Hàng Order Là Gì? Pre Order, Purchase Order, Out Of Order Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Xe Số Tự Động Là Gì? Ưu Và Nhược Điểm
  • Điều Kiện Sản Xuất Rượu Công Nghiệp Là Gì?
  • Tequila Là Gì? Loại Thức Uống Hấp Dẫn Của Mexico
  • Tequila Là Gì? Kiến Thức Về Dòng Rượu Tequila Độc Đáo
  • Twitter Là Gì? Hướng Dẫn Sử Dụng Mạng Xã Hội Twitter Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Order là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong việc mua bán, trao đổi hàng hóa có nghĩa là bạn đặt hàng 1 món sản phẩm nào đó trước cho đơn vị cung cấp, sau đó họ sẽ ship hàng tới cho bạn theo địa chỉ, thông tin bạn cung cấp. Còn Purchase Order trong giao dịch Business lại được hiểu là đơn đặt hàng.

    Khái niệm về Order và Hàng Order là gì?

    Cuộc sống ngày một hiện đại, mọi thứ đều có thể thực hiện thông qua internet và phổ biến nhất hiện nay là mua bán online, mua bán qua mạng, việc trao đổi giao dịch hoàn toàn làm việc qua internet.

    Những năm trước khi cần mua thứ gì bạn phải ra đường, có những nơi không có phải chạy đi tìm, mà ngoài trời thì nắng, mưa kẹt xe, bụi bặm, với những người đi làm ở thành phố họ rất bận và bó buộc bởi thời gian của công ty nên ít có thời gian mua sắm.

    Và các trang bán hàng trực tuyến xuất hiện như tiki, lazada hay có cả bán hàng trên mạng xã hội. Người có nhu cầu muốn mua chỉ cần lên mạng là có thể book các sản phẩm mình thích hoặc order về địa chỉ của mình.

    Vậy Order là gì? hàng order là hàng gì? Tại sao từ order này hay thấy trên các trang facebook bán hàng hay trên các trang web bán hàng, trang rao vặt…

    Order tiếng Anh nghĩa là gì?

    Order là một từ tiếng Anh. Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa thì nghĩa tiếng Việt của từ order là đặt hàng.

    Ví dụ thực tế về hàng Order

    Khi bạn lướt facebook vô tình thấy một bài quảng cáo của một hãng son, bạn thích nó và muốn sở hữu cây son đó cho mình.

    Bạn sẽ không cần tới shop đó mà chỉ cần nhắn tin cho nhà bán về cây son bạn muốn mua, thông tin của bạn như số điện thoại, địa chỉ, trong thời gian từ 3 đến 5 ngày họ sẽ giao tới cho bạn. Và khi bạn nhắn tin về thông tin sản phẩm bạn muốn mua chính là bạn “đang order” với người bán.

    Với một số mặt hàng có giá trị lớn sẽ yêu cầu bạn đặt cọc một phần giá trị sản phẩm trước. Tại sao họ lại yêu cầu khoản tiền đặt cọc trước mới gửi hàng.

    Vì những lý do có thể kể ra như sau: Có rất nhiều người thích sản phẩm đó, đặt nó, nhưng vì giá trị khá lớn nên thay đổi quyết định không mua nữa nhưng cũng không báo sớm hay hàng đã được gửi đi,.

    Đến khi tới nơi họ không nhân, bên giao hàng trả về và lúc này người bán hàng phải chịu mọi chi phí vận chuyển, gây tổn thất cho họ.

    Thứ hai là có nhiều thành phần phá hoại, họ chỉ đặt cho vui, cố ý gây tổn thất cho nhà bán hàng. Bởi thế họ yêu cầu đặt tiền cọc để tạo niềm tin là bạn sẽ mua hàng. Ngoài ra việc này sẽ giúp họ lọc bớt được những đối thủ phá hoại họ bằng cách đặt hàng ma.

    Hàng Order được sử dụng nhiều ở đâu?

    Khái niệm Order hay hàng Order được sử dụng rộng rãi và phổ biến khi bạn mua bán, trao đồi hàng hóa online, mua hàng tại các trung tâm thương mại điện tử lớn (như Amazon, Ebay, Taobao, Alibaba… hoặc Lazada, Tiki, Adayroi, Shopee…)

    Một số nghĩa khác của Order trong tiếng Anh

    Ngoài mang nghĩa là đặt hàng, “Order” còn có nhiều ý nghĩa khác tùy theo cách sử dụng. Tiếng Anh một từ có thể có nhiều nghĩa, nên với Order là danh từ thì nó còn mang nghĩa là: thứ bậc, hạng, cấp, loại, trật tự, thủ tục,…

    Ví dụ

    • Higher order có nghĩa là: giai cấp trên
    • Cose order (Quân sự) có nghĩa là: hàng xếp mau
    • First order (Toán học) có nghĩa là: phương trình bậc nhất.
    • Alphabetical order có nghĩa là: theo thứ tự abc
    • And order có nghĩa là: lập lại an ninh và trật tự
    • To order có nghĩa là: nhắc phải theo đúng nội quy

    Trường hợp thứ hai là “Order” làm động từ. Khi bạn tới nhà hàng hay quán cafe có thể bạn dễ dàng gặp từ này. Khi bạn muốn gọi món, thức uống thì bạn cần order với nhân viên phục vụ của nhà hàng để học thực hiện theo yêu cầu của bạn, đó gọi là gọi món hay order mon.

    Ở một số trường hợp khác nó còn mang nghĩa là ra lệnh, chỉ dẫn, đặt hàng. Và thường được sử dụng phổ biến nhất là order mang nghĩa theo động từ “đặt” hay “gọi đồ”.

    Như đã nêu ở phần trên, Order mang nghĩa là đặt hàng, nên có thể được hiểu hàng được đặt bởi khách hàng gọi là order.

    Hàng hóa hay dịch vụ mà khách hàng đặt này có thể có sẵn tại cửa hàng, tại kho và sẵn sàng gửi đi, đem ra cho khách hàng khi được yêu cầu, nhưng cũng có thể là khi khách order nhà bán hàng mới nhập về rồi vận chuyển cho khách hàng, được gọi là bán hàng order.

    Ví dụ như bạn đi nhà hàng, bạn order nước uống, đồ ăn sẽ được phục vụ mang ra ngay sau đó vài phút. Còn bạn không có thời gian đi mua sắm hay món đồ đó không ở gần bạn và bạn phải đặt qua mạng, bạn sẽ order với họ bằng cách đưa thông tin về sản phẩm hoặc chọn sản phẩm bạn muốn mua cho đơn vị cung cấp.

    Kèm theo thông tin như số điện thoại, địa chỉ để nhà bán hàng sẽ nhận đơn hàng chuyển cho bạn, thường những trang bán hàng qua mạng hay sử dụng cách dịch vụ trung gian để vận chuyển hàng order tới bạn, và bạn là người chịu hết hoặc một phần phí vận chuyển đó.

    Nhân viên Order là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực Nhà hàng – Khách sạn. Khi bạn tới nhà hàng hoặc khách sạn, bạn sẽ được đón tiếp bởi nhân viên tại đó, trong đó sẽ có một người chịu trách nhiệm chính, thực hiện ghi lại các yêu cầu của bạn, người đó được gọi là Nhân viên Order.

    Nhiệm vụ chính của nhân viên order bao gồm những gì?

    Nhiệm vụ của nhân viên Order bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

    • Việc hỏi và tiếp nhận thông tin từ khách hàng
    • Ghi yêu cầu, mong muốn của khách đối với nhà hàng, khách sạn
    • Gọi món hoặc giới thiệu, tư vấn, chỉ dẫn giúp khách đặt phòng
    • Gọi món khi thực khách yêu cầu
    • Nhắc lại thông tin, yêu cầu mà khách mong muốn để check lại với khách
    • Giải đáp những thắc mắc của khách (nếu có)
    • Cảm ơn khách và mang order cho thu ngân in hóa đơn, sau đó chuyển tiếp xuống các bộ phận thực hiện tương ứng để thực hiện theo yêu cầu của khách hàng.

    Tùy theo quy mô và tính chất công việc tại mỗi nhà hàng, khách sạn mà nhân viên Order sẽ được phân công theo công việc riêng biệt, là Hostess hoặc nhân viên phục vụ sẽ kiêm nhiệm nhiệm vụ này.

    Tương đương với Order dùng trong nhà hàng khách sạn sẽ có những người thực hiện order đó gọi là nhân viên order.

    Còn đối với xuất nhập khẩu, Purchase order sẽ có Delivery Order. Delivery Order là lệnh giao hàng hay chứng từ nhận hàng mà doanh nghiệp nhập khẩu nhận được để trình cho cơ quan giám sát kho hàng (cảng đến) trước khi có thể rút hàng ra khỏi container, kho, bãi…

    Đơn giản có thể hiểu, lệnh giao hàng là loại giấy tờ có chỉ thị cho người đang giữ hàng giao cho người được nhận hàng – consignee (có ghi trong lệnh giao hàng consignee).

    Để có thể nhận được hàng, doanh nghiệp nhập khẩu bắt buộc phải tập hợp đầy đủ lệnh giao hàng để có thể nhận hàng từ người viết bill (Shipper)

    Work Order cũng được hiểu là một đơn đặt hàng. Nhưng khác với order ở chỗ 1 công ty phải thông báo, đưa ra nội dung chi tiết sẽ làm gì cho họ tất cả về dịch vụ, hàng hóa, những gì họ muốn khi mà khách hàng của họ có nhu cầu đòi hỏi được biết thông tin chi tiết.

    Một số khái niệm về order trong kinh doanh buôn bán, trao đổi hàng hóa

    Khi bạn mua hàng qua các trang mạng bán hàng trực tuyến như Tiki, amazon thì việc bạn chọn các sản phẩm bạn muốn vào giỏ hàng và nhấn vào ô đặt đơn hay đặt hàng thì đây là Purchase order hay là đơn đặt hàng của bạn. Tức là một thứ để xác nhận hàng bạn đã đặt mua.

    Là khi bạn đã lên đơn order hàng, nhà bán hàng nhận đơn hàng của bạn rồi mới nhập hàng về bán cho bạn. Tức là hàng phải đặt mới có.

    Ví dụ: Những người bán hàng online vốn ít hoặc những mặt hàng trị giá cao, chọn lọc, không sử dụng đại trà được thì họ hay sử dụng cách này để hạn chế giam vốn, số vốn ban đầu bỏ ra không cao.

    Bình thường họ đăng hình được tải về, chỉnh sửa và đăng lên trang của họ, khi có khách đặt họ mới liên hệ nhà cung cấp để đặt hàng về và bán cho ban.

    Là hàng phải đặt trước. Với những thương hiệu nổi tiếng, một số sản phẩm của họ chỉ ra với số lượng hạn chế vài phiên bản trên thế giới hoặc là sản phẩm đặc biệt mà chưa ở đâu có. Nếu bạn muốn có bạn phải p order và đương nhiên số tiền bạn có cũng phải là khủng.

    Ví dụ như năm vừa qua, khi thông tin Iphone X rò rỉ xuất hiện, một số ngôi sao muốn sở hữu họ đã phải “p order” trước một thời gian lâu và đợi hàng được nhập về.

    Khi bạn sử dụng cách thức đặt hàng Pre-Order, là hình thức đặt cọc trước khi hàng được phát hành, trong đó ở phần mô tả của mỗi sản phẩm sẽ có thông tin thời gian phát hành nhưng thời gian phát hành này có thể bị sai lệch, sẽ là nhanh hơn hoặc chậm hơn so với thời gian đã ghi và thường Pre-Order phải đợi từ 6 tháng đến 1 năm mới có hàng.

    Còn Order chỉ cần 2 đến 7 ngày là có hàng, tùy vào địa lý Việt Nam lâu nhất ship chậm có thể là 6 ngày hoặc có dịch vụ ship nhanh theo hàng không thì từ bắc vào nam cũng chỉ mất 2 ngày là bạn có thể nhận được.

    Purchase Order – PO là gì trong Business, doanh nghiệp?

    Purchase Order hay Po là thuật ngữ khá quen thuộc trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Purchase Order hay còn gọi là đơn đặt hàng là một loại giấy tờ được ủy quyền để thực hiện giao dịch buôn bán. Purchase order sẽ có giá trị pháp lý ràng buộc khi người bán đồng ý.

    Các nội dung trong Purchase Order là gì?

    Trong Purchase Order sẽ gồm các nội dung như: giới thiệu hàng, số lượng, giá, thanh toán, thời gian giao hàng, những điều khoản khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của hai bên và xác định người bán cụ thể.

    Những lý do khiến công ty nên sử dụng PO

    – Purchase order giúp người bán có thể hiểu yêu cầu cũng như mong muốn của người mua, từ đó có thể phục vụ khách hàng tốt hơn, đem lại sự hài lòng và hợp tác lâu dài giữa người mua và người bán.

    – Bảo vệ người bán trong trường hợp xấu người mua không trả tiền hàng hoặc cố ý tránh nhận hàng, gây tốn chi phí cho người bán

    – Giúp những đại lý, nhà phân phối cấp 1 quản lý, theo dõi, được những yêu cầu mới và có những chính sách chăm sóc phù hợp.

    – Thúc đẩy hợp lý hóa nền kinh tế theo quy trình chuẩn;

    – Mang đến nhiều tiện ích tài chính, thương mại cho cả người bán và người mua, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước.

    Purchase order thường được dùng trong những vấn đề gì?

