Drama Là Gì? Drama Là Gì Trong Giới Trẻ?

--- Bài mới hơn ---

  • Hít Drama Là Gì? Ý Nghĩa Của Hít Drama Như Nào? Dinhnghia.vn
  • Tháng 4 Siêu Lãng Mạn Với Các Loạt Drama Hàn: Xem Xong Chỉ Muốn Có Người Yêu Ngay Và Luôn
  • Thái Vũ (Faptv) Tiết Lộ Jack Mất Hợp Đồng 3 Tỷ, Rời Công Ty Vẫn Gánh Nợ Vì Bị Mẹ Nuôi K
  • Toàn Cảnh Drama Jack Và K
  • Chuyên Mục Giải Ngố: Drama Là Gì
  • Drama nghĩa là gì? Cụm từ “Drama” đang xuất hiện rất nhiều trên các chương trình truyền hình, phim và truyện tranh. Nguồn gốc của từ này là từ Hy Lạp cổ đại có nghĩa là hành động. Còn theo tiếng anh Drama có nghĩa là tuồng, nghệ thuật tuồng kịch và nghệ thuật kịch. Nó cũng có thể là một thể loại phim nội dung đa chiều, đa nghĩa, thể hiện quá trình hình thành phát triển nội tâm, suy nghĩ của nhân vật khi đối diện trước nghịch cảnh.

    2. Phim Drama là gì?

    Thể loại phim Drame xây dựng cố truyện theo cuộc đời của một người, một nhân vật có thực, quá trình phát triển tâm lý tình cảm, đối mặt với những khó khăn, biến cố quan trọng. Nội dung về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai về những điều trong cuộc sống, tình cảm, xã hội ,… Với những tình tiết hoàn cảnh đẩy cảm xúc của người xem lê cao trào tột cùng hay còn được gọi là cẩu huyết. Đồng thời qua đó tái hiện sự cố gắng, nỗ lực vươn lên của cá nhân nhân vật (nhóm nhân vật), người xem vui buồn cũng những cảm xúc của nhân vật.

    Drama bao gồm cả 2 yếu tố bi & hài, chứa đựng những tình tiết kịch tính, gây ra những cảm xúc cao trào cho khán giả (hồi hộp, căng thẳng, cảm động….).

    Một số bộ phim drama Hàn là gì? Các phim Drama Hàn Quốc được giới trẻ vô cùng yêu thích đó là: Vì sao đưa anh tới, Hậu duệ mặt trời, Chuyện tình Paris, Giày thủy tinh, Cô nàng đẹp trai, Phẩm chất quý ông, Vườn nho, Khu vườn bí mật, …

    Các bộ phim drama Hoa Ngữ được kể đến như: Cuộc sống tươi đẹp, Người đàm phán, Tiên sinh tình yêu, Liệt hỏa như ca, Nam phương hữu kiều mộc, Quy khứ lai, Con đường đưa tiễn đầy hoa, Phượng tù hoàng …

    Một số bộ phim drama Việt nổi tiếng như: Thập tam muội, Ai chết giơ tay, Người trong giang hồ, Nam phi liên hoàn kế

    3. Truyện Drama là gì?

    Truyện Drama cũng có những cốt truyện tương tự giống phim với những tình tiết độc đáo, mới lạ, cuốn hút người xem vào câu chuyện, với những cảm xúc bi – hài, vui buồn, hạnh phúc, phẫn nộ … Các tình huống xây dựng của các tập truyện vừa mang yếu tố buồn, kịch tính, vừa hài hước để lại ấn tượng sâu sắc với độc giả.

    4. Drama anime là gì?

    Tác phẩm drama anime được nhiều người yêu thích như “Naruto” và “One Piece”. Các tác phẩm đều xoay quanh nhân viên với các yếu tố tâm lý, tình cảm, bi kịch …được tác giả xây dựng cực kỳ thu hút và hấp dẫn.

    Những cô gái cô gái chịu áp lực từ môi trường làm việc hay cuộc sống gia đình, dẫn đến tinh thần không ổn định, mất cân bằng, khá hoảng loạn. Luôn chìm đắm trong nhiều bi kịch của cuộc đời bởi chính việc không làm chủ được cảm xúc của mình – những cô nàng này thường có tính hỗn loạn, bất thường, một phần do hoàn cảnh gia đình và môi trường sống xung quanh.

    6. Drama là gì trong giới trẻ? khái niệm Drama trên facebook

    --- Bài cũ hơn ---

  • ~ ~ Counting Sheep Cd ~ Vol.1 ~ Track 6
  • Drama Cd: A Side Episode Of Unbirthday
  • Drama Là Gì? Hít Drama Là Gì? Ý Nghĩa Chính Xác Về Drama
  • Drama Là Gì? Hít Drama Là Gì? Mọi Điều Về Drama Mà Bạn Cần Biết
  • Tên Các Thể Loại Phim Bằng Tiếng Anh
  • Drama Là Gì? Hít Drama Là Gì Trong Giới Trẻ, Facebook?

    --- Bài mới hơn ---

  • Drama Là Gì? Drama Xuất Hiện Như Thế Nào Trong Cuộc Sống?
  • Drama Là Gì Và Thế Nào Là Phim Drama, Truyện Drama
  • Showbiz Việt Được Mùa Drama Tràn Ngập Theo Cả Nghĩa Đen Lẫn Bóng
  • Học Từ Vựng Bằng Các Thể Loại Phim Bằng Tiếng Anh
  • Tên Các Thể Loại Phim Bằng Tiếng Anh
  • Theo định nghĩa của tiếng Anh, Drama có nghĩa là tuồng, nghệ thuật tuồng kịch hay nghệ thuật kịch. Mặc khác, theo nghĩa của tiếng ư Nhật Bản thì là các tác phẩm manga, anime thuộc thể loại tình cảm, lãng mạn, kịch tính và hồi hộp …

    Drama thường được xây dựng theo 2 yếu tố: Bi & hài. Dựa vào 2 yếu tố này và Drama được xây dựng khá gây cấn và kịch tính. Mang lại cho người xem những giây phút thư giãn thoải mái và vui vẻ.

    Thường Drama là thể loại phim chính kịch. Nội dung phim nói lên rất chân thật nhưng tình cảm bên trong của nhân vật về cuộc sống, tình cảm,… Nhân vật chính trong phim Drama thường đối diện với những mâu thuẫn vào thời điểm quan trọng nhất trong cuộc đời.

    Hiện nay, drama được mở rộng hơn bao gồm ý nghĩa là phim, tính kịch thu hút người xem như:

    – Drama phim nhiều tập: Đây là những bộ phim nhiều tập, khác với movie (phim 1 tập). Drama này được chiếu trên các kênh truyền hình, còn movie được chiếu tại rạp.

    – Drama tính kịch: Với thể loại này, Drama sẽ thể hiện những câu chuyện mang nội dung khá kịch tính. Nội dung phim nói lên những câu chuyện đời thật nhưng nghe có vẻ hư cấu. Ngày này Drama tính kịch càng trở nên phổ biến trên các phương tiện đại chúng như mạng xã hội,…

    – Truyện drama: Drama này được dùng như một thuật ngữ trong anime và manga Nhật Bản. Những câu truyện drama thường tập trung với các thể loại bi kịch, tình cảm hoặc truyện trinh thám,… Khi bạn xem những truyện drama sẽ giúp bạn giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi của cuộc sống hằng ngày.

    Nguồn gốc drama

    Drama có nguồn gốc bắt đầu từ ngôn ngữ của Hy Lạp cổ đại. Drama có nghĩa là hành động, xuất phát. Theo một nhà triết học của Hy Lạp cổ Aristotle, Drama là một thuật ngữ được sử dụng trong luận thuyết “Poetics” (Thơ ca).

    – Một biên kịch: tác giả của vở kịch

    – Khán giả: người xem tác phẩm kịch, phim đó

    – Diễn viên: người thực hiện các hành động tương ứng với vở kịch để người xem thấu hiểu nội dung câu chuyện.

    Drama queen là gì?

    Drama queen có nghĩa là “nữ hoàng bi kịch”. Đây là một danh từ bao quát nói về tính cách của một con người, dù có là nam hay nữ. Có thể Drama queen được hình thành bởi môi trường sống hoặc hoàn cảnh gia đình mà tính cách này được hình thành trong tư cách của con người.

    Thường những người có tính cách “bất thường” này đều sống trong một môi trường không tốt, không lành mạnh. Cuộc sống này biến con người trở nên vô thức hoặc có chủ ý cho ra những “bi kịch cuộc sống” để người khác chú ý.

    Những người có tính cách bất thường sẽ thường không làm chủ được bản thân. Hay tạo ra những hành động, cư xử lạ thường. Bản thân họ luôn đắm chìm trong những bi kịch mà họ tự mình tạo ra.

    Phim Drama là gì?

    Phim drama là những bộ phim dài tập có nội dung và tình tiết phim kéo dài tập. Thường phim drama nói về những câu chuyện dựa trên nhân vật có thật hoặc là chuyện hư cấu. Nội dung phim drama đa dạng và phong phú về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai.

    Phần lớn nội dung phim drama nói về câu chuyện tình cảm, cuộc sống, các mối quan hệ trong xã hội,… Những tình tiết trong phim drama khiến người xem cảm thấy xúc động và lôi cuốn trong tưng giây phút theo dõi.

    • Goblin (Hàn Quốc)
    • Hậu duệ mặt trời (Hàn Quốc)
    • Vì sao đưa anh tới (Hàn Quốc)
    • Hoa thiên cốt (Trung Quốc)
    • Bộ bộ kinh tâm (Trung Quốc)
    • Tam sinh tam thế(Trung Quốc)
    • Chiếc lá cuốn bay (Thái Lan)
    • Cuộc chiến của những thiên thần (Thái Lan)
    • Ai chết dơ tay (Việt Nam)
    • Thập tam muội (Việt Nam)

    Web drama là gì?

    Ngày nay với sự phát triển vượt trội của công nghệ thì những sản phẩm điện ảnh không còn phụ thuộc quá nhiều vào đài truyền hình như trước đây. Hầu hết các sản phẩm phim ảnh được dựng và truyền tải đến khán giả thông qua mạng internet. Đó là lý do xuất hiện nhiều web drama được ra đời với mục đích phục vụ nhu cầu giải trí cho một lượng lớn khán giả hiện nay.

    Các phim này cũng không còn bị kiểm duyệt khắc khe đến từ các hãng truyền hình. Từ đó, các đạo diễn có thể thỏa sức sáng tạo ra những tác phẩm điện ảnh của riêng mình và khán giả cũng có thể dễ dàng tiếp cận những tác phẩm này.

    Vì sao web drama lại nở rộ?

    Sự phát triển mạnh mẽ của web drama chủ yếu là do sự phổ biến và tiện lợi của mạng lưới internet với tính truyền thông mạnh mẽ hơn rất nhiều so với hệ thống truyền hình. Các nhà làm phim chỉ cần đưa sản phẩm của mình lên một trang web như youtube và chờ đợi trong vài phút thì ngay sau đó video của họ sẽ được tiếp cận với đông đảo khán giả trong cả nước.

    Đồng thời, việc phát sóng các bộ phim trên đài truyền hình đôi khi sẽ bị cắt xén bớt thời gian chiếu hay bị hoãn phát sóng cho nên đa phần các đạo diễn sẽ chọn truyền tải sản phẩm của mình dựa trên hình thức này. Các thủ tục hay quy trình mua bán tác phẩm với đài truyền hình tốn khá nhiều thời gian đôi khi cũng khiến họ ngán ngẩm.

    Sự thắt chặt về tính năng kiếm tiền từ video của các youtuber góp phần làm cho chất lượng của các video web drama ngày càng được chú trọng. Khán giả sẽ là đối tượng có lợi nhất khi được thưởng thức hàng loạt các video chất lượng với sự đầu tư công phu và bài bản.

    Drama trên facebook là gì?

    Khi nói đến drama trên facebook, hiểu một cách đơn giản đó là một tình huống trớ trêu, tạo sự bất ngờ cho người xem, có sự đan xen giữa các yếu tố bi hài, đôi khi nghe có vẻ hư cấu nhưng nó lại là những câu chuyện thực tế.

    Người ta còn sử dụng drama với một nghĩa khác là “phốt”. Phốt ở đây là những phốt to với tốc độ lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội.

    Hít drama là gì?

    Drama được bắt nguồn từ một bài đăng trên mạng xã hội của bất kỳ một nhóm hay trang cá nhân nào đó được người này like, người kia share và phát tán đi khắp mọi nơi, rầm rộ trên facebook, báo mạng cập nhật liên hồi, ai cũng hóng chuyển biến mới của sự việc.

    Cũng từ đó mà có nhiều người bị cuốn theo các câu chuyện drama trên facebook mỗi ngày. Hít drama được hiểu một cách đơn giản chính là “thưởng thức” drama mà cư dân mạng thường dùng với từ “hóng phốt”.

    Hậu quả của hít drama

    Những câu chuyện được lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội liệu rằng có đúng sự thật hay không? Hay đó chỉ là những câu chuyện bịa đặt, vô căn cứ mà những anh hùng bàn phím bịa ra. Thêm mắm dặm muối để làm tăng kích thích nội dung của câu truyện.

    Để thỏa lòng phán xét của những anh hùng bàn phím. Họ đã vô tình phán xét quá xa nội dung của câu truyện diễn ra. Hậu quả nghiêm trọng chỉ có người trong cuộc mới cảm thấy xót xa, đau thương. Ép những người trong câu chuyện phải suy nghĩ đến mức đường cùng là tìm đến cái chết để giải thoát.

    Như vậy sau câu truyện hít drama phát tán và những lời phán xét tiêu cực chính là thủ phạm – con dao giết người vô hình.

    Lý do phim drama luôn thu hút người xem

    – Nhân vật và diễn viên đẹp: Đa số các bộ phim hiện nay đặc biệt là phim Trung Quốc bạn thường thấy các nhân vật trẻ đẹp được chăm chút nhan sắc tỉ mỉ từng chi tiết, đối với truyện drama thì nhân vật được vẽ cẩn thận, đẹp sắc sảo và sinh động,… đem lại cảm giác mãn nhãn cho người xem.

    – Cốt truyện mới lạ: Cốt truyện của drama luôn đước đánh giá là có chứa tình tiết mới lạ, độc đáo, dẫn dắt người xem và bạn sẽ bị cuốn vào câu truyện của nhân vật trong tác phẩm.

    – Bối cảnh tuyệt đẹp: Đây chính là một trong những yếu tố làm nên một drama kinh điển. Những hình ảnh tuyệt đẹp trong phim, truyện góp phần tạo nên sự hấp dẫn và thu hút người xem.

    – Sự hài hước đan xen: Ngoài những yếu tố buồn bã, căng thẳng thì drama còn lồng ghép vào những tình huống hài hước để gây ấn tượng và tạo sự thích thú đối với người xem.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Drama Là Gì? Định Nghĩa Về Phim Drama, Truyện Drama
  • Drama Là Gì, Drama Queen Nghĩa Là Gì Với Giới Trẻ Trên Facebook
  • Thấu Thị Tiểu Thần Côn
  • Các Hồ Sơ Diện F (F1, F2A, F2B, F3) Đều Bị Lùi Lại Từ 12
  • Làm Hồ Sơ Định Cư Mỹ Diện F (F1, F2, F3, F4) Như Thế Nào?
  • Drama Là Gì, Hít Drama Là Gì Trong Giới Trẻ Facebook, Drama Queen, Drama King Nghĩa Là Gì, 5 Loại Drama

    --- Bài mới hơn ---

  • Link Là Gì? Khái Niệm Và Cách Sử Dụng Các Loại Link Trong Website
  • Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh Tiếng Anh Là Gì?
  • Tb Có Nghĩa Là Gì? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Tb Là Gì Trên Facebook?
  • Check In Là Gì? Rep Là Gì Trên Facebook?
  • Từ Drama có rất nhiều nghĩa, drama dịch ra có nghĩa là tuồng, kịch, hành động. Khái niệm Drama bắt nguồn từ Hy Lạp, nó có nghĩa là hành động, kịch tính. Drama trên facebook hay trong game hiện nay mang chiều hướng là thị phi, bóc phốt, những phốt ở đây thường có sức ảnh hưởng lớn, ví dụ như vụ Kiều Anh hera hay hot girl Gia Lai.

    Drama là gì trong giới trẻ anime, trên Facebook và trong game?

    Từ Drama có rất nhiều nghĩa, nó được dịch ra có nghĩa là tuồng, kịch. Khái niệm Drama bắt nguồn từ Hy Lạp, nó có nghĩa là hành động, kịch tính. Thuật ngữ Drama trên facebook mang chiều hướng là thị phi, bóc phốt, những phốt ở đây thường có sức ảnh hưởng lớn, ví dụ như vụ Kiều Anh hera hay hot girl Gia Lai.

    Mỗi một ngành nghề đều mang một thuật ngữ riêng biệt, mỗi thuật ngữ đều có nguồn gốc, xuất xứ và ý nghĩa của nó. Hôm nay, Massageishealthy sẽ giúp bạn hiểu rõ cụm từ Drama là gì, và các dạng Drama phổ biến trong giới trẻ hiện nay như thế nào!

    Từ Drama có nguồn gốc từ đâu?

    Drama dich ra tiếng Việt là kịch, là một môn nghệ thuật đã có từ xưa. Thuật ngữ Drama bắt nguồn từ Hy Lạp, nó có nghĩa là hành động, kịch tính. (tiếng Hy Lạp cổ điển: δρᾶμα, Drama), được bắt nguồn từ “I do” (Tiếng Hy Lạp cổ: δράω, drao) đây là một sự kết hợp giữ bi kịch và hài kịch.

    Và Drama cũng được coi là một thể loại thơ ca, sự kịch tính được đối chiếu với các giai thoại sử thi và thơ ca từ khi Thơ của Aristotle (năm 335 trước Công nguyên) – tác phẩm đầu tiên của thuyết kịch tính ra đời.

    Drama còn được xem là một thể loại kịch chỉ được diễn trên sân khấu. Aristotle đã phân loại các hình thức thơ khác nhau.

    Drama là gì chúng ta cùng tìm hiểu nghĩa từ /drɑː.mə/ trong từ điển Anh – Việt nhé?

    • Drama có nghĩa là: Kịch, tuồng. ( Danh từ)
    • Drama: Sự việc kịch tính, hành động kịch tính ( Động từ).

    Còn có nghĩa là kịch

    • Drama workshop (Dramastudio) – Nhà diễn kịch
    • Horror Drama – Thảm kịch
    • Music-Drama theater – Nhà hát nhạc kịch

    Các từ liên quan đến Drama:

    Từ đồng nghĩa – noun

    Boards , broadway , climax , comedy , Dramatic art , Dramatization , Dramaturgy , farce , footlights , histrionic art , meloDrama , play , production , scene , show , show business , showmanship , stagecraft , stage show , tear-jerker , theater , theatricals , thespian art , tragedy , vehicle * , crisis , Dramatics , emotion , excitement , histrionics , spectacle , tension , theatrics , acting , cliffhanger , composition , conflict , ensemble , movie , opera , program , pyrotechnics , repertory , tetralogy

    Từ trái nghĩa – noun: comedy

    Một Drama thường liên quan đến ai?

    • Người viết kịch bản – biên kịch – đạo diễn
    • Khán giả – những người đến xem
    • Diễn viên – những người nhập vai vào các nhân vật trong vở diễn.

    Các thể loại Drama thông dụng được dùng nhiều nhất hiện nay

    • Là một vở kịch sân khấu
    • Phim Drama: Phim bộ, các thể loại phim tình cảm, phim truyền hình dài tập.
    • Phim hoạt hình anime, truyện chuyển thể từ manga Nhật Bản.
    • Phim dài tập chuyển thể từ tiểu thuyết, sử thi, hay truyện tranh, truyện online.
    • Truyện Drama: Các bộ truyện dài tập được dầu tư kỹ về nội dung.

    Drama là gì trong giới trẻ, anime

    Drama có 2 cách hiểu cơ bản. Nếu trong từ điển tiếng Anh, Drama được cho là tuồng, chuyên về kịch sân khấu.

    Còn nếu nói theo thuật ngữ Nhật Bản, Drama thường xuất hiện trong các bộ Anime và manga với đa dạng các thể loại: tình cảm, hồi hộp, bực bội, bi kịch, trinh thám, cảm động và phẫn nộ… tạo cho người xem cảm giác buồn bã và căng thẳng.

    • Kể từ đó thì Drama được dùng để chỉ các loại kịch mang kịch tính, hồi hộp.
    • Các vở kịch sân khấu, kịch nói
    • Phim Drama: Phim Drama: Phim bộ, các thể loại phim tình cảm, phim truyền hình dài tập.
    • Phim hoạt hình anime, truyện chuyển thể từ manga Nhật Bản.
    • Phim dài tập được chuyển thể từ tiểu thuyết, sử thi, hay truyện tranh, truyện online.

    Khái niệm Phim Drama là gì?

    Phim Drama được hiểu là một bộ phim dài tập, có các tình tiết kéo dài, Bộ phim được xây dựng hoàn toàn trên cuộc đời của một con người, một nhân vật có thực, nội dung phim nói về quá khứ cũng như hiện tại, những biến cố và những nỗ lực vươn lên trong cuộc sống của cá nhân họ, hoặc với gia đình hay công đồng.

    Hoặc một câu chuyện hư cấu nhưng phản ánh xã hội. Những bộ phim này thường đem lại cảm giác buồn vui, hạnh phúc đan xen đẩy cảm xúc khán giả lên cao.

    Nếu so sánh Drama với movie thì Drama có một điểm chung là nếu nội dung phim được làm theo cả 2 thể loại thì nội dung chính đều giống nhau. Movie là phim 1 tập thường chiếu ở rạp còn Drama thường chiếu ở TV và có nhiều tập.

    Drama thường thiên về chính kịch, bao gồm phim điện ảnh (Cine) và phim truyền hình dài tập (series). Trong đó, webDrama thuộc thể loại phim truyền hình. Nhưng định nghĩa phim truyền hình là phim dài tập chứ không phải phim được chiếu trên truyền hình như mọi người lầm tưởng.

    Một trong những bộ phim đình đám phải kể đến đó là Mr. Sunshine. Phim đánh dấu sự trở lại của siêu sao Lee Byung Hun trên màn ảnh nhỏ cùng “cô hầu gái” Kim Tae Ri. Được xếp top phim Drama xuất sắc năm 2021.

    Nội dung phim xoay quanh Choi Yoo Jin (Lee Byung Hun), người đã trốn lên tàu chiến và lưu lạc đến Mỹ trong chuyến thám hiểm của Mỹ tới Triều Tiên vào năm 1871.

    Khi trưởng thành, anh trở lại quê hương với vai trò là một người lính Mỹ đóng quân tại chính đất nước mình, trong bối cảnh chế độ quân chủ ở Triều Tiên đã sụp đổ. Anh gặp và yêu con gái của một nhà quý tộc.

    Ngoài ra, Hàn Quốc còn có giải thưởng khác được khá nhiều người quan tâm như: KBS Drama Awards, Seoul International Drama Awards…Để có một bộ phim thành công, cần kết hợp với nhiều yếu tố, tâm huyết của đoàn phim. Nhưng điều thực tế là phần nổi của bộ phim mới tạo sức hút cho giới trẻ.

    Những bộ phim Drama Hàn Quốc được yêu thích nhất

    • Giày Thủy Tinh
    • Nàng DAE JANG GEUM
    • Chuyện Tình Paris
    • Vườn Nho
    • Truyền Thuyết JUMONG
    • Cô Nàng Đẹp Trai
    • Khu Vườn Bí Mật
    • Phẩm Chất Quý Ông
    • Vì Sao Đưa Anh Tới
    • Hậu Duệ Mặt Trời

    Top những bộ phim Drama Hoa Ngữ được yêu thích nhất đầu năm 2021

    • Tiên sinh tình yêu
    • Người đàm phán
    • Quy khứ lai
    • Huyền của Ôn Noãn
    • Liệt hỏa như ca
    • Cuộc sống tươi đẹp
    • Nam phương hữu kiều mộc
    • Con đường đưa tiễn đầy hoa
    • Phượng tù hoàng

    Các bộ phim Drama Việt đình đám

    • Người Trong Giang Hồ
    • Ai Chết Giơ Tay
    • Nam Phi Liên Hoàn Kế
    • Thập Tam Muội

    Các hạng mục được đề cử trong giải thưởng Korea Drama Award mới đây nhất (năm 2021) bao gồm:

    • Giải thưởng lớn: Kim So Yeon (When One’s Home Is Happy)
    • Nữ diễn viên hàng đầu: Baek Jin Hee (My Daughter Geum Sa Wol)
    • Nam diễn viên hàng đầu: Ahn Jae Hyun (Cinderella and Four Knights) và Jang Hyun Sung (Doctors)
    • Cặp đôi đẹp nhất: Song Joong Ki và Song Hye Kyo (Descendants of the Sun)
    • Nam diễn viên xuất sắc nhất: Jo Jae Yoon (Descendants of the Sun)
    • Nữ diễn viên xuất sắc nhất: Park Se Young (My Daughter Geum Sa Wol)
    • Biên kịch xuất sắc nhất: No Hee Kyung (Dear My Friends)
    • Nam diễn viên mới xuất sắc: Seo Ha Jun (Ok Joong Hwa)
    • Nữ diễn viên mới xuất sắc: Kim Sae Ron (Witch Exemplar)
    • Giải thưởng giám khả đặc biệt: So Yoo Jin (I Have Five Children)
    • Giải thưởng ngôi sao toàn cầu: Ahn Jae Hyun (Cinderella and Four Knights)
    • Giải thưởng ngôi sao nổi tiếng: Lee Ki Woo (Memory)
    • Giải thưởng ngôi sao Hallyu: Han Seung Yeon
    • Phim truyền hình xuất sắc nhất: Descendants of the Sun (Hậu duệ của mặt trời)
    • Nhạc phim xuất sắc nhất: Insooni – Such A Beautiful Person (Mom)

    Định nghĩa về truyện Drama là gì?

    Truyện Drama là các bộ truyện tranh dài tập được đầu tư kỹ lưỡng. Đa dạng thể loại đáp ứng nhu cầu đọc truyện ở mọi độ tuổi.

    Hầu hết những người khi nghe tới Drama lại nghĩ đến bộ môn nghệ thuật thứ bảy và anime. Đây được xem là hai nền công nghiệp có sức ảnh hưởng lớn nhất hiện nay.

    Chủ yếu là những bộ phim đến từ Hàn Quốc và những bộ truyện tranh đình đám tại Nhật Bản. Gần giống như phim, truyện Drama thường xoay quanh cuộc đời của một nhân vật và đem lại cho người xem nhiều xúc cảm khác nhau, vui buồn lẫn lộn.

    Vì sao thể loại phim, truyện Drama được yêu thích?

    Nhân vật, diễn viên đẹp

    Đa phần các diễn viên ngày nay đều rất xinh đẹp, các idol m nhạc cho đến những nét vẽ, nhân vật truyện đẹp,… đem lại cảm giác mãn nhãn cho người xem.

    Cốt truyện mới lạ

    Drama luôn tạo nhiều cốt truyện độc đáo, tình tiết mới lạ, hấp dẫn, lôi cuốn người xem bị cuốn vào câu chuyện trong nhân vật của tác phẩm.

    Bối cảnh tuyệt đẹp

    Sự kinh điển của Drama được tạo nên bởi bối cảnh của bộ phim và những hình ảnh tuyệt đẹp đã góp phần làm nên sự hấp dẫn và thu hút độc giả.

    Nhạc phim hay

    Bên cạnh những yếu tố kịch tính, bi ai thì còn đan xen vào yếu tố hài hước, đây cũng chính là phần gây ấn tượng mạnh cho người xem.

    Những yếu tố quyết định tạo nên một bộ Drama kinh điển là gì?

    Bối cảnh, cách chia thể loại phim, kiểu phim và dạng thực hiện, đối tượng phim muốn nói đến.

    Sự thành công của thể loại Drama có lẽ xuất phát từ Hàn Quốc. Những bộ phim từ Hàn Quốc đang gây nên cơn sốt mới cho giới trẻ ở Châu Á nói riêng và Quốc Tế nói chung.

    “Hít Drama là gì” với giới trẻ trên facebook thường sử dụng

    Trong năm 2021 vừa qua, những Drama đình đám thi nhau xuất hiện trên facebook, phải kể đến Kiều Minh Tuấn và An Nguy, hay của Nam Em và Trường Giang. Vậy Drama là gì?

    Tại sao trên Facebook lại xuất hiện những cụm từ như hít hà Drama. Những điều thắc mắc trên sẽ được Massageishealthy sẽ giải đáp ngay sau đây.

    Thuật ngữ hít Drama trên facebook mang chiều hướng là thị phi, bóc phốt, những phốt ở đây thường có sức ảnh hưởng lớn, ví dụ như vụ Kiều Anh Hera hay hot girl Gia Lai.

    Drama queen – nữ hoàng bi kịch

    Chắc hẳn sẽ có ít nhất 1 lần mọi người nghe về cụm từ này. Drama queen là cụm từ chỉ chung cho các cô nàng bị hoang tưởng về bản thân. Người mà không một ai muốn dính líu đến vì sẽ khá phiền phức. Nguyên nhân chính dẫn đến tính cách này có thể xuất phát từ gia đình và hoàn cảnh sống.

    Những cô nàng này thường có tâm tư hỗn loạn, không ổn định, do sống trong môi trường không ổn định, suy ra tự suy diễn cuộc đời mình thành bi kịch, sống trong bi quan, không thể tự làm chủ được cảm xúc và chìm đắm vào mớ hỗn độn do chính mình tạo ra.

    Và những người bị gọi là Drama Queen thường biểu hiện qua: cảm xúc, hành động và lời nói sẽ khá bất thường.

    Nhắc đến Drama, người ta nghĩ đến bộ môn nghệ thuật thứ 7 và anime của Nhật Bản. Ở Hàn Quốc, thể loại Drama có sức ảnh hưởng lớn nhất và đem lại nhiều xúc cảm cho người xem.

    Có thể nói, phim và truyện Drama là hai yếu tố song hành với nhau. Chúng vừa cạnh tranh vừa hỗ trợ nhau phát triển. Giúp người xem và bạn đọc có những mẫu truyện mới cùng loại phim mới có nội dung cuốn, đi vào lòng người và gây ấn tượng mạnh.

    Drama hiện đại được hiểu như thế nào?

    Theo như nghĩa từ điển thì Drama được xếp vào thể loại kịch, nhưng theo thuật ngữ của anime và manga Nhật Bản thì Drama là định nghĩa của một loại phim tập trung vào bi kịch, tình cảm, trinh thám, tạo cho người xem những xúc cảm nhất định.

    Người ta ngầm hiểu Drama là một thể loại phim chiếu trên truyền hình, và thường là những bộ phim dài tập, còn movie được chiếu ở các cụm rạp.

    Là 1 thể loại của film, bao gồm trong cả film Điện ảnh (Cine) cũng như film truyền hình dài tập (series), web Drama là 1 thể loại trong film truyền hình. Định nghĩa film truyền hình được mặc định là film dài tập (series) chứ không phải để chiếu trên truyền hình.

    Được thể hiện dưới dạng truyện tranh và hoạt hình, chủ yếu được Nhật Bản áp dụng phổ biến, hay tập trung vào thể loại trinh thám, tình cảm, chính kịch,.. tạo cho người xem một cảm giác buồn bã, căng thẳng mỗi khi xem.

    Drama được phân thành nhiều mục nhỏ theo tâm trạng, giai điệu, hành động xảy ra trong cốt truyện. Một số dạng Drama nổi tiếng bao gồm:

    Tuy Drama thường thiên về bi kịch nhiều hơn, nhưng vẫn đẩy mạnh nội dung hài kịch, mang tiếng cười nhẹ nhàng đến với khán giả.

    Thông thường, hài kịch thường đặt nhân vật vào thế bất thường, làm cho nhân vật bật ra được sự hài hước và làm cho câu chuyện đó trở nên vui hơn trong mắt người xem, đồng thời, nó còn đem lại ý nghĩa sâu sắc và thường đem đến kết thúc có hậu.

    Hài kịch còn có một khía cạnh khác đó là hài kịch châm biếm, nhắc đến châm biếm thì phải nhắc đến tác giả Vũ Trọng Phụng.

    Hơn thế nữa, hài kịch còn chia ra làm nhiều mảng nhỏ như: hài kịch lãng mạn, hài kịch tình cảm, phim hài bi kịch – trong đó phim hài bi kịch thường lấy cái hài làm bi, khiến cho cảm xúc được đẩy lên cao nhất.

    Nói đến bi kịch thì người ta thường nghĩ đến những chủ đề bi ai trong cuộc sống. Những điều tồi tệ xảy đến với con người, về thảm họa thiên nhiên, về ô nhiễm môi trường,… với một sự đầu tư về kịch bản vô cùng logic và sáng tạo, đẩy được cảm xúc người xem.

    Đến với những tác phẩm này, sự bất hạnh được nhân lên thay vì hạnh phúc sau cùng. Ví dụ Hamlet trong tác phẩm cùng tên của Shakespeare- người luôn cảm thấy gánh nặng về những sai lầm của mình.

    Chính kịch là một thể loại được cho là dành riêng cho giới quý tộc, nếu nói về hài kịch thì chỉ thiên về phần hài hước là chính và dành cho tầng lớp bình dân. Còn chính kịch thì bao gồm cả bi và hài, đẩy mạnh được cảm xúc của người xem.

    Chính kịch là một thể loại trộn lẫn cả 2 yếu tố, nâng cao được sức hấp dẫn cho người xem và hiệu suất xem, đẩy mạnh cảm xúc giúp người xem có thể nhập tâm vào phim hơn.

    Hài kịch phóng đại (Farce)

    Đến với thể loại kịch này, bạn không thể nào không phì cười vì tạo hình nhân vật và nội dung, phóng đại tình huống sự việc trở nên vô lý và mang trong đó sự hài hước tột độ, giúp người xem cười từ đầu tới cuối. Điển hình là các tác phẩm như Waiting for Godot của Samuel Beckett và Airplane của Jim Abrahams.

    Đối với những ai mê cổ trang, anh hùng thì đây là một thể loại hoàn toàn thích hợp để người xem thưởng thức. MeloDrama mô tả về các nhân vật một chiều cổ điển như anh hùng, nữ anh hùng, nhân vật phản diện với những tình huống giật gân, lãng mạn hoặc nguy hiểm.

    Đôi khi, MeloDrama còn được gọi với cái tên “Tearjerkers”. Bạn có thể biết về thể loại Tearjerkers này thông qua bộ tiểu thuyết cuốn theo chiều gió đình đám.

    Opera là một thể loại khá đa năng, chúng kết hợp cả kịch và âm nhạc, khiêu vũ,.. với nhiều loại nội dung khác nhau, bao gồm cả chính kịch và hài kịch. Nội dung kịch chủ yếu được thể hiện bằng bài hát, đẩy cảm xúc khá tốt thay vì đối thoại.

    DocuDrama (Drama tài liệu)

    Đây có thể cho là một thể loại hoàn toàn mới, khắc họa những nhân vật trong lịch sử với một câu chuyện hoàn toàn có thật.

    Những cách sử dụng Drama phổ biến khác

    Ngày nay, khái niệm Drama đang dần Việt hóa và đang được sử dụng như tiếng Việt vay mượn. Trong phần này thì Massageishealthy sẽ giới thiệu đến quý đọc giả những cụm từ sử dụng chung với Drama.

    Web Drama có nội dung phim tương tự như các bộ phim truyền hình phát hành trên sóng TV. Tuy nhiên, nó giống với tên gọi của mình là những bộ phim này chỉ phát hành trên internet. Về kinh phí đầu tư và thời lượng phát sóng sẽ thấp hơn hẳn so với phim truyền hình, đồng thời, số tiền kiếm được cũng ít hơn.

    Web Drama có lượng người xem rơi vào độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi. Một trong những giải thưởng lớn của phim truyền hình Hàn Quốc là Korea Drama Awards.

    Đây là một giải thưởng dành cho các phim truyền hình xuất sắc tại Hàn Quốc. Những bộ phim được đề cử giải này thường được phát sóng trên ba kênh truyền hình lớn như: KBS, MBC và SBS.

    SBS Drama Awards (Giải thưởng phim truyền hình SBS) được tổ chức hằng năm, là một lễ trao giải dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực phim truyền hình Hàn Quốc được phát sóng trên kênh SBS và được tổ chức bởi Seoul Broadcasting System (SBS).

    Ngày diễn ra lễ trao giải thường rơi vào ngày 31 tháng 12 mỗi năm, Giải thưởng cao nhất của SBS Drama Awards là “Giải Daesang” được trao cho nam/ nữ diễn viên xuất sắc nhất trong năm.

    Ngoài ra thì còn có một số danh hiệu khác đi kèm như:

    • Nam diễn viên xuất sắc nhất
    • Nữ diễn viên xuất sắc nhất
    • Biên kịch xuất sắc nhất
    • Nam diễn viên mới xuất sắc
    • Nữ diễn viên mới xuất sắc
    • Giải thưởng giám khảo đặc biệt
    • Giải thưởng ngôi sao toàn cầu
    • Giải thưởng ngôi sao nổi tiếng
    • Giải thưởng ngôi sao Hallyu
    • Phim truyền hình xuất sắc nhất
    • Nhạc phim xuất sắc nhất

    Là nơi tập hợp những ai yêu thích dòng phim này đến để giao lưu, trao đổi về các bộ phim hay.

    Drama cẩu huyết có nội dung khá nhàm chán, thường là những tình huống lặp đi lặp lại trong phim hay vở kịch, khiến người xem cảm thấy mệt mỏi.

    Drama Queen và Drama King là gì trong giới trẻ trên Facebook

    Hai thuật ngữ này nhằm ám chỉ 2 diễn viên nổi tiếng và giỏi nhất trong Drama. Drama Queen là nữ hoàng kịch còn Drama King là ông vua kịch. Có thể nói đạt được danh hiệu này rất khó bởi vì không phải ai cũng diễn hay.

    Bên cạnh nghĩa chính, Drama Queen và Drama King đôi khi cũng được sử dụng với ý nghĩa tương đối mỉa mai để chỉ những người (nam hoặc nữ) quá ảo tưởng. Thường là chỉ những người cho mình là trung tâm của vũ trụ, tự biên tự diễn cuộc đời của mình, luôn chìm vào những tình tiết do mình tạo ra một cách vô thức, mê muội.

    Những đối tượng này thường gây sự chú ý bằng những hành động, phát ngôn gây sốc trên mạng xã hội. Nhằm kéo sự chú ý về phía mình, kiếm fan hâm mộ. Nhưng ở thực tế thì bạn bè họ khá ít, có thể cho rằng, những người này đang sống ảo.

    Rõ ràng các vụ Drama quá căng thẳng, chửi nhau nhiệt tình là không tốt và sẽ gây mất hoà khí trong cộng đồng game thủ, tuy nhiên nhiều vụ việc đơn giản chỉ là để bày tỏ quan điểm mà thôi chứ chẳng gây hại gì đến cuộc sống thực cũng như là việc chiến game cả.

    Tuy nhiên nhìn theo khía cạnh khác thì chính những topic như vậy lại khiến cho group – cũng chính là cả cộng đồng trở nên ‘xôm’ hơn rất nhiều bởi đơn giản là cứ có cãi nhau thì thêm nhiều người ‘hóng’, mà càng đông thì càng vui rồi!

    Thế nhưng, theo nhiều game thủ có cái nhìn nghiêm túc hơn thì thực tế các vụ Drama đang dần dà trở thành “Ung Nhọt” trong các group về game khi nhiều lúc kéo cả trang cũng chẳng có vụ việc gì mới mẻ mà chỉ toàn tranh cãi vô bổ không có hồi kết! Dù có muốn tìm kiếm thêm một số các chia sẻ hay kiến thức mới về thế giới ảo cũng không thể.

