Đại Diện Theo Pháp Luật Tiếng Anh Là Gì? Định Nghĩa Theo Luật Mới Nhất !

--- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Luật Doanh Nghiệp 2021
  • Quy Định Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Công Ty Cổ Phần
  • Trách Nhiệm Của Người Đại Diện Theo Pháp Luật Doanh Nghiệp
  • Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Quy Định Chung Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật
  • Đại diện: Repsentative

    Pháp luật, Pháp lý: Legal

    + Loại hình doanh nghiệp ( Type of business)

    + Đặt tên doanh nghiệp ra sao? (How to Name the enterprise)

    + Ngành nghề kinh doanh (Business Line),

    + Xác định thành viên/ cổ đông góp vốn(Determination of members / shareholders to contribute company capital)

    + CHUẨN BỊ HỒ SƠ THÀNH LẬP CÔNG TY (PREPARATION OF ESTABLISHED COMPANY RECORDS) trong đó có Giấy tờ tùy thân(Identification), Hồ sơ đăng ký (The registration dossier)

    Điều 134. Đại diện – Quy định tại Bộ Luật dân sự 2021

    1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

    2. Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

    3. Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.

    Đại diện theo pháp luật có 2 loại: Đại diện theo pháp luật của cá nhânĐại diện theo pháp luật của pháp nhân.

    Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

    1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

    2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

    3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

    4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

    Điều 137. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân

    1. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm:

    a) Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

    b) Người có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật;

    c) Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

    2. Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của Bộ luật này.

    Điều 138. Đại diện theo ủy quyền

    1. Cá nhân, pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

    3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo uỷ quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

    Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

    Luật doanh nghiệp mới nhất 2014:

    Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

    2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

    3. Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

    4. Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

    a) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

    b) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

    5. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

    6. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

    7. Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

    Điều 14. Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

    1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:

    a) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;

    b) Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

    2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 15. Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là tổ chức

    1. Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức phải là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.

    2. Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc cử người đại diện theo ủy quyền thực hiện theo quy định sau đây:

    a) Tổ chức là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu ít nhất 35% vốn điều lệ có thể ủy quyền tối đa 03 người đại diện;

    b) Tổ chức là cổ đông công ty cổ phần có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có thể ủy quyền tối đa 03 người đại diện.

    3. Trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức cử nhiều người đại diện theo ủy quyền thì phải xác định cụ thể phần vốn góp, số cổ phần, cho mỗi người đại diện. Trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty không xác định phần vốn góp, số cổ phần tương ứng cho mỗi người đại diện theo ủy quyền, phần vốn góp, số cổ phần sẽ được chia đều cho số lượng người đại diện theo ủy quyền.

    4. Việc chỉ định người đại diện theo ủy quyền phải bằng văn bản, phải thông báo cho công ty và chỉ có hiệu lực đối với công ty kể từ ngày công ty nhận được thông báo. Văn bản ủy quyền phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

    a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông;

    b) Số lượng người đại diện theo ủy quyền và tỷ lệ cổ phần, phần vốn góp tương ứng mỗi người đại diện theo ủy quyền;

    c) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của từng người đại diện theo ủy quyền;

    d) Thời hạn ủy quyền tương ứng của từng người đại diện theo ủy quyền; trong đó ghi rõ ngày bắt đầu được ủy quyền;

    đ) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông và của người đại diện theo ủy quyền.

    5. Người đại diện theo ủy quyền phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

    a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

    b) Không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp;

    c) Thành viên, cổ đông là công ty có phần vốn góp hay cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ không được cử vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của người quản lý và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty làm người đại diện theo ủy quyền tại công ty khác;

    d) Các tiêu chuẩn và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định.

    Điều 16. Trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là tổ chức

    1. Người đại diện theo ủy quyền nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông tại Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật này. Mọi hạn chế của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đối với người đại diện theo ủy quyền trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông tương ứng tại Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông đều không có hiệu lực đối với bên thứ ba.

    2. Người đại diện theo ủy quyền có trách nhiệm tham dự đầy đủ cuộc họp của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông; thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ủy quyền một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất, bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền.

    B. CHUẨN BỊ HỒ SƠ THÀNH LẬP CÔNG TY

    1. Giấy tờ tùy thân

    Chứng minh nhân dân/ Hộ chiếu sao y có công chứng không quá 3 tháng và còn hiệu lực không quá 15 năm của đại diện pháp luật và thành viên góp vốn.

    2. Hồ sơ đăng ký

    – Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh

    – Điều lệ Công ty

    – Danh sách thành viên/cổ đông (TNHH 1TV, 2TV, Cổ phần)

    – Danh sách chứng chỉ hành nghề đối với ngành nghề cần chứng chỉ

    7. The legal repsentative

    Who is responsible for all business operations of the business, as the repsentative for the enterprise work, signing paperwork and procedures with state agencies, inpiduals or other organizations.

    – Position of repsentative is the Director (General Director) or the Chairman of the Board member / administrator.

    – The legal repsentative of the enterprise must reside in Vietnam; Absences in Vietnam for over 30 days must be authorized in writing to the other person as specified in the charter business to perform the rights and obligations of the legal repsentative of the business.

    – The foreignal repsentatives (including expatriates) must reside in Vietnam meant that the card must have a permanent residence in Vietnam

    B. PREPARATION OF ESTABLISHED COMPANY RECORDS

    1. Identification

    Identity card / passport copy notarized are not more than 3 months and valid not exceeding 15 years of legal repsentation and limited partners.

    2. The registration dossier

    – Request for business registration

    – Company rules

    – List of members / shareholders (Limited 1 member, 2 members, share)

    – List of practicing certificates for certificate needed trades

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp Theo Quy Định Pháp Luật
  • Người Đại Diện Theo Pháp Luật Là Gì?
  • Dư Luận Xã Hội Về Xây Dựng, Thực Hiện Pháp Luật Ở Nước Ta, Hot
  • Bài 1: Khái Quát Luật Dân Sự Việt Nam Ts. Bùi Quang Xuân
  • Khái Niệm Tư Vấn Pháp Luật Doanh Nghiệp Mà Doanh Nghiệp Nào Cũng Cần Phải Biết
  • Marketing Hiện Đại: Định Nghĩa, Khái Niệm, Cách Triển Khai

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Giữa Marketing Truyền Thống Và Marketing Hiện Đại
  • Định Nghĩa Marketing Truyền Thống Và Marketing Hiện Đại
  • Marketing Hiện Đại Và Marketing Truyền Thống Khác Gì Nhau
  • Marketing Mix Là Gì? Khái Niệm Về Marketing Mix
  • Marketing Mix Là Gì? Kiến Thức Tổng Hợp Cập Nhật
  • Chúng ta nên bắt đầu từ đâu?

    Trong trường hợp này, điều quan trọng là các doanh nghiệp cần có cái nhìn rõ ràng về thành phần cấu tạo nên một mô hình cho Marketing hiện đại (phụ lục 1). Mặc dù có lẽ các bạn đã quen thuộc với từng thành phần riêng lẻ, nhưng chúng tôi muốn các nhà lãnh đạo thấy được rõ ràng cách mà các thành phần tổ chức thành một mô hình gắn kết, sẽ giúp họ nhạy bén hơn khi theo dõi tất cả các yếu tố, và cách chúng nên hoạt động cùng nhau.

    (Phụ lục 1 – Nguồn: McKinsey)

    Marketing hiện đại đã cá nhân hóa hơn. Chúng được áp dụng giúp các nhãn hàng mang đến các dịch vụ và trải nghiệm đa dạng phù hợp với từng phân khúc khách hàng khác nhau. Ngày nay, mục tiêu của Marketing hiện đại là tận dụng dữ liệu từ tất cả các nguồn tương tác của khách hàng, từ đó truyền tải các chiến dịch Marketing 1:1 theo cách sáng tạo ngày càng nhiều càng tốt.

    (Phụ lục 2 – Nguồn: McKinsey)

    Có nhiều CMO nổi tiếng đã đạt được những tiến bộ trong việc phát triển bộ phận Marketing theo hướng hiện đại, nhưng cũng có không ít người không được đánh giá cao vì sự thiếu tiến bộ. Chúng tôi đã phát hiện ra rằng vấn đề cốt lõi ở đây là họ đã không tuân theo những thay đổi cần thiết và thiếu sự rõ ràng về sự phụ thuộc. Khi thiếu đi sự hiểu biết đó, chúng tôi thấy rằng mọi người thường có xu hướng làm việc theo những thứ họ biết rõ nhất hoặc thích nhất, và tự động bỏ qua các yếu tố khác.

    Mindsets: Suy nghĩ như một nhà Marketer hiện đại

    Trước khi bắt tay vào quy trình hiện đại hóa Marketing, có 3 sự thay đổi về mindset cần thiết cho quá trình hiện đại hóa đó.

    Để thúc đẩy tăng trưởng, các nhà lãnh đạo Marketing phải hợp tác với các phòng ban khác nhau của công ty, từ phòng kinh doanh bán hàng, nghiên cứu và phát triển, cho đến tài chính, công nghệ và nhân sự. Trên thực tế, nghiên cứu của McKinsey đã chỉ ra rằng các CMO (hoặc những người có vai trò tương tự, chẳng hạn như Giám đốc tăng trưởng hay Giám đốc khách hàng), sẽ hoạt động với tư cách là “người thống nhất”, làm việc với các C-Suite (nhà quản lý cấp cao) như một đối tác bình đẳng, sẽ thúc đẩy tăng trưởng lớn hơn so với những lãnh đạo không thực hiện việc này.

