Nguồn Gốc Luận Thuyết Của “sứ Mệnh Khai Hóa”

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Dân Pháp Xâm Lược Việt Nam Là Khai Hóa Văn Minh
  • Cần Chính Xác Trong Cách Hiểu Về Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể
  • Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Truyền Thống
  • Thủ Tướng Phạm Văn Đồng Với Văn Hóa Dân Tộc
  • Cảm Nhận Của Em Về Bài “đức Tính Giản Dị Của Bác Hồ” Của Phạm Văn Đồng
  • Khái niệm “sứ mệnh khai hóa” được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật trước và sau cuộc Cách mạng Pháp 1789. Nhưng khái niệm này thực sự phát triển vào thế kỷ 19 cùng lúc với công cuộc khai thác thuộc địa để biện minh cho chính hành động thực dân. “Sứ mệnh khai hóa” được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học, chính trị gia, các thương nhân Pháp. Hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng “thực chứng” khoa học, họ đã khẳng định và thực thi “sứ mệnh” cao cả này như một bổn phận của những dân tộc văn minh thượng đẳng đưa những tộc người hèn kém hạ đẳng thoát ra khỏi man rợ. “Sứ mệnh khai hóa” là đặc trưng riêng biệt của chủ nghĩa thực dân Pháp mà các nhà lý luận thực dân Pháp đề cao để phân biệt với kiểu thực dân “con buôn” của Anh hay Hà Lan. Thuyết cứu thế Pháp

    Khái niệm sứ mệnh khai hóa phát triển vào thế kỷ 19 để biện minh cho hành động thực dân. Nó dựa trên thuyết cứu thế của Pháp với niềm xác tín rằng Pháp quốc có sứ mệnh truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và có nghĩa vụ giải thoát các tộc người khỏi những bạo ngược của thiên tai, bệnh tật, dốt nát và khỏi sự chuyên chế bằng cách đem lại cho họ kỹ thuật và y tế, giáo dục và một nền quản trị trong sạch. Như vậy, Pháp quốc sẽ biến đổi các tộc người cả về thể chất lẫn tinh thần. Thuyết cứu thế này có thể được định nghĩa là một loạt các huyền thuyết và ý tưởng chủ đạo, nó bao hàm và chi phối mạnh mẽ hoạt động văn hóa của Pháp trên thế giới. Đó là một thứ :

    Thuyết thế giới đại đồng, ăn sâu vào ý thức quốc gia, như một thứ nhu cầu kiến tạo, chấp thuận và tiếp nhận các hình thức song hành và tiếp nối những kỳ vọng của toàn nhân loại và đem lại lời đáp cho những kỳ vọng đó. . Những nhà tư tưởng tự do chỉ trích cách hành xử của đế chế và chất vấn về sự thượng đẳng của châu Âu với các dân tộc khác.

    Tại Pháp, một bước ngoặt đã xảy ra trong cuộc Cách mạng 1789: khái niệm tiến bộ xã hội được chính thức nhìn nhận như một tiến trình tự nhiên (Pitts 2005: 165‑173). Khái niệm ” văn minh ” được hiểu là những ” tiến bộ tập thể và độc đáo đưa nhân loại thoát ra khỏi tình trạng man rợ ” (Lafon 2001: 163). Trong cuốn Sơ thảo phác đồ lịch sử các tiến bộ nhân loại, Condorcet, triết gia và chính trị gia, đại diện tiêu biểu của tư tưởng Khai sáng, đã miêu tả chín nấc thang của quá trình tiến hóa của nhân loại: cấp thấp nhất là bộ tộc và cấp cao nhất là chính thể Cộng hòa Pháp. Những giá trị tinh thần mới của châu Âu được coi là những giá trị phổ quát cho toàn nhân loại. Sau khi tố cáo ” sự kỳ thị tàn bạo của chúng ta đối với những người mang màu da và tín ngưỡng khác “, Condorcet hình dung ra một tương lai mà ở đó:

    Thương điếm của những kẻ bất lương sẽ trở thành thuộc địa của những công dân, họ sẽ truyền bá sang tận châu Phi và châu Á những nguyên tắc và mẫu mực của tự do, tư tưởng ánh sáng và lý trí của châu Âu.

    Ông tiếp, người châu Âu sẽ tìm thấy ở những xứ sở này vô khối những tộc người đang ngồi chờ đợi từ chúng ta những phương tiện để được khai hóa, để tìm thấy ở những người anh em Âu châu những người bạn và môn đồ.

    Condorcet còn dự kiến tiêu diệt những tộc người quá xa cách hay quá hung bạo bằng hình thức diệt chủng hay đồng hóa.

    Tiêu trừ tối đa, đến mức chúng bị đẩy lùi bởi những dân tộc văn minh, chúng sẽ biến mất dần dần hoặc chính chúng tự lụi tàn trong cộng đồng của chúng. (Condorcet 1794: 261‑269)

    Để biện minh cho công cuộc thuộc địa bằng lập luận là những dân tộc khai sáng có nghĩa vụ khai hóa những tộc người bị rớt lại phía sau, Condorcet nêu ra những lý lẽ và luận chứng căn bản và làm nên định nghĩa của ” sứ mạng khai hóa “.

    Sứ mệnh kép ” này thể hiện một thứ đạo lý Cơ đốc giáo, như vậy, thuyết cứu thế của Pháp hãy còn giữ trong mình một thành tố tôn giáo.

    Là tộc người được Thượng đế lựa chọn để phục sự cho sự hoàn thiện của nhân loại, có ân nghĩa, sống trong đức tin và hy vọng, liệu đó có phải là cứu cánh cao cả nhất mà một dân tộc có thể làm được ? (Damiron 1834: 173)

    Damiron so sánh sứ mạng của tộc người văn minh với tộc người chậm tiến giống như sứ mệnh của con người với thiên nhiên, như thế này:

    So với thiên nhiên, văn minh quả thực lan tỏa ra từ chúng ta, chúng ta phải có nghĩa vụ đem lại văn minh cho nó, sao cho nó xứng là con người và giống con người. :

    Văn minh đang đẩy lùi mông muội. Một dân tộc khai sáng sẽ tìm đến một dân tộc khác đang chìm trong bóng đêm. Chúng ta là những người Hy Lạp của thế giới; chính chúng ta sẽ thắp sáng thế giới. Sứ mệnh của chúng ta đang hoàn thành, ta chỉ còn biết mừng ca. (Hugo, 1841: 113)

    Triết thuyết văn minh chống lại mông muội được tung hô như vậy, đến cả việc bãi bỏ chế độ nô lệ năm 1848 cũng bị lợi dụng vì mục đích khai hóa. Bởi lẽ những nhà tư tưởng thời đó tìm thấy trong việc bãi bỏ chế độ nô lệ lời biện minh cho hành động thực dân. Rằng, chúng tôi, dân tộc khai sáng đến với dân tộc thấp kém để giúp họ từ bỏ khai thác nô lệ. Điều không thể tránh khỏi là chúng tôi sẽ phải dùng đến bạo lực với những dân tộc đó. Và thế là, bãi bỏ chế độ nô lệ và tiến hành công cuộc thực dân xem ra là những minh chứng cho sự vĩ đại của nền văn minh Âu châu (Costantini 2008: 58-5)

    Những học giả ” lãnh sứ mệnh ”

    Vào nửa sau thế kỷ 19, lập luận đạo đức càng được củng cố bởi chủ nghĩa duy lý. Địa lý, sinh học, sinh lý học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và xã hội học đều được đem ra phụng sự cho sứ mệnh khai hóa.

    Đầu thế kỷ 19, sự phân loại chủng tộc được dựa vào ngành ngôn ngữ học thì đến những năm 1850, các học giả Pháp chuyển hướng: sự phân loại này bây giờ dựa vào sinh học (Blanckaert 2007: 137-171). Trường Nhân loại học Paris, dưới sự dẫn dắt của Paul Broca, đã định nghĩa ra ” hệ hình chủng tộc “, chia loài người thành các cấp bậc giống nòi. Khái niệm này là sự kết nối giữa thuyết tiến hóa của những nhà triết học Khai sáng – sự tiến bộ sẽ đưa người mông muội trở thành người văn minh, với thuyết biến hình của Lamarck và Darwin – phân loại các sinh vật theo trục tiến hóa (Reynaud-Paligot 2006: 103-110). Khái niệm giống nòi thượng đẳng và hạ đẳng được cổ súy qua vô vàn các công trình pha trộn giữa giai thoại sử học, quan sát dân tộc học và đo lường nhân trắc học. Thử đơn cử nhận xét về loài người của Gustave Le Bon, bác sỹ, nhà nhân chủng học, tâm lý học và xã hội học, đại diện tinh túy của trí tuệ Pháp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Một bài báo khoa học của ông nghiên cứu mối liên hệ giữa kích thước của não và trí thông minh thế này: ở trên cao là những giống nòi thượng đẳng như các nhà bác học hay dân tư sản Paris, và dưới thấp là giống nòi hạ đẳng như người giúp việc, nông dân, và phụ nữ cũng nằm trong số này! Nhóm hạ đẳng này ” đại diện cho những hình thái thấp kém nhất trong sự tiến hóa của nhân loại, nó gần với trẻ con và người hoang dã hơn là với người văn minh ” ! (Le Bon 1879: 27). Các kiểu nghiên cứu này dẫn đến ” sự súc vật hóa những giống nòi hạ đẳng ” và ” một điểm nhìn bi quan về khả năng tiến hóa đến văn minh của họ ” (Reynaud-Paligot 2006: 103-110).

    Từ những năm 1870, thứ cố định luận về nòi giống loài người này được tiết chế bớt bởi thuyết Tân Lamarck. Thuyết này dựa trên ảnh hưởng trực tiếp của môi trường sống đến những biến phân tiến hóa và dựa vào sự di truyền đến thế hệ sau các đặc tính đã được định hình ở mỗi cá nhân dưới áp lực của môi trường (Loison 2008: 3-8). Một trong những nhà Tân Lamarck đầu tiên là Jean-Louis de Lanessan, có uy tín trong giới học thuật (bác sỹ và nhà vạn vật học) và chính trường Pháp (Toàn quyền Đông Dương (1891-1894) và Bộ trưởng bộ Hải quân (1899-1902). Ông viết rằng ” một người cha bị giang mai có thể di truyền bệnh lý này ở một cường độ mà chính đứa con cũng dễ mắc phải hoặc di chứng từ đó ” (Lanessan 1883: 224). Thuyết Tân Lamarck ảnh hưởng một cách quyết định đến tư tưởng của chế độ cộng hòa và còn kéo dài đến tận những năm 1950 (Grimoult 2000: 40). Người ta cho rằng nhờ cải thiện điều kiện sống (vệ sinh, y tế, sức khỏe sinh sản…), nhờ giáo dục và nhờ việc định hình các thói quen cần thiết để thụ đắc các đặc tính lành mạnh thì chúng ta có thể cải thiện được các giống người.