    Nhìn một cách tổng quát thì nếu như thiếu các Drama thì group chơi game sẽ vô cùng… nhạt nhẽo và buồn bã bởi chẳng phải lúc nào các TUT game cũng là đáng xem và gamer kỳ cựu gần như đã thuộc nằm lòng hết rồi, các vụ việc khác sẽ giúp họ giao lưu được nhiều hơn và gắn bó hơn với cộng đồng.

    Song cái gì quá cũng đều không tốt cả, việc để những vụ Drama không đâu xuất hiện một cách tràn lan sẽ khiến cho xích mích gia tăng giữa game thủ với nhau, dễ dẫn tới cãi nhau mạt sát chẳng còn vui chút nào nữa cả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Drama Là Gì ? Ý Nghĩa Của Từ Drama Trên Facebook Là Gì?
  • Giải Đáp “add Có Nghĩa Là Gì” Dành Cho Người Chưa Biết
  • Gt Trong Toán Học Là Gì? Giải Tích Là Gì?
  • K Là Gì Trong Toán Học?
  • Shisha Điện Tử Là Gì Và Đặc Điểm Nổi Bật Của Shisha Điện Tử
  • “liêm Chính Học Thuật”: Lý Luận, Thực Tiễn Và Những Yêu Cầu Đặt Ra Trên Thế Giới Và Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Và Vai Trò Của Luận Điểm Trong Văn Viết Học Thuật ” Anh Ngữ Zim
  • Tìm Hiểu Về Khái Niệm, Vai Trò, Đặc Điểm Của Giáo Viên Tiểu Học
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Mục Tiêu Của Giáo Dục Tiểu Học Là Gì?
  • Quy Định Chung Về Trường Tiểu Học
  • Chuẩn Nghề Nghiệp Giáo Viên Tiểu Học Là Gì?
  • Tóm tắt: Nội dung cốt lõi của “liêm chính học thuật” là sự trung thực, ngay thẳng, trong sáng và trách nhiệm trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các cơ sở học thuật, đặc biệt là các trường đại học. Bảo đảm tính liêm chính là yêu cầu sống còn với sự tồn tại, phát triển của cộng đồng học thuật. Mặc dù vậy, các quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đều đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm liêm chính học thuật, mà những biểu hiện phổ biến bao gồm đạo văn, gian lận và bịa đặt trong nghiên cứu khoa học. Bài viết phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn và những biện pháp để bảo đảm liêm chính học thuật ở trên thế giới và Việt Nam.

    Từ khoá: liêm chính học thuật, đạo văn, gian lận, bịa đặt, trích dẫn, Việt Nam

    Summary: The key contents of academic integrity are honesty, truthfulness, transparency and accountability in the research activities, teaching activities and studying activities in the academic institutions, especially in the universities. Academic integrityassurance is a vital requirement for the existence and development of the academic community. However, all countries in the world, including Vietnam, are facing problems of the academic dishonesty, which manifests in plagiarism, fraudulency and fabrication in conducting scientific research. This article provides analysis of theoretical and practical issues and measures to ensuring academic integrity the world and Vietnam.

    Keywords: academic integrity, plagiarism, fraudulency, fabrication, citation, Vietnam

      Lịch sử, khái niệm và nội dung của liêm chính học thuật

    Về mặt ngôn ngữ học, liêm chính học thuật là một từ ghép, bao gồm liêm chính (integrity) và học thuật (academic). Khái niệm học thuật thường được hiểu là những hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các trường đại học. Về nguồn gốc, integrity xuất phát từ thuật ngữ La-tinh là integer, có nghĩa là toàn bộ, toàn thể. Còn theo Ann Nichols-Casebolts, liêm chính trong nghiên cứu nghĩa là cam kết cá nhân (của nhà nghiên cứu) hướng đến các tiêu chuẩn thật thà về kiến thức và trách nhiệm cá nhân hàm chứa các tiêu chuẩn về tính tin cậy và hợp pháp.

    Ở Việt Nam, quy định về liêm chính học thuật của Trường Đại học Hoa Sen định nghĩa gian lận trong học thuật là “hành vi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng các hình thức gian dối, ngụy tạo, và/hoặc thể hiện, trình bày, khai báo không đúng sự thật về hoạt động học thuật của mình”. Các hành vi cụ thể được coi là gian lận bao gồm: “Sử dụng sách, tài liệu, ghi chú, những thiết bị điện tử hay bất kỳ nguồn trợ giúp nào khác; trao đổi, nói chuyện trong thời gian làm bài thi/kiểm tra hay những hoạt động học thuật khác mà không được phép; làm chung với người khác bài tập giao về nhà, bài báo cáo, lập trình hay bất kỳ một hoạt động học tập được giao nào mà không có sự cho phép của giảng viên; có hành vi lấy cắp đề thi hay đáp án trước khi kỳ thi diễn ra; có hành vi giả mạo hồ sơ, sử dụng các hồ sơ không hợp pháp”.

    Như vậy, qua các định nghĩa trên, có thể thấy, hành vi bịa đặt trong học thuật có thể là người học (học sinh, sinh viên, học viên) và cả người làm công tác nghiên cứu. Trên thực tế, hành vi này đã từng được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu có uy tín, ví dụ như vụ bịa đặt trong nghiên cứu tế bào gốc của một nhà khoa học nổi tiếng Hàn Quốc là tiến sĩ Hwang Woo-suk vào năm 2005, hoặc “cố ý giúp đỡ hoặc chuẩn bị giúp đỡ người khác thực hiện một hành vi vi phạm liêm chính học thuật”, trong đó bao gồm: “Thi hộ hoặc thuê người khác thi hộ; làm báo cáo hoặc báo cáo hộ người khác; cho người khác sao chép bài làm của mình trong kỳ thi hay trong kiểm tra hoặc trong các hoạt động học thuật khác”. Đây thực chất là một hành động gian lận tập thể trong học thuật.

    Hối lộ hay đe dọa (Bribes, Threats): Biểu hiện của hành động này là việc hối lộ hoặc đe dọa người khác để có điểm hoặc có nhận xét tốt về kết quả học tập hay kết quả hoạt động chuyên môn, còn theo một học giả thì “Tính trung thực là nền tảng căn bản của niềm tin công chúng vào toàn bộ hệ thống nghiên cứu học thuật, …là cơ sở để tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu, cũng như để sử dụng các kết quả nghiên cứu trong việc ra quyết định”. Trước đó, công trình nghiên cứu quy mô và chuyên sâu đầu tiên về vấn đề này do cố giáo sư Donald McCabe cùng đồng sự thực hiện và công bố năm 2001 cũng kết luận rằng tình trạng gian lận học thuật ở Mỹ diễn ra một cách phổ biến và một số dạng thức gian lận đã gia tăng một cách đột ngột (dramatically) trong vòng 30 năm gần đây.

    Tuy nhiên, cần thấy rằng, còn có nhiều nguyên nhân khác góp phần vào sự suy giảm của liêm chính học thuật trên thế giới trong những thập kỷ gần đây, trong đó bao gồm: (1) Sự phát triển của Internet làm cho việc tìm kiếm, chia sẻ và sao chép các tài liệu nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết trong lịch sử học thuật; (2) Sự bùng nổ của giáo dục bậc cao khiến cho các trường đại học được mở ra khắp nơi, đào tạo số lượng sinh viên lớn, dẫn tới việc phải sử dụng cả nguồn giảng viên có năng lực chuyên môn và liêm chính kém, cũng như làm quá tải hệ thống quản trị đại học; (3) Sự bùng nổ và tính chất thương mại hoá, cạnh tranh ngày càng cao của ngành xuất bản, trong đó có xuất bản học thuật (tạp chí, sách chuyên khảo…) dẫn đến sự cắt giảm các tiêu chuẩn và quy trình rà soát, kiểm tra tính liêm chính của các công trình nghiên cứu được đăng tải; (4) Sự tôn sùng thái quá, dẫn tới sự chiều chuộng, thờ ơ với những cố tật của giới học thuật trong một số xã hội… Tất cả những yếu tố này đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự suy giảm tính liêm chính của cộng đồng học thuật trên thế giới những năm gần đây.

    Trước tình thế nêu trên, nhiều trường đại học trên thế giới đã tìm cách “tự cứu mình” bằng việc xây dựng, củng cố bộ quy tắc liêm chính học thuật nhằm hạn chế và xoá bỏ những hành vi gian lận, thiếu trung thực trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập, qua đó giữ gìn niềm tin của xã hội. Đây có thể coi là biện pháp phổ biến và hiệu quả nhất để đối phó với tình trạng suy giảm về liêm chính học thuật hiện nay. Tuy có tên gọi và nội dung ít nhiều khác nhau, các bộ quy tắc về liêm chính học thuật của các trường đại học trên thế giới đều có những điểm chung là: đều khẳng định sự cần thiết, tầm quan trọng của liêm chính học thuật; đều xác định những hành vi bị xem là vi phạm liêm chính học thuật bị cấm; đều đề cập đến những biện pháp xử lý vi phạm liêm chính học thuật.

    Ở góc độ nhà nước, mặc dù liêm chính học thuật thường được xem là thuộc phạm trù đạo đức, là vấn đề riêng của cộng đồng học thuật, mà cụ thể là các trường đại học, nên chủ yếu được điều chỉnh bằng quy chế của nhà trường, song các nhà nước cũng có những trách nhiệm nhất định. Vì vậy, Chính phủ của một số nước, mà cụ thể là cơ quan chủ quản về giáo dục cũng thắt chặt các quy định chung, mang tính chất nguyên tắc về bảo đảm liêm chính học thuật trong giáo dục, bằng cách lồng vào các văn bản pháp luật chuyên ngành về giáo dục, hoặc tách ra thành những văn bản hướng dẫn riêng. Thêm vào đó, ở một số quốc gia, Nhà nước còn can thiệp vào vấn đề này bằng cách ban hành những quy định cấm và xử lý những hành vi thương mại hoá, bao gồm cung cấp dịch vụ viết luận văn, luận án, bài tập cho sinh viên, học viên. Mặc dù vậy, những nỗ lực đó chưa mang tính phổ biến.

    Ở góc độ quốc tế, trong Hội nghị thế giới lần thứ hai về Liêm chính trong hoạt động nghiên cứu (the 2nd World Conference on Research Integrity):

    (1) Tính trung thực: Nhà khoa học có trách nhiệm về tính tin cậy trong nghiên cứu.

    (3) Phương pháp nghiên cứu: Nhà khoa học phải sử dụng phương pháp nghiên cứu hợp lý, dựa trên các kết luận có chứng cứ khoa học, và báo cáo về những phát hiện và giải thích một cách đầy đủ, khách quan.

    (4) Hồ sơ nghiên cứu: Nhà khoa học có nghĩa vụ lưu đầy đủ, chi tiết, rõ ràng, và chính xác các kết quả mà họ đạt được trong quá trình nghiên cứu để những người khác có thể thẩm định hay lặp lại công việc đã thực hiện.

    (5) Phát hiện của nghiên cứu: Nhà khoa học phải chia sẻ công khai và kịp thời dữ liệu và phát hiện ngay sau khi họ có cơ hội để thiết lập quyền ưu tiên và quyền sở hữu.

    (8) Chuyên gia đánh giá: Nhà khoa học cần cung cấp các đánh giá một cách công bằng, kịp thời và nghiêm ngặt, và đảm bảo tính bí mật khi bình duyệt công việc của người khác.

    (11) Báo cáo về nghiên cứu thiếu trách nhiệm: Nhà khoa học phải báo cáo cho cơ quan thẩm quyền khi có nghi ngờ về hành vi sai trái trong nghiên cứu, bao gồm giả mạo, đạo văn và thực hiện nghiên cứu thiếu tinh thần trách nhiệm khác làm giảm sự tin cậy trong nghiên cứu, chẳng hạn như bất cẩn, liệt kê sai danh sách tác giả, không báo cáo dữ liệu mâu thuẫn, hoặc việc sử dụng các phương pháp phân tích sai lệch.

    (12) Đối phó với việc thực hiện nghiên cứu thiếu trách nhiệm: Các viện nghiên cứu cũng như các tạp chí, các tổ chức và các cơ quan thực hiện nghiên cứu cần phải có các thủ tục để đối phó với những cáo buộc về hành vi sai trái và thiếu trách nhiệm trong công tác nghiên cứu, đồng thời bảo vệ những người đứng ra tố cáo các hành vi như vậy. Một khi hành vi sai trái hoặc việc thực hiện nghiên cứu thiếu trách nhiệm được xác nhận, các biện pháp thích hợp phải được thực thi kịp thời, kể cả việc sửa chữa các hồ sơ nghiên cứu.

    (13) Môi trường nghiên cứu: Tổ chức nghiên cứu phải tạo ra và duy trì môi trường đề cao tính trung thực thông qua giáo dục, chính sách cụ thể, và các chuẩn mực khách quan nhằm xây dựng môi trường làm việc đảm bảo tính trung thực trong nghiên cứu.

    (14) Trách nhiệm với xã hội: Các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu cần có đạo đức trách nhiệm để đem lại lợi ích nhiều nhất cho xã hội trước những rủi ro vốn có trong công việc của họ.

    · Xử lý văn bản nhanh (không giới hạn từ).

    · Giao diện dễ sử dụng.

    · Đưa báo cáo chi tiết về bài viết

    · Có dịch vụ hỗ trợ viết để tránh đạo văn: thu phí

    · Không hỗ trợ tiếng Việt.

    · Xử lý kể cả nội dung của toàn bộ trang web.

    · Hỗ trợ nhiều dạng tệp ở bất kỳ ngôn ngữ nào.

    · Phải đăng ký tài khoản.

    · Sẽ sớm công bố phiên bản trả tiền.

    · Cho phép tải ứng dụng về miễn phí với máy hệ Windows để kiểm tra đạo văn.

    · Hỗ trợ hơn 190 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt

    · Chỉ báo đạo văn nếu phát hiện chính xác tuyệt đối 100% câu.

    · Công cụ hỗ trợ viết lại có thể vô tình tiếp tay cho việc đạo văn.

    · Kể cả đã có tài khoản cũng chỉ được kiểm tra 3 bài/ ngày.

    · Dễ sử dụng.

    · Xử lý đến 5.000 từ/ lần.

    · Bản miễn phí hạn chế tính năng (ví dụ: chỉ tải tập tin lên được để kiểm tra khi đã trả tiền).

    · Giao diện dễ sử dụng.

    · Không giới hạn tính năng.

    · Chỉ kiểm tra từng đoạn được.

      Liêm chính học thuật ở Việt Nam: Thực trạng và những yêu cầu đặt ra

    Một số cuộc khảo sát ở quy mô nhỏ cho thấy mức độ gian lận trong học tập của sinh viên đại học ở Việt Nam rất cao. Ví dụ, khảo sát gần đây của Trường Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) với sinh viên mới nhập học (sử dụng câu hỏi: “Bạn từng sao chép nguyên bản bài viết của các tác giả trên mạng, sách tham khảo, giáo trình… mà không trích dẫn chưa?”) cho thấy kết quả chỉ có 16% số sinh viên được hỏi trả lời chưa.

    Đối với giới nghiên cứu nước ta, tình trạng thiếu liêm chính cũng diễn ra rất phổ biến, một cách vô tình hoặc hữu ý. Việc sao chép trong các công trình nghiên cứu, kể cả các đề tài cấp độ cao (cấp nhà nước, cấp bộ…) trở thành “chấp nhận được” miễn là không quá lộ liễu. Hành động tạo dựng, bóp méo số liệu, dữ liệu đầu vào cũng có thể thấy trong nhiều công trình nghiên cứu lớn, nhỏ.

    Tình trạng thiếu liêm chính học thuật đang tàn phá niềm tin của xã hội vào hệ thống giáo dục nói chung, vào giới khoa học nói riêng. Uy tín của các nhà khoa học bị suy giảm, giá trị của bằng cấp bị hạ thấp. Thiếu liêm chính học thuật cũng là một nguyên nhân dẫn đến chất lượng và khả năng ứng dụng của các công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội, rất thấp – gây nên sự lãng phí lớn về tài sản và ngân sách trong bối cảnh nguồn lực cho nghiên cứu khoa học ở nước ta còn thiếu thốn. Cuối cùng, tình trạng này còn dẫn đến việc các nhà khoa học Việt Nam khó khăn trong việc hội nhập vào đời sống học thuật quốc tế – vốn đòi hỏi các tiêu chuẩn liêm chính học thuật rất cao.

    – Liêm chính học thuật chưa được pháp điển hoá và phổ biến đầy đủ: Hầu như các chủ thể có trách nhiệm chính trong vấn đề này ở nước ta đều chưa nhận thấy tầm quan trọng và có những nỗ lực hiệu quả để thúc đẩy liêm chính học thuật. Nhà nước, mà cụ thể là Bộ Giáo dục và Đào tạo – cơ quan chủ quản trong lĩnh vực này – chưa ban hành văn bản pháp luật nào cụ thể về liêm chính học thuật. Vấn đề liêm chính học thuật mới chỉ được đề cập một cách sơ sài trong 1, 2 điều khoản của các quy chế đào tạo thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở các trường đại học. Khảo sát những tài liệu công bố trên trang web của các trường đại học cho thấy, hầu hết mới chỉ đề cập đến liêm chính học thuật trong một vài điều khoản của quy chế đào tạo của trường – mà cơ bản là nhắc lại quy chế chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong thực tế, mới chỉ có một số trường đại học, tiêu biểu như Trường Đại học Hoa Sen, đã ban hành bộ quy tắc riêng về liêm chính học thuật, trong đó không chỉ bao gồm các quy tắc về trích dẫn mà cả những quy tắc để ngăn ngừa những hình thức vi phạm liêm chính học thuật khác.

    Ở các trường đại học, việc phổ biến các quy tắc về liêm chính học thuật thường được lồng ghép vào môn phương pháp nghiên cứu khoa học. Môn này thường chỉ bắt buộc giảng dạy ở các cấp thạc sĩ và tiến sĩ, không được giảng ở cấp cử nhân. Việc giảng dạy môn này thường mang tính hình thức, nặng về lý thuyết, ít bài tập thực hành.

    Những hạn chế, bất cập trong việc pháp điển hoá và giảng dạy như đã nêu trên dẫn đến hậu quả là hầu hết sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên đại học, nghiên cứu viên ở các cơ sở nghiên cứu của Việt Nam hiện nay chưa hiểu biết đầy đủ và chính xác các yêu cầu và nguyên tắc của liêm chính học thuật, kể cả những yêu cầu cơ bản như việc trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo. Việc thiếu các quy định cụ thể về liêm chính học thuật cũng gây khó khăn cho việc ngăn ngừa, xử lý sai phạm. Đây có thể xem là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng gian lận và thiếu trung thực phổ biến trong đời sống học thuật ở nước ta hiện nay Melissa S.Anderson et al, ‘Research Integrity and Misconduct in the Academic Profession’, trong Michael B. Paulsen (ed), Higher Education: Handbook of Theory and Research (Vol 28, Springer 2013), tr. 217. Dẫn theo Trần Kiên – Vũ Công Giao, “Trung thực trong nghiên cứu khoa học”, đăng trong cuốn Phương pháp nghiên cứu viết luận văn, luận án ngành luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021.

    tại https://www.psident.umd.edu/sites/psident.umd.edu/files/documents/policies/III-100A.pdf, truy cập ngày 2/12/2017.

    tại http://www.ox.ac.uk/sites/files/oxford/field/field_document/Academic%20good%20practice%20a%20practical%20guide.pdf, truy cập ngày 2/12/2017.

    American University, Academic Integrity Code, Mục II khoản 6,

    tại https://www.american.edu/academics/integrity/code.cfm, truy cập ngày 3/12/2017.

    tại https://www.tienphong.vn/cong-nghe-khoa-hoc/giao-su-han-quocnbspgia-nghien-cuu-te-bao-goc-32138.tpo, truy cập ngày 3/12/2017.

    American University, Academic Integrity Code, tlđd. Mục II khoản 6.

    Hội nghị lần thứ hai tổ chức tại Trường Đại học Hàng hải (Hải Phòng) ngày 09/09/2016.

    Tác giả: Vũ Công Giao, chúng tôi Viện Chính sách công và Pháp luật. Bài viết được đăng trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp, Số 6 (358) Kỳ 2 Tháng 3/2018Trích dẫn nguyên văn từ: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/201cliem-chinh-hoc-thuat201d-ly-luan-thuc-tien-va-nhung-yeu-cau-111at-ra-tren-the-gioi-va-o-viet-nam-1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tự Do Học Thuật Và Những Giới Hạn Còn Ít Người Biết
  • Phụ Lục I: Khái Niệm, Trường Phái, Học Thuyết
  • Học Thuyết Khoa Học Là Gì ? ” Blog Kinh Nghiệm
  • Để Xây Dựng “trường Học Hạnh Phúc”
  • Mục Đích Của Trường Học Là Gì?
  • Kinh Tế Số: Bối Cảnh Thế Giới Và Liên Hệ Với Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Kinh Tế Học: Khái Niệm Và Nguyên Lý
  • Định Nghĩa Về Kinh Tế Học
  • Khái Niệm Nào Sau Đây Không Thể Lý Giải Bằng Đường Giới Hạn Khả Năng Sản
  • Kinh Tế Đối Ngoại Là Gì? Cơ Hội Việc Làm Ngành Kinh Tế Đối Ngoại
  • Các Khái Niệm Viết Về Kinh Tế Đối Ngoại, Kinh Tế Quốc Tế, Toàn Cầu Hoá, Hội Nhập Kinh Tế Và Nước Ta Phải Mở Rộng Và Nâng Cao Hiệu Quả Của Kinh Tế Đối Ngoại Là Tất Yếu
  • 1Phòng Thí nghiệm Khoa học dữ liệu và Công nghệ Tri thức,

    2Phòng Thí nghiệm Công nghệ Vật liệu Nano,

    Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội)

    Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ song hành giữa các công nghệ số hóa (điển hình là Internet vạn vật) và kinh tế số (điển hình là sự xuất hiện và phát triển của nhiều hình thức kinh doanh sáng tạo và đa dạng) đã tạo nên sự biến đổi to lớn và nhanh chóng đối với kinh tế, xã hội và mọi mặt của đời sống con người. Kinh tế số đã trở thành một thành phần kinh tế đóng góp một tỷ trọng đáng kể với xu thế ngày càng tăng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, kinh tế số cũng làm phát sinh không ít các thách thức đáng quan tâm về khái niệm kinh tế số, mô hình phát triển kinh tế số và đo lường kinh tế số. Tìm ra các mô hình (khái niệm, phát triển, đo lường) kinh tế số nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới, Ngân hàng thế giới, v.v. Bài báo này cung cấp một số tìm hiểu bước đầu về kinh tế số, về một số cơ hội và thách thức từ kinh tế số cũng như mô hình đo lường. Bài báo cũng đưa ra một vài trao đổi sơ bộ về kinh tế số tại Việt Nam. Tăng cường nhận thức đúng đắn và toàn diện về kinh tế số, phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp kinh tế số (đặc biệt là lực lượng chuyên gia cao cấp về kinh tế số) và hệ sinh thái kinh tế số tại Việt Nam sẽ góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế số của Việt Nam.

    Từ khóa: kinh tế số, cơ hội kinh tế số, nghịch lý kinh tế số, đo lường kinh tế số, quan hệ chính trị-công nghệ, quan hệ kinh tế số-kinh tế tri thức.

    Sự phổ biến và nâng cấp không ngừng hệ thống máy tính và thiết bị truyền thông nhờ vi mạch điện tử được sản xuất theo Định luật Moore (hiệu năng tăng và giá thành giảm theo cấp số nhân), sự kết nối ngày càng sâu rộng các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức nhờ sự hình thành và phát triển của Internet, World Wide Web (Web) đã thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển tốc độ cao các công nghệ số tiên tiến. Máy tính tạo nền tảng cho thương mại Internet, Internet tạo nền tảng cho Web, và đến lượt mình, Web tạo nền tảng cho Thương mại điện tử (TMĐT). Internet cùng với Web tạo nên nhiều thay đổi sâu sắc không chỉ đối với cấu trúc tổ chức mà còn đối với các quy trình trong mọi hoạt động nghiệp vụ và kinh doanh của các công ty.

    Kể từ đầu thập niên 2000, số hóa và kinh tế số đã phát triển với tốc độ cao và làm thay đổi nhanh mọi mặt của đời sống xã hội. Một mặt, kinh tế số là một khu vực kinh tế đóng góp rất đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân của nhiều nước với các ước tính khác nhau (khoảng 8% GDP , hay khoảng 87% GDP . Hơn nữa, kinh tế số còn cung cấp các giá trị bổ sung cho người tiêu dùng và xã hội, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người. Kinh tế số đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia trên thế giới.

    Hiểu biết một cách đúng đắn và toàn diện cả về lợi ích cũng như về thách thức đối với kinh tế số là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế số theo con đường tối ưu nhất có thể được. Bài báo này cung cấp một tìm hiểu về kinh tế số, tập trung vào việc giới thiệu về khái niệm kinh tế số, về một số cơ hội và thách thức từ kinh tế số, về đo lường kinh tế số. Chúng tôi cũng đưa ra một số trao đổi về phát triển kinh tế số tại Việt Nam.

    Phần tiếp theo của bài báo được tổ chức như sau. Mục 2 giới thiệu về các khái niệm kinh tế số mà tính đa dạng của chúng cho thấy một thách thức không nhỏ. Mục 3 giới thiệu hai dạng kinh tế số điển hình về cơ hội từ kinh tế số (kinh tế gắn kết lỏng, kinh tế chia sẻ) và một vài dạng kinh tế số khác. Một số thách thức đo lường kinh tế được giới thiệu ở mục 4. Mục 5 giới thiệu về đo lường kinh tế số. Một số trao đổi về phát triển kinh tế số Việt Nam được trình bày trong mục 6. Mục cuối cùng đưa ra kết luận.

    Theo D. Tapscott cho rằng cộng đồng nghiên cứu về kinh tế số nên cố gắng tạo ra các đột phá nền tảng mới trong nghiên cứu lý thuyết về kinh tế học và quản lý để nắm bắt và phát triển kinh tế số.

    2.2. Khung khái niệm Kinh tế số

    • Kinh tế số lõi bao gồm chế tạo phần cứng, dịch vụ thông tin, phần mềm và tư vấn CNTT-TT và đóng góp khoảng 8% GDP .
    • Kinh tế số hóa bổ sung kinh doanh điện tử (KDĐT), TMĐT, công nghiệp 4.0 (Industry 4.0), nông nghiệp chính xác (Precision agriculture), kinh tế thuật toán (Algorithmic Economy), phần còn lại của kinh tế chia sẻ, kinh tế gắn kết lỏng vào kinh tế số và đóng góp khoảng 87% GDP cho biết đóng góp vào tài khoản quốc gia tính trên toàn thế giới của kinh tế CNTT-TT (kinh tế số lõi) là 4,5% GDP và kinh tế số (phạm vi hẹp) là 15,5%, con số tương ứng tại nước Mỹ là 6,9% GDP và 21,6% và tại Trung Quốc là 6% và 30%; xuất khẩu dịch vụ CNTT toàn cầu tăng từ 175 tỷ đô la Mỹ (năm 2005) lên 568 tỷ đô la Mỹ (năm 2021), dịch vụ cung cấp số toàn cầu tăng từ 1200 tỷ đô la Mỹ (năm 2005) lên 2900 tỷ đô la Mỹ (năm 2021); giá trị TMĐT toàn cầu năm 2021 lên tới 29000 tỷ đô la Mỹ.

      Kinh tế gắn kết lỏng (Gig economy, “kinh tế gig”) được công nhận rộng rãi như một loại hình kinh tế số điển hình. X. Zhu , kinh tế gắn kết lỏng (hoặc kinh tế tạm thời) được chỉ dẫn bằng rất nhiều tên gọi khác nhau, chẳng hạn như kinh tế chia sẻ ( sharing economy hoặc shaeconomy), kinh tế tự do ( freelance economy), kinh tế cộng tác ( collaborating economy hoặc collaborative consumption), kinh tế ngang hàng ( peer economy), làm việc đám đông ( crowdworking), kinh tế truy cập ( access economy), kinh tế theo nhu cầu ( on-demand economy), kinh tế 1099 ( 1099 economy: tên một mẫu thuế đặc biệt mang số hiệu 1099-MISC của Mỹ), kinh tế nền tảng ( platform economy), v.v.

      S. A. Donovan và cộng sự , đặc trưng cơ bản của kinh tế gắn kết lỏng là các cam kết ngắn hạn giữa người sử dụng lao động, nhân công và khách hàng. Hai chiều cơ bản nhất khi xem xét kinh tế gắn kết lỏng là tiền lương và mức độ giám sát nhân công, do đó, kinh tế gắn kết lỏng được phân thành ba loại hình:

      • Lương cao, giám sát cao: công việc được tiến hành trên nền tảng tự do trực tuyến (Online Freelance Platforms), chẳng hạn như các dịch vụ chúng tôi chúng tôi
      • Lương cao, giám sát thấp: công việc được tiến hành trên nền tảng vận chuyển (transportation platforms), chẳng hạn như các dịch vụ com, chúng tôi hoặc giao việc tại nhà (delivery/home task platforms), chẳng hạn như chúng tôi chúng tôi Amazon Flex, chúng tôi
      • Lương thấp, giám sát thấp: công việc được tiến hành trên nền tảng đám đông (crowdwork platforms) chẳng hạn như các dịch vụ chúng tôi crowdflower.com, chúng tôi chúng tôi

      A. Kalleberg và M. Dunn đưa ra ba nhận định sau đây:

      • Kinh tế gắn kết lỏng cung cấp cả công việc tốt lẫn công việc kém, mở ra các cơ hội mới cho người lao động đồng thời người lao động bị khai thác sức lao động.
      • Hiện đội ngũ nhân công gắn kết lỏng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong lực lượng lao động song bao hàm một ý nghĩa quan trọng đối với việc làm trong tương lai.
      • Cần đảm bảo các khoản phúc lợi xã hội – mức lương tối thiểu và bảo hiểm y tế, hưu trí và thất nghiệp đối với nhân công gắn kết lỏng.

      Tuy nhiên, bất kỳ một hình thức kinh tế nào đều có các khiếm khuyết riêng của nó, vì vậy, tránh tạo ra các rào cản không cần thiết chỉ vì các khiếm khuyết đó.

      3.2. Kinh tế chia sẻ

      Theo nghĩa rộng, trong xu thế chuyển đổi từ kinh tế hướng hàng hóa sang kinh tế hướng dịch vụ thì mọi nền kinh tế đều là kinh tế dịch vụ (nguyên lý cơ bản là dịch vụ là nền tảng của trao đổi mà không phải là hàng hóa). Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế, vì vậy, khi coi kinh tế dịch vụ như một khung lĩnh vực của kinh tế số thì con số 87% tỷ trọng đóng góp của kinh tế số vào tổng thể nền kinh tế quốc dân là phù hợp. Theo nghĩa hẹp, thành phần kinh tế dịch vụ trong kinh tế số bao gồm tính toán đám mây ( cloud computing) và họ “X là một dịch vụ” (“X as a service”: “XaaS”) chẳng hạn, Hạ tầng là một dịch vụ ( Infrastructure as a Service: IaaS), Nền tảng là một dịch vụ ( Platform as a Service: PaaS), Phần mềm là một dịch vụ ( Software as a Service: SaaS), Thông tin là một dịch vụ ( Information as a Service: INaaS), Quy trình là một dịch vụ ( Business Process as a Service: BPaaS), Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một dịch vụ ( AI as a Service: AIaaS), v.v. Theo một dự báo của Gartner , doanh thu tính toán đám mây công cộng toàn thế giới năm 2021 đạt khoảng 214,3 tỷ đô la Mỹ, tăng khoảng 17,5% so với năm 2021 (182,4 tỷ đô la Mỹ) và trong giai đoạn 2021-2022, SaaS là thành phần đóng góp tỷ trọng lớn nhất (từ 43,39% tới 44,24%) vào tổng doanh thu tính toán đám mây công cộng.

      Dữ liệu được đánh giá là “dầu mỏ của tương lai”, là có vai trò nhiên liệu thô cho nền kinh tế ở thế kỷ 21 giống như dầu mỏ trong thế kỷ 20, và kết quả là, nền kinh tế dữ liệu đã hình thành và ngày càng phát triển rất nhanh chóng , ” kinh tế tuần hoàn vĩ mô có tác động xã hội và sinh thái tiêu cực hoặc tích cực tối thiểu, một hệ sinh thái của nhà sản xuất và nhà tiêu dùng bền vững có quan hệ hiệp đồng và tuần hoàn với các chuỗi/mạng cung cấp sâu rộng mà sự rò rỉ của cải ra khỏi hệ thống là cực tiểu. Những thách thức đo lường kinh tế số sẽ làm mờ nhạt và che giấu đi nhiều khía cạnh tác động của công nghệ số và kinh tế số đối với kinh tế vĩ mô. Xác định và giải quyết các thách thức đo lường kinh tế số sẽ tạo thêm các cơ hội mới cho sự phát triển của công nghệ số cũng như kinh tế số. Mục này đề cập tới một số thách thức đo lường kinh tế trong thời đại công nghệ thông tin và kinh tế số.

      Việc đo lường năng suất, trong đó có đo lường tổng sản phẩm quốc nội ( Gross Domestic Product: GDP) không theo kịp sự phát triển của các công nghệ số và kinh tế số, vì vậy, đã xuất hiện hiện tượng được gọi nghịch lý năng suất của kinh tế số. C. Watanabe và cộng sự , nghịch lý năng suất của công nghệ cao :

      • Toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa và gia công ngoài thúc đẩy giảm lương. Thay đổi kỹ thuật thiên vị kỹ năng.
      • Thay đổi công nghệ: thay nhân viên tay nghề thấp, tăng nhân viên tay nghề cao theo công nghệ. Giảm giá trị của nhân viên (kỹ năng, không kỹ năng).
      • Thất nghiệp công nghệ dài hạn do công nghệ thay đổi nhanh.
      • Phân bố hiệu năng theo luật số lớn dẫn tới bất bình đẳng lương.
      • Hiệu quả mạng: Trong thị trường mạng, nhà cung cấp là thống trị.
      • Thị trường lao động trực tuyến: Tăng cơ hội trọng tài lao động toàn cầu.
      • Phân chia số: Gia tăng phân cực giàu-nghèo.

      4.3. Thách thức đo lường kinh tế số

      4.3.1. Kế toán tài sản thông tin

      Ngày nay, thông tin được giám đốc điều hành ( Chief Executive Officer: CEO) coi là tài sản kinh doanh lớn nhất, được giám đốc quản trị ( Chief Operating Officer: COO) coi là tài sản cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp .

      Bảng 1. Ba tiếp cận kế toán tài sản thông tin cung cấp một số tiếp cận để luận giải thông tin là một tài sản thực sự như được trình bày trong Bảng 1.

      4.3.2. Thách thức đo lường kinh tế số

      Thách thức đo lường kinh tế số thúc đẩy nhu cầu và nỗ lực nghiên cứu về kinh tế số và đo lường kinh tế số của các tổ chức quốc tế và quốc gia. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố một tuyển tập phong phú các tài liệu về kinh tế số, trong đó có .

      Mười câu hỏi phổ biến sau đây được đặt ra trong đo lường kinh tế số là . Thành phần bộ kích hoạt số hỗ trợ toàn bộ việc sản xuất, cung cấp và tiêu dùng sản phẩm số. Hơn nữa, sơ đồ còn chỉ rõ các hoạt động kinh tế số nằm cả trong và ngoài phạm vi Hệ thống tài khoản Quốc gia (HTTKQG).

      Sản phẩm kinh tế số bao gồm hàng hóa kinh tế số, dịch vụ kinh tế số và thông tin/dữ liệu. Như đã được trình bày, kế toán tài sản thông tin/dữ liệu là công việc hết sức khó khăn. Đồng thời, cần một nỗ lực để làm rõ hơn hàng hóa và dịch vụ trong kinh tế số. Có năm kiểu thực thể tham gia vào các hoạt động kinh tế số (sản xuất và sử dụng) là các doanh nghiệp, hộ gia đình, chính quyền, các tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ hộ gia đình (PLNHGĐ) và phần còn lại của thế giới (“Còn lại”). Ba cách thức cung ứng sản phẩm trong kinh tế số là đặt hàng số, cung cấp số và nền tảng số.

      5.2. Một khung đo lường kinh tế số

      Bảng 2 cung cấp một khung đo lường kinh tế số của E. Barrera và cộng sự thuộc Voorburg Group theo các tiêu chí về loại hình kinh tế số (cùng ví dụ), có/không được đưa vào hệ thống tài khoản quốc gia, kiểu công nghiệp (không số, số, nền tảng số), kiểu giao dịch (cung cấp số hóa, đặt hàng số, nền tảng số) và loại sản phẩm (dịch vụ số hóa/không số hóa, thông tin/dữ liệu).

      Bảng 2. Các loại hình công nghiệp, sản phẩm và giao dịch kinh tế số còn cung cấp bảng quan hệ nhà cung cấp-khách hàng trong đo lường kinh tế số, thêm nữa, hiện trạng nghiên cứu về đo lường kinh tế số của Voorburg Group cũng được đề cập.

      5.3. Một mô hình tích hợp đo lường kinh tế số

      Thành phần Khung khái niệm cung cấp các chuẩn và các phương pháp để đảm bảo tính nhất quán của các khái niệm, các định nghĩa và các phân loại.

      Cơ quan thống kê Liên hợp quốc đề nghị một mô hình tích hợp đo lường kinh tế số . OECD đã đưa ra chín hướng dẫn hành động đối với đo lường chuyển đổi số và đo lường kinh tế số là:

      • Làm cho nền kinh tế số xuất hiện trong thống kê kinh tế
      • Hiểu tác động kinh tế của chuyển đổi số
      • Khuyến khích đo lường tác động của chuyển đổi số đối với các mục tiêu xã hội và hạnh phúc của mọi người
      • Thiết kế các phương pháp mới và liên ngành để thu thập dữ liệu
      • Giám sát các công nghệ làm nền tảng cho việc chuyển đổi số, đáng chú ý là IoT, TTNT và Chuỗi khối (blockchain)
      • Cải thiện việc đo lường dữ liệu và luồng dữ liệu
      • Xác định và đo lường các kỹ năng cần thiết cho chuyển đổi số
      • Đo lường niềm tin trong môi trường trực tuyến
      • Thiết lập khung đánh giá tác động chính phủ số

      5.5. Khung công cụ đo lường kinh tế số

      • Cơ sở hạ tầng chỉ dẫn sự phát triển hạ tầng vật chất, dịch vụ và an ninh trong nền kinh tế kỹ thuật số gồm tám chỉ số là: Đầu tư vào băng thông rộng; Độ gia tăng của băng thông rộng di động; Tiến tới tốc độ Internet cao hơn; Giá kết nối; Hạ tầng cho Internet vạn vật; Hạ tầng máy chủ an toàn; Truy cập máy tính của hộ gia đình; Truy cập Internet của hộ gia đình.
      • Trao quyền xã hội chỉ dẫn vai trò phát triển của kinh tế số trong cuộc sống của người dân, cách họ truy cập và sử dụng các công nghệ số và khả năng khai thác triệt tiềm năng của họ gồm tám chỉ số là: Bản địa số hóa; Thu hẹp khoảng cách số; Sử dụng Internet của người dân; Tiêu dùng điện tử; Tài khoản tiền dựa trên điện thoại di động; Tương tác C2G (công dân-chính quyền); Giáo dục thời đại số; Kỹ năng CNTT-TT cá nhân.
      • Việc làm và tăng trưởng chỉ dẫn cách thức đa dạng các công nghệ số đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm gồm mười hai chỉ số là: Việc làm công nghiệp CNTT-TT; Nhân viên CNTT-TT theo giới tính; Thương mại điện tử; Giá trị gia tăng của công nghiệp thông tin; Dấu ấn mở rộng của CNTT-TT; Đầu tư CNTT-TT; CNTT-TT với tăng năng suất; CNTT-TT với chuỗi giá trị toàn cầu; Thương mại và việc làm CNTT-TT; Tỷ lệ phần trăm thương mại hàng hóa CNTT-TT trong thương mại hàng hóa; Tỷ lệ phần trăm dịch vụ viễn thông; Máy tính và thông tin trong thương mại dịch vụ.

