thích sự sai lệch của khí thực so với khí lí tưởng? Với điều kiện nào thì khí thực sẽ gần giống khí lí tưởng nhất?
  9. Bằng chứng thực nghiệm nào cho thấy rằng từng giả thiết trong số ba giả thiết của thuyết động học phân tử chất khí là đúng đắn?
  10. Tại sao có thể nói rằng tích, PV, của một thể tích khí lí tưởng lại tỉ lệ với động năng, ?
  11. Tại sao có thể nói rằng nhiệt độ thì tỉ lệ với bình phương của tốc độ chuyển động phân tử (thực ra là trung bình của bình phương vận tốc này)?
  12. Nếu các phân tử trong một lít khí hydro và phân tử trong một lít khí oxy cùng chuyển động với tốc độ quân phương bằng nhau, thì khí nào nóng hơn?
  13. Một chất khí điển hình sẽ chiếm bao nhiêu phần thể tích của các phân tử cấu thành khí đó? Những số liệu đo đạc nào cho bạn biết điều này?
  14. Tại sao thể tích khí bằng 22,414 lít lại có ý nghĩa?
  15. So sánh tốc độ truyền âm thanh trong không khí ở mặt biển với vận tốc căn quân phương của phân tử khí.
  16. Theo bạn thì cái nào lớn hơn, vận tốc trung bình hay vận tốc căn quân phương? Bạn có thể giải thích điều này dựa theo định nghĩa hai vận tốc này không?
  17. Định luật Dalton về áp suất riêng phần cho biết điều gì về ứng xử của các chất khí trong hỗn hợp?
  18. Tại sao hệ số nén của một khí thực lại chênh lệch cao hơn hoặc thấp hơn so với mức 1,0 ?
  19. Bằng cách nào có thể tìm được số đo kích thước phân tử từ phương trình van der Waals?

Bài tập

Áp suất khí quyển

  1. Khối lượng riêng của nước bằng 0,997 g cm−3 ở 25°C so với của thủy ngân là 13,596 g cm−3. Nếu như áp suất khí quyển đỡ được một cột thủy ngân cao 760 mm, thì 1 atm đỡ được cột nước cao bằng bao nhiêu? Tại sao thủy ngân lại được dùng vào việc đo đạc áp suất khí quyển thay vì chất lỏng rẻ tiền hơn, như nước?
  2. Áp suất khí quyển tiêu chuẩn được U.S. Weather Bureau quy định bằng 29,92 inch. Tại sao áp suất này lại có thể lấy đơn vị là inch? Hãy cho thấy con số này có liên hệ đến những đơn vị áp suất khác đã được đề cập tới trong chương.

Định luật Boyle

  1. Một chât khí ở áp suất ban đầu là 0,921 atm được phép giãn nở trong điều kiện nhiệt độ không đổi tới khi áp suất hạ xuống còn 0,197 atm. Hỏi tỉ số giữa thể tích cuối với thể tích đầu bằng bao nhiêu?
  2. Một chât khí lí tưởng chiếm thể tích 76,0 lít ở áp suất 1,00 atm. Hỏi với áp suất bằng bao nhiêu sẽ làm giảm thể tích xuống còn 10,0 lít, nếu T = const?
  3. Một mẫu khí neon chiếm thể tích 75,0 mL ở áp suất 1,00 atm. Nếu nhiệt độ không đổi, khí này sẽ chiếm thể tích bao nhiêu ở (a) 5,00 atm; (b) 0,100 atm; và (c) 1000 Pa?
  4. Một thí nghiệm được tiến hành ở 75°C và áp suất 1,00 atm trong một bình 5,00 lít có chứa một bóng đèn chân không với thể tích 400 cm³. Nếu bóng đèn này vỡ thì áp suất mới trong bình sẽ là bao nhiêu, với giả thiết nhiệt độ không đổi?

Định luật Charles

  1. Nếu một mẫu khí ở 25°C chiếm thể tích 2,34 lít, thì thể tích này sẽ bằng bao nhiêu ở 400°C nếu áp suất không đổi?
  2. Một mẫu khí được hun nóng từ 25°C lên 50°C ở áp suất không đổi. Hỏi thể tích khối khí này có tăng gấp đôi không? Tại sao có/không? Tỉ số giữa thể tích cuối và thể tích đầu bằng bao nhiêu?

Định luật khí lí tưởng

  1. Ở ĐKTC, 10,3 g một chất khí chiếm chỗ 453 inch³. Hỏi thể tích của mẫu khí này ở 1,25 atm và 100°C?
  2. Một mẫu 0,0100 g khí clo, Cl2, trong một lọ thủy tinh 10 mL bịt kín để trong lò, được tăng nhiệt độ từ 20°C lên 250°C. Hỏi áp suất ban đầu ở 20°C bằng bao nhiêu? Áp suất ở 250°C bằng bao nhiêu?

Phân tử

  1. Có bao nhiêu phân tử khí lý tưởng trong 1,000 mL khí nếu nhiệt độ là -80°C và áp suất là 1,000 Pa?
  2. Với 5,0 × 10¹³ phân tử khí lý tưởng sẽ gây ra áp suất bằng bao nhiêu trong thể tích 1,000 mL ở 0°C? Biểu diễn kết quả theo átmốtphe và pascal.

Áp suất riêng phần

  1. Một bình 2 lít ở 27°C có chứa 4,40 g cacbon điôxit và 1,00 g khí nitơ. Hỏi áp suất trong bình bằng bao nhiêu? Các áp suất riêng phần của tứng khí bằng bao nhiêu? (Biểu diễn áp suất theo átmốtphe.)
  2. Các khí oxy, nitơ, hydro, mỗi khí một lít, ban đầu ở áp suất 1,00 atm, được đẩy vào một bình 2,00 lít. Hỏi áp suất cuối cùng trong bình nếu nhiệt độ không đổi? Áp suất riêng phần của từng khí bằng bao nhiêu?
  3. Một hỗn hơp khí chứa một nửa argon và một nửa heli theo khối lượng, với áp suất tổng bằng 1,11 atm. Hỏi áp suất riêng phần của từng khí trong hỗn hợp.
  4. Khí được người bình thường hít thở có chứa N­2, O2, H2O, và CO2. Thành phần xấp xỉ của khí này biểu diễn thao áp suất riêng phần là N­2, 575 mm Hg; O2, 110 mm Hg; và H2O, 50 mm Hg. Giả thiết rằng áp suất tổng là 1 atm 9760 mm Hg), hỏi áp suất riêng phần của cacbon điôxit bằng bao nhiêu? Những phần mol của từng khí bằng bao nhiêu?
  5. Nồng độ của khí cacbon monoxit, CO, trong khói thuốc lá là 20000 phần tỉ tính theo thể tích. Hãy tìm áp suất riêng phần của cacbon monoxit trong 1 lít khói thuốc sao cho gây ra áp suất tổng bằng 1,0 atm.
  6. Một hỗn hợp gồm 3,86 g CCl4 (cacbon tetraclorua) và 1,92 g C2H4 (etylen) ở 450°C gây ra áp suất bằng bao nhiêu átmốtphe bên trong một quả bom kim loại 30 mL? Bao nhiêu phần áp suất là do etylen đóng góp?

Khối lượng riêng của khí

  1. Khối lượng riêng của khí XeF6 tính theo gam/lit ở ĐKTC bằng bao nhiêu? Khối lượng riêng ở 25°C và 1,30 atm thì bằng bao nhiêu?
  2. Khối lượng riêng của một chất động lạnh florocacbon thông dụng (Freon 11), CCl3F, ở thể khí trong điều kiện 23,8°C và 432 Torr thì bằng 3,23 g lit−1. Tính khối lượng theo gam của 22,4 lít Freon 11 ở ĐKTC.

Khối lượng phân tử

  1. Nếu 0,750 g một khí chiếm 4,62 lít ở 0,976 atm và 20°C, thì khối lượng phân tử của khí này bằng bao nhiêu? Đây có thể là khí gì?
  2. Một mẫu 1,12 lít của một khí nặng 0,400 g khi đo ở 0°C và 0,500 atm. Khí này có chứa 25,0% hydro và 75,0% cacbon theo khối lượng. Khối lượng phân tử của khí này bằng bao nhiêu? Các công thức thực nghiệm và công thức phân tử của khí này là gì?

Công thức phân tử

  1. Một mẫu 250 mL của một hợp chất với công thức thực nghiệm CH2 cân nặng 0,395 g ở 0,921 atm và 27°C. Tính khối lượng phân tử và tìm công thức của hợp chất này.
  2. Một mẫu 0,530 g khí etyl fomát, một chất hữu cơ dùng làm hương liệu cho nước chanh và trong quá trình sản xuất rượu rum nhân tạo, chiếm một thể tích 210 mL ở 75°C và 0,972 atm. Phép phân tích nguyên tố của etyl fomát cho kết quả phần trăm khối lượng như sau: C: 48,64%, H: 8,17%, và O: 43,20%. Tìm khối lượng phân tử và công thức phân tử của khí này.

Công thức thực nghiệm

    Một mẫu 0,490 g một hợp chất được đốt nóng qua quá trình chuyển hóa liên tiếp của những khí sau, tất cả đều ở áp suất 1,00 atm: 280 mL hơi nước ở 182°C, 112 mL hơi amoni ở 273°C, 0,0225 g nước ở 400°C, và 0,200 g SO3 ở 700°C. Tại điểm cuối của quá trình đốt nóng, còn lại 0,090 g FeO. Hãy rút ra công thức kinh nghiệm của hợp chất này.

Tỉ lệ phân tử

    Cả LiH và CH2 rắn tác dụng với nước để tạo thành khí hydro và hydroxit tương ứng, LiOH hoặc Ca(OH)2. Một mẫu 0,850 g hỗn hợp LiH và CaH2 tạo thành 1,200 lít H2 ở ĐKTC. Hỏi LiH chiếm bao nhiêu phần trăm trong hỗn hợp ban đầu? (Đưa ra đáp số cả phần trăm mol lẫn phần trăm khối lượng.)

Áp suất hơi nước

  1. Một lít không khí khô ở 1,00 atm và 86°C được đặt tiếp xúc với 1,00 mL nước lỏng ở cùng nhiệt độ. Thể tích của pha khí vẫn giữ nguyên trong quá trình thí nghiệm. Áp suất hơi nước ở nhiệt độ này bằng 0,593 atm và khối lượng riêng của nó là 0,970 g mL−1. Khi trạng thái cân bằng được thiết lập,

    a) Áp suất riêng phần của không khí trong bình bằng bao nhiêu?

    b) Áp suất riêng phần của hơi nước trong bình bằng bao nhiêu?

    c) Áp suất tổng trong bình bằng bao nhiêu?

    d) Bao nhiêu mol nước đã bay hơi?

    e) Lượng nước còn lại, nếu có, sẽ có thể tích bằng bao nhiêu?

  2. Một gam metan, CH4 được đốt để tạo thành khí CO2 và H2O lỏng. Ở 25°C, áp suất gây ra bởi những sản phẩm này là 0,987 atm. Áp suất hơi của nước ở 25°C là 0,0313 atm. Hãy tính thể tích CO2 khô tạo ra trong phản ứng.

Năng lượng và nhiệt độ

  1. Tính động năng của mỗi mol phân tử khí lí tưởng ở nhiệt độ 25°C. Nếu bạn dùng giá trị của hẳng số khí R = 0,08205 lít atm K−1 mol−1, động năng này sẽ có đơn vị lít atm, vốn không phải là cách chính thống nhưng hoàn toàn chấp nhận được. Phép tính sẽ đơn giản hơn với R = 8,3144 J K−1 mol−1. So sánh động năng của mỗi mol này với độ lớn năng lượng của liên kết hóa học, thường vào cỡ 350 kJ mol−1? Điều gì sẽ xảy ra nếu động năng và năng lượng liên kết gần giống nhau hơn về độ lớn?
  2. Tính động năng mỗi mol ở 300°C cho các phân tử khí sau, nếu coi chúng có động thái lí tưởng: (a) H2, (b) CH4, (c) HBr. Tại sao bài toán này đơn giản hơn bề ngoài của nó? Hãy tính vận tốc căn quân phương của ba phân tử này ở 300°C, rồi so sánh độ lớn tương đối giữa chúng. Từ đó bạn rút ra nguyên tắc chung gì? Tại sao phần này của bài toán lại khó hơn phần trước?

Thể tích phân tử

  1. Benzen lỏng, C6H6, có khối lượng riêng bằng 0,879 g mL−1. Nếu hơi benzen ứng xử như một khí lí tưởng, thì khối lượng riêng của hơi này ở ĐKTC sẽ bằng bao nhiêu? Hãy tính thể tích mỗi phân tử, theo angstrom khối, cho các trạng thái lỏng và khí. Khi chất lỏng bay hơi, thể tích mỗi phân tử sẽ tăng lên bao nhiêu lần?
  2. Ở điểm sôi chuẩn −164°C, mêtan lỏng, CH4, có khối lượng riêng bằng 0,466 g mL−1. Nếu hơi mêtan ứng xử như một khí lí tưởng ở nhiệt độ đó, thì khối lượng riêng của nó ở áp suất 1 atm sẽ bằng bao nhiêu? Thể tích từng phân tử của chất này ở thể lỏng và khí bằng bao nhiêu?

Vận tốc phân tử

  1. Vận tốc căn quân phương của các phân tử oxy ở 25°C bằng bao nhiêu? Cần nâng nhiệt độ của khí này lên bao nhiêu để tăng vận tốc lên gấp 10 trong khi vẫn duy trì thể tích không đổi? Cần tăng áp suất lên bao nhiêu lần trong khi nhiệt độ tăng ở thể tích không đổi?
  2. Tốc độ truyền sóng âm trong một khí lí tưởng được cho bởi công thức

    Tốc độ truyền âm =c =

    Đây gần giống như phương trình vận tốc căn quân phương của phân tử, chỉ khác ở chỗγ là một hằng số có giá trị lí thuyết bằng 5/3 đối với khí đơn nguyên tử như He hoặc Ne, và gần bằng 1,41 với khí lưỡng nguyên tử như O2 hoặc N2. Hãy tính tốc độ truyền âm trong khí nitơ nguyên chất ở 1,00 atm và 25°C, rồi so sánh tốc độ này với vận tốc căn quân phương của những phân tử khí nitơ.

  3. Khí quyển Trái đất có chứa khoảng 80% khí nitơ và 20% oxy. Tốc độ truyền âm trong không khí có thể tính bằng cách dùng khối lượng phân tử trung bình trong biểu thức ở bài tập trên. Hãy tính tốc độ trong không khí dưới áp suất 1,00 atm và nhiệt độ 25°C. Liệu tốc độ truyền âm này nhanh hơn hay chậm hơn so với trường hợp trong khí heli? Ở độ cao 35000 ft, nơi có nhiệt độ −40°C, tốc độ truyền âm sẽ bằng bao nhiêu?
  4. So sánh tốc độ truyền âm trong một khí ở 25°C và áp suất 1 atm với cũng trong khí đó nhưng ở 25°C và áp suất 50,0 atm. So sánh vận tốc căn quân phương của các phân tử. Liệu đáp số bạn đưa ra có hợp lí không?

Định luật Dalton

  1. Một lít khí hydro được thu qua nước ở 10°C và 1,053 atm. Áp suất hơi nước ở nhiệt độ này bằng 0,0121 atm. Nếu như sau đó hydro được tách khỏi nước và sấy khô ở nhiệt độ không đổi thì thể tích của mẫu hydro khô này bằng bao nhiêu? Nếu như hơi nước vừa tách khỏi hydro được lưu giữ ở 100°C và 0,0159 amt thì thể tích của nó sẽ là bao nhiêu?
  2. Tia cực tím từ Mặt trời làm biến đổi một phần oxy, O2, trên thượng tầng khí quyển thành ozôn, O3. Nếu một mẫu ở nhiệt độ và thể tích không đổi hứng lấy bức xạ cho đến khi 5% khí O2 được chuyển hóa thành O3 thì áp suất cuối cùng sẽ bằng bao nhiêu, nếu giả thiết rằng áp suất ban đầu là 0,526 atm?

Định luật Graham

  1. Một mẫu khí chưa biết, qua phân tích cho thấy, chỉ chứa lưu huỳnh và oxy. Mẫu khí này xì thoát qua lỗ vào chân không trong thời gian 28,3 giây; trong khi một số lượng phân tử O2 bằng như vậy cũng xì thoát qua lỗ đó thì hết 20,0 giây. Hãy xác định khối lượng phân tử và công thức của khí trên.
  2. Trong cùng thời gian để 6 lít cacbon điôxit xì qua tấm chắn dạng lỗ rỗng, thì chỉ có 5 lít một khí chưa biết xì qua được. Hãy ước tính khối lượng phân tử của khí chưa biết này.

Khí van der Waals

  1. Tính thể tích mỗi mol của một khí lí tưởng ở ĐKTC, hay dưới áp suất 1 atm và 273,15 K. Phương trình van der Waals là cách mô tả hợp lý hơn về động thái của khí thực. Theo phương trình này, hãy ước tính áp suất của 1 mol O2 giữ nguyên ở thể tích vừa tính cho khí lí tưởng trên, và ở 273,15 K. Độ sai lệch phần trăm giữa các kết quả áp suất theo ước tính lí tưởng và theo phương trình van der Waals bằng bao nhiêu?
  2. Dùng phương trình van der Waals để tính thể tích mol của cacbon điôxit ở ĐKTC.