    Văn minh dường như tác động đến con người như một tác nhân cải biến, nó tương đồng với sự thuần dưỡng tác động lên động vật. (Lanessan 1883: 250)

    Những nhà Tân Lamarck như Alfred Giard đều dấn thân vào con đường chính trị để chuyên tâm vào sự nghiệp cải cách xã hội. Thuyết Tân Lamarck đã tìm thấy tính ứng dụng cũng như tác dụng của mình trong sứ mệnh khai hóa, vì sứ mệnh này kết hợp giữa tiến bộ vật chất và tinh thần và mang mục đích ” cải thiện ” giống nòi hạ đẳng. Paul Bert, Thống sứ Trung kỳ và Bắc kỳ (1886) và Lanessan, Toàn quyền Đông Dương (1891-1894), tiến hành thực hiện sứ mạng khai hóa với mục đích cải tổ xã hội.

    Ngược lại, một vài nhà khoa học như Gustave Le Bon, Jules Harmand vẫn giữ quan điểm cố định luận về giống nòi. Léopold de Saussure mỉa mai :

    Những quan điểm đối lập nhau này được đem ra tranh luận tại các kỳ Đại hội Thuộc địa từ 1889 đến 1900 (Léon 1991: 45-48). Khái niệm ” sứ mệnh khai hóa ” tìm được đất phát triển thông qua các hiệp hội học giả từ những năm 1870 trở đi (Conklin 1997: 11-13). Những hiệp hội này ” xây dựng và phổ biến một điểm nhìn nhất định nào đó của Chính quốc và Đế chế ” thông qua hoạt động ấn bản mạnh mẽ và mạng lưới giao thoa giữa khoa học, chính trị và kinh tế (Singaravelou 2006: 69). Thành viên các hiệp hội là những nhà khoa học, giảng viên, nhà báo, nhà chính trị, quan chức cao cấp, quân nhân, nhà ngoại giao, nhà thám hiểm, thương nhân. Bản thân một người có thể kiêm nhiệm nhiều vai trò khác nhau. Chẳng hạn, Paul Bert là bác sỹ, nhà sinh lý học và chính trị gia. Với tư cách là thành viên của Hội Dân tộc học Paris, ông truyền bá các luận thuyết về giống nòi trong sách giáo khoa (Reynaud-Paligot 2006: 140). Là chính trị gia, ông được điều phái đến Đông Dương làm quan chức thuộc địa. Rất nhiều các hiệp hội như vậy, được thành lập ngay tại các xứ thuộc địa, trở thành ” phương cách tốt nhất để chinh phục người bản xứ, để làm cho các mối quan hệ xã hội và giao thương thuận tiện hơn với họ, để mở rộng giống nòi Pháp vươn xa ra ngoài biển cả bằng cách sát nhập trong hòa bình, vì nó tăng trưởng quá chậm chạp tại lục địa. (Alliance française 1884: 7) nơi tiếp vận và mắt xích trong bộ máy hành chính thuộc địa hơn là những tổ chức học giả uyên bác độc lập ” (Singaravelou 2006: 67). Các hội địa dư tham gia rất tích cực vào công cuộc bành trướng thuộc địa. Bành trướng thuộc địa lúc này được coi là cần thiết cho những lợi ích kinh tế và nhân khẩu của nước Pháp và đem lại những lãnh thổ mới cho việc hiện thực hóa sứ mệnh khai hóa. Hội Địa dư Thương mại Paris, ” được thành lập để phục vụ cho sự phát triển của các công ty thương mại của Pháp quốc ở mọi góc của Địa cầu “. Hội xuất bản tạp chí L’Exploration, mang phụ đề ” Tờ báo của những cuộc chinh phục văn minh trên mọi chốn của Địa cầu “. Năm 1880, nhà địa dư Onésime Reclus phát minh ra khái niệm ” cộng đồng Pháp ngữ ” ( francophonie). Việc coi tiếng Pháp như là ” vũ khí tuyệt vời nhất của nền Cộng hòa “. Ngay từ buổi ra đời, chương trình học ở đây nhận định rằng làm cho ” biết và yêu ” tiếng Pháp có thể là

    Bìa một cuốn sách tư liệu về hành trình khai hóa thuộc địa của Pháp được xuất bản bởi Palgrave Macmillan năm 1996.

    Bổn phận khai hóa

    Sứ mệnh khai hóa ở cuối thế kỷ 19 được coi như là một trong những nền tảng trụ cột của công cuộc thực dân Pháp. Đối với người Pháp thời đó, thực dân ” khai hóa ” của Pháp khác hẳn với thực dân ” con buôn ” của Anh hay Hà Lan. Lập luận khai hóa này cũng giúp cho người Pháp phản bác lại sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc bình đẳng, tự do bắt nguồn từ Cách mạng Pháp với sự phục tùng của các dân tộc bị trị. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện về nền móng của chính sách thuộc địa, Jules Ferry, người đề xướng công cuộc thực dân ” khai hóa “, viết năm 1931 rằng đối lập với ” giáo lý khắt khe mặc định sự hạ đẳng vĩnh viễn của một vài giống nòi “, sứ mạng khai hóa của Pháp ” nặn đắp nên, một cách kiên trì, diện mạo của một giống người mới ” trong ” thứ đất sét vô dạng của vô vàn những nhân tố nguyên thủy ” (Sarraut 1931: 155). Sứ mạng này giúp nền Cộng hòa Pháp thoát khỏi cuộc tranh luận cũ kỹ về cuộc xâm chiếm thuộc địa và sự hung bạo của nó. Nếu sự nghiệp thuộc địa được thai nghén trong ” sự đau đớn của kẻ bị trị và kẻ thống trị ” thì đó là vì nó nhắm đến ” lợi ích chung của toàn nhân loại cùng được hưởng lợi thành quả ” (Sarraut 1931: 237). Ngoài những lợi ích cho kẻ bị trị, công cuộc thuộc địa ” đã chuẩn bị sự thống nhất của thế giới, nền tảng của sự đại đoàn kết của gia đình nhân loại ” (Sarraut 1931: 235).

    Trong khi giáo dục đại diện khía cạnh tinh thần của sứ mệnh khai hóa thì y tế (vệ sinh, tiêm chủng…), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, đường sắt, thủy lợi…) và an ninh (chống trộm cắp, sự bành trướng của những nước láng giềng) là khía cạnh vật chất. Thực ra, mối liên hệ giữa giáo dục và thuộc địa, hai công trình trọng điểm của nền Đệ Tam Cộng hòa, không hề là ngẫu nhiên. Jules Ferry cùng lúc thực hiện các cải cách giáo dục nhân danh bình đẳng về quyền và công cuộc thuộc địa nhân danh ” nghĩa vụ cao cả khai hóa ” (Ferry 1893: 287).

    Khi đảng cộng hòa nắm trong tay chính phủ và trách nhiệm trước quốc sự khẳng định:

    Chính nhà trường sẽ tạo nên ảnh hưởng lớn đến việc đồng hóa những nhân tố ngoại quốc vào nhân tố Pháp, chính nhà trường sẽ phải truyền bá ngôn ngữ và tư tưởng của chúng ta. (1882: 367)

    Ông than phiền việc ” nước Pháp đã không thực hiện nghĩa vụ của mình với các tộc người Ả rập ” vì ” nước Pháp chẳng làm gì cho sự nghiệp giáo dục họ ” (Leroy-Beaulieu 1882: 373). Thầy dòng Pierre Auguste Raboisson đánh giá rằng:

    Thuộc địa đích thực phải có một thứ giáo dục trí tuệ và tinh thần để truyền bá cho dân bản địa tinh thần và linh hồn của chính quốc. Nó phải nắm giữ một hành động thực tiễn, hiệu quả và lâu dài để thể hiện sự cao cả của đế quốc. (Raboisson 1877: 18)

    Khi đến Bắc kỳ vào năm 1886 nhậm chức Thống sứ Bắc và Trung kỳ, Paul Bert tuyên bố đến dân bị trị:

    Giống như người Trung Hoa trước kia đã cải thiện hiện trạng xã hội của các người bằng cách đem văn minh đến, khai tâm các người qua vị trí nước lập pháp, thì người Pháp cũng vậy, người Pháp hôm nay đến nhà các người để cải thiện nền nông nghiệp, công nghiệp và kinh tế, và còn để nâng cao dân trí thông qua giáo dưỡng. (1946: 121)

    Chúng ta có thể dẫn chứng ra vô khối những ví dụ của thể loại diễn văn này, chúng mô tả làm thế nào mà ” hình ảnh truyền thống của nước Pháp nhân nghĩa ” đang nỗ lực thực hiện để đem lại ” sự hài hòa giữa mục tiêu tinh thần và sự kiếm tìm phồn thịnh vật chất ” (Pasquier 1931: 7). Số lượng trường lớp và học sinh tăng lên được đưa lên hàng đầu như khẩu hiệu tuyên truyền. Chương ” Giáo dục ” cho cuốn vựng tập giới thiệu Đông Dương trong cuộc Triển lãm thuộc địa 1931 bắt đầu bằng những dòng này:

    Khi đi thăm thú một trong những thành phố lớn của Đông Dương, chúng ta không thể không bất ngờ vì số lượng và tầm quan trọng của các trường học nơi đây. (Commissariat Général à l’Exposition coloniale internationale de Paris 1931 : 136)

    Tuy nhiên, giáo dục chỉ là công cụ phục vụ cho những mục đích chính trị và kinh tế của công cuộc thuộc địa. Đối với những quan chức thuộc địa, từ Éliacin Luro đã định nghĩa như thế này vào năm 1917 :

    Chúng ta cũng muốn nắm giữ đến tận con tim của người bản xứ và xóa bỏ mọi hiểu nhầm giữa họ và ta […] Đề cao xứ sở của họ, giúp họ gắn bó với sự nghiệp của chúng ta, đó là mục đích của cuộc chinh phục tinh thần. Cuộc chinh phục này lâu hơn và sáng láng hơn cuộc trước, nhưng cũng phong phú và đáng ngợi ca. Công cụ để thực hiện không thể là gì khác ngoài trường học. (Hardy 1917:12)

    Ngoài chinh phục trái tim, sự nghiệp thuộc địa cũng có những nhu cầu thiết thân khác, như : khai thác đất đai thì cần đến nhân công bản địa, phải đào tạo họ những kỹ thuật của Tây phương. Những nhu cầu này cấp thiết ở Đông Dương vì số lượng kiều dân Pháp đi khai thác thuộc địa rất ít. Khai thác thuộc địa dẫu gì cũng là công cuộc tốn kém, cần phải biện minh trong mắt công luận, nhất là ở chính quốc, cái giá phải trả. Năm 1885, trong một cuộc tranh luận ở Nghị viện, Jules Ferry nêu lên ba cơ sở nền tảng chính sách thuộc địa của ông : mục tiêu thứ nhất là kinh tế (tìm ra thị trường tiêu thụ), tiếp đến là mục tiêu khai hóa, sau cùng là mục tiêu chính trị (tranh đua với Anh quốc để duy trì sự hiện diện của hải quân Pháp…). Sứ mệnh khai hóa thực chất chỉ chiếm 4 trên tổng số 60 trang trong cuộc tranh luận này (Ferry 1885: 199-220). Năm năm sau, 1890, ông khẳng định lần nữa ” chính sách thuộc địa là con đẻ của chính sách công nghiệp ” (Ferry 1890: 40).