    Các CMO thống nhất thông qua ngôn ngữ và tư duy của các C-Suite khác, thể hiện được rằng Marketing có thể giúp đáp ứng những mong muốn và yêu cầu của họ, và đảm bảo rằng họ hiểu rõ vai trò của Marketing. Hơn nữa, hiệu quả của việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác này không chỉ dừng lại trong nội bộ C-Suite. Các CMOs nên đóng vai trò như một “tấm gương sáng” và đặt kỳ vọng cho từng thành viên trong team Marketing có thể hợp tác với các đồng nghiệp từ các phòng ban khác.

    Tất nhiên, việc đặt khách hàng lên hàng đầu không phải là một ý tưởng mới nữa. Nhưng điều khác biệt ngày nay là các Marketer có những con số rõ ràng chứng minh được rằng sản phẩm của họ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, tạo ra giá trị và mang lại lợi thế cạnh tranh. Các marketers hiện đại cũng phải nhận thức được những thách thức của sự đa dạng, sự phức tạp và quy mô rộng lớn mà họ phải đáp ứng để có thể thực hiện tốt chiến lược lấy khách hàng mục tiêu.

    Bạn phải đảm bảo được một số yếu tố sau: phương pháp tư duy tiếp cận được thiết kế để giải quyết “nỗi đau” (painpoint) của khách hàng và nhu cầu chưa được đáp ứng của họ; một nền tảng dữ liệu tập trung đem lại cái nhìn chính xác, thống nhất về khách hàng, được chọn lọc từ mọi điểm chạm có thể; các insights được tạo ra liên tục từ các phân tích hành trình khách hàng (customer journey); đo lường mọi nội dung người dùng nhìn thấy và tương tác; và cả việc tuyển dụng và phát triển những cá nhân tiềm năng, những người biết cách biến những insight của khách hàng thành những trải nghiệm phù hợp đối với họ.

    Bước đầu tiên cần nhận ra là nên đi sâu vào việc nghiên cứu các phân khúc khách hàng hơn bạn nghĩ. Các marketers đang phát triển các khả năng cho sự tương tác hiệu quả trên các phân khúc vĩ mô (microsegments).Bằng cách này, các bộ phận Marketing có thể hiểu rõ hơn về động lực và hành vi của khách hàng có giá trị. Họ cũng có thể tạo thêm những nỗ lực bằng cách đạt được thêm nhiều khách hàng và tạo ra lòng trung thành lớn hơn.

    3. Tư duy hoàn vốn đầu tư (ROI)

    Với sự phát triển của các kênh digital hiện nay cũng như những tiến bộ vượt bậc trong phân tích dữ liệu khoa học đã khiến việc các marketer chịu trách nhiệm cung cấp giá trị trên tất cả các kênh trở nên khả thi và cần thiết. Để vận hành với tư duy ROI, mọi người cần phải hoạt động như thể số tiền họ đang chi tiêu là từ tiền túi của họ. Điều này có nghĩa là họ phải giám sát chặt chẽ các khoản đầu tư, đưa ra các tiêu chuẩn để xác định những khoản không tạo ra giá trị và tạo ra văn hóa trách nhiệm trong đó các khoản đầu tư kém hiệu quả cần phải loại bỏ. Sự nghiêm ngặt về tài chính như vậy sẽ không chỉ giúp Marketing hoàn thành nhiệm vụ là một động lực thúc đẩy sự tăng trưởng; mà còn giúp họ xây dựng uy tín với CFO, mở ra thêm cơ hội đầu tư bổ sung và chứng minh giá trị của Marketing trong toàn bộ công ty.

    Trình hỗ trợ: Hoạt động như một Marketer hiện đại

    Để hiện đại hóa tiềm năng của Marketing, các tổ chức Marketing cần nâng cấp 4 trình hỗ trợ hoạt động cơ bản.

    Để hỗ trợ các hoạt động Marketing hiện đại, các công ty có thể thực hiện một số hành động thiết thực, bao gồm:

    • Khuyến khích sự thành công theo nhóm: Vì việc cung cấp giá trị cho công ty như là một team thể thao đa chức năng, nên bộ phận Marketing cần một nền văn hóa không chỉ tập trung vào thành tích cá nhân mà còn hướng tới cả mục tiêu chung, hiệu suất công việc của team và một trách nhiệm chung. Điều này có nghĩa là các bộ phận Marketing cần phải thay đổi về các tiêu chí khen thưởng, công nhận và đánh giá tài năng, đơn cử như việc thiết lập KPIs của team gắn với các chính sách khen thưởng cá nhân. Những nhân viên xuất sắc cũng nên nhận thức được mục đích và động lực của cả team, xuất phát từ một môi trường mang lại năng lượng và nhiệt huyết. Điều này sẽ không xảy ra tình cờ mà cần sự nỗ lực của cả team.
    • Nâng cao vai trò của phân tích và insight khách hàng: Vì mindset lấy khách hàng làm trọng tâm và mindset về ROI đóng vai trò quan trọng đối với các marketers hiện đại, nên những khả năng phân tích và hiểu insight khách hàng sẽ hỗ trợ rất lớn trong Marketing hiện đại. Trong một số bộ phận/tổ chức Marketing hiện đại, chúng sẽ có một vai trò nổi bật và như một nhà lãnh đạo báo cáo trực tiếp cho CMO. Điều này đóng vai trò như một lời nhắc nhở rằng tiếng nói và hành vi của khách hàng phải là trung tâm của mọi thứ và không nên thực hiện các hoạt động marketing nào mà không có sự hỗ trợ của những hiểu biết về khách hàng và khả năng đo lường hiệu suất của các hoạt động.
    • Gia tăng các hoạt động Marketing: Marketing Operations (vận hành Marketing) đóng một vai trò xương sống, rất cần thiết cho mọi tổ chức/bộ phận Marketing hiện đại muốn đi nhanh và phát triển linh hoạt. Để đảm bảo rằng những chi tiêu, công nghệ và quy trình Marketing đều được quản lý và đem lại hiệu quả tối đa, các công ty đều có một lãnh đạo vận hành Marketing – cũng sẽ chịu trách nhiệm báo cáo cho CMO. Trong một số trường hợp, Marketing Operations sẽ tồn tại như một dịch vụ chia sẻ hoặc vai trò trung tâm trong toàn bộ hoạt động Marketing. Trong một vài doanh nghiệp khác, nó sẽ được phân phối trên nhiều đơn vị vận hành để cung cấp khả năng thực thi độc lập. CÓ những Marketing Operations đã từng đem lại sự cải thiện từ 15-25% hiệu quả Marketing, cho doanh nghiệp được đo bằng lợi tức đầu tư và các số liệu từ sự tương tác khách hàng. Chẳng hạn, một công ty dịch vụ tài chính toàn cầu đã phát hiện ra bằng cách áp dụng CNTT vào các hoạt động Marketing, doanh thu có thể tăng thêm 25% và 100 triệu đô la mỗi năm.

    Cho đến nay, thay đổi lớn nhất trong việc thiết kế các tổ chức Marketing là sự chuyển đổi sang dạng Agile Marketing – là một chiến lược hiệu quả của tổ chức, sử dụng các nhóm tự tổ chức, đa chức năng thực hiện công việc trong các vòng lặp thường xuyên. Nó nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng bằng cách tập trung nỗ lực của nhóm vào những người mang lại giá trị cho khách hàng cuối. Là một mô hình phi tập trung, đa chức năng, Agile Marketing là một yếu tố rất quan trọng giúp gia tăng tốc độ các hoạt động Marketing. Ngay cả các tổ chức Marketing có hiểu biết về digital nhất cũng đã đạt được sự tăng trưởng doanh thu từ 20-40% nhờ vào việc chuyển sang mô hình Agile Marketing.

    Hình thành các nhóm nhỏ, được gọi là các đội, làm việc ở cùng một nơi và có thẩm quyền ra quyết định để thực hiện các nhiệm vụ tập trung cao độ. Tổ chức các nhóm nhỏ làm việc xoay quanh khách hàng mục tiêu để đảm bảo được tất cả mọi người trong nhóm được kết nối với khách hàng. Đưa ra chỉ số KPIs rõ ràng, chẳng hạn như đem lại một lượng khách hàng mới hay một mục tiêu doanh thu cụ thể, đảm bảo rằng mọi thứ đều được đo lường và đánh giá.

    Tuy nhiên, mở rộng quy mô Agile Marketing đòi hỏi nhiều hơn việc thay đổi sơ đồ tổ chức hay tạo ra các sự hợp tác đa chức năng. Các nhóm này cần có sự tham gia hỗ trợ từ các bộ phận khác như Pháp lý, CNTT, tài chính và thường là cả các agency đối tác. Nếu không có sự hỗ trợ từ các bộ phận này, các nhóm Agile Marketing sẽ bị giới hạn trong một phạm vi nhỏ với những tác động hạn chế.