    • Tìm kiếm hàng hóa trong tiêu dùng hàng ngày hay tìm kiếm cổ phiếu trong các sàn chứng khoán;
    • Tìm kiếm những tiện ích hay dịch vụ sống, đáp ứng theo yêu cầu và nhu cầu của người sử dụng;
    • Tìm kiếm nguồn hàng hóa có nguồn gốc thiên nhiên, an toàn và tốt cho sức khỏe, đảm bảo chất lượng và có thể sản xuất trong và ngoài nước;
    • Để tiện lợi hóa trong việc mua sắm, buôn bán, thuận lợi hơn trong những lần mua sắm đầu tiên;
    • Tối ưu hóa việc mua bán, hạn chế mức thấp nhất những rủi ro khi mua bán và nâng cao giá trị hàng mua;

    Những nội dung cơ bản của PO

    Do là thuật ngữ được dùng chính trong trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, một Purchase order phải gồm đầy đủ những nội dung cơ bản như sau:

    • Số và ngày,
    • Thông tin người mua, thông tin người bán
    • PIC
    • Mô tả hàng hóa, số lượng, thông số kỹ thuật
    • Chất lượng hàng hóa, đơn giá của hàng hóa
    • Giá trị của hợp đồng
    • Điều kiện thanh toán
    • Những điều kiện để giao hàng

    Tài khoản ngân hàng, chữ ký, con dấu đại diện…để đảm bảo quyền lợi, an toàn, đảm bảo trong quá trình mua bán hàng hóa giữa bên mua và bên bán

    Không giống với những cụm từ đi cùng từ “order” ở phía trên dùng trong mua bán hàng hóa, mang nghĩa là đặt hàng, mua bán.

    Out of order lại thường được dùng cho máy móc kỹ thuật, mang nghĩa là bị hỏng, bị loại bỏ hay sai thứ tự, sai quy định. Ngoài ra nó được dùng trong xây dựng hay thành ngữ, ít sử dụng trong kinh tế mặc dù đối với kinh tế nó cũng mang nghĩa là trục trặc, hàng hỏng hay có tình huống xấu trong mua bán.

    Money order (n) = Postal order mang nghĩa là phiếu chuyển tiền. Money order hay phiếu tiền mặt là một dạng thanh toán thay thế séc dùng để gửi tiền mặt qua đường bưu điện.

    Các tổ chức tài chính, bưu điện, nhà băng, cửa hàng thực phẩm đều có thể bán phiếu tiền. Khác với séc cá nhân, người mua phiếu tiền không cần phải có tài khoản ngân hàng mà có thể dùng luôn tiền mặt để mua phiếu tiền theo số tiền giới hạn.

    Người mua hàng khi sử dụng phiếu chuyển tiền hay phiếu tiền được xem là một phương tiện an toàn vì người bán không biết cũng như không có thông tin về người mua hàng là ai.

    Ngày nay việc sử dụng phiếu tiền dần trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi khi thanh toán mua hàng trên internet, một phần là do tính tiện lợi của phiếu tiền, một phần là vì phiếu tiền luôn được đảm bảo chi trả theo giá trị ghi trên phiếu, đảm bảo giá trị mà người sử dụng nhận được.

    2 loại phiếu được ưa chuộng: Bank Money order và Postal Money order.

    Có thể bạn đã từng nghe qua về 2 loại phiếu tiền này nhưng chưa rõ là như thế nào, có một lời giải thích ngắn gọn và dễ hiểu nhất để bạn tham khảo dưới đây:

    • Bank Money order: Phiếu tiền này do nhà băng phát hành
    • Postal Money order: Phiếu tiền này do bưu điện phát hành.

    Cashier check hay còn gọi với tên khác là bank check, official check, teller’s check, treasure check hoặc bank draft. Đó là một loại ngân phiếu được đảm bảo bởi ngân hàng.

    Nó được cấp phát từ việc rút tiền từ trong tài khoản của ngân hàng của bạn hoặc từ tiền mặt của bạn. Để được cấp ngân phiếu này bạn sẽ phải đóng cho ngân hàng một khoảng lệ phí.

    Khác với personal banking account – Tài khoản ngân hàng của cá nhân. Vì Cashier check đảm bảo cho số tiền ghi trên tấm check là có giá trị.

    Còn Personal Bank Account thì đôi khi người chủ tấm check có thể ký đại mà không có tiền hoặc tiền trong tài khoản của tấm Check không đủ (Check bouncing, rain check).

    Cashier check và Money order có gì khác nhau?

    Cashier check và Money order khác nhau ở chỗ nào? Cách trả tiền của từng loại này như thế nào và có thể sử dụng trả tiền cả trong và ngoài nước được không?

    Money order là một loại ngân phiếu được trả tiền trước mà bạn có thể mua ở những nơi không phải ngân hàng, thông thường sẽ là Bưu Điện. Ở Mỹ thì thường là các cửa hàng tạp hóa (grocery stores, convenience stores…) cũng có.

    Money order khác với Cashier Check ở chỗ Money order có giới hạn không được quá 1000 đô la cho nội địa (domestic (US) postal money orders) và $700 cho nước ngoài (International Postal Money Orders) cho mỗi money order.

    Còn Cashier Check không bị giới hạn, miễn là số tiền trên Cashier Check đủ để bạn chi trả cho món hàng hoặc dịch vụ mà bạn muốn mua.

    Backlog, Back order là gì?

    Back Orders được hiểu là các đơn đặt hàng bị chậm trễ, vì một hay một số lý do nào đó mà vẫn chưa thể giao đi.

    Ví dụ như: Nếu bạn phải gửi hàng đi vào ngày 1 tháng 3 nhưng bị trễ sang ngày 2 tháng 3 hoặc lâu hơn, thì đơn hàng đó sẽ trở thành Back Order. Và sẽ được ghi chú lại trên biên bản báo cáo Backorder cho đến khi hàng hóa được chuyển giao đến tay khách hàng.

    Và trong thời gian đợi giao hàng đi, đơn hàng này cũng được xem như là Backlog do chưa được giao đi. Vì vậy, Back Order cũng là Backlog.

    Tuy nghiên mối liên hệ này dễ dàng gây ra nhầm lẫn, bởi Back Order là cho cả người bán mà người mua hàng, gây ảnh hưởng đến uy tín người bán và làm chậm trễ nhu cầu người mua. Nhưng Backlog lại có lợi

    Backlog là các đơn đặt hàng mà khách hàng đã gửi nhưng chưa đến thời điểm giao hàng. Số lượng các đơn hàng Backlog càng lớn, chứng tỏ có rất nhiều khách hàng mong muốn mua hàng của công ty bạn và muốn nhận được hàng ở một thời điểm nào đó trong tương lai.

    Ví dụ: Một khách hàng muốn được giao hàng vào ngày 1 tháng 3, do đó họ gửi đơn đặt hàng sớm hơn vào ngày 1 tháng 2. Và trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 2 đến ngày 1 tháng 3, đơn hàng đang được lưu để chờ ngày giao, đơn hàng đó được gọi là Backlog.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phí Lss Là Gì? Phụ Phí Giảm Thải Lưu Huỳnh Cho Tàu Biển
  • Alipay Là Gì? Cách Nạp Tiền Vào Tài Khoản Alipay Tại Việt Nam?
  • Nhân Viên Order Là Gì? 7 Kỹ Năng “vàng” Một Nhân Viên Order Nhà Hàng
  • Dhcp Relay Là Gì? Cấu Hình Dhcp Relay Như Thế Nào ?
  • 1.1.1.1 Là Gì? Nó Tăng Tốc Internet Và Bảo Mật Dữ Liệu Như Thế Nào Khi Duyệt Web?
  • Deadline Là Gì, Chạy Deadline, Bị Dí Deadline Nghĩa Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • File Pdf Là Gì? Những Thủ Thuật Cần Có Để Sử Dụng Pdf Hiện Nay
  • Gdp Là Gì? Tổng Hợp Kiến Thức Về Về Gdp
  • Ups Là Gì? Có Những Loại Nào?
  • Facebook Ads Là Gì? Tổng Quan Về Facebook Ads
  • Quảng Cáo Facebook Ads Là Gì? Cách Chạy Ads Facebook Như Thế Nào?
  • Deadline là một khái niệm phổ biến được dùng trong việc quản lý thời gian hoàn thành công việc, kiểm tra mức độ đáp ứng KPI yêu cầu so với mục tiêu đề ra, từ đó có mức độ khen thưởng xử phạt hợp lý. Deadline cũng có mặt tích cực và tiêu cực đối với nhân sự, tuy nhiên việc áp deadline là thật sự cần thiết.

    Nếu bạn đọc đã là một nhân viên văn phòng thì từ Deadline đã trở nên quen thuộc, câu mà được nhân viên hay nói nhiều nhất sau từ “lương” là “Bị dí Deadline”.

    Còn với những nơi cần độ chính xác về thời gian, lịch trình như ga tàu, sân bay hay ở phòng họp của công ty, chúng ta hay thấy những thông báo với Dateline như “chiều thứ 2, 3h họp tại văn phòng công ty”.

    Như vậy được biết đến là những thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong công việc, cuộc sống, học tập hàng ngày nhưng lại ít có ai có thể giải thích rõ ràng về Deadline là gì? và Dateline là gì? Cũng như phân biệt được hai thuật ngữ này được sử dụng như thế nào, có tác động gì khi sử dụng.

    Chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu thêm, giải đáp thắc mắc giúp bạn đọc một cách đơn giản và cụ thể nhất về Deadline và Dateline, cũng như sự phân biệt được giữa 2 thuật ngữ Dateline và Deadline là gì qua bài viết dưới đây

    Cụ thể hơn, Deadline là gì, chạy deadline nghĩa là gì?

    Deadline là thời hạn kết thúc, dùng cập thời gian để hoàn thành một nhiệm vụ hoặc công việc được giao. Đây là thuật ngữ được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề bởi nó góp phần giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu công việc mà doanh nghiệp muốn có từ nhân viên của mình.

    Bất kỳ công việc, dự án nào cũng đều cần có Deadline để ràng buộc, nó giúp đôn đốc, đốc thúc người chịu Deadline nỗ lực làm việc hoàn thành đúng tiến độ, xong công việc trong thời gian được giao.

    Giống như KPI, Deadline cũng có mặt tích cực và tiêu cực, tích cực là thúc đẩy bạn làm việc nhanh hơn, hiệu quả hơn.

    Còn tiêu cực là đôi khi Deadline sẽ trở thành áp lực, nặng hơn là stress trong công việc, dẫn tới ảnh hưởng tới công việc vì tâm lý lúc nào cũng trong tình trạng lo lắng, sợ trễ, chậm Deadline sẽ bị phê bình hay vì vội Deadline mà làm cho xong chứ kết quả đem về không cao.

    Do đó doanh nghiệp cần biết cách tận dụng, sắp xếp để Deadline trở thành “bàn đạp”, giúp triển khai công việc thuận lợi, cân bằng được giữa mặt tích cực và tiêu cực để đạt hiệu quả công việc cao nhất.

    Thuật ngữ “Chạy Deadline” ý chỉ những người cố gắng hoàn thành một khối lượng công việc được giao phó kịp thời gian đã giao trước đó.

    Ví dụ bạn có nhiệm vụ hoàn thành 10 sản phẩm trước 17h chiều, và đến 16h mà bạn vẫn chưa hoàn thành 10 sản phẩm, thì thuật ngữ Chạy Deadline lúc này nghĩa là bạn cố gắng hoàn thành đủ 10 sản phẩm trước 17h chiều.

    Ví dụ về Deadline với các bạn sinh viên

    Với những Công ty làm dự án sẽ thấy Sếp hay cho Deadline như “thứ 4 tuần này tôi cần bản hợp đồng và danh sách vật tư trên bàn làm việc của tôi”, thì bạn phải nhanh chóng hoàn thành trước và làm sao để đúng sáng thứ 4 bạn có những giấy tờ mà sếp yêu cầu trên bàn làm việc.

    Nếu như bạn để đến gần ngày mới làm hay để Sếp hỏi đến thì xem như bạn “xong” rồi. Lần đầu có thể bạn được bỏ qua hay nhắc nhở nhẹ, lần thứ hai, thứ ba thì ngày bạn rời công ty và tìm công việc mới sắp đến gần rồi, bạn hãy chuẩn bị tâm lý trước thì hơn

    Các bạn sinh viên thì chắc cũng không kém khi nhớ tới tuần trước giảng viên nói “thứ 5 nộp tiểu luận”, trong khi nay là thứ 4 rồi thì chắc chắn sẽ có không ít cú đêm cày ngày cày đêm để nộp tiểu luận cho đúng hạn.

    Deadline ảnh hưởng đến phát triển nhân sự như thế nào?

    Bên cạnh những mặt “không tốt”, Deadline cũng có những tích cực không thể không kể đến như nó sẽ chính là mục tiêu để bạn có thể theo dõi và thực hiện đúng kế hoạch đề ra một cách chuẩn xác nhất.

    Thúc đẩy bản thân làm việc và hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian được giao. Deadline còn giúp bạn tạo sự tin tưởng giữa bạn và doanh nghiệp hay giữa đối tác và người làm công, giúp đối tác thấy được sự hiệu quả và sự tín nhiệm của bạn đối với công việc.

    Ngoài ra, khi trở thành người quản lý, Deadline sẽ là “vũ khí” tâm lý để bạn thúc đẩy nhân viên của mình làm việc tốt hơn.

    Dateline là gì? Dateline khác với Deadline như thế nào?