    Thay lời kết : hợp tác hay đồng hóa ?

    ” Sứ mệnh khai hóa ” được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật, được chắp bút hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học và chính trị gia. Và họ, hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng ” thực chứng ” khoa học, thành tâm và nhiệt thành tin tưởng ở ” sứ mệnh ” cao cả này.

    Tuy nhiên, có những nhân vật, như Jules Harmand không tin vào sứ mệnh khai hóa, bằng những lý lẽ thẳng thừng :

    Tốt hơn hết là hãy cố mà điều chỉnh các hành động của chúng ta sao cho phù hợp với hoàn cảnh thống trị, sự thống trị bằng chinh phục này bản thân nó đã không dân chủ, và đừng có lạm dụng những trò đạo đức giả nhỏ mọn và cả những trò ” bịp bợm về văn minh ” vì nó chẳng đánh lừa được ai sất. Hãy cố mà tìm cách biện minh cho sự thống trị vì lợi ích chung của cả kẻ thống trị và bị trị. (Harmand 1910: 12)

    Những thực tế trên địa hạt Đông Dương khiến cho nhà cầm quyền thuộc địa phải hiện thực hóa và cụ thể hóa sứ mạng này trên phương diện giáo dục bằng hai mô hình đồng hóa và hợp tác trong công cuộc chinh phục con tim dân bản xứ. Đồng hóa nhằm Pháp hóa con dân bị trị để đưa họ đến gần với văn minh. Ví dụ, dân Nam kỳ ” hiền lành, ôn hòa và dễ dàng cai trị ” thì dễ đồng hóa và sớm trở thành những người Pháp thứ thiệt ! (Dubois de Jancigny 1850: 579) Nhưng một hiểm họa và ám ảnh rình rập người Pháp, đó là đến thời điểm nào đó, dân bản xứ, sau một quá trình ” tiến hóa ” sẽ đỏi hỏi bình đẳng với kẻ đi chinh phục. Hợp tác thực chất là một ” khế ước “, theo Jules Harmand, giữa kẻ thống trị và bị trị. Thay vì san phẳng truyền thống, văn hóa hay ngôn ngữ bản địa, kẻ chinh phục phải tôn trọng nền văn minh lâu đời ” độc đáo và khá phát triển ” của các dân tộc Đông Dương, và chỉ nên giáo dục họ đủ để họ thoát ra khỏi tình trạng ” trì trệ ” (1910: 159). Kẻ bị trị phải chấp nhận sự thống trị thực dân, bù vào họ được hưởng những lợi ích (trật tự xã hội, tiến bộ kỹ nghệ, an ninh, giáo dục, y tế…). Vì thế, vẫn nên hiểu sự hợp tác phải hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đô hộ.

    Hiển nhiên là sứ mệnh khai hóa này mâu thuẫn trực tiếp với lợi ích thống trị, vì lẽ, về bản chất nó mâu thuẫn với chính Tuyên ngôn Nhân quyền và nó cũng phản ánh tính hai mặt của tư tưởng Khai sáng. Các nhà Khai sáng tin tưởng rằng con người sẽ tự tìm ra cho mình sự giải thoát và đấng cứu tinh thay vì ngồi chờ đợi Chúa và Thiên hựu. Họ đề cao lẽ phải và tuyên ngôn các lý tưởng cao đẹp như bình đẳng, bác ái nhưng hành động thực hiện không hẳn tương ứng với tuyên ngôn. Quân đội của Napoléon Đệ Nhất xâm chiếm Tây Ban Nha, Ai Cập, Ý hay Áo bằng chiến tranh, bạo lực, trấn áp nhưng vẫn giương cao ngọn cờ phần phật những lý tưởng Khai sáng và tuyên ngôn Cách mạng Pháp 1789. Nhưng công luận và trí thức Pháp chỉ thất vọng về mặt trái của Khai sáng khoảng 30 đến 40 năm sau khi những sự kiện này diễn ra, như những gì Stendhal mô tả trong các tác phẩm của ông.

    Để giết người thì nhân danh nhân quyền cũng như nhân danh Chúa đều dễ như nhau !(Todorov 2011)

    Jules Harmand đã cảnh báo giáo dục chính là ” con dao hai lưỡi cầm vào rất nguy hiểm, thậm chí mũi dao đã bị tẩm độc ” (1910: 258). Thực tế chứng minh, nhiều thập niên sau, giáo dục thuộc địa đã giúp hình thành nên giới trí thức tinh hoa bản xứ. Tiếp thu trực tiếp tư tưởng văn minh và khai sáng đích thực của Âu châu, giới tinh hoa này đối thoại và chất vấn với chính quyền thuộc địa tại chính quốc hay ở các xứ thuộc địa. Cùng với quần chúng, họ lật đổ và xóa bỏ chủ nghĩa thực dân, nhưng bằng những phương cách rất khác nhau.

    Thời đại chúng ta sống, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, đang chứng kiến một thứ thuyết cứu thế kiểu mới, như triết gia và nhà phê bình văn học Tzvetan Todorov phát biểu chống lại cuộc chiến ở Libye: ” Từ 20 năm trở lại đây, chúng ta bị cuốn vào một đòn bẩy cứu thế với niềm tin rằng chúng ta có thể mang lại dân chủ và nhân quyền bằng vũ lực! ” (Todorov 2011).

    Không lẽ lịch sử là một vòng xoáy chôn ốc kiểu này?

    Tài liệu trích dẫn

    Alliance française.1884. ” Programme de l’Alliance Française. ” Bulletin de l’Alliance Française 1: 7.

    Bert Paul. 1946. ” Discours du 2 avril 1886 ” Trang 121 trong sách L’Indochine française, chủ biên Henry Marc et Pierre Cony. Paris: Editions France-Empire.

    Bezancon Pascale. 2002. Une colonisation éducatrice ? L’expérience indochinoise (1860-1945). Paris : L’Harmattan.

    Blanckaert Claude. 2007. ” Un fil d’Ariane dans le labyrinthe des origines? ” Revue d’Histoire des Sciences Humaines Vol. 17-2: 137‑171.

    Blum Léon. 1984. ” Discours à la Chambre des députés, le 9 juillet 1925. ” Trang 370 trong sách Empire colonial et capitalisme français, Jacques Marseille (ed.). Paris: Albin Michel.

    Commissariat Général à l’Exposition coloniale internationale de Paris. 1931. Indochine, Documents officiels. Paris: Société d’Editions Géographiques, Maritimes et Coloniales.

    Condorcet Nicolas de. 1794. Esquisse d’un tableau historique des progrès de l’esprit humain, suivie de réflexions sur l’esclavage des nègres. Paris: Masson et Fils (1822).

    Conklin Alice L. 1997. A Mission to Civilize: the Republican Idea of Empire in France and West Africa, 1895-1930. Palo Alto: Stanford University Press.

    Costantini Dino. 2008. Mission civilisatrice. Le rôle de l’histoire coloniale dans la construction de l’identité politique française. Paris: Editions La Découverte.

    Damiron Jean-Philibert. 1834. Cours de philosophie, par M. Ph. Damiron. Deuxième partie. Morale. Paris: Librairie Hachette.

    Daumalin Xavier. 2008. ” La doctrine coloniale africaine de Paul Leroy-Beaulieu (1870-1916) : essai d’analyse thématique ” Trang 103‑120 trong sách L’esprit économique impérial, chủ biên Hubert Bonin, Catherine Hodeir et Jean-François Klein, Saint-Denis: SFHOM.

    Dorigny Marcel. 2008. ” Anti-esclavagisme, abolitionisme et abolitions en France de la fin du XVIIIe siècle aux années 1840. ” Trang 68-69 trong sách Culture coloniale française, chủ biên Pascal BLANCHARD, Sandrine LEMAIRE et Nicolas BANCEL. Paris : CNRS Editions.

    Dubois de Jancigny Adolphe. 1850. L’Univers. Japon, Indo-Chine, Empire birman (ou Ava), Siam, Annam (ou Cochinchine), Péninsule malaise, etc., Ceylan. Paris: Firmin-Didot frères.

    Dumoutier Gustave. 1887. Les débuts de l’enseignement français au Tonkin. Hanoi: Imprimerie Schneider.

    Ferry Jules. 1893. ” Les fondements de la politique coloniale, Discours prononcé à la Chambre des députés le 28 juillet 1885. ” Trang 210‑211 trong sách Discours et Opinions de Jules Ferry, Paul Robiquet (ed.). Paris: Armand Colin et Cie.

    Ferry Jules, 1890. Le Tonkin et la mère-patrie : témoignages et documents. Paris : Victor-Havard Éditeur.

    Ferry Jules. 1893. ” Discours sur l’égalité d’éducation, prononcé à Paris, à la salle Molière, le 10 avril 1870. ” Trang 287 trong sách Discours et Opinions de Jules Ferry, Paul Robiquet (ed.). Paris: Armand Colin et Cie.

    Grimoult Cédric. 2000. Histoire de l’évolutionnisme contemporain en France, 1945-1995. Genève: Librairie Droz.

    Hardy Georges. 1917. La conquête morale : l’enseignement en A.O.F., Paris: L’Harmattan (2005).

    Harmand Jules. 1910. Domination et colonisation. Paris: Ernest Flammarion.

    Hugo Victor. 1841. Choses vues: souvenirs, journaux, cahiers, 1830-1885. Paris: Gallimard (2002).

    Lanessan Jean-Louis de. 1883. Le transformisme : évolution de la matière et des êtres vivants. Paris: O. Doin.

    Le Bon Gustave. 1879. ” Recherches anatomiques et mathématiques sur les lois de variations du volume du cerveau et du crâne. ” Revue d’Anthropologie 2: 27‑104.

    Leon Antoine. 1991. Colonisation, enseignement et éducation. Paris: L’Harmattan.

    Leroy-Beaulieu Paul. 1882. De la colonisation chez les peuples modernes, 2e éd. Paris: Guillaumin et Cie.

    Loison Laurent. 2008. Les notions de plasticité et d’hérédité chez les néolamarckiens français (1879 – 1946), Eléments pour une histoire du transformisme en France, Thèse d’histoire, Université de Nantes.

    Milza Pierre. 1980. ” Culture et relations internationales. ” Relations internationales 24: 361‑379.

    Nguyễn Ái Quốc. 1925. Procès de la Colonisation française. Paris: Librairie du Travail.

    Nguyễn Thế Anh. 2004. ” Mission civilisatrice (civilizing mission). ” Trang 899-900 trong sách Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, From Angkor Wat to East Timor, Ooi Keat Gin (ed.). ABC-CLIO.

    Pasquier Pierre. 1931. Discours prononcé par Monsieur Pierre Pasquier, Gouverneur Général de l’Indochine à l’ouverture de la Session du Conseil de Gouvernement du 8 Décembre 1931. Saigon: Imprimerie de la Dépêche, Conseil de Gouvernement de l’Indochine.

    Pitts Jennifer. 2005. A turn to empire: the rise of imperial liberalism in Britain and France. Princeton : Princeton University Press.

    Raboisson Pierre Auguste. 1877. Etude sur les colonies et la colonisation au regard de la France. Paris: Challamel Aîné.