      Phát triển Kinh tế số nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, cộng đồng hàn lâm – công nghiệp Việt Nam, nhiều hội thảo đã được tổ chức, nhiều kết quả nghiên cứu đã được công bố, đáng kể là Báo cáo ” Tương lai kinh tế số Việt Nam: hướng đến năm 2030, 2045” trong Chương trình Aus4Innovation của Chính phủ Australia nhằm tăng cường các mối liên kết giữa hệ thống đổi mối sáng tạo của Australia và Việt Nam . Chúng tôi quan niệm Kinh tế số bao gồm: Kinh tế số lõi (kinh tế CNTT-TT); dịch vụ số; kinh tế nền tảng và một bộ phận phù hợp của kinh tế chia sẻ và kinh tế gắn kết lỏng .

      6.1.2. Kinh tế số – Kinh tế tri thức và quy luật biến đổi lượng-chất

      Kinh tế số và kinh tế tri thức có một quan hệ biện chứng, chúng thúc đẩy lẫn nhau cùng tăng trưởng. Hình 7 mô tả một khung nhìn ba lớp gồm hành động (lớp trên), công cụ (lớp dưới) và đối tượng (lớp giữa) chuyển hóa dữ kiện – dữ liệu – thông tin thành tri thức – bí quyết và năng lực – năng lực cạnh tranh, chỉ ra số hóa là một nền tảng của kinh tế tri thức, nói khác đi, kinh tế tri thức cần là một mục tiêu của kinh tế số song thế giới số cũng có các đặc trưng rất đáng lưu ý, chẳng hạn, dường như hoạt động của con người đang bị các thuật toán điều khiển . Theo tiếp cận lấy con người làm trung tâm, mối quan hệ chính trị-công nghệ được K. Schwab phát biểu như sau , đạo đức TTNT được nhấn mạnh ở hầu hết các chiến lược TTNT quốc gia “TTNT cùng con người, TTNT vì con người” .

      6.2. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước kinh tế số Việt Nam

      Vai trò chính của nhà nước là quản lý, dẫn dắt nền kinh tế thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời, là một thực thể xã hội, nhà nước cũng là một bên tham gia chủ chốt của nền kinh tế.

      Nhà nước cần là một bên tham gia “gương mẫu”, một người dùng tiến bộ trong nền kinh tế số quốc gia. Chúng ta có quyết tâm và nỗ lực cao trong xây dựng chính quyền điện tử. Cải tiến quy trình nghiệp vụ, bồi dưỡng năng lực chuyên môn “tinh thông nghiệp vụ” và phẩm chất đạo đức “một tấm lòng tận tâm phục vụ nhân dân”đối với công chức cần là một hoạt động có tính bền vững.

      Ý tưởng về thay đổi cơ cấu quản lý nhà nước về kinh tế số (chẳng hạn, đề xuất thành lập một bộ ) có thể là chưa phù hợp khi mà nguồn nhân lực quản lý (bao gồm đo lường) kinh tế số ở nước ta còn rất mỏng về số lượng và hạn chế về trình độ.

      6.3. Phát triển nguồn nhân lực kinh tế số

      6.3.1. Hình thành đội ngũ chuyên gia kinh tế số cao cấp

      Trong bối cảnh trình độ nền kinh tế thấp, Việt Nam thiếu vắng các chuyên gia kinh tế số cao cấp, những người có đủ kiến thức và kỹ năng đa lĩnh vực (khoa học, công nghệ, kinh tế, quản lý, xã hội, v.v.), để định hình phát triển kinh tế số ở tầm quốc gia. Công việc xây dựng một đội ngũ chuyên gia kinh tế số là rất cấp thiết, tuy nhiên, không thể hoàn thành công việc này một sớm một chiều được.

      Về lâu dài, chuyên gia kinh tế số cao cấp cần xây dựng được một chiến lược phát triển tích hợp kinh tế số – kinh tế tri thức – kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, có tính khoa học hiện đại và thực tiễn. Cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN), KTTT xã hội và KTTT định hướng XHCN trên thế giới cần được khảo sát và phân tích công phu để liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện tại và dự kiến trong tương lai. Nhiều tài liệu cung cấp các bài học có giá trị cao về KTTT, chẳng hạn như cung cấp một bối cảnh hiện tại của một kiểu KTTT TBCN, trong đó các nhà tài chính và các tỷ phú làm giảm sự cạnh tranh, sức mạnh của người tiêu dùng, loại bỏ tầng lớp trung lưu và tác giả cảnh báo về tác hại của năm chức năng xã hội “chết người” là bãi bỏ điều tiết, cuồng sáp nhập ( merger mania), thuê ngoài, cắt giảm thuế, tư nhân hóa. J-J. Lambin và S. Hawking , hai cột trụ tư nhân hóa về phương tiện sản xuất và về lợi nhuận làm trầm trọng thêm bất công phân phối giá tri; thực tiễn đã minh chứng tiên đoán của K. Marx và S. Hawking là chính xác.

      Hơn nữa, chuyên gia kinh tế số cao cấp Việt Nam có thể tham gia đóng góp phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác trong thời đại số ).

      Chính phủ, các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp cần phối hợp để nâng cao kiến thức và kỹ năng về kinh tế số cho lãnh đạo doanh nghiệp.

      Đầu tư đào tạo về công nghệ cao và về kinh tế số đối với người lao động cần có xu thế tăng dần theo thời gian và hoạt động nâng cao trình độ của người lao động cần được xác định như một loại lao động trong doanh nghiệp.

      6.3.3. Tăng cường đào tạo các chuyên viên thuộc kinh tế số

      6.4. Phát triển hệ sinh thái kinh tế số Việt Nam

      Hệ sinh thái số được hiểu là “nhóm tác nhân phụ thuộc (doanh nghiệp, con người, vật) chia sẻ nền tảng số để đạt được lợi ích” , “sự hội tụ kết nối công nghệ trong một thị trường và hoạt động kinh doanh vì (i) người tiêu dùng mới, (ii) doanh nghiệp mới, (iii) hiệu năng thị trường và (iv) trải nghiệm người dùng” ). Một hạn chế rất lớn của Việt Nam là TMĐT B2B Việt Nam chưa được phát triển đủ tầm vóc (số liệu về TMĐT B2B Việt Nam còn mờ nhạt trong các báo cáo TMĐT hàng năm quốc gia ) và đây là một vấn đề lớn, cấp bách cần được giải quyết. Cần có sự nỗ lực và phối hợp của Chính phủ, từng doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp để phát triển TMĐT B2B Việt Nam.

      Về lâu dài, để hình thành hệ sinh thái số [15], doanh nghiệp Việt Nam cần làm phù hợp hệ sinh thái số vào kiến trúc doanh nghiệp như mô tả ở Hình 9.

      PEC: Physical, extended, contextual model, STC: Spatial, temporal, contextual.

      Trong thời đại số ngày nay, kinh tế số đã trở thành xu thế phát triển tất yếu đối với các nền kinh tế trên thế giới. Bài báo này cung cấp một tìm hiểu của chúng tôi về khái niệm kinh tế số, về các cơ hội và thách thức từ kinh tế số, về đo lường kinh tế số. Dù chưa có một định nghĩa thống nhất về kinh tế số song quan niệm kinh tế số là một mở rộng thực sự của kinh tế CNTT-TT là có tính phổ biến. Kinh tế số bao gồm rất nhiều loại hình kinh tế mới và đa dạng, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp và cơ hội việc làm cho người lao động. Ngoài thách thức về khái niệm, kinh tế số cũng tạo nên các thách thức không nhỏ, trong đó đo lường kinh tế số và làm trầm trọng thêm phân hóa giàu-nghèo là hai thách thức lớn nhất. Bài báo cũng giới thiệu mô hình quan niệm, mô hình triển khai và một quy trình đo lường kinh tế số.

      Chúng ta tin tưởng vào tương lai kinh tế số Việt Nam sẽ phát triển nhanh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời đại số ngày nay.

      Tạp chí Công thương: Kinh tế số: Bối cảnh thế giới và liên hệ với Việt Nam

      1. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Nghị quyết 23-NQ/TW “Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
      2. Hà Quang Thụy và Nguyễn Trí Thành. Khoa học dữ liệu, tiền hóa dữ liệu và khả năng thực thi tại Việt Nam. Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và Ứng dụng công nghệ, số 3, trang 160-165, 2021.
      3. Ahmad, P. Schreyer. Measuring GDP in a Digitalised Economy. OECD Statistics Working Papers, 2021.
      4. Ahmad, J. Ribarsky. Issue paper on a proposed framework for a satellite account for measuring the digital economy. STD/CSSP/WPNA(2017)10, 14 November 2021,http://www.oecd.org/officialdocuments/publicdisplaydocumentpdf/?cote=STD/CSSP/WPNA(2017)10&docLanguage=En
      5. Nadim Ahmad, Jennifer Ribarsky. Towards a Framework for Measuring the Digital Economy. IAOS-OECD2018, OECD, 2021.
      6. Samir Amin. Modern Imperialism, Monopoly Finance Capital, and Marx’s Law of Value. Monthly Review Press, 2021.
      7. APEC Policy Support Unit. APEC Regional Trends Analysis – The Digital Productivity Paradox. Asia-Pacific Economic Cooperation Policy Support Unit, November 2021.
      8. Erika Barrera, Ramon Bravo, Cristina Cecconi, Mary Beth Garneau, John Murphy. Measurement challenges of the digital economy. Voorburg Group, 25 September, 2021.
      9. Kevin Barefoot, Dave Curtis, William Jolliff, Jessica R. Nicholson, Robert Omohundro. Defining and Measuring the Digital Economy. Working Paper, Bureau of Economic Analysis, US Department of Commerce, 15/3/2018.
      10. Kjeld Erik Brdsgaard, Koen Rutten. From Accelerated Accumulation to Socialist Market Economy in China. Economic Discourse and Development from 1953 to the Present. Brill, 2021.
      11. Gerard Briscoe. Digital Ecosystems. PhD thesis, Imperial College London, 2009.
      12. Erik Brynjolfsson. The Productivity Paradox of Information Technology: Review and Assessment. Communications of the ACM, 36(12, Dec. 1993), pp. 66-77.
      13. Erik Brynjolfsson, Daniel Rock, Chad Syverson. Artificial Intelligence and the Modern Productivity Paradox: A Clash of Expectations and Statistics. MIT IDE Research Brief Vol. 2021.01.
      14. Rumana Bukht and Richard Heeks. Defining, Conceptualising and Measuring the Digital Economy. Paper No. 68, Centre for Development Informatics, Global Development Institute, SEED, 2021.
      15. Yanru Chen. Communication Campaigns and National Integration in China’s Market Economy Era: Reviving the National Soul. Springer, 2021.
      16. Sarah A. Donovan, David H. Bradley, Jon O. Shimabukuro. What Does the Gig Economy Mean for Workers. Congressional Research Service, 7-5700, 2021.
      17. The European Commission. On Artificial Intelligence – A European approach to excellence and trust. White paper, COM(2020) 65, February 19, 2021.
      18. Seize the Digital Ecosystem Opportunity. The 2021 CIO Agenda Report, 2021.
      19. Google, Temasek, Bain. e-Conomy SEA 2021-Swipe up and to the right: Southeast Asia’s $100B Internet economy. Southeast Asia’s Internet economy research program. https://www.thinkwithgoogle.com/_qs/documents/8447/e-Conomy_SEA_2019_deck_uIb8e2S.pdf.
      20. Lyudmila I. Gubareva(&), Valentina S. Tenetilova, Svetlana V. Derepasko, Irina S. Gavrilova, and Marina I. Suganova. Peculiarities of Formation of “Knowledge Economy” Through Modernization of the Higher Education System in Russia. In (Elena G. Popkova, Victoria N. Ostrovskaya. Perspectives on the Use of New Information and Communication Technology (ICT) in the Modern Economy. Springer, 2021), pp. 11-22.
      21. Matthew Hindman. The Internet Trap: How the Digital Economy Builds Monopolies and Undermines Democracy. Princeton University Press, 2021.
      22. Ming Hu. Sharing Economy: Making Supply Meet Demand. Springer, 2021.
      23. Arnel Kalleberg and Michael Dunn. Good Jobs, Bad Jobs in the Gig Economy. Perspectives on work, The University of North Carolina at Chapel Hill, 2021.
      24. Jean-Jacques Lambin. Rethinking the Market Economy: New challenges, new ideas, new opportunities. Palgrave Macmillan UK, 2014.
      25. Yining Li. Beyond Market and Government: Influence of Ethical Factors on Economy. Springer, 2021.
      26. Peter Lovelock. Framing Policies For The Digital Economy -Towards Policy FrameworksiIn The Asia-Pacific. UNDP Global Centre for Public Service Excellence, 2021.
      27. Lynn Margherio, Dave Henry, Sandra Cooke. The Emerging Digital Economy. U.S. Department of Commerce, 1998.
      28. North, R. Maier, O. Haas. Value Creation in the Digitally Enabled Knowledge Economy. Knowledge Management in Digital Change, 1-29, 2021.
      29. Addressing the Tax Challenges of the Digital Economy. OECD/G20 Base Erosion and Profit Shifting Project, 2014
      30. OECD reviews of digital transformation: going digital in Sweden. OECD, 2021.
      31. Tax Challenges Arising from Digitalisation-Interim Report 2021: Inclusive Framework on BEPS. OECD Publishing, 2021.
      32. Reinsdorf, P. Schreyer. Measuring consumer inflation in a digital economy. OECD Statistics Working Papers, 2021.
      33. Coskun Samli. Empowering the Market Economy through Innovation and Entrepneurship. Palgrave Macmillan US, 2021.
      34. Coskun Samli. Who Stole Our Market Economy: The Desperate Need For Socioeconomic Progress. Palgrave Macmillan, 2021
      35. Klaus Schwab, Nicholas Davis. Shaping the Fourth Industrial Revolution. World Economic Forum, 2021.
      36. Mark Skilton. Building Digital Ecosystem Architectures: A Guide to Enterprise Architecting Digital Technologies in the Digital Enterprise. Palgrave Macmillan UK, 2021.
      37. Robert Solow. We’d Better Watch out. New York Times Book Review, 1987, p. 36.
      38. Andrea Ahlemeyer-Stubbe, Shirley Coleman. Monetising Data: How to Uplift Your Business. Wiley, 2021.
      39. Don Tapscott. The Digital Economy: Promise and Peril in the Age of Networked Intelligence. McGraw-Hill, 1995.
      40. UNCTAD-ICT Policy Section. The ‘New’ Digital Economy and Development. Technical Note No8 Unedited TN/UNCTAD/ICT4D/08, October 2021.
      41. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD). Digital Economy Report 2021. Value Creation and Capture: Implications for Developing Countries. UNCTAD, 2021 December. ihttps://unctad.org/en/PublicationsLibrary/der2019_en.pdf
      42. Donor Support to the Digital Economy in Developing Countries. UNCTAD Technical Notes on ICT for Development N˚13, 3/2019.
      43. United Nations Statistics Division. Towards an integrated framework for measuring the digital economy. Expert Group Meeting Preparatory Process for the United Nations E-Government Survey 2021, New York, USA, 1-2 April 2021.
      44. Chihiro Watanabe, Kashif Naveed, Yuji Tou, Pekka Neittaanmäki. Measuring GDP in the digital economy Increasing dependence on uncaptured GDP. Technological Forecasting and Social Change, Volume 137, December 2021, Pages 226-240.
      45. Xiaoming Zhu. Emerging Champions in the Digital Economy. Springer Singapore, 2021.
      46. Chris Anderson. The Long Tail – Why the Future of Business is Selling Less of More. Hyperion e-Book, 2008.
      47. Ransbotham, R. Fichman, R. Gopal, A. Gupta. Ubiquitous IT and Digital Vulnerabilities. Information Systems Research, 27(4), pp. 834-847, 2021.
      48. Alex Stephany. The Business of Sharing: Making it in the New Sharing Economy. Palgrave Macmillan UK, 2021.

      Digital Economy Measurement and its Practicabilities in Vietnam

      Ha Quang Thuy 1, Phan Xuan Hieu 1, Nguyen Tri Thanh 1, Tran Trong Hieu 1, Tran Mai Vu 1, Nguyen Huu Duc 2.

      1The Data Science & Knowledge Technology Laboratory and 2 The Nano Material Laboratory, VNU-University of Engineering and Technology (VNU-UET), Vietnam National University, Hanoi (VNU)

      Abstract: The dramatic development of digitalized technologies (typically, the Internet of Things – IoT), and digital economy (typically, the psent and development of several creative and perse business forms) have made a big and quick change to the economy, society and all aspects of human life. Digital economy, with the increasing trend in the national economy, has become a component and contributed a significant proportion of the economy. At the same time, digital economy also raises several challenges: the correct concept of digital economy, the model of digital economy development, and digital economy measurement. When these challenges are solved, digital economy has received special attention from many countries and international organizations such as World Economic Cooperation and Development, World Bank, etc. This article provides some initial insights into: the digital economy; some opportunities and challenges of digital economy; as well as the model of digital economy measurement. The article also provides some pliminary discussions on digital economy in Vietnam. It contributes a correct and comphensive understanding of digital economy, the development of human resources for digital economy (especially, the leading experts of digital economy), and digital economy ecosystem in Vietnam which help to accelerate the development of Vietnam’s digital economy.

      Keyword: digital economy, opportunity of digital economy, paradox of digital economy, digital economy measurement, political-technological relations, digital-knowledge economy relations.

      PGS. TS. Hà Quang Thụy (email: [email protected]), PGS. TS. Phan Xuân Hiếu (email: [email protected]), PGS. TS. Nguyễn Trí Thành (email: [email protected]), TS. Trần Trọng Hiếu (email: [email protected]), TS. Trần Mai Vũ (email: [email protected]), Phòng Thí nghiệm Khoa học dữ liệu và Công nghệ Tri thức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

      GS.TS. Nguyễn Hữu Đức: Phòng Thí nghiệm Vật liệu và Linh kiện Nano, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

      Gartner Forecasts Worldwide Public Cloud Revenue to Grow 17.5 Percent in 2021. https://www.gartner.com/en/newsroom/pss-releases/2019-04-02-gartner-forecasts-worldwide-public-cloud-revenue-to-g

      CNTT có chức năng bên ngoài mạng rõ ràng để thay đổi mối tương quan giữa các đổi mới và hệ thống thể chế. đổi mới dẫn đến sự gia tăng theo cấp số nhân và một loạt các cơ chế xã hội phát triển và khuếch tán logic được kích thích bởi các tương tác này.

      --- Bài cũ hơn ---

    • Kinh Tế Số (Digital Economy) Là Gì? Hiểu Thêm Về Kinh Tế Số
    • Khái Niệm Kinh Tế Số
    • Kinh Tế Số: Khác Biệt Ở Công Nghệ Mới
    • Bật Mí Tất Tần Tật Bí Mật Về Kinh Tuyến Gốc Và Vĩ Tuyến Gốc
    • Đề Cương Ôn Tập Địa Lý 6 Học Kỳ I

    “web Drama” Đang Thu Hút Giới Trẻ

    --- Bài mới hơn ---

  • Deadline Là Gì ? Dateline Là Gì ? Giống Và Khác Nhau Điểm Gì ?
  • Deadline Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Deadline Hay Dateline Là Gì?
  • Deadline Là Gì? Vai Trò Của Deadline Trong Thiết Kế Website
  • Deadline Là Gì? Những Lưu Ý Vàng Cần Nhớ Khi Tạo Deadline
  • Deadline Là Gì? Cách Chạy Deadline Hiệu Quả Như Thế Nào?
  • Web drama (phim chiếu mạng) đang dần trở nên phổ biến và có những thành công bước đầu trên thị trường giải trí Việt Nam hiện nay.

    Cảnh trong phim “Ngôi nhà vui vẻ” của nhóm BB&BG. Ảnh: T.L

    Bùng nổ mạnh mẽ

    Web drama đã bắt đầu công chiếu vào năm 2010 trên các trang mạng Trung Quốc. Thời gian gần đây, xu hướng làm web drama bắt đầu nở rộ ở một số nước. Mỗi tập phim web drama thường có độ dài từ 10 đến 15 phút, khán giả dễ dàng theo dõi qua các thiết bị di động. Hòa mình với xu thế chung, dòng phim web drama đã nhanh chóng ra đời tại Việt Nam với sự xuất hiện của nhiều nhóm làm web drama nổi tiếng, chiếm được cảm tình của khán giả.

    Có thể thấy web drama ở một số nước còn thu hút sự tham gia của nhiều “ông lớn” trong làng giải trí và trở thành sân chơi của các nhà làm phim chuyên nghiệp. Tại Việt Nam, web drama đang dần trở thành món ăn tinh thần thu hút giới trẻ. Những cái tên như “Phở”, “Ghiền Mì Gõ”, “DAM TV”… đã đem đến cho khán giả trong nước những tác phẩm đa dạng về đề tài dù đây chỉ là dòng phim chiếu trên mạng. Gắn liền với tên tuổi của các nhóm web drama phải kể đến Huỳnh Lập – trưởng nhóm DAM TV, BB Trần – trưởng nhóm BB&BG, hay Phở Đặc Biệt (Tô Bửu Phát) – trưởng nhóm kiêm đạo diễn của Thích Ăn Phở… Họ là những người đầu tàu chèo lái con tàu web drama Việt ngay từ những ngày đầu tiên. Có một số bạn trẻ còn chưa trải qua trường lớp đào tạo, họ đến với nghề làm phim bằng đam mê, sự năng động của tuổi trẻ. Web drama chính là sự lựa chọn phù hợp của họ.

    Để đem “đứa con tinh thần” của mình đến với khán giả, các nhóm làm web drama đã có sự đầu tư hình ảnh, âm nhạc để cho ra những sản phẩm chất lượng. Nắm bắt được tâm lý của thế hệ trẻ thích xem những bộ phim ngắn, có những tình huống hài hước, gắn liền với cuộc sống đời thường và tuổi thơ, các nhóm làm web drama tại Việt Nam đã mang đến những tập phim online được đông đảo các bạn trẻ yêu thích. Họ chú trọng dàn dựng sản phẩm ngắn gọn, súc tích.

    Để đem “đứa con tinh thần” của mình đến với khán giả, các nhóm làm web drama đã có sự đầu tư hình ảnh, âm nhạc để cho ra những sản phẩm chất lượng. Nắm bắt được tâm lý của thế hệ trẻ thích xem những bộ phim ngắn, có những tình huống hài hước, gắn liền với cuộc sống đời thường và tuổi thơ, các nhóm làm web drama tại Việt Nam đã mang đến những tập phim online được đông đảo các bạn trẻ yêu thích. Họ chú trọng dàn dựng sản phẩm ngắn gọn, súc tích.

    Sau nửa năm chuẩn bị cùng với các đơn vị và nhà sản xuất, web drama “Biệt đội 1-0-2 – Lật mặt showbiz” lấy cảm hứng từ những scandal của showbiz Việt đã chính thức được thực hiện. Biệt đội 1-0-2 – Lật mặt showbiz là chuỗi những câu chuyện kể về một công ty giải trí truyền thông với nhóm nhân viên gồm 5 thành viên do các diễn viên trẻ đảm nhận. Sự thành công của một số dự án web drama trong nước đã thôi thúc những người trẻ có niềm đam mê với điện ảnh mạnh dạn đầu tư để đưa khán giả Việt đến gần hơn nữa với web drama.

    Hướng đi tiềm năng

    Web drama được chia thành nhiều tập, có đầy đủ các yếu tố cấu thành nên một bộ phim, bao gồm đạo diễn, kịch bản, nhân vật, bối cảnh và phục trang. Thời gian đầu, các web drama thường không được đánh giá cao vì kinh phí đầu tư thấp, diễn viên ít tên tuổi, chất lượng hình ảnh, âm thanh không đảm bảo. Thế nhưng, web drama thời điểm đó vẫn là mảnh đất màu mỡ để các đạo diễn, nhà sản xuất phim tự do đưa tác phẩm của mình đến gần công chúng một cách nhanh chóng mà không bị bó buộc sáng tạo bởi quá trình kiểm duyệt.

    Khi EXO Next Door ra mắt và được trình chiếu ở các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan, Singapore, Malaysia và Việt Nam…, bộ phim đạt kỷ lục về lượng khán giả trực tuyến. Chỉ sau 12 tập lên sóng, tổng lượt xem vượt qua con số 10 triệu lượt. Thành công vang dội của nhiều bộ phim web drama đã lan tỏa khắp châu Á, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của dòng phim online ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trong “cuộc chiến” với phim truyền hình và phim điện ảnh Việt, web drama có những hạn chế riêng nhưng với sự phát triển của Youtube, web drama hứa hẹn là mảnh đất màu mỡ và có một lượng khán giả đông đảo, đặc biệt là khán giả trẻ.

    Yên Hà

    --- Bài cũ hơn ---

  • Drama Là Gì? Tất Tần Tật Về Drama Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Câu Ví Dụ,định Nghĩa Và Cách Sử Dụng Của”drama”
  • Cds: Hội Nghị Của Kịch Trường
  • Web Drama Bùng Nổ Và Sự Chuyển Dịch
  • Bbc Police Drama Tries Not To Be Uniform
  • Drama Là Gì? Tổng Hợp Các Thể Loại Drama Trên Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Drama Là Gì? Các Thể Loại Drama
  • Câu Chuyện Về Người Nông Dân Làm Giàu Từ Loại “rau Hoàng Đế”
  • “tiên Nữ Đồng Quê” Lý Tử Thất Mê Hoặc Hội Chị Em Bằng Vườn Hồng Như Chốn Cổ Tích Kèm Công Thức Chế Biến Tỷ Thứ Từ Loại Hoa Này
  • Xem Xong Loạt Mv Sặc Mùi Drama Về Chuyện Tình Tay Ba, Thật Không Ngoa Khi Nói Rằng Ở Đâu Có
  • Loạt Mv Vpop Sặc Mùi Drama Về Chuyện Tình Tay Ba: Đúng Là ‘ở Đâu Có Tuesday
  • Drama trong tiếng Anh có nghĩa là gì. Và các thể loại Drama thông dụng nhất trên thế giới:

    • Drama có nghĩa là: Kịch, tuồng. ( Danh từ)
    • Drama: Sự việc kịch tính, hành động kịch tính ( Động từ).

    Các thể loại drama thông dụng và đình đám nhất hiện nay

    • Vở kịch sân khấu hoặc kịch nói.
    • Phim drama: Phim bộ, các thể loại phim tình cảm, phim truyền hình dài tập.
    • Phim hoạt hình anime, truyện chuyển thể từ manga Nhật Bản.
    • Phim dài tập được chuyển thể từ tiểu thuyết, sử thi, hay truyện tranh, truyện online.
    • Truyện drama: Các bộ truyện tranh dài tập được đầu tư kỹ lưỡng. Nhiều thể loại đáp ứng mọi nhu cầu của người đọc, từ trẻ em tới người trưởng thành.

    6 Lý do drama luôn thu hút người xem và bạn đọc

    Với thời đại 4.0 như hiện nay, người yêu phim hay dân hóng phim. Luôn có thể thỏa mãn mình với các bộ phim dài tập trên nhiều thiết bị. Như tivi thông minh, điện thoại thông minh, vi tính và laptop.

    Điều gì làm cho các bộ phim drama luôn hấp dẫn người xem cho tới những thước phim cuối cùng như vậy?

    • Nội dung và cốt truyện luôn độc đáo và mới lạ. Nhìn thẳng vào nhiều khía cạnh trong đời sống.
    • Bối cảnh tạo hình và đồ họa luôn bắt mắt. Trong phim drama luôn có thời lượng lớn, vì vậy kỹ sảo điện ảnh và đồ họa được đề cao và đầu tư kỹ lưỡng.
    • Diễn viên và nhân vật trong phim luôn được tuyển chọn kỹ lưỡng. Và có kỹ thuật biểu diễn chuyên nghiệp.
    • Sự kịch tính luôn được đề cao. Trong khi xem phim, trong cùng một tập phim hoặc nhiều tập phim. Cảm xúc của người xem được đẩy lên cao trào.
    • Tính giáo dục và nhân văn cao cả: Tính giáo dục cộng đồng và tinh thần nhân văn luôn được đề cao. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất để sếp hạng những bộ phim hay nhất, của các giải danh giá về điện ảnh ở Việt Nam và trên thế giới.
    • Âm thanh và ca nhạc: Âm thanh khung cảnh và các bài nhạc phim luôn được đầu tư thích đáng. Trở thành gia vị không thể thiếu trong sự thành công của mỗi một bộ phim.

    Nhắc tới từ drama, người Việt ta luôn nghĩ tới hai nền công nghiệp nổi tiếng trên thế giới về nghệ thuật thứ bảy và anime. Đó là những bộ phim Hàn và những tập truyện tranh nổi tiếng đến từ Nhật Bản.

    Hai thể loại phim drama và truyện tranh drama luôn tồn tại song hành. Vừa có tính cạnh tranh nhau, những cũng luôn là một nguồn kịch bản tuyệt vời. Để người xem và bạn đọc luôn có những bộ phim chuyển thể từ truyện tranh, và truyện tranh được chuyển thể từ phim bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 10 Bộ Phim Chính Kịch Hay Và Hấp Dẫn Nhất
  • Drama Kpop Kết Thúc: Sbs Đã Tiết Lộ Toàn Bộ Danh Tính Những Thần Tượng Trong Nhóm Chat Nhạy Cảm
  • Toàn Cảnh Scandal Của Jack Và K
  • Thật Hư Về Drama Jack Mâu Thuẫn Với K
  • Top 10 Phim Truyền Hình Đang Làm Dân Hàn Mất Ăn Mất Ngủ!
  • Drama Là Gì, Drama Queen Nghĩa Là Gì Với Giới Trẻ Trên Facebook

    --- Bài mới hơn ---

  • Drama Là Gì? Định Nghĩa Về Phim Drama, Truyện Drama
  • Drama Là Gì? Hít Drama Là Gì Trong Giới Trẻ, Facebook?
  • Drama Là Gì? Drama Xuất Hiện Như Thế Nào Trong Cuộc Sống?
  • Drama Là Gì Và Thế Nào Là Phim Drama, Truyện Drama
  • Showbiz Việt Được Mùa Drama Tràn Ngập Theo Cả Nghĩa Đen Lẫn Bóng
  • Từ Drama có rất nhiều nghĩa, nó được dịch ra có nghĩa là tuồng, kịch, hành động. Khái niệm Drama bắt nguồn từ Hy Lạp, nó có nghĩa là hành động, kịch tính. Drama trên facebook hay trong game mang chiều hướng là thị phi, bóc phốt, những phốt ở đây thường có sức ảnh hưởng lớn, ví dụ như vụ Kiều Anh hera hay hot girl Gia Lai.

    Drama là gì trong giới trẻ anime, trên Facebook và trong game?

    Từ Drama có rất nhiều nghĩa, nó được dịch ra có nghĩa là tuồng, kịch. Khái niệm Drama bắt nguồn từ Hy Lạp, nó có nghĩa là hành động, kịch tính. Thuật ngữ Drama trên facebook mang chiều hướng là thị phi, bóc phốt, những phốt ở đây thường có sức ảnh hưởng lớn, ví dụ như vụ Kiều Anh hera hay hot girl Gia Lai.

    Mỗi một ngành nghề đều mang một thuật ngữ riêng biệt, mỗi thuật ngữ đều có nguồn gốc, xuất xứ và ý nghĩa của nó. Hôm nay, WikiDinhNghia sẽ giúp bạn hiểu rõ cụm từ Drama là gì, và các dạng Drama phổ biến trong giới trẻ hiện nay như thế nào!

    Từ Drama có nguồn gốc từ đâu?

    Drama dich ra tiếng Việt là kịch, là một môn nghệ thuật đã có từ xưa. Thuật ngữ Drama bắt nguồn từ Hy Lạp, nó có nghĩa là hành động, kịch tính. (tiếng Hy Lạp cổ điển: δρᾶμα, Drama), được bắt nguồn từ “I do” (Tiếng Hy Lạp cổ: δράω, drao) đây là một sự kết hợp giữ bi kịch và hài kịch.

    Và Drama cũng được coi là một thể loại thơ ca, sự kịch tính được đối chiếu với các giai thoại sử thi và thơ ca từ khi Thơ của Aristotle (năm 335 trước Công nguyên) – tác phẩm đầu tiên của thuyết kịch tính ra đời.

    Drama còn được xem là một thể loại kịch chỉ được diễn trên sân khấu. Aristotle đã phân loại các hình thức thơ khác nhau.

    • Drama có nghĩa là: Kịch, tuồng. ( Danh từ)
    • Drama: Sự việc kịch tính, hành động kịch tính ( Động từ).

    Còn có nghĩa là kịch

    • Drama workshop (Dramastudio) – Nhà diễn kịch
    • Horror Drama – Thảm kịch
    • Music-Drama theater – Nhà hát nhạc kịch

    boards , broadway , climax , comedy , Dramatic art , Dramatization , Dramaturgy , farce , footlights , histrionic art , meloDrama , play , production , scene , show , show business , showmanship , stagecraft , stage show , tear-jerker , theater , theatricals , thespian art , tragedy , vehicle * , crisis , Dramatics , emotion , excitement , histrionics , spectacle , tension , theatrics , acting , cliffhanger , composition , conflict , ensemble , movie , opera , program , pyrotechnics , repertory , tetralogy

    • Người viết kịch bản – biên kịch – đạo diễn
    • Khán giả – những người đến xem
    • Diễn viên – những người nhập vai vào các nhân vật trong vở diễn.

    Các thể loại Drama thông dụng được dùng nhiều nhất hiện nay

    • Là một vở kịch sân khấu
    • Phim Drama: Phim bộ, các thể loại phim tình cảm, phim truyền hình dài tập.
    • Phim hoạt hình anime, truyện chuyển thể từ manga Nhật Bản.
    • Phim dài tập chuyển thể từ tiểu thuyết, sử thi, hay truyện tranh, truyện online.
    • Truyện Drama: Các bộ truyện dài tập được dầu tư kỹ về nội dung.

    Drama là gì trong giới trẻ, anime

    Drama có 2 cách hiểu cơ bản. Nếu trong từ điển tiếng Anh, Drama được cho là tuồng, chuyên về kịch sân khấu.

    Còn nếu nói theo thuật ngữ Nhật Bản, Drama thường xuất hiện trong các bộ Anime và manga với đa dạng các thể loại: tình cảm, hồi hộp, bực bội, bi kịch, trinh thám, cảm động và phẫn nộ… tạo cho người xem cảm giác buồn bã và căng thẳng.

    • Kể từ đó thì Drama được dùng để chỉ các loại kịch mang kịch tính, hồi hộp.
    • Các vở kịch sân khấu, kịch nói
    • Phim Drama: Phim Drama: Phim bộ, các thể loại phim tình cảm, phim truyền hình dài tập.
    • Phim hoạt hình anime, truyện chuyển thể từ manga Nhật Bản.
    • Phim dài tập được chuyển thể từ tiểu thuyết, sử thi, hay truyện tranh, truyện online.

    Truyện Drama là các bộ truyện tranh dài tập được đầu tư kỹ lưỡng. Đa dạng thể loại đáp ứng nhu cầu đọc truyện ở mọi độ tuổi.

    Hầu hết những người khi nghe tới Drama lại nghĩ đến bộ môn nghệ thuật thứ bảy và anime. Đây được xem là hai nền công nghiệp có sức ảnh hưởng lớn nhất hiện nay.

    Chủ yếu là những bộ phim đến từ Hàn Quốc và những bộ truyện tranh đình đám tại Nhật Bản.

    Phim Drama được hiểu là một bộ phim dài tập, có các tình tiết kéo dài, Bộ phim được xây dựng hoàn toàn trên cuộc đời của một con người, một nhân vật có thực, nội dung phim nói về quá khứ cũng như hiện tại, những biến cố và những nỗ lực vươn lên trong cuộc sống của cá nhân họ, hoặc với gia đình hay công đồng.

    Hoặc một câu chuyện hư cấu nhưng phản ánh xã hội. Những bộ phim này thường đem lại cảm giác buồn vui, hạnh phúc đan xen đẩy cảm xúc khán giả lên cao.

    Nếu so sánh Drama với movie thì Drama có một điểm chung là nếu nội dung phim được làm theo cả 2 thể loại thì nội dung chính đều giống nhau. Movie là phim 1 tập thường chiếu ở rạp còn Drama thường chiếu ở TV và có nhiều tập.

    Drama thường thiên về chính kịch, bao gồm phim điện ảnh (Cine) và phim truyền hình dài tập (series). Trong đó, webDrama thuộc thể loại phim truyền hình. Nhưng định nghĩa phim truyền hình là phim dài tập chứ không phải phim được chiếu trên truyền hình như mọi người lầm tưởng.

    Một trong những bộ phim đình đám phải kể đến đó là Mr.Sunshine. Phim đánh dấu sự trở lại của siêu sao Lee Byung Hun trên màn ảnh nhỏ cùng “cô hầu gái” Kim Tae Ri. Được xếp top phim Drama xuất sắc năm 2021.

    Nội dung phim xoay quanh Choi Yoo Jin (Lee Byung Hun), người đã trốn lên tàu chiến và lưu lạc đến Mỹ trong chuyến thám hiểm của Mỹ tới Triều Tiên vào năm 1871.

    Khi trưởng thành, anh trở lại quê hương với vai trò là một người lính Mỹ đóng quân tại chính đất nước mình, trong bối cảnh chế độ quân chủ ở Triều Tiên đã sụp đổ. Anh gặp và yêu con gái của một nhà quý tộc.

    Ngoài ra, Hàn Quốc còn có giải thưởng khác được khá nhiều người quan tâm như: KBS Drama Awards, Seoul International Drama Awards…Để có một bộ phim thành công, cần kết hợp với nhiều yếu tố, tâm huyết của đoàn phim. Nhưng điều thực tế là phần nổi của bộ phim mới tạo sức hút cho giới trẻ.