    Dateline là mốc thời gian xảy ra một việc gì đó, thường dùng để thông báo về một lịch trình hay công việc, sự kiện nào đó.

    Ví dụ trong doanh nghiệp hay có Dateline thông báo họp như “3 giờ chiều nay họp” hay “ngày 28 sẽ trả lương cho nhân viên”.

    Hay như bạn cũng thường thấy trong các văn bản hành chính, có dòng chữ ghi ngày tháng ở đầu hoặc cuối văn bản: “TP.HCM, ngày… tháng… năm…” cũng được xem như Dateline. Dateline được sử dụng trong hầu hết các loại giấy tờ, thông báo ở các doanh nghiệp.

    Vai trò của Dateline đối với niềm tin của khách hàng ra sao?

    Các mốc thời gian rất quan trọng trong công việc. Dễ dàng nhận ra, mốc thời gian thường xuyên hiển thị trong văn bản, thông báo, báo cáo, lịch làm việc… của nội bộ doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thời gian còn là thông tin của khách hàng, bao gồm thời gian khách đặt lịch sử dụng dịch vụ, thời gian khách đến/ đi…

    Vì vậy, tại các đơn vị cung cấp dịch vụ cho khách hàng như khách sạn, nhà hàng nắm chắc thông tin Dateline sẽ dễ dàng chuẩn bị tiếp đón khách chu đáo hơn, đồng thời liên hệ các phòng, ban, bộ phận khác có liên quan để thực hiện quy trình phục vụ khách hàng.

    Dateline trong văn bản, thông báo, báo cáo giúp người nhận được nó theo dõi lịch sự kiện trong khoảng thời gian nhất định, từ đó tránh để sót thông tin.

    Phân biệt Dateline và Deadline như thế nào?

    Với lý do chủ yếu là cách phát âm của hai từ này có sự tương đồng, cùng mang ý nghĩa về thời gian dẫn tới có rất nhiều người nhầm lẫn, gây hiểu nhầm về nghĩa của 2 từ Dateline và Deadline với nhau. Trên thực tế, Dateline và Deadline lại là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt.

    Nếu Dateline chỉ mốc thời gian xảy ra một sự kiện nào đó, thường dùng như một thông báo về lịch trình hay sự kiện sẽ diễn ra vào thời điểm đó, thì Deadline lại cho bạn biết thời hạn kết thúc một công việc, để bạn có thể đo đếm được khoảng thời gian mà bạn sẽ thực hiện và hoàn thành công việc đó và phân chia thời gian làm việc một cách hiệu quả.

    Bất kể dự án, công việc nào bạn cũng sẽ được giao một Deadline cụ thể, vừa góp phần đốc thúc bạn hoàn thành công việc đúng quy định vừa giúp nhà quản trị có cái đánh giá về thái độ, tinh thần và trách nhiệm của bạn đối với công việc.

    Ví dụ về Deadline và Dateline: “Tôi có một cuộc họp vào lúc 5h ngày x tháng x năm xxxx” thì đây là Dateline. Còn Deadline là khi “Chúng tôi phải làm xong báo cáo trước 5h ngày x tháng x năm xxxx”.

    Ứng dụng Deadline, Dateline vào trong công việc bằng cách nào?

    Nhà quản trị thường dùng Deadline trong công việc như giao hạn cho bạn hoàn thành công việc, Deadline báo cáo… để đốc thúc bạn làm việc và hoàn thành trong thời gian đó.

    Còn Dateline thường dùng như thông báo như bạn sẽ nghỉ việc bắt đầu từ hôm nay vì không hoàn thành Deadline hay như sếp bạn hay nói “Phòng kinh doanh 3 giờ họp nhé”.

    Cả Deadline và Dateline đều được sử dụng trong công việc với mục đích tạo ra sự hiệu quả, thống nhất và đem lại lợi ích cho doanh nghiệp.

    Tầm quan trọng của Deadline đối với quản trị, quản lý công việc

    Deadline giúp nhà quản trị quản lý, theo sát nhân viên trong quá trình làm việc. Giúp mỗi người có một sự quản lý về công việc cũng như thời gian một cách khoa học nhất, phân lượng công việc với thời gian hợp lý, đảm bảo các dự án, công việc được giao hoàn thành đúng tiến độ.

    Đó là lý do tại sao cấp quản lý luôn đặt ra một Deadline cụ thể để nhân viên triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao.

    Qua đó, cũng là cách giúp nhân viên của họ có trách nhiệm và biết cách lên kế hoạch, sắp xếp công việc hợp lý, việc nào quan trọng thì ưu tiên làm trước, không gấp thì có thể làm sau đó và có khả năng thực hiện trong khoảng thời gian bao lâu.

    Tại sao doanh nghiệp cần xây dựng Deadline?

    Bạn nghĩa rằng Deadline có quan trọng không? Và tại sao chúng ta cần có Deadline? Dưới đây là một số quan điểm nêu ra để bạn đọc tham khảo.

    Deadline giúp hoàn thành công việc một cách hiệu quả

    Cùng là một công việc nhưng mỗi người sẽ có nhiều cách thực hiện hay sẽ có người như thế này người như thế kia, do vậy khi họ làm chung với nhau sẽ có sự khác biệt về cách làm, ý kiến.

    Hoặc sẽ có những người đi làm tính theo ngày lương nên một việc họ kéo dài tiến độ, có những người lại tâm huyết tích cực.

    Do vậy việc nhà quản trị đưa ra một con số Deadline sẽ giúp cho nhân viên của mình định hướng được hướng đi cho công việc. Đảm bảo được mục tiêu chung của công việc đặt ra có thể hoàn thành tốt nhất.

    Đồng thời, Deadline cũng giúp nhân viên tự theo dõi công việc của mình để phân chia công việc, thời gian lúc nào cần nhanh, cái nào cần làm trước một cách hiệu quả, từ đó giúp doanh nghiệp có thể hoàn thành dự án chung của doanh nghiệp, đạt được mục tiêu và đưa doanh nghiệp phát triển từ môi trường bên trong đến môi trường bên ngoài.

    Deadline giúp chúng ta tập trung mục tiêu

    Khi bạn ngồi vào bàn làm việc thì rất nhanh khoảng vài tiếng sau đó bạn sẽ bị các yếu tố bên ngoài tác động dẫn tới sự mất tập trung.

    Nếu như không đặt ra Deadline bạn sẽ tự nói với bản thân “để đó lát làm”, “còn sớm mà, 3p là xong” hay những lý do khác khiến bạn dễ chạy theo những tác động đó như facebook bạn trai nhắn tin bạn phải reply không người ta đợi hay đồng nghiệp rủ ăn vặt, trà sữa, bàn tán về những môn thể thao, âm nhạc mà bạn thích sẽ làm sao nhãng công việc mà bạn đang được giao.

    Chính vì thế, việc đặt ra Deadline và các mục tiêu cụ thể cần hoàn thành theo một mốc thời gian, sẽ giúp chúng ta tập trung vào công việc cần làm.

    Deadline tác động trực tiếp đến thời gian của chúng ta, một trong những lợi ích đầu tiên khi thiết lập Deadline là nó giúp kiểm soát thời gian cũng như sự nhiệt tình của bạn trước một công việc bất kỳ.

    Do vậy khi chúng ta buộc bản thân hay nhân viên phải lên kế hoạch cho các nhiệm vụ, công việc của mình theo thứ tự ưu tiên và nhờ đó chúng ta biết mình cần làm công việc gì trước, sự nhiệt tình cũng như trách nhiệm với công việc cũng được đảm bảo.

    Khi có thời hạn xác định, chúng ta sẽ học được cách tập trung vào các công việc quan trọng và hạn chế bị sao nhãng bởi những yếu tố bên ngoài khác.

    Và ngược lại, nếu không có Deadline hay thời hạn thời gian xác định, chúng ta có xu hướng bị thu hút bởi những tác động bên cạnh cuộc sống của chúng ta gây ra kéo dài thời gian làm công việc chính của mình, ảnh hưởng đến uy tín bản thân, ảnh hưởng đến doanh nghiệp.

    Deadline giúp bạn nhận biết các sai lầm sớm hơn

    Khi bạn hay nhân viên của bạn làm việc đúng thời hạn, theo kịp tiến độ, đúng Deadline, bạn sẽ có nhiều thời gian hơn để có thể sửa lại, đọc lại hay chuẩn bị lại kết quả của công việc thêm ít nhất một lần để rà soát các lỗi sai không cần thiết, nhận thấy các sai lầm đang phát sinh và điều chỉnh nó trước khi công việc, dự án hoàn thành.

    Nó dễ dàng và đỡ tốn thời gia, chi phí hơn nhiều so với việc hoàn tất toàn bộ dự án sau đó phát hiện sai lầm và điều chỉnh lại từ đầu.

    Deadline cho phép bạn chấp nhận những thất bại nhỏ

    Người Đức là đất nước mà con người theo đuổi chủ nghĩa hoàn hảo, như bạn đã biết dụng cụ nhà bếp, đặc biệt là dao của người Đức đạt tới mức hoàn hảo và tạo nên một thương hiệu cho sản phẩm từ đất nước này.

    Và ở Việt Nam cũng có rất nhiều người theo chủ nghĩa ngày, những người theo chủ nghĩa này khi giao việc hay nhiệm vụ cho họ bạn sẽ cảm thấy yên tâm rất nhiều, nó có thể giúp bạn vượt qua một số hạn chế cá nhân cũng như nghề nghiệp hiện tại của bạn để trở nên hoàn hảo nhất.

    Tuy nhiên, mong muốn hoàn hảo đôi khi cũng có thể trở thành một rào cản lớn khiến bạn khó có thể tiến bộ và đạt hiệu suất công việc cao, do mong muốn hoàn hảo, mọi thứ phải hoàn hảo, khi làm việc sẽ ảnh hưởng tới mọi người trong nhóm nên có thể dẫn tới mâu thuẫn hay bất đồng quan điểm, bản thân khó chấp nhận thay đổi và bảo vệ ý kiến cá nhân.

    Nhưng may mắn thay, khi bạn làm việc với một giới hạn thời gian chặt chẽ, một Deadline cụ thể, bạn buộc phải làm việc để đáp ứng thời hạn đó và qua đó không ngừng điều chỉnh kết quả công việc của mình, bản thân từ đó cũng hoàn thiện và phát triển tích cực theo hướng hoàn hảo.

    Khả năng đáp ứng thời hạn là một thước đo đáng tin cậy để đánh giá hiệu suất, đặc biệt là trong thế giới kinh doanh. Việc bạn luôn là người đúng Deadline sẽ giúp bạn có cái nhìn tốt đẹp với nhà quản trị, tạo sự tin tưởng, tín nhiệm trong công việc.

    Ngay cả trong cuộc sống, việc thiết lập thời hạn cá nhân cũng là một điều quan trọng, khi bạn thiết lập thời gian cá nhân, tạo cho bản thân thời gian biểu, sẽ giúp bản thân tạo những thói quen tốt, quản lý được thời gian cũng như làm việc hiệu quả.

    Theo diễn giả nổi tiếng Brian Tracy, người thiết lập, xây dựng Deadline, thời gian biểu khoa học có khả năng làm tăng thành công nhiều gấp 11,5 lần so với người không thực hiện.

    Cách vượt qua Deadline, không cố chạy, cố đạt khi bị dí Deadline

    Deadline được xem như yếu tố tâm lý, tạo ra sự thúc đẩy quá trình làm việc của nhân viên cũng như người quản trị, giúp tập trung hoàn thành công việc nhanh chóng.

    Một nhân viên tuân thủ Deadline sẽ thể hiện năng lực, tính cách, uy tín, trách nhiệm cũng phong cách làm việc chuyên nghiệp của người đó.

    Nếu bạn có Deadline phải hoàn thành trước 3 giờ chiều nay, hãy cố gắng để mọi thứ được hoàn tất trước đó 1 – 2 tiếng, nhờ đó bạn có thời gian để kiểm tra, chỉnh sửa lại báo cáo của mình.

    Trễ Deadline, “dầu sôi lửa bỏng” hay “chạy giặc” là những từ thường xuyên được dùng để nói những trường hợp bị Deadline dí, bạn phải tăng tiến độ để hoàn thành công việc theo đúng Deadline là những tình trạng mà nhiều người thường xuyên gặp phải.

    Vậy phải làm thế nào để đảm bảo làm đúng Deadline mà không phải rơi vào tình trạng bị “Deadline dí”

    Viết các Deadline ra lịch hoặc những tờ giấy note và để ở những vị trí dễ nhìn thấy, cách này sẽ giúp bạn ghi nhớ được những gì mình cần phải làm, tránh tình trạng Deadline bị lãng quên.

    Với những người có quá nhiều Deadline thì có thể sắp xếp theo trình tự Deadline nào cần làm trước lên trên. Việc thực việt viết công việc Deadline ra giấy sẽ giúp bạn tạo thói quen tốt, không bị lãng quên điều gì và có thể sắp xếp, làm việc hợp lý.

    Đặt ra Deadline là việc cần thiết để có bạn có kế hoạch, động lực làm việc nhưng trước khi đặt Deadline, bạn cần xem xét tính khả thi của nó.

    Deadline quá gấp trong khi lượng công việc mà bạn sẽ phải đảm nhận quá nhiều hay nhiều Deadline cùng lúc… sẽ khiến bạn rơi vào tình trạng căng thẳng vì công việc, áp lực, dẫn tới khả năng trễ Deadline cao hoặc kết quả công việc không như mong đợi.