    Reynaud-Paligot Carole. 2006. ” Usages coloniaux des représentations raciales (1880-1930) ” Cahiers d’histoire. Revue d’histoire critique 99: 103‑110.

    Reynaud-Paligot Carole. 2006. La république raciale: paradigme racial et idéologie républicaine (1860-1930). Paris: Presses universitaires de France.

    Rosenberg Clifford. 2002. ” Albert Sarraut and Republican racial thought. ” French Politics, Culture and Society 20: 97.

    Salon Albert. 1978. Vocabulaire critique des relations internationales dans les domaines culturel, scientifique et de la coopération technique. Paris: Maison du Dictionnaire.Lafon Jacques. 2001. Itinéraires de l’histoire du droit à la diplomatie culturelle et à l’histoire coloniale. Paris: Publications de la Sorbonne.

    Salon Albert. 1983. L’Action culturelle de la France dans le monde. Paris : F. Nathan.

    Sarraut Albert. 1931. Grandeur et servitude coloniale. Paris: Editions du Sagittaire.

    Saussure Léopold de. 1899. Psychologie de la colonisation française: dans ses rapports avec les sociétés indigènes. Paris: Félix Alcan.

    Say Jean-Baptiste. 1826. Traité d’économie politique, 5e éd. Paris: Rabilly Libraire.

    Singaravelou Pierre. 2006. ” Aux origines coloniales de la francophonie : le rôle pionnier des associations et des sociétés savantes. ” Trang 69 trong sách Les associations dans la francophonie, Sylvie Guillaume (ed.). Pessac: Maison des Sciences de l’Homme d’Aquitaine.

    Société de géographie commerciale. 1876. ” Statuts “, L’Exploration 1: 1.

    Tzvetan Todorov. 2011. ” Il est tout aussi facile de tuer au nom des droits de l’homme qu’au nom de Dieu ! ” ( http://www.lepoint.fr/grands-entretiens/tzvetan-todorov-il-est-tout-aussi-facile-de-tuer-au-nom-des-droits-de-l-homme-qu-au-nom-de-dieu-15-04-2011-1319970_326.php). Truy cập tháng 2/2017.

    Verdo Geneviève. 2010. “Un empire libéral. La vie des idées ( http://www.laviedesidees.fr). Truy cập tháng 9 năm 2010.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Hoa Văn Đặc Trưng Của Mỗi Quốc Gia
  • Tản Mạn Chút Về Văn Hoá Xếp Hàng
  • Nét Đẹp Văn Hóa Xếp Hàng Của Người Nhật
  • Văn Hóa Xếp Hàng Và Ý Nghĩa
  • Văn Hóa Tổ Chức Ở Cấp Độ Trường Đại Học
  • Biện Chứng, Phép Biện Chứng Là Gì? Siêu Hình? 2 Nguyên Lý, 3 Quy Luật Và 6 Cặp Phàm Trù Trong Triết Học Duy Vật Biện Chứng Cần Nắm

    --- Bài mới hơn ---

  • Siêu Hình Học Là Gì ?
  • Siêu Hình Học: Từ Lịch Sử Đến Hiện Tại
  • Phân Tích Sự Đối Lập Giữa Phương Pháp Siêu Hình Và Phương Pháp Biện Chứng Cau 2 Doc
  • Các Thuật Ngữ Về Sneaker Mà Bất Cứ Sneakerhead Nào Cũng Phải Biết
  • Dành Cho Fan Hâm Mộ Giày Thể Thao: Thuật Ngữ Sneaker, Cih Là Gì Cùng Từ Điển Về Các Đầu Giày?
  • Nhiều dạng khác nhau của biện chứng nổi lên ở phương Đông và phương Tây theo những thời kỳ lịch sử khác nhau (biện chứng chất phát – tự phát, duy tâm, duy vật).

    CÁC GIAI ĐOẠN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG

    Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao. Biện chứng là một lý thuyết cho rằng một cái gì đó – cụ thể hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng:

    1. Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế thường sẽ tạo ra cái đối lập, do là, giống như hầu hết các sự vật tồn tại trên trời đất, có lẽ nó sẽ có giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếu;

    2. Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là “phản đề”, bởi vì nó nhằm phản lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa chính đề và phản đề diễn ra cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó mà, theo một nghĩa nhất định, vượt lên trên cả chính đề và phản đề do nó phát hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do nó cố gằng bảo tồn các tinh hoa và tránh các hạn chế của cả hai;

    3. Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là “hợp đề”. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra được một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ thứ ba khi một hợp đề thứ hai đạt được.

    PHÂN BIỆT PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP SIÊU HÌNH

    Biện chứng: là phương pháp xem xét những sự vật hiện tượng và những phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của chúng, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng.

    Siêu hình: là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không vận động, tách rời cô lập và tách biệt nhau. Cách xem xét này cho ta nhìn thấy sự tồn tại của sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương đối, nhưng nếu tuyệt đối hóa phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.

    I/ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản:

    1) Cái chung và cái riêng

    2) Bản chất và hiện tượng

    3) Nội dung và hình thứcBiện chứng, phép biện chứng là gì? siêu hình? 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phàm trù trong triết học duy vật biện chứng…

    4) Nguyên nhân và kết quả

    5) Khả năng và hiện thực

    6) Tất nhiên và ngẫu nhiên

    Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa vào 3 tính chất cơ bản (tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú) theo không gian và thời gian cụ thể.

    II/ Nguyên lý về sự phát triển: là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản:

    1) Quy luật mâu thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển

    2) Quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển

    3) Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.

    Vậy kết lại, không nên xem sự vật đứng im một cách cứng nhắc mà luôn vận động và phát triển, trong quá trình này, chúng luôn tự đấu tranh phủ định lẫn nhau, từ đó cái mới ra đời tốt hơn cái cũ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Thuật Ngữ Anh Văn Sinh Học
  • Soạn Bài Thuật Ngữ Trang 89 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Những Sai Lầm Tai Hại Trong Cách Viết Lyric Một Bài Rap
  • Thuật Ngữ Rượu Vang Thông Dụng
  • Các Thuật Ngữ Hay Sử Dụng Trong Ngành Rượu Vang
  • Định Nghĩa Bill Miller / Bill Miller Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Bill Of Materials – Bom / Hóa Đơn Nguyên Vật Liệu Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill Of Sale / Hóa Đơn Bán Hàng Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill Presentment / Xuất Trình Hóa Đơn Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill-And-Hold Basis / Cơ Sở Bán Và Giữ Là Gì?
  • Định Nghĩa Billions Of Cubic Feet Equivalent – Bcfe / Tương Đương Với Hàng Tỷ Feet Khối Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Ông là Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Legg Mason Capital Management, một công ty quản lý đầu tư với hơn 60 tỷ đô la thuộc quyền quản lý. Bill Miller tích cực quản lý quỹ tương hỗ Legg Mason Value Trust, có lịch sử lâu dài vượt trội so với điểm chuẩn S & P 500. Bill tốt nghiệp từ các trường đại học Washington và Lee năm 1972 và từng thực hiện một nhiệm vụ trong tình báo quân đội Hoa Kỳ.

    Giải thích

    Với sự quan tâm mạnh mẽ đến triết học, Bill được biết đến rộng rãi với một số câu trích dẫn nổi tiếng, như: “Chi phí trung bình thấp nhất luôn thắng”. Quỹ mà ông quản lý vượt trội hơn so với S & P mỗi năm từ năm 1991 đến năm 2005. Lợi nhuận 10 năm của nó cuối cùng đã tụt lại phía sau chỉ số vào ngày 30 tháng 6 năm 2008.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Bill Auction / Cuộc Đấu Giá Hóa Đơn Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill Announcement / Thông Báo Hóa Đơn Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill And Melinda Gates / Bill And Melinda Gates Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill And Hold / Hóa Đơn Và Giữ Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilbao Stock Exchange (Bil) .bi / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Bilbao (Bil).bi Là Gì?
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Và Chủ Nghĩa Duy Tâm Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ytd Là Gì ? Khám Phá Nghĩa Của Ytd Với Những Nghĩa Khác Nhau Thú Vị
  • Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm (Ivf) Là Gì? Được Chỉ Định Trong Trường Hợp Nào?
  • Share Có Nghĩa Là Gì?
  • It Là Gì? Công Việc Ngành It Là Gì?
  • Order Là Gì? Hàng Order Là Hàng Gì?
  • Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học gắn liền với việc phân chia các học thuyết triết học thành hai tr­ờng phái triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.

    a. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có tr­ớc, ý thức có sau; thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con ng­ời và không do ai sáng tạo ra; còn ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con ng­ười; không thể có tinh thần, ý thức nếu không có vật chất.

    Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và cho đến nay, lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, tồn tại d­ới nhiều hình thức khác nhau.

    + Chủ nghĩa duy vật cổ đại mang tính chất phác, ngây thơ, xuất phát từ giới tự nhiên để giải thích thế giới. Hạn chế của nó là còn mang tính trực quan, trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất đã đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể. Ví dụ nh­ quan niệm của Talét, Hêraclit, Đêmôcrit…

    + Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII: Do ảnh h­ởng của Cơ học cổ điển nên chủ nghĩa duy vật thời kỳ này chịu sự tác động mạnh mẽ của ph­ơng pháp t­ duy siêu hình, máy móc – ph­ơng pháp nhìn nhận thế giới trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại. Tuy không phản ánh đúng hiện thực, nh­ng CNDV siêu hình vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo. Ví dụ nh­ quan niệm của Niutơn, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII.

    + Chủ nghĩa duy vật biện chứng do C. Mác và Ph. Ăngghen sáng lập vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó đ­ợc V.I. Lênin tiếp tục phát triển. Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học tr­ớc đó và vận dụng các thành tựu của khoa học đ­ơng thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục đ­ợc những hạn chế của chủ nghĩa duy vật tr­ớc đó, thể hiện là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật. Nó không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực l­ợng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực ấy.

    b. Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức, tinh thần có tr­ớc và quyết định giới tự nhiên. Giới tự nhiên chỉ là một dạng tồn tại khác của tinh thần, ý thức.

    Chủ nghĩa duy tâm đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại với hai hình thức chủ yếu là:

    + Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của cảm giác, ý thức con ng­ời, khẳng định mọi sự vật, hiện t­ợng chỉ là phức hợp những cảm giác của cá nhân, của chủ thể. Ví dụ quan niệm của Beccơly.

    + Chủ nghĩa duy tâm khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức, nh­ng đó không phải là ý thức cá nhân mà là tinh thần khách quan có tr­ớc và tồn tại độc lập với con ng­ời, quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và t­ duy. Nó th­ờng đ­ợc mang những tên gọi khác nhau nh­ ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần tuyệt đối hay lý tính thế giới.Ví dụ quan niệm của Platon, Hêghen.

    Cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều có nguồn gốc xã hội và nguồn gốc nhận thức. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực l­ợng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng; nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với khoa học. Còn nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là các lực l­ợng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ; nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức (mặt hình thức), tách nhận thức, ý thức khỏi thế giới vật chất.