    Ô. Dalton cho tôi biết rwfang lần đầu tiên ông nhận thấy thuyết phân tử là trong khi nghiên cứu về khí olefiant , mà ở thời đó chưa được hiểu hết, và rồi sự hợp thành chất đó được chính Ô. Dalton lần đầu phát triển một cách đầy đủ. Hiển nhiên là từ những thí nghiệm mà ông đã thực hiện, thì các chất thành phần chỉ gồm cacbon và hydro, không còn gì khác. Ông còn phát hiện được rằng nếu ta định lượng cacbon trong hai khí như nhau thì khí cacbua hydro chứa lượng khí hydro gấp đôi trong khí olefiant. Điều này là lí do khiến ông phát biểu tỉ số giữa hai thành phần này bằng con số; và coi khí olefiant như một hợp chất gồm một nguyên tử cacbon và một nguyên tử hydro, còn cacbua hydro thì gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử hydro. Ý tưởng vừa ghi nhận này sau đó được áp dụng cho cacbon điôxit, nước, amoniac, v.v.; và những con số biểu diễn cho khối lượng nguyên tử của oxy, azote [tức nitơ], v.v., được lấy từ những thí nghiệm phân tích tốt nhất thời bấy giờ. Bạn đọc đừng nghĩ rằng đây là điều dễ dàng. Thời đó, hóa học thậm chí còn chưa có được một phép phân tích nào có thể xem như đạt tới gần mức chính xác…

    Tài liệu đọc thêm

    • J. Hildebrand, An Introduction to Molecular Kinetic Theory, Van Nostrand Reinhold, New York, 1963.
    • T. L. Hill, Lectures on Matter and Equilibrium, W. A. Benjamin, Menlo Park, Calif., 1966. Cuốn sách viết cho cấp độ sinh viên năm thứ nhất. Bốn chương đầu về trạng thái vật chất, các khí, và lực liên phân tử, đều đặc biệt hữu ích.

    Đáp số

    1. Vì khối lượng của một cột thủy ngân lớn gấp 13,6 lần một cột nước tương đương, nên áp suất khí quyển sẽ đỡ được cột nước cao 13,6 × 760 mm, hay 10,3 m (33,8 ft). Rõ ràng là khí áp kế nào với chiều cao 34 ft thì thật phi thực tế.

    5. (a) 15,0 mL; (b) 750 mL; (c) 7600 mL

    19. 10,94 g lit −1 ở ĐKTC; 13,0 g lit −1

    27. (a) 1,000 atm; (b) 0,593 atm; (c) 1,593 atm; (d) 0,0201 mol nước; (e) 0,626 mL nước còn lại dưới dạng lỏng

    29. 3,72 kJ mol −1; Khoảng 1% năng lượng liên kết; Sự phá vỡ liên kết do nhiệt

    33. 482 m s −1; 29800 K; 100 lần

    35. 348 m s −1; Nhanh hơn trong khí He; 308 m s −1;

    37. 0,989 lít; 1,03 lít

    41. 22,412 lít mol −1; 0,9990 atm; 0,1% khác biệt

【#3】Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.

Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chống bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, để tiếp tục xây dựng và củng cố gia đình xã hội chủ nghĩa, giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, tập quán tốt đẹp của dân tộc, xoá bỏ những tục lệ lạc hậu, những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phòng kiến, chống ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình tư sản ;

Căn cứ vào Điều 64 và Điều 65 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ;

Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình.

Nhà nước bảo đảm thực sự chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc, bền vững.

Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc các tôn giáo khác nhau, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo được tôn trọng và bảo vệ.

Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành những công dân có ích cho xã hội.

Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Nhà nước và xã hội bảo vệ bà mẹ và trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ.

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi ; cấm cưỡng ép ly hôn.

Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Cấm ngược đãi, hành hạ cha, mẹ, vợ, chồng, con cái.

Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.

Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây :

a) Đang có vợ hoặc có chồng ;

b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình ; đang mắc bệnh hoa liễu ;

c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha ; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời ;

d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.

Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.

Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.

Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.

Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.

Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc : tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ.

Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.

Vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình.

Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thuỷ với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch.

Chồng có nghĩa vụ tạo điều kiện cho vợ thực hiện tốt chức năng của người mẹ.

Vợ, chồng có quyền tự do chọn nghề nghiệp chính đáng, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Chỗ ở của vợ chồng do vợ chồng lựa chọn, không bị ràng buộc bởi phong tục, tập quán.

Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.

Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.

Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng.

Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng.

Khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau.

Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này.

Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục con, chăm lo việc hoặc tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con.

Cha mẹ phải làm gương tốt cho con về mọi mặt, và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.

Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi mình.

Các con có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong gia đình.

Con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo của cha mẹ.

Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ có quyền lựa chọn nghề nghiệp, tham gia các công tác chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

Con có quyền có tài sản riêng.

Con từ 16 tuổi trở lên còn ở chung với cha mẹ có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình, và nếu có thu nhập riêng thì phải đóng góp vào nhu cầu của gia đình.

Cha mẹ đại diện cho con chưa thành niên trước pháp luật.

Cha mẹ quản lý tài sản của con chưa thành niên.

Cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con dưới 16 tuổi gây ra. Trong trường hợp cha mẹ không có khả năng mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bồi thường.

Con chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm bồi thường bằng tài sản riêng của mình đối với các thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Nếu con không có tài sản riêng thì cha mẹ phải bồi thường.

Người cha, người mẹ nào bị xử phạt về một trong các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm của con chưa thành niên, ngược đãi nghiêm trọng hoặc hành hạ con chưa thành niên, thì có thể bị Toà án nhân dân quyết định không cho trông giữ, giáo dục con, quản lý tài sản của con hoặc đại diện cho con trong thời hạn từ một năm đến năm năm. Đối với người đã sửa chữa, Toà án nhân dân có thể rút ngắn thời hạn này.

Người cha, người mẹ nói trên vẫn có nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi dạy con.

Ông, bà có nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha mẹ. Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau trong trường hợp không còn cha mẹ.

Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng.

Trong trường hợp có yêu cầu xác định lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác.

Người được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó không phải là con mình.

Người không được khai là cha, là mẹ một đứa trẻ có thể xin xác định đứa trẻ đó là con của mình.

Việc cha mẹ nhận con ngoài giá thú do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người con công nhận và ghi vào sổ khai sinh.

Con ngoài giá thú có quyền xin nhận cha, mẹ kể cả trong trường hợp cha. mẹ đã chết.

Người mẹ, người cha hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên.

Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho người con ngoài giá thú chưa thành niên.

Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ có mọi quyền và nghĩa vụ như con trong giá thú.

Các tranh chấp về nhận con, nhận cha, mẹ do Toà án nhân dân nơi thường trú của người con xét xử.

Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha mẹ và con cái, bảo đảm người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt.

Giữa người nuôi và con nuôi có những nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quy định ở các Điều từ 19 đến 25 của Luật này.

Người từ 15 tuổi trở xuống mới được nhận làm con nuôi. Trong trường hợp con nuôi là thương binh, người tàn tật hoặc làm con nuôi người già yếu cô đơn thì con nuôi có thể trên 15 tuổi.

Người nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.

Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự thoả thuận của hai vợ chồng người nuôi, của cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của người con nuôi chưa thành niên. Nếu nhận nuôi người từ 9 tuổi trở lên thì còn phải được sự đồng ý của người đó.

Việc nhận nuôi con nuôi do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người nuôi hoặc con nuôi công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.

Nhà nước và xã hội khuyến khích việc nhận các trẻ em mồ côi làm con nuôi.

Con liệt sĩ được nhận làm con nuôi vẫn hưởng mọi quyền lợi của con liệt sĩ.

Việc nuôi con nuôi có thể chấm dứt khi người nuôi hoặc con nuôi hoặc cả hai người có hành vi nghiêm trọng xâm phạm thân thể, nhân phẩm của nhau hoặc những hành vi khác làm cho tình cảm giữa người nuôi và con nuôi không còn nữa.

Việc chấm dứt nuôi con nuôi do Toà án nhân dân quyết định theo yêu cầu của con nuôi hoặc của người nuôi. Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên thì cha mẹ đẻ hoặc người đỡ đầu của con nuôi, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Khi vợ hoặc chồng, hoặc cả hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra và hoà giải.

Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn.

Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành thì Toà án nhân dân xét xử. Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn.

Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm.

Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ.

Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.

Khi ly hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình.

Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng do hai bên thoả thuận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

Khi hoàn cảnh thay đổi, người được cấp dưỡng hoặc người phải cấp dưỡng có thể yêu cầu sửa đổi mức hoặc thời gian cấp dưỡng. Nếu người cấp dưỡng kết hôn với người khác thì không được cấp dưỡng nữa.

Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung.

Khi ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi giữ.

Người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện để làm những nhiệm vụ đó.

Cha mẹ có thể cử người đỡ đầu cho con chưa thành niên. Nếu cha mẹ không cử được thì những người thân thích có thể cử người đỡ đầu cho người đó. Việc cử người đỡ đầu do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận.

Trong trường hợp cha mẹ hoặc những người thân thích không cử được người đỡ đầu thì cơ quan Nhà nước có chức năng hoặc tổ chức xã hội đảm nhiệm việc đỡ đầu người con chưa thành niên.

Công dân làm người đỡ đầu phải là người từ 21 tuổi trở lên, có tư cách đạo đức tốt và có điều kiện thực tế để làm người đỡ đầu.

Công dân hoặc tổ chức làm người đỡ đầu có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây :

a) Chăm sóc, giáo dục người được đỡ đầu;

b) Quản lý tài sản của người được đỡ đầu;

c) Đại diện cho người được đỡ đầu trước pháp luật và bảo vệ quyền lợi của người đó.

Công dân làm người đỡ đầu chịu sự giám sát của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn về công việc đỡ đầu.

Người thân thích của người được đỡ đầu, Viện kiểm sát nhân dân,

Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thay người đỡ đầu, nếu người này không làm tròn nhiệm vụ, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người đỡ đầu.

Công dân làm người đỡ đầu có thể yêu cầu cử người thay, nếu thấy mình không còn đủ điều kiện làm người đỡ đầu.

Việc đỡ đầu chấm dứt khi người chưa thành niên được giao lại cho cha mẹ, được nhận làm con nuôi, hoặc đủ 18 tuổi.

Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên tuân theo những quy định của pháp luật nước mình về kết hôn.

Nếu việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tiến hành ở Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định ở Điều 5, Điều 6, Điều 7 của Luật này. Thủ tục kết hôn do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Những vấn đề về quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, quan hệ cha mẹ và con, huỷ việc kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi và đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài do Hội đồng Nhà nước quy định.

Trong trường hợp đã có hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về hôn nhân và gia đình giữa Việt Nam và nước ngoài, thì tuân theo những quy định của các hiệp định đó.

Đối với dân tộc thiểu số, Hội đồng Nhà nước căn cứ Luật này và tình hình cụ thể mà có những quy định thích hợp.

Hội đồng bộ trưởng, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Luật này.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam giáo dục, vận động nhân dân thi hành nghiêm chỉnh Luật này.

Luật này thay thế Luật hôn nhân và gia đình năm 1959.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 12, thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1986.

Luật Hôn nhân và gia đình

Cơ quan ban hành:

Quốc hội

Số công báo:

Đang cập nhật

Số hiệu:

21-LCT/HĐNN7

Ngày đăng công báo:

Đang cập nhật

Loại văn bản:

Luật

Người ký:

Trường Chinh

Ngày ban hành:

29/12/1986

Ngày hết hiệu lực:

Đã biết

Áp dụng:

Đã biết

Tình trạng hiệu lực:

Đã biết

Lĩnh vực:

Xem Luật Hôn nhân và Gia đình mới nhất đang áp dụng

Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

The State guarantees the implementation of the regime of voluntary, progressive, and monogamous marriage in which husband and wife are equal, with a view to nurturing a democratic, united, happy and lasting family.

Marriage between Vietnamese citizens from different ethnic groups or religions, or between believers and non-believers, shall be respected and protected.

Husband and wife shall have the obligation to implement family planning.

Parents shall the duty to make their children useful to society.

Children shall be obliged to respect, take care of, and support their parents.

The State and society shall protect the mothers as well as their children, and shall assist the mothers in fulfilling their noble tasks of motherhood.

It shall be deemed as unlawful any act of underage marriage, forced marriage or impeding voluntary and progressive marriage, pssing for portion, or forcing a person into porce.

A person being married shall not be allowed to marry another, or to live with another as husband or wife.

Ill-treatment toward one’s parents, wife, husband, and children shall not be tolerated.

Men reaching the age of twenty and women at eighteen over shall be eligible to marry.

Marriage shall be decided on by the man and woman who are seeking it; neither of them shall be forced by any other party into marriage;impediments to marriage shall not be admitted.

Marriage shall not be permitted in the following circumstances:

1. One of the marriage partners is a marriage person.

2. One of the prospective spouses is mentally ill and is not in control of his or her actions, or has a venereal disease.

3. The marriage partners are directly related by blood: brother and sister with the same parents, half-brother and half-sister, or relatives within three generations.

4. Between an adoptive father or a foster mother and an adopted child.

A marriage shall be recognised and recorded in the Marriage Register, with proceedings pscribed by the State, or by the People’s Committee of the commune, ward or town where one of the prospective spouses resides.

A marriage between Vietnamese citizens abroad shall be recognised by the diplomatic mission of the Socialist Republic of Vietnam in that country.

All other marriage proceedings shall be invalid.

Marriage in violation of Article 5, 6 or 7 shall be illegal. Where a marriage person illegally entered into another marriage, his wife or her husband, his or her children, or the People’s Prosecution Office, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union or the Vietnam Federation of Trade Unions can request a People’s Court to annul such marriage.

The property of persons whose illegal marriage has been annulled shall be pided according to these principles: each party shall keep his or her personal property; common property shall be pided according to the contributions made by each side; and the legitimate rights of a man or woman who has been deceived or forced into marriage shall be protected.

The rights of their child, if any, shall be guaranteed, as in the case of a porced couple.

Husband and wife shall have equal rights and duties with respect to all aspects of family.

Husband and wife shall be obliged to be loyal, to care for and respect each other and to assist each other in all social aspects, and to practise family planning.

The husband shall have the duty to create conditions for the wife to fulfil her mother’s role.

Husband and wife shall be free to choose their respective professions and to take part in political, economic, cultural and social activities.

In choosing a domicile, the couple shall not to be forced to follow customary rules.

Common property of a married couple shall be deemed to comprise all the property acquired by each of the marriage partners, including professional and other legitimate income gained by the couple during their marriage, and the property bequeathed or given to the couple.

Property held in common by a married couple shall be for the needs of the family.

Husband and wife shall have equal rights and duties with regard to their common property. Purchase, sale, exchange, borrowing or other dealings involving property of considerable value shall require general consent between husband and wife.

Properties which were separately owned by a spouse before marriage, or solely bequeathed to him or her during their marriage, may only be included in common property, if he or she agrees.

Where a spouse dies, and there is a need to pide “the common property”, it shall be pided into two parts. The half that belongs to the deceased shall be pided in accordance with the law on inheritance.

Husband and wife shall also have the right to inherit each other’s property.

During marriage and upon request of a spouse for legitimate reasons, common property may be pided in accordance with Article 42 of this Law.

Parents shall be obliged to care for and bring up their children, and to ensure their education and healthy development in all aspects, physically, intellectually and morally.

Parents shall not show any discrimination in the treatment of their children.

Parents shall set a good example for their children and in their education in close co-operation with the school and social organisations.

Parents shall have a duty to support their mature children who are incapable of earning a living.

The children in the family shall have equal rights and duties.

Grown-up children living with their parents shall have the right to choose their profession and participate in political, economic, cultural and social activities.

Children shall have the right to own property.

Children under the age of 16 or over living with their parents shall contribute to the family’s livelihood, and contribute part of their earnings to meet the family’s needs.

Parents shall repsent their adolescent children before the law.

Parents shall manage the property of adolescent children.

Parents shall pay compensation for damage caused by illegal acts by their children under 16. Where parents are unable to do so, and the child owns property, an equivalent part of his property shall be taken for compensation. Minors aged 16 or over must pay compensation out of their own means for damage caused by their illegal acts. If they are unable to do so, the parents shall pay compensation.

The father or mother who have committed an offence on account of violating the body or dignity of a child, or serious ill-treatment of child, may be deprived by the People’s Court of the right to keep, educate or repsent the child or to manage his or her property for a period from one to five years. The Court may reduce this period depending on changes in the attitude of the parents.

The father or mother mentioned above shall be bound to contribute towards supporting or educating the child.

Grandparents shall be bound to support and educate under-age grandchildren if they become orphans. Vice versa, grandchildren who have grown-up shall have a duty to support their grandparents, if the latter have no surviving children. Brothers and sisters whose parents have died shall be obliged to assist one another.