    Hãy thương lượng với cấp trên hay khách hàng để thống nhất một Deadline khả thi nhất. Bạn cũng nên đặt Deadline trễ hơn 1 giờ hoặc 1 ngày so với thời gian thực tế mà bạn có thể hoàn thành để đề phòng những tình huống phát sinh cũng như là có thời gian để kiểm tra lại một vài lần trước khi gửi đi, đảm bảo không có sai sót.

    Thay vì phải mất thời gian làm cái này một ít làm cái kia một ít, không có cái nào nên làm trước làm sau hay bị phân tâm bởi tác động bên ngoài sẽ là những nguyên nhân khiến bạn mất phần lớn thời gian thực hiện công việc.

    Từ đó, việc có Deadline sẽ tạo cho bạn một tâm lý ít bị tác động, rút ngắn thời gian hoàn thành các công việc xuống mức tối đa sẽ đẩy nhanh tiến độ làm việc của bạn.

    Những sai lầm cần tránh khi lập ra Deadline

    – “Chồng chéo” các Deadline

    Các công việc khác nhau sẽ có thời gian thực hiện và hoàn thành khác nhau. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta sẽ bị trùng các Deadline với nhau, nhất là vào những giai đoạn nước rút trong doanh nghiệp như thời kỳ cuối năm, kết thúc hợp đồng, dự án.

    Vì vậy, bạn nên ghi chú, hệ thống lại theo ngày, tháng, quý, năm để có những sự điều chỉnh hoặc nhận hỗ trợ kịp thời.

    Bên cạnh đó việc tạo ra các Deadline sẽ giúp bạn quản lý thời gian và đốc thúc công việc nhưng việc ôm đồm quá nhiều Deadline cũng sẽ gây tiêu cực, tạo cho bạn áp lực, có quá nhiều thứ quan trọng cần làm trước và bạn không biết bắt đầu từ đâu hay không đủ thời gian để hoàn thành nhiều công việc cùng lúc như vậy.

    Vậy nên hãy sắp xếp Deadline và công việc tương ứng với thời gian bạn có để đảm bảo công việc được hoàn thành tốt nhất.

    – Tạo ra Deadline không thực tế

    Nếu lập ra Deadline không khả thi với khả năng, điều kiện thực tế thì bạn bắt buộc phải làm quá sức, tâm lý chán nản, áp lực và kết quả công việc thì có thể sẽ không được như mong muốn. Điều này không những ảnh hưởng cho bạn mà còn ảnh hưởng đến tập thể và doanh nghiệp.

    Vì vậy khi nhận được công việc với Deadline thì bạn nên xem có tính khả thi thực hiện hay không, nếu không hãy thương lượng với nhà quản trị để được giải quyết vấn đề này.

    – Không chia giai đoạn cho Deadline

    Cũng giống như việc bạn tham gia cuộc thi chạy marathon, nếu bạn đặt mục tiêu duy nhất là đích sẽ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, chán nản khi bạn đang ở giữa chặng đường vì bản thân bạn đã thấm mệt, dẫn tới suy nghĩ đích đến còn quá xa, không có động lực để kiên trì.

    Nhưng khi bạn chia nhỏ các đích đến trong quãng đường chạy sẽ khiến bạn có thêm động lực để cố gắng.

    Và Deadline của công việc cũng vậy, khi bạn chia thành những giai đoạn nhỏ cho Deadline sẽ giúp bạn hệ thống, đánh giá, phân phối sức lực, tài nguyên và thời gian một cách hợp lý hơn, bạn cũng có động lực hơn để hoàn thành mục tiêu công việc.

    – Tạo ra Deadline khi thật sự cần kiên nhẫn

    Tuy Deadline cho một công việc là điều nên làm nhưng đối với một số công việc cần sự tỉ mỉ, chính xác, nhất quán thì việc tạo ra Deadline sẽ gây tiêu cực.

    Do vậy chỉ khi cần thiết hay đối với những công việc cần thì mới sử dụng Deadline để đem lại lợi ích cho công việc cũng như là người thực hiện. Tránh làm uổng phí thời gian của bạn mà kết quả thì vẫn không được hoàn thành như mong muốn.

    – Bắt chước người khác

    Mỗi người có cách làm việc khác nhau, năng lực khác nhau và công việc cũng chưa chắc là giống nhau. Do vậy việc đặt Deadline rập khuôn theo người khác sẽ đẩy chính bạn vào thất bại, trễ Deadline.

    Tùy theo khả năng của bản thân, nhóm, trang thiết bị hỗ trợ mà thời gian hoàn thành công việc khác nhau, từ đó có Deadline cho riêng mình tương đương với công việc.

    Hy vọng rằng, qua bài viết này đã có thể giải đáp những thắc mắc mà bạn còn băn khoăn về Deadline là gì và Dateline là gì.

    Giúp bạn đọc hiểu hơn về những mặt tích cực tiêu cực của Deadline, cách tạo Deadline hiệu quả và hơn cả là phân biệt được Deadline là gì và Dateline là gì để suôn sẻ hơn trong công việc và cuộc sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Deadline Là Gì? Làm Sao Để Xây Dựng Deadline Hiệu Quả?
  • Worcestershire Sauce Là Gì ? Nguồn Gốc Và Thành Phần
  • At Và Mt Là Gì? Ưu Nhược Điểm Của 2 Loại Hộp Số At Và Mt
  • Rm Facebook Là Gì? Bm Facebook Là Gì?
  • Airbnb Là Gì? Làm Gì Để Đưa Danh Sách Phòng Của Bạn Lên Airbnb?
  • Khởi Nghiệp Là Gì? Startup Là Gì? Định Nghĩa Khởi Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảng Cân Đối Kế Toán (Balance Sheet) Là Gì?
  • Hàng Authentic Là Gì? Có Nên Sử Dụng Hàng Auth Hay Không?
  • Môi Trường Toàn Cầu Là Gì?
  • Những Thói Quen Có Hại Cho Răng Là Gì?
  • Cre Là Gì? Viết Tắt Của Từ Nào? Ý Nghĩa Của Cre
  • Khởi nghiệp là gì? Startup là gì? Đâu là những yếu tố mà người khởi nghiệp trẻ cần có? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm. Nhất là khi phong trào “Quốc Gia Khởi Nghiệp” đang dần được phổ biến rộng khắp.

    Khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không được chắc chắn nhất.

    Cùng xem bài viết để hiểu thêm khởi nghiệp là gì? startup là gì?

    Startup là gì? Khởi nghiệp là gì?

    Khởi nghiệp – Startup là bạn có ý định tự mình có một công việc kinh doanh riêng, bạn muốn tự mình làm và quản lý tự kiếm thu nhập cho mình. Bạn cung cấp và phát triển một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, mua bán lại một sản phẩm hay cửa hàng đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó.

    Khởi nghiệp cũng có nghĩa là bạn tạo ra giá trị có lợi cho người cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước. Khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội.

    Đối với cá nhân startup, việc theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê. Startup được tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại.

    Đối với xã hội & nền kinh tế nước nhà thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm. Điều này giúp đất nước có thể giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình.

    Khởi nghiệp có thể là bạn tự mở cho mình một cửa hàng như bún bò, phở, xôi sáng, quán cafe, tiệm Internet, cửa hàng mỹ phẩm, cửa hàng tiêu dùng hay mở trang trại trồng cây, chăn nuôi, xưởng sản xuất một mặt hàng nào đó hay đơn giản bạn chỉ thương mại tức mà mua đi bán lại …

    Khởi nghiệp là bạn vừa là nhân viên vừa là ông chủ hoặc cao hơn bạn tự thành lập doanh nghiệp riêng cho mình rồi tuyển nhân viên vào cùng làm. Vì vậy khởi nghiệp cũng chính là bạn bắt đầu làm chủ. Và khởi nghiệp cũng chính là một công việc kinh doanh của bạn vì nó liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường để bạn có thu nhập. Chính vì vậy người ta thường gọi là khởi nghiệp kinh doanh.

    Chúng ta hãy bắt với định nghĩa của “startup” để nắm bắt ý nghĩa tự nhiên thiết yếu của nó, và cố gắng lược bỏ các mối liên hệ cụ thể của hầu hết quá trình startup đáng chú ý.

    Khởi nghiệp là một tổ chức của con người được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất.

    Hãy giải thích một cách lần lượt. Đầu tiên, tôi muốn nhất mạnh khía cạnh tổ chức con người, bởi điều này hoàn toàn bị bỏ sót trong câu chuyện “2 gã trong nhà để xe”. Từ “thể chế” bao hàm ý nghĩa của chế độ quan liêu, quy trình và thậm chí cả sự thờ ơ. Làm thế nào điều đó có thể là một phần của “startup”. Tuy nhiên, những câu chuyện thật về những sự khởi đầu thành công bao gồm đầy đủ các hoạt động có thể được gọi là xây dựng tổ chức: thuê các nhân viên sáng tạo, phối hợp hoạt động của họ, và tạo ra văn hóa công ty mang lại kết quả. Mặc dù một vài công ty startup có thể tiếp cận các hoạt động này theo những cách cực đoan, nhưng dù sao chúng cũng là những thành phần quan trọng góp phần tạo nên thành công.

    Vậy từ “con người” trong khái niệm này là dư thừa? Vậy những hình thức khác của tổ chức là gì?

    Chúng ta thường bỏ qua thực tế là startup không phải là sản phấm của chúng, không phải là những đột phá công nghệ, hoặc thậm chí không phải dữ liệu của chúng. Ngay cả đối với các công ty mà chủ yếu chỉ có một sản phẩm, giá trị công ty tạo ra không phải ở sản phẩm đó mà ở con người và tổ chức của họ tạo ra nó. Để có được bằng chứng về điều này, đơn giản chỉ cần quan sát các kết quả của nhiều vụ mua lại các công ty startup. Trong hầu hết các trường hợp, các khía cạnh quan trọng của công ty startup biến mất, ngay cả khi sản phẩm, thương hiệu, và thậm chí cả khi hợp động lao động được lưu trữ.

    Cái mới của sản phẩm hay dịch vụ mà công ty startup mang đến cũng là yếu tố quan trọng của khái niệm. Nó cũng là một yếu tố phức tạp. Tôi ưu tiên khái niệm rộng nhất của sản phẩm, bao gồm bất cứ nguồn giá trị nào của tập hợp những người tự nguyện trở thành khách hàng. Điều này cũng đúng với hàng hóa được đóng gói của một cửa hàng tập hóa, một trang website thương mại điện tử, một dịch vụ xã hội phi lợi nhuận hoặc một loạt các chương trình của chính phủ. Trong mọi trường hợp, tổ chức được dành để phát hiện ra nguồn giá trị mới cho khách hàng, và quan tâm đến tác động thực tế của công việc đến khách hàng (trái lại, sự độc quyền hay quan liêu thường không quan tâm đến điều đó và chỉ tìm cách duy trì bản thân).

    Điều đó cũng quan trọng khi chúng ta nói về sự sáng tạo, nhưng điều này cũng cần được hiểu một cách rộng rãi. Ngay cả những sáng chế tiên tiến nhất cũng luôn được xây dựng dựa trên các công nghệ cũ. Nhiều công ty startup không sáng chế ở khía cạnh sản phẩm, mà sử dụng các sáng chế khác: điều chỉnh những công nghệ hiện tại cho mục đích mới, đặt ra một mô hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị trước đây chưa được tìm ra, hoặc thậm chí mang sản phẩm hay dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm khách hàng trước đây chưa được phục vụ. Trong tất cả các trường hợp này, sự sáng tạo đổi mới là chìa khóa đưa đến thành công cho công ty.

    Bởi vì sáng tạo vốn là mạo hiểm, có thể lợi nhuận quá lớn về kinh tế cho các công ty startup có thể tận dụng rủi ro theo một cách mới – nhưng đây không phải là một phần tất yếu của công ty startup. Câu hỏi là: “mức độ của sự sáng tạo mà doanh nghiệp muốn đạt được là gì?”

     Phần quan trọng cuối cùng của khái niệm này: bối cảnh của sự sáng tạo.

    Hầu hết các doanh nghiệp lớn nhỏ đều bị loại trừ trong bối cảnh này. Các công ty startup được lập ra để đối phó được với tình huống bất ngờ nhất. Để mở một doanh nghiệp mới là bản sao chính xác của doanh nghiệp hiện tại, tập trung vào mô hình kinh doanh, giá cả, khách hàng được nhắm tới, và sản phẩm trong nhiều trường hợp là một cách đầu tư kinh tế hấp dẫn. Nhưng nó không phải là công ty startup, bởi vì thành công của doanh nghiệp chỉ phụ thuộc quá nhiều vào cách thực thi tốt đến nỗi thành công này có thể được mô hình hóa với độ chính xác cao. Đó là lý do tại sao nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể được tài trợ vốn vay ngân hàng; mức độ rủi ro và không chắc chắn đủ rõ ràng để một nhân viên cho vay sáng suốt có thể đánh giá triển vọng của nó.

    Do đó, các công ty startup có một vị trí đặc biệt, khi rủi ro là không có.