    Trong lịch sử triết học luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, tạo nên động lực bên trong cho sự phát triển của t­ duy triết học. Đồng thời, nó biểu hiện cuộc đấu tranh về hệ t­ t­ởng giữa các giai cấp đối lập trong xã hội.

    c. Bên cạnh các nhà triết học nhất nguyên luận(duy vật hoặc duy tâm) giải thích thế giới từ một nguyên thể hoặc vật chất hoặc tinh thần, còn có các nhà triết học nhị nguyên luận. Họ xuất phát từ cả hai nguyên thể vật chất và tinh thần để giải thích mọi hiện t­ợng của thế giới. Theo họ, thế giới vật chất sinh ra từ nguyên thể vật chất, thế giới tinh thần sinh ra từ nguyên thể tinh thần. Họ muốn dung hòa giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm, nh­ng cuối cùng họ rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi thừa nhận ý thức hình thành và phát triển tự nó, không phụ thuộc vào vật chất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Detox Là Gì? Cách Làm Detox Giảm Cân, Đẹp Da, Thanh Lọc Cơ Thể
  • Nước Detox Là Gì? Liệu Trình Uống Detox
  • Ulzzang Là Gì? Phong Cách Ulzzang Đang Làm Trao Đảo Giới Trẻ
  • Từ Ulzzang Boy Hay Ulzzang Girl Hàn Quốc Có Nghĩa Là Gì?
  • Phòng Deluxe Là Gì? Có Nên Chọn Loại Phòng Deluxe Hay Không?
  • Nước Detox Là Gì? Liệu Trình Uống Detox

    --- Bài mới hơn ---

  • Detox Là Gì? Cách Làm Detox Giảm Cân, Đẹp Da, Thanh Lọc Cơ Thể
  • Chủ Nghĩa Duy Vật Và Chủ Nghĩa Duy Tâm Là Gì?
  • Ytd Là Gì ? Khám Phá Nghĩa Của Ytd Với Những Nghĩa Khác Nhau Thú Vị
  • Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm (Ivf) Là Gì? Được Chỉ Định Trong Trường Hợp Nào?
  • Share Có Nghĩa Là Gì?
  • Gần đây, xu hướng chăm sóc sức khỏe, làm đẹp, giảm cân bằng phương pháp Detox được hưởng ứng tích cực. Vậy nước Detox là gì? Với những thông tin dưới đây sẽ giúp bạn giải đáp chi tiết thắc mắc trên, đồng thời hướng dẫn bạn 3 cách làm nước Detox đơn giản tại nhà.

    Theo các nghiên cứu khoa học gần đây cho rằng, do thói quen sử dụng thức ăn nhanh và đồ uống có gas, chất kích thích cũng như sự ô nhiễm từ môi trường đã làm cho cơ thể con người bị “quá tải” bởi các chất độc. Khi các chất độc này tích tụ lâu ngày trong cơ thể sẽ biến thành độc tố – nguyên nhân gây nên sự mệt mỏi, căng thẳng, tăng cân, mỡ thừa, giảm khả năng miễn dịch, da bị xỉn màu… nên bạn cần phải thường xuyên thanh lọc cơ thể.

    Nước Detox Là Gì?

    Detox là một loại thức uống đang được nhiều người sử dụng hằng ngày để thay thế các thức uống không tốt cho sức khỏe, hạn chế nạp các độc tố vào cơ thể. Loại thực phẩm này có sự kết hợp giữa nước lọc cùng nhiều loại rau quả và trái cây ít đường nên còn mang lại nhiều tác dụng tốt nhất cho sức khỏe như: thanh lọc cơ thể, bổ sung vitamin, chất xơ, hỗ trợ các cơ quan thải độc tố, từ đó giúp cơ thể khỏe mạnh, làm việc tốt hơn. Uống Detox cũng được xem là một phương pháp giảm cân hiệu quả. Mỗi ngày, bạn cần dùng nước Detox kết hợp với tập thể dục, chế độ ăn uống khoa học sẽ nhanh chóng có được vóc dáng như ý.

    Đặc biệt, nước Detox cũng là một trong những phương pháp làm đẹp da tốt nhất. Quá trình Detox đào thải độc tố cũng góp phần loại bỏ những thành phần làm xỉn màu da, cải thiện vẻ đẹp làn da. Nước, các vitamin, khoáng chất tăng cường cung cấp độ ẩm cho làn da sáng mịn, hồng hào, đồng thời giảm nếp nhăn, tàn nhang, làm chậm quá trình lão hóa.

    Liệu Trình Uống Detox Mang Đến Hiệu Quả Tốt Nhất Cho Sức Khỏe

    Uống nước Detox không phải là cách để giảm cân triệt để. Tuy nhiên, nhiều người đã hiểu sai về tác dụng và uống Detox không đúng cách.

    Theo nghiên cứu, các loại Detox hiện nay chỉ cung cấp khoảng 735 calo, nhưng trung bình tiêu chuẩn mỗi người cần đủ 2000 calo. Do đó, khi uống nước detox bạn nên kết hợp với ăn uống nhẹ hoặc các thực phẩm nhiều chất xơ, vitamin để tránh hiện tượng mệt mỏi, uể oải.

    Liệu trình uống nước Detox làm đẹp, giảm cân, thải độc, thanh lọc cơ thể được thực hiện tốt nhất là trong khoảng 2 – 3 tháng. Sau đó, bạn ngưng uống để cơ thể điều hoà lại và điều chỉnh lại chế độ ăn uống và luyện tập thể dục thể thao phù hợp.

    Áp dụng phương pháp Detox đúng thời điểm khi trạng thái cơ thể ổn định, tâm lý bình thường, sức khoẻ tốt để tránh hiện tượng cơ thể bị sock, suy nhược… và đôi khi khiến cho sức khoẻ tồi tệ hơn.

    Bạn không uống nước Detox khi cơ thể đang đói, mệt mỏi vì sẽ dễ gây hiện tượng đau thắt dạ dày. Bạn nên uống vào buổi sáng hoặc buổi chiều, hạn chế uống sát giờ đi ngủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ulzzang Là Gì? Phong Cách Ulzzang Đang Làm Trao Đảo Giới Trẻ
  • Từ Ulzzang Boy Hay Ulzzang Girl Hàn Quốc Có Nghĩa Là Gì?
  • Phòng Deluxe Là Gì? Có Nên Chọn Loại Phòng Deluxe Hay Không?
  • Xd Là Gì? Emotion Xd
  • Xd Là Gì? Cách Sử Dụng Xd
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phí Cic Là Gì? Khi Nào Bị Tính Phí Cic?
  • Lòng Trung Thực Là Gì? Nghị Luận Về Ý Nghĩa Của Tấm Lòng Trung Thực
  • Vợ Yêu, Chồng Yêu Tiếng Anh Gọi Là Gì?
  • Chồng Yêu Tiếng Anh Là Gì?
  • Quản Trị Website Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Người Quản Trị Web?
  • Chủ nghĩa xã hội khoa học là thuật ngữ được Friedrich Engels nêu ra để mô tả các lý thuyết về kinh tế- chính trị- xã hội do Karl Marx và ông sáng tạo. Thuật ngữ này đối lập với chủ nghĩa xã hội không tưởng vì nó trình bày một cách có hệ thống và nêu bật lên được những điều kiện và tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học đó là nó chỉ rõ con đường hiện thực dựa vào khoa học để thủ tiêu tình trạng người bóc lột người và đưa ra một tổ chức xã hội mới không biết đến những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản mà những người theo chủ nghĩa xã hội không tưởng đã mơ ước nhưng không thực hiện được.

    Theo các nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin thì chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt lý luận nằm trong khái niệm “chủ nghĩa xã hội”, là một trong ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Marx-Lenin, nghiên cứu sự vận động xã hội nhằm thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, tiến tới xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo nghĩa hẹp thì chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận của chủ nghĩa Marx-Lenin. Chủ nghĩa xã hội khoa học đã dựa trên phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời cũng dựa trên những cơ sở lý luận khoa học về các quy luật kinh tế, quan hệ kinh tế… để luận giải một cách khoa học về quá trình nảy sinh cách mạng xã hội chủ nghĩa, hình thành và phát triển hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa, gắn liền với sứ mệnh lịch sử có tính toàn thế giới của giai cấp công nhân hiện đại, nhằm giải phóng con người, giải phóng xã hội.

    Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Marx-Lenin (bao gồm cả ba bộ phận). Nghĩa rộng của chủ nghĩa xã hội khoa học, V.I.Lenin khẳng định: “chủ nghĩa xã hội khoa học tức là chủ nghĩa Mác”. Vì triết học Marx lẫn kinh tế chính trị Marx đều dẫn đến cái tất yếu lịch sử là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo họ, những người lãnh đạo, tổ chức cùng nhân dân thực hiện sự nghiệp cách mạng lâu dài và triệt để đó chỉ có thể là giai cấp công nhân hiện đại, thông qua đảng của nó. V.I. Lenin nhận định: “bộ “Tư bản” – tác phẩm chủ yếu và cơ bản ấy trình bày chủ nghĩa xã hội khoa học… những yếu tố từ đó nảy sinh ra chế độ tương lai”.

    Nội dung quan trọng của lý thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đây là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một thành tích chủ nghĩa Marx – Lenin.

    Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân theo Marx và Engels là những người công nhân sẽ xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

    Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, – đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại

    Sau này V.I. Lenin cũng phát biểu rằng:

    Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa

    Luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đã được K. Marx và F. Engels trình bày trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Trong tác phẩm này các ông đã chỉ rõ các điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    • Do địa vị kinh tế – xã hội khách quan, giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản. Và, với tính cách như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
    • Giai cấp công nhân, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột nặng nề, họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa.
    • Địa vị kinh tế – xã hội khách quan tạo cho họ khả năng làm việc đó, tức là khả năng đoàn kết thống nhất giai cấp và khả năng đi đầu trong cuộc đấu tranh.
    • Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006
    • Giáo trình đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006
    • Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2003
    • Nhập môn Marx, Rius (Eduardo del Rio), người dịch: Nguyễn Hà, hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006
    • , Bộ Giáo dục và Đào tạo – Chủ biên: Lê Thế Lạng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2004 (tái bản có bổ sung, sửa chữa)
    1. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006, trang 8
    2. ^ Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2006, trang 10
    3. V.I. Lênin: Toàn tập (tập 1), Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, năm 1974, trang 226
    4. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tập 20, trang 393
    5. V.I.Lênin: Toàn tập, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, năm 1980, tập 23, trang 1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì?
  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán Là Gì?
  • Rep Là Gì? Những Cần Biết Về Rep Inbox Trên Facebook
  • Inbox Là Gì? Rep Và Check Ib Trên Facebook, Zalo Nghĩa Là Sao
  • Tôn Sư Trọng Đạo Là Gì?
  • Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học Là Gì?
  • Phí Cic Là Gì? Khi Nào Bị Tính Phí Cic?
  • Lòng Trung Thực Là Gì? Nghị Luận Về Ý Nghĩa Của Tấm Lòng Trung Thực
  • Vợ Yêu, Chồng Yêu Tiếng Anh Gọi Là Gì?
  • Chồng Yêu Tiếng Anh Là Gì?
  • Coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế là một trong những bước đột phá lớn về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Thực tiễn, bao giờ và ở đâu cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội đương đại cũng cần có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo học thuyết Mác-Lênin, là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Vì thế, giai cấp vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh của mình, phải xây dựng được đội ngũ tiên phong của giai cấp, đáp ứng với mục tiêu phát triển của xã hội tốt đẹp đó. Theo V.I Lênin, giai cấp vô sản dù đã nắm được chính quyền, nhưng nếu không làm cho xã hội mới có trình độ phát triển cao hơn CNTB, thì giai cấp vô sản vẫn chưa xây dựng xong CNXH, thậm chí, “công cuộc xây dựng CNXH chỉ còn là một mớ sắc lệnh”(2). Trên thực tế, nếu xét đến cùng thì giải phóng xã hội vẫn phải được quyết định bởi năng suất lao động và tinh thần dân chủ. Đó là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của chế độ xã hội mới. Lênin từng chỉ ra: “CNTB chỉ có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn vì CNXH tạo ra nền dân chủ mới gấp triệu lần dân chủ tư sản và năng suất lao động mới cao hơn nhiều”(3).