A child born or conceived in lawful wedlock shall be the common child of a couple. Where a request has been made for determination of parenthood, other evidence shall be produced.

The person regarded as the father or mother of a child may make a request for determination that the child is not his or hers.

A person not declared to be the father or mother of a child may make a request for determination that the child is his or hers.

Recognition of a child born out of wedlock shall be attested and recorded in the Birth Register by the People’s Committee of the commune, city ward or town where the child resides.

A child born out of wedlock may ask to be recognised as somebody’s child, even when such person has already died.

The mother, father, or foster-parents may request the determination of parentage of a child born out of wedlock, if the child is still under age.

The People’s Prosecution Office, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions may request the determination of parentage of a child born out of wedlock who is still under age.

A child born out of wedlock who has been recognised by his father or mother or by the People’s Court shall have the same rights and duties as a child born in lawful wedlock.

All disputes related to recognition of a child, or of the father or mother shall be settled by the People’s Court at the child’s place of residence.

Adoption of a child shall be for the purpose of maintaining paternal and filial ties between the adopting and adopted persons, in which the adolescent child is ensured of good care and education.

The rights and duties of an adopting person and adopted child shall be the same as those of parents and children defined in Articles 19 to 25 of this Law.

Only persons of 15 years old or under may be adopted. A person over 15 years of age maybe adopted where he or she is an invalid soldier or a disabled person, or if the adopting person is old and lonely.

The adopting person shall be at least twenty years older than the adopted child.

Adoption of a child shall require the agreement of the prospective parents, and of both parents or foster-parents of the adopted. If the adopted child is 9 years old or over, his own consent shall also be required.

Adoption of a child shall be recognised and recorded in the Family Register by the People’s Committee of the commune, city ward or town where adopting or adopted person resides.

The State and society shall encourage the adoption of orphans.

The rights enjoyed by a child as an orphan of a soldier shall be respected after his adoption.

The adoption of a child may be annulled, if the adopting or the adopted person, or both, committed serious offences against each other’s dignity, or other acts which have ended the affection binding the adopting and adopted persons.

The annulment of an adoption shall be decided by the People’s Court at the request of the adopting or adopted person. Where the adopted child is still under age, the parents or foster-parents of the child, the People’s Court, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions may request the annulment of such adoption.

When a spouse or both of them apply for a porce, the People’s Court shall investigate and seek the reconciliation of the couple.

When both husband and wife want a porce and cannot be reconciled, the People’s Court, after securing evidence that both parties are acting of their own free will, shall grant a porce. When only the husband or wife asks for porce, and reconciliation attempts have failed, the matter will be brought to the People’s Court. If it is found that the situation is serious, that the couple can no longer live together and the purpose of marriage cannot be achieved, the People’s Court shall grant a porce.

When the wife is pgnant, the husband may sue for porce only one year after the birth of the child.

This provision shall not apply to the wife’s request for porce.

When porced, the couple’s property is pided according to an agreement between the two parties, which is to be recognised by the People’s Court. If the two parties cannot come to an agreement, the People’s Court will decide.

The pision of property of the porcees shall be in accordance with the following:

a- Personal property shall be kept by the owner;

b- Common property of the couple shall be into two parts, taking into consideration the situation of the property, the specific situation of the family and contributions by each party;

c- Where a couple is still living with the whole family and their own property cannot be determined, the husband or wife shall receive part of the family property, in proportion to his or her contributions to the pservation and enlargement of the common property and to the family’s livelihood. Work in the family is regarded as production work;

d- The rights of the wife and under-age children, and production and professional interests shall be protected in the pision of property.

When porced, if either party is needy and asks for support, the other party shall give support according to his or her abilities.

The amount and duration of support shall be agreed by the two parties. If no agreement can be reached, the People’s Court shall decide.

Where circumstances change, a person who receives or gives support may ask for a change in the amount or duration of support. If the person receiving the support marries another person, the support shall be stopped.

The porcees shall have rights and duties vis-à-vis their common children.

In consigning the couple’s child or children to the care of either of the porcees for guardianship, the children’s interests in every aspect shall be taken into account. In principle, nursing infants shall be consigned to the care of their mothers.

The person who becomes guardian of the children shall have the right and duty to care for them and contribute towards the cost of their support and education. If he or she delays or evades the contributions, the People’s Court may order a deduction from his or her income, or order him or her to make the contributions.

Changes may be made in the interests of the children, if necessary, in guardianship or in contributions towards the cost of their support and education.

The purpose of guardianship to ensure the care, education and guarantee of the interests of an under-age child whose parents have died or are still living but unable to carry out their duties.

Parents may choose a person as a guardian for their own under-age child. If they cannot do so, relatives may choose a foster parent.

The choice of foster parent shall be recognised by the People’s Committee of the commune, city ward or town.

Where the choice of foster parent for an under-age child cannot be made by the parents or relatives, it shall be made by a responsible government authority or social organisations.

A citizen who becomes a foster parent shall be least 21 years old, and have good behaviour and the practical pconditions for fulfilling his responsibilities.

The citizen or organisation becoming a foster parent shall have the following rights and duties:

a- To care for and bring up the foster child;

b- To manage the property of the foster child;

c- To repsent the foster child before the law and defend his interests.

The guardian or foster parents shall be under the supervision of the People’s Committee of the commune, city ward or town.

Relatives of foster child, the People’s Prosecution Office, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions, may ask the People’s Committee of the commune, city ward or town to replace foster parents who do not fulfil responsibilities or do serious damage to the interests of the foster child.

Guardianship shall end where the foster child is returned to his or her original parents, is adopted by another person, or reaches the age of 18.

In marriage between a Vietnamese citizen and a foreigner, each party shall comply with the provisions of the marriage law of his or her country.

When marriage between a Vietnamese citizen and foreigner takes place in Vietnam, the foreigner shall also comply with the provisions of Article 5, 6 and 7. Marriage procedures shall be determined by the Council of Ministers.

Matters regarding relations between the husband and wife, property, parenthood, annulment of marriage, porce, child adoption and guardianship between a Vietnamese citizen and a foreigner shall be regulated by Council of State Decrees.

Where there is an Agreement on legal assistance regarding marriage and family between Vietnam and the other country, the provisions of that Agreement shall be applied.

With regard to minority ethnic groups, the Council of State on the basis of this Law, and taking into account the specific conditions, shall issue appropriate regulations.

The Council of Ministers, the People’s Supme Court, and the Head of the People’s Supme Prosecution Office shall have the responsibility, within the scope of their respective competence, to issue instructions on the implementation of this Law.

The Vietnam Fatherland Front, the Vietnam Women’s Union, the Ho Chi Minh Communist Youth Union, the Vietnam Federation of Trade Unions shall contribute to strict implementation of this Law.

This Law replaces the 1959 Marriage and Family Law.

FOR THE NATIONAL ASSEMBLY

CHAIRMAN

Nong Duc Manh

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên chúng tôi bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

【#4】Khởi Nghiệp Là Gì? Startup Là Gì? Định Nghĩa Khởi Nghiệp

Khởi nghiệp là gì? Startup là gì? Đâu là những yếu tố mà người khởi nghiệp trẻ cần có? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm. Nhất là khi phong trào “Quốc Gia Khởi Nghiệp” đang dần được phổ biến rộng khắp.

Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không được chắc chắn nhất.

Cùng xem bài viết để hiểu thêm khởi nghiệp là gì? startup là gì?

Startup là gì? Khởi nghiệp là gì?

Khởi nghiệp – Startup là bạn có ý định tự mình có một công việc kinh doanh riêng, bạn muốn tự mình làm và quản lý tự kiếm thu nhập cho mình. Bạn cung cấp và phát triển một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, mua bán lại một sản phẩm hay cửa hàng đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó.

Khởi nghiệp cũng có nghĩa là bạn tạo ra giá trị có lợi cho người cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước. Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội.

Đối với cá nhân startup, việc theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê. Startup được tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại.

Đối với xã hội & nền kinh tế nước nhà thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm. Điều này giúp đất nước có thể giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình.

Khởi nghiệp có thể là bạn tự mở cho mình một cửa hàng như bún bò, phở, xôi sáng, quán cafe, tiệm Internet, cửa hàng mỹ phẩm, cửa hàng tiêu dùng hay mở trang trại trồng cây, chăn nuôi, xưởng sản xuất một mặt hàng nào đó hay đơn giản bạn chỉ thương mại tức mà mua đi bán lại …

Khởi nghiệp là bạn vừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn bạn tự thành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm. Vì vậy khởi nghiệp cũng chính là bạn bắt đầu làm chủ. Và khởi nghiệp cũng chính là một công việc kinh doanh của bạn vì nó liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường để bạn có thu nhập. Chính vì vậy người ta thường gọi là khởi nghiệp kinh doanh.

Chúng ta hãy bắt với định nghĩa của “startup” để nắm bắt ý nghĩa tự nhiên thiết yếu của nó, và cố gắng lược bỏ các mối liên hệ cụ thể của hầu hết quá trình startup đáng chú ý.

Khởi nghiệp là một tổ chức của con người được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.

Hãy giải thích một cách lần lượt. Đầu tiên, tôi muốn nhất mạnh khía cạnh tổ chức con người, bởi điều này hoàn toàn bị bỏ sót trong câu chuyện “2 gã trong nhà để xe”. Từ “thể chế” bao hàm ý nghĩa của chế độ quan liêu, quy trình và thậm chí cả sự thờ ơ. Làm thế nào điều đó có thể là một phần của “startup”. Tuy nhiên, những câu chuyện thật về những sự khởi đầu thành công bao gồm đầy đủ các hoạt động có thể được gọi là xây dựng tổ chức: thuê các nhân viên sáng tạo, phối hợp hoạt động của họ, và tạo ra văn hóa công ty mang lại kết quả. Mặc dù một vài công ty startup có thể tiếp cận các hoạt động này theo những cách cực đoan, nhưng dù sao chúng cũng là những thành phần quan trọng góp phần tạo nên thành công.

Vậy từ “con người” trong khái niệm này là dư thừa? Vậy những hình thức khác của tổ chức là gì?

Chúng ta thường bỏ qua thực tế là startup không phải là sản phấm của chúng, không phải là những đột phá công nghệ, hoặc thậm chí không phải dữ liệu của chúng. Ngay cả đối với các công ty mà chủ yếu chỉ có một sản phẩm, giá trị công ty tạo ra không phải ở sản phẩm đó mà ở con người và tổ chức của họ tạo ra nó. Để có được bằng chứng về điều này, đơn giản chỉ cần quan sát các kết quả của nhiều vụ mua lại các công ty startup. Trong hầu hết các trường hợp, các khía cạnh quan trọng của công ty startup biến mất, ngay cả khi sản phẩm, thương hiệu, và thậm chí cả khi hợp động lao động được lưu trữ.

Cái mới của sản phẩm hay dịch vụ mà công ty startup mang đến cũng là yếu tố quan trọng của khái niệm. Nó cũng là một yếu tố phức tạp. Tôi ưu tiên khái niệm rộng nhất của sản phẩm, bao gồm bất cứ nguồn giá trị nào của tập hợp những người tự nguyện trở thành khách hàng. Điều này cũng đúng với hàng hóa được đóng gói của một cửa hàng tập hóa, một trang website thương mại điện tử, một dịch vụ xã hội phi lợi nhuận hoặc một loạt các chương trình của chính phủ. Trong mọi trường hợp, tổ chức được dành để phát hiện ra nguồn giá trị mới cho khách hàng, và quan tâm đến tác động thực tế của công việc đến khách hàng (trái lại, sự độc quyền hay quan liêu thường không quan tâm đến điều đó và chỉ tìm cách duy trì bản thân).

Điều đó cũng quan trọng khi chúng ta nói về sự sáng tạo, nhưng điều này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi. Ngay cả những sáng chế tiên tiến nhất cũng luôn được xây dựng dựa trên các công nghệ cũ. Nhiều công ty startup không sáng chế ở khía cạnh sản phẩm, mà sử dụng các sáng chế khác: điều chỉnh những công nghệ hiện tại cho mục đích mới, đặt ra một mô hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị trước đây chưa được tìm ra, hoặc thậm chí mang sản phẩm hay dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm khách hàng trước đây chưa được phục vụ. Trong tất cả các trường hợp này, sự sáng tạo đổi mới là chìa khóa đưa đến thành công cho công ty.

Bởi vì sáng tạo vốn là mạo hiểm, có thể lợi nhuận quá lớn về kinh tế cho các công ty startup có thể tận dụng rủi ro theo một cách mới – nhưng đây không phải là một phần tất yếu của công ty startup. Câu hỏi là: “mức độ của sự sáng tạo mà doanh nghiệp muốn đạt được là gì?”

 Phần quan trọng cuối cùng của khái niệm này: bối cảnh của sự sáng tạo.

Hầu hết các doanh nghiệp lớn nhỏ đều bị loại trừ trong bối cảnh này. Các công ty startup được lập ra để đối phó được với tình huống bất ngờ nhất. Để mở một doanh nghiệp mới là bản sao chính xác của doanh nghiệp hiện tại, tập trung vào mô hình kinh doanh, giá cả, khách hàng được nhắm tới, và sản phẩm trong nhiều trường hợp là một cách đầu tư kinh tế hấp dẫn. Nhưng nó không phải là công ty startup, bởi vì thành công của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc quá nhiều vào cách thực thi tốt đến nỗi thành công này có thể được mô hình hóa với độ chính xác cao. Đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể được tài trợ vốn vay ngân hàng; mức độ rủi ro và không chắc chắn đủ rõ ràng để một nhân viên cho vay sáng suốt có thể đánh giá triển vọng của nó.

Do đó, các công ty startup có một vị trí đặc biệt, khi rủi ro là không có.

Trái với những trường hợp rủi ro khác, như mua cổ phiếu có rủi ro cao. Mặc dù mức chi trả cụ thể của cổ phiếu rủi ro không được biết đến, đầu tư vào các cổ phiếu như vây có thể được mô hình một cách chính xác. Vì vậy mộ nhà tư vấn tài chính giỏi có thể cung cấp cho bạn khoản lợi tức dài hạn một cách chính xác và hợp lý mà các cổ phiếu rủi ro mang lại. Khi “phí rủi ro” tính toán được, chúng ta không còn là startup. Trên thực tế, trước đây, phần lớn các công ty startup là dễ như trở bàn tay. Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất hiện nay là Google: làm thế nào chúng ta có thể sống thiếu nó? Xây dựng một sản phẩm đặc biệt gần như không rủi ro như nó có vẻ vào thời điểm đó; thật ra, theo tôi đó là một suy luận hợp lý để nói rằng nó đã gần như được đảm bảo để thành công. Nó chỉ không khả thi cho ai muốn biết trước tương lai.

Các công ty startup được thiết kế cho những tình huống không thể mô hình hóa, không rõ ràng, và độ rủi ro không nhất thiết phải lớn mà chỉ chưa tính toán được. Tôi nhấn mạnh điểm này bởi vì nó cần thiết để thúc đẩy số lượng lớn lý thuyết về “lean startup” (Việc sử dụng các nền tảng được kích hoạt bởi mã nguồn mở và phần mềm miễn phí, tập trung vào khách hàng và ý kiến phản hồi của họ). Về cơ bản, “lean startup” là một phương pháp đối mặt với điều không chắc chắn và chưa được nhận ra với sự linh hoạt, cân bằng và hiệu quả. Nó là một kinh nghiệm khác hẳn với công việc khó thực hiện trong một loại hình kinh doanh truyền thống, và mục tiêu của tôi không phải để hệ thấp những người khác – cuối cùng, hầu hết các công ty startup đều mong muốn sau này không còn là startup.

Những khác biệt này vẫn còn là vấn đề, bởi vì “cách thực hành tốt nhất” được học từ những hoàn cảnh khác không thể áp dụng tốt vào startup. Thật ra sự thất bại đáng kể nhất xảy ra khi bạn không nhận ra mình đang trong tình trạng startup hoặc không nhận ra nó có nghĩa gì.

Ai nên bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh?

Hầu như bất cứ người nào cũng có thể khởi nghiệp kinh doanh nếu muốn, không phân biệt già hay trẻ, nam hay nữ, không phân biệt trong hay ở ngoài nước, thành thị hoặc nông thôn; miễn là bạn có một ý tưởng kinh doanh thiết thực hay có thể thực hiện được, có thể đem lại lợi ích cho chính bản thân mình và toàn xã hội.

Tuy nhiên hiện nay những ý tưởng khởi nghiệp được hình thành chủ yếu bởi các bạn đam mê làm giàu và sáng tạo, nhất là những bạn sinh viên đang đi học hoặc vừa ra trường. Những con người trẻ tuổi đang ở độ tuổi tràn đầy nhiệt huyết, họ cũng có đủ sự nhanh nhạy, khả năng nắm bắt những kiến thức & kỹ năng công nghệ mới. Họ có lòng can đảm và khát khao khẳng định bản thân hơn những người đi trước mặc dù những người đi trước lại có nhiều lợi thế về kinh nghiệm hơn.