    * Những bộ phim Drama Hàn Quốc được yêu thích nhất

    • Giày Thủy Tinh
    • Nàng DAE JANG GEUM
    • Chuyện Tình Paris
    • Vườn Nho
    • Truyền Thuyết JUMONG
    • Cô Nàng Đẹp Trai
    • Khu Vườn Bí Mật
    • Phẩm Chất Quý Ông
    • Vì Sao Đưa Anh Tới
    • Hậu Duệ Mặt Trời

    * Top những bộ phim Drama Hoa Ngữ được yêu thích nhất đầu năm 2021

    • Tiên sinh tình yêu
    • Người đàm phán
    • Quy khứ lai
    • Huyền của Ôn Noãn
    • Liệt hỏa như ca
    • Cuộc sống tươi đẹp
    • Nam phương hữu kiều mộc
    • Con đường đưa tiễn đầy hoa
    • Phượng tù hoàng

    * Các bộ phim Drama Việt đình đám

    • Người Trong Giang Hồ
    • Ai Chết Giơ Tay
    • Nam Phi Liên Hoàn Kế
    • Thập Tam Muội

    Các hạng mục được đề cử trong giải thưởng Korea Drama Award mới đây nhất (năm 2021) bao gồm:

    • Giải thưởng lớn: Kim So Yeon (When One’s Home Is Happy)
    • Nữ diễn viên hàng đầu: Baek Jin Hee (My Daughter Geum Sa Wol)
    • Nam diễn viên hàng đầu: Ahn Jae Hyun (Cinderella and Four Knights) và Jang Hyun Sung (Doctors)
    • Cặp đôi đẹp nhất: Song Joong Ki và Song Hye Kyo (Descendants of the Sun)
    • Nam diễn viên xuất sắc nhất: Jo Jae Yoon (Descendants of the Sun)
    • Nữ diễn viên xuất sắc nhất: Park Se Young (My Daughter Geum Sa Wol)
    • Biên kịch xuất sắc nhất: No Hee Kyung (Dear My Friends)
    • Nam diễn viên mới xuất sắc: Seo Ha Jun (Ok Joong Hwa)
    • Nữ diễn viên mới xuất sắc: Kim Sae Ron (Witch Exemplar)
    • Giải thưởng giám khả đặc biệt: So Yoo Jin (I Have Five Children)
    • Giải thưởng ngôi sao toàn cầu: Ahn Jae Hyun (Cinderella and Four Knights)
    • Giải thưởng ngôi sao nổi tiếng: Lee Ki Woo (Memory)
    • Giải thưởng ngôi sao Hallyu: Han Seung Yeon
    • Phim truyền hình xuất sắc nhất: Descendants of the Sun (Hậu duệ của mặt trời)
    • Nhạc phim xuất sắc nhất: Insooni – Such A Beautiful Person (Mom)

    Định nghĩa về truyện Drama là gì?

    Gần giống như phim, truyện Drama thường xoay quanh cuộc đời của một nhân vật và đem lại cho người xem nhiều xúc cảm khác nhau, vui buồn lẫn lộn.

    Vì sao thể loại phim, truyện Drama được yêu thích?

    Đa phần các diễn viên ngày nay đều rất xinh đẹp, các idol m nhạc cho đến những nét vẽ, nhân vật truyện đẹp,… đem lại cảm giác mãn nhãn cho người xem.

    Drama luôn tạo nhiều cốt truyện độc đáo, tình tiết mới lạ, hấp dẫn, lôi cuốn người xem bị cuốn vào câu chuyện trong nhân vật của tác phẩm.

    Sự kinh điển của Drama được tạo nên bởi bối cảnh của bộ phim và những hình ảnh tuyệt đẹp đã góp phần làm nên sự hấp dẫn và thu hút độc giả.

    Bên cạnh những yếu tố kịch tính, bi ai thì còn đan xen vào yếu tố hài hước, đây cũng chính là phần gây ấn tượng mạnh cho người xem.

    Những yếu tố quyết định tạo nên một bộ Drama kinh điển là gì?

    Bối cảnh, cách chia thể loại phim, kiểu phim và dạng thực hiện, đối tượng phim muốn nói đến.

    Sự thành công của thể loại Drama có lẽ xuất phát từ Hàn Quốc. Những bộ phim từ Hàn Quốc đang gây nên cơn sốt mới cho giới trẻ ở Châu Á nói riêng và Quốc Tế nói chung.

    Drama là gì với giới trẻ trên facebook?

    Trong năm 2021 vừa qua, những Drama đình đám thi nhau xuất hiện trên facebook, phải kể đến Kiều Minh Tuấn và An Nguy, hay của Nam Em và Trường Giang. Vậy Drama là gì?

    Tại sao trên Facebook lại xuất hiện những cụm từ như hít hà Drama. Những điều thắc mắc trên sẽ được WikiDinhNghia sẽ giải đáp ngay sau đây.

    Thuật ngữ Drama trên facebook mang chiều hướng là thị phi, bóc phốt, những phốt ở đây thường có sức ảnh hưởng lớn, ví dụ như vụ Kiều Anh Hera hay hot girl Gia Lai.

    Drama queen là gì trên facebook?

    Drama queen – nữ hoàng bi kịch.

    Chắc hẳn sẽ có ít nhất 1 lần mọi người nghe về cụm từ này. Drama queen là cụm từ chỉ chung cho các cô nàng bị hoang tưởng về bản thân. Người mà không một ai muốn dính líu đến vì sẽ khá phiền phức. Nguyên nhân chính dẫn đến tính cách này có thể xuất phát từ gia đình và hoàn cảnh sống.

    Những cô nàng này thường có tâm tư hỗn loạn, không ổn định, do sống trong môi trường không ổn định, suy ra tự suy diễn cuộc đời mình thành bi kịch, sống trong bi quan, không thể tự làm chủ được cảm xúc và chìm đắm vào mớ hỗn độn do chính mình tạo ra.

    Và những người bị gọi là Drama Queen thường biểu hiện qua: cảm xúc, hành động và lời nói sẽ khá bất thường.

    Nhắc đến Drama, người ta nghĩ đến bộ môn nghệ thuật thứ 7 và anime của Nhật Bản. Ở Hàn Quốc, thể loại Drama có sức ảnh hưởng lớn nhất và đem lại nhiều xúc cảm cho người xem.

    Có thể nói, phim và truyện Drama là hai yếu tố song hành với nhau. Chúng vừa cạnh tranh vừa hỗ trợ nhau phát triển. Giúp người xem và bạn đọc có những mẫu truyện mới cùng loại phim mới có nội dung cuốn, đi vào lòng người và gây ấn tượng mạnh.

    Drama hiện đại được hiểu như thế nào?

    Theo như nghĩa từ điển thì Drama được xếp vào thể loại kịch, nhưng theo thuật ngữ của anime và manga Nhật Bản thì Drama là định nghĩa của một loại phim tập trung vào bi kịch, tình cảm, trinh thám, tạo cho người xem những xúc cảm nhất định.

    Người ta ngầm hiểu Drama là một thể loại phim chiếu trên truyền hình, và thường là những bộ phim dài tập, còn movie được chiếu ở các cụm rạp.

    là 1 thể loại của film, bao gồm trong cả film Điện ảnh (Cine) cũng như film truyền hình dài tập (series), web Drama là 1 thể loại trong film truyền hình. Định nghĩa film truyền hình được mặc định là film dài tập (series) chứ không phải để chiếu trên truyền hình.

    Được thể hiện dưới dạng truyện tranh và hoạt hình, chủ yếu được Nhật Bản áp dụng phổ biến, hay tập trung vào thể loại trinh thám, tình cảm, chính kịch,.. tạo cho người xem một cảm giác buồn bã, căng thẳng mỗi khi xem.

    Drama được phân thành nhiều mục nhỏ theo tâm trạng, giai điệu, hành động xảy ra trong cốt truyện. Một số dạng Drama nổi tiếng bao gồm:

    Tuy Drama thường thiên về bi kịch nhiều hơn, nhưng vẫn đẩy mạnh nội dung hài kịch, mang tiếng cười nhẹ nhàng đến với khán giả.

    Thông thường, hài kịch thường đặt nhân vật vào thế bất thường, làm cho nhân vật bật ra được sự hài hước và làm cho câu chuyện đó trở nên vui hơn trong mắt người xem, đồng thời, nó còn đem lại ý nghĩa sâu sắc và thường đem đến kết thúc có hậu.

    Hài kịch còn có một khía cạnh khác đó là hài kịch châm biếm, nhắc đến châm biếm thì phải nhắc đến tác giả Vũ Trọng Phụng.

    Hơn thế nữa, hài kịch còn chia ra làm nhiều mảng nhỏ như: hài kịch lãng mạn, hài kịch tình cảm, phim hài bi kịch – trong đó phim hài bi kịch thường lấy cái hài làm bi, khiến cho cảm xúc được đẩy lên cao nhất.

    Đến với những tác phẩm này, sự bất hạnh được nhân lên thay vì hạnh phúc sau cùng. Ví dụ Hamlet trong tác phẩm cùng tên của Shakespeare- người luôn cảm thấy gánh nặng về những sai lầm của mình.

    Chính kịch là một thể loại được cho là dành riêng cho giới quý tộc, nếu nói về hài kịch thì chỉ thiên về phần hài hước là chính và dành cho tầng lớp bình dân. Còn chính kịch thì bao gồm cả bi và hài, đẩy mạnh được cảm xúc của người xem.

    Chính kịch là một thể loại trộn lẫn cả 2 yếu tố, nâng cao được sức hấp dẫn cho người xem và hiệu suất xem, đẩy mạnh cảm xúc giúp người xem có thể nhập tâm vào phim hơn.

    Hài kịch phóng đại (Farce)

    Đến với thể loại kịch này, bạn không thể nào không phì cười vì tạo hình nhân vật và nội dung, phóng đại tình huống sự việc trở nên vô lý và mang trong đó sự hài hước tột độ, giúp người xem cười từ đầu tới cuối. Điển hình là các tác phẩm như Waiting for Godot của Samuel Beckett và Airplane của Jim Abrahams.

    Đối với những ai mê cổ trang, anh hùng thì đây là một thể loại hoàn toàn thích hợp để người xem thưởng thức. MeloDrama mô tả về các nhân vật một chiều cổ điển như anh hùng, nữ anh hùng, nhân vật phản diện với những tình huống giật gân, lãng mạn hoặc nguy hiểm.

    Đôi khi, MeloDrama còn được gọi với cái tên “Tearjerkers”. Bạn có thể biết về thể loại Tearjerkers này thông qua bộ tiểu thuyết cuốn theo chiều gió đình đám.

    Opera là một thể loại khá đa năng, chúng kết hợp cả kịch và âm nhạc, khiêu vũ,.. với nhiều loại nội dung khác nhau, bao gồm cả chính kịch và hài kịch. Nội dung kịch chủ yếu được thể hiện bằng bài hát, đẩy cảm xúc khá tốt thay vì đối thoại.

    DocuDrama (Drama tài liệu)

    Đây có thể cho là một thể loại hoàn toàn mới, khắc họa những nhân vật trong lịch sử với một câu chuyện hoàn toàn có thật.

    Những cách sử dụng Drama phổ biến khác

    Ngày nay, khái niệm Drama đang dần Việt hóa và đang được sử dụng như tiếng Việt vay mượn. Trong phần này thì WikiDinhNghia sẽ giới thiệu đến quý đọc giả những cụm từ sử dụng chung với Drama.

    Web Drama có nội dung phim tương tự như các bộ phim truyền hình phát hành trên sóng TV. Tuy nhiên, nó giống với tên gọi của mình là những bộ phim này chỉ phát hành trên internet. Về kinh phí đầu tư và thời lượng phát sóng sẽ thấp hơn hẳn so với phim truyền hình, đồng thời, số tiền kiếm được cũng ít hơn.

    Web Drama có lượng người xem rơi vào độ tuổi từ 20 đến 30 tuổi. Một trong những giải thưởng lớn của phim truyền hình Hàn Quốc là Korea Drama Awards.

    Đây là một giải thưởng dành cho các phim truyền hình xuất sắc tại Hàn Quốc. Những bộ phim được đề cử giải này thường được phát sóng trên ba kênh truyền hình lớn như: KBS, MBC và SBS.

    SBS Drama Awards (Giải thưởng phim truyền hình SBS) được tổ chức hằng năm, là một lễ trao giải dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực phim truyền hình Hàn Quốc được phát sóng trên kênh SBS và được tổ chức bởi Seoul Broadcasting System (SBS).

    Ngày diễn ra lễ trao giải thường rơi vào ngày 31 tháng 12 mỗi năm, Giải thưởng cao nhất của SBS Drama Awards là “Giải Daesang” được trao cho nam/ nữ diễn viên xuất sắc nhất trong năm.

    Ngoài ra thì còn có một số danh hiệu khác đi kèm như:

    • Nam diễn viên xuất sắc nhất
    • Nữ diễn viên xuất sắc nhất
    • Biên kịch xuất sắc nhất
    • Nam diễn viên mới xuất sắc
    • Nữ diễn viên mới xuất sắc
    • Giải thưởng giám khảo đặc biệt
    • Giải thưởng ngôi sao toàn cầu
    • Giải thưởng ngôi sao nổi tiếng
    • Giải thưởng ngôi sao Hallyu
    • Phim truyền hình xuất sắc nhất
    • Nhạc phim xuất sắc nhất

    Là nơi tập hợp những ai yêu thích dòng phim này đến để giao lưu, trao đổi về các bộ phim hay.

    Drama cẩu huyết có nội dung khá nhàm chán, thường là những tình huống lặp đi lặp lại trong phim hay vở kịch, khiến người xem cảm thấy mệt mỏi.

    Drama Queen và Drama King là gì?

    Hai thuật ngữ này nhằm ám chỉ 2 diễn viên nổi tiếng và giỏi nhất trong Drama. Drama Queen là nữ hoàng kịch còn Drama King là ông vua kịch. Có thể nói đạt được danh hiệu này rất khó bởi vì không phải ai cũng diễn hay.

    Bên cạnh nghĩa chính, Drama Queen và Drama King đôi khi cũng được sử dụng với ý nghĩa tương đối mỉa mai để chỉ những người (nam hoặc nữ) quá ảo tưởng. Thường là chỉ những người cho mình là trung tâm của vũ trụ, tự biên tự diễn cuộc đời của mình, luôn chìm vào những tình tiết do mình tạo ra một cách vô thức, mê muội.

    Những đối tượng này thường gây sự chú ý bằng những hành động, phát ngôn gây sốc trên mạng xã hội. Nhằm kéo sự chú ý về phía mình, kiếm fan hâm mộ. Nhưng ở thực tế thì bạn bè họ khá ít, có thể cho rằng, những người này đang sống ảo.

    Rõ ràng các vụ Drama quá căng thẳng, chửi nhau nhiệt tình là không tốt và sẽ gây mất hoà khí trong cộng đồng game thủ, tuy nhiên nhiều vụ việc đơn giản chỉ là để bày tỏ quan điểm mà thôi chứ chẳng gây hại gì đến cuộc sống thực cũng như là việc chiến game cả.

    Tuy nhiên nhìn theo khía cạnh khác thì chính những topic như vậy lại khiến cho group – cũng chính là cả cộng đồng trở nên ‘xôm’ hơn rất nhiều bởi đơn giản là cứ có cãi nhau thì thêm nhiều người ‘hóng’, mà càng đông thì càng vui rồi!

    Thế nhưng, theo nhiều game thủ có cái nhìn nghiêm túc hơn thì thực tế các vụ Drama đang dần dà trở thành “Ung Nhọt” trong các group về game khi nhiều lúc kéo cả trang cũng chẳng có vụ việc gì mới mẻ mà chỉ toàn tranh cãi vô bổ không có hồi kết! Dù có muốn tìm kiếm thêm một số các chia sẻ hay kiến thức mới về thế giới ảo cũng không thể.

    Nhìn một cách tổng quát thì nếu như thiếu các Drama thì group chơi game sẽ vô cùng… nhạt nhẽo và buồn bã bởi chẳng phải lúc nào các TUT game cũng là đáng xem và gamer kỳ cựu gần như đã thuộc nằm lòng hết rồi, các vụ việc khác sẽ giúp họ giao lưu được nhiều hơn và gắn bó hơn với cộng đồng.

    Song cái gì quá cũng đều không tốt cả, việc để những vụ Drama không đâu xuất hiện một cách tràn lan sẽ khiến cho xích mích gia tăng giữa game thủ với nhau, dễ dẫn tới cãi nhau mạt sát chẳng còn vui chút nào nữa cả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thấu Thị Tiểu Thần Côn
  • Các Hồ Sơ Diện F (F1, F2A, F2B, F3) Đều Bị Lùi Lại Từ 12
  • Làm Hồ Sơ Định Cư Mỹ Diện F (F1, F2, F3, F4) Như Thế Nào?
  • Hồ Sơ F3 (Cha Mẹ Bảo Lãnh Con Đi Mỹ) Mất Bao Nhiêu Năm?
  • Diện Tích Tim Tường? Diện Tích Thông Thủy? Cách Tính Diện Tích Căn Hộ
  • Sach The Gioi Phang Thegioiphang Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đai Nịt Bụng Là Gì? Phân Loại Và Đánh Giá Ưu Nhược Điểm Của Từng Loại.
  • Đai Nịt Bụng Latex Là Gì ?
  • Đai Massage Giảm Béo Bụng Vibro Action,
  • Hướng Dẫn Mặc Gen Nịt Bụng Latex Đúng Cách
  • Nịt Bụng Waist Trainer Vòng Eo Thon Gọn Trong Vài Phút
  • TÓM TẮT LỊCH SỬ

    THẾ KỈ HAI MƯƠI MỐT

    The World Is Flat

    A BRIEF HISTORY OF

    THE TWENTY-FIRST CENTURY

    Thomas L. Friedman

    THẾ GIỚI LÀ PHẲNG

    Những người dịch:

    Nguyễn Quang A, Cao Việt Dũng, Nguyễn Tiên Phong

    CÙNG TÁC GIẢ

    From Beirut to Jerusalem (1989)

    The Lexus and the Olive Tree (1999)

    . Bản dịch chắc còn nhiều thiếu sót mong bạn đọc thông cảm, lượng thứ, và chỉ bảo; xin liên hệ theo địa chỉ Tạp chí Tin học và Đời sống, 54 Hoàng Ngọc Phách Hà Nội , các giao thức truyền, những đột phá về kĩ thuật quang học – các nguồn giàu có của thời chúng ta. Columbus đã vui sướng biến những người Indian ông gặp thành các nô lệ, một quỹ lao động chân tay tự do.

    Tôi chỉ muốn hiểu vì sao những người Indian tôi gặp lại lấy việc làm của chúng ta, vì sao họ trở thành một quỹ quan trọng như vậy cho outsourcing của công ti, một trong những thuyền trưởng chín chắn và được kính trọng nhất của nền công nghiệp Ấn Độ. Tôi đi xe với nhóm Discovery Times đến khu Infosys, khoảng bốn mươi phút từ trung tâm Bangalore, để thăm cơ sở và phỏng vấn Nilekani. Đến khu Infosys bằng con đường sứt sẹo, với các chú bò linh thiêng, các xe ngựa kéo, và các xe kéo có động cơ tất cả cùng chen lấn sát cạnh xe chúng tôi. Tuy nhiên, một khi bước vào cổng Infosys bạn ở trong một thế giới khác. Một bể bơi lớn cỡ khu nghỉ mát nép mình gữa các tảng đá mòn và những dải cỏ được cắt tỉa, sát kề một bãi cỏ khổng lồ như một sân golf nhỏ. Có vô số quán ăn và một câu lạc bộ sức khoẻ tuyệt vời. Các cao ốc kính-và-thép dường như mọc lên giống cỏ dại mỗi tuần. Trong một số cao ốc đó, các nhân viên Infosys đang viết các chương trình phần mềm cụ thể cho các công ti Mĩ hay châu Âu; trong các cao ốc khác, họ thực hiện những công việc hậu trường của các công ti siêu quốc gia lớn đặt cơ sở ở Mĩ và châu Âu – mọi thứ từ bảo trì máy tính đến các đề án nghiên cứu cụ thể đến trả lời các cuộc gọi của khách hàng từ khắp nơi trên thế giới. An ninh là chặt, các camera theo dõi các cửa, và nếu anh làm việc cho American Expss, anh không thể đi vào cao ốc quản lí các dịch vụ và nghiên cứu cho General Electric. Các kĩ sư Ấn Độ trẻ, nam và nữ, đi nhanh nhẹn từ cao ốc này sang cao ốc kia, lủng lẳng các thẻ ID năm vừa qua là đã có một sự đầu tư ồ ạt vào công nghệ, đặc biệt trong thời đại bong bóng, khi hàng trăm triệu dollar được đầu tư để thiết lập kết nối khắp nơi trên thế giới, cáp biển, và tất cả các thứ đó”. Đồng thời, ông nói thêm, máy tính đã trở nên rẻ hơn và phân tán khắp thế giới, và đã có một sự bùng nổ về phần mềm – e-mail, các phương tiện tìm kiếm như Google, và phần mềm sở hữu riêng, có thể chẻ bất cứ công việc nào và gửi một phần đến Boston, một phần đến Bangalore, và một phần đến Bắc Kinh, tạo dễ dàng cho bất cứ ai để phát triển từ xa. Khi tất cả các thứ này đột nhiên xảy ra cùng lúc vào khoảng năm 2000, Nilekani nói thêm, chúng “đã tạo ra một nền nơi việc làm tri thức, vốn trí tuệ, có thể được giao từ bất cứ đâu. Nó có thể được chia nhỏ, giao, phân phối, sản xuất và ráp lại cùng nhau lần nữa – và điều này đã cho cách làm việc của chúng ta một độ tự do hoàn toàn mới, đặc biệt việc làm có tính chất trí tuệ… Và cái mà anh đang nhìn thấy tại Bangalore ngày nay thực sự là đỉnh điểm của tất cả những điều trên kết hợp lại.”

    Chúng tôi ngồi trên đi văng bên ngoài văn phòng của Nilekani, đợi đội TV dựng các camera. Tại một điểm, tóm tắt các ẩn ý của tất cả điều này, Nilekani đã thốt ra một cụm từ cứ lảng vảng trong đầu tôi. Ông nói với tôi, “Tom, sân chơi đang được san phẳng”. Ý ông muốn nói là các nước như Ấn Độ bây giờ có khả năng cạnh tranh vì lao động tri thức toàn cầu như chưa từng bao giờ có – và rằng Mĩ tốt hơn hãy sẵn sàng cho điều này. Mĩ bị thách thức, nhưng, ông nhấn mạnh, sự thách thức sẽ là tốt cho Mĩ bởi vì chúng ta luôn sung sức nhất khi bị thách thức. Khi tôi rời khu Infosys về Bangalore tối hôm ấy và bị xóc suốt dọc đường ổ gà, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi về cụm từ đó: “Sân chơi đang được san phẳng”.

    Cái Nandan nói , tôi nghĩ, là sân chơi đang được san phẳng… Được san phẳng? Được san phẳng? Trời ơi, ông ta nói với tôi thế giới là phẳng!”

    Ngồi đằng sau chiếc xe đó, tôi đã viết vội vàng bốn từ đó vào sổ tay của mình: “Thế giới là phẳng”. Ngay khi viết chúng, tôi nhận ra rằng đấy là thông điệp cơ bản của mọi thứ tôi đã thấy và đã nghe ở Bangalore trong hai tuần làm phim. Sân chơi cạnh tranh toàn cầu được san bằng. Thế giới được san phẳng.

    Khi tôi nhận rõ điều này, cả hứng khởi và sự kinh hãi tràn đầy tôi. Nhà báo trong tôi hứng khởi khi đã tìm thấy một khung khổ để hiểu kĩ hơn các tin chính buổi sáng và để giải thích cái xảy ra trên thế giới ngày nay. Rõ ràng, hiện nay là có thể cho nhiều người hơn bao giờ hết để hợp tác và cạnh tranh trong thời gian thực với nhiều người hơn về nhiều loại việc làm khác nhau hơn từ nhiều ngõ ngách của hành tinh hơn và trên cơ sở bình đẳng hơn bất cứ thời gian nào trước đây trong lịch sử loài người – dùng máy tính, e-mail, mạng, hội nghị từ xa, và phần mềm mới năng động. Đó là cái Nandan đã nói cho tôi. Đó là cái tôi đã khám phá ra trong hành trình của tôi đến Ấn Độ và xa hơn. Và đó là cái cuốn sách này nói về. Khi bạn bắt đầu nghĩ về thế giới như là phẳng, rất nhiều thứ có ý nghĩa theo những cách chúng không có trước đây. Nhưng đích thân tôi cũng hứng khởi, bởi vì sự san phẳng thế giới có nghĩa là bây giờ chúng ta đang kết nối tất cả các trung tâm tri thức trên hành tinh lại thành một mạng toàn cầu đơn nhất, mà – nếu hoạt động chính trị và chủ nghĩa khủng bố không cản đường – thì sẽ có thể mở ra một kỉ nguyên thịnh vượng và đổi mới gây sửng sốt.

    Nhưng suy ngẫm thế giới phẳng cũng làm tôi tràn đầy kinh hãi, về mặt nghề nghiệp và cá nhân. Sự kinh sợ riêng của tôi xuất phát từ sự thực hiển nhiên rằng không chỉ những người viết phần mềm và các geek , và bạn sẽ thấy mọi sắc cầu vồng con người tham gia.

    aithirth “Jerry” Rao là một trong những người đầu tiên tôi gặp ở Bangalore- và tôi gặp anh chưa hơn vài phút ở khách sạn Leela Palace trước khi anh bảo tôi rằng anh có thể xử lí các tờ khai thuế của tôi và các yêu cầu kế toán khác tôi cần – từ Bangalore. Không, cảm ơn, tôi đã có một kế toán viên rồi ở Chicago. Jerry chỉ mỉm cười. Anh ta quá lịch sự để nói – rằng anh ta có thể là kế toán viên của tôi rồi, hay đúng hơn kế toán viên của của kế toán viên của tôi, nhờ sự bùng nổ về outsourcing việc chuẩn bị thuế.

    “Điều này xảy ra như chúng ta nói”, Rao bảo, anh quê ở Mumbai, trước là Bombay, hãng của anh, MphasiS, có một đội các kế toán viên Ấn Độ có khả năng làm công việc kế toán được outsource từ bất cứ bang nào của Mĩ và chính phủ liên bang. “Chúng tôi liên kết với nhiều hãng CPA với một định dạng chuẩn làm cho outsourcing khai thuế rẻ và dễ. Toàn bộ quá trình bắt đầu, Jerry giải thích, với một kế toán viên ở Hoa Kì quét các tờ khai thuế năm ngoái của tôi, cộng với các bản kê khai W-2, W-4, 1099, tiền thưởng, cổ phiếu của tôi- mọi thứ- vào một máy chủ, đặt ở California hay Texas. “Bây giờ kế toán viên của anh, nếu anh ta xử lí thuế của anh ở hải ngoại, biết rằng anh thích không cho (ai đó ở ngoài nước) biết họ (tên) hay số An sinh Xã hội của anh, thì anh ta có thể chọn giữ kín thông tin đó”, Rao nói. “Các kế toán viên ở Ấn Độ chi phí chung. ‘Và các việc khác này, chúng thực sự phức tạp, cho nên tôi tự làm chúng’.”

    Năm 2003, khoảng 25.000 tờ khai thuế Mĩ được làm ở Ấn Độ. Năm 2004 con số là 100.000. Năm 2005, dự kiến là 400.000. Trong một thập niên, anh sẽ cho rằng kế toán viên của anh outsource việc chuẩn bị cơ bản của các tờ khai thuế của anh – nếu không hơn nữa.

    “Anh đã vào nghề này thế nào?” tôi hỏi Rao.

    “Bạn tôi Jeroen Tas, một người Hà Lan, và tôi đều đã làm cho Citigroup ở California”, Rao giải thích. “Tôi là sếp của anh ta và một hôm chúng tôi cùng trở về từ New York trên một chuyến bay và tôi nói mình có kế hoạch thôi việc và anh ta bảo, ‘Tôi cũng thế’. Cả hai chúng tôi đều nói, ‘Vì sao chúng ta lại không khởi động doanh nghiệp riêng của chúng ta?’ Vì thế vào năm 1997-98, chúng tôi cùng nhau đưa ra một kế hoạch kinh doanh để cung cấp các giải pháp Internet cao cấp cho các công ti lớn … Hai năm trước, tuy vậy, tôi đã đi dự một hội nghị công nghệ ở Las Vegas và một số hãng kế toán lớn có thể, và , khó để tiên đoán. Dễ tiên đoán cho ai đó sống ở Ấn Độ. Trong mười năm chúng tôi sẽ làm nhiều thứ đang được làm ở Mĩ ngày nay. Chúng tôi có thể dự đoán tương lai của mình. Nhưng chúng tôi ở sau các bạn. Các bạn xác định tương lai. Mĩ luôn luôn ở trên đỉnh của làn sóng sáng tạo mới… Cho nên là khó để nhìn vào mắt kế toán viên đó và nói đây là cái sẽ là. Chúng ta không được tầm thường hoá điều đó. Chúng ta phải xử lí nó và nói về nó một cách chân thật … Bất cứ hoạt động nào mà chúng ta có thể số hoá và phân li chuỗi giá trị, và di chuyển công việc đi đó đây, sẽ được di chuyển đi. Ai đó sẽ nói, ‘Ừ, nhưng anh không thể phục vụ tôi một miếng thịt nướng’. Đúng, nhưng tôi có thể làm việc đặt trước bàn của anh ngồi ở bất cứ đâu trên thế giới, nếu quán ăn không có một người phụ trách. Chúng tôi có thể nói, ‘Vâng, ông Friedman, chúng tôi có thể dành cho ông một bàn gần cửa sổ’. Nói cách khác, có những phần của việc đi ăn cơm hiệu mà chúng ta có thể phân li và outsource. Nếu bạn quay lại và đọc các sách giáo khoa kinh tế học cơ bản, chúng sẽ bảo: Các hàng hoá được trao đổi, còn các dịch vụ được tiêu thụ và sản xuất ở cùng chỗ. Và bạn không thể xuất khẩu việc cắt tóc. Song chúng ta đang đến gần việc xuất khẩu cắt tóc, phần việc hẹn. Bạn muốn cắt kiểu tóc gì? Bạn muốn thợ cắt nào? Tất cả các thứ đó có thể và sẽ được một call center ở rất xa làm.”

    Khi chúng tôi kết thúc cuộc nói chuyện, tôi hỏi Rao tiếp theo anh sẽ làm gì. Anh ta tràn đầy sinh lực. Anh bảo tôi anh đã nói chuyện với một công ti Israel có những bước tiến lớn về công nghệ nén cho phép truyền các hình quét CAT (Computer Assisted Tomography) tốt hơn và dễ hơn qua Internet cho nên bạn có thể mau chóng có một ý kiến thứ hai từ một bác sĩ cách xa nửa vòng trái đất.

    Vài tuần sau khi tôi nói chuyện với Rao, tôi nhận được e-mail sau từ Bill Brody, hiệu trưởng Đại học Johns Hopkins, người tôi vừa phỏng vấn cho cuốn sách này:

    Chúc tốt lành,

    hờ trời tôi là một nhà báo và không phải là một kế toán viên hay một radiologist. Không có outsourcing nào đối với tôi- cho dù một số bạn đọc nào đó của tôi có thể muốn mục báo của tôi có thể chuyển đi Bắc Triều Tiên. Ít nhất đó là cái tôi nghĩ. Sau đó tôi nghe về hoạt động của Reuters ở Ấn Độ. Tôi đã không có thời gian để thăm văn phòng Reuters ở Bangalore, nhưng tôi đã có khả năng nắm được Tom Glocer, CEO của Reuters, để nghe ông đã làm gì. Glocer là người đi tiên phong về outsourcing các yếu tố của chuỗi cung tin thức.

    Với 2.300 nhà báo quanh thế giới, ở 197 văn phòng, phục vụ một thị trường bao gồm các nhà ngân hàng đầu tư, các nhà buôn bán các công cụ phái sinh, các nhà môi giới chứng khoán, các báo, đài phát thanh, truyền hình, và các đại lí Internet, Reuters đã luôn có một khán-thính-độc giả rất phức tạp để thoả mãn. Sau sự phá sản dot-com, tuy vậy, khi nhiều khách hàng của nó trở nên rất có ý thức về chi phí, Reuters bắt đầu tự hỏi mình, vì các lí do cả về chi phí và hiệu quả: Chúng ta thực sự cần đặt người của chúng ta vào đâu để cung ứng cho chuỗi cung tin tức toàn cầu của chúng ta? Và chúng ta có thể thực sự chia nhỏ công việc của một nhà báo và giữ một phần ở London và New York và chuyển một phần sang Ấn Độ?

    Sự phá sản dot-com và sự làm phẳng thế giới đã buộc Glocer phải nghĩ lại Reuters cung cấp tin thế nào – liệu nó có thể chia nhỏ các chức năng của một nhà báo và chuyển các chức năng có giá trị gia tăng thấp sang Ấn Độ. Mục tiêu chính của ông là để giảm sự chồng chéo tổng tiền lương của Reuters, trong khi bảo tồn càng nhiều việc làm báo giỏi càng tốt. “Cho nên việc đầu tiên chúng tôi đã làm”, Glocer nói, “là đi thuê sáu phóng viên ở Bangalore như một thử nghiệm. Chúng tôi bảo, ‘Hãy bảo họ làm chỉ các tóm tắt tin đặc biệt và các bảng và bất cứ thứ gì khác có thể sai họ làm ở Bangalore’.”

    Những người Ấn Độ mới được thuê này có kiến thức kế toán và được Reuters huấn luyện, song họ được trả lương, ngày nghỉ và trợ cấp y tế theo chuẩn địa phương. “Ấn Độ là một địa điểm phong phú không thể tin nổi để tuyển người, không chỉ có kĩ năng kĩ thuật mà cả kĩ năng tài chính,” Glocer nói. Khi một công ti công bố thu nhập của mình, một trong những việc đầu tiên nó làm là trao cho các hãng điện tín – Reuters, Dow Jones, và Bloomberg – để phân phát. “Chúng tôi sẽ lấy dữ liệu thô đó,” ông nói, “và rồi là một cuộc chạy đua xem chúng tôi có thể quay vòng nó nhanh ra sao. Bangalore là một trong những nơi được nối mạng nhất trên thế giới, và mặc dù có một chút trễ – một giây hay ít hơn – để kéo thông tin sang đó, hoá ra là bạn có thể ngồi ở Bangalore và có được phiên bản điện tử của một thông cáo báo chí và biến nó thành một câu chuyện dễ dàng hệt như bạn có thể làm ở London hay New Y ork”.

    Sự khác biệt, tuy vậy, là lương và tiền thuê nhà ở Bangalore ít hơn một phần năm so với ở các thủ đô phương Tây đó.

    Trong khi kinh tế học và sự làm phẳng thế giới đã đẩy Reuters xuống con đường này, Glocer đã cố vui vẻ làm vì đằng nào cũng phải làm. “Chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể trút gánh nặng báo cáo đã bị hàng hoá hoá và khiến việc đó được làm một cách có hiệu quả ở nơi khác trên thế giới,” ông nói, và rồi tạo cơ hội cho các nhà báo Reuters theo quy ước để tập trung vào việc làm báo và phân tích có giá trị gia tăng cao và thoả mãn cá nhân hơn nhiều. “Hãy giả như anh là một nhà báo Reuters ở New York. Anh đạt sự thoả mãn cuộc sống của mình bằng chuyển các công bố báo chí thành các hộp trên các màn hình hay làm việc phân tích?” Glocer hỏi. Tất nhiên, là việc sau. Outsourcing các thông báo tin tức cho Ấn Độ cũng cho phép Reuters mở rộng bề ngang của việc làm phóng sự của nó tới nhiều công ti có vốn nhỏ hơn, các công ti đã không có hiệu quả về chi phí đối với Reuters để theo dõi trước đây với các nhà báo được trả lương cao hơn ở New York. Nhưng với các phóng viên Ấn Độ có lương thấp, có thể thuê nhiều người với chi phí của một phóng viên ở New York, bây giờ có thể làm việc đó từ Bangalore. Mùa hè 2004, Reuters đã tăng hoạt động nội dung Bangalore của nó lên ba trăm nhân viên, nhắm cuối cùng đến tổng số một ngàn rưởi. Một vài trong số đó là các phóng viên Reuters kì cựu được cử sang để huấn luyện các đội Ấn Độ, một số là các phóng viên làm các tin thu nhập đặc biệt, nhưng hầu hết là các nhà báo làm phân tích dữ liệu chuyên biệt hơn một chút – nghiền số , tôi có thể nói chuyện với …?” (Ai đó ở đầu bên kia vừa dập điện thoại xuống).

    Nhân viên call center nam: “Dịch vụ buôn bán đây, tôi là Jerry, tôi có thể giúp?” (Các nhân viên call center Ấn Độ lấy tên phương Tây do họ tự chọn. Ý tưởng, tất nhiên, là để khiến các khách hàng Mĩ hay châu Âu cảm thấy thoải mái hơn. Hầu hết các thanh niên Ấn Độ mà tôi nói về chuyện này đã không bực mình mà coi nó như một cơ hội để có một chút vui đùa. Trong khi một vài người chỉ chọn Susan hay Bob, một số thực sự sáng tạo).

    Nhân viên nữ ở Bangalore nói với một người Mĩ: “Tôi tên là Ivy Timberwoods và tôi gọi ngài …”

    Nhân viên nữ ở Bangalore nhận diện một người Mĩ: “Có thể cho tôi bốn số cuối của số Anh sinh Xã hội của anh?”

    Nhân viên nữ ở Bangalore cho lời chỉ dẫn cứ như cô ở Manhattan và nhìn ra cửa sổ phòng cô: “Vâng, chúng tôi có một chi nhánh ở Đường Bảy Mươi Tư và Thứ Hai, một chi nhánh ở thấp nhất…”

    Nhân viên nữ ở Bangalore giải thích cho một bà Mĩ xử lí tài khoản séc của mình thế nào: “Séc số sáu-sáu-năm là tám mươi mốt dollar và năm mươi lăm cent. Bà vẫn còn một khoản phải trả ba mươi dollar. Bà hiểu rõ tôi không?”

    Nhân viên nữ ở Bangalore sau khi ai đó vừa chỉ trích gay gắt cô trên điện thoại: “Alô? Alô?”

    Nhân viên nữ ở Bangalore xin lỗi vì gọi ai đó ở Mĩ quá sớm: “Đây chỉ là một cuộc gọi xã giao, tôi sẽ gọi lại muộn hơn vào buổi tối …”

    Nhân viên nam ở Bangalore rất muốn thử bán một thẻ tín dụng hàng không cho ai đó ở Mĩ người có vẻ không muốn: “Có phải vì bà có quá nhiều thẻ tín dụng, hay bà không thích đi máy bay, bà Bell?”

    Nhân viên nữ ở Bangalore thử nói chuyện với một người Mĩ vì máy tính của bà ta bị hỏng: “Bắt đầu chuyển giữa merory OK và memory test …”

    Nhân viên nam ở Bangalore làm cùng việc: “Tốt, sau đó, hãy gõ vào ba và ấn nút Enter …”

    Nhân viên nữ ở Bangalore thử giúp một người Mĩ không thể nán thêm một giây nữa trên đường dây trợ giúp: “Vâng, cô ạ, tôi hiểu là cô đang vội đúng lúc này. Tôi chỉ thử giúp cô ra …”

    Nhân viên nữ ở Bangalore bị một chỉ trích gay gắt khác: “Vâng, ôi, thế khi nào sẽ …”

    Cũng nhân viên ấy ở Bangalore bị một chỉ trích gay gắt khác: “Vì sao, Bà Kent, đó không phải là …”

    Cũng nhân viên ấy ở Bangalore bị một chỉ trích gay gắt khác: “Như một bản , chứ không phải quanh thế giới.

    Nitu Somaiah: “Một trong những khách hàng hỏi tôi lấy ông ta.”

    Sophie Sunder làm việc cho phòng hành lí thất lạc của hãng Delta: “Tôi nhớ bà này gọi từ Texas,” cô nói, “và bà ta, giống như khóc trên điện thoại. Bà đã bay hai chuyến nối tiếp nhau và bà mất túi xách của mình, trong túi xách có áo cưới và nhẫn cưới của con gái bà và tôi cảm thấy rất buồn cho bà và tôi chẳng có thể làm gì. Tôi đã không có thông tin nào”.