    Trên nền tảng lý luận Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Nhưng, “nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: CNXH không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”, để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu được giúp đỡ, các cháu bé thì được chăm sóc”(4). Người cũng chỉ rõ: “Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ”(5). Điều lớn lao nhất của cách mạng XHCN là phải xây dựng được nền tảng, vật chất của CNXH. Mà muốn xây dựng được nền tảng, vật chất cho CNXH, điều quan trọng nhất lại phải có những con người XHCN theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì ý nghĩa đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng gắn với CNXH, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến chủ thể xây dựng CNXH.

    Theo Hồ Chí Minh, chủ thể xây dựng CNXH là “những con người mới XHCN”. Đó là những con người “có tư tưởng và tác phong XHCN”, “có ý thức làm chủ Nhà nước”, “thấm nhuần sâu sắc tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà”, “biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ, đùn đẩy công việc”; đồng thời, phải biết “thắng được chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”, bởi nó là “kẻ địch nguy hiểm của CNXH”(6). Người còn chỉ rõ: CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”, “muốn xây dựng CNXH thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất… Muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng xuất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt”(7). Đây chính là một trong những tư tưởng đặc sắc, quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.

    Các giá trị cốt lõi về lý luận, văn hóa, tinh thần ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta.

    Lịch sử hiện nay đã có nhiều biến đổi, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và mạng lưới hóa thông tin đang ngày càng phát triển, lan tỏa đến từng lĩnh vực trên khắp thế giới, tác động mạnh mẽ đến quan điểm nhân sinh, quan điểm giá trị của con người. Điều đó làm cho loài người có thể cần phải trải qua một quá trình gian khổ để “định hướng lại triết học và văn hóa”. Sự định hướng ấy, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội và tác động trực tiếp đến việc xây dựng các giá trị con người, trong đó có con người XHCN.

    Công cuộc đổi mới của đất nước ta cũng đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi cần có câu trả lời khiến cho mọi người tin phục về các giá trị của CNXH và những con người XHCN, tạo nên những trụ cột nâng đỡ tinh thần và khát vọng của đại đa số nhân dân. Trên thực tế, được thực tiễn soi rọi, Đảng ta đã từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu đó.

    về CNXH và con đường đi lên CNXH. Thông qua sáng tạo lý luận, thúc đẩy sáng tạo trên mọi phương diện, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quy luật và tính quy luật phát triển của xã hội. Nếu như trước đây, nhận thức về CNXH chỉ đơn giản là “một xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB” với 3 thuộc tính cơ bản: Một là, xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai). Hai là, nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường. Ba là, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian mà ít quan tâm trên chất lượng,… Thì đến nay, Đảng ta đã định hình rõ nét và cụ thể hơn bằng một hệ thống quan điểm lý luận về CNXH. Trong đó, đã khái quát thành 8 đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).

    Cùng với việc khái quát thành 8 đặc trưng nêu trên, Đảng ta đã xác định cụ thể hơn 8 phương hướng xây dựng CNXH và 8 mối quan hệ lớn về đổi mới phát triển XHCN(9). Nếu 8 đặc trưng là những nội dung định hướng XHCN, thì 8 phương hướng, chính là con đường đi lên CNXH,mô hình xây dựng CNXH trong thực tiễn của nước ta; 8 mối quan hệ có ý nghĩa là những quy luật, những tính quy luật mà công cuộc đổi mới, phát triển ở Việt Nam tất yếu phải tuân thủ.

    Việc Đảng ta chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; xác định rõ về vị trí, vai trò các thành phần kinh tế, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;… là những bước đột phá lớn về lý luận, hướng cách mạng XHCN ở nước ta đi đúng với quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Điều đó, đã làm thay đổi quan trọng cách nhìn, cách đánh giá, ứng xử đối với kinh tế thị trường và nhất là với kinh tế tư nhân, những thành tựu của tư duy nhân loại mà CNTB làm, CNXH cũng phải làm.

    Hệ thống các quan điểm nêu trên là những thành tựu nổi bật của đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta, khắc phục hoàn toàn tư tưởng “duy ý chí” về CNXH như trước đây. Bằng các quan điểm khoa học, sáng tạo, Đảng ta đã trả lời trực tiếp các câu hỏi: CNXH là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)? Mô hình, con đường, phương hướng đi lên CNXH như thế nào?

    về con người XHCN, Đảng ta luôn xác định: Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là chủ thể sáng tạo lịch sử, là mục tiêu và động lực của đổi mới của CNXH. Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn chủ trương xây dựng hệ giá trị con người mới XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các định hướng giá trị con người Việt Nam XHCN được quán triệt trong xây dựng nền tảng văn hóa của thời kỳ đổi mới là: Con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

    Cụ thể hóa các đặc tính cơ bản đó với tính cách là những chuẩn mực, thành những giá trị để giáo dục, thực hành, rèn luyện trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, chính là xây dựng con người XHCN. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng các giá trị biểu hiện lòng yêu nước; nhân ái, đạo đức, lối sống có nghĩa tình; lòng trung thực – thước đo phẩm chất cốt lõi của đạo đức, nhân cách, lối sống; tình đoàn kết, đồng thuận, hợp tác, cộng đồng chia sẻ trách nhiệm của con người trong hoạt động và ứng xử; phẩm chất mới cần rèn luyện trong đức tính cần cù trong xã hội hiện đại, trong nền sản xuất công nghiệp và trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức; sự sáng tạo để phát triển – một năng lực nổi bật, một giá trị ưu trội của con người và nhân cách trong hoàn cảnh đổi mới phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tính kế thừa thế hệ trong giáo dục giá trị; trong chiến lược phát triển con người, trong giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội… Đó chính là những điểm mới nổi bật trong phát triển tư duy lý luận của Đảng về con người Việt Nam XHCN thời kỳ đổi mới.

    Đổi mới theo định hướng XHCN là một quá trình cách mạng hết sức sâu sắc, triệt để, thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ “bần cùng lạc hậu” và cái mới “tốt tươi”, để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải trải qua thời kỳ quá độ rất lâu dài và phải tuân thủ các bước đi như một tất yếu khách quan. Trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN như một loại hình “phát triển rút ngắn” với phương thức “quá độ gián tiếp” lên CNXH, đòi hỏi phải có những con người XHCN có trình độ, năng lực vượt trội, hay ít nhất cũng tương xứng với loại hình và phương thức phát triển đó.

    Hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta tuy vẫn còn những khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng với kỳ vọng lớn lao của nhân dân, nhưng nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được là rất to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(10). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình bỏ qua những nỗ lực và thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền về “thế giới tự do” về sự “vĩnh hằng” của CNTB và sự sụp đổ của chế độ XHCN; mặt khác, khai thác triệt để những khuyết điểm của CNXH hiện thực, xuyên tạc về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng; núp dưới các chiêu bài đòi dân chủ đa nguyên chính trị và nhân quyền, kích động các lực lượng chống đối, can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta hòng khiến nhân dân ta xa rời con đường đi lên CNXH. Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi mục tiêu xoá bỏ CNXH, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “đế quốc, chết thì chết, nết không chừa”(11). Có khác chăng là trong tình hình mới, chúng sử dụng những sách lược, thủ đoạn mới tinh vi, hiểm độc hơn mà thôi.

    Hơn bao giờ hết và hơn ai hết, hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải tiếp tục giác ngộ lập trường, tư tưởng, nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng, kiên quyết vạch trần những âm mưu xảo quyệt của các thế lực thù địch, cùng nhau phối hợp hành động, đẩy lùi và làm thất bại những thủ đoạn đen tối của chúng. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ về bản chất tốt đẹp của xã hội XHCN, của công cuộc đổi mới, từ đó, xây dựng hoài bão, lý tưởng cao đẹp của con người mới XHCN. Con người mới Việt Nam XHCN nhất định không thể yếu kém về năng lực, phẩm chất, càng không thể dao động, “a dua” với một số phần tử bất mãn, cực đoan. Cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên phải được tôi luyện như thế hệ cha ông đã từng tôi luyện trong chiến tranh: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

    Với ý chí kiên cường, sáng tạo và lòng tự tôn dân tộc, chắc chắn, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, dân tộc ta sẽ trường tồn phát triển, nhân dân ta sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi bần cùng lạc hậu, khỏi tụt hậu và không bị chệch hướng XHCN. Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng nhất định sẽ đi đến bến bờ./.

    (1), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.13, tr. 66, 5, 376, 66-67, 69.

    (2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.42, tr. 37.

    (3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr. 25.

    (8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2011, tr.69-70, 70-73.

    (10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2021, tr. 66.

    (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr. 474.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Chữ Phúc Trong Tiếng Hán Là Gì?
  • Rep Là Gì? Những Cần Biết Về Rep Inbox Trên Facebook
  • Inbox Là Gì? Rep Và Check Ib Trên Facebook, Zalo Nghĩa Là Sao
  • Tôn Sư Trọng Đạo Là Gì?
  • Kpi Là Gì? Tầm Quan Trọng Và Cách Thức Sử Dụng
  • Drama Là Gì? Drama Gồm Những Thể Loại Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Dns Là Gì ? Tầm Quan Trọng Của Dns Trong Việc Kết Nối Mạng Email Và Duyệt Web
  • Kpi Là Gì? Tầm Quan Trọng Và Cách Thức Sử Dụng
  • Tôn Sư Trọng Đạo Là Gì?
  • Inbox Là Gì? Rep Và Check Ib Trên Facebook, Zalo Nghĩa Là Sao
  • Rep Là Gì? Những Cần Biết Về Rep Inbox Trên Facebook
  • Bạn thấy bạn bè mình sử dụng thuật ngữ Drama một cách thường xuyên nhưng lại chẳng thể hiểu nổi Drama là gì?

    Đừng lo lắng! Trong bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp đến các bạn ý nghĩa cùng các cách sử dụng của Drama.