    • Tuyển dụng những vị trí quan trọng cho công ty (insource): Mặc dù không có một mô hình cụ thể nào mô tả các chức năng mà một tổ chức Marketing nên có, nhưng việc tuyển dụng sẽ có ý nghĩa hơn khi bạn mong muốn sở hữu các dữ liệu và nền tảng công nghệ thông tin; khi công ty muốn tìm kiếm những năng lực vượt trội trong một lĩnh vực nhất định; hay tuyển dụng cho công ty sẽ giúp tăng tốc đáng kể tốc độ ra thị trường và cho phép liên tục tạo ra, thử nghiệm và sửa đổi các chiến dịch.
    • Tuyển chọn những nhân tài “đa-zi-năng”: Ngày nay, vai trò của các nhân viên “in-house” đòi hỏi phải có bộ kỹ năng rộng hơn, với sự kết hợp cân bằng giữa các kỹ năng não trái và não phải. Điều này có nghĩa là, ví dụ, các nhà sản xuất nội dung và các designers có kinh nghiệm cũng phải có kỹ năng làm việc với số liệu, các marketers làm việc dựa trên phương tác marketing theo hướng dữ liệu, luôn sẵn sàng với những ý tưởng mới lạ, độc đáo và đến gần hơn với khách hàng. Nghiên cứu của McKinsey cho thấy các công ty có thể tích hợp thành công giữa phân tích số liệu và khả năng sáng tạo sẽ giúp gia tăng doanh thu với tỷ lệ trung bình gấp đôi so với chỉ số S&P 500 (là một chỉ số thị trường chứng khoán đo lường hiệu suất cổ phiếu của 500 công ty lớn được niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán ở Hoa Kỳ). Quan trọng nhất là, các tổ chức Marketing hiện đại ngày nay không cần một người quản lý để quản lý con người, thứ họ cần là tất cả mọi người đều có thể quản lý đầu ra và theo dõi hiệu suất.
      Thúc đẩy phong cách quản lý tập trung vào ROI: Trong bối cảnh mà khả năng tự trị, tự quản được đánh giá cao, các bộ phận Marketing được giao nhiệm vụ và được yêu cầu tự “xoay sở” với nó, các nhà quản lý cần thoải mái thiết lập một chỉ số KPIs cụ thể, giám sát đầu ra và theo dõi hiệu suất của các nhóm Agile Marketing.

    Trong Marketing truyền thống, các số liệu chỉ giúp bạn nhìn lại hành vì của khách hàng trong quá khứ và đo lường hiệu quả của các chiến dịch hiện tại. Còn với Marketing hiện đại ngày nay, người ta phân tích dữ liệu để hoạch định ra các chiến lược tương lai. Chúng dự đoán nhu cầu chưa được đáp ứng của khách hàng, xác định các cơ hội tiềm năng và giải quyết được “điểm đau” của khách hàng một cách tinh tế.

    Tạm kết

    Phân tích dữ liệu cũng có thể đưa ra những dự đoán về hoạt động marketing tốt nhất tiếp theo cần thực hiện, bao gồm kết hợp đúng các thông điệp thương mại (như bán chéo, upsell hoặc duy trì khách hàng) và các hành động tương tác (sáng tạo nội dung, educate khách hàng hoặc gia tăng độ thân thiết các mối quan hệ).

    Tô Linh – MarketingAI Theo McKinsey

    Để thực hiện điều này, dữ liệu phải được tập trung và dễ dàng truy cập để hoạt động trên một kênh có thể hỗ trợ ngay lập tức theo thời gian thực, hoặc gần với thời gian thực. Thay vì cách tiếp cận truyền thống, Marketing hiện đại là kỷ nguyên của CNTT, nơi CNTT đi đầu trong quản lý dữ liệu, và các CMO cần làm việc nghiêm túc với các nhà lãnh đạo CNTT (CTO) để phát triển tầm nhìn chung cho các phần mềm dữ liệu được truy cập và sử dụng.

    Với việc tốc độ thay đổi trên thị trường ngày càng gia tăng, việc thành lập một bộ phận Marketing theo hướng hiện đại chính là ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp hiện nay. Khâu tuyển chọn con người đương nhiên là quan trọng nhưng các nhà lãnh đạo cũng phải hiểu được bản chất của Marketing hiện đại là gì và cách vận hành, triển khai nó ra sao để có thể đưa ra những quyết định, đường hướng phát triển đúng đắn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Của Luật Tố Tụng Hành Chính Với Các Ngành Luật Khác
  • Khái Quát Về Ngành Luật Tố Tụng Hành Chính
  • Hệ Thống Ngành Luật Hành Chính
  • Đề Tài Phân Tích Khái Niệm Năng Lực Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Và Chỉ Rõ Sự Khác Biệt Giữa Năng Lực Chủ Thể Của Cá Nhân Với Năng Lực Chủ Thể Của Cán Bộ Công Chức
  • Tiểu Luận Phân Tích Khái Niệm Năng Lực Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Và Chỉ Rõ Sự Khác Biệt Giữa Năng Lực Chủ Thể Của Cá Nhân Với Năng Lực Chủ Thể Của Cán Bộ Công Chức
  • Những Định Nghĩa, Khái Niệm Về Quản Trị Logistics

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Trị Logistic Và Chuỗi Cung Ứng
  • Logistics Là Gì ? Khái Niệm Về Ngành Logistics
  • Làm Kế Toán: Khái Niệm Trung Tâm Logistics Cảng Biển
  • Quy Hoạch Trung Tâm Logistics Trên Cả Nước
  • Sự Khác Biệt Giữa Nhà Kho Và Trung Tâm Phân Phối
  • Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Page 1

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Page 2

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management -SCM)

    Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà quản trị chuỗi cung ứng:

    “Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên

    quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị

    logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và

    cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các

    nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp

    vấn đề quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi

    cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng

    kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các

    công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính. Quản trị

    chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng như

    những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về qui trình và hoạt động của

    các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông

    tin.”

    Thông qua định nghĩa trên, chúng ta thấy:

    – logistics là quá trình quản trị, là chức năng quản trị cơ bản của doanh nghiệp

    thương mại; kinh doanh thương mại là kinh doanh dịch vụ logistics.

    – Logistics thương mại là quá trình dịch vụ khách hàng thông qua các hành vi

    mua bán hàng hóa.

    – Nhu cầu của khách hàng trong logistics là nhu cầu mua hàng: những lợi ích

    có được trong khi mua hàng_ dịch vụ mặt hàng về số lượng, cơ cấu và chất

    lượng; nhu cầu dịch vụ về thời gian, tốc độ, độ ổn định và tính linh hoạt;

    nhu cầu dịch vụ về địa điểm , và nhu cầu bổ sung.

    1.2Các thành phần cơ bản của logistics:

    Theo quan điểm của Ronall Ballou thì logistics là tập hợp các hoạt động chức

    năng được lặp đi lặp lại trong chuỗi cung ứng, nhờ đó nguyên vật liệu được

    Nhóm 08

    Page 3

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    biến đổi thành thành phẩm và nhờ đó giá trị của chúng được tăng thêm trong

    mắt khách hàng. Do đó,logistics là những hoạt động diễn ra trong chuỗi cung

    ứng, bao gồm:

    a) Dịch vụ khách hàng:

    Hoạt động này tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ được trao

    đổi. được đo bằng hiệu số giá trị đầu ra và giá trị đầu vào thể hienj qua sự

    hài long của khách hàng.

    b) Hệ thống thông tin:

    Bao gồm thông tin trong nội bộ từng tổ chức( DN, NCC, KH). Thông tin

    trong từng bộ phận chức năng của doanh nghiệp, trong các khâu dây chuyền

    cung ứng(kho tang, bến bãi, vận tải…)….

    c) Quản lý dự trữ: trong thực tế thì hoạt động dự trữ là rất càn thiết, song nó rất

    tốn kém về chị phí. Vì vậy, quản lý dự trữ tốt sẽ giúp DN cân đối giữa vốn

    đầu tư và các cơ hội đầu tư khác.

    d) Quản trị vận chuyển:quản trị vận chuyển tốt sẽ góp phần đưa sản phẩm đến

    đúng lúc, đúng nơi, đảm bảo yêu cầu khách hàng.

    e) Quản trị kho hàng: bao gồm việc thiết kế mamgj lưới kho hàn, tính toán quy

    mô và trang bị các thiết bị nhà kho, tổ chức nghiệp vụ kho….

    f) Quản lý vật tư và mua hàng:bao gồm việc xác định nhu cầu vật tư, hàng hóa;

    tìm kiếm và lựa chon NCC; tiến hành mua sắm, tổ chức vận chuyển, tiếp

    nhận và lưu kho, bảo quản và cung cấp cho người sử dụng…

    1.3 Vai trò của logistics đối với sự phát triển kinh tế:

    1.3.1: đối với nền kinh tế quốc dân:

    Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng vai trò quan trọng không thể thiếu

    trong sản xuất, lưu thông và phân phối. Theo các nghiên cứu gần đây cho thấy

    logistics chiếm khoảng 10-15 % GDP của hầu hết các nước ở Châu Âu, Bắc

    Mỹ, Châu á- Thái Bình Dương.

    Phần giá trị gia tăng tạo ra ngày càng lớn vì các tác động của nó thể hiện rõ qua

    các khía cạnh sau đây:

    Nhóm 08

    Page 4

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Nhóm 08

    Page 5

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Nhóm 08

    Page 6

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Page 7

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    11,1 tỷ USD. Đây là một khoản tiền rất lớn. Nếu chỉ tính riêng khâu quan trọng

    nhất trong logistics là vận tải, chiếm từ 40-60% chi phí thì cũng đã là một thị

    trường dịch vụ khổng lồ.

    Thực tế logistics ở Việt Nam.

    1.Về nguồn nhân lực.