    “Hầu hết khách hàng đều giận dữ,” Sunder nói. “Việc đầu tiên họ nói là, ‘Túi của tôi đâu? Tôi muốn túi của mình bây giờ!’ Chúng tôi chẳng hạn phải nói, ‘Xin lỗi, có thể cho tôi biết họ và tên?’ ‘Nhưng túi của tôi đâu!’ Một số người hỏi tôi là người nước nào? Chúng tôi được bảo phải nói thật, hôm nay là Honeywell. Và cả cho America Online”.

    Các nữ thanh niên – nhiều trong số họ – sau đó sắp hàng với đơn xin việc và đợi để được tuyển mộ viên phỏng vấn ở một bàn gỗ. Đây là thí dụ một số cuộc phỏng vấn nghe giống thế nào:

    Tuyển mộ viên 1: “Em kiếm loại việc làm nào?”

    Người xin việc 1: “Nó phải dựa vào đánh giá, rồi, ở đâu em có thể phát triển, em có thể thăng tiến trong sự nghiệp của em”.

    Tuyển mộ viên 1: “Em phải tự tin hơn về mình khi nói. Em rất bồn chồn. Chị muốn em lo một chút về việc đó và rồi liên hệ với chúng tôi”.

    Tuyển mộ viên 2 với một ứng viên khác: “Nói cho chị một chút về bản thân em”.

    Người xin việc 2: “Em đã qua và điểm trắc nghiệm SAT trên bảy tôi thấy cả lô ngành công nghiệp Mĩ đã đến Bangalore và thực sự tôi không cần sang đó. Tôi có thể làm việc cho một công ti đa quốc gia ở ngay đây. Như thế tôi vẫn có thể ăn cơm và sambar , nó chào cho các nhà điều hành toàn cầu bận rộn trợ lí cá nhân riêng của họ ở Ấn Độ. Giả sử bạn điều hành một công ti và được mời nói chuyện và trình bày bằng PowerPoint hai ngày nữa. “Trợ lí điều hành từ xa” của bạn ở Ấn Độ, do Brickwork cung cấp, sẽ làm mọi việc tìm kiếm cho bạn, soạn bài trình bày PowerPoint, và e-mail toàn bộ cho bạn vào ban đêm sao cho nó ở trên bàn bạn ngày bạn phải trình bày.

    “Bạn có thể giao việc cho trợ lí điều hành từ xa của mình khi bạn rời cơ quan vào cuối ngày ở Thành phố New York, và việc sẽ sẵn sàng cho bạn sáng hôm sau,” Kulkarni giải thích. “Bởi vì thời gian chênh lệch với Ấn Độ, họ có thể làm việc được giao khi bạn ngủ và đưa lại cho bạn vào buổi sáng”. Kulkarni gợi ý tôi thuê một trợ lí từ xa ở Ấn Độ để làm tất cả việc tìm kiếm cho cuốn sách này. “Anh hay chị ta cũng giúp anh theo kịp với cái anh muốn đọc. Khi anh thức dậy, anh sẽ thấy tóm tắt đầy đủ trong in-box của anh”. (Tôi bảo ông ta không ai có thể giỏi hơn trợ lí lâu đời của tôi, Maya Gorman, người ngồi cách xa mười bước!).

    “Chúng tôi có sự đáp ứng tuyệt vời,” Kulkarni nói, từ các khách hàng đến từ hai lĩnh vực chính. Một là các nhà tư vấn chăm sóc sức khoẻ Mĩ, thường cần tính toán rất nhiều số liệu và thảo các trình bày PowerPoint. Thứ hai, ông nói, là các ngân hàng đầu tư và các công ti dịch vụ tài chính Mĩ, thường cần chuẩn bị các sách mỏng bóng loáng với các đồ thị minh hoạ lợi ích của một IPO (ra niêm yết trên thị trường chứng khoán) hay một đề xuất sát nhập. Trong trường hợp sát nhập, Brickwork sẽ chuẩn bị các đoạn của báo cáo đề cập đến các điều kiện và xu hướng thị trường chung, nơi phần lớn nghiên cứu có thể lượm lặt được từ Web và tóm tắt ở một dạng chuẩn. “Đánh giá về định giá thương vụ ra sao là việc của bản thân các nhà ngân hàng đầu tư.” Kulkarni nói. “Chúng tôi làm công việc chất lượng thấp, và họ sẽ làm các việc cần sự đánh giá phê phán và kinh nghiệm, sát với thị trường.” Đội của ông tham gia càng nhiều dự án, họ tích được càng nhiều tri thức. Kulkarni nói, họ cũng đầy khát vọng để giải vấn đề cao hơn. “Ý tưởng là học liên tục. Bạn luôn tham gia một kì thi. Không có kết thúc đối với việc học … Không có giới hạn thực sự đối với cái có thể được làm bởi ai đó.”

    hông giống Columbus, tôi đã không dừng với Ấn Độ. Sau khi về nhà, tôi quyết định tiếp tục thám hiểm phương Đông tìm nhiều dấu hiệu hơn về thế giới là phẳng. Vì thế sau Ấn Độ, tôi mau chóng đi Tokyo, nơi tôi đã có cơ hội phỏng vấn Kenichi Ohmae, nguyên là nhà tư vấn huyền thoại của McKinsey & Company ở Nhật Bản. Ohmae đã rời McKinsey và lập ra doanh nghiệp riêng của mình, Ohmae & Associates. Và họ làm gì? Không còn làm tư vấn nữa, Ohmae giải thích. Bây giờ ông đi tiên phong trong nỗ lực để outsource các việc làm chất lượng thấp cho các call center và các nhà cung cấp dịch vụ nói tiếng Nhật ở Trung Quốc. “Ông nói gì?” tôi hỏi. “Sang Trung Quốc? Chẳng phải một thời người Nhật đã thuộc địa hoá Trung Quốc, để lại vị rất khó chịu trong miệng người Trung Quốc?”

    Thế đấy, phải, Ohmae nói, nhưng ông giải thích rằng người Nhật cũng để lại một số đông người nói tiếng Nhật những người đã duy trì một phần văn hoá Nhật, từ sushi đến karaoke, ở bắc Trung Quốc, đặc biệt quanh thành phố cảng đông bắc Đại Liên. Đối với Nhật Bản Đại Liên đã trở thành cái mà Bangalore đã trở thành đối với Mĩ và các nước nói tiếng Anh khác: trung tâm outsourcing. Người Trung Quốc có thể không bao giờ tha thứ cho Nhật Bản vì cái nó đã làm đối với Trung Quốc trong thế kỉ trước, nhưng người Trung Quốc hết sức tập trung vào việc lãnh đạo thế giới trong thế kỉ tiếp đến mức họ sẵn sàng xem lại tiếng Nhật của họ và đảm nhận mọi việc Nhật Bản có thể outsource.

    “Việc tuyển mộ là khá dễ,” Ohmae nói đầu năm 2004. “Khoảng một phần ba dân số ở vùng này “.

    Thị trưởng năng động của Đại Liên, Xia Deren, bốn mươi chín tuổi, nguyên hiệu trưởng một trường cao đẳng. (Đối với một hệ thống Cộng sản độc đoán, Trung Quốc đã làm một việc rất tốt về cất nhắc người theo công trạng. Văn hoá Quan lại trọng dụng tài năng , những người học lịch sử hay văn học, vẫn được bảo học một năm tiếng Nhật hay tiếng Anh, cộng với khoa học máy tính, sao cho họ có thể dùng được. Thị trưởng ước lượng hơn nửa dân cư Đại Liên có truy cập Internet ở cơ quan, ở nhà, hay ở trường.

    “Ban đầu các công ti Nhật Bản khởi động một số ngành xử lí dữ liệu ở đây,” thị trưởng nói thêm, “và với việc này như cơ sở bây giờ họ chuyển sang R & D và phát triển phần mềm … Trong một hay hai năm qua, các công ti phần mềm Mĩ cũng có nỗ lực nào đó để chuyển outsourcing phần mềm từ Hoa Kì sang thành phố chúng tôi… Chúng tôi tiến gần và bắt kịp những người Ấn Độ. Xuất khẩu phần mềm chúng tôi có thể chọn ra các sinh viên thông minh nhất những người có thể nói tiếng Anh giỏi nhất”.

    Người dân Đại Liên có khó chịu không khi làm việc cho người Nhật, mà chính phủ của họ vẫn chưa bao giờ xin lỗi chính thức về cái chính phủ Nhật Bản thời chiến tranh đã làm với Trung Quốc?

    “Chúng tôi sẽ không bao giờ quên rằng một cuộc chiến tranh lịch sử đã xảy ra giữa hai quốc gia,” ông trả lời, “nhưng khi nói về lĩnh vực kinh tế, chúng tôi chỉ tập trung vào các vấn đề kinh tế- đặc biệt nếu chúng tôi nói về kinh doanh outsourcing phần mềm. Nếu các công ti Mĩ và Nhật làm sản phẩm của họ ở thành phố chúng tôi, chúng tôi coi đó là một việc tốt. Những đứa trẻ của chúng tôi cố học tiếng Nhật, để làm chủ công cụ này sao cho họ có thể cạnh tranh với các đối tác Nhật Bản của họ để giành được các vị trí lương cao cho bản thân họ trong tương lai”.

    Thị trưởng sau đó nói thêm vào, “Cảm giác riêng của tôi là lũ trẻ Trung Quốc có tham vọng hơn thanh niên Nhật hay Mĩ trong các năm gần đây, song tôi không nghĩ họ có tham vọng đủ, vì họ không có khát vọng như thế hệ chúng tôi. Vì thế hệ chúng tôi, trước khi vào đại học hay cao đẳng, bị đưa đi các vùng nông thôn xa xôi và các nhà máy và các đội quân sự, và trải qua một thời kì rất khắc nghiệt, nên về mặt tinh thần khắc phục và đối mặt với khó khăn, : “Quy tắc của nền kinh tế thị trường,” quan chức Cộng sản này giải thích cho tôi, “là nếu ở đâu đó có nguồn nhân lực phong phú nhất và lao động rẻ nhất, tất nhiên các doanh nghiệp và các hãng sẽ tự nhiên đi đến đó”. Về sản xuất, ông chỉ ra, đầu tiên người Trung Quốc đã là người làm công và làm cho các nhà sản xuất lớn nước ngoài, sau nhiều năm, sau khi chúng tôi đã học được tất cả các quy trình và các bước, chúng tôi có thể khởi động các hãng riêng của mình. Phần mềm sẽ theo cùng đường … Đầu tiên chúng tôi sẽ phải để những người nước ngoài thuê các thanh niên của chúng tôi, và sau đó chúng tôi sẽ khởi động các công ti riêng của mình. Giống như xây dựng một cao ốc. Ngày nay, Hoa Kì, các bạn là những người thiết kế, các kiến trúc sư, và các nước đang phát triển là các thợ nề cho các cao ốc. Nhưng một ngày nào đó tôi hi vọng chúng tôi sẽ là các kiến trúc sư”.

    ôi vừa mới tiếp tục khám phá – đông và tây. Vào mùa hè 2004, tôi đi nghỉ ở Colorado. Tôi đã nghe về hãng hàng không giá rẻ này được gọi là JetBlue, khai trương năm 1999. Tôi không có ý tưởng nào về họ hoạt động ở đâu, nhưng tôi cần bay giữa Washington và Atlanta, và không thể hoàn toàn có được giờ bay tôi muốn, cho nên tôi quyết định gọi JetBlue và xem chính xác họ bay ở đâu. Tôi thú nhận mình đã có một động cơ khác. Tôi nghe là JetBlue đã outsource toàn bộ hệ thống giữ chỗ của nó cho các bà nội trợ ở Utah, và tôi muốn kiểm tra việc này. Cho nên tôi đã gọi hệ thống giữ chỗ của JetBlue và có đối thoại sau với người đại lí:

    “Alô, đây là Dolly, tôi có thể giúp ông?” một giọng như của bà trả lời cho cháu.

    “Vâng, tôi muốn bay từ Washington đi Atlanta”, tôi nói. “Hãng có bay đường ấy không ạ?”

    “Không, tôi rất tiếc chúng tôi không. Chúng tôi bay từ Washington đi Ft. Lauderdale”, Dolly nói.

    “Thế còn Washington đi New York City?” tôi hỏi.

    “Không, tôi rất tiếc chúng tôi không bay đường đó. Chúng tôi có bay từ Washington đến Oakland và Long Beach”, Dolly nói.

    “Bà ơi, tôi có thể hỏi bà việc này? Thật sự bà ở nhà à? Tôi đọc thấy các đại lí của JetBlue chỉ làm việc ở nhà”.

    “Vâng, đúng vậy,” Dolly nói với giọng vui vẻ nhất. (Muộn hơn tôi xác minh với JetBlue rằng họ tên đầy đủ của bà là Dolly Baker). “Tôi ngồi trong văn phòng của mình ở lầu trên trong nhà của tôi, nhìn ra cửa sổ thấy trời nắng đẹp. Đúng năm phút trước ai đó đã gọi và hỏi tôi cùng câu hỏi ấy và tôi bảo họ và họ nói, “Tốt, tôi nghĩ bà sẽ bảo tôi là bà ở New Delhi”.

    “Bà sống ở đâu?” tôi hỏi.

    “Salt Lake City, Utah,” Dolly nói. “Chúng tôi có ngôi nhà hai tầng, và tôi thích làm việc ở đây, đặc biệt vào mùa đông khi tuyết xoáy tít và tôi ở trên này trong văn phòng ở nhà”.

    “Làm thế nào bà có một việc làm như vậy?” tôi hỏi.

    David Neeleman, người sáng lập và CEO của JetBlue Airways Corp., nổi tiếng về tất cả việc này. Ông gọi nó là “homesourcing-thuê làm ở nhà”. JetBlue bây giờ có bốn trăm đại lí giữ chỗ, giống Dolly, làm việc ở nhà ở vùng Salt Lake City, lấy việc đặt chỗ – giữa chừng trông trẻ con, tập luyện, viết tiểu thuyết, và nấu ăn tối.

    Vài tháng sau tôi đến thăm Needleman tại hội sở của JetBlue ở New York, và ông đã giải thích cho tôi những ưu điểm của homesourcing, mà ông thực sự khởi đầu ở Morris Air, việc đầu tư mạo hiểm đầu tiên của ông vào kinh doanh hàng không. (Nó được Sothwest mua lại). “Chúng tôi có 250 người ở nhà của họ làm việc giữ chỗ tại Morris Air,” Needleman nói. “Họ có năng suất hơn 30 phần trăm – họ bán vé được nhiều hơn 30 phần trăm, chính do họ thấy hạnh phúc hơn. Họ trung thành hơn và ít mệt mỏi hơn. Cho nên khi tôi khởi động JetBlue, tôi nói, “Chúng ta sẽ có 100 phần trăm giữ chỗ ở nhà”.

    Needleman có một lí do cá nhân để muốn làm việc này. Ông là người muốn outsource sang Ấn Độ hơn là cho các gia đình của chính họ, và tôi không thể hiểu điều đó. Không hiểu sao họ lại nghĩ rằng cần phải đặt người ta ngồi trước họ hay sếp nào đó mà họ đã bổ nhiệm. Năng suất chúng tôi có ở đây nhiều hơn thành phần cho nhân tố Iraq thực sự được điều khiển từ xa từ Las Vegas. Trong khi đó, các ảnh video mà nó phát về được MEU thứ 24, tổng hành dinh Chỉ huy Trung Tâm Hoa Kì ở Tampa, tổng hành dinh khu vực CentCom ở Quatar, Lầu Năm Góc, và có lẽ CIA, theo dõi đồng thời. Các nhà phân tích khác nhau quanh thế giới đã tiến hành chat trực tuyến về diễn giải thế nào cái đang xảy ra và phải làm gì với nó. Chính cuộc nói chuyện của họ là cái cuộn xuống ở bên phải màn hình.

    Trước khi tôi có thể thậm chí biểu lộ sự kinh ngạc của mình, một sĩ quan khác đi cùng chúng tôi đã làm tôi sửng sốt khi nói rằng công nghệ này đã “làm phẳng” hệ thống thứ bậc quân sự – bằng cho nhiều thông tin đến vậy cho sĩ quan cấp thấp, hay thậm chí cho binh nhì, người đang cho máy tính hoạt động, và trao quyền cho anh ta để ra các quyết định về thông tin anh ta thu thập. Trong khi tôi tin chắc rằng không trung uý nào sẽ được phép khai hoả mà không hỏi ý kiến cấp trên, ngày mà chỉ có các sĩ quan cấp cao có bức tranh lớn đã qua rồi. Sân chơi quân sự được làm bằng.

    Tôi kể chuyện này cho bạn tôi Nick Burns, đại sứ Hoa Kì ở NATO và một thành viên trung thành của Red Sox Nation của một quán McDonald’s sát đường cao tốc và bạn có dịch vụ nhanh, thân thiện, cho dù người lấy đơn hàng của bạn không ở trong quán ăn – hay thậm chí ở Missouri,” bài báo viết. “Người lấy đơn hàng là một call center ở Colorado Springs, cách xa hơn 900 dặm, hay 1.450 kilomet, được nối với khách hàng và với những người lao động chuẩn bị thức ăn bằng các đường dữ liệu tốc độ cao. Ngay cả một số việc làm nhà hàng ăn, có vẻ, không miễn khỏi outsourcing”.

    “Chủ tiệm ăn ở Cape Girardeau, Shannon Davis, đã kết nối nó và ba trong 12 quán đặc quyền kinh tiêu McDonald’s của ông với call center ở Colorado, được vận hành bởi một người được đặc quyền kinh tiêu khác của McDonald’s, Steven Bigari. Và ông đã làm việc đó vì cùng các lí do mà các chủ doanh nghiệp khác nắm lấy các call center: các chi phí thấp hơn, tốc độ nhanh hơn và ít sai sót hơn”.

    “Các đường truyền thông rẻ, nhanh và tin cậy cho phép những người nhận thực đơn ở Colorado Springs trò chuyện với các khách hàng ở Missouri, chụp một ảnh điện tử nhanh về họ, hiển thị thực đơn của họ trên một màn hình nhằm đảm bảo rằng nó đúng, rồi gửi đơn hàng và ảnh đến bếp của tiệm ăn. Ảnh được huỷ ngay khi thực đơn được hoàn tất, Bigari nói. Người dân mua món thịt băm của mình chẳng bao giờ biết đơn hàng của họ đi ngang hai bang và bật lại trước khi họ có thể thậm chí lái xe đến cửa sổ để lấy thức ăn”.

    “Davis nói rằng anh đã mơ làm cái gì đó giống thế này trong hơn một thập niên. ‘Chúng tôi không thể đợi để đi theo nó’, anh nói thêm. Bigari, người đã lập ra call center cho các tiệm ăn riêng của mình, vui vẻ giúp đỡ – lấy một khoản phí nhỏ cho mỗi giao dịch”.

    Bài báo lưu ý là Công ti McDonald’s nói thấy ý tưởng call center là đủ lí thú để khởi động một thử nghiệm với ba cửa hàng gần tổng hành dinh ở Oak Brook, Illinois, với phần mềm khác với phần mềm Bigari dùng. “Jim Sappington, một phó chủ tịch của McDonald’s về IT, nói rằng còn ‘quá, quá sớm’ để nói nếu ý tưởng call center có thể hoạt động chéo qua mười ba ngàn tiệm ăn McDonald’s ở Hoa Kì… Tuy nhiên, những người được kinh tiêu của hai tiệm ăn McDonald’s khác, ngoài của Davis, đã outsource việc lấy đơn hàng lái-thẳng của họ cho Bigari ở Colorado Springs. (Hai tiệm khác ở Brainerd, Minnesota, và Norwood, Massachusetts). Cái chính cho thành công của hệ thống, Bigari nói, là cách nó sóng đôi ảnh của khách hàng với đơn hàng của họ; bằng tăng sự chính xác, hệ thống cắt giảm số các khiếu nại và vì thế khiến việc phục vụ nhanh hơn. Trong kinh doanh thức ăn nhanh, thời gian thực sự là tiền: cắt thậm chí năm giây khỏi thời gian xử lí một đơn hàng là đáng kể,” bài báo lưu ý. “Bigari nói anh đã cắt ngắn thời gian đặt hàng trong các cửa hiệu hai làn lái-thẳng của anh hơn 30 giây một chút, xuống trung bình còn khoảng 1 phút 5 giây. Ít hơn một nửa thời gian trung bình 2 phút 36 giây, cho tất cả các tiệm McDonald’s, giữa các tiệm nhanh nhất ở trong nước, theo chúng tôi trang theo dõi những việc như vậy. Các tiệm lái-thẳng của anh hiện nay phục vụ 260 xe một giờ, Bigari nói, 30 phần trăm nhiều hơn chúng đạt trước khi anh khởi động call center … Tuy các nhà điều hành của anh kiếm, trung bình, được 40 cent một giờ cao hơn các nhân viên tuyến của anh, anh đã cắt tổng chi phí lao động của mình được một điểm phần trăm, ngay cả khi lượng bán hàng lái-thẳng tăng lên … Các trắc nghiệm được tiến hành bên ngoài các công ti cho thấy các tiệm lái-thẳng của Bigari hiện nay có lỗi ít hơn 2 phần trăm của tất cả các đơn hàng, xuống từ khoảng 4 phần trăm trước khi anh bắt đầu sử dụng các call center, Bigari nói”.

    Bigari “say mê ý tưởng call center đến mức,” bài báo nhận xét, “anh đã mở rộng nó quá cửa sổ lái-thẳng ở bảy tiệm ăn của anh có dùng hệ thống. Trong khi anh vẫn chào dịch vụ quầy ở các tiệm ăn đó, hầu hết khách hàng bây giờ đặt hàng qua call center, dùng điện thoại với máy đọc thẻ tín dụng ở trên các bàn trong khu vực ngồi”.

    Câu chuyện này làm tôi tò mò, cho nên tôi lần ra gã trẻ này từ InDC Journal. Tên anh ta là Bill Ardolino, và anh là gã rất chu đáo. Tôi tiến hành phỏng vấn riêng của mình với anh ta trực tuyến – làm sao khác được? – và bắt đầu bằng hỏi về thiết bị anh dùng với tư cách một mạng/báo một-người.

    “Tôi dùng một máy chơi MP3/ghi âm nhỏ xíu (ba inch rưỡi và hai inch khoảng 100-200 $ đến 300 $ nếu anh muốn thêm một máy ảnh, 400 $ đến 500 $ cho một chiếc máy ghi âm rất xinh và một máy ảnh thật xinh. , hay không còn thực sự bao gồm những người lao động cộng tác với những người lao động khác ở các xó khác nhau của địa cầu, hay không còn thực sự lấy được các sản phẩm được sản xuất ở nhiều chỗ cùng một lúc? Ai đi điều tiết công việc? Ai đánh thuế nó? Ai phải được lợi từ các khoản thuế đó?”

    Nếu tôi đúng về sự làm phẳng thế giới, nó sẽ được nghi nhớ như một trong những thay đổi căn bản – giống như sự nổi lên của các nhà nước-quốc gia và trực tiếp hay gián tiếp đụng chạm đến rất nhiều người trên hành tinh ngay lập tức. Sự chuyển đổi sang kỉ nguyên mới này càng nhanh và càng rộng, thì càng có khả năng cho sự hỗn loạn, trái với một sự chuyển giao quyền lực có trật tự từ những người thắng cũ sang cho những người thắng mới.

    Diễn đạt theo cách khác, những kinh nghiệm của các công ti công nghệ cao trong vài thập niên vừa qua các công ti đã thất bại để lèo lái qua những thay đổi nhanh do các loại lực lượng này gây ra trên thương trường của chúng có thể là một lời cảnh cáo cho tất cả các doanh nghiệp, các định chế, các nhà nước quốc gia hiện giờ đang đối mặt với những thay đổi không thể tránh được, thậm chí có thể tiên đoán được này, nhưng thiếu sự lãnh đạo, tính uyển chuyển và trí tưởng tượng để thích nghi – không phải bởi vì họ không thông minh hay không ý thức được, mà bởi vì tốc độ thay đổi đơn giản làm họ choáng ngợp không chống lại được.

    Và đó là vì sao thách thức to lớn đối với thời đại chúng ta sẽ là hấp thu những thay đổi này theo cách sao cho không đè bẹp người dân mà cũng không để họ lại đằng sau. Chẳng cái nào trong những cái này sẽ là dễ. Nhưng đó là nhiệm vụ của chúng ta. Nó chắc chắn xảy ra và không thể tránh được. Chính tham vọng của cuốn sách này là đề xuất một khung khổ để suy nghĩ thế nào về nó và điều khiển nó cho lợi ích tối đa của chúng ta.

    MƯỜI LỰC LÀM PHẲNG THẾ GIỚI

    Mười Lực làm Phẳng Thế giới

    inh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa đã tạo ra thế giới trong sáu ngày và ngày thứ bảy ngài đã nghỉ. Việc làm phẳng thế giới kéo dài hơn một chút. Thế giới được làm phẳng bởi sự hội tụ của mười sự kiện chính trị, sự đổi mới, và công ti chính. Chẳng ai trong chúng ta đã nghỉ từ khi đó, hay có lẽ có bao giờ lại sẽ nghỉ. Chương này là về các lực đã làm phẳng thế giới và nhiều dạng và công cụ mới cho cộng tác mà sự làm phẳng này đã tạo ra.

    LỰC LÀM PHẲNG # 1

    Khi các Bức Tưởng đổ xuống và Windows và đã có một nước khổng lồ để cai quản, và không có kinh nghiệm nào về điều hành đất nước. Hoa Kì đã bận với Châu Âu và Nhật Bản và kế hoạch Marshall. Cho nên Nehru ngó lên phương bắc, qua dãy Himalaya, và đã cử nhóm kinh tế gia của ông đi Moscow. Họ trở về và nói nước này đã hầu như làm phá sản đất nước. Chúng tôi đã không có khả năng trả các khoản nợ của mình. Như một dân tộc, chúng tôi không có sự tự tin. Chắc chắn, chúng tôi đã có thể thắng vài cuộc chiến tranh với Pakistan, nhưng điều đó không cho quốc gia sự tự tin”.

    Sự sụp đổ Tường Berlin đã không chỉ giúp làm phẳng các lựa chọn khả dĩ cho chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và cởi trói cho những năng lực to lớn bị dồn nén đối với hàng triệu người ở các nơi như Ấn Độ, Brazil, Trung Quốc, và Đế chế Soviet trước đây. Nó cũng cho phép chúng ta nghĩ về thế giới khác đi – nhìn nó như một toàn thể không có vết khâu nối. Bởi vì Tường Berlin đã không chỉ chặn đường chúng ta; nó đã chặn tầm nhìn của chúng ta- khả năng của chúng ta để nghĩ về thế giới như một thị trường đơn nhất, một hệ sinh thái đơn nhất, một cộng đồng đơn nhất. Trước 1989, đã có thể có một chính sách phương Đông hay chính sách phương Tây, song khó để nghĩ về có một chính sách ‘toàn cầu’. Amartya Sen, nhà kinh tế Ấn Độ đoạt giải Nobel bây giờ dạy ở Harvard, một lần đã lưu ý tôi rằng “Tường Berlin đã không chỉ là một biểu tượng về giữ người dân ở bên trong Đông Đức – nó đã là cách ngăn cản một loại tầm nhìn toàn cầu về tương lai của chúng ta. Chúng ta không thể tư duy về thế giới một cách toàn cầu khi Tường Berlin còn đó. Chúng ta không thể nghĩ về thế giới như một tổng thể”. Có một câu chuyện thú vị tiếng Sanskrit, Sen nói thêm, về một con ếch sinh ra trong một cái giếng, ở đó và sống suốt đời trong giếng ấy. “Nó có một thế giới quan bao gồm cái giếng”, ông nói. “Đối với nhiều người trên hành tinh đó là cái thế giới đã giống như trước khi bức tường sụp đổ. Khi tường sụp đổ, nó giống như con ếch trong giếng đột nhiên có khả năng liên lạc với những con ếch ở các giếng khác … Nếu tôi ca tụng sự sụp đổ bức tường, chính là vì tôi tin chắc rằng chúng ta có thể học từ nhau nhiều đến thế nào. Hầu hết tri thức là học được từ người khác qua biên giới”.

    Vâng, thế giới trở thành chỗ tốt hơn để sống sau 9/11, vì mỗi sự bùng phát tự do kích thích một sự bùng phát khác, và bản thân quá trình đó có một tác động làm phẳng qua các xã hội, củng cố những người ở dưới và làm yếu những kẻ ở trên. “Quyền tự do của phụ nữ”, Sen lưu ý, nêu chỉ một thí dụ, “thúc đẩy phụ nữ biết đọc biết viết, có xu hướng giảm sinh đẻ và tỉ lệ chết trẻ em và tăng các cơ hội việc làm cho phụ nữ, rồi ảnh hưởng đến đối thoại chính trị và cho phụ nữ cơ hội có vai trò lớn hơn trong tự quản địa phương”.

    Một khối lượng tới hạn của các máy PC IBM, và hệ điều hành Windows đã đưa chúng vào cuộc sống, đến cùng nhau khoảng cùng thời kì mà bức tường đổ, và sự phổ biến của chúng đã đóng đinh vào quan tài của chủ nghĩa cộng sản, bởi vì chúng cực kì cải thiện truyền thông theo chiều ngang – có hại cho chính hình thức từ trên xuống mà chủ nghĩa cộng sản dựa vào. Chúng cũng tăng cường mạnh mẽ việc cá nhân thu thập thông tin và sự trao quyền cho cá nhân. (Mỗi thành tố của cách mạng thông tin này do những tiến hoá tách rời gây ra: mạng điện thoại tiến hoá từ mong muốn của người dân nói chuyện với nhau từ xa. Máy fax tiến hoá như cách để truyền thông văn bản trên mạng điện thoại. Máy tính cá nhân được các (trình) ứng dụng sát thủ duy nhất. Điều đó xảy ra, Mundie nói, một khi chúng ta có một nền tính toán được chuẩn hoá ở dạng thô – máy IBM PC – cùng với một giao diện người dùng đồ hoạ chuẩn hoá cho xử lí văn bản và bảng tính – Windows – cùng với một công cụ truyền thông chuẩn hoá – dial-up modem và mạng lưới điện thoại toàn cầu. Một khi ta có nền tương hoạt cơ bản đó, thì các trình ứng dụng sát thủ đẩy sự phổ biến của nó rộng khắp mọi nơi.

    “Người dân thấy rằng họ thực sự thích làm tất cả những thứ này trên một máy tính, và họ thật sự cải thiện năng suất,” Mundie nói. “Tất cả chúng có sự hấp dẫn cá nhân rộng rãi và khiến cá nhân người dân đứng dậy và mua một PC có thể chạy Windows và đặt trên bàn của họ, và điều đó buộc sự truyền bá nền tính toán mới này vào thế giới tính toán công ti còn nhiều hơn nữa. Người ta nói, ‘Chà, có một vật quý ở đây, và chúng ta phải tận dụng nó’.”

    Windows được củng cố càng trở thành hệ điều hành hàng đầu, Mundie nói thêm, “càng có nhiều người lập trình đi viết các ứng dụng cho thế giới kinh doanh giàu có để đưa vào máy tính của họ, cho nên họ có thể làm nhiều việc kinh doanh mới và khác, điều đó bắt đầu làm tăng năng suất còn hơn nữa. Hàng chục triệu người trên khắp thế giới trở thành các lập trình viên để khiến PC làm mọi thứ họ muốn bằng ngôn ngữ riêng của họ. Windows cuối cùng đã được dịch ra ba mươi tám ngôn ngữ. Người dân có khả năng làm quen với PC bằng ngôn ngữ của chính mình”.

    Đấy là hoàn toàn mới và lí thú, nhưng chúng ta không được quên nền PC-Windows ban đầu này đã nông cạn đến thế nào. “Nền này bị ràng buộc bởi quá nhiều giới hạn kiến trúc,” Mundie nói. “Đã thiếu hạ tầng cơ sở”. Internet như chúng ta biết ngày nay – với các giao thức truyền dường như có phép màu, có thể kết nối mọi người và mọi thứ – vẫn chưa nổi lên. Quay lại hồi đó, các mạng đã chỉ có các giao thức rất hạn chế để trao đổi file và các thông điệp e-mail. Cho nên những người dùng các máy tính với cùng loại hệ điều hành và phần mềm có thể trao đổi tài liệu qua e-mail hay chuyển file, nhưng ngay cả làm việc này cũng khá rắc rối nên chỉ có giới ưu tú tin học mới chịu khó. Bạn đã không thể đơn giản ngồi xuống và vèo một e-mail hay một file cho bất cứ ai ở bất cứ đâu- đặc biệt ở bên ngoài công ti của chính bạn hay ngoài dịch vụ Internet riêng của bạn- cách mà bạn có thể làm hiện nay. Đúng, những người dùng AOL có thể liên lạc với những người dùng CompuServe, nhưng việc đó đã chẳng đơn giản cũng không tin cậy. Kết quả là, Mundie nói, một lượng dữ liệu và sáng tạo khổng lồ đã tích tụ trong tất cả các máy tính đó, song đã không có cách dễ dàng, tương hoạt nào để chia sẻ nó và nhào nặn nó. Người ta đã có thể viết các ứng dụng mới cho phép các hệ thống được chọn để hoạt động cùng nhau, nhưng nói chung điều này chỉ giới hạn cho những trao đổi dự kiến giữa các PC bên trong mạng của một công ti đơn nhất.

    Giai đoạn này từ 9/11 đến giữa 1990 vẫn dẫn đến sự tiến bộ to lớn về trao quyền cá nhân, cho dù mạng còn hạn chế. Đó là thời kì của “Tôi và máy của tôi bây giờ có thể nói chuyện với nhau tốt hơn và nhanh hơn, nên cá nhân tôi có thể làm nhiều việc hơn” và thời kì của “Tôi và máy của tôi bây giờ có thể nói chuyện với vài bạn bè và vài người trong công ti của tôi tốt hơn và nhanh hơn, nên chúng tôi có kết quả hơn”. Các bức tường đã sụp đổ và các cửa sổ- Windows- đã mở, làm cho thế giới phẳng nhiều hơn bao giờ hết – nhưng thời đại của truyền thông toàn cầu suôn sẻ vẫn chưa rạng.

    Tuy ta không để ý đến nó, đã có một nốt chối tai trong thời đại mới lí thú này. Đã không chỉ có người Mĩ người Âu cùng với người dân của Đế chế Soviet tán dương sự sụp đổ tường – và đòi công cho việc đó. Ai đó khác đã nâng li – không phải sâm banh mà là cà phê Thổ đặc. Tên hắn là Osama bin Laden và hắn có một chuyện kể khác. Quan điểm của hắn là các tay súng jihad ở Afghanistan, mà hắn là một, là người đã hạ bệ Đế chế Soviet bằng buộc Hồng Quân rút khỏi Afghanistan (với sự giúp đỡ của Mĩ và Pakistan). Và một khi sứ mạng đó đã hoàn tất – những người Soviet hoàn tất việc rút quân vào 15-2-1989, chỉ chín tháng trước khi Tường Berlin sụp đổ – bin Laden ngó quanh và thấy rằng siêu cường kia, Hoa Kì, có sự hiện diện to lớn ở quê hắn, Saudi Arabia, quê hương của hai thành phố Islam thiêng liêng nhất. Và hắn không thích điều đó.

    Như thế, trong khi nhảy múa trên bức tường

    ào giữa các năm 1990, cách mạng mạng PC-Windows đã đạt các giới hạn của nó. Nếu thế giới trở nên thực sự được kết nối, và thực sự bắt đầu trải phẳng ra, cách mạng cần đi vào pha tiếp theo. Và pha tiếp, Mundie của Microsoft lưu ý, “là đi từ một nền tính toán dựa trên PC sang một nền tảng tính toán dựa vào Internet”. Các ứng dụng sát thủ phát động pha mới này đã là e-mail và trình duyệt Internet. E-mail được thúc đẩy bởi các portal để lướt Web ban đầu này, nhưng browser chủ đạo đầu tiên – và toàn bộ văn hoá duyệt Web cho quảng đại quần chúng – được tạo ra bởi một công ti khởi nghiệp bé xíu ở Mountain View, California, đợc gọi là Netscape. Netscape ra công chúng ngày 9 tháng 8, 1995, và thế giới không còn giống như trước nữa.

    Pha do Netscape gây ra đã dẫn quá trình làm phẳng theo nhiều hướng then chốt: Nó cho chúng ta browser thương mại phổ biến rộng rãi đầu tiên để lướt Internet. Netscape browser đã không chỉ làm cho Internet sống động mà còn khiến cho Internet có thể truy cập được đối với mọi người từ đứa trẻ năm tuổi đến cụ già tám mươi lăm tuổi. Internet càng sống động, càng nhiều người tiêu dùng muốn làm các việc khác nhau trên Web, nên họ càng đòi hỏi nhiều máy tính, phần mềm, các mạng viễn thông có thể dễ dàng số hoá văn bản, âm nhạc, dự liệu, và ảnh và truyền chúng qua Internet đến máy tính của bất kể ai khác. Nhu cầu này được thoả mãn bởi một sự kiện xúc tác khác: Windows 95 trình làng, được giao tuần lễ sau Netscape đưa cổ phiếu của nó ra công chúng. Windows 95 mau chóng trở thành hệ điều hành được nhiều người dùng nhất khắp thế giới, và không giống các phiên bản Windows trước, nó có sự hỗ trợ Internet cài sẵn, cho nên không chỉ các browser mà tất cả các ứng dụng PC có thể “biết về Internet” và tương tác với nó.

    Nhìn lại, cái cho phép Netscape cất cánh đã là sự tồn tại, từ pha sớm hơn, của hàng triệu PC, nhiều máy đã có sẵn modem rồi. Đó là những cái vai mà Netscape đứng lên trên. Cái mà Netscape đã làm là đưa ra một ứng dụng sát thủ mới – browser- cho số PC đã được lắp đặt này, làm cho máy tính và tính kết nối của nó hữu ích hơn một cách vốn có cho hàng triệu người. Đến lượt nó điều này làm nổi bật một sự bùng nổ về cầu đối với mọi thứ digital tiếp cận ông mời làm CEO của một công ti mới gọi là Mosaic Communications, được lập bởi hai nhà đổi mới huyền thoại – Jim Clark và Marc Andreessen. Giữa 1994, Clark, đồng sáng lập của Silicon Graphics, đã chung sức với Andreessen để thành lập Mosaic, công ti mau chóng được đổi tên là Netscape Communications. Andreessen, một nhà khoa học máy tính trẻ tài ba, đã vừa dẫn đầu một dự án phần mềm nhỏ ở NCSA Internet đầu tiên của Cisco, thực ra, được một đôi vợ chồng xây dựng ở Stanford những người muốn trao đổi e-mail; một người làm việc xa một máy tính lớn riêng và rời nhau,” Andreessen nói. “Mỗi xe nào họ đã gửi cho chúng ta,” và anh ta thấy rằng Goodyear dùng một hệ thống hoàn toàn khác, và đại lí ở Topeka lại dùng một hệ thống khác nữa. Rồi Joe về nhà và thấy đứa con học lớp bảy của mình tìm trên WWW cho bài luận học kì, dùng các giao thức mở, và ngó vào các tài sản của bảo tàng nghệ thuật nào đó ở Pháp. Và Joe nói, “Thật là điên. Phải có một thế giới hoàn toàn kết nối”.