    Drama trong tiếng Anh

    Phát âm: /drɑː.mə/

    Danh từ mang nghĩa:

    • Kịch, tuồng
    • Nghệ thuật kịch, nghệ thuật tuồng
    • Sự việc đầy kịch tính

    Một số từ liên quan

    • Drama Workshop: Nhà diễn kịch
    • Horror Drama: Thảm kịch
    • Music Drama Theater: Nhà hát kịch

    Nguồn gốc Drama

    Drama bắt nguồn từ một từ Hy Lạp cổ đại có nghĩa là hành động. Nhà triết học Hy Lạp cổ Aristotle đã sử dụng thuật ngữ này trong một luận thuyết có ảnh hưởng lớn- “Poetics” (Thơ ca). Trong văn bản này, Aristotle đã phân loại các hình thức thơ khác nhau theo những đặc điểm cơ bản mà ông nghĩ có thể được công nhận rộng rãi. Ông đã sử dụng thuật ngữ “Drama” để mô tả các tác phẩm thơ mộng đã được “hành động”.

    Một Drama thường liên quan đến:

    • Một biên kịch- tác giả của vở kịch
    • Khán giả- người xem tác phẩm kịch, phim đó
    • Diễn viên- người thực hiện các hành động tương ứng với vở kịch để người xem thấu hiểu nội dung câu chuyện.

    Cách hiểu Drama hiện đại

    Theo nghĩa gốc, Drama là “tuồng, kịch”. Tuy nhiên, hiện nay, ý nghĩa của từ này đã được mở rộng hơn bao gồm ý nghĩa là phim, tính kịch,…

    Thông thường, Drama thường được hiểu là thể loại phim có nhiều tập, khác hoàn toàn với Movie- thể loại phim 1 tập. Drama được chiếu trên các kênh truyền hình, trong khi đó Movie thường được chiếu tại các rạp chiếu phim.

    Drama được sử dụng với nghĩa “tính kịch” khi một câu chuyện đời thật nhưng nghe như hư cấu. Cách nói này ngày càng trở nên phổ biến hơn cùng với sự phát triển của Internet và các mạng xã hội như Facebook, Instagram,…

    Drama cũng được dùng như một thuật ngữ trong anime và manga Nhật Bản. Những truyện Drama tập trung vào thể loại bi kịch, tình cảm, trinh thám,… và thường tạo cho người xem những cảm xúc căng thẳng, buồn bã.

    Điều gì khiến Drama trở nên ấn tượng và thu hút người xem?

    Làm thế nào để một Drama trở nên ấn tượng và thu hút người xem hơn? Chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

    Để làm cho Drama trở nên ấn tượng, tác giả phải phấn đấu xây dựng cảm giác kịch tính và dự đoán cảm xúc của khán giả khi câu chuyện phát triển. Kịch tính chỉ thực sự thành công khi khán giả cứ tự hỏi “Điều gì xảy ra tiếp theo?”, để từ đó dự đoán kết quả của những sự kiện đó.

    Kịch tính là điều cơ bản và quan trọng nhất để giữ chân khán giả.

    Nếu trước đây, cốt truyện là yếu tố quan trọng nhất trong một “Drama” thì đến ngày nay, mặc dù nó vẫn quan trọng; nhưng đôi khi một bộ phim có cốt truyện không mới lạ nhưng vẫn thu hút người xem bởi diễn viên, bối cảnh đẹp và âm nhạc hấp dẫn.

    Drama cũng phụ thuộc vào rất nhiều đối thoại nói để khiến khán giả hiểu về cảm xúc, tính cách, động cơ và kế hoạch của nhân vật. Vì vậy, nếu xây dựng được những đoạn hội thoại hay, câu chuyện đó có thể trở thành một trào lưu.

    Các thể loại Drama

    Các Drama ấn tượng thường được phân loại thành các danh mục cụ thể theo tâm trạng, giai điệu, hành động xảy ra trong cốt truyện. Một số dạng Drama nổi tiếng bao gồm:

    Hài kịch có nội dung nhẹ nhàng hơn và được xây dựng với mục đích khiến khán giả cười và thường đi đến một kết thúc có hậu.

    Hài kịch đặt nhân vật khác thường vào những tình huống bất thường, khiến họ phải làm và nói về những điều hài hước.

    Hài kịch cũng có thể được sử dụng để châm biếm các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội- đây là cách mà tác giả Vũ Trọng Phụng thường xuyên sử dụng.

    Ngoài ta, hài kịch cũng còn có thể chia thành nhiều dòng nhỏ hơn bao gồm hài kịch lãng mạn, hài kịch tình cảm, phim hài bi kịch- trong đó các nhân vật mang bi kịch đã làm những điều hài hước trong tình huống nghiêm trọng để đạt được hạnh phúc cuối cùng.

    Bi kịch thường được xây dựng trên những chủ đề u ám hơn. Nó miêu tả các vấn đề nghiêm trọng như cái chết, thảm họa tự nhiên, sự đau khổ của con người theo cách trang nghiêm và kích thích tư duy. Với những tác phẩm này, nhân vật hiếm khi được tận hưởng cái kết hạnh phúc. Chẳng hạn, nhân vật Hamlet trong tác phẩm cùng tên của Shakespeare- người luôn cảm thấy gánh nặng về những sai lầm của mình.

    Chính kịch ra đời sau hài kịch và bi kịch. Nếu bi kịch dành cho giới quý tộc, hài kịch thuộc về tầng lớp bình dân và không thể trộn lẫn thì chính kịch lại là hình thức “Drama” gồm cả bi và hài.

    Chính kịch không bị ràng buộc bởi nguyên tắc của 2 thể loại trên. Nó sử dụng linh hoạt cả 2 yếu tố để nâng cao hiệu suất và sự hấp dẫn của nội dung câu chuyện.

    Farce là dạng Drama khiến khán giả cười với nội dung, tạo hình nhân vật,… hài hước một cách phóng đại hoặc vô lý. Bạn có thể nhận thấy thể loại phim này trong các tác phẩm như Waiting for Godot của Samuel Beckett và Airplane của Jim Abrahams.

    Melodrama là một hình thức phóng đại của phim truyền hình. Melodrama mô tả về các nhân vật một chiều cổ điển như anh hùng, nữ anh hùng, nhân vật phản diện với những tình huống giật gân, lãng mạn hoặc nguy hiểm.

    Đôi khi, Melodrama còn được gọi với cái tên “Tearjerkers”.

    Bộ phim kinh điển về tình yêu trong chiến tranh “Cuốn theo chiều gió” được xây dựng dựa trên tiểu thuyết của Margaret Mitchell chính là ví dụ hàng đầu cho thể loại Melodrama.

    Đây là thể loại đa năng khi phim được kết hợp với kịch. Trong Opera, các bạn có thể thấy đối thoại, âm nhạc, khiêu vũ,.. với nội dung đa dạng có thể là bi kịch, chính kịch hoặc hài kịch,… Vì các nhân vật thể hiện cảm xúc và ý định của mình thông qua các bài hát thay vì đối thoại, nên người biểu diễn được yêu cầu phải có cả kỹ năng diễn xuất và ca hát.

    Đây là một thể loại tương đối mới, Docudrama là những bức chân dung ấn tượng về các sự kiện lịch sử hoặc các tình huống chân thật không có yếu tố hư cấu.

    Những cách sử dụng Drama phổ biến khác

    Khái niệm Drama hiện nay được sử dụng tương đối phổ biến, gần như nó đang được sử dụng như một từ tiếng Việt vay mượn. Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn những cụm từ với Drama được nhiều người sử dụng nhất.

    Web Drama là những bộ phim giống với phim truyền hình được phát sóng trên TV. Tuy nhiên giống như tên gọi của mình, Web Drama được phát sóng trên Internet. Những bộ phim này thường có thời lượng ngắn hơn, ngân sách đầu tư thấp hơn và số tiền kiếm được cũng ít hơn.

    Đối tượng mục tiêu cho các tập phim Web Drama là thiếu niên và người xem ở độ tuổi 20 đến 30.

    SBS Drama Awards (Giải thưởng phim truyền hình SBS) một lễ trao giải hàng năm được tổ chức bởi Seoul Broadcasting System (SBS) dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực phim truyền hình Hàn Quốc được phát sóng trên kênh SBS.

    Lễ trao giải này thường được tổ chức vào ngày 31 tháng 12 mỗi năm. Giải thưởng cao nhất của SBS Drama Awards là “Giải Daesang” được trao cho nam/ nữ diễn viên xuất sắc nhất trong năm.

    Ngoài ra, lễ trao giải này còn trao một số danh hiệu khác như:

    • Giải Cống hiến
    • Giải SBS đặc biệt
    • Giải diễn xuất xuất sắc nhất
    • Giải diễn viên phụ xuất sắc nhất
    • Giải diễn xuất hàng đầu
    • Giải cho diễn viên chính
    • Giải Ấn tượng
    • …..

    Drama Club có nghĩa là một câu lạc bộ về Drama tập hợp những người yêu thích hoạt động trong lĩnh vực này.

    Drama cẩu huyết là những vở kịch, bộ phim có nội dung lặp đi, lặp lại, nhàm chán và quá mức vô lý khiến người xem cảm thấy chán nản, mệt mỏi.

    Drama Queen là nữ hoàng phim truyền hình, trong khi đó Drama King là ông hoàng phim truyền hình. Drama Queen và Drama King được sử dụng để chỉ những diễn viên xuất sắc trong thể loại phim Drama.

    Bên cạnh nghĩa chính, Drama Queen và Drama King đôi khi cũng được sử dụng với ý nghĩa tương đối mỉa mai để chỉ những người (nam hoặc nữ) quá ảo tưởng. Những người này tự cho mình là trung tâm, tự xây dựng “kịch bản” cho cuộc đời mình, luôn chìm đắm vào những tình tiết mà chính mình tạo ra một cách vô thức hoặc có chủ ý.

    Những đối tượng này thường thích đưa ra những chủ đề táo bạo, gây tranh cãi để khiến mình trở nên độc đáo và hấp dẫn với người khác. Họ có thể có nhiều fan thông qua những câu nói, hành vi gây shock trên mạng xã hội, nhưng lại ít bạn bè thực tế. Và thực sự, những người này thường “sống ảo”.

    Trên đây là một số vấn đề cơ bản về khái niệm Drama. Hi vọng với những thông tin trong bài viết này, bạn có thể hiểu hơn về thuật ngữ này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • It Nghĩa Là Gì ?
  • Logistics Là Gì? Logistics Có Phải Là Hậu Cần Không?
  • Ngôn Ngữ Lập Trình Plc Là Gì? #3 (Ladder, Fbd, Stl)
  • Vai Trò Của Chỉ Số Cảm Xúc (Eq) Là Gì?
  • Nồng Độ Ph Là Gì? Độ Ph Có Ảnh Hưởng Gì Trong Hệ Thống Xử Lý Nước Thải?
  • Phương Pháp Luận Là Gì? Vai Trò Của Phương Pháp Luận Trong Triết Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Dns Là Gì? Cách Sử Dụng Và Trỏ Tên Miền Với Các Loại Dns Server
  • Abo Là Gì? Đam Mỹ Là Gì? Tổng Hợp Các Kiến Thức Liên Quan Về Abo
  • Abo Văn Là Gì ?
  • Nồng Độ Ph Là Gì? Độ Ph Có Ảnh Hưởng Gì Trong Hệ Thống Xử Lý Nước Thải?
  • Vai Trò Của Chỉ Số Cảm Xúc (Eq) Là Gì?
  • Với sự phát triển như hiện nay, con người cần phải trang bị cho mình lý luận của phương pháp luận đầy đủ. Vậy phương pháp luận là gì? Phương pháp luận có vai trò thế nào trong triết học?