    Nguồn nhân lực đang thiếu một cách trầm trọng. Theo ứơc tính của VIFFAS,

    nếu chỉ tính các nhân viên trong các công ty hội viên (khỏang 140 ) thì tổng số

    khỏang 4000 người. Ðây là lực lượng chuyên nghiệp, ngoài ra ước tính khỏang

    4000-5000 người thực hiện bán chuyên nghiệp. Nguồn nhân lực được đào tạo

    từ nhiều nguồn khác nhau. Từ trước tới nay, các trường đại học, cao đẳng

    chuyên ngành ngoại thương, hàng hải, giao thông vận tải cũng chỉ đào tạo

    chung các kiến thức cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương, vận tải. Sách giáo

    khoa, tài liệu tham khảo về loại hình dịch vụ này cũng chưa nhiều. Ngay cả

    như các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệp trong lĩnh vực này vẫn còn

    quá ít so với yêu cầu phát triển.

    Nguồn nhân lực đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào cũng đều là yếu tố quyết

    định sự thành công của doanh nghiệp đó trên thương trường. Trong những năm gẩn

    đây, ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh chóng, từ

    một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 90 đến nay đã có

    hơn 600 công ty được thành lập và hoạt động từ Nam, Trung, Bắc. Theo thông tin

    từ Sở kế hoạch đầu tư chúng tôi thì trung bình mỗi tuần có một công ty giao nhận,

    logistics được cấp phép hoạt động hoặc bổ sung chức năng logistics. Sự phát triển

    ồ ạt về số lượng các công ty giao nhận, logistics trong thời gian qua là kết quả của

    Luật doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-1-2000 với việc dở bỏ rất nhiều

    rào cản trong việc thành lập và đăng ký doanh nghiệp. Hiện nay, đối với doanh

    Nhóm 08

    Page 8

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    nghiệp làm dịch vụ giao nhận, logistics tại Việt Nam, vốn và trang thiết bị, cơ sở

    hạ tầng, ngay cả các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn của ngành cũng không còn là

    rào cản nữa và lợi nhuận biên (profit margin), lợi nhuận trên vốn tương đối cao

    (theo các thống kê ở mức trung bình ngành vào khoảng 18-20%). Cứ theo đà này

    thì trong vài năm nữa Việt Nam sẽ vượt cả Thái Lan (1100 công ty),

    Singapore(800), Indonesia, Philipin (700-800) về số lượng các công ty logistics

    đăng ký hoạt động trong nước. Các công ty giao nhận nước ngoài, mặc dù các quy

    định về pháp luật Việt Nam chưa cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước

    ngoài, bằng cách này, cách nọ cũng thành lập chừng vài chục doanh nghiệp, chủ

    yếu tại chúng tôi Việc phát triển nóng của ngành logistics theo chúng tôi là điều

    đáng lo ngại do các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, xét về quy mô (con người,

    vốn, doanh số…) vẫn rất nhỏ bé, ngoại trừ vài chục doanh nghiệp quốc doanh và

    cổ phần là tương đối lớn (từ 200-300 nhân viên), số còn lại trung bình từ 10-20

    nhân viên, trang thiết bị, phương tiện, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chủ yếu mua

    bán cước tàu biển, cước máy bay, đại lý khai quan và dịch vụ xe tải, một số có thực

    hiện dịch vụ kho vận nhưng không nhiều. Nói chung là hoạt động thiếu đồng bộ,

    manh mún và quy mô nhỏ, mức độ công nghệ chưa theo kịp các nước phát triển

    trong khu vực Đông Nam Á.

    Do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics tại Việt

    Nam hiện nay trở nên thiếu hụt trầm trọng. Theo thông tin chúng tôi có được từ các

    công ty săn đầu người như KPMG về việc tuyển chọn nhân viên kinh doanh

    (sales), các doanh nghiệp tư nhân tại chúng tôi đăng báo tìm người… trong 3, 4

    tháng vẫn không tìm ra người theo yêu cầu.

    Theo VIFFAS, hiện chưa có thống kê chính xác về nguồn nhân lực phục vụ. Nếu

    chỉ tính riêng các công ty thành viên Hiệp hội (có đăng ký chính thức), tổng số

    Nhóm 08

    Page 9

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    nhân viên vào khoảng 5000 người. Đây là lực lượng được coi là chuyên nghiệp.

    Ngoài ra ước tính có khoảng 4000-5000 người thực hiện dịch vụ giao nhận vận tải

    bán chuyên nghiệp hoặc chuyên nghiệp khác nhưng chưa tham gia hiệp hội. Các

    nguồn nhân lực nói trên được đào tào từ nhiều nguồn khác nhau. Ở trình độ cấp đại

    học, được đào tạo chủ yếu từ trường đại học Kinh tế và đại học Ngoại thương.

    Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được bổ sung từ những ngành đào tạo khác như hàng

    hải, giao thông, vận tải, ngoại ngữ…

    Đánh giá về nguồn nhân lực phục vụ trong ngành logistics hiện nay, trước hết là

    đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành. Trong các doanh nghiệp quốc doanh

    và cổ phần hóa thì cán bộ chủ chốt được Bộ, ngành chủ quản điều động về điều

    hành các công ty, đơn vị trực thuộc ở miền Nam là thời gian sau ngày giải phóng.

    Đội ngũ này hiện nay đang điều hành chủ yếu các doanh nghiệp tương đối lớn về

    quy mô và có thâm niên trong ngành, chẳng hạn trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải,

    kho vận, đa số đạt trình độ đại học. Hiện thành phần này đang được đào tạo và tái

    đào tạo để đáp ứng nhu cầu quản lý. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại phong cách quản lý

    cũ, chưa chuyển biến kịp để thích ứng với môi trường mới, thích sử dụng kinh

    nghiệm hơn là áp dụng khoa học quản trị hiện đại. Trong các công ty giao nhận

    mới thành lập vừa qua, chúng ta thấy đã hình thành một đội ngũ cán bộ quản lý trẻ,

    có trình độ đại học, nhiều tham vọng nhưng kinh nghiệm kinh doanh quốc tế và tay

    nghề còn thấp. Lực lượng này trong tương lai gần sẽ là nguồn bổ sung và tiếp nối

    các thế hệ đàn anh đi trước, năng động hơn, xông xáo và ham học hỏi.

    Về đội ngũ nhân viên phục vụ: là đội ngũ nhân viên chăm lo các tác nghiệp hàng

    ngày, phần lớn tốt nghiệp đại học nhưng không chuyên, phải tự nâng cao trình độ

    nghiệp vụ, tay nghề trong quá trình làm việc. Lực lượng trẻ chưa tham gia nhiều

    Nhóm 08

    Page 10

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    vào hoạch định đường lối, chính sách, ít tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng và

    phát triển ngành nghề.

    Về đội ngũ nhân công lao động trực tiếp: đa số trình độ học vấn thấp, công việc

    chủ yếu là bốc xếp, kiểm đếm ở các kho bãi, lái xe vận tải, chưa được đào tại tác

    phong công nghiệp, sử dụng sức lực nhiều hơn là bằng phương tiện máy móc. Sự

    yếu kém này là do phương tiện lao động còn lạc hậu, chưa đòi hỏi lao động chuyên

    môn.

    Về chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngành logistics hiện nay: được

    thực hiện ở 3 cấp độ:

    1) tại các cơ sở đào tạo chính thức

    2) đào tạo theo chương trình hiệp hội

    3) đào tạo nội bộ trong doanh nghiệp.

    Tại các cơ sở đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng. Theo đánh giá của VIFFAS

    chương trình đào tạo về logistics còn yếu và nhỏ lẻ (khoảng 15-20 tiết học trong

    môn vận tải và bảo hiểm ngoại thương), chủ yếu đào tạo nghiên về vận tải biển và

    giao nhận đường biển. Tại các trường đại học Kinh tế, trong chương trình quản trị

    sản xuất (operation management-OM) có trình bày sơ lược về quản trị dây chuyền

    cung ứng (supply chain management-SCM) và quản trị vật tư, như một phần của

    môn vận trù học. Nghiệp vụ logistics trong giao nhận hàng không chưa được xây

    dựng thành môn học, chưa có trường đại học nào đào tạo hay mở những lớp bồi

    dưỡng ngắn hạn. Với thời lượng môn học như vậy, bài giảng chỉ tập trung giới

    thiệu những công việc trong giao nhận, quy trình và các thao tác thực hiện qua các

    công đoạn. Chương trình tương đối lạc hậu, giảng dạy theo nghiệp vụ giao nhận

    truyền thống là chủ yếu. Các kỹ thuật giao nhận hiện đại ít được cập nhật hóa như

    Nhóm 08

    Page 11

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị dây chuyền chuỗi cung ứng, các khái

    niệm mới như “one stop shopping”, Just in time (JIT-Kanban)… Tính thực tiễn của

    chương trình giảng dạy không cao, làm cho người học chưa thấy hết vai trò và sự

    đóng góp của logistics, giao nhận vận tải trong nền kinh tế.