    Trong các năm trước khi Internet trở thành có tính thương mại, Andreessen giải thích, các nhà khoa học đã phát triển một loạt các “giao thức mở” có ý định làm cho hệ thống e-mail của mọi người hay mạng máy tính đại học kết nối suôn sẻ với hệ thống của mọi người khác – để đảm bảo rằng không ai có ưu thế đặc biệt nào đó. Các giao thức dựa vào toán học này, cho phép các dụng cụ số nói chuyện với nhau, giống như các ống thần diệu mà, một khi đã chấp nhận chúng cho mạng của bạn, sẽ khiến cho bạn tương thích với mọi người khác, bất kể họ chạy loại máy tính gì. Các giao thức này đã (và vẫn còn) được biết đến bằng các tên chữ cái hổ lốn của chúng: chủ yếu là FTP, HTTP, SSL, SMTP, POP, và TCP/IP. Cùng nhau, chúng tạo thành một hệ thống để vận chuyển dữ liệu quanh Internet một cách tương đối an toàn, bất kể công ti bạn hay các hộ gia đình có mạng gì hay bạn dùng máy tính hay điện thoại di động hay thiết bị cầm tay gì. Mỗi giao thức có một chức năng khác biệt: TCP/IP là hệ thống ống người ta làm việc đó rất nhanh, và mười năm sau đã có tám trăm triệu người trên Internet”. Lí do ư? “Người dân sẽ thay thói quen nhanh khi họ có một lí do mạnh mẽ để làm vậy, và người ta có một sự thôi thúc bẩm sinh để kết nối với người khác,” Andreessen nói. “Và khi bạn cho người ta một cách mới để kết nối với người khác, họ sẽ chọc thủng bất cứ rào cản kĩ thuật nào, họ sẽ học các ngôn ngữ mới – người dân được nối mạng muốn kết nối với người khác và họ thấy khó chịu không có khả năng để làm vậy. Đó là cái Netscape giải phóng”. Như Joel Cawley, phó tổng giám đốc về chiến lược công ti của IBM, diễn đạt, “Netscape đã tạo ra một chuẩn về làm thế nào dữ liệu có thể được chuyển và sắp xếp trên màn hình đơn giản và hấp dẫn đến mức bất cứ người nào và mọi người có thể đổi mới sáng tạo trên nó. Nó nhanh chóng tăng quy mô ra khắp toàn cầu và cho mọi người từ trẻ con đến các công ti”.

    Mùa hè 1995, Barksdale và các đồng nghiệp Netscape của ông đi một chuyến biểu diễn lưu động kiểu cổ với các nhà ngân hàng đầu tư từ Morgan Stanley để thử cám dỗ các nhà đầu tư khắp đất nước mua cổ phiếu của Netscape một khi nó ra công chúng. “Khi chúng tôi ở trên đường,” Barksdale nói, “Morgan Stanley nói cổ phiếu có thể bán cao ở giá 14 $. Nhưng sau khi chuyến trình diễn đang tiến triển, họ đã nhận được cầu đối với cổ phiếu, họ đã quyết định tăng gấp đôi giá mở cửa lên 28 $. Chiều cuối cùng trước khi khởi bán, tất cả chúng tôi đều ở Maryland. Đó là trạm cuối của chúng tôi. Chúng tôi có một đoàn xe limousine đen. Chúng tôi nhìn giống một nhóm Mafia nào đó. Chúng tôi cần tiếp xúc với đã từng chọn ra như tồi tệ nhất (từ quan điểm của các cổ đông) ở Hoa Kì. Giữa những thứ khác, nó bao gồm vé máy bay hạng nhất cho mẹ Annunziata đi thăm anh ta một lần một tháng. Nó cũng gồm phần thưởng 2 triệu cổ phiếu với giá 10 $ một cổ phần dưới giá thị trường.

    Henry Schacht, một nhà công nghiệp kì cựu bây giờ ở E. M. Warburg, Pincus & Co., đã được đưa vào bởi Lucent, công ti kế tục của Western Electric, để giúp trông coi nó qua thời kì điên dại này. Ông nhớ lại bầu không khí: “Phi điều tiết viễn thông 1996 là cực kì quan trọng. Nó cho phép các hãng chuyển mạch địa phương xây dựng năng lực riêng của mình và bán cạnh tranh với nhau và với các công ti Baby Bells. Các công ti viễn thông mới này đến các công ti như Global Crossing và nhờ họ lắp đặt mạng cáp quang cho mình để họ có thể cạnh tranh ở mức truyền tải với AT&T và MCI, đặc biệt vì lưu lượng hải ngoại … Mỗi người đã nghĩ đây là một thế giới mới, và nó sẽ chẳng bao giờ ngừng. ‘tôi sẽ đặt cáp quang của tôi trước khi anh đặt, và tôi sẽ có phần lớn hơn anh’. Nó được giả sử đúng là một đường tăng trưởng nằm dọc, thẳng đứng, và mỗi chúng ta đều nghĩ mình sẽ có phần của mình, vì thế mỗi người xây dựng theo các dự đoán tối đa và cho rằng họ sẽ có phần của mình.”

    Hoá ra là trong khi doanh nghiệp-đến-doanh nghiệp và thương mại điện tử đã phát triển như dự kiến, và nhiều Web site mà chẳng ai dự kiến đã bùng nổ – như eBay, Amazon, và Google- chúng vẫn chỉ ngoạm một phần nhỏ của năng lực sẵn có. Cho nên khi sự vỡ nợ dot-com xuất hiện, đã có quá nhiều cáp quang ở đó. Cước điện thoại đường dài sụt từ 2 $ một phút xuống 10 cent. Và truyền dữ liệu hầu như là miễn phí. “Ngành viễn thông đã tự đầu tư đúng ra ngoài việc kinh doanh,” Mike McCue, tổng điều hành của Tellme Networks, một dịch vụ Internet kích hoạt bằng âm thanh, nói với CNET chúng tôi tháng Bảy 2001. “Họ đã đặt nhiều cáp quang dưới đất đến mức về cơ bản họ tự hàng hoá hoá dữ liệu trên một giây trên mỗi sợi. Khi các cáp quang này ban đầu được đặt, các chuyển mạch quang học – các máy phát và máy thu – ở mỗi đầu của chúng đã không thể lợi dụng hết năng lực đầy đủ của sợi quang. Nhưng mỗi năm kể từ khi đó, các chuyển mạch quang học ở mỗi đầu của cáp đó đã trở nên ngày càng tốt hơn, có nghĩa là ngày càng nhiều âm thanh và dữ liệu hơn có thể được truyền dọc mỗi sợi. Cho nên khi các chuyển mạch tiếp tục được cải thiện, dung lượng của tất cả cáp đã được lắp đặt rồi vẫn tiếp tục tăng lên, khiến cho càng dễ hơn và rẻ hơn để truyền tiếng nói và dữ liệu mỗi năm đến bất cứ phần nào của thế giới. Cứ như là chúng ta xây một hệ thống đường cao tốc quyết định nơi người dân đầu tiên được phép chạy 50 dặm một giờ, rồi 60 dặm một giờ, rồi 70 dặm một giờ, rồi 80 dặm một giờ, rồi cuối cùng 150 dặm một giờ trên cùng đường cao tốc ấy mà không có chút sợ nào về tai nạn. Chỉ có cái là đường cao tốc này không chỉ là đường quốc gia. Nó là đường quốc tế.

    “Mỗi lớp đổi mới được xây dựng trên lớp sát kề,” Andreessen nói, người rời Netscape để khởi động một hãng công nghệ cao mới, Opsware Inc. “Và ngày nay , thứ có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với tôi đó là sự thực rằng một đứa trẻ 14 tuổi ở Rumania hay Bangalore hay Liên Xô hay Việt Nam có tất cả thông tin, tất cả các công cụ, và tất cả những phần mềm dễ kiếm để ứng dụng tri thức bằng bất cứ cách nào chúng muốn. Đó chính là lí do vì sao tôi chắc chắn rằng Napster tiếp theo sẽ ra mắt từ khu tả của mình.”

    Chỉ để tóm tắt lại: Pha làm phẳng PC-Windows là về tôi tương tác với máy tính của tôi và tôi tương tác với mạng giới hạn riêng của tôi ở công ti của tôi. Sau đó đến pha Internet- e-mail- browser, và nó làm phẳng thế giới thêm một chút. Nó là về tôi và máy tính của tôi tương tác với bất cứ ai khác trên bất cứ máy nào, mà e-mail là như vậy, và tôi và máy tính của tôi tương tác với Web site của bất cứ ai trên Internet, mà việc duyệt là như vậy. Tóm lại, pha PC-Windows đã là cha của pha Netscape browsing – e-mail và cả hai cùng nhau cho phép nhiều người liên lạc và tương tác với nhiều người khác hơn đã từng có bao giờ ở bất cứ đâu trên hành tinh.

    Nhưng trò vui mới chỉ bắt đầu. Pha này chính là nền tảng cho bước tiếp theo trong làm phẳng thế giới phẳng.

    LỰC LÀM PHẲNG # 3

    PHẦN MỀM WORK FLOW

    Hãy đi ăn: Để Ứng dụng của Bạn

    Nói chuyện với Ứng dụng của Tôi

    Một người hợp với ý tôi.

    Khi tôi yêu cầu anh nói rõ, Hyten phác hoạ cho tôi hiện nay các film hoạt hình được sản xuất ra sao qua chuỗi cung toàn cầu. Tôi hiểu ngay vì sao ông cũng kết luận rằng thế giới là phẳng. “Ở Wild Brain,” ông nói, “chúng tôi làm cái gì đó từ con số không. Chúng tôi học làm thế nào để tận dụng thế giới phẳng. Chúng tôi không đấu tranh với nó. Chúng tôi tận dụng nó.”

    Tôi cần xem Wild Brain trực tiếp, vì nó là tấm gương sinh động về lớp tiếp của đổi mới sáng tạo, và cái làm phẳng tiếp, đại thể theo sau các pha Tường Berlin-Windows và Netscape. Tôi gọi nó là ‘pha work flow’. Khi các bức tường sụp đổ, và PC, Windows, và Netscape browser cho phép người ta kết nối với người khác như chưa từng bao giờ có, không bao lâu trước khi tất cả những người đã được kết nối này muốn làm nhiều hơn là chỉ duyệt và gửi e-mail, các tin nhắn gấp, các bức ảnh và âm nhạc trên nền tảng Internet này. Họ muốn chia sẻ các thứ, thiết kế các thứ, tạo ra các thứ, bán các thứ, mua các thứ, theo dõi các kho hàng, chuẩn bị khai thuế cho ai khác, đọc X-quang của ai đó từ xa nửa vòng trái đất. Và họ muốn có khả năng làm bất cứ việc nào trong những việc này từ bất cứ đâu đến bất cứ đâu và từ bất cứ máy tính nào đến bất cứ máy tính nào- một cách suôn sẻ. Các pha tường-Windows-Netscape đã dọn đường cho việc đó bằng chuẩn hoá cách văn bản, âm nhạc, hình ảnh, và dữ liệu có thể được số hoá và được truyền qua trên Internet- vì thế e-mail và duyệt gồm phòng bán hàng nhận một đơn hàng bằng giấy, mang sang phòng giao hàng, phòng này giao sản phẩm, và rồi ai đó từ phòng giao hàng đi sang phòng tài vụ với một miếng giấy và yêu cầu họ xuất một hoá đơn cho khách hàng. Như kết quả của các pha Tường Berlin-Windows-Netscape, work flow đã có một bước nhảy khổng lồ. Bây giờ phòng bán hàng có thể nhận đơn hàng điện tử, e-mail cho phòng giao hàng trong nội bộ công ti, và sau đó sai phòng giao hàng giao sản phẩm cho khách hàng và đồng thời tự động lập một hoá đơn. Sự thực rằng tất cả các phòng bên trong công ti của bạn có thể tương tác suôn sẻ và công việc có thể chảy giữa chúng, là một sự gia tăng lớn về năng suất- nhưng điều này chỉ có thể xảy ra nếu tất cả các phòng của công ti bạn dùng cùng hệ thống phần mềm và phần cứng. Vào các năm 1980 và đầu các năm 1990 rất thường xảy ra là phòng bán hàng của một công ti chạy Microsoft và phòng kho hàng chạy Novell, và chúng không thể liên lạc với nhau. Cho nên công việc dễ dàng như nó phải.

    Chúng ta thường hay quên là công nghiệp phần mềm khởi hành giống như một phòng cứu hoả tồi. Hãy tưởng tượng một thành phố nơi mỗi khu lân cận có các đầu nối khác nhau để nối vòi phun với ống nước máy. Tất cả mọi thứ đều tốt chừng nào phòng cứu hoả lân cận có thể xử lí vụ cháy của bạn. Nhưng khi vụ cháy trở nên quá to, và khi phải gọi các xe cứu hoả từ khu bên cạnh, chúng vô ích bởi vì chúng không thể mắc vòi phun của mình và đường nước của bạn.

    Các năm cuối 1990, công nghiệp phần mềm bắt đầu đáp ứng cái người tiêu dùng muốn. Các công ti công nghệ, qua nhiều tranh cãi ở phòng kín và thử và sai, đã bắt đầu rèn nhiều tiêu chuẩn chung trên cơ sở Web, nhiều hệ thống . Đây không phải là cách mạng tầm thường. Đây là một cuộc cách mạng lớn. Nó cho phép một ông chủ ở đâu đó và các nhân viên của ông ở nơi nào đó khác.” Các nền phần mềm work flow này, Jerry nói thêm, “cho phép bạn tạo ra các văn phòng ảo toàn cầu- không bị giới hạn bởi ranh giới của văn phòng bạn hay biên giới của nước bạn- và để tiếp cận nhân tài ngồi ở các phần khác nhau của thế giới và khiến họ hoàn thành các nhiệm vụ mà bạn cần hoàn tất trong thời gian thực. Và như thế 24/7/365 tất cả chúng ta đều làm việc. Và tất cả điều này đã xảy ra trong nháy mắt- trong khoảng hai hay ba năm vừa qua.”

    Sáng Thế: Nền Thế giới Phẳng Nổi lên

    húng ta cần dừng ở đây và kiểm kê lại, bởi vì tại điểm này- giữa các năm 1990- nền này, với các thuộc tính độc nhất, là sự đột phá bền vững quan trọng thật sự làm cho cái bạn gọi là sự làm phẳng thế giới là có thể,” Craig Mundie của Microsoft nói.

    Quả thực, nhờ platform này nổi lên từ ba lực làm phẳng đầu tiên, chúng ta đã không chỉ có khả năng nói với nhau nhiều hơn, chúng ta đã có khả năng cùng nhau làm nhiều thứ hơn. Đấy là điểm mấu chốt, Joel Cawley, nhà chiến lược IBM lí lẽ. “Chúng ta không chỉ liên lạc với nhau nhiều hơn bao giờ hết, bây giờ chúng ta có khả năng cộng tác – để cùng nhau xây dựng các liên minh, các dự án, và các sản phẩm – hơn bao giờ hết.”

    Sáu lực làm phẳng tiếp đại diện cho các hình thức cộng tác mới mà platform mới này cho phép. Như tôi cho thấy, một số người sẽ dùng platform này cho open-sourcing , một số cho offshoring , một số cho insourcing . Mỗi trong các hình thức cộng tác này hoặc do platform mới làm cho có thể hay được nó tăng cường rất nhiều. Và khi ngày càng nhiều người chúng ta học làm thế nào để cộng tác theo các cách khác nhau này, chúng ta làm phẳng thế giới còn nhiều hơn nữa.

    LỰC LÀM PHẲNG # 4

    OPEN-SOURCING . Anh ta nói nó được một bọn cự phách chỉ làm việc trực tuyến ở loại chat room nguồn mở nào đó tạo ra miễn phí. Tôi bị rối trí. Tôi hỏi, ‘Anh mua nó thế nào?’ và anh ta bảo, ‘Anh tải nó xuống từ một Web site miễn phí’. Và tôi bảo, ‘Ừ, ai hỗ trợ nếu có gì đó trục trặc?’ Và anh ta nói, ‘Tôi không biết – đúng là nó cứ hoạt động!’ Và đó là sự tiếp xúc đầu tiên của tôi với Apache …

    “Bây giờ bạn phải nhớ lại, khi đó Microsoft, IBM, Oracle, Netscape tất cả đều thử xây dựng các Web server thương mại. Đấy là các công ti khổng lồ. Và đột nhiên gã phát triển của tôi bảo tôi rằng anh ta lấy được ở phòng thư đang quyết định họ và cả bạn sẽ dùng phần mềm nào. Nó được gọi là phong trào nguồn mở, và nó kéo hàng ngàn người khắp thế giới cùng đến cộng tác trực tuyến để viết mọi thứ từ phần mềm riêng của họ đến các hệ điều hành riêng của họ đến từ điển riêng của họ đến công thức riêng của họ cho cola – luôn luôn xây dựng từ dưới lên hơn là chấp nhận các định dạng hay nội dung do các hệ thống thứ bậc công ti áp đặt từ trên xuống. Từ “nguồn-mở” hình thành từ quan niệm rằng các công ti hay các nhóm ad hoc sẽ để mã nguồn trí tuệ chung và phong trào phần mềm miễn phí.

    Tôi thấy dạng nguồn lực trí tuệ chung này của open-sourcing hấp dẫn, nên đi thăm dò để tìm các gã và các ả này là ai ở phòng mail. Cuối cùng, tôi tìm được một trong những người tiên phong của họ, Brian Behlendorf. Nếu Apache- cộng đồng Web server nguồn mở- là một bộ lạc da đỏ, Behlendorf sẽ là tộc trưởng. Một hôm tôi gặp anh ở văn phòng kính-và-thép của anh gần sân bay San Francisco, nơi bây giờ anh là người sáng lập và tổng giám đốc công nghệ của CollabNet, một hãng khởi nghiệp chú tâm tạo ra phần mềm cho các công ti muốn dùng cách tiếp cận nguồn mở cho đổi mới. Tôi bắt đầu với hai câu hỏi đơn giản: Anh xuất thân từ đâu? và: Làm thế nào anh tìm được cách để một cộng đồng nguồn mở của các geek trực tuyến hoà hợp với nhau có thể đánh giáp lá cà với IBM?

    Sau khi tốt nghiệp 1991, Behlendorf đến Berkeley nghiên cứu vật lí, song anh nhanh chóng thất vọng vì sự tách rời giữa các thứ trừu tượng anh học trên lớp và sự náo động bắt đầu nổi lên trên Internet.

    (Một Web server là một chương trình phần mềm cho phép bất cứ ai dùng máy tính ở nhà hay văn phòng của mình để host , bởi vì – CVS, quản lí” anh ta giải thích. Như thế có một máy chủ CVS, và tôi có một chương trình CVS trên máy của tôi. Nó cho phép tôi nối vào server và lôi một bản sao mã xuống, như thế tôi có thể bắt đầu làm việc với nó và đưa ra các sửa đổi. Nếu tôi nghĩ patch của tôi là cái gì đó tôi muốn chia sẻ với người khác, tôi chạy một chương trình gọi là Patch, cho phép tôi tạo ra một file mới, một sưu tập cô đọng của tất cả những thay đổi. Nó được gọi là một patch file, và tôi có thể đưa file ấy cho ai đó khác, và họ có thể dùng nó cho bản sao mã của họ để xem patch có tác động gì. Nếu tôi có các đặc quyền thích hợp đối với server và không bị cộng đồng Internet phê phán cay nghiệt, và tính mọi vấn đề”.

    Với chi phí của IBM, các luật sư của nó đã làm việc với nhóm Apache để tạo ra một khung khổ pháp lí quanh nó sao cho sẽ không có vấn đề bản quyền hay nghĩa vụ nào đối với các công ti, như IBM, muốn xây dựng các ứng dụng lên trên Apache và tính tiền đối với chúng. IBM nhìn thấy giá trị khi có một cấu trúc Web server chuẩn loại cơ bản nhất ai cũng có thể tải mã Apache xuống. Nghĩa vụ duy nhất là họ công nhận rằng nó xuất xứ từ địa điểm này, và nếu họ có bất cứ sửa đổi nào họ chia sẻ lại”. Có một quy trình phát triển Apache quản lí lưu thông, và bạn kiếm được cách của mình trong quy trình đó, Swainson nói thêm. Nó là cái gì đó giống một chế độ nhân tài thuần tuý. Khi IBM dùng Apache, nó trở thành một phần của cộng đồng và bắt đầu có những đóng góp.

    22 tháng Bảy, 1998, IBM công bố các kế hoạch kết hợp Apache vào sản phẩm Web server mới của riêng nó, gọi là WebSphere. Cách cộng đồng cộng tác Apache tự tổ chức mình, bất cứ gì bạn lấy từ mã Apache và cải thiện nó, bạn phải tặng lại cho cả cộng đồng. Nhưng bạn cũng tự do đi ra và xây dựng một sản phẩm thương mại có bằng sáng chế và mở cho tất cả mọi người, nó nhận ra rằng nó sẽ vẫn mạnh và tươi nếu cả các kĩ sư thương mại và phi thương mại đều có khuyến khích để tham gia.

    Ngày nay Apache là một trong các công cụ nguồn mở thành công nhất, tạo sức mạnh cho khoảng hai phần ba các Web site trên thế giới. Và bởi vì có thể tải Apache xuống miễn phí ở bất cứ đâu trên thế giới, người dân từ Nga, Nam Phi đến Việt Nam dùng nó để tạo các Web site. Các cá nhân cần hay muốn các tính năng thêm cho Web server của mình có thể mua các sản phẩm như WebSphere, được gắn chính bên trên Apache.

    Lúc đó, bán một sản phẩm được xây dựng bên trên một chương trình nguồn mở là một nước đi mạo hiểm về phía IBM. Tuyên dương công của nó, IBM đã tự tin vào khả năng của mình để tiếp tục tạo ra các ứng dụng phần mềm có sự khác biệt lên trên Apache vanilla nói nó tin vào mô hình nguồn mở và với Apache Web server, cộng đồng các kĩ sư nguồn mở này đã tạo ra cái gì đó không chỉ hữu ích và có giá trị mà còn “tốt nhất trong loại của nó”. Đó là vì sao phong trào nguồn mở đã thành một lực làm phẳng mạnh mẽ, các tác động của nó ta chỉ vừa mới thấy. “Nó trao quyền cho các cá nhân một cách không thể tin nổi”, Brian Behlendorf nói. “Không thành vấn đề anh xuất xứ từ đâu và anh ở đâu- ai đó ở Ấn Độ và Nam Phi có thể dùng phần mềm này hay đóng góp cho nó hệt hiệu quả như ai đó ở Silicon Valley.” Mô hình cũ là kẻ thắng lấy tất cả: Tôi viết nó, tôi sử hữu nó – mô hình cấp phép phần mềm chuẩn. “Cách duy nhất để cạnh tranh với nó,” Behlendorf kết luận, “là tất cả đều trở thành người thắng”.

    Về phần mình, Behlendorf đánh cược sự nghiệp của mình rằng ngày càng nhiều người và công ti sẽ muốn tận dụng nền thế giới phẳng mới để tiến hành đổi mới nguồn mở. Năm 2004, anh khởi động một công ti mới gọi là CollabNet để khuyến khích dùng open-sourcing như một công cụ để phát động đổi mới phần mềm bên trong các công ti. “Tiền đề của chúng tôi là phần mềm không phải là vàng, nó là rau diếp – một mặt hàng dễ ôi,” Behlendorf giải thích. “Nếu phần mềm không ở nơi nó được cải thiện suốt thời gian, nó sẽ thối rữa.” Cái cộng đồng nguồn mở đã làm, Behlendorf nói, là sự phát triển phần mềm phân tán được điều phối toàn cầu, nơi nó liên tục làm cho rau diếp tươi để không bao giờ bị thối rữa. Tiền đề của Behlendorf là cộng đồng nguồn mở đã phát triển một phương pháp tốt hơn để tạo ra và liên tục cập nhật phần mềm. CollabNet là một công ti được lập ra để đưa các kĩ thuật nguồn mở tốt nhất đến một cộng đồng đóng kín, tức là, một công ti phần mềm thương mại.

    “CollabNet là một lái buôn vũ khí cho các lực lượng làm phẳng thế giới,” Behlendorf nói. “Vai trò của chúng tôi trên thế giới này là đi xây dựng các công cụ và cơ sở hạ tầng để cho một cá nhân – ở Ấn Độ, Trung Quốc, hay bất cứ đâu – với tư cách một kế toán viên, một nhân viên, hay chỉ là ai đó ngồi ở nhà có thể cộng tác. Chúng tôi cho họ bộ đồ nghề để phát triển cộng tác phân tán. Chúng tôi làm cho sự phát triển từ dưới lên là có thể, và không chỉ trên không gian điều khiển… Chúng tôi có các công ti lớn quan tâm đến tạo ra một môi trường từ dưới lên cho viết phần mềm. Mô hình phần mềm silo cũ từ trên xuống đã bị gãy. Hệ thống đó nói, ‘tôi phát triển cái gì đó và rồi tôi liệng qua tường cho anh. Anh tìm thấy các lỗi và liệng lại. Tôi vá nó và sau đó bán một version mới.’ Có sự thất vọng liêm miên với việc nhận được phần mềm có lỗi- nó có thể được sửa hay có thể không. Vì thế chúng tôi nói, ‘Chẳng phải lí thú nếu chúng ta có thể được các lợi ích nguồn mở về tốc độ đổi mới và phần mềm chất lượng cao, và cảm giác về sự cộng tác của tất cả những người trong cuộc này, và biến nó thành một mô hình kinh doanh cho các công ti trở nên cộng tác hơn cả trong lẫn ngoài?'”

    Tôi thích cách Irving Wladawsky-Berger, gốc Cuba, phó chủ tịch IBM về chiến lược kĩ thuật và đổi mới, đã tổng kết: “Thời đại đang nổi lên này được đặc trưng bởi sự đổi mới cộng tác của nhiều người làm việc trong các cộng đồng tài giỏi, hệt như sự đổi mới trong thời đại công nghiệp được đặc trưng bởi các cá nhân thiên tài.”

    Một nguồn lực trí tuệ chung cộng tác mà tôi thường xuyên dùng trong viết cuốn sách này là Wikipedia, một bách khoa toàn thư trực tuyến do người dùng đóng góp, cũng được biết đến như “bách khoa toàn thư của nhân dân”. Từ “wikis” lấy từ “nhanh” tiếng Hawai. Wikis là các Web site cho phép người dùng tự mình trực tiếp biên tập bất cứ trang Web nào từ máy tính ở nhà của họ. Trong một tiểu luận ngày 5-5-2004 trên YaleGlobal online, Andrew Lih, một phó giáo sư ở Trung tâm Nghiên cứu Media và Nghề báo tại Đại học Hồng Kông, đã giải thích Wikipedia hoạt động thế nào và vì sao nó là một đột phá như vậy.

    Làm sao, bạn có thể hỏi, người ta lại có thể tạo ra một bách khoa thư tin cậy, cân đối bằng con đường của một phong trào nguồn mở, biên tập mở ad hoc? Rốt cuộc, mỗi đề mục trong Wikipedia có một nút “Edit this page -Biên tập trang này”, cho phép bất cứ ai lướt theo có thể thêm vào hay xoá nội dung của trang đó.

    ạo lí của Wales là mọi người phải có quyền truy cập tự do đến tất cả tri thức loài người chắc chắn là chân thành, nhưng nó cũng đưa chúng ta đến mặt gây tranh cãi của nguồn mở: Nếu mỗi người đóng góp vốn trí tuệ của mình mà không lấy tiền, sẽ lấy đâu ra nguồn lực cho sự đổi mới sáng tạo mới? Chẳng phải chúng ta sẽ kết thúc trong những tranh cãi pháp lí bất tận về phần nào của bất cứ đổi mới nào là do cộng đồng làm ra để cho không, và có nghĩa là giữ theo cách đó, và phần nào do công ti vì lợi nhuận nào đó đưa thêm vào và phải thanh toán để cho công ti ấy có thể kiếm tiền nhằm thúc đẩy đổi mới nữa? Tất cả các câu hỏi này được một dạng cộng tác tự tổ chức khác, ngày càng được dân chúng ưa thích – phong trào phần mềm miễn phí – nêu ra. Theo Web site chúng tôi “Phong trào phần mềm miễn phí/nguồn mở bắt đầu với văn hoá ‘hacker’ của các phòng thí nghiệm khoa học máy tính Hoa Kì (Stanford, Berkeley, Carnegie Mellon, và MIT) trong các năm 1960 và 1970. Cộng đồng các lập trình viên còn nhỏ, và gắn bó với nhau. Mã được chuyển tới chuyển lui giữa các thành viên của cộng đồng- nếu bạn có một cải tiến bạn được mong đợi để đưa mã của bạn cho cộng đồng các nhà phát triển. Giữ mã đã được coi là vụng về – rốt cuộc, bạn hưởng lợi từ công việc của bạn bè mình, bạn phải đáp trả lại thiện ý.”

    Phong trào phần mềm miễn phí, tuy vậy, đã và vẫn được gây cảm hứng bởi lí tưởng đạo đức rằng phần mềm phải là miễn phí và sẵn có cho tất cả mọi người, và nó dựa vào sự cộng tác nguồn mở để giúp tạo ra phần mềm tốt nhất có thể để phát không. Cách tiếp cận này là hơi khác cách tiếp cận của những người chủ trương nguồn lực tri tuệ chung, như Apache. Họ nhìn open-sourcing như một công cụ ưu việt về kĩ thuật để làm phần mềm và các đổi mới khác, và trong khi Apache là sẵn có miễn phí cho mọi người, không hề có vấn đề gì với phần mềm thương mại được xây dựng trên đỉnh nó. Nhóm Apache cho phép bất cứ ai tạo ra một công trình phái sinh và sở hữu nó, miễn là anh ta thừa nhận đóng góp của Apache.

    Mục tiêu hàng đầu của phong trào phần mềm miễn phí, tuy vậy, là để kiếm càng nhiều người càng tốt để viết, cải tiến, và phân phối phần mềm miễn phí, vì niềm tin chắc rằng điều này sẽ trao quyền cho mọi người và giải phóng các cá nhân khỏi sự kìm kẹp của các công ti toàn cầu. Nói chung, phong trào phần mềm miễn phí cấu trúc các licence của nó sao cho nếu phần mềm thương mại của bạn lấy trực tiếp từ bản quyền phần mềm miễn phí của họ, thì họ cũng muốn phần mềm của bạn là miễn phí.

    Năm 1984, theo Wikipedia, một nhà nghiên cứu của MIT và một trong những cựu hacker này, Richard Stallman, đã khởi đầu “phong trào phần mềm miễn phí” cùng với nỗ lực để xây dựng một hệ điều hành miễn phí được gọi là GNU. Để khuyến khích phần mềm miễn phí, và để đảm bảo rằng mã của nó luôn có thể được sửa đổi và sẵn có miễn phí cho tất cả mọi người, Stallman đã thành lập Quỹ Phần mềm Miễn phí và cái gọi là Licenese Công cộng Chung GNU Hoa Kì. Linux có một đội quân các nhà phát triển khắp toàn cầu làm việc để làm cho nó tốt hơn. Khi tôi viết đoạn này của cuốn sách, một buổi chiều tôi đi picnic đến nhà ở miền quê Virginia của Pamela và Malcolm Baldwin, những người mà vợ tôi quen qua việc là thành viên của hội đồng quản trị của World Learning, một NGO về giáo dục. Trong bữa ăn tôi nói là tôi nghĩ sẽ đi Mali để xem thế giới phẳng đến thế nào nhìn từ rìa ngoài nhất của nó – thị trấn Timbuktu. Peter con trai nhà Baldwin tình cờ làm việc ở Mali với tư cách một bộ phận của cái gọi là GreekCorps, giúp đưa công nghệ vào các nước đang phát triển. Vài ngày sau bữa ăn, tôi nhận được một e-mail từ Pamela bảo tôi rằng bà đã bàn với Peter về đi cùng tôi đến Timbuku, sau đó bà viết thêm đoạn sau, đoạn nói cho tôi mọi thứ tôi muốn biết và bớt cho tôi cả một chuyến đi: “Peter nói dự án của nó là tạo ra các mạng không dây qua vệ tinh, làm các anten từ các chai soda nhựa và các tấm lưới che cửa sổ mới. Nhưng khi bạn khăng khăng rằng không được tính tiền phần mềm, bạn chỉ có thể cho không, bạn lấy việc kinh doanh phần mềm khỏi sự kinh doanh theo quy mô kinh tế”.

    Bill Gates nói thêm, “Bạn cần chủ nghĩa tư bản nói đổi mới không xứng đáng phần thưởng kinh tế là trái với phía mà thế giới đi tới. Khi tôi nói với những người Trung Quốc, họ ước mơ lập một công ti. Họ không nghĩ, ‘tôi sẽ làm thợ cắt tóc ban ngày và làm phần mềm miễn phí ban đêm’ … Khi bạn có khủng hoảng an ninh trong hệ thống

    ndia (Ấn Độ) đã trải qua những thăng trầm từ khi nó giành được độc lập ngày 15-8-1947, nhưng trong chừng mực nào đấy nó có thể được nhớ lại như nước may mắn nhất trong lịch sử cuối thế kỉ hai mươi.

    Cho đến gần đây, Ấn Độ đã là nước được biết đến trong giới ngân hàng như “người mua thứ cấp”. Bạn luôn muốn là người mua thứ cấp trong kinh doanh- rất nhiều. Những người Ấn Độ, thực tế, đã trở thành những người mua thứ cấp của các công ti cáp quang.

    Họ thực tế đã không mua các cổ phần, họ chỉ được lợi từ quá thừa dung lượng cáp quang, điều có nghĩa là họ và các khách hàng Mĩ của họ có dịp sử dụng tất cả cáp đó hầu như miễn phí. Đây là một dịp may bất ngờ khổng lồ cho Ấn Độ (và ở mức độ ít hơn cho Trung Quốc, Liên Xô trước đây, và Đông Âu), bởi vì lịch sử cận đại của Ấn Độ là gì? Ngắn gọn, Ấn Độ là một nước hầu như không có tài nguyên tự nhiên đã làm một việc rất tốt – khai thác đầu óc của người dân của mình bằng giáo dục một phần tương đối lớn giới ưu tú của nó về khoa học, kĩ thuật và y học. Năm 1951, thuộc về công trạng lâu dài của ông, Jawaharlal Nehru, thủ tướng Ấn Độ đầu tiên, đã xây dựng viện đầu tiên trong bảy Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT) ở thành phố miền đông Kharagpur. Trong năm mươi năm kể từ khi đó, hàng trăm ngàn người Ấn Độ đã tranh đua để được vào học và tốt nghiệp từ các Học Viện IIT này và các đại học tư tương đương của chúng (cũng như sáu Học Viện Quản lí Ấn Độ -IIM, dạy quản trị kinh doanh). Căn cứ vào dân số hơn một tỉ của Ấn Độ, sự cạnh tranh này tạo ra một chế độ nhân tài tri thức phi thường. Nó giống một nhà máy, cho ra lò và xuất khẩu một số tài năng kĩ thuật, khoa học máy tính, và phần mềm có năng khiếu nhất trên thế giới.

    Trong hầu hết năm mươi năm đầu, các viện IIT này là một trong những món hời lớn nhất mà Mĩ đã từng được. Cứ như là ai đó đã đặt một ống hút trí óc nạp đầy ở New Delhi và đổ vào Palo Alto.

    Ấn Độ đã chẳng bao giờ có thể đủ khả năng chi trả cho dải băng thông để kết nối Ấn Độ có đầu óc với Mĩ có công nghệ cao, vì thế các cổ đông Mĩ chi trả cho việc đó. Chắc chắn, đầu tư quá mức có thể là tốt. Sự đầu tư quá mức vào đường sắt đã hoá ra là một lợi ích to lớn cho nền kinh tế Mĩ. “Song đầu tư quá mức vào đường sắt chỉ giới hạn trong quốc gia riêng của bạn và các lợi ích cũng thế,” Singh nói. Trong trường hợp đường sắt kĩ thuật số, “những người ngoại quốc là những người được lợi.” Ấn Độ được đi miễn phí.

    Vui đi nói chuyện với người Ấn Độ những người nổi bật chính xác vào lúc các công ti Mĩ bắt đầu phát hiện ra họ có thể thu hút năng lực trí óc của Ấn Độ ở Ấn Độ. Một trong số họ là Vivek Paul, hiện là chủ tịch của Wipro, công ti phần mềm Ấn Độ khổng lồ. “Về nhiều mặt cách mạng là những người Ấn Độ, và cơ bản họ đã để cho họ về quê và làm việc từ đó Jack Welch đến Ấn Độ năm 1989 và hoàn toàn bị Ấn Độ hấp dẫn như một nguồn lợi thế trí tuệ cho GE. Jack nói, ‘Ấn Độ là một nước đang phát triển với năng lực trí tuệ phát triển.’ Ông thấy một quỹ nhân tài có thể dùng làm đòn bẩy. Nên ông nói, ‘Chúng ta tiêu nhiều tiền để làm phần mềm. Không thể làm việc gì đó cho phòng IT của chúng ta ở đây? Vì Ấn Độ đã đóng thị trường của mình đối với các công ti công nghệ nước ngoài, như IBM, các công ti Ấn Độ phải khởi động các nhà máy riêng của mình để làm PC và máy chủ, và Jack cảm thấy nếu họ có thể làm việc đó cho họ, họ có thể làm việc đó cho GE.

    Để làm dự án, Welch đã cử một tổ do CIO một cách toàn cầu cho nhà cung cấp rẻ nhất, khéo léo nhất, hay hiệu quả nhất. Dùng các trạm làm việc được kết nối bằng cáp quang, các nhà kĩ thuật Ấn Độ có thể chui vào các máy tính của công ti bạn và tiến hành tất cả việc hiệu chỉnh, cho dù họ ở xa nửa vòng thế giới.

    “Công việc Ấn Độ các công ti mà khác đi có thể họ chẳng thèm làm với.”

    Dùng lối nói của tôi, họ đã sẵn sàng đi đến một hẹn hò mù quáng với Ấn Độ. Họ đã sẵn sàng “bố trí”. Jerry Rao nói thêm, “đối với những người khác nhau Y2K có nghĩa khác nhau. Đối với công nghiệp Ấn Độ, nó thể hiện cơ hội lớn nhất. Ấn Độ đã được coi là một nơi của những người lạc hậu. Y2K đột nhiên đòi hỏi mỗi máy tính đơn lẻ trên thế giới cần phải được xem xét lại. Và ở Ấn Độ có vô số người cần để rà soát từng dòng mã. Công nghiệp IT Ấn Độ có dấu chân của nó khắp thế giới bởi vì Y2K. Y2K đã trở thành động cơ tăng trưởng của chúng tôi, động cơ của chúng tôi để được biết đến khắp thế giới. Chúng tôi tiếp tục phát đạt sau Y2K.”

    Vào đầu năm 2000, công việc Y2K bắt đầu hết, nhưng khi đó một động lực hoàn toàn mới về kinh doanh nổi lên – thương mại điện tử. Bong bóng dot-com vẫn chưa nổ, tài năng kĩ thuật thì hiếm, và cầu từ các công ti dot-com là khổng lồ. Paul nói, “Người ta muốn cái họ cảm thấy là các ứng dụng quyết định-sứ mệnh, then chốt đối với chính sự tồn tại của họ, phải được làm và họ chẳng thể đi đâu khác. Vì thế họ quay sang các công ti Ấn Độ, và khi họ quay sang các công ti Ấn Độ họ thấy rằng họ nhận được sự giao hàng của các hệ thống phức tạp, với chất lượng tốt, đôi khi tốt hơn cái họ nhận được từ những người khác. Điều đó tạo ra một sự tôn trọng to lớn cho các nhà cung cấp IT Ấn Độ là quá trình quen biết, thì đây là quá trình phải lòng mê nhau.”