    Phương pháp luận là gì?

    Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ các quy luật khách quan, thường dùng để điều chỉnh các hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã định sẵn.

    Phương pháp luận không có định nghĩa chính xác, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu theo cách phổ biến nhất. Phương pháp luận là hệ thống các nguyên lý, các quan điểm là cơ sở có tác dụng chỉ đạo, xây dựng các phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng các phương pháp và định hướng cho việc nghiên cứu tìm tòi cũng như lựa chọn, vận dụng phương pháp.

    Hay có thể hiểu phương pháp luận là lý luận về phương pháp. Bao hàm hệ thống các phương pháp, thế giới quan của con người. Sử dụng các phương pháp, nguyên tắc để giải quyết vấn đề đã đặt ra để có hiệu quả cao.

    Phân loại phương pháp luận được chia làm 3 cấp độ chính:

    – Phương pháp luận ngành: Là phương pháp luận cho các ngành khoa học cụ thể

    – Phương pháp luận chung: Khi đó các quan điểm, nguyên tắc chung hơn cấp độ ngành, dùng để xác định phương pháp hay phương pháp luận của nhóm ngành có đối tượng nghiên cứu chung.

    – Phương pháp luận chung nhất: Khái quát các quan điểm, nguyên tắc chung nhất. Để lấy cơ sở xác định các phương pháp luận ngành, chung và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn.

    Vai trò của phương pháp luận trong triết học Mác – Lê nin

    Đối với nhận thức và thực tiễn phương pháp luận có vai trò chỉ đạo sự tìm kiếm. Xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức, thực tiễn, đóng vai trò định hướng trong quá trình tìm tòi, lựa chọn, vận dụng phương pháp.

    Triết học Mác – Lê nin là hạt nhân lý luận về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. Trong đó triết học giữ vai trò định hướng cho sự củng cố. Đồng thời phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử. Trang bị thế giới quan chỉ là một khía cạnh nhỏ của triết học Mác – Lê nin. Phương pháp luận của triết học Mác – Lênin đã góp phần quan trọng chỉ đạo, định hướng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

    Hy vọng những chia sẻ của chúng mình có thể giúp các bạn hiểu được về phương pháp luận là gì và vai trò của nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Autoarchive Trên Outlook Là Gì? Nó Hoạt Động Như Thế Nào?
  • Mã Puk Điện Thoại Là Gì? Cách Lấy Mã Puk Như Thế Nào?
  • Si (Shipping Instruction) Là Gì?
  • Si Trong Xuất Nhập Khẩu Là Gì?
  • Mạng 4G Là Gì? 4G Lte Là Gì? 4G Và 4G Lte Giống Hay Khác?
  • Detox Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Detox

    --- Bài mới hơn ---

  • Axit Là Gì? Công Thức Và Phân Loại Axit
  • Logistics Là Gì? Làm Logistics Là Làm Gì?
  • Logistics Là Gì? Lương Của Ngành Logistics Cao Hay Thấp?
  • Flac Là File Gì? Cách Mở, Chỉnh Sửa Và Chuyển Đổi File Flac
  • Description Là Gì? Hướng Dẫn Kỹ Thuật Viết Thẻ Description Chuẩn Seo
  • Chào mừng bạn đến blog Zdungk.com chuyên tổng hợp tất cả hỏi đáp định nghĩa là gì, thảo luận giải đáp viết tắt của từ gì trong giới trẻ, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu một khái niệm mới đó là Detox là gì? Những ý nghĩa của Detox. Tìm hiểu Detox là gì và cách Detox hiệu quả an toàn. Detox là gì? Cách thanh lọc cơ thể, giúp đốt mỡ thừa, làm đẹp da bằng phương pháp Detox

    Định nghĩa Detox là gì?

    Bạn thường được nghe đến phương pháp Detox chăm sóc sức khỏe tuy nhiên chưa định nghĩa được Detox là gì? Detox hiểu một cách đơn giản là quá trình thanh lọc nhằm vệ sinh, loại bỏ các chất độc hại và mỡ thừa trong cơ thể ra bên ngoài, nhờ đó sức khỏe sẽ được chăm sóc và bảo vệ toàn diện hơn. Đây là phương pháp giúp thanh lọc cơ thể an toàn và tự nhiên bằng cách dùng các loại rau củ quả, trái cây nhiều nước và chất xơ, uống nhiều nước lọc hay nước ép trái cây, …

    Detox giúp cơ thể khỏe mạnh. Không chỉ vậy, khi sử dụng phương pháp detox đúng cách sẽ hỗ trợ quá trình chăm sóc da mặt, giảm mỡ hiệu quả. Sau khi các chất cặn bã, chất độc hại được đẩy ra ngoài, các cơ quan trong cơ thể sẽ làm việc hiệu quả hơn nhờ đó, chất béo, lượng mỡ thừa đẩy ra ngoài hỗ trợ quá trình giảm cân hiệu quả hơn. Chính vì thế, các công thức làm nước detox dạo gần đây luôn được các chị em nhiệt tình săn đón.

    Hiện có rất nhiều cách detox khác nhau, mỗi cách sẽ có các cách làm khác nhau bao gồm:

    Những hạn chế khi không sử dụng đúng cách nước detox là gì?

    Chưa thực sự tối ưu hết các độc tố

    Việc thải độc cơ thể cho gan và thận khi sử dụng phương pháp detox chưa thực sự tốt ưu nhất. Vậy trong trường hợp này, công dụng của phương pháp detox là gì? Nước detox trong những trường hợp này chỉ giúp hòa tan nhanh và dễ dàng hơn các chất độc hại có trong gan và thận, cơ thể ra bên ngoài môi trường. Vì thế, muốn độc tố được đào thải ra ngoài hiệu quả nhất các bạn có thể tham khảo thêm các tư vấn của bác sĩ để chăm sóc sức khỏe tốt và toàn diện nhất.

    Detox không phải là cách giảm cân triệt để

    • Nhiều chị em chưa hiểu rõ detox là gì nên thường có quan niệm chỉ cần nhịn ăn và uống nước detox giảm cân là có thể giữ gìn vóc dáng. Điều này hoàn toàn là sai lầm, bởi detox không phải là phương pháp giảm cân triệt để, chúng chỉ hỗ trợ bạn giảm cân tốt hơn.
    • Nếu bạn không biết cách sử dụng nước detox là gì thì cơ thể của bạn sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng, dễ mệt mỏi, uể oải thậm chí dễ tăng cân trở lại. Chính vì vậy, hãy bổ sung thêm một số loại rau xanh trong các bữa ăn và kết hợp tập luyện đúng cách là bạn có thể giữ gìn vóc dáng ngay rồi.

    Cơ thể mệt mỏi, thường xuyên uể oải

    Theo một số cuộc điều tra cho biết, hầu hết các loại nước detox làm từ rau củ quả chỉ cung cấp được 735 calo mỗi ngày. Nhưng trung bình, mỗi người cần đủ 2000 calo/1 ngày và 1650 calo dành cho những ai muốn giảm cân. Tuy nhiên nước detox chỉ bổ sung vào 1/3 mức calo bình thường như vậy là không đủ.

    Hiệu quả thanh lọc cơ thể nhưng không bền

    Việc sử dụng nước detox để thanh lọc, đào thải độc tố tuy hiệu quả nhanh nhưng không bền. Nhiều người chưa hiểu rõ detox là gì nên nghĩ rằng chỉ cần uống nhiều thì cơ thể sẽ được khỏe mạnh. Thậm chí nhiều người đã đi kiểm tra lại lượng điều huyết, huyết áp nhận thấy khả quan hơn. Tuy nhiên, để chắc chắn bảo vệ sức khỏe toàn diện cho bản thân các bạn hãy điều chỉnh lại chế độ ăn uống, tập luyện và nghỉ ngơi hợp lý nhất.

    Các cách làm detox mang lại hiệu quả cao

    Làm nước detox làm đẹp da

    • Rửa sạch các nguyên liệu trên, thái chanh thành các lát mỏng và cắt đôi quả dâu cho dễ ra nước.
    • Cho nước vào lọ chứa các nguyên liệu trên rồi đóng kín nắp. Ngâm 1-2 tiếng có thể sử dụng được hoặc có thể để trong ngăn mát tủ lạnh.
    • Tùy vào mục đích riêng, bạn hãy lựa chọn đúng phương pháp detox cho bản thân và hiểu rõ detox là gì? Việc detox hàng ngày sẽ mang lại cho bạn cơ thể khỏe mạnh, cảm giác thoải mái, sảng khoái hơn trong mọi hoạt động từ học tập, làm việc…
    • Rửa sạch, thái mỏng cam, chanh, dưa leo.
    • Ngâm trong 1 – 2 lít nước, sau đó cho thêm lá bạc hà vào chờ 1- 2 tiếng là có thể uống hoặc có thể để tủ lạnh.
    • Công thức này giúp đốt cháy mỡ thừa ở vùng bụng, giúp bạn giảm cân hiệu quả khi kết hợp với các bài tập thể dục.

    Cách làm detox thanh lọc cơ thể

    • Rửa sạch táo, cắt thành từng miếng nhỏ cho vào lọ. Cho quế vào đổ nước và đóng nắp kín. Ngâm 1-2 tiếng bạn có thể uống được hoặc để ở ngăn mát tủ lạnh.
    • Sau khi uống hết lần nước đầu, bạn có thể thêm nước uống thêm 2-3 lần nữa.

    Các lưu ý khi chế biến và sử dụng nước Detox

    • Rau quả mua về làm nước Detox, bạn phải rửa sạch và tốt nhất là ngâm nước muối loãng tầm 15p nhé!
    • Nước pha chế Detox tốt nhất dùng trong ngày (24h) nên bạn căn vừa đủ lượng nước bạn dùng đủ trong ngày để pha chế, tránh gây lãng phí.
    • Nước Detox sẽ có hiệu quả với bạn hơn khi duy trì uống kết hợp với chế độ ăn đúng bữa và tập thể dục.
    • Bạn có thể làm nước Detox vào buổi tối và để vào tủ lạnh, buổi sáng khi thức dậy, bạn mang nước Detox ra khỏi tủ lạnh cho bớt lạnh, sau đó vệ sinh cá nhân và uống trước bữa ăn sáng tầm 15-30p sẽ giúp cơ thể đào thải sau 1 đêm cũng như hạn chế hấp thụ chất béo vào cơ thể nữa đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Zalo Pay Là Gì? Hướng Dẫn Đăng Ký, Sử Dụng, Nạp Rút Tiền Tại Zalopay
  • Acp Là Gì Trên Facebook? Nghĩa Của Từ Acp? Viết Tắt Của Từ Gì?
  • Acp Nghĩa Là Gì? Từ Viết Tắt Của Acp
  • Sự Khác Nhau Giữa Essence Và Serum, Ampoule, Lotion Là Gì?
  • Abs Là Gì? Các Bộ Phận Của Hệ Thống Phanh Abs