Vì thế dù bạn còn trẻ và chưa có gì trong tay, đừng lo sợ gì cả, hãy cứ thử nghiệm và thất bại. Khởi nghiệp kinh doanh không bao giờ là sự lựa chọn dễ dàng, nó không dành cho tất cả mọi người. Nhưng nếu người khởi nghiệp trẻ có đủ quyết tâm và lòng kiên trì, đủ dũng cảm để đối mặt với những chông gai thử thách có thể gặp phải trên con đường khởi nghiệp thì có lẽ đây chính là con đường phù hợp với bạn.

Những yếu tố mà người khởi nghiệp cần phải có

Năng lực sáng tạo không giới hạn:

Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất khi bắt đầu con đường làm giàu của mình đó là bản thân người startup phải có một sự sáng tạo vượt bậc. Bởi vì chỉ có sự sáng tạo không giới hạn mới có thể làm nên sự khác biệt giữa bạn và đối thủ, chỉ có sự sáng tạo hơn người mới có thể giúp bạn nhìn thấu toàn bộ thị trường hiện tại, tìm ra những nhu cầu chưa được đáp ứng, từ đó đưa ra kế hoạch kinh doanh đặc biệt riêng cho startup của mình.

Kế hoạch này không nhất thiết phải bao gồm những ý tưởng khởi nghiệp kinh doanh chưa ai biết đến hay những ý tưởng mới hoàn toàn chưa ai nghĩ đến, mà nó phải tạo nên sự đột phá và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của bạn.

Sự khác biệt trong sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp là điểm tựa quan trọng cho bạn trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt này. Vậy thì, thay vì tranh giành miếng bánh với các đối thủ lớn trên thị trường ra đời sớm hơn mình, mạnh hơn mình, nhiều kinh nghiệm hơn mình thì chúng ta có thể tự tìm ra một miếng bánh mới – mà tại đó chúng ta chính là người dẫn đầu.

Nguồn vốn khởi nghiệp kinh doanh:

Một trong những yếu tố quan trọng khác khi bạn muốn khởi nghiệp đó là vốn khởi nghiệp kinh doanh. Đây là nguồn nuôi dưỡng cho kế hoạch kinh doanh và là một đòn bẩy cho sự thành công của bạn.

Sự kiên trì – không bỏ cuộc:

Sở dĩ đức tính kiên trì là một yếu tố quan trọng bởi vì trong quá trình khởi nghiệp không phải ai cũng có được thành công trong lần đầu bắt tay vào làm, có những người thất bại rất nhiều lần nhưng họ vẫn không từ bỏ, vẫn tiếp tục đứng dậy để thực hiện ý tưởng của mình. Chính sự quyết tâm và lòng kiên trì trong con người đó đã tạo nên sự thành công – “Thất bại là mẹ thành công” . Thật sự, thực tế đã chứng minh rằng những doanh nhân khởi nghiệp thành công là những người có tinh thần quyết tâm cao hơn những người bình thường để vượt qua những trở ngại, có sự đam mê và kiên trì vượt trội để có thể đứng lên từ những thất bại trong thời gian ngắn.

Kỹ năng nền tảng cơ bản về kiến thức chuyên môn:

Hiện nay muốn làm bất cứ một việc gì trong bất cứ một ngành nghề nào bạn cũng cần phải có kiến thức về ngành nghề đó, vì thế nếu muốn khởi nghiệp kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó bạn cũng nên tìm hiểu kĩ các kiến thức xung quanh lĩnh vực đó.

Ví dụ: bạn muốn khởi nghiệp bằng cách mở phòng thu âm chuyên nghiệp, thì bạn cần phải có những kiến thức cơ bản trong thanh nhạc, âm thanh, cách hoà âm – phối khí hoặc cần biết sử dụng một số nhạc cụ phổ thông… Hay bạn muốn trở thành một nhà kinh doanh thời trang lớn bạn cần có những kiến thức cơ bản gu thẩm mỹ, thời trang, nắm được xu hướng thời trang, về bán hàng …

Việc hiểu biết các kiến thức cơ bản, chuyên môn trong lĩnh vực mình hoạt động hay nhiều khía cạnh khác nhau trong doanh nghiệp như sản phẩm, nhân lực, công nghệ, thị trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan là một bước đệm quan trọng giúp bạn tránh khỏi sự thất bại trong việc thiếu chuyên môn và những lí do ngoài ý muốn. Vì thế nếu bạn có ý định khởi nghiệp trước tiên hãy trang bị đầy đủ cho mình những kiến thức này.

Kỹ năng tìm hiểu và nghiên cứu thị trường:

Nghiên cứu thị trường tiềm năng sẽ cung cấp cho nhà startup có những thông tin quan trọng về lĩnh vực thị trường mà mình hoạt động. Ngoài ra, việc này giúp khởi nghiệp kinh doanh và phát triển kế hoạch kinh doanh; dể dàng thích ứng với thị trường trong tương lai. Những yếu tố cần được ưu tiên khi nghiên cứu thị trường sẽ là:

  • Xu hướng phát triển thị trường, mức độ hấp dẫn, mức độ cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng, xu hướng bán hàng
  • Kiểm tra hồ sơ các đối thủ cạnh tranh trực tiếp – gián tiếp và đối chiếu với doanh nghiệp mình
  • Phân tích nhân khẩu học của khách hàng, vị trí địa lý, khách hàng điển hình, khách hàng tiềm năng.

Kỹ năng quản lý tài chính:

Quản lý tài chính là một kỹ năng cực kỳ quan trọng đối với người khởi nghiệp kinh doanh. Quá trình startup sẽ cần một lượng tiền nhất định để xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư nhân lực trong khi chưa thể hoạt động để có doanh thu ngay được. Do đó, cần có kế hoạch chi tiêu làm sao vừa phải tiết kiệm và vừa cần hợp lý ngay từ giai đoạn đầu cũng như trong suốt quá trình phát triển sau này của doanh nghiệp khởi nghiệp.

Kỹ năng ủy quyền – giao quyền:

Ủy quyền liên quan tới việc phân bổ trách nhiệm cho mọi người để hoành thành công việc. Điều kiện lý tưởng mà bạn muốn đạt được là khi các nhân viên của bạn có thể thực hiện được tất cả các hoạt đồng hàng ngày trong doanh nghiệp mình.

Ủy thác một cách hiệu quả sẽ giúp đạt được sự cân bằng giữa hiệu quả quản lý và hiệu quả hoàn thành công việc của mọi người. Nhân tố chìa khóa là biết cách làm sao để doanh nghiệp của bạn làm việc cho mình, chứ không phải là bạn tất bật chạy theo quá trình hoạt động của doanh nghiệp mình.

Kỹ năng lập kế hoạch và xây dựng chiến lược:

Lập kế hoạch và xây dựng chiến lược là một hoạt động rất quan trọng trong kinh doanh. Nó là quá trình xác định chiến lược công ty của bạn hay phương hướng và quyết định việc phân bổ nguồn vốn cũng như nhân sự. Bí quyết ở đây là việc biết làm thế nào để dự kiến được khả năng hoạt động của doanh nghiệp của bạn trong tương lai từ 3 đến 5 năm tới với kế hoạch kinh doanh chi tiết.

Ngoài những yếu tố đã được nêu trên thì các kỹ năng mềm – kỹ năng sống cơ bản của bản thân bạn như quản lý thời gian, quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp… cũng là một trong những yếu tố không thể thiếu. Kỹ năng mềm – kỹ năng sống tuy không mang ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của doanh nghiệp nhưng nó là yếu tố hỗ trợ giúp gia tăng khả năng thành công cho quá trình khởi nghiệp của bạn và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp của bạn trong các tình huống khó khăn có thể gặp phải.

【#5】Lgbt Là Gì Trên Facebook? 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt

Lgbt là một khái niệm thuật ngữ xuất hiện trên Facebook hoặc các mạng xã hội, truyền thông, báo chí một cách rộng rãi. Lgbt là viết tắt của các từ cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender) trong tiếng Anh.

LGBT là chữ viết tắt của từ gì trong tiếng Anh?

Những năm gần đây khi nghe đến chuyển giới, les hay những từ nhạy cảm như bê đê không còn là điều mới mẻ, bị cộng đồng hắt hủi nữa, bởi nhờ có chính sách mới của Nhà nước cũng như sự đồng cảm của cả cộng đồng mà những người này đã có thể hòa đồng hơn, sống hòa nhập hơn.

Và từ đó cộng đồng người này được gọi chung dưới cái tên LGBT. Vậy LGBT là gì, nó có ảnh hưởng hay có những đặc điểm gì? Cùng WikiDinhNghia tìm hiểu và giải đáp qua bài viết “Tìm hiểu về cộng đồng LGBT là gì” dưới đây bạn nhé!

Lgbt là một cụm từ được viết tắt từ các từ Lesbian, Gay, Bisexual và Transgender lấy các chữ cái đầu ghép lại mà thành. Lgbt có thể hiểu là cộng đồng những người đồng tính. Lgbt còn là tên của các nhóm, cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender).

Lgbt là gì, Lgbt là tên gọi dành cho một cộng đồng thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá dựa trên thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và bản dạng giới tính.

Thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c của con người được chia thành 3 loại chủ yếu: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái, còn theo bản dạng giới thì phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới. Trong đó, Lgbt là cộng đồng những người thuộc các thiên hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội.

Cộng đồng Lgbt là gì trên facebook, các trang truyền thông, báo chí?

Xã hội rất đa dạng người và giới tính của mỗi người cũng vậy, có người họ làm nam nhưng con người bên trong là nữa, tương tự họ là nữ giới nhưng mạnh mẽ và muốn trở thành nam giới.

Và Lgbt không còn chỉ một người hay một vài người mà dùng cho một cộng đồng, cộng đồng của những người muốn sống thật với con người bên trong của mình, người ta thường hay gọi là cộng đồng Lgbt tức là cộng đồng người đồng tính.

Ý nghĩa Lgbt – Life Gets Better Together

Hoặc có những người họ có suy nghĩ tích cực, chủ động hòa đồng, ủng hộ cộng đồng này, họ thường dịch “Lgbt” theo một nghĩa khác tốt đẹp hơn “Life Gets Better Together” dịch ra là cuộc sống nên trở nên tốt đẹp với nhau. Nghĩa là cuộc sống này sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi mọi người hòa nhập với nhau, không kỳ thị hay phân biệt.

Thuật ngữ Lgbt không phải là một từ chính thống trong pháp lý nhưng được nhóm người này chấp nhận và sử dụng rộng rãi (đặc biệt là những nước sử dụng tiếng Anh).

Và trong thời gian vừa qua chắc hẳn mọi người thấy mạng xã hội Facebook có trào lưu dùng hình đại diện hoặc khung hình có nền 6 màu, điều này xuất hiện như một hiện tượng xã hội, chắc hẳn đang khiến bạn đọc thắc mắc đó là gì và có ý nghĩa như thế nào? Qua tìm hiểu WikiDinhNghia đưa ra lời giải đáp như sau.

Cờ lục sắc Lgbt gồm những màu nào và ý nghĩa ra sao?

Việc sử dụng hình nền hay khung viền hình đại diện trên mạng xã hội với 6 màu tương ứng với ý nghĩa về màu sắc:

  • Màu đỏ – dũng khí
  • Màu cam – nhận thức và khả năng
  • Màu vàng – thách thức
  • Màu xanh lá – sự khích lệ và phấn đấu
  • Màu xanh dương – hy vọng, sự chia sẻ, giúp đỡ và đấu tranh
  • Màu tím – sự thống nhất và hòa hợp.

Và được xem như là lá cờ, biểu tượng của cộng đồng Lgbt, 6 màu này được sử dụng chung cho cả cộng đồng LGBT, ngoài ra mỗi cộng đồng nhỏ trong LGBT lại có một biểu tượng riêng biệt, chẳng hạn như:

Cờ riêng của mỗi cộng đồng nhỏ trong Lgbt là gì?

  • Cờ của cộng đồng người toàn tính (Pansexual) gồm 3 màu: hồng – vàng – xanh da trời.
  • Cờ của cộng đồng song tính (Bisexual) gồm 3 màu: hồng – tím – xanh dương
  • Cờ của người vô tính (Asexual) gồm 4 màu: đen – xám – trắng – tím than
  • Cờ của cộng đồng người chuyển giới (Transgender) gồm 3 gam màu chia thành 5 dải màu, cụ thể như sau: xanh da trời- hồng- trắng- hồng- xanh da trời.

Phong trào này là do vào ngày 26/06/2015 vừa qua, Mỹ đã thông qua điều luật cho phép việc kết hôn những người đồng tính trên khắp cả nước Mỹ. Điều này đã có một sự không nhỏ và có thể được chứng minh như Ông chủ Facebook đã tham gia hưởng phong trào đó cùng với cộng đồng Lgbt qua việc thay đổi hình đại diện của mình có nền là cờ lục sắc 6 màu.

CEO của Apple là Tim Cook đã cùng các nhân viên của mình xuống đường để ủng hộ cho sự kiện này. Ngoài ra còn có người dân khắp đất nước cũng như nhiều quốc gia khác đồng thực hiện hưởng ứng.

Ở Việt Nam đông đảo các bạn trẻ cũng hưởng ứng bằng việc sử dụng hình nền đại diện có nền cờ lục sắc. Trước đây ở Việt Nam cũng có phong trào do cộng đồng Lgbt khởi xướng là “Tôi đồng ý” cũng được sự ủng hộ của rất nhiều người.

Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta việc kết hôn đồng tính, hay chuyển giới mãi đến năm 2014 mới được xóa bỏ theo Nghị Định tháng 10 năm 2013 của Nhà nước, được nhà nước công nhận là hợp pháp.

Biểu tượng lá cờ 7 màu của cộng đồng Lgbt có ý nghĩa gì?

Đọc đến đây chắc hẳn bạn đọc đang thắc mắc là phần trên là 6 màu xong xuống nội dung này là 7 màu là như thế nào khảo không ạ. Nguyên nhân là do trong thực tế, người ta sử dụng biểu tượng không có màu chàm và màu lam được thay bằng màu xanh cyan.

Do vậy mà biểu tượng cũng như lá cờ của cộng đồng Lgbt còn 6 màu. Còn trên lý thuyết là bao gồm 7 màu của cầu vồng gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím (red, orange, yellow, green, blue, indigo, violet). Mang ý nghĩa, tượng trưng cho tính cách, cá tính cũng như giới tính và đặc điểm của cộng đồng này.

Những người Lgbt nổi tiếng, quyền lực trên Thế Giới hiện nay

  • Greta Garbo (1905-1990)
  • Ruth Benedict (1887-1948)
  • Roberta Cowell (1918-2011)
  • Lili Elbe (1882-1931)
  • Gertrude Stein (1874-1946)
  • Marlene Dietrich (1901-1992)
  • Jane Addams (1860-1935)
  • Emily Dickinson (1830-1886)
  • Rosa Bonheur (1822-1899)
  • Frida Kahlo (1907-1954)
  • Chị em nhà Wachowski
  • Mary Kay Henry
  • RuPaul Charles
  • Tammy Baldwin
  • Anthony Romero
  • Ryan Murphy
  • Jill Soloway
  • Ellen DeGeneres
  • Anderson Cooper
  • Rachel Maddow
  • Stephen Fry
  • Ian McKellen
  • Elton John
  • Boy George
  • Billie Jean King
  • Và còn rất nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa.

Những khái niệm, thuật ngữ định nghĩa về cộng đồng LGBT là gì?

Đồng tính luyến ái nữ (Les là gì hay Lesbian là gì?)

Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c hoặc việc yêu đương hay quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c giữa những người cùng giới tính với nhau, trong một hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.

Với vai trò là một thiên hướng tính dục, chủ yếu và duy nhất đối với người cùng giới tính. Đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, hoặc hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c. Nó cũng là đánh giá thực về một cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.

Trong thang liên tục dị tính – đồng tính (Thang Kinsey), đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái được chia thành ba dạng chủ yếu của thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c con người.

Khi một biến thể có bản chất bình thường và tích cực của tính dục con người, không phải là một bệnh hay sự lệch lạc tâm lý và đặc biệt không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực.

Với sự đồng tình, chấp nhận từ cộng đồng cũng như từ phía Chính Phủ, nhiều người đồng tính nam, đồng tính nữ và đã đang sống trong mối quan hệ gắn kết, lâu dài. Thông qua các hình thức điều tra dân số mới nhận thấy con số đã có sự thay đổi tích cực, tạo điều kiện cho việc bộc lộ, công khai xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân của họ.

Nếu dựa trên những khía cạnh tâm lý thiết yếu thì những mối quan hệ này có thể hiểu là tương đương với các mối quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c khác giới, không có nhiều sự khác biệt.

Đồng tính luyến ái đã từng được ngưỡng mộ cũng như lên án trong suốt quá trình phát triển nhân loại được lịch sử ghi lại, tùy thuộc vào hình thức của nó và nền văn hóa mà nó diễn ra.

Từ cuối thế kỷ XIX đã có một phong trào trên phạm vi toàn cầu về xu hướng tăng khả năng bộc lộ, công khai thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân ở người đồng tính, công nhận pháp lý các quyền lợi hợp pháp cho những người đồng tính.