    Outsourcing từ Mĩ sang Ấn Độ, như một hình thức cộng tác mới, bùng nổ. Bằng chính nối một dây cáp quang từ một trạm làm việc ở Bangalore đến máy tính lớn của công ti tôi, tôi có thể khiến các hãng IT Ấn Độ như Wipro, Infosys, và Tata Consulting Service quản lí các ứng dụng thương mại điện tử và máy tính lớn của tôi.

    ndia đã không chỉ được lợi từ cơn sốt dot-com; nó được lợi thậm chí nhiều hơn từ sự phá sản dot-com! Đó là sự trớ trêu thực sự. Cơn sốt lắp đặt cáp nối Ấn Độ với thế giới, và sự vỡ nợ làm cho chi phí dùng nó hầu như bằng không và cũng hết sức làm tăng số các công ti Mĩ muốn dùng cáp quang để outsource công việc tri thức sang Ấn Độ.

    Một trong những sai lầm lớn của nhiều nhà phân tích đưa ra vào đầu các năm 2000 là họ đã đúc kết cơn sốt dot-com với toàn cầu hoá, gợi ý rằng cả hai đều là mốt nhất thời và khoác lác. Khi sự phá sản dot-com xảy ra, cũng các nhà phân tích ương ngạnh đó cho rằng toàn cầu hoá cũng qua rồi. Chính xác điều ngược lại là đúng. Bong bóng dot-com chỉ là một khía cạnh của toàn cầu hoá, và khi nó nổ, thay cho làm nổ toàn cầu hoá, thực tế lại tăng cường nó.

    Promod Haque, một người Mĩ gốc Ấn và một trong các nhà đầu tư vốn mạo hiểm tài giỏi ở Thung lũng Silicon với hãng Norwest Venture của ông, ở giữa sự chuyển đổi này. “Khi sự phá sản xảy ra, nhiều trong số các kĩ sư Ấn Độ này ở Mĩ và cắt chi phí của tôi đi một nửa,” Haque nói. Khắp nước Mĩ, các CEO đã đều nói, “‘Hãy làm việc đó với ít tiền hơn’,” Haque nói. “Và các công ti Ấn Độ thì nói, ‘Tôi đã ngó dưới mui xe và piston cho anh trong Y2K? Thế đấy, thực sự tôi có thể làm toàn bộ việc tra dầu nhớt cho anh nếu anh muốn. Và bây giờ anh biết tôi và tin tôi, anh biết tôi có thể làm việc đó.” Phải công nhận, những người Ấn Độ không chỉ rẻ, họ cũng khát khao và sẵn sàng học mọi thứ.

    Sự khan hiếm vốn sau sự phá sản dot-com đã làm cho các hãng đầu tư vốn mạo hiểm lo liệu để cho các công ti mà họ đầu tư vào tìm cách hiệu quả, chất lượng cao, giá hạ nhất để đổi mới. Trong thời gian cơn sốt, Haque nói, không hiếm đối với một khoản đầu tư 50 triệu $ vào một công ti khởi nghiệp để mang lại 500 triệu $ một khi công ti ra mạo hiểm chỉ muốn liều 20 triệu $ để khiến công ti đó từ khởi nghiệp cho đến niêm yết lần đầu, IPO.

    Henry Schacht, như được biết là người đã đứng đầu Lucent trong một phần của thời kì này, nhìn toàn bộ quá trình từ phía quản trị công ti. Kinh tế học kinh doanh, ông ta bảo tôi, trở nên “rất xấu” đối với mọi người. Mỗi người thấy giá đồng loạt giảm và các thị trường đình trệ, thế mà họ vẫn tiêu lượng tiền khổng lồ để vận hành hoạt động hậu trường kinh tế học buộc người ta làm các việc họ chẳng bao giờ nghĩ họ sẽ hay có thể làm … Toàn cầu hoá được tăng nạp”- cho cả công việc trí tuệ và chế tác. Các công ti thấy rằng họ có thể đến trường MIT và tìm thấy bốn kĩ sư Trung Quốc thông minh không ngờ những người sẵn sàng quay về Trung Quốc và làm việc cho họ ở đó với cùng số tiền chi phí mà họ tốn để thuê một kĩ sư ở Mĩ. Bell Labs đã có một cơ sở nghiên cứu ở .”

    Vì tất cả các lí do này tôi tin Y2K phải là ngày nghỉ quốc lễ ở Ấn Độ, Ngày Độc Lập thứ hai của Ấn Độ, ngoài ngày 15-8. Như Michael Mandelbaum chuyên gia chính sách đối ngoại của Johns Hopkins, người đã sống một phần thời trẻ của mình ở Ấn Độ, diễn đạt, “Y2K phải được gọi là Ngày Phụ thuộc Lẫn nhau của Ấn Độ,” bởi vì nó là khả năng của Ấn Độ để cộng tác với các công ti Phương Tây, nhờ có sự phụ thuộc lẫn nhau do các mạng cáp quang tạo ra, đã thực sự khiến nó nhảy lên phía trước và trao cho nhiều người Ấn Độ hơn bao giờ hết quyền tự do lựa chọn về họ làm việc thế nào, cho ai và ở đâu.

    Louis Pasteur nói từ lâu: “Vận may biệt đãi đầu óc có chuẩn bị”.

    LỰC LÀM PHẲNG # 6

    OFFSHORING , Trung Quốc. Ở đó, nó tạo ra cùng sản phẩm theo cùng cách, chỉ với lao động rẻ hơn, và thuế thấp hơn, năng lượng được bao cấp, và các chi phí chăm sóc sức khoẻ thấp hơn. Hệt như Y2K đã đưa Ấn Độ và thế giới lên một mức hoàn toàn mới về outsourcing, việc Trung Quốc gia nhập WTO đưa Bắc Kinh và thế giới đến một mức hoàn toàn mới về offshoring- với nhiều công ti hơn chuyển sản xuất ra hải ngoại và rồi tích hợp nó vào các chuỗi cung toàn cầu của họ.

    Vào đầu các năm 1980, nhiều nhà đầu tư, đặc biệt các Hoa kiều, biết cách hoạt động ở Trung Quốc, bắt đầu nói, “Ừ, nếu chúng ta không thể bán nhiều thứ thế cho người Trung Quốc bây giờ, vì sao lại không sử dụng quỹ lao động có kỉ luật của Trung Quốc để làm các thứ ở đó và bán chúng ở nước ngoài?” Việc này khớp với mối quan tâm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Trung Quốc muốn thu hút các nhà chế tác nước ngoài và công nghệ của họ- không đơn giản để sản xuất 1 tỉ đôi quần áo lót để bán ở Trung Quốc mà để dùng lao động Trung Quốc rẻ để bán cả 6 tỉ đôi quần áo lót cho mọi người khác trên thế giới, với giá là phần nhỏ của giá mà các công ti quần áo lót ở Châu Âu hay Mĩ hay thậm chí Mexico vẫn đòi.

    Một khi quá trình offshoring bắt đầu trong một loạt ngành – từ dệt may đến điện tử tiêu dùng đến đồ gỗ đến gọng kính đến các linh kiện ôtô – cách duy nhất mà các công ti khác có thể cạnh tranh là cũng offshoring sang Trung Quốc (lợi dụng cơ sở chi phí thấp, chất lượng cao) hay tìm các trung tâm chế tác khả dĩ khác ở Đông Âu, Caribbe, hay ở nơi khác nào đó trong thế giới đang phát triển.

    Bằng gia nhập WTO năm 2001, Trung Quốc đảm bảo các công ti nước ngoài rằng nếu họ chuyển nhà máy đến Trung Quốc, họ sẽ được luật quốc tế và các tập quán kinh doanh chuẩn bảo vệ. Điều này làm tăng đáng kể tính hấp dẫn của Trung Quốc như cơ sở sản xuất. Dưới các quy tắc WTO, Bắc Kinh đồng ý – với một thời gian để thực hiện- để coi các công dân hay hãng phi-Trung Quốc cứ như chúng là Trung Quốc về mặt quyền và nghĩa vụ kinh tế dưới luật Trung Quốc. Điều này có nghĩa là các công ti nước ngoài có thể bán hầu như mọi thứ ở bất cứ đâu tại Trung Quốc. Tư cách thành viên WTO cũng có nghĩa là Bắc Kinh đồng ý coi tất các các quốc gia WTO một cách bình đẳng, có nghĩa là cùng thuế quan và cùng các quy chế được áp dụng ngang nhau cho mọi người. Và nó đồng ý phục tùng trọng tài quốc tế nếu có bất đồng thương mại với nước khác hay với một công ti nước ngoài. Đồng thời, các quan chức chính phủ trở nên thân thiện hơn với khách hàng, các thủ tục đầu tư được hợp lí hoá, và các Web site tăng nhanh ở các bộ khác nhau giúp người nước ngoài hiểu các quy chế kinh doanh của Trung Quốc. Tôi không biết bao nhiêu người Trung Quốc đã mua Mao Tuyển nhỏ màu đỏ, còn các quan chức sứ quán Mĩ ở Trung Quốc bảo tôi là 2 triệu bản cuốn quy tắc WTO bằng tiếng Trung đã được bán trong các tuần ngay sau khi Trung Quốc kí gia nhập WTO. Nói cách khác, Trung Quốc dưới Mao đã đóng và cô lập khỏi các lực lượng làm phẳng khác của thời ông, và kết quả là Mao thực sự chỉ là thách thức cho nhân dân của chính ông. Đặng Tiểu Bình khiến Trung Quốc mở cửa và hấp thu nhiều trong mười cái làm phẳng, và làm vậy, biến Trung Quốc thành một thách thức cho cả thế giới.

    Trước khi Trung Quốc kí gia nhập WTO, đã có cảm giác rằng, trong khi Trung Quốc đã mở cửa để có các lợi thế thương mại với Phương Tây, chính phủ và các ngân hàng sẽ bảo vệ các doanh nghiệp Trung Quốc khỏi bất cứ sự cạnh tranh nước ngoài triệt hạ nào, Jack Perkowski của ASIMCO nói. “Sự gia nhập WTO của Trung Quốc là một tín hiệu cho cộng đồng ngoài Trung Quốc rằng bây giờ nó đã vĩnh viễn ở trên đường tư bản chủ nghĩa,” ông nói thêm. “Trước kia, bạn có suy nghĩ ở đằng sau tâm trí của bạn rằng có thể có sự quay trở lại với chủ nghĩa cộng sản nhà nước. Với WTO, Trung Quốc nói, ‘Chúng ta ở trên một con đường’.”

    “Trung Quốc là một đe doạ, Trung Quốc là một khách hàng, và Trung Quốc là một cơ hội,” Ohmae nói cho tôi một hôm ở Tokyo. “Bạn phải tiếp thu Trung Quốc để thành công. Bạn không thể bỏ qua nó.” Thay cho việc cạnh tranh với Trung Quốc như một kẻ thù, Ohmae lí lẽ, bạn phải chia nhỏ việc kinh doanh của mình và nghĩ xem phần kinh doanh nào bạn muốn làm ở Trung Quốc, phần nào muốn bán cho Trung Quốc, và phần nào muốn mua từ Trung Quốc.

    Ở đây chúng ta đến khía cạnh làm phẳng thật sự của sự mở cửa của Trung Quốc vào thị trường thế giới. Trung Quốc càng làm cho mình hấp dẫn như một cơ sở offshoring, thì các nước khác cạnh tranh với nó, như Malaysia, Thái Lan, Ireland, Mexico, Brazil, và Việt Nam, càng phải làm cho mình hấp dẫn hơn. Tất cả họ đều nhìn vào cái gì đang xảy ra ở Trung Quốc và vào việc làm di chuyển đến đó và nói với chính mình, “Trời ơi, chúng ta nên bắt đầu đưa ra cùng những khuyến khích này.” Điều này tạo ra một quá trình tranh đua làm phẳng, trong đó các nước tranh giành để xem ai có thể cho các công ti ưu đãi thuế tốt nhất, những khuyến khích giáo dục, và bao cấp, bên trên lao động rẻ, để cổ vũ offshoring vào nước họ.

    Các nhà phê bình các tập quán kinh doanh Trung Quốc nói rằng quy mô và sức mạnh kinh tế của nó có nghĩa là nó sẽ mau chóng thiết lập sàn toàn cầu không chỉ cho lương thấp mà cho cả luật lao động lỏng lẻo và các tiêu chuẩn nơi làm việc. Trong giới kinh doanh điều này được biết đến như “cái giá Trung Quốc”.

    Nhưng cái thực sự kinh hoàng là Trung Quốc không thu hút nhiều đầu tư toàn cầu đến vậy bằng đơn giản chạy đua với mọi người đến đáy. Đó chỉ là chiến lược ngắn hạn. Sai lầm lớn nhất mà bất cứ doanh nghiệp nào có thể mắc phải khi đến Trung Quốc là đi nghĩ rằng nó chỉ thắng về lương và không cải thiện chất lượng và năng suất. Ở khu vực tư nhân, ngoài quốc doanh, của công nghiệp Trung Quốc, năng suất tăng 17 phần trăm một năm – tôi nhắc lại, 17 phần trăm một năm- giữa 1995 và 2002, theo một nghiên cứu của U.S. Conference Board. Điều này là do Trung Quốc hấp thu cả các công nghệ mới lẫn các tập quán kinh doanh hiện đại, khởi đầu từ cơ sở rất thấp. Tình cờ, nghiên cứu của Conference Board lưu ý, Trung Quốc đã mất 15 triệu việc làm ở nghành chế tác trong thời kì này, so với 2 triệu ở Hoa Kì. “Khi năng suất chế tác gia tăng, Trung Quốc mất các việc làm trong ngành chế tác- nhiều hơn Hoa Kì nhiều- và lấy lại chúng trong các ngành dịch vụ, một hình mẫu đã xảy ra ở thế giới phát triển suốt nhiều năm,” nghiên cứu viết.

    Chiến lược dài hạn thực sự của Trung Quốc là để vượt Mĩ và các nước E.U. để lên đỉnh, và người Trung Quốc xuất phát với một khởi hành tốt. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chú tâm hơn các đồng sự Phương Tây của họ nhiều để làm sao đào tạo thanh niên của họ về toán học, khoa học, và kĩ năng máy tính cần cho thành công trong thế giới phẳng, làm sao để xây dựng hạ tầng vật lí và viễn thông cho phép người dân Trung Quốc cắm và chơi của tôi và không có ai để dưa vào cuộc chơi. Đến lúc cho kế hocạh C.

    “Cơ bản chúng tôi kết luận rằng, trong khi chúng tôi thích Trung Quốc, chúng tôi không muốn phần nào cả của ‘Trung Quốc Cũ’, và thay vào đó muốn đánh cược vào các nhà quản lí ‘Trung Quốc Mới’,” Perkowski nói. “Chúng tôi bắt đầu tìm giống mới của các nhà quản lí Trung Quốc những người có đầu óc cởi mở và có dạng đào tạo nào đó về quản lí. Chúng tôi tìm các cá nhân có kinh nghiệm hoạt động ở Trung Quốc nhưng quen thuộc với phần còn lại của thế giới hoạt động ra sao và biết Trung Quốc phải đi đến đâu. Như thế giữa 1997 và 1999, chúng tôi tuyển cả một đội các nhà quản lí ‘Trung Quốc Mới’, điển hình là người Hoa lục địa đã làm cho các công ti đa quốc gia, và với tư cách các nhà quản lí tham gia vào, từng người một chúng tôi bắt đầu thay các nhà quản lí ‘Trung Quốc Cũ’ ở các công ti của chúng tôi.”

    Từ cơ sở này, Perkowski đi nước đi lớn tiếp theo – lấy lợi nhuận từ offshoring mang về Mĩ. “Tháng Tư 2003, chúng tôi mua cơ sở trục cam Bắc Mĩ của Federal-Mogul Corporation, một công ti linh kiện dòng-cũ hiện bị phá sản,” Perkowski nói. “Chúng tôi mua doanh nghiệp đầu tiên để tiếp cận đến các khách hàng của nó, mà chủ yếu là Big Three là các sản phẩm kĩ thuật cao cốt yếu cho hiệu suất động cơ. Việc mua doanh nghiệp này về cơ bản cho chúng tôi know-how và công nghệ mà chúng tôi có thể dùng để trở thành nhà sản xuất trục cam hàng đầu ở Trung Quốc. Kết quả là, bây giờ chúng tôi có công nghệ trục cam tốt nhất và một cơ sở khách hàng cả ở Trung Quốc lẫn ở Hoa Kì.”

    Đây là một điểm rất quan trọng, vì cảm tưởng chung rằng offshoring là một định đề thua-thua cho các công nhân Mĩ- cái gì đó đã ở đây và đã chuyển sang đó, và đấy là kết thúc của câu chuyện. Thực tế phức tạp hơn nhiều.

    Không ngạc nhiên, ASIMCO sẽ dùng hoạt động sản xuất trục cam mới của nó ở Trung Quốc để xử lí nguyên liệu thô và các hoạt động gia công thô trên máy, xuất khẩu bán thành phẩm về nhà máy trục cam của nó ở Mĩ, nơi các công nhân Mĩ có kĩ năng hơn có thể hoàn tất các hoạt động gia công trên máy quyết định nhất đến chất lượng. Bằng cách này, các khách hàng Mĩ của ASIMCO được lợi từ chuỗi cung Trung Quốc và đồng thời được thoải mái làm ăn với một nhà cung cấp Mĩ đã quen biết.

    Bằng tận dụng thế giới phẳng để cộng tác theo cách này- giữa các nhà máy trong nước và hải ngoại, và giữa các công nhân Mĩ lương cao, kĩ năng cao, ở gần thị trường của họ và các công nhân Trung Quốc lương thấp, gần thị trường của họ – Perkowski nói, “chúng tôi làm cho các công ti Mĩ có tính cạnh tranh hơn, như thế nó nhận được nhiều đơn hàng hơn và thực tế chúng tôi làm tăng việc kinh doanh. Và đó là cái nhiều người ở Mĩ không thấy khi họ nói về offshoring. Thí dụ, kể từ khi mua thâu tóm chúng tôi đã tăng gấp đôi kinh doanh của mình với Cummins, và kinh doanh của chúng tôi với Caterpillar đã tăng đáng kể. Tất cả các khách hàng của chúng tôi đều phơi ra cho cạnh tranh toàn cầu và thực sự cần cơ sở cung ứng của họ làm đúng việc trong chừng mực về cạnh tranh chi phí. Họ muốn làm việc với các nhà cung cấp những người hiểu thế giới phẳng. Khi tôi đi thăm các khách hàng Mĩ của tôi để giải thích chiến lược của chúng tôi về kinh doanh trục cam, họ rất lạc quan về việc chúng tôi làm, vì họ có thể thấy chúng tôi sắp xếp việc kinh doanh của mình theo cách cho phép họ có tính cạnh tranh hơn.”

    Mức độ cộng tác này đã là có thể chỉ vài năm gần đây thôi. “Chúng tôi đã không thể làm việc đó ở Trung Quốc năm 1983 hay 1993,” Perkowski nói. “Từ 1993, nhiều thứ đã cùng đến. Thí dụ, người ta luôn nói về Internet đã làm lợi bao nhiêu cho Hoa Kì. Điểm mà tôi luôn nói là Trung Quốc đã được lợi còn hơn. Cái đã giữ Trung Quốc lạc hậu trong quá khứ chính là người dân ở ngoài Trung Quốc không có khả năng có thông tin về đất nước này, và người dân bên trong Trung Quốc đã không có khả năng nhận thông tin về phần còn lại của thế giới. Trước Internet, cách duy nhất để thu hẹp lỗ hổng thông tin đó là đi du hành. Bây giờ bạn có thể ở nhà và làm việc đó với Internet. Bạn không thể điều hành chuỗi cung toàn cầu của chúng tôi mà không có nó. Bây giờ chúng tôi chỉ e-mail các bản thiết kế và kế hoạch qua Internet- chúng tôi thậm chí không cần đến FedEx , Trung Quốc, cũng như ở Canton, Ohio. Giả như chính phủ Trung Quốc đã đưa vấn đề tư cách thành viên WTO cho nhân dân bỏ phiếu, “nó có thể chẳng bao giờ được thông qua,” Pat Powers, người đứng đầu văn phòng Hội đồng Doanh nghiệp Mĩ-Trung ở Bắc Kinh trong thời gian gia nhập WTO, nói. Lí do cốt yếu vì sao ban lãnh đạo Trung Quốc tìm kiếm tư cách thành viên WTO là dùng nó như một câu lạc bộ để buộc bộ máy quan liêu của Trung Quốc phải hiện đại hoá và tháo dỡ các bức tường điều tiết bên trong và các ổ ra quyết định tuỳ tiện. Ban lãnh đạo Trung Quốc “biết là Trung Quốc phải hội nhập toàn cầu và nhiều định chế hiện tồn của họ sẽ đơn giản không thay đổi hay cải cách, cho nên họ dùng WTO như đòn bẩy chống lại bộ máy quan liêu của chính họ. Và trong hai năm rưỡi vừa qua họ đã đấu tranh cho ngã ngũ.”

    Với thời gian, sự tôn trọng các tiêu chuẩn WTO sẽ làm cho nền kinh tế Trung Quốc còn phẳng hơn và là một lực làm phẳng hơn một cách toàn cầu. Nhưng quá độ này sẽ không dễ, và các khả năng của một sự kiệt sức chính trị hay kinh tế gây đổ vỡ hay làm chậm quá trình là không phải không đáng kể. Nhưng cho dù Trung Quốc có thực hiện tất cả các cải cách WTO, nó sẽ không có khả năng nghỉ. Nó mau chóng đạt một điểm khi tham vọng của nó về tăng trưởng kinh tế sẽ đòi hỏi nhiều cải cách chính trị hơn. Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ dứt khỏi tham nhũng mà không có tự do ngôn luận và các định chế xã hội dân sự tích cực. Nó chẳng bao giờ có thể thực sự trở nên có hiệu quả mà không có nền pháp trị được luật hoá hơn. Nó sẽ chẳng bao giờ có khả năng giải quyết những suy sụp kinh tế không thể tránh khỏi trong nền kinh tế của nó mà không có một hệ thống chính trị cởi mở hơn cho phép người dân bộc lộ những nỗi bất bình của họ. Diễn đạt theo cách khác, Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ là phẳng thật sự cho đến khi nó vượt qua cái ụ giảm tốc khổng lồ gọi là “cải cách chính trị”.

    Có vẻ như nó tiến theo hướng đó, nhưng con đường phải đi vẫn còn dài. Tôi thích cách một nhà ngoại giao Mĩ ở Trung Quốc diễn đạt cho tôi vào mùa xuân 2004: “Hiện giờ Trung Quốc đang mơn trớn, không phải tư nhân hoá. Cải cách ở đây là trong mờ – và đôi khi khá mơn trớn, bởi vì bạn có thể nhìn thấy các hình thù chuyển động đằng sau màn – nhưng nó không trong suốt thông tin chưa thể giải quyết với những kết quả của tính minh bạch.”

    Nếu và khi Trung Quốc vượt qua được ụ chính trị đó trên đường, tôi nghĩ nó không chỉ trở thành một nền tảng , và năm sẽ tốt hơn ba.

    Hay, diễn đạt theo cách khác, nếu những người Mĩ và Châu Âu muốn được lợi từ sự làm phẳng thế giới và từ sự kết nối tất cả các thị trường và các trung tâm tri thức, tất cả họ sẽ phải chạy ít nhất nhanh như con sư tử nhanh nhất – và tôi nghi con sư tử đó sẽ là Trung Quốc, và tôi nghi là sẽ rất nhanh.

    XÂU CHUỖI CUNG và các hệ thống riêng của mình là bởi vì chúng tôi ở nơi rất hẻo lánh,” Jay Allen, phó chủ tịch cấp cao về sự vụ công ti, nói. “Nó thực ra là một thị trấn nhỏ. Nếu bạn muốn nhờ bên thứ ba lo về logistics, đó là việc không thể. Thuần tuý là chuyện sống còn. Bây giờ tất cả sự chú ý mà chúng tôi nhận được là một giả thiết rằng giá thấp của chúng tôi là do quy mô của chúng tôi hay chúng tôi mua hàng từ Trung Quốc hay chúng tôi có khả năng ra điều kiện cho các nhà cung cấp. Sự thực là, giá thấp là do tính hiệu quả mà Wal-Mart đã đầu tư vào- hệ thống và văn hoá. Đó là một văn hoá chi phí rất thấp, , đồng thời kéo doanh số lên và theo dõi giảm hàng tồn để tái cấp hàng nhanh chóng. Bốn năm sau, nó lắp đặt một hệ thống vệ tinh quy mô lớn nối tất cả các siêu thị về tổng hành dinh công ti, cấp dữ liệu tồn kho thời gian thực cho hệ thống máy tính tập trung của Wal-Mart và dọn đường cho một chuỗi cung được bôi trơn bởi thông tin và thúc mạnh đến nguyên tử cuối cùng của tính hiệu quả. Một nhà cung cấp lớn bây giờ có thể nối vào hệ thống extranet riêng, Retail Link, của Wal-Mart để xem chính xác các sản phẩm của nó được bán ra sao và khi có thể cần để tăng sản xuất.

    “Mở cơ sở dữ liệu bán và kho hàng cho các nhà cung cấp là cái biến Wal-Mart thành tổ chức mạnh hiện nay, Rena Granofsky hội viên cấp cao ở J. C. Williams Group Ltd., một hãng tư vấn bán lẻ ở Toronto, nói trong bài báo 2002 Computerworld về Wal-Mart. “Trong khi đối thủ cạnh tranh bảo vệ thông tin bán hàng, Wal-Mart tiếp cận các nhà cung cấp của mình cứ như họ là các hội viên, không như các đối thủ, Granofsky nói. Bằng thực hiện chương trình lập kế hoạch, lập dự báo cộng tác (CPRF), Wal-Mart bắt đầu một chương trình kho hàng vừa khớp thời gian (just-in-time) làm giảm chi phí vận chuyển cho cả nhà bán lẻ lẫn các nhà cung cấp của nó. ‘Có rất ít hàng tồn trong chuỗi cung bởi vì hệ thống đó,’ Granofsky nói.” Nhờ tính hiệu quả của riêng chuỗi cung của nó, chi phí hàng hoá của Wal-Mart ước lượng 5 đến 10 phần trăm ít hơn chi phí của hầu hết các đối thủ cạnh tranh của n ó.

    “Khi có RFID,” Rollin Ford phó chủ tịch cung ứng của Wal-Mart nói, “bạn thấu hiểu hơn.” Bạn có thể cho biết thậm chí nhanh hơn, thứ Sáu các siêu thị nào bán nhiều dầu gội đầu hơn và chủ Nhật siêu thị nào, và liệu người gốc Tây Ban Nha thích mua nhiều vào tối thứ Bảy hơn là thứ Hai ở các siêu thị lân cận. “Khi tất cả thông tin này được nạp vào các mô hình cầu của chúng tôi, chúng tôi có thể trở nên hiệu quả hơn về khi nào sản xuất là chỗ tắc nghẽn. Bây giờ với giá cắt cổ. Cho nên Wal-Mart chào cho họ check cashing lương, phiếu chuyển tiền, chuyển tiền, và thậm chí các dịch vụ chi trả hoá đơn cho các khoản thông thường như điện – tất cả với phí rất thấp. Wal-Mart có năng lực nội tại để làm việc đó cho nhân viên của nó và đơn giản chuyển nó thành một việc kinh doanh bên ngoài.

    QUÁ NHIỀU VỀ MỘT CÁI TỐT

    Đáng tiếc cho Wal-Mart, cũng các nhân tố thúc đẩy bản năng liên tục đổi mới của nó- sự cô lập khỏi thế giới, nhu cầu của nó đào sâu vào bên trong mình, nhu cầu của nó để kết nối các vị trí hẻo lánh vào một chuỗi cung- cũng là rắc rối của nó. Hầu như không nói quá Bentonville, Arkansas cô lập thế nào khỏi dòng chảy các cuộc tranh cãi về lao động và nhân quyền, và dễ hiểu làm sao công ti cách li, bị ám ảnh về giá rẻ này có thể đã đi quá ở một số tập quán của nó.

    Wal-Mart là Trung Quốc của các công ti. Nó có rất nhiều tác dụng đòn bẩy để có thể nghiền nát bất cứ nhà cung cấp nào đến nửa xu cuối cùng. Và nó không hề do dự dùng năng lực của nó để kích các nhà cung cấp nước ngoài và trong nước của nó chống lẫn nhau.

    Thế hệ kế tiếp đối với sự lãnh đạo của Sam Walton có vẻ nhận ra rằng nó cần cả một hình ảnh và một thực tại để sửa. Wal-Mart sẽ điều chỉnh đến đâu còn phải xem. Nhưng khi tôi hỏi CEO của Wal-Mart, H. Lee Scott Jr., trực tiếp về các vấn đề này, ông đã không lẩn tránh, thực ra ông muốn nói về nó. “Cái tôi nghĩ mình phải làm là thể chế hoá cảm nhận nghĩa vụ này với xã hội theo cùng phạm vi như chúng tôi đã thể chế hoá cam kết với khách hàng,” Scott nói. “Thế giới đã thay đổi và chúng tôi đã bỏ lỡ điều đó. Chúng tôi đã tin rằng ý định tốt và các cửa hàng tốt và giá tốt sẽ khiến người dân thứ lỗi cho cái chúng tôi chưa tốt, và chúng tôi đã sai.” Trong các lĩnh vực nhất định, ông nói thêm, “chúng tôi không tốt như chúng tôi phải là. Chúng tôi phải làm tốt hơn.”

    ách tốt nhất để nếm vị về quyền lực của Wal-Mart với tư cách một lực làm phẳng toàn cầu là đi thăm Nhật Bả n.

    Thuyền trưởng Matthew Calbraith Perry đã mở cửa xã hội Nhật phần lớn còn đóng đối với thế giới Phương Tây vào ngày 8-7-1853, khi ông đến Vịnh Edo (Tokyo) với bốn tàu hơi nước màu đen tua tủa súng đại bác. Theo Web site của Trung tâm Lịch sử Hải quân, những người Nhật, không biết rằng tàu hơi nước đã từng tồn tại, đã bị sốc bởi cảnh tượng của chúng và nghĩ chúng là “các con rồng phụt khói.” Thuyền trưởng Perry quay lại một năm sau, và kí kết Hiệp ước Kanagawa với chính quyền Nhật, cho các tàu Mĩ tiếp cận đến các cảng Shimoda và Hakodate và mở lãnh sự quán Mĩ ở Shimda. Hiệp ước này dẫn đến sự bùng nổ thương mại giữa Nhật Bản và Hoa Kì, giúp mở cửa Nhật Bản với thế giới Phương Tây nói chung, và được ghi công rộng rãi với việc khởi động sự hiện đại hoá nhà nước Nhật Bản, vì người Nhật đã nhận ra họ lạc hậu đến thế nào và gấp gáp đuổi kịp. Và họ đã đuổi kịp. Trong rất nhiều lĩnh vực, từ ô tô đến điện tử tiêu dùng đến máy công cụ, từ Walkman của Sony đến xe Lexus, người Nhật đã học mọi bài học từ các quốc gia Phương Tây và đi đến đánh bại chúng ta trong chính trò chơi của chúng ta- trừ một lĩnh vực: bán lẻ, đặc biệt bán lẻ giá hạ. Nhật Bản có thể làm cho các công ti Sony không giống ai khác, nhưng khi đến việc bán hạ giá chúng, phải, đó là chuyện khác.

    Những ảnh hưởng làm phẳng của Wal-Mart được bày tỏ đầy đủ ở siêu thị Seiyu tại Numazu- không chỉ các giá hạ mỗi ngày, mà là các lối đi rộng, các pallet lớn chứa các hàng nội trợ, các kí hiệu khổng lồ chỉ các giá thấp nhất trong mỗi loại hàng, và hệ thống máy tính chuỗi cung Wal-Mart sao cho các nhà quản lí siêu thị có thể nhanh chóng điều chỉnh hàng tồn.

    Tôi hỏi CEO của Seiyu, vì sao ông quay sang Wal-Mart. “Lần đầu tiên tôi biết Wal-Mart là khoảng mười lăm năm trước,” Kiuchi giải thích. “Tôi đến Dallas để xem các siêu thị Wal-Mart, và tôi nghĩ đây là một phương pháp rất hợp lí. Nó gồm hai thứ: Một là hệ thống kí hiệu chỉ giá cả. Rất dễ để chúng tôi hiểu nó.” Thứ hai, ông nói, là người Nhật đã nghĩ một cửa hàng hạ giá có nghĩa là anh bán các sản phẩm rẻ với giá rẻ. Cái anh ta nhận ra ở việc mua tại Wal-Mart, và thấy mọi thứ từ các TV plasma đến các sản phẩm ưa thích, là, Wal-Mart bán các sản phẩm chất lượng với giá hạ.

    “Tại cửa hàng ở Dallas, tôi đã chụp ảnh, và mang các bức ảnh đó cho các đồng nghiệp ở Seiyu và bảo họ, ‘Này, chúng ta phải xem Wal-Mart làm gì ở nửa kia của hành tinh’. Nhưng giới thiệu các bức ảnh đã là không đủ tốt, vì làm sao bạn có thể hiểu chỉ nhìn vào các bức ảnh?” Kiuchi nhớ lại. Cuối cùng, Kiuchi đã tiếp cận Wal-Mart, và họ đã kí một thoả thuận điều kiện chung vốn ngày 31-12-2003. Wal-Mart mua một phần Seiyu; đổi lại, Wal-Mart đồng ý dạy Seiyu hình thức cộng tác vô song của nó: xâu chuỗi cung toàn cầu để đưa cho những người tiêu dùng các hàng hoá tốt nhất với giá hạ nhất.

    Tuy vậy, có một việc lớn mà Seiyu phải dạy Wal-Mart, Kiuchi bảo tôi: bán cá tươi thế nào. Các cửa hàng giá hạ và các siêu thị Nhật đều có các bộ phận tạp phẩm, và tất cả chúng đều có bán cá cho những người tiêu dùng Nhật rất có đầu óc phán xét. Seiyu sẽ hạ giá cá nhiều lần mỗi ngày, theo mức giảm độ tươi.

    “Wal-Mart không hiểu cá tươi,” Kiuchi nói. “Chúng tôi kì vọng sự giúp đỡ của họ với việc buôn bán câu khách nói chung.”

    Hãy cho Wal-Mart thời gian. Tôi kì vọng rằng trong tương lai không xa chúng ta sẽ thấy sushi Wal-Mart.

    Ai đó thích cá thu nóng hơn.

    LỰC LÀM PHẲNG # 8

    INSOURCING cho cuốn sách này là sự khám phá ra đủ mọi thứ xảy ra trên thế giới quanh tôi mà tôi chẳng có manh mối nào. Chẳng gì lí thú đến sửng sốt hơn là vén bức màn đằng sau sát ngay Sân bay Quốc tế Louisville, mà vào ban đêm về cơ bản được tiếp quản bởi đội máy bay vận tải phản lực của UPS, vì các bưu kiện được chuyển từ mọi nơi trên thế giới, được phân loại, và chuyển quay lại vài giờ muộn hơn. (Đội 270 máy bay của UPS là hãng hàng không lớn thứ mười một trên thế giới). Cái tôi khám phá ra trong các cuộc viếng thăm này không phải là UPS của thời cha bạn. Phải, UPS vẫn kéo vào hầu hết của 36 tỉ $ doanh thu của nó bằng cách chuyển hơn 1,3 triệu bưu kiện mỗi ngày từ điểm A đến điểm B. Nhưng đằng sau bề mặt vô hại đó, công ti được thành lập ở Seattle năm 1907 như một công ti dịch vụ đưa tin đã tái phát minh mình như một nhà quản lí chuỗi cung năng động.

    Hãy suy xét điều này: Nếu bạn có một laptop Toshiba vẫn còn trong thời hạn bảo hành và bị hỏng và bạn gọi Toshiba để họ sửa nó, Toshiba sẽ bảo bạn đưa nó đến một hiệu UPS và để họ chuyển nó cho Toshiba, và máy sẽ được sửa và chuyển lại cho bạn. Nhưng đây là cái họ không nói cho bạn: UPS không chỉ nhận và giao máy xách tay Toshiba của bạn. UPS thực sự chữa máy của bạn trong xưởng riêng dành cho sửa chữa máy tính và máy in do UPS vận hành ở trung tâm Louisville. Tôi đã dạo thăm trung tâm đó chờ đợi sẽ thấy chỉ các bưu kiện di chuyển quanh, và thay vào đó tôi thấy mình mặc một áo khoác xanh, trong một phòng đặc biệt sạch, theo dõi các nhân viên UPS thay các bo mạch chính trong các máy xách tay Toshiba bị hỏng. Toshiba đã gây ra vấn đề về hình ảnh nhiều năm trước, với một số khách hàng kết luận rằng quá trình sửa các máy hỏng của nó quá kéo dài. Thế nên Toshiba đến UPS và yêu cầu nó thiết kế một hệ thống tốt hơn. UPS bảo, “Này, thay cho việc nhận máy từ khách hàng của anh, đưa đến trung tâm của chúng tôi, rồi đưa nó từ trung tâm của chúng tôi đến cơ sở sửa chữa của các anh và sau đó chuyển trở lại trung tâm của chúng tôi và sau đó từ trung tâm của chúng tôi đến khách hàng của các anh, hãy cắt tất cả các bước trung gian. Chúng tôi, UPS, sẽ nhận nó, tự chúng tôi chữa nó, và chuyển thẳng lại cho khách hàng của các anh.” Bây giờ có thể gửi máy xách tay Toshiba của bạn vào một ngày, khiến nó được sửa ngày tiếp theo, và nhận lại nó vào ngày thứ ba. Các thợ sửa chữa của UPS đều được Toshiba cấp giấy chứng nhận, và than phiền của khách hàng giảm xuống đột ngột.

    Nhưng đấy chỉ là mảnh nhỏ của cái UPS làm ngày nay. Ăn pizza Papa John muộn à? Nếu bạn thấy xe cung ứng hiệu Papa John đi qua, hỏi ai phái lái xe và lên lịch trình lấy hàng cung cấp, như cà chua, nước xốt pizza, và hành. Câu trả lời: UPS. Hiện nay UPS vào bên trong nhiều công ti và tiếp quản các xe có nhãn hiệu của họ để đảm bảo giao đúng giờ, trong trường hợp của Papa John bao gồm cả lấy bột pizza từ các lò bánh đến đại lí vào thời điểm chính xác mỗi ngày. Chán mua giày tennis ở siêu thị ư? Lên mạng và đặt một đôi Nike từ Web site của nó, chúng tôi Đơn hàng, tuy vậy, thực sự gửi đến UPS, và một nhân viên UPS lấy, kiểm tra, đóng gói, và giao giày của bạn được đặt trực tuyến từ một kho hàng ở Kentucky do UPS quản lí. Như trên nếu bạn đặt đồ lót nào đó từ chúng tôi Các nhân viên UPS quản lí các sản phẩm Jockey ở một nhà kho UPS, sẽ thực sự điền đơn hàng, bỏ nó vào túi, gắn nhãn nó, và giao nó cho bạn. Máy in HP của bạn hỏng ở Châu Âu hay Mĩ Latin? Thợ sửa ở thực địa, người đến nhà bạn sửa nó, là người làm việc cho UPS, UPS quản lí các bộ phận thay linh kiện và sửa chữa cho HP ở các thị trường đó. Đặt cá nhiệt đới nào đó từ các Trang trại Segrest ở Florida được UPS giao tại cửa cho bạn ở Canada? UPS làm việc với một công ti để phát triển cách đóng gói đặc biệt cho cá sao cho chúng không bị thương khi đi qua hệ thống phân loại của UPS. Cá thậm chí còn được gây mê nhẹ cho du hành an toàn (như trẻ con uống thuốc chống say Dramamine). “Chúng tôi muốn chúng có một chuyến đi thoải mái,” Steve Holmes người phát ngôn của UPS nói.