    Về phía Hiệp hội: trong thời gian qua VIFFAS đã và đang kết hợp với các hiệp hội

    giao nhận các nước ASEAN (AFFA), các chương trình của Bộ Giao thông vận tải,

    tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ giao nhận, gom hàng đường biển, liên kết với

    trường Cao đẳng Hải quan mở lớp đào tạo về đại lý khai quan, cấp bằng, chứng chỉ

    cho các hội viên tại chúng tôi Đà Nẵng và Hà Nội. Về giao nhận hàng không,

    trước kia, hiệp hội vận tải hàng không quốc tế – IATA thông qua Vietnam Airlines

    đã tổ chức được một số lớp học nghiệp vụ và tổ chức thi cấp bằng IATA có giá trị

    quốc tế. Hiện nay, chương trình này vẫn không tiến triển do tính không chính thức,

    số lượng người tham gia hạn chế, chỉ mang tính nội bộ và chưa có tổ chức bài bản

    trong chương trình đào tạo của hiệp hội. Hiện nay, mỗi năm VIFFAS tổ chức được

    1-2 khóa nghiệp vụ, quy mô này là chưa tương xứng với nhu cầu hiện tại và tương

    lai của các hội viên và ngoài hội viên. VIFFAS hiện chưa thực hiện được chương

    trình đào tạo và tái đào tạo khởi xướng bởi FIATA và AFFA hàng năm. Theo

    chúng tôi, đây là chương trình rất phù hợp với ngành nghề logistics và có phần tài

    trợ của FIATA theo đề nghị của từng quốc gia và hiệp hội của quốc gia đó.

    Về mảng đào tạo nội bộ tại các công ty: do nguồn đào tạo chính quy thiếu hụt nên

    các công ty sau khi tuyển dụng nhân viên đều phải tự trang bị kiến thức nghề

    nghiệp bằng các khóa tự mở trong nội bộ công ty cho các nhân viên mới với lực

    lượng giảng dạy là những cán bộ đang tại chức. Lực lượng này là những người

    đang kinh doanh nên có nhiều kinh nghiệm thực tế, tuy nhiên khả năng sư phạm và

    phương pháp truyền đạt chưa đảm bảo. Điều này dẫn đến sự khập khễnh, chênh

    Nhóm 08

    Page 12

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Page 13

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Nhóm 08

    Page 14

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    2.Về cơ sở hạ tầng: Hiện nay hạ tầng cơ sở logistics tại VN nói chung còn

    nghèo nàn, qui mô nhỏ, bố trí bất hợp lý.

    Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của VN bao gồm trên 17.000 km đường nhựa,

    hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy

    nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo

    về mặt kỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải

    hàng hoá quốc tế, các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể

    tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưa dược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện

    đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếp dỡ container.

    Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng (máy bay) cho

    việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các

    máy bay chở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như TSN, Nội Bài, Đà nẳng vẫn

    chưa có nhà ga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom

    hàng và khai quan như các nước trong khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát

    triển đường bộ còn thấp, dường không dược thiết kế để vận chuyển container, các

    đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lực vận tải đường sắt không đựơc

    vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu của Tổng cục Thống

    kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượng hàng hoá

    lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt VN vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ ray

    khác nhau (1.000 và 1.435 mm) với tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy

    tuyến Hà Nội – TP Hồ Chí Minh (1.630 km) hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ. Và

    khá nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm

    trọng.

    3.Về khả năng đáp ứng.

    Nhóm 08

    Page 15

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Theo dự báo, trong tương lai không xa, dịch vụ giao nhận kho vận (logistics) sẽ trở

    thành một ngành kinh tế quan trọng tại Việt Nam, đóng góp tới 15% GDP cả nước.

    Đặc biệt, trong 10 năm tới, khi kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể đạt

    mức 200 tỉ USD/năm thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics lại càng lớn. Dự báo,

    đến năm 2010, hàng container qua cảng biển Việt Nam sẽ đạt từ 3,6-4,2 triệu TEU.

    Con số này đến năm 2021 chắc chắn sẽ lên đến 7,7 triệu TEU.

    Song hành cùng sự phát triển kinh tế là tăng trưởng trong hoạt động xuất nhập

    khẩu, do đó, ngành logistics lại thêm nhiều cơ hội phát triển.

    Theo dự báo của Bộ Thương Mại, trong 10 năm tới kim ngạch xuất nhập khẩu của

    cả nước sẽ đạt tới 200 tỷ USD. Điều đó cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ

    logistics Việt Nam còn khá lớn.

    Những năm gần đây, vận tải biển VN đang có những bước phát triển vượt đáng kể.

    Hiện 90% hàng hóa XNK được vận chuyển bằng đường biển. Đặc biệt, lĩnh vực

    vận chuyển container luôn đạt tốc độ tăng trưởng 2 chữ số trong những năm gần

    đây. Tuy vậy, điều này lại dẫn đến hệ luỵ là VN đang rất cần các cảng nước sâu để

    có thể thoả mãn được nhu cầu xuất nhập khẩu ngày càng tăng. Tổng khối lượng

    hàng qua các cảng biển VN hiện nay vào khoảng 140 triệu tấn/năm (năm 2006:

    153 triệu tấn), tốc độ tăng trưởng hàng năm trong vòng 10 năm tới theo dự đoán là

    20 – 25%. Hiện chính phủ VN và các nhà đầu tư quốc tế đang triển khai một loạt

    dự án xây dựng các cụm cảng nước sâu như ở khu vực Cái Mép – Thị Vải ở phía

    Nam cũng như Hải Phòng ở phía Bắc. Các dự án này đang phấn đấu hoàn thành

    vào năm 2009.

    Việc dịch chuyển cơ sở sản xuất của nhiều DN nước ngoài từ nơi khác đến VN đã

    tạo ra cơ hội rất lớn trong việc xây dựng một mạng lưới giao nhận kho vận hoạt

    động hiệu quả.

    Nhóm 08

    Page 16

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    4.Doanh nghiệp trong nước làm thuê trên sân nhà.

    Hạn định 2009 mở cửa lĩnh vực logistic không còn chúng tôi cam kết gia nhập

    WTO, Việt Nam sẽ cho phép các công ty dịch vụ hàng hải, logistics 100% vốn

    nước ngoài hoạt động bình đẳng tại Việt Nam. Điều này đặt DN Việt Nam trước

    thách thức cạnh tranh gay gắt trên sân nhà. Áp lực cạnh tranh rất lớn từ việc hội

    nhập quốc tế, sự lớn mạnh không ngừng của thị trường cũng như những đòi hỏi

    ngày càng tăng từ phía khách hàng cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ

    cho các DN logistic.

    Một điều đáng buồn là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước

    tuy quy mô nhỏ, manh mún nhưng lại chưa biết liên kết lại, mà kinh doanh theo

    kiểu chụp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch vụ để giành được

    hợp đồng. Và chủ yếu là hạ giá thành thuê container, điều này chỉ có các doanh

    nghiệp trong nước bị thiệt, còn doanh nghiệp nước ngoài là những người chủ tàu sẽ

    đóng vai trò ngư ông đắc lợi. Một thực tế khác là trong khi các doanh nghiệp của ta

    còn đang mải “đá nhau” thì các tập đoàn hàng hải lớn trên thế giới như APL,

    Mitsui OSK, Maerk Logistics, NYK Logistics…, những tập đoàn hùng mạnh với

    khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ

    thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín

    trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã

    và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước.

    Ví dụ khi nhà máy Canon ở Quế Võ, Bắc Ninh chào dịch vụ logistics trọn gói vận

    chuyển phân phối sản phẩm thì NYK Logistics, LOGITEM, MOL Vietnam,

    Dragon Logistics đều tham gia đấu thầu. Cuối cùng doanh nghiệp thắng là doanh

    nghiệp chào giá dưới giá thành ở công đoạn chuyên chở bằng xe tải nặng và lấy giá

    Nhóm 08

    Page 17

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    vận tải biển bù lại. Như vậy, các doanh nghiệp không có tàu biển chắc chắn phải

    chịu thua độc chiêu này.

    5.Giá cả dịch vụ logistic.

    Phân tích yếu tố thúc đẩy gia tăng nhu cầu đến năm 2021, các nhà hoạch định

    chiến lược cho rằng, dịch vụ logistics ngày càng gia tăng cùng với thương mại nội

    địa và quốc tế. Trong xu thế tăng trưởng và đầu tư toàn cầu; từ nền kinh tế hướng

    ngoại với độ mở trao đổi cao hơn 1,5 lần GDP, cơ hội cho phát triển dịch vụ

    logistics Việt Nam có nhiều.

    Gia tăng từ phía nhu cầu

    Trong chiến lược phát triển dịch vụ Việt Nam 10 năm tới, logistics được xác định

    là yếu tố then chốt thúc đẩy với tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển qua cảng

    biển từ 280 triệu tấn tăng lên 1 tỉ tấn (gấp 3,6 lần). Cùng với xu thế này, hướng tới

    mục tiêu trở thành nước công nghiệp, có thu nhập bình quân đầu người từ 3.000

    đến 3.500 USD vào năm 2021; thị trường gia tăng mạnh chuỗi dịch vụ cung ứng,

    sẽ là tác nhân tạo sự bùng nổ dịch vụ logistics trong tương lai.

    Trong xu thế gia công (Outsourcing) toàn cầu, các tập đoàn kinh doanh lớn sử

    dụng dịch vụ thuê ngoài, sẽ tác động mạnh đến gia tăng nhu cầu và phát triển dịch

    vụ. Mặt khác, với lợi thế nằm trên trục giao lưu hàng hải, Việt Nam nhiều hy vọng

    trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa vận tải đường biển quốc tế, thông với

    nhiều hướng từ những thị trường nhiều nước đông dân

    Nhân tố tác động từ cung

    Quyết sách của Chính phủ về giao thông vận tải đến năm 2021 và tầm nhìn 2030

    đã tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng; hình thành chuỗi liên kết đồng bộ đường

    Nhóm 08

    Page 18

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    Page 19

    Đồ án tốt nghiệp: Quản trị logistic

    đổi thói quen bán FOB mua CIF; thống nhất và tiêu chuẩn hóa thủ tục hải quan,

    chứng từ xuất nhập khẩu cho phù hợp với thông lệ quốc tế.

    Yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững là lao động có kỹ năng, tay nghề cao

    và thái độ làm việc chuyên nghiệp.Nguồn lực này cần được cập nhật kiến thức về

    luật pháp cũng như kỹ năng vận hành đồng thời với chiến lược tạo nguồn nhân lực

    tương lai ở cả 3 cấp hoạch định chính sách, quản lý và thực hiện nghiệp vụ.

    6.Quy mô doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics nhỏ, kinh doanh manh

    mún.

    Nguồn lợi hàng tỷ đô này lại đang chảy vào túi các nhà đầu tư nước ngoài. Các

    DN Việt Nam mới chỉ có một phần rất nhỏ trong miếng bánh khổng lồ và đang

    ngày càng phình to của thị trường dịch vụ logistics. Theo tính toán mới nhất của

    Cục Hàng hải Việt Nam, lĩnh vực quan trọng nhất trong logistics là vận tải biển thì

    DN trong nước mới chỉ đáp ứng chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất

    nhập khẩu, phần còn lại đang bị chi phối bởi các DN nước ngoài. Điều này thực sự

    là một thua thiệt lớn cho DN Việt Nam khi có đến 90% hàng hóa xuất nhập khẩu

    được vận chuyển bằng đường biển. Năm 2006 lượng hàng qua các cảng biển Việt

    Nam là 153 triệu tấn và tốc độ tăng trưởng lên đến 19,4%. Đây thực sự một thị

    trường mơ ước mà các tập đoàn nước ngoài đang thèm muốn và tập trung khai phá.

    Hiện tại, trên cả nước có khoảng 800-900 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực

    logistics. Trong đó, VIFFAS có 97 hội viên (77 hội viên chính thức và 20 hội viên

    liên kết). Thời gian hoạt động trung bình của các doanh nghiệp là 5 năm với vốn

    đăng ký trung bình khoảng 1,5 tỷ đồng/doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp

    logistics tại Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu thị trường logistics, và

    mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ cho một số công đoạn của chuỗi dịch vụ

    khổng lồ này. Ngành công nghiệp logistics của Việt Nam hiện vẫn đang ở thời kỳ

    Nhóm 08

    Page 20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phí Logistics Là Gì? Thực Trạng Phí Logistics Tại Việt Nam
  • Chi Phí Logistics (Logistics Costs) Là Gì? Đặc Trưng Và Phương Pháp Xác Định
  • Chi Phí Logistics Là Gì? Thực Trạng Chi Phí Logistics Tại Việt Nam
  • Pháp Luật Việt Nam Về Dịch Vụ Logistics Trong Hoạt Động Thương Mại Điện Tử
  • Chuỗi Cung Ứng Khép Kín Là Gì: Cơ Bản Cần Nắm Rõ
  • Patent Troll Là Gì? Định Nghĩa, Ví Dụ, Giải Thích

    --- Bài mới hơn ---

  • Bằng Độc Quyền Sáng Chế (Patent) Là Gì? Chức Năng Và Đặc Điểm
  • Bằng Độc Quyền Sáng Chế (Patent) Là Gì?
  • Chỉ Từ Là Gì? Khái Niệm, Vai Trò Và Cách Dùng Chỉ Từ Trong Câu Hiệu Quả Nhất
  • Từ Trong Tiếng Việt (Phần Đầu)
  • Dạy Con Trẻ Về Khái Niệm Các Loại Cảm Xúc Con Người
  • Thông tin thuật ngữ

    Định nghĩa – Khái niệm

    Patent Troll là gì?

    Một troll bằng sáng chế là một thuật ngữ xúc phạm dùng để mô tả việc sử dụng các khiếu nại vi phạm bằng sáng chế để giành chiến thắng bản án vì lợi nhuận hoặc để bóp nghẹt sự cạnh tranh. Thuật ngữ này có thể được sử dụng để mô tả một số hoạt động mà sử dụng bằng sáng chế và hệ thống tòa án để kiếm tiền. Trong khi thực hành trolling bằng sáng chế không phải là bất hợp pháp, một troll bằng sáng chế không có mục đích của từng phát triển một sản phẩm hay dịch vụ bằng cách sử dụng một bằng sáng chế. Kết quả cuối cùng là xấu đe dọa xâm phạm đức tin và nhu cầu cấp phép mà chi phí công ty tiền đáng kể để khởi kiện hoặc giải quyết mà không cần bất kỳ Ngoài lợi ích chung. Một troll bằng sáng chế cũng có thể được gọi là “cá mập bằng sáng chế”, “đại lý”, “tiếp thị” hoặc “cướp biển”. Một hoạt động sáng chế troll có thể được gọi là một “công ty sáng chế khẳng định” hoặc “thực thể” hay “phi sản xuất cấp bằng sáng chế.”

    • Patent Troll là Chơi khăm bằng sáng chế.
    • Đây là thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực Đầu tư Luật & Quy định.

    Ý nghĩa – Giải thích

    Patent Troll nghĩa là Chơi khăm bằng sáng chế.

    Kẻ lừa đảo bằng sáng chế có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau và khai thác các kẽ hở pháp lý để tạo ra doanh thu mà không tạo ra bất kỳ lợi ích vật chất nào và không có bất kỳ ý định sử dụng bằng sáng chế được đề cập. Một ví dụ tương tự đối với hành động của một kẻ lừa đảo bằng sáng chế là giành được quyền thu phí trên đường thu phí mà không cần thực hiện bất kỳ loại cải tiến nào đối với đường. Theo giả thuyết, kẻ lừa đảo bằng sáng chế sẽ kiếm được tiền từ việc thu phí sử dụng đường lớn hay từ việc áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với bất kỳ ai sử dụng đường mà không biết các điều khoản sử dụng.

    Những kẻ lừa đảo bằng sáng chế phổ biến hơn ở Hoa Kỳ vì những kẻ lừa đảo bằng sáng chế có thể lợi dụng các vấn đề cấu trúc hiện có trong hệ thống bằng sáng chế và tòa án của Hoa Kỳ.

    Tàn phá bằng sáng chế ít phổ biến hơn ở châu Âu vì nhiều nước châu Âu quy định rằng những người thua cuộc trong các phiên tòa yêu cầu bằng sáng chế phải trả các chi phí pháp lý của cả hai bên. Điều này đã loại bỏ hiệu quả phần lớn các vụ kiện phù phiếm.

    Definition: A patent troll is a derogatory term used to describe the use of patent infringement claims to win court judgments for profit or to stifle competition. The term may be used to describe a number of activities that utilize patents and the court system to earn money. While the practice of patent trolling is not illegal, a patent troll has no intent of ever developing a product or service by utilizing a patent. The end result is bad faith infringement threats and licensing demands that cost companies significant money to litigate or settle without any addition to the public good. A patent troll may also be known as a “patent shark,” “dealer,” “marketer” or “pirate.” A patent troll operation may be called a “patent assertion company” or “entity” or a “non-manufacturing patentee.”

    Ví dụ mẫu – Cách sử dụng

    Tổng kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Tấm Pin Năng Lượng Mặt Trời : Khái Niệm,cấu Tạo,giá Bán 2021
  • Lịch Sử+Khái Niệm Và Công Dụng Hình Thành Pin Mặt Trời
  • Cell Pin Laptop Là Gì? Có Nên Thay Cell Pin Cho Laptop Không?
  • Tìm Hiểu Về Khái Niệm Pin Và Ắc Quy
  • Khái Niệm, Nguyên Lý Hoạt Động Của Pin Nhiên Liệu
  • Executive Order Là Gì? Định Nghĩa, Ví Dụ, Giải Thích

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Order Trong Kinh Doanh Forex
  • Tại Sao Việc Sử Dụng Lệnh Entry Order Trong Thị Trường Forex Là Cực Kỳ Cần Thiết?
  • Execution Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Execution
  • Beo: Tổ Dạ Tiệc Sự Kiện Thứ Tự
  • Banquet Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Banquet Trong Khách Sạn
  • Thông tin thuật ngữ

    Định nghĩa – Khái niệm

    Executive Order là gì?

    Tại Hoa Kỳ, lệnh hành pháp liên bang là một chỉ thị được ban hành bởi tổng thống Hoa Kỳ quản lý các hoạt động của chính phủ liên bang. Các cơ sở pháp lý hoặc hiến pháp cho các lệnh điều hành có nhiều nguồn. Điều Hai của Hiến pháp Hoa Kỳ trao cho tổng thống quyền hành pháp và thực thi rộng rãi sử dụng toàn quyền quyết định cách thức thi hành luật hoặc quản lý các nguồn lực và nhân viên của nhánh hành pháp. Khả năng thực hiện các mệnh lệnh như vậy cũng dựa trên Đạo luật của Quốc hội rõ ràng hoặc ngụ ý ủy quyền cho Tổng thống một mức độ quyền lực tùy ý (luật pháp được ủy quyền).

    • Executive Order là Mệnh Lệnh Hành Chánh; Sắc Luật.
    • Đây là thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực Kinh tế .

    Ý nghĩa – Giải thích

    Executive Order nghĩa là Mệnh Lệnh Hành Chánh; Sắc Luật.