    Trái với những trường hợp rủi ro khác, như mua cổ phiếu có rủi ro cao. Mặc dù mức chi trả cụ thể của cổ phiếu rủi ro không được biết đến, đầu tư vào các cổ phiếu như vây có thể được mô hình một cách chính xác. Vì vậy mộ nhà tư vấn tài chính giỏi có thể cung cấp cho bạn khoản lợi tức dài hạn một cách chính xác và hợp lý mà các cổ phiếu rủi ro mang lại. Khi “phí rủi ro” tính toán được, chúng ta không còn là startup. Trên thực tế, trước đây, phần lớn các công ty startup là dễ như trở bàn tay. Có lẽ ví dụ nổi tiếng nhất hiện nay là Google: làm thế nào chúng ta có thể sống thiếu nó? Xây dựng một sản phẩm đặc biệt gần như không rủi ro như nó có vẻ vào thời điểm đó; thật ra, theo tôi đó là một suy luận hợp lý để nói rằng nó đã gần như được đảm bảo để thành công. Nó chỉ không khả thi cho ai muốn biết trước tương lai.

    Các công ty startup được thiết kế cho những tình huống không thể mô hình hóa, không rõ ràng, và độ rủi ro không nhất thiết phải lớn mà chỉ chưa tính toán được. Tôi nhấn mạnh điểm này bởi vì nó cần thiết để thúc đẩy số lượng lớn lý thuyết về “lean startup” (Việc sử dụng các nền tảng được kích hoạt bởi mã nguồn mở và phần mềm miễn phí, tập trung vào khách hàng và ý kiến phản hồi của họ). Về cơ bản, “lean startup” là một phương pháp đối mặt với điều không chắc chắn và chưa được nhận ra với sự linh hoạt, cân bằng và hiệu quả. Nó là một kinh nghiệm khác hẳn với công việc khó thực hiện trong một loại hình kinh doanh truyền thống, và mục tiêu của tôi không phải để hệ thấp những người khác – cuối cùng, hầu hết các công ty startup đều mong muốn sau này không còn là startup.

    Những khác biệt này vẫn còn là vấn đề, bởi vì “cách thực hành tốt nhất” được học từ những hoàn cảnh khác không thể áp dụng tốt vào startup. Thật ra sự thất bại đáng kể nhất xảy ra khi bạn không nhận ra mình đang trong tình trạng startup hoặc không nhận ra nó có nghĩa gì.

    Ai nên bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh?

    Hầu như bất cứ người nào cũng có thể khởi nghiệp kinh doanh nếu muốn, không phân biệt già hay trẻ, nam hay nữ, không phân biệt trong hay ở ngoài nước, thành thị hoặc nông thôn; miễn là bạn có một ý tưởng kinh doanh thiết thực hay có thể thực hiện được, có thể đem lại lợi ích cho chính bản thân mình và toàn xã hội.

    Tuy nhiên hiện nay những ý tưởng khởi nghiệp được hình thành chủ yếu bởi các bạn đam mê làm giàu và sáng tạo, nhất là những bạn sinh viên đang đi học hoặc vừa ra trường. Những con người trẻ tuổi đang ở độ tuổi tràn đầy nhiệt huyết, họ cũng có đủ sự nhanh nhạy, khả năng nắm bắt những kiến thức & kỹ năng công nghệ mới. Họ có lòng can đảm và khát khao khẳng định bản thân hơn những người đi trước mặc dù những người đi trước lại có nhiều lợi thế về kinh nghiệm hơn.

    Vì thế dù bạn còn trẻ và chưa có gì trong tay, đừng lo sợ gì cả, hãy cứ thử nghiệm và thất bại. Khởi nghiệp kinh doanh không bao giờ là sự lựa chọn dễ dàng, nó không dành cho tất cả mọi người. Nhưng nếu người khởi nghiệp trẻ có đủ quyết tâm và lòng kiên trì, đủ dũng cảm để đối mặt với những chông gai thử thách có thể gặp phải trên con đường khởi nghiệp thì có lẽ đây chính là con đường phù hợp với bạn.

    Những yếu tố mà người khởi nghiệp cần phải có

    Năng lực sáng tạo không giới hạn:

    Yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất khi bắt đầu con đường làm giàu của mình đó là bản thân người startup phải có một sự sáng tạo vượt bậc. Bởi vì chỉ có sự sáng tạo không giới hạn mới có thể làm nên sự khác biệt giữa bạn và đối thủ, chỉ có sự sáng tạo hơn người mới có thể giúp bạn nhìn thấu toàn bộ thị trường hiện tại, tìm ra những nhu cầu chưa được đáp ứng, từ đó đưa ra kế hoạch kinh doanh đặc biệt riêng cho startup của mình.

    Kế hoạch này không nhất thiết phải bao gồm những ý tưởng khởi nghiệp kinh doanh chưa ai biết đến hay những ý tưởng mới hoàn toàn chưa ai nghĩ đến, mà nó phải tạo nên sự đột phá và lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp của bạn.

    Sự khác biệt trong sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp là điểm tựa quan trọng cho bạn trên thị trường cạnh tranh đầy khốc liệt này. Vậy thì, thay vì tranh giành miếng bánh với các đối thủ lớn trên thị trường ra đời sớm hơn mình, mạnh hơn mình, nhiều kinh nghiệm hơn mình thì chúng ta có thể tự tìm ra một miếng bánh mới – mà tại đó chúng ta chính là người dẫn đầu.

    Nguồn vốn khởi nghiệp kinh doanh:

    Một trong những yếu tố quan trọng khác khi bạn muốn khởi nghiệp đó là vốn khởi nghiệp kinh doanh. Đây là nguồn nuôi dưỡng cho kế hoạch kinh doanh và là một đòn bẩy cho sự thành công của bạn.

    Sự kiên trì – không bỏ cuộc:

    Sở dĩ đức tính kiên trì là một yếu tố quan trọng bởi vì trong quá trình khởi nghiệp không phải ai cũng có được thành công trong lần đầu bắt tay vào làm, có những người thất bại rất nhiều lần nhưng họ vẫn không từ bỏ, vẫn tiếp tục đứng dậy để thực hiện ý tưởng của mình. Chính sự quyết tâm và lòng kiên trì trong con người đó đã tạo nên sự thành công – “Thất bại là mẹ thành công” . Thật sự, thực tế đã chứng minh rằng những doanh nhân khởi nghiệp thành công là những người có tinh thần quyết tâm cao hơn những người bình thường để vượt qua những trở ngại, có sự đam mê và kiên trì vượt trội để có thể đứng lên từ những thất bại trong thời gian ngắn.

    Kỹ năng nền tảng cơ bản về kiến thức chuyên môn:

    Hiện nay muốn làm bất cứ một việc gì trong bất cứ một ngành nghề nào bạn cũng cần phải có kiến thức về ngành nghề đó, vì thế nếu muốn khởi nghiệp kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó bạn cũng nên tìm hiểu kĩ các kiến thức xung quanh lĩnh vực đó.

    Ví dụ: bạn muốn khởi nghiệp bằng cách mở phòng thu âm chuyên nghiệp, thì bạn cần phải có những kiến thức cơ bản trong thanh nhạc, âm thanh, cách hoà âm – phối khí hoặc cần biết sử dụng một số nhạc cụ phổ thông… Hay bạn muốn trở thành một nhà kinh doanh thời trang lớn bạn cần có những kiến thức cơ bản gu thẩm mỹ, thời trang, nắm được xu hướng thời trang, về bán hàng …

    Việc hiểu biết các kiến thức cơ bản, chuyên môn trong lĩnh vực mình hoạt động hay nhiều khía cạnh khác nhau trong doanh nghiệp như sản phẩm, nhân lực, công nghệ, thị trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan là một bước đệm quan trọng giúp bạn tránh khỏi sự thất bại trong việc thiếu chuyên môn và những lí do ngoài ý muốn. Vì thế nếu bạn có ý định khởi nghiệp trước tiên hãy trang bị đầy đủ cho mình những kiến thức này.

    Kỹ năng tìm hiểu và nghiên cứu thị trường:

    Nghiên cứu thị trường tiềm năng sẽ cung cấp cho nhà startup có những thông tin quan trọng về lĩnh vực thị trường mà mình hoạt động. Ngoài ra, việc này giúp khởi nghiệp kinh doanh và phát triển kế hoạch kinh doanh; dể dàng thích ứng với thị trường trong tương lai. Những yếu tố cần được ưu tiên khi nghiên cứu thị trường sẽ là:

    • Xu hướng phát triển thị trường, mức độ hấp dẫn, mức độ cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng, xu hướng bán hàng
    • Kiểm tra hồ sơ các đối thủ cạnh tranh trực tiếp – gián tiếp và đối chiếu với doanh nghiệp mình
    • Phân tích nhân khẩu học của khách hàng, vị trí địa lý, khách hàng điển hình, khách hàng tiềm năng.

    Kỹ năng quản lý tài chính:

    Quản lý tài chính là một kỹ năng cực kỳ quan trọng đối với người khởi nghiệp kinh doanh. Quá trình startup sẽ cần một lượng tiền nhất định để xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư nhân lực trong khi chưa thể hoạt động để có doanh thu ngay được. Do đó, cần có kế hoạch chi tiêu làm sao vừa phải tiết kiệm và vừa cần hợp lý ngay từ giai đoạn đầu cũng như trong suốt quá trình phát triển sau này của doanh nghiệp khởi nghiệp.

    Kỹ năng ủy quyền – giao quyền:

    Ủy quyền liên quan tới việc phân bổ trách nhiệm cho mọi người để hoành thành công việc. Điều kiện lý tưởng mà bạn muốn đạt được là khi các nhân viên của bạn có thể thực hiện được tất cả các hoạt đồng hàng ngày trong doanh nghiệp mình.

    Ủy thác một cách hiệu quả sẽ giúp đạt được sự cân bằng giữa hiệu quả quản lý và hiệu quả hoàn thành công việc của mọi người. Nhân tố chìa khóa là biết cách làm sao để doanh nghiệp của bạn làm việc cho mình, chứ không phải là bạn tất bật chạy theo quá trình hoạt động của doanh nghiệp mình.

    Kỹ năng lập kế hoạch và xây dựng chiến lược:

    Lập kế hoạch và xây dựng chiến lược là một hoạt động rất quan trọng trong kinh doanh. Nó là quá trình xác định chiến lược công ty của bạn hay phương hướng và quyết định việc phân bổ nguồn vốn cũng như nhân sự. Bí quyết ở đây là việc biết làm thế nào để dự kiến được khả năng hoạt động của doanh nghiệp của bạn trong tương lai từ 3 đến 5 năm tới với kế hoạch kinh doanh chi tiết.

    Ngoài những yếu tố đã được nêu trên thì các kỹ năng mềm – kỹ năng sống cơ bản của bản thân bạn như quản lý thời gian, quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp… cũng là một trong những yếu tố không thể thiếu. Kỹ năng mềm – kỹ năng sống tuy không mang ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của doanh nghiệp nhưng nó là yếu tố hỗ trợ giúp gia tăng khả năng thành công cho quá trình khởi nghiệp của bạn và tạo thế chủ động cho doanh nghiệp của bạn trong các tình huống khó khăn có thể gặp phải.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Yêu Xa Là Gì?
  • Lgbt Là Gì Trên Facebook? 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt
  • Giấc Ngủ Là Gì? Ý Nghĩa Của Giấc Ngủ Với Sức Khỏe Mỗi Người?
  • Mount File Iso Là Gì?
  • Zumba Fitness Là Gì? Bạn Có Thật Sự Hiểu Rõ Về Khái Niệm Này?
  • Lgbt Là Gì Trên Facebook? 7 Điều Thú Vị Về Cộng Đồng Lgbt

    --- Bài mới hơn ---

  • Yêu Xa Là Gì?
  • Khởi Nghiệp Là Gì? Startup Là Gì? Định Nghĩa Khởi Nghiệp
  • Bảng Cân Đối Kế Toán (Balance Sheet) Là Gì?
  • Hàng Authentic Là Gì? Có Nên Sử Dụng Hàng Auth Hay Không?
  • Môi Trường Toàn Cầu Là Gì?
  • Lgbt là một khái niệm thuật ngữ xuất hiện trên Facebook hoặc các mạng xã hội, truyền thông, báo chí một cách rộng rãi. Lgbt là viết tắt của các từ cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender) trong tiếng Anh.

    LGBT là chữ viết tắt của từ gì trong tiếng Anh?

    Những năm gần đây khi nghe đến chuyển giới, les hay những từ nhạy cảm như bê đê không còn là điều mới mẻ, bị cộng đồng hắt hủi nữa, bởi nhờ có chính sách mới của Nhà nước cũng như sự đồng cảm của cả cộng đồng mà những người này đã có thể hòa đồng hơn, sống hòa nhập hơn.

    Và từ đó cộng đồng người này được gọi chung dưới cái tên LGBT. Vậy LGBT là gì, nó có ảnh hưởng hay có những đặc điểm gì? Cùng WikiDinhNghia tìm hiểu và giải đáp qua bài viết “Tìm hiểu về cộng đồng LGBT là gì” dưới đây bạn nhé!

    Lgbt là một cụm từ được viết tắt từ các từ Lesbian, Gay, Bisexual và Transgender lấy các chữ cái đầu ghép lại mà thành. Lgbt có thể hiểu là cộng đồng những người đồng tính. Lgbt còn là tên của các nhóm, cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và Hoán tính hay còn gọi là Người chuyển giới (Transgender).

    Lgbt là gì, Lgbt là tên gọi dành cho một cộng đồng thể hiện sự đa dạng của các nền văn hoá dựa trên thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và bản dạng giới tính.

    Thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c của con người được chia thành 3 loại chủ yếu: dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái, còn theo bản dạng giới thì phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới. Trong đó, Lgbt là cộng đồng những người thuộc các thiên hướng tính dục và bản dạng giới thiểu số trong xã hội.