    “Anh có biết đa số các khách hàng và đối tác của chúng tôi là ai? Các doanh nghiệp nhỏ,” chủ tịch và CEO của UPS Mike Eskew nói. “Đúng thế … Họ yêu cầu chúng tôi biến họ thành toàn cầu. Chúng tôi giúp các công ti này đạt sự bình đẳng với các gã lớn.”

    Thực vậy, khi bạn là một doanh nghiệp nhỏ hay một cá nhân làm việc ở nhà, và bạn có thể plug lớn hành động nhỏ. Khi bạn là một tập đoàn khổng lồ, như HP, và bạn có thể khiến các bưu kiện được giao hay hàng hoá được sửa chữa nhanh chóng ở bất cứ đâu trên thế giới, bạn có thể hành động thực sự nhỏ.

    Ngoài ra, bằng làm cho giao hàng và dịch vụ khắp thế giới siêu hiệu quả và siêu nhanh -và với khối lượng khổng lồ- UPS giúp làm phẳng các rào cản hải quan và hài hoà hoá thương mại bằng khiến ngày càng nhiều người chấp nhận cùng các quy tắc và các nhãn và các hệ thống theo dõi để chuyên chở hàng hoá. UPS có một nhãn thông minh trên tất cả các bưu kiện của nó để bưu kiện có thể được theo dõi và lần vết ở bất cứ đâu trong mạng lưới của nó.

    Plow & Hearth là một nhà bán lẻ lớn theo catalog ở trong nước và trên Internet ở quy mô quốc tế chuyên về “Các Sản phẩm cho Sinh hoạt Thôn dã -Products for Country Living.” Một hôm P&H đến UPS và nói rằng quá nhiều đồ đạc được giao của họ đến với các khách hàng với một mẩu bị vỡ. UPS có ý tưởng nào không? UPS cử “các kĩ sư đóng gói” của nó đến và tiến hành một seminar về đóng gói cho nhóm thu mua hàng của P&H. UPS cũng cung cấp các hướng dẫn cho họ để dùng trong chọn lọc các nhà cung cấp của họ. Mục tiêu là giúp P&H hiểu rằng các quyết định thu mua của nó từ các nhà cung cấp phải bị ảnh hưởng không chỉ bởi chất lượng của các sản phẩm được chào, mà bởi cả các sản phẩm này được đóng gói và giao thế nào. UPS không thể giúp khách hàng của nó, P&H, mà không nhìn sâu vào bên trong việc kinh doanh của nó và sau đó vào việc kinh doanh của các nhà cung cấp của nó – họ dùng các thùng và vật liệu đóng gói nào. Đó là insourcing.

    Hãy xét sự cộng tác hiện nay giữa những người bán eBay, UPS, PayPal, và những người mua eBay. Thí dụ tôi chào bán một gậy đánh golf trên eBay và bạn quyết định mua nó. Tôi e-mail cho bạn một hoá đơn PayPal có tên và địa chỉ của bạn. Đồng thời, eBay cho tôi một icon trên Web site của nó để in ra một nhãn thư cho bạn. Khi tôi in nhãn thư đó ra trên máy in của tôi, nó hiện ra với một mã vạch theo dõi của UPS trên đó. Đồng thời, UPS, qua hệ thống máy tính của nó, tạo ra một số theo dõi tương ứng với nhãn đó, số này được tự động e-mail cho bạn – người đã mua gậy đánh golf của tôi – cho nên tự mình bạn có thể theo dõi, trực tuyến, bưu kiện ấy trên cơ sở đều đặn và biết chính xác khi nào nó sẽ tới bạn.

    Nếu UPS đã không làm việc kinh doanh này, ai đó hẳn đã phải phát minh ra nó. Với rất nhiều người làm việc xa nhà thông qua các chuỗi cung toàn cầu theo chiều ngang, ai đó phải lấp các lỗ hổng không thể tránh khỏi và siết chặt các mối yếu. Kurt Kuehn, phó chủ tịch cấp cao của UPS về bán hàng và marketing, nói, “Gã bán linh kiện máy ở Texas lo rằng khách hàng ở Malaysia là một rủi ro tín dụng. Chúng tôi bước vào như một nhà môi giới được tin cậy. Nếu chúng tôi kiểm soát gói hàng đó, chúng tôi có thể thu tiền tuỳ thuộc vào sự chấp thuận và loại bỏ thư tín dụng. Sự tin cậy có thể được tạo ra qua các quan hệ cá nhân hay qua các hệ thống và kiểm soát. Nếu không có sự tin cậy, bạn có thể dựa vào một nhà gửi hàng, không giao đảm bảo, nên chúng tôi có hai điểm mạnh.”

    Hơn sáu mươi công ti đã chuyển hoạt động của họ đến gần trung tâm UPS hơn ở Louisville kể từ 1997, như thế họ có thể làm các thứ và gửi chúng đi thẳng từ trung tâm, mà không phải lưu kho. Nhưng không chỉ có các gã nhỏ được lợi từ logistics tốt hơn và các chuỗi cung hiệu quả hơn mà insourcing có thể cung cấp. Năm 2001, Ford Motor Co. giao hệ thống phân phối rối ren và chậm chạp của mình cho UPS, cho phép UPS đi sâu vào bên trong Ford để hình dung ra các vấn đề là gì và làm nhẵn chuỗi cung của nó.

    UPS duy trì một think-tank, Bộ phận Vận trù học, ở Timonium, Maryland, nghiên cứu các thuật toán chuỗi cung. “Trường phái” toán học này được gọi là “công nghệ luồng bưu kiện,” và được thiết kế để liên tục khớp việc điều động xe tải, tàu thuỷ, máy bay và năng lực phân loại của UPS với luồng các bưu kiện ngày đó khắp thế giới. “Hiện nay chúng tôi có thể thay đổi về mạng lưới trong mấy giờ để điều chỉnh theo khối lượng,” UPS CEO Eskew nói. “Tôi tối ưu hoá toàn bộ chuỗi cung thế nào là bí quyết toán đi qua đất nước bằng đường sắt hay máy bay, và bạn có hơn hàng ngàn cho chính họ, UPS thấy mình trong vị thế lí thú để không chỉ là công ti thực sự lấy đơn hàng mà, như dịch vụ giao hàng, cũng là công ti giao hàng cho người mua ở cửa trước. Kết quả là, các công ti nói, “Hãy thử đẩy càng nhiều thứ tạo sự khác biệt vào cuối chuỗi cung, hơn là vào đầu.” Và bởi vì UPS là khâu cuối trong chuỗi cung trước khi các hàng hoá này được xếp vào các máy bay, tàu hoả, và xe tải, nó tiếp quản nhiều trong các chức năng này, tạo ra một loại kinh doanh mới hoàn toàn được gọi là Cuối của các Dịch vụ Cầu tàu (End of Runway Services). Ngày tôi thăm Louisville, hai nữ nhân viên trẻ của UPS đang lắp ráp các camera Nikon, với các thẻ bộ nhớ và bao da, mà cửa hàng nào đó đã chào như một món cuối tuần đặc biệt. Họ thậm chí đặt chúng vào các thùng đặc biệt chỉ cho cửa hàng đó. Bằng tiếp quản chức năng này, UPS cho các công ti nhiều quyền lựa chọn hơn để tuỳ biến các sản phẩm vào phút cuối cùng.

    UPS cũng lợi dụng đầy đủ các lực làm phẳng Netscape và work flow. Trước 1995, tất cả việc theo dõi và lần vết các bưu kiện UPS cho các khách hàng được làm qua một call center. Bạn gọi một số UPS 800 và hỏi nhân viên trực bưu kiện của bạn ở đâu. Trong tuần trước Nô-en, các nhân viên tổng đài UPS trả lời sáu trăm ngàn cuộc gọi trong những ngày cao điểm. Mỗi cuộc gọi đó đã tốn của UPS 2,1 $ để xử lí. Rồi, suốt các năm 1990, khi ngày càng nhiều khách hàng của UPS được trao quyền và thoải mái với Internet, và vì hệ thống theo dõi và lần vết riêng của nó được cải thiện với những tiến bộ về công nghệ không dây, UPS đã mời bản thân khách hàng của mình theo dõi qua Internet, với một chi phí đối với UPS giữa 5¢ và 10 ¢ một truy vấn.

    “Như thế chúng tôi đã giảm đột ngột các chi phí dịch vụ của chúng tôi và tăng dịch vụ,” Ken Sternad phó chủ tịch UPS nói, đặc biệt vì hiện nay UPS xử lí trung bình 7 triệu truy vấn theo dõi một ngày và 12 triệu truy vấn trong những ngày cao điểm, con số gây sửng sốt. Đồng thời, các lái xe của nó cũng ngày càng được trao quyền hơn với DIAD – Driver Delivery Information Acqusition Device – các dụng cụ thu nhận thông tin giao nhận của lái xe. Đấy là các bìa kẹp hồ sơ điện tử màu nâu mà bạn luôn nhìn thấy các lái xe UPS mang khắp nơi. Thế hệ mới nhất của chúng nói cho mỗi lái xe để mỗi bưu kiện ở chỗ nào trong xe- chính xác ở vị trí nào trên kệ. Nó cũng bảo anh ta điểm dừng tiếp theo của anh ta ở đâu, và nếu anh ta đi sang địa chỉ sai, hệ thống GPS Gimbel và Macy, là ‘hãy tin chúng tôi’. Tôi không vi phạm điều đó. Vì chúng tôi yêu cầu người ta bỏ một phần kinh doanh của họ cho phép bất cứ ai đưa việc kinh doanh của mình ra toàn cầu hoặc để cải thiện rất nhiều tính hiệu quả của chuỗi cung của mình. Đó là một việc kinh doanh hoàn toàn mới, nhưng UPS tin chắc nó có triển vọng hầu như vô hạn. Thời gian sẽ trả lời. Tuy lãi gộp vẫn còn mỏng trong công việc loại này, riêng năm 2003 insourcing mang về 2,4 tỉ $ doanh thu cho UPS. Bản năng mách bảo tôi những người mặc áo nâu ngồ ngộ này trong các xe tải nâu là lạ này đang làm cái gì đó to lớn- cái gì đó là có thể chỉ do sự làm phẳng thế giới và cái gì đó sẽ làm phẳng thế giới hơn nhiều.

    IN-FORMING , và tôi quả quyết là không có các dịch vụ Google thì tôi chẳng bao giờ tìm thấy anh tôi, chồng tôi, hay tính chất sinh lợi đáng ngạc nhiên của ngành múa thoát y nam ở Mexico!! Cảm ơn, Google! – Lời khen từ người dùng Goggle

    ổng hành dinh của Google ở Moutain View, California, có một chút cảm giác Epcot Center đối với nó – rất nhiều đồ chơi thời vũ trụ vui nhộn để chơi, rất ít thời gian. Ở một góc là một quả cầu quay phát ra các tia sáng dựa vào số người tìm kiếm trên Google. Như bạn có thể mong đợi, hầu hết các tia sáng được phát ra từ Bắc Mĩ, Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, và duyên hải Trung Quốc. Trung Đông và Châu Phi vẫn khá tối. Ở một góc khác một màn hình cho thấy mẫu của thứ gì người ta đang tìm kiếm ở thời điểm đó, trên khắp thế giới. Khi tôi ở đó năm 2001, tôi hỏi các chủ nhà của tôi đề tài được tìm kiếm nhiều nhất mới đây là gì. Một, tất nhiên, là “sex,” một đề tài ưa thích vĩnh cửu của các Googler. Cái khác là “Chúa”. Nhiều người tìm Ngài. Thứ ba là “việc làm”- anh có thể thấy đủ các thứ đó. Và món được tìm nhiều thứ tư vào lúc tôi đến thăm? Tôi không biết liệu phải cười hay khóc: “đấu vật chuyên nghiệp”. Kì lạ nhất, tuy vậy, là sách công thức món ăn Google, nơi người ta chỉ mở tủ lạnh của mình, xem có gì trong đó, gõ chúng vào Google, và thấy nó cho ra công thức nào!

    Sergey Brin sinh ở Nga, đồng sáng lập của Google, nói, “Nếu ai đó có hoặc truy cập vào một café Internet, bất luận một đứa trẻ ở Campuchia, giáo sư đại học, hay tôi người vận hành công cụ tìm kiếm này, tất cả đều có truy cập cơ bản đến tất cả thông tin nghiên cứu mà bất cứ ai có. Nó là cái làm phẳng hoàn toàn. Đấy là rất khác cách tôi đã lớn lên. Sự tiếp cận tốt nhất của tôi là tới thư viện nào đó, và nó đã không có ngần ấy thông tin, và bạn hoặc phải hi vọng một phép mầu hay tìm kiếm cái gì đó rất đơn giản hay cái gì đó rất mới đây.” Khi Google xuất hiện, ông nói thêm, đột ngột đứa trẻ đó có “truy cập phổ cập” đến thông tin trong các thư viện trên khắp thế giới.

    Đó chắc chắn là mục tiêu của Google- làm cho tri thức của toàn thế giới trong mọi ngôn ngữ có thể kiếm được một cách dễ dàng. Và Google hi vọng theo thời gian, với một PalmPilot hay một điện thoại di động, mọi người ở bất cứ đâu sẽ có khả năng mang theo khắp nơi sự truy cập đến tri thức của thế giới trong túi của họ. “Mọi thứ” và “mọi người” là các từ then chốt mà bạn lúc nào cũng nghe quanh Google. Quả thực, lịch sử chính thống của Google được đưa lên trang nhà của nó lưu ý rằng tên “Google” là một trò chơi “chữ ‘googol’ có nghĩa là con số gồm số 1 tiếp theo 100 số không. Google dùng từ ấy để phản ánh sứ mệnh của công ti đi tổ chức lượng thông tin bao la, có vẻ vô tận có thể kiếm được trên Web,” đúng cho bạn. Cái mà thành công của Google phản ánh là biết bao nhiêu người quan tâm có đúng cái đó – tất cả tri thức của thế giới trên đầu ngón tay họ. Không có cái làm phẳng lớn hơn ý tưởng làm cho tất cả tri thức của thế giới, hay thậm chí chỉ một khúc lớn của nó, sẵn có cho bất cứ ai và mọi người, bất cứ lúc nào, bất cứ đâu.

    “Chúng tôi có phân biệt đối xử ở chừng mực rằng nếu bạn không biết dùng máy tính hoặc không có truy cập đến máy tính, thì bạn không để dùng Google, nhưng ngoài điều đó ra, nếu bạn có thể gõ chữ, bạn có thể dùng Google,” Eric Schmidt CEO của Google nói. Và chắc chắn nếu sự làm phẳng thế giới có nghĩa là bất cứ gì, ông nói thêm, nó có nghĩa rằng “không có sự phân biệt đối xử nào về truy cập đến tri thức. Hiện nay Google có thể tìm kiếm bằng một trăm thứ tiếng, và mỗi khi chúng tôi thấy một ngôn ngữ khác chúng tôi làm tăng nó. Hãy tưởng tượng một nhóm với một Google iPod một ngày nào đó và bạn có thể bảo nó tìm kiếm bằng âm thanh- điều đó sẽ chăm lo cho những người không biết sử dụng máy tính – và khi đó , và offshoring. In-forming là năng lực để xây dựng và triển khai chuỗi cung cá nhân riêng của bạn – một chuỗi cung về thông tin, tri thức, và giải trí. In-forming là về sự tự-cộng tác – trở thành nhà nghiên cứu, biên tập viên, và người lựa chọn giải trí tự-hướng dẫn và tự-trao quyền riêng của chính bạn, mà không phải đi đến thư viện hay rạp chiếu phim hay thông qua mạng truyền hình. In-forming là tìm kiếm tri thức. Là về tìm kiếm những người và các cộng đồng có ý kiến giống nhau. Tính đại chúng toàn cầu phi thường của Google, điều đã thúc Yahoo! và Microsoft (thông qua MSN Search mới của nó) cũng biến năng lực tìm kiếm và in-forming thành các đặc tính nổi bật của các Web site của họ, cho thấy người dân khao khát ra sao đối với hình thức cộng tác này. Hiện nay Google xử lí khoảng một tỉ tìm kiếm mỗi ngày, tăng từ 150 triệu mới chỉ ba năm trước.

    Larry Page một đồng sáng lập khác của Google nói thêm, việc tìm kiếm càng trở nên dễ dàng và chính xác, thì cơ sở người dùng Google càng trở nên toàn cầu, và nó trở thành một lực làm phẳng càng hùng mạnh. Mỗi ngày càng nhiều người hơn có khả năng in-form của riêng họ về, và sau đó phản ứng nhanh như chớp đối với cái họ lôi xuống. Hiệu quả hơn rất nhiều.

    “Tìm kiếm mang tính cá nhân cao đến mức việc tìm kiếm là trao quyền cho con người không giống gì khác,” Eric Schmidt CEO của Google nói. “Nó là phản đề của được chỉ bảo và được dạy. Nó là về tự-trao quyền; nó trao quyền cho các cá nhân để làm cái họ nghĩ là tốt nhất với thông tin họ muốn. Nó rất khác bất cứ thứ gì trước nó. Radio là một-tới-nhiều. TV là một-tới-nhiều. Điện thoại là một-tới-một. Tìm kiếm là sự biểu lộ tối thượng về quyền lực của cá nhân, dùng một máy tính, nhìn ra thế giới, và tìm thấy chính xác cái họ muốn- và mỗi người là khác nhau khi điều đó xảy ra.”

    Có mặt khác nữa của in-forming mà người dân sẽ phải quen với, và đó là khả năng của người khác thông tin cho chính họ về bạn từ tuổi rất sớm. Các công cụ tìm kiếm làm phẳng thế giới bằng loại bỏ tất cả các thung lũng và đỉnh, tất cả tường và đá, mà người ta thường dùng để ẩn nấp ở bên trong, ở đỉnh, ở đằng sau, hay ở dưới nhằm che giấu . Hãy sống cuộc sống của bạn một cách chân thật, bởi vì bất kể bạn làm gì, bất cứ sai lầm nào bạn mắc phải, sẽ có thể tìm kiếm được một ngày nào đó. Thế giới càng trở nên phẳng hơn, người dân thường càng trở nên minh bạch -và rảnh hơn. Trước khi con gái tôi Orly ra đi đến trường nội trú vào mùa thu 2003, nó nói với tôi về vài bạn cùng phòng của nó. Khi tôi hỏi làm sao nó biết một số thứ nó biết- nó đã nói chuyện với chúng hay nhận e-mail từ chúng?- nó bảo tôi nó không làm cả hai việc. Nó chỉ Google chúng. Nó tìm ra các thứ đó từ các báo của trường, các báo địa phương, v.v, và may thay không có hồ sơ cảnh sát nào. Đấy là lũ trẻ học sinh trung học!

    “Trong thế giới này tốt hơn bạn hãy làm đúng- bạn không phải tăng tốc và chuyển sang thị trấn tiếp theo dễ đến vậy,” Dove Seidman, người vận hành một hãng tư vấn phục tùng pháp luật và đạo đức kinh doanh, LRN, nói. “Trong thế giới Google, danh tiếng của bạn sẽ theo bạn và đi trước bạn ở trạm tiếp theo. Nó đến đó trước khi bạn đến … Bây giờ danh tiếng bắt đầu từ sớm. Bạn không phải tốn bốn năm để nghiện rượu. Danh tiếng của bạn được định sớm hơn nhiều trong đời. ‘Luôn nói thật’, Mark Twain nói, ‘bằng cách đó bạn sẽ không phải nhớ bạn đã nói gì’.” Rất nhiều người có thể là nhà điều tra tư ngó vào đời bạn, và họ có thể chia sẻ những điều họ tìm thấy với rất nhiều người.

    Trong thời đại của sự tìm kiếm siêu mạnh, mỗi người là một người nổi danh. Google san phẳng thông tin- nó không có các biên giới giai cấp hay giáo dục. “Nếu tôi có thể thao tác Google, tôi có thể tìm bất cứ thứ gì,” Alan Cohen, phó chủ tịch của Airespace hãng bán công nghệ không dây, nói. “Google giống Chúa. Chúa là không dây, Chúa ở mọi nơi, và Chúa thấy mọi thứ. Bất cứ câu hỏi nào trên thế giới, bạn hỏi Google.”

    LỰC LÀM PHẲNG # 10

    CÁC STEROID

    Số, Di động, Cá nhân, và Ảo

    , iPaq có thể rọi thông tin, giống thẻ kinh doanh điện tử của bạn, vào một palmtop khác dùng một máy phát hồng ngoại. Cho khoảng cách đến 30 feet , nó có một anten Wi-Fi. Và cho truyền quanh cả hành tinh, iPaq dự phòng một mẹo khác: nó cũng là một điện thoại di động. Nếu văn phòng của bạn không thể với tới bạn bằng cái này, thì bạn phải ở trên Trạm Vũ trụ Quốc tế.

    (Tôi càng nghĩ về chuyện đó, tôi càng muốn ra ứng cử tổng thống với chương trình ứng cử một-vấn đề: “Tôi hứa, nếu được bầu, trong vòng bốn năm Mĩ sẽ có độ phủ sóng điện thoại di động tốt như Ghana, và trong vòng tám năm sẽ tốt như Nhật Bản- với điều kiện người Nhật kí một thoả ước đứng yên và sẽ không đổi mới suốt tám năm để chúng ta có thể đuổi kịp.” Khẩu hiệu vận động tất cả các lực làm phẳng khác. Chúng đem theo tất cả các hình thức cộng tác được nêu bật ở mục này – outsourcing, offshoring, open-sourcing, supply-chaining “số, di động, ảo, và cá nhân,” như cựu CEO của HP Carly Fiorina diễn đạt trong các bài nói của bà, bằng cách ấy nâng cao mỗi cái và làm cho thế giới phẳng hơn mỗi ngày.

    Bằng “số-digital,” Fiorina muốn nói rằng nhờ các cuộc cách mạng PC-Windows-Netscape-work flow, tất cả nội dung và các quá trình tương tự và output và ở mức độ nào đó có thể mang theo được dặm cuối kéo đến nhà của bạn và vào máy tính của bạn, chúng ta vẫn nói về một bước nhảy vọt lên phía trước.

    Rồi đưa thêm một steroid khác vào danh sách: file-sharing cá nhân cầm tay có thể giữ các cuộc hẹn, gọi điện thoại, gửi e-mail, chụp ảnh, và thậm chí dùng như máy quay video.

    Cộng tác với tất cả dữ liệu được số hoá này sẽ được làm cho dễ dàng hơn và rẻ hơn nhờ một steroid khác đang sinh sôi nhanh – dịch vụ giao thức thoại qua Internet, được biết như VoIP. VoIP cho phép bạn gọi điện thoại trên Internet bằng biến âm thanh thành các gói dữ liệu được truyền đi qua mạng Internet và biến trở lại thành âm thanh ở đầu kia. VoIP cho phép bất cứ ai đăng kí dịch vụ qua công ti điện thoại của mình hay nhà cung cấp tư nhân để nhận không giới hạn các cuộc gọi nội hạt hay đường dài, qua Internet, trên máy tính, laptop, hay PDA cá nhân – với chỉ một microphone nhỏ gắn vào. Nó là cá nhân và sẽ được chuyển giao ảo – các đường ống cơ sở sẽ làm cho nó xảy ra mà bạn không hề phải nghĩ về nó. Nó sẽ làm cho mọi cuộc gọi kinh doanh hay cá nhân đến bất cứ đâu trên thế giới rẻ như cuộc gọi nội hạt – tức là gần như miễn phí. Nếu điều đó không khuyếch đại mọi hình thức cách tiếp cận, thì tôi không biết cái gì sẽ khuyếch đại.

    Những người sống ở Bangalore hay Bắc Kinh sẽ có khả năng để mình được ghi trong các Trang Vàng ở New York. Tìm một kế toán viên? Chỉ nháy đúp Hang Zhou ở Bắc Kinh hay Vladimir Tolstoy ở Moscow hay Ernst & Young ở New York. Hãy lấy lựa chọn của bạn cho kế toán viên: Quảng trường Thiên An Môn, Quảng trường Đỏ, hay Quảng trường Union. Họ sẽ vui lòng cộng tác với bạn để điền các bản khai thuế của bạn.

    à bây giờ là việc phủ đường cô lên chiếc bánh, übersteroid cái làm cho tất cả là di động: không dây. Không dây là cái sẽ cho phép bạn lấy mọi thứ đã được số hoá, biến thành ảo và cá nhân, và làm việc đó từ bất cứ đâu.

    “Trạng thái tự nhiên của truyền thông là không dây,” Alan Cohen phó chủ tịch cao cấp của Airespace lí lẽ. Nó bắt đầu với tiếng nói, bởi vì người ta muốn có khả năng gọi điện thoại bất cứ lúc nào, từ bất cứ nơi nào, đến bất cứ đâu. Đó là vì sao đối với nhiều người điện thoại di động là điện thoại quan trọng nhất mà họ sở hữu. Vào đầu thế kỉ hai mươi mốt, người ta bắt đầu phát triển cùng kì vọng đó và với nó là sự mong muốn cho truyền thông dữ liệu- khả năng truy cập Internet, e-mail, hay bất cứ hồ sơ tính toán (Toàn cầu hoá 2.0), bạn làm việc trong văn phòng. Đã có một máy tính lớn, và theo nghĩa đen bạn phải đi qua và bảo người ta chạy máy tính lớn để chiết xuất ra hay đưa thông tin vào cho bạn. Nó giống như một phép mầu. Sau đó, nhờ PC và Internet, email, laptop, browser, và client server, tôi có thể truy cập từ màn hình của chính tôi mọi loại dữ liệu và thông tin được lưu trên mạng. Trong kỉ nguyên này bạn được cắt rời khỏi , cá nhân hoá, và không dây, tôi có thể xử lí, thu thập, hay truyền tiếng nói hay dữ liệu từ bất cứ đâu đến bất cứ đâu- với tư cách một cá nhân hay một cái m áy.

    “Bàn của bạn đi với bạn đến mọi nơi bạn ở lúc này,” Cohen nói. Và càng nhiều người có khả năng đẩy và kéo thông tin từ bất cứ đâu đến bất cứ đâu nhanh hơn, càng nhiều rào cản đối với cạnh tranh và truyền thông sẽ biến mất. Đột ngột, doanh nghiệp của tôi có phân phối phi thường. Tôi cóc lo bạn ở Bangalore hay Bangor, tôi có thể đến anh và anh có thể đến tôi. Bây giờ càng ngày càng nhiều người muốn và kì vọng có di động không dây, hệt như điện. Chúng ta đang chuyển nhanh sang thời đại của “mobile cho tôi,” Padmasree Warrior, tổng giám đốc công nghệ của Motorola, nói. Nếu người tiêu dùng trả tiền cho bất kì dạng nội dung nào, bất luận là thông tin, giải trí, dữ liệu, trò chơi, hay báo giá cổ phiếu, họ ngày càng muốn có khả năng truy cập nó bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.

    Chính bây giờ người tiêu dùng bị mắc vào một mê lộ của các đề xuất và tiêu chuẩn công nghệ không dây vẫn chưa tương hoạt hoàn toàn. Như chúng ta đều biết, công nghệ không dây nào đó hoạt động ở một vùng, một bang, hay một nước và không ở nơi k hác.

    Cách mạng “mobile cho tôi” sẽ hoàn tất khi bạn có thể di chuyển suôn sẻ trơn tru quanh thành phố, nước, hay thế giới với bất cứ dụng cụ nào bạn muốn. Công nghệ có đó. Khi điều này được phổ biến đầy đủ, việc “mobile cho tôi” sẽ có ảnh hưởng làm phẳng đầy đủ của nó, bằng giải phóng con người để có thể làm việc và truyền thông từ bất cứ đâu đến bất cứ đâu với bất cứ thứ gì.

    Tôi đã nếm vị cái gì sẽ đến bằng có một buổi sáng ở tổng hành dinh Tokyo của NTT DoCoMo, nhà cung cấp dịch vụ di động Nhật khổng lồ đi đầu trong quá trình này và đi trước xa Mĩ về cung cấp tính tương hoạt hoàn toàn bên trong Nhật Bản. DoCoMo là viết tắt của Do Communications Over the Mobile Network . Chúng tôi gọi mình là ‘những người ngón tay cái.’ Các nữ sinh trung học hiện nay có thể di các ngón cái của họ nhanh hơn họ đánh máy trên một PC.”

    Nhân tiện, tôi hỏi, “Phòng Phổ quát” làm gì?

    “Hiện nay chúng ta đã thấy sự phổ biến của Internet khắp thế giới,” Mitsuishi trả lời, “cái chúng tôi tin chúng tôi phải chào là bước tiếp theo. Truyền thông Internet cho đến ngày nay hầu hết là giữa các cá nhân- e-mail và các thông tin khác. Nhưng cái mà chúng ta bắt đầu thấy rồi là truyền thông giữa các tác nhân và các máy, và giữa các máy. Chúng ta đang chuyển sang loại hiện tượng đó, bởi vì người dân muốn có một kiểu sống phong phú hơn, và các doanh nghiệp muốn các tập quán hiệu quả hơn… Như thế những người trẻ trong cuộc sống kinh doanh của mình dùng PC ở văn phòng, nhưng trong thời gian riêng tư họ đặt cơ sở cho cách sống của họ lên điện thoại di động. Bây giờ có một phong trào tăng lên để cho phép thanh toán bằng điện thoại di động. quản gia cốt yếu của đời sống một cá nhân,” Mitsuishi nói thêm, quên ý nghĩa kiểm tra của controller trong tiếng Anh đi. “Thí dụ, trong lĩnh vực y nó sẽ là hệ thống xác thực của bạn và bạn có thể xem xét các hồ sơ y học của bạn, và để tiến hành thanh toán bạn sẽ phải cầm một điện thoại di động. Bạn không thể trải nghiệm cuộc sống mà không có một điện thoại di động, và nó sẽ điều khiển mọi thứ ở nhà nữa. Chúng tôi tin rằng chúng ta cần mở rộng dải của các máy có thể được điều khiển bằng điện thoại di động.”

    Có nhiều điều để lo về tương lai này, từ trẻ em bị các con thú tình dục online nhử qua điện thoại di động của chúng, đến nhân viên dùng camera điện thoại di động làm mọi loại hành động bị cấm. Một số người Nhật đã đến các hiệu sách, lấy các cuốn sách dạy nấu ăn xuống, và chụp ảnh các công thức và sau đó đi ra. May là, các điện thoại có camera hiện nay gây ra tiếng xoẹt khi họ chụp ảnh, như thế chủ cửa hiệu, hay người đứng cạnh trong phòng thay quần áo, sẽ biết nếu anh ta trên Candid Camera . Bởi vì điện thoại có camera của bạn có thể kết nối Internet không chỉ là một máy ảnh; nó cũng là một máy sao chụp, với khả năng phân phối toàn cầu.

    ôi kiệt sức chỉ viết về tất cả những thứ này. Nhưng khó để phóng đại lực làm phẳng thứ mười này – các steroid- sẽ khuyếch đại nhiều thế nào và trao quyền thêm nữa cho tất cả các dạng cộng tác khác. Các steroid này phải khiến đổi mới open-source mở nhiều hơn thế, bởi vì chúng sẽ cho phép nhiều cá nhân hơn cộng tác với nhau theo nhiều cách và từ nhiều nơi hơn bao giờ hết. Chúng sẽ nâng cao outsourcing, vì chúng sẽ làm cho dễ dàng hơn nhiều cho một phòng duy nhất của bất cứ công ti nào để cộng tác với công ti khác. Chúng sẽ nâng cao xâu chuỗi cung, bởi vì tổng hành dinh sẽ có khả năng kết nối thời gian thực với mỗi cá nhân nhân viên để hàng lên giá, mỗi gói hàng riêng, và mỗi nhà máy Trung Quốc sản xuất các thứ bên trong chúng. Chúng sẽ nâng cao insourcing – sai một công ti như UPS đi sâu vào bên trong một nhà bán lẻ và quản lí toàn bộ chuỗi cung của nó, sử dụng các lái xe có thể tương tác với các nhà kho của nó, và với mỗi khách hàng, mang PDA riêng của mình. Và hiển nhiên nhất, chúng sẽ nâng cao in-forming- khả năng để quản lí chuỗi cung tri thức riêng của bạn.

    Sir John Rose, CEO của Rolls-Royce, cho tôi một thí dụ tuyệt vời về không dây và các steroid khác nâng cao thế nào khả năng của Rolls-Royce để làm work flow và các hình thức cộng tác khác với các khách hàng của nó. Giả sử bạn là British Airways và bạn cho một Boeing 777 bay qua Đại Tây Dương. Ở đâu đó trên Greenland, một trong bốn động cơ Rolls-Royce bị sét đánh. Hành khách và người lái có thể lo, nhưng không cần. Rolls-Royce làm chủ tình hình. Động cơ Rolls-Royce đó được nối với một máy phát lại lên một vệ tinh và nó phát dữ liệu về tình hình và đặc tính của nó, mọi lúc, xuống một máy tính trong phòng điều hành của Rolls-Royce. Điều đó đúng với nhiều động cơ máy bay Rolls-Royce đang hoạt động. Nhờ trí tuệ nhân tạo trong máy tính Rolls-Royce, dựa vào các thuật toán phức tạp, nó có thể theo dõi các bất thường trong các động cơ của nó khi hoạt động. Trí tuệ nhân tạo trong máy tính Rolls-Royce biết động cơ này có lẽ bị sét đánh, và đưa ra một báo cáo cho một kĩ sư của Rolls-Royce.

    “Với dữ liệu thời gian thực chúng tôi nhận được qua vệ tinh, chúng tôi có thể nhận diện một ‘sự cố’ và các kĩ sư của chúng tôi có thể tiến hành chuẩn đoán từ xa,” Rose nói. “Trong hoàn cảnh bình thường, sau khi một động cơ bị sét đánh bạn phải cho máy bay hạ xuống, gọi một kĩ sư, kiểm tra bằng mắt, và quyết định về bao nhiêu thiệt hại đã xảy ra và liệu chuyến bay có phải trễ để sửa.

    “Nhưng hãy nhớ, các hãng hàng không này không có nhiều thời gian thay đổi hoàn toàn. Nếu máy bay này bị trễ, bạn bỏ phi hành đoàn, bỏ dở vị trí để bay về nhà. Rất tốn. Chúng tôi có thể theo dõi và phân tích tính năng động cơ một cách tự động theo thời gian thực, với các kĩ sư của chúng tôi ra quyết định về chính xác cái gì cần phải làm vào thời gian máy bay đã hạ cánh. Và nếu chúng tôi có thể xác định bằng tất cả thông tin chúng tôi có về động cơ rằng không cần can thiệp nào hay thậm chí kiểm tra nào, thì máy bay có thể quay lại theo đúng lịch trình, và điều đó tiết kiệm thời gian và tiền cho các khách hàng của chúng tôi.”

    Các động cơ nói chuyện với các máy tính, nói chuyện với con người, nói chuyện lại với các động cơ, tiếp sau người nói chuyện với người – tất cả được làm từ bất cứ đâu đến bất cứ đâu. Đó là cái xảy ra khi tất cả các lực làm phẳng bắt đầu được tăng nạp bởi tất cả các steroid.

    Có nghe được tôi bây giờ không?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nên Chọn Đai Gen Nịt Bụng Giảm Mỡ Loại Nào Tốt Tại Siêu Thị Y Tế
  • Đai Nịt Bụng Tốt Nhất Cho Bà Mẹ Bận Rộn
  • Gen Nịt Bụng Latex Là Gì? Tổng Hợp Những Dòng Gen Nịt Bụng Latex Của Vietcorset
  • Đai Nịt Tan Mỡ Bụng Salua Hàn Quốc
  • Top 10 Gen Nịt Bụng Giảm Mỡ Tốt Nhất Hiện Nay
  • Web Drama Là Gì? Tại Sao Web Drama Lại Thu Hút Được Giới Trẻ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Dùng Hàm Mod Trong Excel Thông Qua Ví Dụ
  • [Hỏi Nhanh]Cổng Esata Là Gì Vậy?
  • Thuật Ngữ Trong Logistics Và Vận Tải Quốc Tế
  • Care Là Gì Trên Facebook?
  • Những Lý Do Bạn Nên Trải Qua Khóa Đào Tạo Chuyên Viên Iso
  • Có thể cụm từ drama đã không còn là điều xa lạ đối với cộng đồng mạng. Tuy nhiên, web drama lại là một cụm từ khá mới. Xuất hiện từ khoảng năm 2010, web drama đã nhận được rất nhiều sự yêu thích của cộng đồng mạng. Vậy web drama là gì?

    Nếu theo định nghĩa, drama được hiểu là một bộ môn nghệ thuật diễn xuất, có thể là kịch, tuồng ….

    Nhưng hiện nay, Drama gần như không còn được hiểu theo nghĩa gốc mà nó được sử dụng bằng rất nhiều nghĩa mở rộng khác.

    Web drama là một ví dụ.

    Vậy các bạn có biết web drama là gì không? Và tại sao web drama đang được rất cộng đồng mạng ưa chuộng?

    Web drama là gì?

    Với sự phát triển của mạng xã hội, những sản phẩm điện ảnh bây giờ không còn bị phụ thuộc vào đài truyền hình nữa.

    Các sản thước phim được đạo diễn thiết kế, đầu tư có thể đến với khán giả thông qua hệ thống mạng internet.

    Do vậy, ngày càng nhiều các web drama ra đời, phục vụ nhu cầu giải trí cho một lượng khán giả vô cùng lớn, đặc biệt là giới trẻ.

    Web drama hay còn gọi là phim chiếu mạng, đây là một dạng điện ảnh mới, không cần đến truyền hình truyền thống nữa.

    Tại sao web drama lại nở rộ?

    Tất nhiên, web drama nở rộ là do mạng lưới internet quá phổ biến và tiện lợi, tính truyền thông mạnh mẽ hơn rất nhiều so với hệ thống vô tuyến truyền hình cũ.

    Chỉ cần đưa những thước phim của bạn lên một trang web đơn giản như youtube và đợi vài phút, video của bạn đã được tiếp cận với hàng triệu người trong cả nước.

    Một lý do nữa là các nhà đạo diễn không muốn “đứa con tinh thần” của mình bị cắt xén thời gian chiếu cho phù hợp với thời gian của đài truyền hình nhà nước hoặc bị hoãn phát sóng …

    Họ cũng đã quá ngán ngẩm với việc làm các thủ tục hay quy trình mua bán tác phẩm với đài truyền hình vì tốn quá nhiều thời gian.

    Những tác phẩm web drama thường đánh vào giới trẻ. Do vậy, nội dung của các bộ phim này thường mang đậm yếu tố hài hước, gây cười.

    Cũng có những bộ phim kết hợp cả yếu tố hài hước cùng võ hiệp. Và tất nhiên, giới trẻ rất hào hứng đón nhận những sản phẩm thú vị này.

    Hiện nay, do sự thắt chặt về tính năng kiếm tiền từ video của các youtuber, do vậy, chất lượng của các video web drama càng ngày càng được các đơn vị sản xuất chú trọng.

    Vô hình chung, sự cạnh tranh trong sân chơi này càng ngày càng lớn.

    Như vậy, khán giả sẽ là đối tượng có lợi nhất khi sẽ được thưởng thức rất nhiều những video có đầu tư công phu và bài bản.

    Ngọc Tú, theo Thế Giới Trẻ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lương Fpt Không Còn Phù Hợp?
  • Phân Tích Ngành Công Nghiệp Dược Việt Nam
  • Phương Pháp Jcic Điều Trị Viêm Xoang Viêm Mũi Hiệu Quả Không
  • Kiểu Tóc Nhuộm Ombre Là Gì? Ưu Nhược Điểm Của Kiểu Nhuộm Này?
  • Sự Khác Nhau Của Phanh Cbs Và Phanh Abs Là Gì
  • Tin tức online tv