    Giống như cả các đạo luật và quy định lập pháp do các cơ quan chính phủ ban hành, các mệnh lệnh hành pháp phải được xem xét lại tư pháp và có thể bị đảo ngược nếu các lệnh thiếu sự hỗ trợ của đạo luật hoặc Hiến pháp. Một số sáng kiến chính sách cần có sự chấp thuận của ngành lập pháp, nhưng các mệnh lệnh hành pháp có ảnh hưởng đáng kể đến các vấn đề nội bộ của chính phủ, quyết định cách thức và mức độ pháp luật sẽ được thi hành, xử lý các tình huống khẩn cấp, tiến hành chiến tranh và trong các lựa chọn chính sách điều chỉnh chung trong việc thực hiện các đạo luật rộng. Là người đứng đầu nhà nước và người đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ, đồng thời là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ, chỉ có tổng thống Hoa Kỳ mới có thể ban hành một mệnh lệnh hành pháp.

    Definition: In the United States, a federal executive order is a directive issued by the psident of the United States that manages operations of the federal government. The legal or constitutional basis for executive orders has multiple sources. Article Two of the United States Constitution gives the psident broad executive and enforcement authority to use their discretion to determine how to enforce the law or to otherwise manage the resources and staff of the executive branch. The ability to make such orders is also based on expss or implied Acts of Congress that delegate to the President some degree of discretionary power (delegated legislation).

    Tổng kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Kíp Mua Sắm Ở Duty Free
  • Edo: Lệnh Khẩn Cấp Tạm Giam
  • Từ Vựng Về Tội Phạm Và Xử Phạt Với Cách Phát Âm
  • Debit Note Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Debit Note
  • How To Get A Restraining Order In Divorce
  • Fatal Exception Là Gì? Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Exception Là Gì? Tổng Quan Về Exception Trong Java
  • Giải Đáp Thắc Mắc: Chỉ Số Eq Có Ý Nghĩa Gì?
  • Equalizer Là Gì? Hướng Dẫn Chi Tiết Sử Dụng Equalizer (Eq)
  • Eq Là Gì? Ý Nghĩa Của Chỉ Số Eq Trong Cuộc Sống
  • Exp Nghĩa Là Gì? Và Ý Nghĩa Trong Đời Sống
  • Định nghĩa Fatal Exception là gì?

    Fatal Exception là Ngoại lệ gây tử vong. Đây là nghĩa tiếng Việt của thuật ngữ Fatal Exception – một thuật ngữ thuộc nhóm Technology Terms – Công nghệ thông tin.

    Độ phổ biến(Factor rating): 5/10

    Một ngoại lệ gây tử vong là một điều kiện lỗi mà chỉ truy cập vào một trong hai giá trị dữ liệu không hợp lệ hoặc hướng dẫn bất hợp pháp. Mức đặc quyền hợp lệ để phẫu thuật cũng có thể gây ra ngoại lệ gây tử vong. Khi một ngoại lệ gây tử vong xảy ra, máy tính không thể tiếp tục xử lý các thuật toán chương trình vì một hoặc tiếp theo hướng dẫn chi tiết dựa vào các giá trị biến gây ra ngoại lệ. Một ngoại lệ gây tử vong được chỉ định bởi một thông điệp hệ thống khuyến cáo rằng chương trình được đóng lại hoặc sửa lỗi. Một người sử dụng thường sẽ đóng chương trình, trong khi một nhà phát triển có thể cố gắng khám phá ra hành nguyên nhân của ngoại lệ và khắc phục các lỗi mã hóa. Một ngoại lệ tử vong cũng có thể được gọi là một lỗi nghiêm trọng.

    Giải thích ý nghĩa

    Mặc dù một chương trình liên tục giao tiếp với hệ điều hành của máy tính, nó cũng có thể cần phải giao tiếp với các ứng dụng chạy bổ sung. thông tin liên lạc này được thực hiện thông qua một vài lớp mã khác nhau. Khi một lớp gặp một ngoại lệ, nó sẽ gửi ngoại lệ mà đến lớp tiếp theo, với mục đích để xác định vị trí một thuật toán xử lý ngoại lệ. Nếu một thuật toán phù hợp không tìm thấy, hệ điều hành sẽ gửi một lỗi nghiêm trọng cho người sử dụng máy tính. Trong một số trường hợp, trường hợp ngoại lệ tử vong có thể dẫn đến một xuống đóng buộc của một hệ điều hành. Một thông báo lỗi nghiêm trọng cũng có thể chứa thông tin giúp các nhà phát triển xác định vị trí mã gây ra ngoại lệ.

    What is the Fatal Exception? – Definition

    A fatal exception is an error condition that indicates access to either invalid data values or illegal instructions. The invalid privilege level to an operation can also cause fatal exceptions. When a fatal exceptions occur, computers cannot continue processing program algorithms because one or more subsequent instructions rely on the variable value causing the exception. A fatal exception is indicated by a system message that recommends that the program be closed or debugged. A user will usually close the program, whereas a developer may try to uncover the exception’s cause and rectify any coding errors. A fatal exception may also be known as a fatal exception error.

    Understanding the Fatal Exception

    Although a program continually communicates with a computer’s operating system, it may also need to communicate with additional running applications. This communication is achieved through several different code layers. When a layer encounters an exception, it sends that exception to the next layer, with the aim to locate an exception-handling algorithm. If a suitable algorithm is not found, the operating system sends a fatal exception error to the computer user. In some cases, fatal exceptions may result in a forced shut down of an operating system. A fatal exception error message may also contain information that helps the developer locate the code causing the exception.

    • Exception
    • Fatal Error
    • Debug
    • Unrecoverable Error
    • Autonomic Computing
    • Windows Server
    • Application Server
    • Full Virtualization
    • Legacy System
    • Paravirtualized Operating System

    Source: Fatal Exception là gì? Technology Dictionary – Filegi – Techtopedia – Techterm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Đọc Kết Quả Xét Nghiệm Sàng Lọc Trước Sinh Double Test
  • Tên Con Nguyễn Ngọc Diệp Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Giải Thích Ý Nghĩa Tên Ngọc Diệp Là Gì? Tên Đẹp Cho Con Gái
  • Phải Chăng Dòng Chữ ‘discovery’ Quá Quyền Lực Nên Xe Nào Cũng Dán?
  • Diva Là Gì? Ý Nghĩa Và Tìm Hiểu Về Diva Việt Nam Là Những Ai
  • Fuzzy Logic Là Gì? Định Nghĩa Và Giải Thích Ý Nghĩa

    --- Bài mới hơn ---

  • Thử Thách Trí Tuệ Cùng 6 Game Tư Duy Logic
  • Vấn Đề Và Tương Lai Của Logic Học
  • Biến Số Và Hằng Số Trong Lập Trình Pascal
  • Cơ Sở Lý Thuyết Tập Hợp Và Logic
  • Các Cổng Logic Cơ Bản Và Ic Trong Thực Tế
  • Định nghĩa Fuzzy Logic là gì?

    Fuzzy Logic là Lập luận mờ. Đây là nghĩa tiếng Việt của thuật ngữ Fuzzy Logic – một thuật ngữ thuộc nhóm Technology Terms – Công nghệ thông tin.

    Độ phổ biến(Factor rating): 5/10

    Logic mờ là một phương pháp hoạt động logic dựa trên nhiều giá trị luận lý hơn là logic nhị (logic hai giá trị). Logic hai giá trị thường coi 0 là sai và 1 là đúng. Tuy nhiên, logic mờ giao dịch với giá trị thật giữa 0 và 1, và các giá trị được coi là cường độ (độ) của sự thật.

    Giải thích ý nghĩa

    Lôgic mờ có thể được sử dụng để mô tả cách thông tin được xử lý bên trong bộ não con người. Ví dụ, nó có thể lập luận rằng con người không biết sự khác biệt giữa chất béo và mỏng. Năm người có thể chất béo và không có mức độ nghiêm trọng tương tự về mỡ. Hoặc, một người có thể xuất hiện mỏng, so với khác, trong khi cả hai đều thực sự chất béo. Sử dụng logic mờ, bạn có thể gán giá trị logic khác nhau cho béo, dao động 0-1, theo mức độ nghiêm trọng của béo.

    What is the Fuzzy Logic? – Definition

    Fuzzy logic is a logic operations method based on many-valued logic rather than binary logic (two-valued logic). Two-valued logic often considers 0 to be false and 1 to be true. However, fuzzy logic deals with truth values between 0 and 1, and these values are considered as intensity (degrees) of truth.

    Understanding the Fuzzy Logic

    Fuzzy logic can be used to describe how information is processed inside human brains. For example, it can be argued that humans do not know the difference between fat and thin. Five people may be fat and not have the same severity of fatness. Or, one person may appear thin, compared to another, while both are actually fat. Using fuzzy logic, you can assign different logic values for fatness, ranging from 0 to 1, according to severity of fatness.