    Cộng đồng Lgbt là gì trên facebook, các trang truyền thông, báo chí?

    Xã hội rất đa dạng người và giới tính của mỗi người cũng vậy, có người họ làm nam nhưng con người bên trong là nữa, tương tự họ là nữ giới nhưng mạnh mẽ và muốn trở thành nam giới.

    Và Lgbt không còn chỉ một người hay một vài người mà dùng cho một cộng đồng, cộng đồng của những người muốn sống thật với con người bên trong của mình, người ta thường hay gọi là cộng đồng Lgbt tức là cộng đồng người đồng tính.

    Ý nghĩa Lgbt – Life Gets Better Together

    Hoặc có những người họ có suy nghĩ tích cực, chủ động hòa đồng, ủng hộ cộng đồng này, họ thường dịch “Lgbt” theo một nghĩa khác tốt đẹp hơn “Life Gets Better Together” dịch ra là cuộc sống nên trở nên tốt đẹp với nhau. Nghĩa là cuộc sống này sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi mọi người hòa nhập với nhau, không kỳ thị hay phân biệt.

    Thuật ngữ Lgbt không phải là một từ chính thống trong pháp lý nhưng được nhóm người này chấp nhận và sử dụng rộng rãi (đặc biệt là những nước sử dụng tiếng Anh).

    Và trong thời gian vừa qua chắc hẳn mọi người thấy mạng xã hội Facebook có trào lưu dùng hình đại diện hoặc khung hình có nền 6 màu, điều này xuất hiện như một hiện tượng xã hội, chắc hẳn đang khiến bạn đọc thắc mắc đó là gì và có ý nghĩa như thế nào? Qua tìm hiểu WikiDinhNghia đưa ra lời giải đáp như sau.

    Cờ lục sắc Lgbt gồm những màu nào và ý nghĩa ra sao?

    Việc sử dụng hình nền hay khung viền hình đại diện trên mạng xã hội với 6 màu tương ứng với ý nghĩa về màu sắc:

    • Màu đỏ – dũng khí
    • Màu cam – nhận thức và khả năng
    • Màu vàng – thách thức
    • Màu xanh lá – sự khích lệ và phấn đấu
    • Màu xanh dương – hy vọng, sự chia sẻ, giúp đỡ và đấu tranh
    • Màu tím – sự thống nhất và hòa hợp.

    Và được xem như là lá cờ, biểu tượng của cộng đồng Lgbt, 6 màu này được sử dụng chung cho cả cộng đồng LGBT, ngoài ra mỗi cộng đồng nhỏ trong LGBT lại có một biểu tượng riêng biệt, chẳng hạn như:

    Cờ riêng của mỗi cộng đồng nhỏ trong Lgbt là gì?

    • Cờ của cộng đồng người toàn tính (Pansexual) gồm 3 màu: hồng – vàng – xanh da trời.
    • Cờ của cộng đồng song tính (Bisexual) gồm 3 màu: hồng – tím – xanh dương
    • Cờ của người vô tính (Asexual) gồm 4 màu: đen – xám – trắng – tím than
    • Cờ của cộng đồng người chuyển giới (Transgender) gồm 3 gam màu chia thành 5 dải màu, cụ thể như sau: xanh da trời- hồng- trắng- hồng- xanh da trời.

    Phong trào này là do vào ngày 26/06/2015 vừa qua, Mỹ đã thông qua điều luật cho phép việc kết hôn những người đồng tính trên khắp cả nước Mỹ. Điều này đã có một sự không nhỏ và có thể được chứng minh như Ông chủ Facebook đã tham gia hưởng phong trào đó cùng với cộng đồng Lgbt qua việc thay đổi hình đại diện của mình có nền là cờ lục sắc 6 màu.

    CEO của Apple là Tim Cook đã cùng các nhân viên của mình xuống đường để ủng hộ cho sự kiện này. Ngoài ra còn có người dân khắp đất nước cũng như nhiều quốc gia khác đồng thực hiện hưởng ứng.

    Ở Việt Nam đông đảo các bạn trẻ cũng hưởng ứng bằng việc sử dụng hình nền đại diện có nền cờ lục sắc. Trước đây ở Việt Nam cũng có phong trào do cộng đồng Lgbt khởi xướng là “Tôi đồng ý” cũng được sự ủng hộ của rất nhiều người.

    Tuy nhiên, ở Việt Nam chúng ta việc kết hôn đồng tính, hay chuyển giới mãi đến năm 2014 mới được xóa bỏ theo Nghị Định tháng 10 năm 2013 của Nhà nước, được nhà nước công nhận là hợp pháp.

    Biểu tượng lá cờ 7 màu của cộng đồng Lgbt có ý nghĩa gì?

    Đọc đến đây chắc hẳn bạn đọc đang thắc mắc là phần trên là 6 màu xong xuống nội dung này là 7 màu là như thế nào khảo không ạ. Nguyên nhân là do trong thực tế, người ta sử dụng biểu tượng không có màu chàm và màu lam được thay bằng màu xanh cyan.

    Do vậy mà biểu tượng cũng như lá cờ của cộng đồng Lgbt còn 6 màu. Còn trên lý thuyết là bao gồm 7 màu của cầu vồng gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím (red, orange, yellow, green, blue, indigo, violet). Mang ý nghĩa, tượng trưng cho tính cách, cá tính cũng như giới tính và đặc điểm của cộng đồng này.

    Những người Lgbt nổi tiếng, quyền lực trên Thế Giới hiện nay

    • Greta Garbo (1905-1990)
    • Ruth Benedict (1887-1948)
    • Roberta Cowell (1918-2011)
    • Lili Elbe (1882-1931)
    • Gertrude Stein (1874-1946)
    • Marlene Dietrich (1901-1992)
    • Jane Addams (1860-1935)
    • Emily Dickinson (1830-1886)
    • Rosa Bonheur (1822-1899)
    • Frida Kahlo (1907-1954)
    • Chị em nhà Wachowski
    • Mary Kay Henry
    • RuPaul Charles
    • Tammy Baldwin
    • Anthony Romero
    • Ryan Murphy
    • Jill Soloway
    • Ellen DeGeneres
    • Anderson Cooper
    • Rachel Maddow
    • Stephen Fry
    • Ian McKellen
    • Elton John
    • Boy George
    • Billie Jean King
    • Và còn rất nhiều nhân vật nổi tiếng khác nữa.

    Những khái niệm, thuật ngữ định nghĩa về cộng đồng LGBT là gì?

    Đồng tính luyến ái nữ (Les là gì hay Lesbian là gì?)

    Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c hoặc việc yêu đương hay quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c giữa những người cùng giới tính với nhau, trong một hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài.

    Với vai trò là một thiên hướng tính dục, chủ yếu và duy nhất đối với người cùng giới tính. Đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, hoặc hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c. Nó cũng là đánh giá thực về một cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này.

    Trong thang liên tục dị tính – đồng tính (Thang Kinsey), đồng tính luyến ái cùng với dị tính luyến ái và song tính luyến ái được chia thành ba dạng chủ yếu của thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c con người.

    Khi một biến thể có bản chất bình thường và tích cực của tính dục con người, không phải là một bệnh hay sự lệch lạc tâm lý và đặc biệt không phải là nguyên nhân gây ra các hiệu ứng tâm lý tiêu cực.

    Với sự đồng tình, chấp nhận từ cộng đồng cũng như từ phía Chính Phủ, nhiều người đồng tính nam, đồng tính nữ và đã đang sống trong mối quan hệ gắn kết, lâu dài. Thông qua các hình thức điều tra dân số mới nhận thấy con số đã có sự thay đổi tích cực, tạo điều kiện cho việc bộc lộ, công khai xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân của họ.

    Nếu dựa trên những khía cạnh tâm lý thiết yếu thì những mối quan hệ này có thể hiểu là tương đương với các mối quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c khác giới, không có nhiều sự khác biệt.

    Đồng tính luyến ái đã từng được ngưỡng mộ cũng như lên án trong suốt quá trình phát triển nhân loại được lịch sử ghi lại, tùy thuộc vào hình thức của nó và nền văn hóa mà nó diễn ra.

    Từ cuối thế kỷ XIX đã có một phong trào trên phạm vi toàn cầu về xu hướng tăng khả năng bộc lộ, công khai thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c bản thân ở người đồng tính, công nhận pháp lý các quyền lợi hợp pháp cho những người đồng tính.

    Trong đó có quyền kết hôn và các hình thức kết hợp dân sự, quyền nhận con nuôi và làm cha mẹ ở người đồng tính, các quyền liên quan đến việc làm, phục vụ trong quân đội, tiếp cận bình đẳng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và sự ra đời của luật chống bắt nạt để bảo vệ trẻ vị thành niên đồng tính đã được diễn ra và lan rộng trong suốt một thời gian dài.

    Và không chỉ ở Con người, các nhà nghiên cứu khoa học về động vật chỉ ra hành vi đồng tính cũng rất phổ biến trong thế giới tự nhiên, được quan sát và ghi nhận ở khoảng 1.500 loài động vật.

    Đồng tính luyến ái nam (Gay) là gì?

    Có thể do thời đại đổi mới, nên suy nghĩ cũng tích cực hơn. Như trước đây những người nam bị thu hút về mặt tâm hồn và thể xác bởi con trai chứ không phải con trai, họ muốn là con gái, bị gọi dưới cái tên nghe không mấy dễ chịu là “Bê đê”.

    Nhưng sau này, những cái tên như “bóng”, “Bóng kín, bóng hở”, “3D” hay “Gay” là 1 những từ chỉ nhóm người này. Thường với Nam mà là nữ thì gọi như vậy, còn với Nữ mà là nam thì họ hay gọi là “Les” hơn.

    Giống như một mối quan hệ giữa con gái và con trai, mối quan hệ giữa hai con trai cũng bao gồm cả những rung động về mặt cảm xúc, tình cảm chứ không chỉ là hấp dẫn về thể xác như nhiều người lầm tưởng.

    Không thể biết được một người là Gay hay không chỉ dựa trên bề ngoài đầu tóc, cách ăn mặc, đi đứng nói năng, … của họ. Vì có những “Gay” nam tính (Male) nhưng cũng có những “Gay” nữ tính (Bot). Tùy theo cách mà họ muốn thể hiện, với con người mà họ hướng tới thôi.

    Song tính luyến ái (Bisex hay bisexual là gì?)

    Song tính luyến ái hay lưỡng giới (tiếng Anh: bisexual) là mối quan hệ hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c của một người với cả hai giới tính nam và nữ. Là với người song tính luyến ái họ có thiên hướng với cả người cùng giới tính và khác giới tính với mình về mặt tình cảm, cảm xúc, hoặc cả t.ì.n.h d.ụ.c.

    Lưỡng giới cũng chỉ sự công nhận về mặt cá nhân và xã hội đối với những người như vậy. Song tính luyến ái, cùng với đồng tính luyến ái và dị tính luyến ái là ba thiên hướng tính dục chính.

    Những người không bị hấp dẫn về mặt t.ì.n.h d.ụ.c với cả nam lẫn nữ thì ngược lại và được xếp vào nhóm còn lại tròn thang đo đồng tính, được gọi là vô tính (asexual).

    Theo nghiên cứu của Alfred Kinsey về t.ì.n.h d.ụ.c loài người vào giữa thế kỷ 20, nhiều người không chỉ là dị tính luyến ái hoặc đồng tính luyến ái mà nằm giữa hai loại này. Kinsey đánh giá sự hấp dẫn và thể hiện t.ì.n.h d.ụ.c trên một thang 7 điểm bắt đầu từ 0 (hoàn toàn dị tính luyến ái) đến 6 (hoàn toàn đồng tính luyến ái).

    Theo nghiên cứu của Kinsey, phần lớn dân số thuộc loại từ 1 đến 5 (giữa dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái). Mặc dù phương pháp của Kinsey đã từng bị chỉ trích, thang đo này vẫn được sử dụng rộng rãi để đánh giá sự liên tục của t.ì.n.h d.ụ.c loài người.

    Tuy nhiên, các thuật ngữ bisexual (song tính luyến ái), heterosexual (dị tính luyến ái) và homosexual (đồng tính luyến ái) chỉ mới được sử dụng từ thế kỷ 19 mặc dù Song tính luyến ái cũng như các trạng thái của giới tính đã được thấy trong nhiều xã hội khác nhau trong lịch sử trước đó và trong thế giới loài vật thông qua các tài liệu lịch sử.

    Người chuyển giới (Transsexual/Transgender là gì)

    Người chuyển giới (tiếng Anh: Transgender) hay còn gọi là hoán tính, là trạng thái tâm lý giới tính của một người không phù hợp với giới tính của cơ thể. Chẳng hạn, một người sinh ra với cơ thể nam nhưng cảm nhận giới tính mình là nữ hoặc một người sinh ra với cơ thể nữ nhưng lại cảm nhận giới tính của mình là nam.

    Cảm nhận này không phụ thuộc vào việc người đó có làm phẫu thuật chuyển đổi giới tính hay chưa. Và họ được gọi là người đã phẫu thuật chuyển giới khi họ nhờ tới sự can thiệp của y học chuyển giới theo giới tính mà họ mong muốn. Họ có thể thuộc nhóm t.ì.n.h d.ụ.c dị tính, đồng tính hoặc song tính luyến ái.