Trong đó có quyền kết hôn và các hình thức kết hợp dân sự, quyền nhận con nuôi và làm cha mẹ ở người đồng tính, các quyền liên quan đến việc làm, phục vụ trong quân đội, tiếp cận bình đẳng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự ra đời của luật chống bắt nạt để bảo vệ trẻ vị thành niên đồng tính đã được diễn ra và lan rộng trong suốt một thời gian dài.

Và không chỉ ở Con người, các nhà nghiên cứu khoa học về động vật chỉ ra hành vi đồng tính cũng rất phổ biến trong thế giới tự nhiên, được quan sát và ghi nhận ở khoảng 1.500 loài động vật.

Đồng tính luyến ái nam (Gay) là gì?

Có thể do thời đại đổi mới, nên suy nghĩ cũng tích cực hơn. Như trước đây những người nam bị thu hút về mặt tâm hồn và thể xác bởi con trai chứ không phải con trai, họ muốn là con gái, bị gọi dưới cái tên nghe không mấy dễ chịu là “Bê đê”.

Nhưng sau này, những cái tên như “bóng”, “Bóng kín, bóng hở”, “3D” hay “Gay” là 1 những từ chỉ nhóm người này. Thường với Nam mà là nữ thì gọi như vậy, còn với Nữ mà là nam thì họ hay gọi là “Les” hơn.

Giống như một mối quan hệ giữa con gái và con trai, mối quan hệ giữa hai con trai cũng bao gồm cả những rung động về mặt cảm xúc, tình cảm chứ không chỉ là hấp dẫn về thể xác như nhiều người lầm tưởng.

Không thể biết được một người là Gay hay không chỉ dựa trên bề ngoài đầu tóc, cách ăn mặc, đi đứng nói năng, … của họ. Vì có những “Gay” nam tính (Male) nhưng cũng có những “Gay” nữ tính (Bot). Tùy theo cách mà họ muốn thể hiện, với con người mà họ hướng tới thôi.

Song tính luyến ái (Bisex hay bisexual là gì?)

Song tính luyến ái hay lưỡng giới (tiếng Anh: bisexual) là mối quan hệ hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c của một người với cả hai giới tính nam và nữ. Là với người song tính luyến ái họ có thiên hướng với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình về mặt tình cảm, cảm xúc, hoặc cả t.ì.n.h d.ụ.c.

Lưỡng giới cũng chỉ sự công nhận về mặt cá nhân và xã hội đối với những người như vậy. Song tính luyến ái, cùng với đồng tính luyến ái và dị tính luyến ái là ba thiên hướng tính dục chính.

Những người không bị hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c với cả nam lẫn nữ thì ngược lại và được xếp vào nhóm còn lại tròn thang đo đồng tính, được gọi là vô tính (asexual).

Theo nghiên cứu của Alfred Kinsey về t.ì.n.h d.ụ.c loài người vào giữa thế kỷ 20, nhiều người không chỉ là dị tính luyến ái hoặc đồng tính luyến ái mà nằm giữa hai loại này. Kinsey đánh giá sự hấp dẫn và thể hiện t.ì.n.h d.ụ.c trên một thang 7 điểm bắt đầu từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái).

Theo nghiên cứu của Kinsey, phần lớn dân số thuộc loại từ 1 đến 5 (giữa dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái). Mặc dù phương pháp của Kinsey đã từng bị chỉ trích, thang đo này vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá sự liên tục của t.ì.n.h d.ụ.c loài người.

Tuy nhiên, các thuật ngữ bisexual (song tính luyến ái), heterosexual (dị tính luyến ái) và homosexual (đồng tính luyến ái) chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ 19 mặc dù Song tính luyến ái cũng như các trạng thái của giới tính đã được thấy trong nhiều xã hội khác nhau trong lịch sử trước đó và trong thế giới loài vật thông qua các tài liệu lịch sử.

Người chuyển giới (Transsexual/Transgender là gì)

Người chuyển giới (tiếng Anh: Transgender) hay còn gọi là hoán tính, là trạng thái tâm lý giới tính của một người không phù hợp với giới tính của cơ thể. Chẳng hạn, một người sinh ra với cơ thể nam nhưng cảm nhận giới tính mình là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam.

Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa. Và họ được gọi là người đã phẫu thuật chuyển giới khi họ nhờ tới sự can thiệp của y học chuyển giới theo giới tính mà họ mong muốn. Họ có thể thuộc nhóm t.ì.n.h d.ụ.c dị tính, đồng tính hoặc song tính luyến ái.

Một số khác có thể xem xét định hướng t.ì.n.h d.ụ.c thông thường không đầy đủ hoặc không áp dụng đối với họ. Người chuyển giới là nhóm người hoàn toàn độc lập với thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c.

Những người chuyển giới được mô tả là những người khi sinh ra đã mang sẵn một giới tính sinh học (dựa vào cơ quan s.i.n.h d.ụ.c để phân biệt), nhưng tâm lý của những người này cảm nhận rằng giới tính của họ không giống với giới tính mà thể xác của họ đang có.

Không phải tất cả những người chuyển giới đều muốn thay đổi cơ thể họ, mặc dù một số khác thì cảm thấy mong muốn điều này. Tuy nhiên, hầu hết những người chuyển giới đều mong muốn có thể hòa nhập với cộng đồng và có một vai trò trong xã hội phù hợp với giới tính mà tâm lý của họ tự xác định.

Thuật ngữ liên quan tới các dạng giới tính khác

– Asexual (Người vô tính – Nonsexuality) là gì?

Asexual (người vô tính) là những người không hoặc hiếm khi bị hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c với bất kỳ nhóm giới tính nào. Họ dường như thờ ơ với mọi quan hệ tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c trong xã hội. Người vô tính còn có tên gọi khác là Nonsexuality.

– Pansexual (Toàn tính luyến ái – Omnisexual) là gì?

Pansexual (toàn tính luyến ái) vẫn còn là khái niệm khá mới trong cộng đồng LGBT hiện nay. Toàn tính luyến ái được hiểu là những người bị cuốn hút bởi cái đẹp hoặc bất kỳ ai mang tới cảm xúc cho họ, mà không hề quan tâm tới giới tính người đó ra sao.

Toàn tính luyến ái khác với song tính đó là họ có xu hướng hấp dẫn với toàn bộ các giới tính khác nhau mà không chỉ giới hạn ở 2 (song tính). Toàn tính luyến ái còn có tên gọi khác là Omnisexual.

– Demisexual (Người khuyết tính) là gì?

Demisexual (người khuyết tính) hiểu đơn giản là những người ban đầu không có bất kỳ sự cuốn hút đối với giới tính nào.

Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, có một người xuất hiện, không quan trọng là giới tính nào, mang đến tình cảm cho họ, tạo cho họ một sợi dây cảm xúc thân thuộc, chặt chẽ, có thể hiểu là “rung động”, thì họ bị cuốn hút bởi người này. Người khuyết tính có thể coi là nằm lưng chừng giữa người toàn tính và người vô tính.

– Người dị tính (Queer) là gì?

Người dị tính (Queer) là thuật ngữ chỉ những người thuộc giới tính thứ 3 nói chung. Bao gồm toàn bộ người đồng tính, người vô tính, người toàn tính, song tính, khuyết tính…

Thuật ngữ khác liên quan tới LGBT

Nếu có cơ hội tiếp xúc, nói chuyện hay tham gia với cộng đồng Lgbt, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy có rất nhiều điều thú vị về họ, một phần ngôn ngữ được gọi là thuật ngữ Lgbt cũng là điều khiến bạn tò mò đấy. Ví dụ như:

– “Come out” trong LGBT là gì?

“Come out” trong LGBT được hiểu là hành động công khai giới tính thực của mình đối với xã hội sau khi người đó đã trải qua 1 quá trình tìm hiểu khám phá.

– Chứng sợ đồng tính (Homophobia) là gì?

Chứng sợ đồng tính (Homophobia)là ám chỉ những người có định kiến sâu sắc đối với những người đồng tính, dị tính nói chung. Đa phần những người này có thái độ tiêu cực, bài trừ, miệt thị… đối với cộng đồng LGBT.

– Hội chứng sợ người chuyển giới (Transphobia) là gì?

Như cái tên của nó đã nói lên tất cả. Đây là nhóm người mang cảm giác ám ảnh, ghê sợ đối với những người chuyển giới hay hành động chuyển giới. Có thể đối với những giới tính khác họ vẫn cảm thấy bình thường nhưng riêng chuyển giới mang tới cho nhóm người này sự bài xích vô cùng lớn.

“Gei” trong LGBTđược hiểu là bản thân người con gái hoặc một nhóm con gái thích một hoặc một nhóm con gái khác. Nếu như Gay là chỉ Nam x Nam thì Gei là cách nói vui chỉ Nữ x Nữ.

Một số khái niệm thông dụng khác trong cộng đồng LGBT

Ngoài LGBT, nếu bạn muốn tiếp xúc và tìm hiểu kỹ hơn về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới, nhất định bạn phải hiểu thêm về những thuật ngữ trong cộng đồng này để thuận tiện hơn trong giao tiếp cũng như kết bạn làm quen. Ví dụ như:

SB là gì? SB cứng, Sb mềm nghĩa là gì?

SB là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Soft Butch”- là loại trong Les. SB gồm 2 loại SBM (SB mềm) và SBC (SB cứng).

SB mềm: là những người có tính khí giống con trai, và luôn nghĩ mình là con trai. Nhưng khi thể hiện ra bên ngoài vẫn giống con gái và chỉ yêu thích con gái.

SB cứng là những les có phong cách, dáng vẻ, cử chỉ và cách ăn mặc như con trai. Nếu chỉ nhìn về bên ngoài thì bạn sẽ không biết đó là một cô gái.

Trans guys là từ dùng để chỉ một người là con gái nhưng khi nhìn vào thì không ai có thể phân biệt được vì bề ngoài giống hệt con trai.

Fem là viết tắt của từ Femme – les yểu điệu, là những người có hình dáng, cử chỉ và cách biểu hiện ra bên ngoài giống hệt một người con gái bình thường, nhưng chỉ yêu thích con gái.

Tom chính là từ viết tắt của Tomboy. Những người này có cá tính, cách ăn mặc, ngoại hình và cách thể hiện giống với con trai – khá giống với SB cứng.

Tuy nhiên, họ không hoàn toàn là les 100% vì hiện nay nhiều bạn nữ thích phong cách tomboy và thể hiện ra bên ngoài sự mạnh mẽ của mình mà thôi.

SB và Trans guys khác nhau như thế nào?

Có phải khi đọc xong SB cứng và Trans khiến bạn thắc mắc hai tên gọi này đều chỉ nhóm người giống nhau phải không? Vậy thì bạn sẽ có câu trả lời ở ngay đây.

Thực ra cả SB và Trans đều là những người có cơ thể ở dạng nữ nhưng thể hiện hành động và phong cách giống một người con trai. Nhưng nếu xét về mặt bản chất thì đây là hai khái niệm chỉ những dạng người khác nhau. Cụ thể như sau:

Tính cách: Nếu so sánh về mặt tính cách, cử chỉ thì Trans thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả SB cứng.

Nhìn nhận về cơ thể: Trans luôn mong muốn và gần như tìm mọi cách để biến mình thành một người con trai.

Trong khi đó, SB cũng mong muốn trở thành một người đàn ông, nhưng họ không hề ghét những đặc điểm nữ tính của mình; thậm chí những bạn SB mềm còn thể hiện ra vẻ ngoài không khác gì những cô nàng khác.

Gay là một từ thường xuyên bị sử dụng một cách nhầm lẫn. Trên thực tế, “gay” chính là từ chỉ người đồng tính, không chỉ riêng đồng tính nam

Bot hay Bottom hay thụ đều là những từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái bị động trong việc quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c. Có thể hiểu đơn giản là những người nằm dưới- đóng vai trò “vợ”.

Ngoài ra, với những bạn yêu thích nền văn hóa Nhật Bản, bot còn được biết với tên gọi “uke”. Đôi khi người ta cũng gọi những bạn bot thuần là “thuần 0”.

Ngược lại với bot, top hay công đều là từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái chủ động trong quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c – những người nằm trên, đóng vai trò “chồng”.

Tương tự như bot trong tiếng Nhật được gọi là “uke” thì top trong tiếng Nhật được gọi là “seme”. Nếu bot thuần được gọi là “thuần 0” thì top sẽ được gọi là “thuần 1”.

Nếu trong cộng đồng đồng tính có những người chuyên ở vai top hoặc bot thì cũng sẽ có những người có thể thay đổi vai trò của mình giữa bot và top liên tục. Có nghĩa là, với những người này họ có thể là top, nhưng với người yêu khác họ có thể là bot. Và họ được gọi là “center”- ở giữa.

Come out có nghĩa là “lộ diện”, là khái niệm dùng để chỉ sự công khai của những người trong cộng đồng LGBT với những người khác về xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c khác biệt của mình.

Hủ là từ thường được sử dụng để chỉ những cô nàng hoặc những anh chàng thích và bị thu hút bởi những cặp đôi nam – nam hoặc nữ – nữ.

Họ không phải là người đồng tính, nhưng họ rất ủng hộ và dễ cảm thấy phấn khích với các cặp đôi đồng tính trong truyện, trên phim ảnh thậm chí ngoài đời thực.

Hủ gắn liền với các khái niệm có liên quan như:

  • Hủ nữ: cô nàng thích những cặp đôi đồng tính
  • Hủ nam: anh chàng thích các cặp đôi đồng tính
  • Đam mỹ: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nam
  • Bách hợp: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nữ.

Làm sao để nhận biết một người là đồng tính hay song tính?

Làm sao để phân biệt, nhận biết giới tính của bản thân là gì có lẽ cũng là điều băn khoăn của nhiều bạn trong giới trẻ hiện nay.

Có những trường hợp họ bình thường, họ là nam, thích nữ nhưng khi quen, tiếp xúc với những người trong cộng đồng Lgbt họ bắt đầu nghi ngờ mình là giới tính gì vì họ bắt đầu chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh.

Hay như họ bị nói là “gay”, họ là con gái thích một người con trai nhưng sau đó nhận ra là người con trai đó “bóng” nên họ mong muốn mình thành con trai để yêu thương người kia… Từ đó việc bản thân là giới tính như thế nào đã cớ sự suy nghĩ, làm cách nào để biết được mình là đồng tính hay song tính.

Về cơ bản, người ta có thể không quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c mà vẫn biết xu hướng tính dục của mình thích người cùng giới, khác giới hay cả hai.

Mỗi người trong cộng đồng Lgbt dù là đồng tính, vô tính hay song tính cũng có trải nghiệm rất khác nhau. Có người biết mình là đồng tính hoặc song tính từ lâu, sau đó mới có quan hệ yêu đương, t.ì.n.h d.ụ.c.

Có người lại có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c trước (với những người cùng giới hay khác giới) rồi mới tự xác định xu hướng tính dục của mình.

Định kiến và phân biệt đối xử khiến nhiều người chối bỏ xu hướng tính dục của mình, vì thế việc nhận ra bản thân là đồng tính hay song tính có thể là một quá trình diễn ra từ từ, cũng có thể là một sự đấu tranh từ tư tưởng của bản thân đến sự mạnh mẽ bước ra thế giới bên ngoài.

Ngày kỉ niệm Lgbt của Liên Hiệp Quốc là ngày nào?

Liên Hiệp Quốc chọn ngày 17 tháng 5 hàng năm là “Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Lgbt) – IDAHO” (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia).

Ngày này được chọn để kỷ niệm sự kiện ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã “giải mã” thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và công bố loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Sự kiện 17/5 được tổ chức tại hơn 100 quốc gia, tại tất cả các khu vực trên thế giới từ năm 2004.

Sự kiện này được công nhận chính thức bởi nhiều Chính phủ và tổ chức quốc tế như Nghị viện Châu u và rất nhiều nhà chức trách địa phương. Hầu hết các cơ quan thuộc Liên Hiệp quốc cũng đánh dấu và kỷ niệm ngày này với các sự kiện cụ thể.

Các chính phủ, chính quyền các địa phương, các tổ chức nhân quyền, các doanh nghiệp và những người nổi tiếng đã có những hành động thiết thực, cụ thể ủng hộ sự kiện này…

Các quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính

Mỹ – 2021: Trước khi hôn nhân đồng tính được công nhận trên toàn nước Mỹ ngày 26/6, nhiều bang của quốc gia này đã cho phép các đôi nam hoặc nữ kết hôn như Massachusetts, New York, Washington, Hawaii, New Mexico…

Trong đó, thành phố San Francisco, Los Angeles, Miami từ lâu được xem là thánh địa của các đôi thuộc giới tính thứ 3.

Ireland, 2021: Đây là quốc gia đầu tiên trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng giới bằng cách trưng cầu dân ý với đa số tán thành. Tại đây, các đôi có thể thực hiện bộ ảnh cưới với những tòa lâu đài tuyệt đẹp.

Tuy nhiên, họ phải thông báo trước vài tháng về kế hoạch làm đám cưới của mình và ở lại Ireland ít nhất 15 ngày để được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Phần Lan – 2021: Quốc hội nước này đã thông qua luật hôn nhân sửa đổi cho phép các cặp đồng tính kết hôn với 105 phiếu thuận và 92 phiếu chống.