    • Binary Format
    • Data Matching
    • Data Mining
    • Neats Vs Scruffies
    • Commit
    • Access Modifiers
    • Acyclic
    • Appending Virus
    • Armored Virus
    • Binder

    Source: Fuzzy Logic là gì? Technology Dictionary – Filegi – Techtopedia – Techterm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Luận Với Các Tập Mờ (Fuzzy Logic)
  • Điều Khiển Logic Mờ (Fuzzy Logic)
  • Tìm Hiểu Công Nghệ Fuzzy Logic Trên Nồi Cơm Điện
  • Tư Duy Logic Là Gì ?
  • Lôgic Là Gì, Nghĩa Của Từ Lôgic
  • “phó Tổng Giám Đốc” Trong Tiếng Anh: Định Nghĩa, Ví Dụ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Giám Đốc, Giám Đốc Hay Phó Giám Đốc Tiếng Anh Là Gì?
  • Ban Tổng Giám Đốc Tiếng Anh Là Gì Và Những Bạn Cần Biết!
  • Giờ Hành Chính Là Gì? Cách Làm Việc Hiệu Quả Trong Giờ Hành Chính
  • Giờ Hành Chính Là Gì? Công Việc Thường Làm Theo Giờ Hành Chính
  • Hướng Dẫn Cách Sử Dụng Giới Từ Trong Tiếng Anh
  • Deputy general manager (Noun)

    (Nghĩa của từ phó tổng giám đốc trong tiếng Anh)

    Từ đồng nghĩa

    Deputy director general

    Cuối cùng, anh là giám đốc điều hành khu vực phương Nam của công ty, phó tổng giám đốc chi nhánh ở Việt Nam, và thành viên của hội đồng quản trị phụ trách công việc ở Mỹ. Eventually he became the managing director of his company in the South, the deputy general manage officer of its affiliate in the Viet Nam, and a member of the board of directors of its United States operations. Quá trình phát triển ở Lào và Campuchia được điều phối bởi ba tổ chức đăng ký tên miền riêng lẻ , theo Cricket Liu, phó tổng giám đốc Trung tâm Xuất sắc IPv6 của Techno. The growth in Laos and Cambodia were driven by three registrars alone , according to Cricket Liu , deputy general manager of the Techno IPv6 Center of Excellence. Phùng Văn Nam làm việc trong ngành hoạch định thuế vụ và trở thành phó tổng giám đốc của một công ty tư vấn tài chính. Phung Van Nam worked in tax planning and became the deputy director general officer of a financial consulting company. Là một phó tổng giám đốc, ổng đã chết tối nay ở Quảng Ngãi vì bệnh đau tim. The deputy director general died this evening in Quang Ngai of heart failure.

    Ông Nguyễn Phước Xuân , phó tổng giám đốc của Ngân hàng Việt Nam, cũng cho rằng ngân hàng sẽ gia hạn thời hạn trả nợ cho những khách hàng mà hiện nay đang phải đối mặt với nhiều khó khăn , nhưng yêu cầu phía họ phải chứng minh được khả năng hoàn trả được nợ và phát triển trong tương lai.

    Deputy general manager Nguyen Phuoc Xuan of the Bank of Viet Nam also said his bank would likely extend the repayment period for borrowers that were facing many difficulties but required them to show the ability to restore and develop in the future.

    Phó tổng giám đốc của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) nói: “Điếu thuốc lá là… một sản phẩm được chế tạo khéo léo; nó tiết ra một lượng nicotin vừa đủ để giữ người hút nghiện suốt đời trước khi giết người đó”.

    The deputy director general of the World Health Organization (WHO) stated: “A cigarette is . . . a cleverly crafted product that delivers just the right amount of nicotine to keep its user addicted for life before killing the person.” Phó tổng giám đốc công đoàn ở Việt Nam, Trần Công Hoàn, nói rằng trong ba năm qua , đã có hai triệu người bị mất việc làm. Deputy director general of the Workers Union in Viet Nam Tran Cong Hoan said in the past three years two million jobs have been destroyed. Trần Thế Thoại , phó tổng giám đốc công ty Quản lý Tài sản ABC, giải thích:”Nhìn chung tổng tài sản của những cá nhân giàu có bị giảm vì sự bất ổn của thị trường gây ra.” Tran The Thoại, group head of ABC deputy director general, explained: “The aggregate wealth of high net worth inpiduals declined overall , as market volatility took its toll”. Bà Ninh Dương Lan Huệ, phó tổng Giám đốc Vinasco khẳng định , các chương trình bán hàng về nông thôn chỉ là biện pháp tức thời và cần phải có những chiến lược dài hạn với hàng hóa Việt Nam . Ninh Duong Lan Hue, deputy director general of Vinasco , confirmed that sales promotions in rural areas were only short-term measures , and Vietnamese goods needed to take a permanent place as part of a long term strategy . Bởi vì phó tổng giám đốc có thể yêu cầu những thông số mà những thông tin như thế là để được tổng hợp lại và được đưa ra. Because deputy director general may dictate the parameters under which such information is to be accumulated and psented.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trưởng Phòng, Phó, Tổng Giám Đốc
  • Giám Đốc, Phó Giám Đốc Tiếng Anh Là Gì ? Điều Trị Bệnh
  • Phó Giám Đốc Tiếng Anh Là Gì
  • Ống Gió Tiếng Anh Là Gì? Ứng Dụng Của Ống Gió Trong Đời Sống
  • Giao Trinh Tieng Anh Giao Tiep, Cách Học Tiếng Anh Giao Tiếp Không Thể Bỏ Qua.
  • Định Nghĩa Discretionary Monetary Policy / Chính Sách Tiền Tệ Cân Nhắc Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Discretionary Trust / Ủy Thác Cân Nhắc Là Gì?
  • Định Nghĩa Discrimination / Phân Biệt Đối Xử Là Gì?
  • Định Nghĩa Dishonor / Từ Chối Thanh Toán Là Gì?
  • Định Nghĩa Disinflation / Giảm Lạm Phát Là Gì?
  • Định Nghĩa Disintermediation / Bỏ Trung Gian Ngân Hàng Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Thẩm quyền của Ủy ban Dự trữ liên bang gây ảnh hưởng đến lãi suất của thị trường như lãi suất của các Quỹ liên bang (Quỹ FEed) hoặc tỷ lệ chiết khấu. Khi Fed quyết đinh hạ lãi suất mục tiêu quỹ Fed, sẽ chỉ thị Phòng Ttị trường mở tại Ngân hàng dự trữ Liên bang tại New York mua hối phiếu, trái phiếu kho bạc và cái trái phiếu khác trong thị trường tài chính.

    Việc này đưa tiền vào trong hệ thống ngân hàng bởi vì nó tăng nguồn cung Dự Trữ ngân hàng,và do đó đẩy lãi suất quỹ Fed xuống thấp hơn,để các ngân hàng thương mại có thể tính mức lãi suất thấp hơn giữa các ngân hàng,trên các khoản vay qua đêm của quỹ Fed. Fed hạ thấp mức lãi suất của các quỹ khi muốn kích thích nền kinh tế,thường khi mức chi tiêu của người tiêu dùng yếu và sản lượng suy giảm. Khi Fed muốn tăng các mức lãi suất mục tiêu của các quỹ Fed, sẽ bán chứng khoán cho các doanh nghiệp,rút quỹ dự trữ từ hệ thống ngân hàng.

    Xem MATCHED- SALE PURCHASE AGREEMENT; OPEN MARKET OPERATIONS; TIGHT MONEY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Discretionary Account / Tài Khoản Cân Nhắc Là Gì?
  • Định Nghĩa Discount Yield / Lợi Suất Chiết Khấu Là Gì?
  • Định Nghĩa Discount Window / Phòng Cho Vay Chiết Khấu Của Cục Dự Trữ Liên Bang Là Gì?
  • Định Nghĩa Discount Rate / Tỷ Lệ Chiết Khấu Là Gì?
  • Định Nghĩa Discount Pool / Hỗn Hợp Khoản Vay Chiết Khấu Là Gì?
  • Định Nghĩa Operational Targets / Các Mục Tiêu Tác Nghiệp Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Business Credit / Tín Dụng Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Định Nghĩa Bullet Loan / Khoản Cho Vay Trả Một Lần Là Gì?
  • Định Nghĩa Central Liability / Nợ Phải Trả Tập Trung Là Gì?
  • Định Nghĩa Option Adjusted Spread (Oas) / Khoản Chênh Lệch Điều Chỉnh Theo Quyền Chọn Là Gì?
  • Định Nghĩa Option Arm / Cầm Cố Có Lãi Suất Điều Chỉnh Theo Quyền Chọn Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Các mục tiêu của chính sách tiền tệ Dự trữ Liên bang thường được diễn tả qua những thay đổi dự kiến trong tổng tiền tệ (cung tiền) và tín dụng (khoản dự trữ không vay). Chủ tịch Ủy ban Dự trữ Liên bang báo cáo các dự định của Fed, nghĩa là, Fed mong đạt được gì qua chính sách tiền tệ, trong các báo cáo hai lần một năm cho Quốc hội, theo yêu cầu của Đạo luật Toàn dụng Nhân lực và tăng trưởng cân đối năm 1978. Các con số dự kiến tăng trưởng thường được thể hiện bằng giới hạn trên và dưới, từ quý tư năm nay đến quý tư năm sau.

    Mục tiêu hàng đầu của Fed trong chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế cân đối, được đánh giá trong những thay đổi tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tỉ lệ lạm phát, thất nghiệp, …. Từ năm 1979, tiêu điểm ngắn hạn của Fed trong chính sách tiền tệ là quản lí tín dụng trong hệ thống ngân hàng, qua nỗ lực kiểm soát thông các hoạt động của thị trường mở.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Municipal Note / Tín Phiếu Đô Thị Là Gì?
  • Định Nghĩa Bulk Filling / Xử Lý Nhanh Khối Chi Phiếu Là Gì?
  • Định Nghĩa All Financial Resources Concept / Khái Niệm Nguồn Tài Chính Tổng Thể Là Gì?
  • Định Nghĩa Interest-Only Loan / Khoản Cho Vay Chỉ Trả Tiền Lãi Là Gì?
  • Định Nghĩa Insured Loan / Khoản Cho Vay Được Bảo Hiểm Là Gì?
  • Tin tức online tv