    Một số khác có thể xem xét định hướng t.ì.n.h d.ụ.c thông thường không đầy đủ hoặc không áp dụng đối với họ. Người chuyển giới là nhóm người hoàn toàn độc lập với thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c.

    Những người chuyển giới được mô tả là những người khi sinh ra đã mang sẵn một giới tính sinh học (dựa vào cơ quan s.i.n.h d.ụ.c để phân biệt), nhưng tâm lý của những người này cảm nhận rằng giới tính của họ không giống với giới tính mà thể xác của họ đang có.

    Không phải tất cả những người chuyển giới đều muốn thay đổi cơ thể họ, mặc dù một số khác thì cảm thấy mong muốn điều này. Tuy nhiên, hầu hết những người chuyển giới đều mong muốn có thể hòa nhập với cộng đồng và có một vai trò trong xã hội phù hợp với giới tính mà tâm lý của họ tự xác định.

    Thuật ngữ liên quan tới các dạng giới tính khác

    – Asexual (Người vô tính – Nonsexuality) là gì?

    Asexual (người vô tính) là những người không hoặc hiếm khi bị hấp dẫn t.ì.n.h d.ụ.c với bất kỳ nhóm giới tính nào. Họ dường như thờ ơ với mọi quan hệ tình yêu, t.ì.n.h d.ụ.c trong xã hội. Người vô tính còn có tên gọi khác là Nonsexuality.

    – Pansexual (Toàn tính luyến ái – Omnisexual) là gì?

    Pansexual (toàn tính luyến ái) vẫn còn là khái niệm khá mới trong cộng đồng LGBT hiện nay. Toàn tính luyến ái được hiểu là những người bị cuốn hút bởi cái đẹp hoặc bất kỳ ai mang tới cảm xúc cho họ, mà không hề quan tâm tới giới tính người đó ra sao.

    Toàn tính luyến ái khác với song tính đó là họ có xu hướng hấp dẫn với toàn bộ các giới tính khác nhau mà không chỉ giới hạn ở 2 (song tính). Toàn tính luyến ái còn có tên gọi khác là Omnisexual.

    – Demisexual (Người khuyết tính) là gì?

    Demisexual (người khuyết tính) hiểu đơn giản là những người ban đầu không có bất kỳ sự cuốn hút đối với giới tính nào.

    Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, có một người xuất hiện, không quan trọng là giới tính nào, mang đến tình cảm cho họ, tạo cho họ một sợi dây cảm xúc thân thuộc, chặt chẽ, có thể hiểu là “rung động”, thì họ bị cuốn hút bởi người này. Người khuyết tính có thể coi là nằm lưng chừng giữa người toàn tính và người vô tính.

    – Người dị tính (Queer) là gì?

    Người dị tính (Queer) là thuật ngữ chỉ những người thuộc giới tính thứ 3 nói chung. Bao gồm toàn bộ người đồng tính, người vô tính, người toàn tính, song tính, khuyết tính…

    Thuật ngữ khác liên quan tới LGBT

    Nếu có cơ hội tiếp xúc, nói chuyện hay tham gia với cộng đồng Lgbt, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy có rất nhiều điều thú vị về họ, một phần ngôn ngữ được gọi là thuật ngữ Lgbt cũng là điều khiến bạn tò mò đấy. Ví dụ như:

    – “Come out” trong LGBT là gì?

    “Come out” trong LGBT được hiểu là hành động công khai giới tính thực của mình đối với xã hội sau khi người đó đã trải qua 1 quá trình tìm hiểu khám phá.

    – Chứng sợ đồng tính (Homophobia) là gì?

    Chứng sợ đồng tính (Homophobia)là ám chỉ những người có định kiến sâu sắc đối với những người đồng tính, dị tính nói chung. Đa phần những người này có thái độ tiêu cực, bài trừ, miệt thị… đối với cộng đồng LGBT.

    – Hội chứng sợ người chuyển giới (Transphobia) là gì?

    Như cái tên của nó đã nói lên tất cả. Đây là nhóm người mang cảm giác ám ảnh, ghê sợ đối với những người chuyển giới hay hành động chuyển giới. Có thể đối với những giới tính khác họ vẫn cảm thấy bình thường nhưng riêng chuyển giới mang tới cho nhóm người này sự bài xích vô cùng lớn.

    “Gei” trong LGBTđược hiểu là bản thân người con gái hoặc một nhóm con gái thích một hoặc một nhóm con gái khác. Nếu như Gay là chỉ Nam x Nam thì Gei là cách nói vui chỉ Nữ x Nữ.

    Một số khái niệm thông dụng khác trong cộng đồng LGBT

    Ngoài LGBT, nếu bạn muốn tiếp xúc và tìm hiểu kỹ hơn về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới, nhất định bạn phải hiểu thêm về những thuật ngữ trong cộng đồng này để thuận tiện hơn trong giao tiếp cũng như kết bạn làm quen. Ví dụ như:

    SB là gì? SB cứng, Sb mềm nghĩa là gì?

    SB là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Soft Butch”- là loại trong Les. SB gồm 2 loại SBM (SB mềm) và SBC (SB cứng).

    SB mềm: là những người có tính khí giống con trai, và luôn nghĩ mình là con trai. Nhưng khi thể hiện ra bên ngoài vẫn giống con gái và chỉ yêu thích con gái.

    SB cứng là những les có phong cách, dáng vẻ, cử chỉ và cách ăn mặc như con trai. Nếu chỉ nhìn về bên ngoài thì bạn sẽ không biết đó là một cô gái.

    Trans guys là từ dùng để chỉ một người là con gái nhưng khi nhìn vào thì không ai có thể phân biệt được vì bề ngoài giống hệt con trai.

    Fem là viết tắt của từ Femme – les yểu điệu, là những người có hình dáng, cử chỉ và cách biểu hiện ra bên ngoài giống hệt một người con gái bình thường, nhưng chỉ yêu thích con gái.

    Tom chính là từ viết tắt của Tomboy. Những người này có cá tính, cách ăn mặc, ngoại hình và cách thể hiện giống với con trai – khá giống với SB cứng.

    Tuy nhiên, họ không hoàn toàn là les 100% vì hiện nay nhiều bạn nữ thích phong cách tomboy và thể hiện ra bên ngoài sự mạnh mẽ của mình mà thôi.

    SB và Trans guys khác nhau như thế nào?

    Có phải khi đọc xong SB cứng và Trans khiến bạn thắc mắc hai tên gọi này đều chỉ nhóm người giống nhau phải không? Vậy thì bạn sẽ có câu trả lời ở ngay đây.

    Thực ra cả SB và Trans đều là những người có cơ thể ở dạng nữ nhưng thể hiện hành động và phong cách giống một người con trai. Nhưng nếu xét về mặt bản chất thì đây là hai khái niệm chỉ những dạng người khác nhau. Cụ thể như sau:

    Tính cách: Nếu so sánh về mặt tính cách, cử chỉ thì Trans thậm chí còn mạnh mẽ hơn cả SB cứng.

    Nhìn nhận về cơ thể: Trans luôn mong muốn và gần như tìm mọi cách để biến mình thành một người con trai.

    Trong khi đó, SB cũng mong muốn trở thành một người đàn ông, nhưng họ không hề ghét những đặc điểm nữ tính của mình; thậm chí những bạn SB mềm còn thể hiện ra vẻ ngoài không khác gì những cô nàng khác.

    Gay là một từ thường xuyên bị sử dụng một cách nhầm lẫn. Trên thực tế, “gay” chính là từ chỉ người đồng tính, không chỉ riêng đồng tính nam

    Bot hay Bottom hay thụ đều là những từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái bị động trong việc quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c. Có thể hiểu đơn giản là những người nằm dưới- đóng vai trò “vợ”.

    Ngoài ra, với những bạn yêu thích nền văn hóa Nhật Bản, bot còn được biết với tên gọi “uke”. Đôi khi người ta cũng gọi những bạn bot thuần là “thuần 0”.

    Ngược lại với bot, top hay công đều là từ dùng để chỉ những người đồng tính luyến ái chủ động trong quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c – những người nằm trên, đóng vai trò “chồng”.

    Tương tự như bot trong tiếng Nhật được gọi là “uke” thì top trong tiếng Nhật được gọi là “seme”. Nếu bot thuần được gọi là “thuần 0” thì top sẽ được gọi là “thuần 1”.

    Nếu trong cộng đồng đồng tính có những người chuyên ở vai top hoặc bot thì cũng sẽ có những người có thể thay đổi vai trò của mình giữa bot và top liên tục. Có nghĩa là, với những người này họ có thể là top, nhưng với người yêu khác họ có thể là bot. Và họ được gọi là “center”- ở giữa.

    Come out có nghĩa là “lộ diện”, là khái niệm dùng để chỉ sự công khai của những người trong cộng đồng LGBT với những người khác về xu hướng t.ì.n.h d.ụ.c khác biệt của mình.

    Hủ là từ thường được sử dụng để chỉ những cô nàng hoặc những anh chàng thích và bị thu hút bởi những cặp đôi nam – nam hoặc nữ – nữ.

    Họ không phải là người đồng tính, nhưng họ rất ủng hộ và dễ cảm thấy phấn khích với các cặp đôi đồng tính trong truyện, trên phim ảnh thậm chí ngoài đời thực.

    Hủ gắn liền với các khái niệm có liên quan như:

    • Hủ nữ: cô nàng thích những cặp đôi đồng tính
    • Hủ nam: anh chàng thích các cặp đôi đồng tính
    • Đam mỹ: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nam
    • Bách hợp: truyện hoặc phim nói về các cặp đôi đồng tính nữ.

    Làm sao để nhận biết một người là đồng tính hay song tính?

    Làm sao để phân biệt, nhận biết giới tính của bản thân là gì có lẽ cũng là điều băn khoăn của nhiều bạn trong giới trẻ hiện nay.

    Có những trường hợp họ bình thường, họ là nam, thích nữ nhưng khi quen, tiếp xúc với những người trong cộng đồng Lgbt họ bắt đầu nghi ngờ mình là giới tính gì vì họ bắt đầu chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh.

    Hay như họ bị nói là “gay”, họ là con gái thích một người con trai nhưng sau đó nhận ra là người con trai đó “bóng” nên họ mong muốn mình thành con trai để yêu thương người kia… Từ đó việc bản thân là giới tính như thế nào đã cớ sự suy nghĩ, làm cách nào để biết được mình là đồng tính hay song tính.

    Về cơ bản, người ta có thể không quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c mà vẫn biết xu hướng tính dục của mình thích người cùng giới, khác giới hay cả hai.

    Mỗi người trong cộng đồng Lgbt dù là đồng tính, vô tính hay song tính cũng có trải nghiệm rất khác nhau. Có người biết mình là đồng tính hoặc song tính từ lâu, sau đó mới có quan hệ yêu đương, t.ì.n.h d.ụ.c.

    Có người lại có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c trước (với những người cùng giới hay khác giới) rồi mới tự xác định xu hướng tính dục của mình.

    Định kiến và phân biệt đối xử khiến nhiều người chối bỏ xu hướng tính dục của mình, vì thế việc nhận ra bản thân là đồng tính hay song tính có thể là một quá trình diễn ra từ từ, cũng có thể là một sự đấu tranh từ tư tưởng của bản thân đến sự mạnh mẽ bước ra thế giới bên ngoài.

    Ngày kỉ niệm Lgbt của Liên Hiệp Quốc là ngày nào?

    Liên Hiệp Quốc chọn ngày 17 tháng 5 hàng năm là “Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (Lgbt) – IDAHO” (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia).

    Ngày này được chọn để kỷ niệm sự kiện ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã “giải mã” thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c và công bố loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Sự kiện 17/5 được tổ chức tại hơn 100 quốc gia, tại tất cả các khu vực trên thế giới từ năm 2004.

    Sự kiện này được công nhận chính thức bởi nhiều Chính phủ và tổ chức quốc tế như Nghị viện Châu u và rất nhiều nhà chức trách địa phương. Hầu hết các cơ quan thuộc Liên Hiệp quốc cũng đánh dấu và kỷ niệm ngày này với các sự kiện cụ thể.

    Các chính phủ, chính quyền các địa phương, các tổ chức nhân quyền, các doanh nghiệp và những người nổi tiếng đã có những hành động thiết thực, cụ thể ủng hộ sự kiện này…

    Các quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính

    Mỹ – 2021: Trước khi hôn nhân đồng tính được công nhận trên toàn nước Mỹ ngày 26/6, nhiều bang của quốc gia này đã cho phép các đôi nam hoặc nữ kết hôn như Massachusetts, New York, Washington, Hawaii, New Mexico…

    Trong đó, thành phố San Francisco, Los Angeles, Miami từ lâu được xem là thánh địa của các đôi thuộc giới tính thứ 3.

    Ireland, 2021: Đây là quốc gia đầu tiên trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng giới bằng cách trưng cầu dân ý với đa số tán thành. Tại đây, các đôi có thể thực hiện bộ ảnh cưới với những tòa lâu đài tuyệt đẹp.

    Tuy nhiên, họ phải thông báo trước vài tháng về kế hoạch làm đám cưới của mình và ở lại Ireland ít nhất 15 ngày để được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

    Phần Lan – 2021: Quốc hội nước này đã thông qua luật hôn nhân sửa đổi cho phép các cặp đồng tính kết hôn với 105 phiếu thuận và 92 phiếu chống.