Slovenia – 2021: Tháng 3 vừa qua, quốc hội nước này cũng vừa thông qua dự luật về quyền tự do kết hôn. Dù đang chờ chữ ký của Tổng thống, dự luật này cũng cho phép các đôi thuộc cộng đồng Lgbt (đồng tính nam, nữ, song tính và chuyển giới) nhận nuôi con.

Luxembourg – 2014: Với số phiếu thuận áp đảo 54/6, đất nước này đã thông qua dự luật mở rộng quyền tự do kết hôn với các cặp đồng tính. Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettle là lãnh đạo đầu tiên trong Liên minh châu u (EU) kết hôn với người tình đồng giới.

Scotland – 2014: Đất nước này có nhiều điểm đến được xem như “thánh địa của người đồng tính”, như Glasgow, Edinburgh cùng đường bờ biển đẹp tuyệt.

Pháp – 2013: Sau khi được luật pháp chấp thuận, Vincent Autin và Bruno Boileau là đôi đồng tính đầu tiên tổ chức đám cưới ở Montpelier.

Ngoài ra, Marais và Riviera cũng là các thiên đường dành cho cộng đồng này với nhiều trải nghiệm lãng mạn trong kỳ trăng mật. Lễ hội cho người đồng tính ở Pháp thường tổ chức vào thứ 7 cuối cùng của tháng 6.

Anh – 2013: Ngoài các câu lạc bộ đêm ở London, Liverpool và Manchester cũng là những thiên đường vui chơi cho mọi người, đặc biệt là người thuộc giới tính thứ 3. Riêng Brighton còn được mệnh danh là “Thủ đô đồng tính”.

Brazil – 2013: Thành phố Rio de Janeiro cũng là địa điểm thân thiện với người đồng tính nhờ nhiều bãi biển đẹp, nhà hàng đẳng cấp và các trò vui chơi giải trí hấp dẫn cho đến đêm khuya.

Chủ nhật đầu tiên sau kỳ nghỉ Corpus Christi (thường là vào tháng 5 hoặc tháng 6), hàng triệu người sẽ tham gia lễ hội dành cho cộng đồng Lgbt ở Sao Paulo.

Uruguay – 2013: Là quốc gia thứ 3 ở Mỹ Latinh chấp nhận kết hôn đồng tính, nơi đây trở thành điểm đến an toàn và thân thiện cho cộng đồng này.

New Zealand -2013: Thông qua luật hôn nhân đồng tính chưa lâu, nhưng đất nước này từ trước đã tỏ thái độ ủng hộ khi đưa ra các khẩu hiệu thân thiện với du khách thuộc giới tính thứ 3, cũng như xây dựng một loạt nhà trọ, khách sạn dành riêng cho cộng đồng này…

Ở đây hay tổ chức các hoạt động vui chơi dành cho du khách đồng tính, trong đó nổi bật nhất là tuần lễ trượt tuyết được tổ chức ở thị trấn Queenstown vào trung tuần tháng 7 hoặc đầu tháng 8.

Đan Mạch – 2012: Ngay giữa trung tâm thủ đô Copenhagen có một quảng trường dành riêng cho người đồng tính với tên gọi “Quảng trường bình đẳng”. Nơi đây là một địa điểm tuyệt vời cho đôi tổ chức lễ thành hôn.

Liên Hiệp Quốc nêu quyền của cộng đồng Lgbt như thế nào?

Liên Hiệp quốc coi “Quyền Lgbt” (các quyền đối với cộng đồng Lgbt như: công nhận hôn nhân đồng giới đối với người đồng tính, cho phép chuyển đổi giới tính với người chuyển giới, công nhận hay cho phép nhận người Lgbt sinh con, nhận con nuôi… trong luật pháp) là vấn đề nhân quyền (quyền con người) và cần thực hiện tại các quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho biết, trong gần 80 quốc gia trên thế giới thì yêu thương một người nào đó cùng giới vẫn được coi là bất hợp pháp, và ở nhiều nước vẫn còn nhiều công dân bị từ chối quyền được sống theo bản sắc giới tính của họ.

Cùng với bất bình đẳng trong trong luật pháp, hội chứng kỳ thị và phân biệt đối xử đang hàng ngày diễn ra để từ chối những phẩm giá con người căn bản của hàng triệu người trên toàn thế giới..

Trong một cuộc họp vào tháng 5 năm 2012 của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR), Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon phát biểu: “Trong tài liệu báo cáo của OHCHR cho thấy có một sự vi phạm đáng lo ngại ở tất cả các vùng miền.

Chúng tôi thấy một hình ảnh của phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào những con người chỉ vì họ là người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính hay chuyển giới. Có một sự bất công phổ biến tại những nơi làm việc, trường học và bệnh viện, có cả các cuộc tấn công, bạo lực kinh khủng, bao gồm cả tấn công t.ì.n.h d.ụ.c.

Có những người Lgbt đã bị bỏ tù, tra tấn, thậm chí bị giết. Đây là một thảm kịch lớn cho những người phải chịu đựng, và là một vết nhơ bẩn đối với lương tâm chung của chúng ta. Nó cũng là một sự vi phạm luật pháp quốc tế.”

Một báo cáo của tổ chức GLAAD ban hành vào tháng 2 năm 2011 cho thấy, 90% số người chuyển giới phải đối mặt với nạn kỳ thị tại nơi làm việc và tỷ lệ thất nghiệp gấp đôi tỷ lệ chung của dân số.

Hơn một nửa số họ đã bị sách nhiễu hoặc bị từ chối khi cố gắng tiếp cận vào các dịch vụ công cộng. Các thành viên của cộng đồng người chuyển giới cũng gặp phải sự phân biệt đối xử cao độ trong vấn đề chăm sóc sức khỏe hàng ngày.

Thực trạng LGBT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

Quyền LGBT ở Việt Nam bao gồm những gì?

Về số lượng người đồng tính ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thực sự chính xác vì chưa có một cuộc thống kê chính thức mang tính quy mô và toàn diện được tổ chức. Theo ước tính của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số).

Một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Việt Nam hiện đang có khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính và chuyển giới ở độ tuổi 15-59.

Theo báo cáo từ tổ chức WHO của Liên hợp quốc thì khoảng 3% dân số có thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính, nếu lấy tỷ lệ này áp dụng cho Việt Nam thì hiện nay cả nước có khoảng gần 3 triệu người đồng tính.

Về số lượng người chuyển giới, năm 2021 Bộ Y tế Việt Nam cho biết đã nhận được gần 600 hồ sơ cá nhân đề xuất sửa đổi giới tính mới sau khi họ đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới.

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, quyền chuyển đổi giới tính chính thức được hợp pháp hóa tại Việt Nam sau khi Bộ luật dân sự sửa đổi 2021 cho phép chuyển đổi giới tính và thay đổi nhân thân, hộ tịch sau chuyển đổi được Quốc hội thông qua.

Từ cuối thập niên 2000, cùng với sự cởi mở hơn đối với giới LGBT ở các nước phát triển, LGBT ở Việt Nam bắt đầu được đề cập và nhìn nhận dần dần ở nhiều lĩnh vực. Cho đến nay, mặc dù hôn nhân đồng tính chưa được hợp pháp hóa, Việt Nam là nước dẫn đầu ở Đông Nam Á trong công nhận quyền lợi của LGBT.

Tuy nhiên, cũng tương tự như nhiều nước trên thế giới, nam có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c với nam ở đô thị vẫn tiếp tục là nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV, đây là một trong những thử thách lớn cho công tác tuyên truyền và các hoạt động phòng chống HIV.

Luật pháp LGBT ở Việt Nam

Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cấm kết hôn giữa những người đồng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” từ ngày 1 tháng 1 năm 2021.

Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8).

Các chính quyền trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ đưa ra luật về quan hệ đồng tính. Luật Hồng Đức có đề cập đến hãm hiếp, ngoại tình, và loạn luân nhưng không nhắc gì đến đồng tính. Chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính trong các thuộc địa.

Mặc dù mại dâm nữ là phạm pháp, luật pháp không đề cập gì đến mại dâm nam. Tuy nhiên, những hành vi đồng tính có thể bị khởi tố dưới các tội danh như “vi phạm luân lý”. Trong những trường hợp hiếm hoi mà hành vi đồng tính bị trừng phạt, tội danh là “ngoại tình” hay “hãm hiếp”.

Từ cuối thập niên 1990, một vài đám cưới đồng tính rất hiếm hoi xuất hiện nhưng đến cuối thập niên 2010 nhiều đám cưới được tổ chức khắp các tỉnh thành. Ngày 7 tháng 4 năm 1997, hãng thông tấn Reuters đưa tin về đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh giữa hai người nam.

Tiệc cưới diễn ra tại một khách sạn với 100 khách mời, và bị nhiều người dân phản đối. Ngày 7 tháng 3 năm 1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Sau các đám cưới này, Quốc hội thông qua quy định cấm hôn nhân đồng tính vào tháng 6 năm 1998.

Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã hội” cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy.

Năm 2008, chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định quy định việc “xác định lại giới tính” đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khác với người đồng tính, những người này là do bị dị tật bẩm sinh về thể xác, cần phẫu thuật để điều chỉnh lại bộ phận bị dị tật.

Tháng 7 năm 2012, Bộ Tư pháp đưa ra đề xuất sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, trong đó có thể công nhận hôn nhân đồng tính; Việc này làm nhiều báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam có khả năng trở thành nước châu Á đầu tiên công nhận hôn nhân đồng tính.

Tại một cuộc đối thoại trực tuyến, bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết “cá nhân tôi cho rằng, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính cần phải dựa trên những nghiên cứu hết sức cơ bản, những đánh giá tác động nghiêm túc trên rất nhiều khía cạnh xã hội và pháp lý như quyền tự do cá nhân, sự tương thích với văn hóa, tập quán của xã hội và gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm, hậu quả xã hội của quy định pháp luật…

Các vấn đề này đang được nghiên cứu trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Hôn nhân và Gia đình.”

Ngày 1 tháng 1 năm 2021, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000.

Tuy nhiên, theo Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” có ghi “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống

Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trong đó có quy định về chuyển đổi giới tính và các quyền, nghĩa vụ liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ đầu 2021. Điều 37, Bộ luật này quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật.

Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, Việt Nam chính thức hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính.

Những chuyện tình đồng tính Việt đẹp nhất được công khai trên truyền thông

Khi Việt Nam đã dần theo kịp xu hướng xã hội mới, tư duy và lối sống hiện đại, họ đã có cái nhìn thoáng hơn về cộng đồng LGBT. Ngày càng có nhiều người dám công khai giới tính và tìm đến hạnh phúc của cuộc đời mình.

Theo Nghị định của chính phủ năm 2013 về việc xóa bỏ những ngăn cấm và quyền hạn đối với những người đồng tính Lgbt thì năm 2021 được đánh giá là một năm khá trầm với các hoạt động của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu chuyện vui, những mối tình đẹp của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên cả nước làm tốn không ít giấy mực của báo giới.

Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi)

Đầu tháng 4/2016, lễ cưới ngập tràn hạnh phúc của cặp đôi anh Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi) đã được tổ chức tại Nha Trang, Khánh Hòa.

Trải qua hơn 18 năm yêu đương với bao khó khăn, trắc trở, từ bàn tay trắng rồi cùng nhau vượt qua bao gian nan của cuộc sống, cuối cùng họ đã đến được với nhau.

Lê Vũ Phong – Nguyễn Ngọc Phong: cặp đôi hơn nhau 21 tuổi

Lê Vũ Phong là một người đàn ông 42 tuổi. Anh tình cờ gặp được người bạn đời của mình – chàng trai trẻ Nguyễn Ngọc Tuấn Phong, 21 tuổi trong một lần lướt facebook.

Hai người đã có nhiều cuộc trò chuyện qua facebook mỗi tối, nhắn tin hỏi thăm nhiều hơn rồi cùng nhau đi ăn sáng, hẹn hò…

Cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung

Ngày 30/7, đám cưới đồng tính nữ của cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung đã gây xôn xao cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

Dù đã bước sang độ tuổi cũng ít người kết hôn, kể cả với người dị tính, tại nhà hàng Quảng Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đám cưới của 2 cô đã diễn ra trong sự chúc phúc của người thân, bạn bè.

Được biết, bà Nhung sinh năm 1971 còn bà Phương sinh năm 1964. Hiện bà Nhung đang sống ở Hải Phòng còn bà Phương là Việt kiều.

Sau đám cưới, hai người đã có khoảng thời gian hạnh phúc cùng nhau đi trăng mật. Đám cưới của 2 cô đã nhận được nhiều lời chúc phúc và ủng hộ của mọi người trên mạng xã hội.

“Tiến Thành x2”: Cặp đôi đồng tính cùng tên hot nhất Facebook

Cái tên Nguyễn Tiến Thành (Thành lớn) và Đặng Tiến Thành (Thành bé) được nhắc đến rất nhiều với cộng đồng LGBT trong năm 2021. Đơn giản, hai người đã có một chuyện tình đẹp và lãng mạn…

Quen nhau qua Facebook, hai chàng trai đã tiến đến với nhau như bao mối tình lãng mạn: đi ăn uống, hẹn hò, rồi tỏ tình…

Được sự ủng hộ của gia đình, cả hai đã thực sự được sống với niềm hạnh phúc mà bao người đồng tính luôn hằng tìm kiếm.

Khi được hỏi về việc có tổ chức đám cưới hay không, Thành cho biết: “Bọn mình nghĩ là yêu nhau thật lòng, nghiêm túc, sẽ nắm tay nhau lâu nhất có thể và nói với nhau rằng: “Ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt!”.

Có lẽ, đó là điều mà các cặp đôi đều luôn mong muốn trong cuộc đời này; không cần hứa hẹn gì cả nhưng hãy yêu nhau thật lâu, nắm tay nhau thật chặt vì “ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt”.

Chuyện tình lãng mạn của MC Ngọc Trang và Jay Lin

Cặp đôi của MC Ngọc Trang – Jay Lin được đánh giá là một mối tình siêu đẹp trong cộng đồng LGBT khi cả hai người đều khá nổi tiếng.

MC Ngọc Trang là gương mặt quen thuộc với nhiều khán giả của đài truyền hình Việt Nam (VTV) qua nhiều chương trình như “Vì bạn xứng đáng”, “Chìa khóa thành công – CEO”, “Mua sắm thú vị”, “Không gian nghệ thuật VTV1”, “Tạp chí đẹp”,…

Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom)

Những ngày cuối năm, cộng đồng LGBT tại Việt Nam lại ngập tràn tin vui khi được chứng kiến một đám cưới đồng tính nữa tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai; một đám cưới với tình yêu và sự chúc phúc của gia đình cả hai bên.

Tình cờ biết nhau qua mạng xã hội từ tháng 7/2015, Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom) đã tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng. Để rồi gặp nhau, hẹn hò và hiểu nhau hơn, mối tình lãng mạn của họ cũng lớn dần cho đến khi cả hai người quyết định làm đám cưới.

Từ những câu chuyện tình cảm với kết thúc có hậu trên đây có lẽ đã khiến trái tim bạn thêm phần nào đồng cảm và suy nghĩ tích cực về cộng đồng này hơn rồi phải không.

Mỗi một năm trôi qua là thêm một năm để chúng ta phát triển, thêm một năm hiện đại, cả thế giới đã công nhận cộng đồng này thì mỗi chúng ta là những bạn đọc trẻ, là tương lai của xã hội cần có cái nhìn khách quan hơn, tốt đẹp hơn.

【#6】Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Là Gì?

Chủ nghĩa xã hội khoa học là thuật ngữ được Friedrich Engels nêu ra để mô tả các lý thuyết về kinh tế- chính trị- xã hội do Karl Marx và ông sáng tạo. Thuật ngữ này đối lập với chủ nghĩa xã hội không tưởng vì nó trình bày một cách có hệ thống và nêu bật lên được những điều kiện và tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học đó là nó chỉ rõ con đường hiện thực dựa vào khoa học để thủ tiêu tình trạng người bóc lột người và đưa ra một tổ chức xã hội mới không biết đến những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản mà những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đã mơ ước nhưng không thực hiện được.

Theo các nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin thì chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt lý luận nằm trong khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Marx-Lenin, nghiên cứu sự vận động xã hội nhằm thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến tới xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo nghĩa hẹp thì chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Marx-Lenin. Chủ nghĩa xã hội khoa học đã dựa trên phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời cũng dựa trên những cơ sở lý luận khoa học về các quy luật kinh tế, quan hệ kinh tế… để luận giải một cách khoa học về quá trình nảy sinh cách mạng xã hội chủ nghĩa, hình thành và phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa, gắn liền với sứ mệnh lịch sử có tính toàn thế giới của giai cấp công nhân hiện đại, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội.

Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Marx-Lenin (bao gồm cả ba bộ phận). Nghĩa rộng của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lenin khẳng định: “chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Mác”. Vì triết học Marx lẫn kinh tế chính trị Marx đều dẫn đến cái tất yếu lịch sử là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo họ, những người lãnh đạo, tổ chức cùng nhân dân thực hiện sự nghiệp cách mạng lâu dài và triệt để đó chỉ có thể là giai cấp công nhân hiện đại, thông qua đảng của nó. V.I. Lenin nhận định: “bộ “Tư bản” – tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học… những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai”.

Nội dung quan trọng của lý thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đây là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một thành tích chủ nghĩa Marx – Lenin.

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân theo Marx và Engels là những người công nhân sẽ xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại

Sau này V.I. Lenin cũng phát biểu rằng:

Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

Luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được K. Marx và F. Engels trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Trong tác phẩm này các ông đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

  • Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản. Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
  • Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nặng nề, họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa.
  • Địa vị kinh tế – xã hội khách quan tạo cho họ khả năng làm việc đó, tức là khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp và khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh.
  • Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006
  • Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006
  • Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2003
  • Nhập môn Marx, Rius (Eduardo del Rio), người dịch: Nguyễn Hà, hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006
  • , Bộ Giáo dục và Đào tạo – Chủ biên: Lê Thế Lạng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2004 (tái bản có bổ sung, sửa chữa)
  1. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006, trang 8
  2. ^ Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006, trang 10
  3. V.I. Lênin: Toàn tập (tập 1), Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, năm 1974, trang 226
  4. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tập 20, trang 393
  5. V.I.Lênin: Toàn tập, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, năm 1980, tập 23, trang 1

【#7】Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì?

Coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế là một trong những bước đột phá lớn về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực tiễn, bao giờ và ở đâu cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội đương đại cũng cần có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo học thuyết Mác-Lênin, là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Vì thế, giai cấp vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh của mình, phải xây dựng được đội ngũ tiên phong của giai cấp, đáp ứng với mục tiêu phát triển của xã hội tốt đẹp đó. Theo V.I Lênin, giai cấp vô sản dù đã nắm được chính quyền, nhưng nếu không làm cho xã hội mới có trình độ phát triển cao hơn CNTB, thì giai cấp vô sản vẫn chưa xây dựng xong CNXH, thậm chí, “công cuộc xây dựng CNXH chỉ còn là một mớ sắc lệnh”(2). Trên thực tế, nếu xét đến cùng thì giải phóng xã hội vẫn phải được quyết định bởi năng suất lao động và tinh thần dân chủ. Đó là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của chế độ xã hội mới. Lênin từng chỉ ra: “CNTB chỉ có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn vì CNXH tạo ra nền dân chủ mới gấp triệu lần dân chủ tư sản và năng suất lao động mới cao hơn nhiều”(3).

Trên nền tảng lý luận Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Nhưng, “nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: CNXH không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”, để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu được giúp đỡ, các cháu bé thì được chăm sóc”(4). Người cũng chỉ rõ: “Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ”(5). Điều lớn lao nhất của cách mạng XHCN là phải xây dựng được nền tảng, vật chất của CNXH. Mà muốn xây dựng được nền tảng, vật chất cho CNXH, điều quan trọng nhất lại phải có những con người XHCN theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì ý nghĩa đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng gắn với CNXH, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến chủ thể xây dựng CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, chủ thể xây dựng CNXH là “những con người mới XHCN”. Đó là những con người “có tư tưởng và tác phong XHCN”, “có ý thức làm chủ Nhà nước”, “thấm nhuần sâu sắc tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà”, “biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ, đùn đẩy công việc”; đồng thời, phải biết “thắng được chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”, bởi nó là “kẻ địch nguy hiểm của CNXH”(6). Người còn chỉ rõ: CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”, “muốn xây dựng CNXH thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất… Muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng xuất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt”(7). Đây chính là một trong những tư tưởng đặc sắc, quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.

Các giá trị cốt lõi về lý luận, văn hóa, tinh thần ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta.

Lịch sử hiện nay đã có nhiều biến đổi, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và mạng lưới hóa thông tin đang ngày càng phát triển, lan tỏa đến từng lĩnh vực trên khắp thế giới, tác động mạnh mẽ đến quan điểm nhân sinh, quan điểm giá trị của con người. Điều đó làm cho loài người có thể cần phải trải qua một quá trình gian khổ để “định hướng lại triết học và văn hóa”. Sự định hướng ấy, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội và tác động trực tiếp đến việc xây dựng các giá trị con người, trong đó có con người XHCN.

Công cuộc đổi mới của đất nước ta cũng đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi cần có câu trả lời khiến cho mọi người tin phục về các giá trị của CNXH và những con người XHCN, tạo nên những trụ cột nâng đỡ tinh thần và khát vọng của đại đa số nhân dân. Trên thực tế, được thực tiễn soi rọi, Đảng ta đã từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu đó.

về CNXH và con đường đi lên CNXH. Thông qua sáng tạo lý luận, thúc đẩy sáng tạo trên mọi phương diện, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quy luật và tính quy luật phát triển của xã hội. Nếu như trước đây, nhận thức về CNXH chỉ đơn giản là “một xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB” với 3 thuộc tính cơ bản: Một là, xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai). Hai là, nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường. Ba là, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian mà ít quan tâm trên chất lượng,… Thì đến nay, Đảng ta đã định hình rõ nét và cụ thể hơn bằng một hệ thống quan điểm lý luận về CNXH. Trong đó, đã khái quát thành 8 đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).

Cùng với việc khái quát thành 8 đặc trưng nêu trên, Đảng ta đã xác định cụ thể hơn 8 phương hướng xây dựng CNXH và 8 mối quan hệ lớn về đổi mới phát triển XHCN(9). Nếu 8 đặc trưng là những nội dung định hướng XHCN, thì 8 phương hướng, chính là con đường đi lên CNXH,mô hình xây dựng CNXH trong thực tiễn của nước ta; 8 mối quan hệ có ý nghĩa là những quy luật, những tính quy luật mà công cuộc đổi mới, phát triển ở Việt Nam tất yếu phải tuân thủ.

Việc Đảng ta chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; xác định rõ về vị trí, vai trò các thành phần kinh tế, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;… là những bước đột phá lớn về lý luận, hướng cách mạng XHCN ở nước ta đi đúng với quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Điều đó, đã làm thay đổi quan trọng cách nhìn, cách đánh giá, ứng xử đối với kinh tế thị trường và nhất là với kinh tế tư nhân, những thành tựu của tư duy nhân loại mà CNTB làm, CNXH cũng phải làm.

Hệ thống các quan điểm nêu trên là những thành tựu nổi bật của đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta, khắc phục hoàn toàn tư tưởng “duy ý chí” về CNXH như trước đây. Bằng các quan điểm khoa học, sáng tạo, Đảng ta đã trả lời trực tiếp các câu hỏi: CNXH là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)? Mô hình, con đường, phương hướng đi lên CNXH như thế nào?

về con người XHCN, Đảng ta luôn xác định: Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là chủ thể sáng tạo lịch sử, là mục tiêu và động lực của đổi mới của CNXH. Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn chủ trương xây dựng hệ giá trị con người mới XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các định hướng giá trị con người Việt Nam XHCN được quán triệt trong xây dựng nền tảng văn hóa của thời kỳ đổi mới là: Con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

Cụ thể hóa các đặc tính cơ bản đó với tính cách là những chuẩn mực, thành những giá trị để giáo dục, thực hành, rèn luyện trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, chính là xây dựng con người XHCN. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng các giá trị biểu hiện lòng yêu nước; nhân ái, đạo đức, lối sống có nghĩa tình; lòng trung thực – thước đo phẩm chất cốt lõi của đạo đức, nhân cách, lối sống; tình đoàn kết, đồng thuận, hợp tác, cộng đồng chia sẻ trách nhiệm của con người trong hoạt động và ứng xử; phẩm chất mới cần rèn luyện trong đức tính cần cù trong xã hội hiện đại, trong nền sản xuất công nghiệp và trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức; sự sáng tạo để phát triển – một năng lực nổi bật, một giá trị ưu trội của con người và nhân cách trong hoàn cảnh đổi mới phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tính kế thừa thế hệ trong giáo dục giá trị; trong chiến lược phát triển con người, trong giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội… Đó chính là những điểm mới nổi bật trong phát triển tư duy lý luận của Đảng về con người Việt Nam XHCN thời kỳ đổi mới.

Đổi mới theo định hướng XHCN là một quá trình cách mạng hết sức sâu sắc, triệt để, thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ “bần cùng lạc hậu” và cái mới “tốt tươi”, để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải trải qua thời kỳ quá độ rất lâu dài và phải tuân thủ các bước đi như một tất yếu khách quan. Trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN như một loại hình “phát triển rút ngắn” với phương thức “quá độ gián tiếp” lên CNXH, đòi hỏi phải có những con người XHCN có trình độ, năng lực vượt trội, hay ít nhất cũng tương xứng với loại hình và phương thức phát triển đó.

Hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta tuy vẫn còn những khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng với kỳ vọng lớn lao của nhân dân, nhưng nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được là rất to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(10). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình bỏ qua những nỗ lực và thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền về “thế giới tự do” về sự “vĩnh hằng” của CNTB và sự sụp đổ của chế độ XHCN; mặt khác, khai thác triệt để những khuyết điểm của CNXH hiện thực, xuyên tạc về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng; núp dưới các chiêu bài đòi dân chủ đa nguyên chính trị và nhân quyền, kích động các lực lượng chống đối, can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta hòng khiến nhân dân ta xa rời con đường đi lên CNXH. Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi mục tiêu xoá bỏ CNXH, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “đế quốc, chết thì chết, nết không chừa”(11). Có khác chăng là trong tình hình mới, chúng sử dụng những sách lược, thủ đoạn mới tinh vi, hiểm độc hơn mà thôi.

Hơn bao giờ hết và hơn ai hết, hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải tiếp tục giác ngộ lập trường, tư tưởng, nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng, kiên quyết vạch trần những âm mưu xảo quyệt của các thế lực thù địch, cùng nhau phối hợp hành động, đẩy lùi và làm thất bại những thủ đoạn đen tối của chúng. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ về bản chất tốt đẹp của xã hội XHCN, của công cuộc đổi mới, từ đó, xây dựng hoài bão, lý tưởng cao đẹp của con người mới XHCN. Con người mới Việt Nam XHCN nhất định không thể yếu kém về năng lực, phẩm chất, càng không thể dao động, “a dua” với một số phần tử bất mãn, cực đoan. Cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên phải được tôi luyện như thế hệ cha ông đã từng tôi luyện trong chiến tranh: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Với ý chí kiên cường, sáng tạo và lòng tự tôn dân tộc, chắc chắn, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, dân tộc ta sẽ trường tồn phát triển, nhân dân ta sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi bần cùng lạc hậu, khỏi tụt hậu và không bị chệch hướng XHCN. Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng nhất định sẽ đi đến bến bờ./.

(1), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.13, tr. 66, 5, 376, 66-67, 69.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.42, tr. 37.

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr. 25.

(8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2011, tr.69-70, 70-73.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2021, tr. 66.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr. 474.

【#8】Quản Lí Là Gì? Quản Lí Nhà Nước Có Những Đặc Điểm Gì?

Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định.

– Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức.

– Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội.

– Đối tượng quản lý: tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau.

– Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố đó là: con người; hệ thống và tư tưởng chính trị; tổ chức; thông tin; văn hóa…

Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Ngày nay quản lý nhà nước bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành pháp của Chính phủ và hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp.

Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý hành chính nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với quản lý nhà nước vì:

– Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp, tức là hoạt động chấp hành và điều hành;

– Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức hành chính nhà nước trong hệ thống hành chính từ Trung ương đến cơ sở.

Như vậy, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân.

– Một là, quản lý hành chính nhà nước có tính quyền lực nhà nước;

– Hai là, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực hiện hàng ngày, tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra các quyết định quản lý hành chính và thực hiện các hành vi hành chính.

– Ba là, quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi các pháp nhân công quyền. Trong hệ thống này đứng đầu là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương, các cấp quản lý hành chính nhà nước địa phương.

Nếu bạn không có nhiều kinh nghiệm trong việc viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp. Bạn cần đến dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp đại học Hà Nội, Hồ Chí Minh,… để giúp mình xóa bỏ những rắc rối về lỗi gây ra khi không sử dụng thành thạo phần mềm này? Khi gặp khó khăn về vấn đề viết luận văn, luận án hay khóa luận tốt nghiệp, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước

Quản lý Nhà nước Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau:

– Quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực nhà nước –

Quản lý hành chính nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu

– Quản lý hành chính nhà nước có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt

– Quản lý hành chính nhà nước có tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng

– Quản lý hành chính nhà nước có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao

– Quản lý hành chính nhà nước có tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ

– Quản lý hành chính nhà nước ở nước ta không có sự tách biệt tuyệt đối giữa người quản lý và người bị quản lý

– Quản lý hành chính nhà nước không vì lợi nhuận

– Quản lý hành chính nhà nước mang tính nhân đạo. Quản lý nhà nước là hoạt động không thể thiếu của bất kỳ quốc gia nào, với tình hình kinh tế

– chính trị nhiều biến động như hiện nay, hoạt động này càng được chú trọng hơn. Mang tính quyết định trong việc thực hiện thành công các kế hoạch phát triển của cả đất nước.

【#9】Tìm Hiểu Kumanthong Là Gì? Cầu May, Bùa Ngải Hay Nuôi Quỷ?

Tìm hiểu Kumanthong là gì? cầu may, bùa ngải hay nuôi quỷ? đang là vấn đề hot làm mưa làm gió không chỉ trên mạng xã hội mà còn cả trong cuộc sống thực tế khi các thông tin có phần rùng rợn về loại bùa này được lan truyền. Để hiểu hơn thực hư về Kumanthong của người Thái thì chúng ta cùng tìm hiểu bài viết dưới đây.

Thời gian gần đây, hình ảnh diễn viên Ninh Dương Lan Ngọc ôm búp bê Kumanthong hay vụ cô nàng nhảy chung cư vì nghi vấn nuôi nhiều Kumanthong cùng các thông tin trái chiều có phần rùng rợn về loại bùa của Thái Lan này. Vậy Kumanthong là gì? Liệu nuôi Kumanthong giúp chủ nhân gặp nhiều may mắn, phát tài hay đó chỉ là lời đồn thổi?

Kumanthong là gì?

Kumanthong (có thể được viết Kuman Thong, Kuma-Tong) là tên gọi chung của các bức tượng làm bằng đồng, gốm, gỗ, nhựa, đất …, có hình dạng là một đứa bé với một khuôn mặt đang mỉm cười. Kuman Thong có nghĩa là Quỷ Linh Nhi, Cậu bé vàng. Bức tượng này chính là nơi ẩn náu cho linh hồn của các đứa bé đã chết (từ đứa trẻ chưa được chào đời, sinh ra cho tới trẻ 8 tuổi)

Theo tín ngưỡng của người dân Thái Lan thì KumanThong là loại bùa thần giám hộ huyền bí, mang tới cho gia chủ sở hữu phát tài và gặp nhiều may mắn khi làm thờ phượng chu đáo.

KumanThong có nguồn gốc từ thuật gọi hồn của thầy phù thủy, tức là người ta sẽ thu thập và sấy khô bào thai của phụ nữ mang thai đã chết. Sau đó, các thầy phù thủy sẽ gọi hồn và chấp nhận những đứa trẻ đã chết từ trong bào thai như con cái rồi dùng theo mục đích nhất định nào đó.

Do lòng trắc ẩn với những đứa trẻ chết trong bào thai, thiếu điều kiện được tái sinh ở nơi tốt hơn nên mà các nhà sư đã tạo ra Kumanthong, lấy bùa để giúp đỡ những đứa trẻ đó bằng việc đưa chúng vào nơi tạm thời để có thể trú ẩn như là bức tượng nhỏ hình trẻm, dây chuyền họa tiết.

Với những em bé chết ở trong bụng mẹ sẽ được nhà sư đưa vào hình tượng em bé đang nằm và mút núm vú giả. Còn với trẻ chết từ 2 – 8 tuổi thì các nhà sư đưa vào hình em bé đứng, ngồi. Các linh hồn hung dữ thì sẽ được pháp sư bịt mắt bằng chiếc vải màu đỏ.

Truyền thuyết về Kumanthong được nhà thơ nổi tiếng ở Thái Lan kể lại xuất phát từ một câu chuyện bi thảm. Trong câu chuyện đó có vị tướng trẻ tài giỏi tên là Kun Phanen và được thầy phù thủy quyền uy quý mến, ân sủng. Do yêu mến nên vị phù thủy quyến định gả con gái cho Kun Phanen.

Sau này, người vợ của Kun, tức là con gái của lão phù thủy mang thai, lúc này thì mối quan hệ giữa Kun và vị phù thủy bắt đầu bị rạn nứt. Đỉnh điểm của sự việc chính là vị phù phủ đã mưu hại Kun. Ông xúi con gái đầu độc chồng của mình. Tuy nhiên, sự việc này đã bị Kun phát hiện, sau đó là một loạt những thảm kịch xảy ra.

Do bị phản bội cộng thêm trong lòng muốn báo thù vị phù thủy, Khun đã trở thành quỷ dữ, sát hại vợ đang mang thai của mình dù rồi chạy ngồi đền linh thiêng ghi lời cầu nguyện. Sáng hôm sau, nghi lễ man rợ đã được diễn ra và hoàn thành, linh hồn con của Khun đã hóa thành bóng ma và trở thành “thiên thần hộ mệnh” bảo vệ Khun và mang tới cho Khun sự may mắn.

Có 2 loại Kumanthong, đó là:

– Loại Kuman Tà ngải (Lukkrok – Ngải ma con): Loại bùa có tác dụng là chuyên làm những việc làm gian ác, được tạo ra để làm hại người, đối thủ. Loại bùa ngải ma con này lại gồm có 4 loại là Phet Mằn, Phet Kong, Phet Đặp, Phet Sủn.

– Loại Kumanthong thứ 2, đây là dòng Kuman chuyên bảo vệ gia chủ, cầu tài cầu lộc, kéo khách và báo những điềm không may cho gia chủ biết. Loại kumanthong này gồm có Lukthep và Kuman phần lớn thờ thỉnh. Trong đó, loại kuman chia thành 2 loại là Kumanthong Phép trắng và phép đen.

Tại sao nuôi bùa ngải KumanThong ở trong nhà?

Các nhà sư tạo ra bùa với mục đích là giúp các linh hồn của trẻ được siêu thoát bằng việc giúp đỡ chủ nhân, nghe các kinh Phật để có thể xóa bỏ nghiệp ác ở trong quá khứ và tạo nghiệp lành. Sau khi xóa xong các nghiệp ác thì các linh hồn sẽ có cơ hội được tái sinh.

Tuy nhiên, không ai linh hồn trẻ em nào cũng trở thành bùa Kumanthong, điều này còn phụ thuộc nhiều vào nghiệp ác mà chúng đã làm ở đời trước.

Theo quan niệm, người phá thai ở trong quá khứ, khi họ chết đi và được tái sinh, họ sẽ phải đối mặt với số phận như thế, chết trong bụng mẹ. Hầu hết những thầy pháp sư và nhà sư đều có cách để có thể nhận ra nghiệp ác mà các linh hồn trẻ em làm ở kiếp trước.

Bên cạnh đó, bùa ngải Kumanthong được nhà sư tạo ra để cho các linh hồn trẻ em có cơ hội được yêu thương, cơ hội tạo và tích lũy nghiệm lành, giúp đỡ chủ nhân. Nếu như hoàn thiện được nhiệm vụ của mình, chúng được tái sinh.

Nếu như chủ nhân chăm sóc thật tốt cho bùa, linh hồn trẻ em ở bên trong sẽ giúp đỡ chủ nhân gặp may mắn, phát tài … Dù khi được tái sinh thì linh hồn sẽ vẫn trở lại để giúp đỡ cho chủ nhân. Tùy vào mong muốn của chủ nhân mà búp bê Kumathong làm điều xấu hay tốt.

Một chủ nhân tốt sẽ dạy Kumanthong tu luyện và tích lũy các nghiệp lành, ngược lại, chủ nhân xấu, không có trí tuệ sẽ dạy cho Kumanthong thực hiện các nghiệp ác.

Theo như các nhà sư Thái Lan cho biết, Kumanthong là đứa trẻ, trí tuệ còn mong manh nên dễ biến thành công cụ thực hiện các mong muốn của chủ nhân. Nếu như chủ nhân dạy Kumanthong làm điều ác, chủ nhân đó sẽ chịu luật nhân quả.

Vào thời hiện đại thì Kumanthong được tạo ra với mục đích là mang đến may mắn, tài lộc cho chủ cửa hàng để có thể bảo vệ chủ nhân khỏi các tổn hại và thu hút khách tìm đến.

Nuôi bùa ngải Kumanthong mang đến rất nhiều lợi ích nhưng mối quan hệ giữa mẹ con không được hòa thuận, nhất là với linh hồn trẻ con chịu tổn thương nhiều như Kumanthong.

Người Thái xem Kumanthong là bùa hộ mệnh cho mình, khi có Kumanthong ở bên cạnh, chủ nhân sẽ cảm thấy vui vẻ và gặp nhiều may mắn. Đối với người Thái, họ xem Kumanthong giống như Hồng hài nhi nên họ không gọi là thờ mà là nuôi, chăm sóc Kumanthong, đặt tên, cho ăn, cho uống như nuôi trẻ em. Theo tín ngưỡng, Kumanthong là ma, quỷ nhưng lại được nhiều người thờ trong nhà và ở trong chùa như thần.

Xây dựng ngôi đền thờ cúng Kumanthong

Theo quan niệm của nhiều người, Kumanthong có thể mang lại cho chủ nhân của mình may mắn, tài lộc nếu như được chủ nhân chăm sóc tốt nên khi đưa Kumanthong về nhà, mọi người thường thờ cúng nó cẩn trọng. Có người còn lập cả ngôi đền để thờ cúng. Có đi thì có lại và trong giới tâm linh cũng như thế. Nếu như bạn đã đưa Kumanthong về nhà, bạn cần có trách nhiệm chăm sóc tử tế cho nó.

Vì Kumanthong là đứa trẻ nên việc chăm sóc bùa chú này cũng rất khác. Nếu bạn nuôi Kumanthong thì bạn phải để nó ở nơi kín đáo có kệ riêng, nuôi dưỡng bằng ly sữa hay nước ngọt mỗi ngày và đặt những đồ chơi, những trang sức ở bên cạnh. Bạn cần thừa nhận nó có mặt ở bên bạn, nói chuyện hàng ngày. Như thế, “con ma” sẽ bảo vệ bạn và mang tới cho bạn những điều tốt đẹp.

Tuy nhiên, vì là đứa trẻ nên đôi khi kuman thong có tính nghịch ngợm và phá phách chủ nhân. Những lúc đó, người chủ lấy cây gậy gỗ đánh nhẹ và trách mắc nó với giọng điệu nghiêm khắc để trừng phạt nó. Còn nếu như người nào không đủ khả năng để chăm sóc nó thì họ đưa nó tới ngôi chùa nào đó rồi đi về.

Những câu chuyện có thật xoay quanh Kumanthong

Kumanthong đã trở nên quen thuộc với nhiều người ở nhiều quốc gia Đông Nam Á. Đối với những kẻ mê tín thì thứ bùa này rất nổi tiếng. Tới thời điểm hiện tại thì vẫn chưa có người nào dám khẳng định về quyền năng của Kumanthong, nhưn những chuyện đau lòng xoay quanh Kumanthong thì cũng không phải là không có ít. Chẳng hạn như vụ án đau lòng đã xảy ra ở Indonesia vào năm 1997, một tên sát nhân đã lấy đi tính mạng của 42 phụ nữ chỉ để luyện, tạo ra Kumanthong. Hay ở Việt Nam, gã thầy bùa đã giết 4 cô gái để tạo Thiên Linh Cái (tên gọi khác của Kumanthong) … Những vụ án này đã làm rúng động dư luận, khiến những người có liên quan phải đau lòng.

Dựa vào các vụ án xoay quanh Kumanthong thì phim điện ảnh Thiên Linh Cái đã ra đời, nói về câu chuyện về những con người mê tín, lầm đường lạc lối, không làm chủ trước thế giới bùa ngải.

Các ý kiến trái chiều về Kumanthong

Theo 1 bạn thì chơi với Kuamthong như chơi với quỷ, làm nó không vừa ý nó quật lại rồi chết không ai giúp được. Ngày trước chỉ có thầy mới dám nuôi, chỉ được cung phụng nó. Nếu nó không hài lòng cái gì đó là nó sẽ quay qua làm hại mình, có khi lấy mạng mình luôn.

Một bạn khác có tên Bui Hung cho biết, nuôi Kumanthong là con dao hai lưỡi. Nhiều người lợi dụng lừa đảo là có.

Hay một bạn khác tên Nhân Nguyễn cũng cho biết, “nuôi Kumanthong để được phù hộ hay có tài lộc, điều này là không tốt hay nói thẳng ra là ta được lợi rất ít mà nó sẽ hại ta từ tinh thần đến thể xác.”

Ban đầu, người dân ở Thái Lan quan niệm rằng búp bê được yểm bùa này sẽ giúp chủ nhân của nó gặp nhiều may mắn. Nhưng cảnh sát Thái Lan lại cho rằng, nó chính là một công cụ giúp cho các tội phạm cất giấu ma túy, che mắt các cảnh sát bởi ở sân bay quốc tế Chiang Mai, cảnh sát đã phát hiện và thu giữ tới 200 viên ma túy được giấu trong Kumathong hay việc đánh cắp bào thai đã chết, nhất là vụ 2000 bào thai ở một ngôi chùa tại Thái Lan bị phát hiện làm rúng động dư luận ở đất nước này. Do đó, làm Kumanthong đã được chính phủ Thái Lan ban ra lệnh cấm.

Từ vụ cô gái nhảy chung cư vì nghi vấn liên quan tới việc nuôi Kumanthong, diễn viên Lan Ngọc bế Kumanthong, Mạng xã hội cũng có nhiều hội nhóm dạy cách nuôi, chăm sóc Kumanthong xuất hiện nhiều hay video cô gái bế và cho Kumanthong uống coca.

Nếu như bạn nuôi Kumanthong và muốn thoát khỏi nó khi nó gây cho bạn nhiều rắc rối thì việc thoát khỏi nó không hề đơn giản chút nào. Cách diệt Kumanthong là bạn nên đến ngôi chùa có pháp sư cao tay thực hiện nghi lễ nhằm giải phóng bạn ra khỏi các gánh nặng chăm sóc linh hồn trẻ em đó.

Cho đến nay, sự thật về quyền năng của Kumanthong vẫn còn bỏ ngỏ, một lần nữa minh chứng cho việc thế giới tâm linh luôn là cánh cửa bí ẩn mà ngay cả giới khoa học cũng đang phải “đau đầu”. Nhưng một thực trạng đáng buồn là nhiều kẻ cũng đang lợi dụng niềm tin tâm linh, đánh vào tâm lý hoang mang nửa tin nửa ngờ của nhiều người để chiêu trò lừa đảo, kinh doanh Kumanthong cùng nhiều loại bùa chú khác vì mục đích lợi nhuận, gieo rắc những tư tưởng kỳ quái trong cộng đồng. Bản thân tác giả khi viết bài viết này cũng tìm hiểu và nghe nói về chuyện nhiều người tìm đến bùa Thái có hình trẻ em để cầu may, phá đối thủ trong làm ăn.

【#10】Hợp Âm 7 Là Gì, Cách Sử Dụng Ra Sao?

Đa số những người mới học đàn guitar đều rất ít khi biết đến các hợp âm phức tạp. Bởi vì có thể nói những hợp âm cơ bản đã chiếm đến khá nhiều những bài hát quen thuộc.

Tuy nhiên bạn sẽ có lúc gặp đến những bản nhạc có chứa các hợp âm có số 7. Vậy bạn biết tại sao lại có những hợp âm như vậy và có cần thiết để biết đến các hợp âm 7 không?

Tuy không thực sự phổ biến và được sử dụng nhiều trong đệm hát cũng như đánh solo nhưng hợp âm 7 rất quan trọng trong quá trình dò GAM cho bài hát và đoạn nhạc.

Trong những bài trước các bạn đã biết dùng luật 1-4-5 tìm 6 hợp âm căn bản để đệm các bài nhạc Việt phổ thông. Với một bài nhạc ở cung (chủ âm) Do trưởng (C) thì 6 hợp âm này là C, F, G , Am, Dm, E . Ðây là những hợp âm được tạo bởi 3 nốt ở bậc 1,3,5 ( hợp âm C gồm có Do, Mi, Sol, hợp âm F có Fa, La, Do v.v…) .Nay nếu thêm 1 nốt ở bậc 7 thì ta sẽ có 1 hợp âm tạo bởi 4 nốt, thí dụ G7 gồm Sol, Si, Re, Fa .

Tính chất của hợp âm 7 này ra sao và khi nào thì ta nên mang ra dùng trong bài nhạc? Nghe một hợp âm 7, ta sẽ có cảm giác không thuận tai, dường như có một cái gì không ổn, cần phải “giải quyết” bằng cách ngay sau đó trở về chủ âm thì mới êm tai.

Sử dụng hợp âm 7

Ðể đệm các bản nhạc Việt thì các bạn chỉ cần dùng hợp âm 7 tạo ở bậc 5 của âm giai. Thí dụ trong bộ 6 hợp âm dùng để đệm các bài nhạc cung Do trưởng (hay La thứ), thì chỉ có 2 hợp âm có thể chuyển qua hợp âm 7 là Sol7 ( hợp âm tạo ở bậc 5 của âm giai Do trưởng) và E7 (hợp âm tạo ở bậc 5 của âm giai La thứ).

Như thế thì trong túi bửu bối để đệm nhạc của bạn trước đây có 6 hợp âm, nay sẽ có 8 hợp âm. Với một bài nhạc cung Do trưởng (hay La thứ) nay sẽ có C, F, G, G7 và Am, Dm, E, E7.

Hợp âm 7 thường được sử dụng để chơi nhạc Jazz. Biểu đồ dưới đây để minh họa cho các hợp âm:

(ảnh)

Đồng thời nó cũng được sử dụng trong nhạc Blues. Nói chung với hợp âm 7, tạm thời bạn chỉ cần nhớ 3 điểm sau đây:

– Chỉ dùng hợp âm 7 cho những hợp âm ở bậc 5

– Sau khi dùng hợp âm 7 (ở bậc 5) thì chuyển về chủ âm. Thí dụ trong 1 bài nhạc ở cung C, sau khi dùng G7 thì chuyển về C ( hoặc sau E7 thì về Am) và thường dùng cặp hợp âm này ( G7 – C hoặc E7 – Am) ở cuối đoạn nhạc hay cuối bài

Ghi chú: Sau này khi đi vào thể nhạc blues thì các bạn sẽ thấy rằng tất cả các hợp âm căn bản đều được chuyển thành hợp âm 7 (chứ không chỉ hạn chế ở những hợp âm bậc 5 như đã nói trên). Hợp âm 7 là loại hợp âm rất thông dụng trong những thể nhạc trẻ hiện đại và có rất nhiều loại như Major 7th, Minor 7th, Minor/major 7th, Major 7th flat 5th, Major 7th sharp 5th, 7th flat 5th,7th sharp 5th, Minor 7th flat 5th, Diminished 7th v.v… mà chúng ta tạm thời chưa cần bàn đến.

Áp dụng hợp âm 7 khi đệm Guitar

Chúng ta thử áp dụng những gì đã bàn. Tạm thời bỏ qua việc ta có sẵn bản nhạc để phân tích, cũng tạm bỏ qua ca sĩ nhắc chúng ta về giọng. Phần này chúng ta chỉ xét việc dò dẫm hoàn toàn, ca sĩ hát và bạn theo đó để đệm. Cũng tạm bỏ qua về điệu, cứ coi như mọi bài ví dụ đều chơi rải hợp âm.

Bài Tình Nhớ – Trịnh Công Sơn.

Khi người ta vừa hát “Tình ngỡ đã quên đi…” thì bạn phải tìm ngay nốt của từ Tình nằm ở đâu. Giả sử bạn dò ra là nốt La(A). Nhiều bài của Trịnh Công Sơn có chủ âm là thứ, vì vậy áp dụng bài trước bạn có thể coi như chủ âm của bài này là Am (Sai thì mò lại). Áp dụng công thức 1-6-8 bạn sẽ có các hợp âm Am – Dm – E. Bạn cũng sẽ biết là Am sẽ chơi đầu và cuối bản nhạc. Đến đây bạn đã có thể áp hợp âm vào, thêm thắt theo kinh nghiệm hợp âm 7 chẳng hạn. Ví dụ:

Tình ngỡ đã quên đi như lòng cố lạnh lùng,

người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang,

ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều

như từng cơn nước rộng,

xoá một ngày đìu hiu.

Tình ngỡ đã phôi pha nhưng tình vẫn còn đầy,

người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây,

những bước chân mềm mại đã đi vào đời người

như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi.

*** Khi cơn đau chưa dài thì tình như chút nắng,

khi cơn đau lên dầy thì tình đã mênh mông,

một người về đỉnh cao một người về vực sâu,

để cuộc tình chìm mau như bóng chim cuối đèo.

Cách đàn đúng hợp âm

Tóm lại, khoan bàn tới vấn đề nhịp điệu như slow, boston hay rumba…Để đàn đúng hợp âm bạn cần:

  • – Tìm chủ âm bằng cách nghe người hát nói, phân tích từ bản nhạc, hay dựa vào tai nghe và kinh nghiệm.
  • – Từ chủ âm, dùng một trong hai qui luật 1-6-8 hay 1-4-5 đê tìm ra những hợp âm còn lại. Thêm một vài nếu có thể.
  • – Đặt chủ âm vào đầu bản nhạc. Mỗi ô nhịp thông thường là một hợp âm, luôn đổi hợp âm ở phách đầu tiên, nghĩa là nốt đầu tiên ngay sau vạch nhịp.