    Slovenia – 2021: Tháng 3 vừa qua, quốc hội nước này cũng vừa thông qua dự luật về quyền tự do kết hôn. Dù đang chờ chữ ký của Tổng thống, dự luật này cũng cho phép các đôi thuộc cộng đồng Lgbt (đồng tính nam, nữ, song tính và chuyển giới) nhận nuôi con.

    Luxembourg – 2014: Với số phiếu thuận áp đảo 54/6, đất nước này đã thông qua dự luật mở rộng quyền tự do kết hôn với các cặp đồng tính. Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettle là lãnh đạo đầu tiên trong Liên minh châu u (EU) kết hôn với người tình đồng giới.

    Scotland – 2014: Đất nước này có nhiều điểm đến được xem như “thánh địa của người đồng tính”, như Glasgow, Edinburgh cùng đường bờ biển đẹp tuyệt.

    Pháp – 2013: Sau khi được luật pháp chấp thuận, Vincent Autin và Bruno Boileau là đôi đồng tính đầu tiên tổ chức đám cưới ở Montpelier.

    Ngoài ra, Marais và Riviera cũng là các thiên đường dành cho cộng đồng này với nhiều trải nghiệm lãng mạn trong kỳ trăng mật. Lễ hội cho người đồng tính ở Pháp thường tổ chức vào thứ 7 cuối cùng của tháng 6.

    Anh – 2013: Ngoài các câu lạc bộ đêm ở London, Liverpool và Manchester cũng là những thiên đường vui chơi cho mọi người, đặc biệt là người thuộc giới tính thứ 3. Riêng Brighton còn được mệnh danh là “Thủ đô đồng tính”.

    Brazil – 2013: Thành phố Rio de Janeiro cũng là địa điểm thân thiện với người đồng tính nhờ nhiều bãi biển đẹp, nhà hàng đẳng cấp và các trò vui chơi giải trí hấp dẫn cho đến đêm khuya.

    Chủ nhật đầu tiên sau kỳ nghỉ Corpus Christi (thường là vào tháng 5 hoặc tháng 6), hàng triệu người sẽ tham gia lễ hội dành cho cộng đồng Lgbt ở Sao Paulo.

    Uruguay – 2013: Là quốc gia thứ 3 ở Mỹ Latinh chấp nhận kết hôn đồng tính, nơi đây trở thành điểm đến an toàn và thân thiện cho cộng đồng này.

    New Zealand -2013: Thông qua luật hôn nhân đồng tính chưa lâu, nhưng đất nước này từ trước đã tỏ thái độ ủng hộ khi đưa ra các khẩu hiệu thân thiện với du khách thuộc giới tính thứ 3, cũng như xây dựng một loạt nhà trọ, khách sạn dành riêng cho cộng đồng này…

    Ở đây hay tổ chức các hoạt động vui chơi dành cho du khách đồng tính, trong đó nổi bật nhất là tuần lễ trượt tuyết được tổ chức ở thị trấn Queenstown vào trung tuần tháng 7 hoặc đầu tháng 8.

    Đan Mạch – 2012: Ngay giữa trung tâm thủ đô Copenhagen có một quảng trường dành riêng cho người đồng tính với tên gọi “Quảng trường bình đẳng”. Nơi đây là một địa điểm tuyệt vời cho đôi tổ chức lễ thành hôn.

    Liên Hiệp Quốc nêu quyền của cộng đồng Lgbt như thế nào?

    Liên Hiệp quốc coi “Quyền Lgbt” (các quyền đối với cộng đồng Lgbt như: công nhận hôn nhân đồng giới đối với người đồng tính, cho phép chuyển đổi giới tính với người chuyển giới, công nhận hay cho phép nhận người Lgbt sinh con, nhận con nuôi… trong luật pháp) là vấn đề nhân quyền (quyền con người) và cần thực hiện tại các quốc gia, vùng lãnh thổ.

    Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho biết, trong gần 80 quốc gia trên thế giới thì yêu thương một người nào đó cùng giới vẫn được coi là bất hợp pháp, và ở nhiều nước vẫn còn nhiều công dân bị từ chối quyền được sống theo bản sắc giới tính của họ.

    Cùng với bất bình đẳng trong trong luật pháp, hội chứng kỳ thị và phân biệt đối xử đang hàng ngày diễn ra để từ chối những phẩm giá con người căn bản của hàng triệu người trên toàn thế giới..

    Trong một cuộc họp vào tháng 5 năm 2012 của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR), Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon phát biểu: “Trong tài liệu báo cáo của OHCHR cho thấy có một sự vi phạm đáng lo ngại ở tất cả các vùng miền.

    Chúng tôi thấy một hình ảnh của phân biệt đối xử, kỳ thị nhắm vào những con người chỉ vì họ là người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính hay chuyển giới. Có một sự bất công phổ biến tại những nơi làm việc, trường học và bệnh viện, có cả các cuộc tấn công, bạo lực kinh khủng, bao gồm cả tấn công t.ì.n.h d.ụ.c.

    Có những người Lgbt đã bị bỏ tù, tra tấn, thậm chí bị giết. Đây là một thảm kịch lớn cho những người phải chịu đựng, và là một vết nhơ bẩn đối với lương tâm chung của chúng ta. Nó cũng là một sự vi phạm luật pháp quốc tế.”

    Một báo cáo của tổ chức GLAAD ban hành vào tháng 2 năm 2011 cho thấy, 90% số người chuyển giới phải đối mặt với nạn kỳ thị tại nơi làm việc và tỷ lệ thất nghiệp gấp đôi tỷ lệ chung của dân số.

    Hơn một nửa số họ đã bị sách nhiễu hoặc bị từ chối khi cố gắng tiếp cận vào các dịch vụ công cộng. Các thành viên của cộng đồng người chuyển giới cũng gặp phải sự phân biệt đối xử cao độ trong vấn đề chăm sóc sức khỏe hàng ngày.

    Thực trạng LGBT ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

    Quyền LGBT ở Việt Nam bao gồm những gì?

    Về số lượng người đồng tính ở Việt Nam, hiện nay chưa có con số thực sự chính xác vì chưa có một cuộc thống kê chính thức mang tính quy mô và toàn diện được tổ chức. Theo ước tính của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số).

    Một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số. Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE), Việt Nam hiện đang có khoảng 1,6 triệu người đồng tính, song tính và chuyển giới ở độ tuổi 15-59.

    Theo báo cáo từ tổ chức WHO của Liên hợp quốc thì khoảng 3% dân số có thiên hướng t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính, nếu lấy tỷ lệ này áp dụng cho Việt Nam thì hiện nay cả nước có khoảng gần 3 triệu người đồng tính.

    Về số lượng người chuyển giới, năm 2021 Bộ Y tế Việt Nam cho biết đã nhận được gần 600 hồ sơ cá nhân đề xuất sửa đổi giới tính mới sau khi họ đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới.

    Ngày 24 tháng 11 năm 2021, quyền chuyển đổi giới tính chính thức được hợp pháp hóa tại Việt Nam sau khi Bộ luật dân sự sửa đổi 2021 cho phép chuyển đổi giới tính và thay đổi nhân thân, hộ tịch sau chuyển đổi được Quốc hội thông qua.

    Từ cuối thập niên 2000, cùng với sự cởi mở hơn đối với giới LGBT ở các nước phát triển, LGBT ở Việt Nam bắt đầu được đề cập và nhìn nhận dần dần ở nhiều lĩnh vực. Cho đến nay, mặc dù hôn nhân đồng tính chưa được hợp pháp hóa, Việt Nam là nước dẫn đầu ở Đông Nam Á trong công nhận quyền lợi của LGBT.

    Tuy nhiên, cũng tương tự như nhiều nước trên thế giới, nam có quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c với nam ở đô thị vẫn tiếp tục là nhóm có nguy cơ cao nhiễm HIV, đây là một trong những thử thách lớn cho công tác tuyên truyền và các hoạt động phòng chống HIV.

    Luật pháp LGBT ở Việt Nam

    Tại Việt Nam hiện nay không có luật cấm quan hệ t.ì.n.h d.ụ.c đồng tính. Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cấm kết hôn giữa những người đồng giới, Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014, bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” từ ngày 1 tháng 1 năm 2021.

    Tuy nhiên, Luật 2014 vẫn quy định “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8).

    Các chính quyền trong lịch sử Việt Nam chưa bao giờ đưa ra luật về quan hệ đồng tính. Luật Hồng Đức có đề cập đến hãm hiếp, ngoại tình, và loạn luân nhưng không nhắc gì đến đồng tính. Chính quyền thực dân Pháp cũng không cấm đoán các hành vi đồng tính trong các thuộc địa.

    Mặc dù mại dâm nữ là phạm pháp, luật pháp không đề cập gì đến mại dâm nam. Tuy nhiên, những hành vi đồng tính có thể bị khởi tố dưới các tội danh như “vi phạm luân lý”. Trong những trường hợp hiếm hoi mà hành vi đồng tính bị trừng phạt, tội danh là “ngoại tình” hay “hãm hiếp”.

    Từ cuối thập niên 1990, một vài đám cưới đồng tính rất hiếm hoi xuất hiện nhưng đến cuối thập niên 2010 nhiều đám cưới được tổ chức khắp các tỉnh thành. Ngày 7 tháng 4 năm 1997, hãng thông tấn Reuters đưa tin về đám cưới đồng tính đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh giữa hai người nam.

    Tiệc cưới diễn ra tại một khách sạn với 100 khách mời, và bị nhiều người dân phản đối. Ngày 7 tháng 3 năm 1998, hai người đồng tính nữ làm đám cưới tại Vĩnh Long, nhưng giấy xin phép kết hôn không được chấp nhận. Sau các đám cưới này, Quốc hội thông qua quy định cấm hôn nhân đồng tính vào tháng 6 năm 1998.

    Năm 2002, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội liệt kê đồng tính luyến ái trong các “tệ nạn xã hội” cần phải bài trừ như mại dâm và ma túy.

    Năm 2008, chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định quy định việc “xác định lại giới tính” đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Khác với người đồng tính, những người này là do bị dị tật bẩm sinh về thể xác, cần phẫu thuật để điều chỉnh lại bộ phận bị dị tật.

    Tháng 7 năm 2012, Bộ Tư pháp đưa ra đề xuất sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, trong đó có thể công nhận hôn nhân đồng tính; Việc này làm nhiều báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam có khả năng trở thành nước châu Á đầu tiên công nhận hôn nhân đồng tính.

    Tại một cuộc đối thoại trực tuyến, bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết “cá nhân tôi cho rằng, việc công nhận hay không công nhận hôn nhân đồng tính cần phải dựa trên những nghiên cứu hết sức cơ bản, những đánh giá tác động nghiêm túc trên rất nhiều khía cạnh xã hội và pháp lý như quyền tự do cá nhân, sự tương thích với văn hóa, tập quán của xã hội và gia đình Việt Nam, tính nhạy cảm, hậu quả xã hội của quy định pháp luật…

    Các vấn đề này đang được nghiên cứu trong quá trình chuẩn bị dự án Luật Hôn nhân và Gia đình.”

    Ngày 1 tháng 1 năm 2021, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000.

    Tuy nhiên, theo Điều 8 về “Điều kiện kết hôn” có ghi “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống

    Ngày 24 tháng 11 năm 2021, Quốc hội thông qua Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trong đó có quy định về chuyển đổi giới tính và các quyền, nghĩa vụ liên quan. Luật có hiệu lực thi hành từ đầu 2021. Điều 37, Bộ luật này quy định: “Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật.

    Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có các quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”. Như vậy, Việt Nam chính thức hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính.

    Những chuyện tình đồng tính Việt đẹp nhất được công khai trên truyền thông

    Khi Việt Nam đã dần theo kịp xu hướng xã hội mới, tư duy và lối sống hiện đại, họ đã có cái nhìn thoáng hơn về cộng đồng LGBT. Ngày càng có nhiều người dám công khai giới tính và tìm đến hạnh phúc của cuộc đời mình.

    Theo Nghị định của chính phủ năm 2013 về việc xóa bỏ những ngăn cấm và quyền hạn đối với những người đồng tính Lgbt thì năm 2021 được đánh giá là một năm khá trầm với các hoạt động của cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

    Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều câu chuyện vui, những mối tình đẹp của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên cả nước làm tốn không ít giấy mực của báo giới.

    Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi)

    Đầu tháng 4/2016, lễ cưới ngập tràn hạnh phúc của cặp đôi anh Mai Xuân Bảo (49 tuổi) – Trần Văn Hùng (37 tuổi) đã được tổ chức tại Nha Trang, Khánh Hòa.

    Trải qua hơn 18 năm yêu đương với bao khó khăn, trắc trở, từ bàn tay trắng rồi cùng nhau vượt qua bao gian nan của cuộc sống, cuối cùng họ đã đến được với nhau.

    Lê Vũ Phong – Nguyễn Ngọc Phong: cặp đôi hơn nhau 21 tuổi

    Lê Vũ Phong là một người đàn ông 42 tuổi. Anh tình cờ gặp được người bạn đời của mình – chàng trai trẻ Nguyễn Ngọc Tuấn Phong, 21 tuổi trong một lần lướt facebook.

    Hai người đã có nhiều cuộc trò chuyện qua facebook mỗi tối, nhắn tin hỏi thăm nhiều hơn rồi cùng nhau đi ăn sáng, hẹn hò…

    Cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung

    Ngày 30/7, đám cưới đồng tính nữ của cặp đôi bà Phương Phan và bà Tuyết Nhung đã gây xôn xao cộng đồng LGBT tại Việt Nam.

    Dù đã bước sang độ tuổi cũng ít người kết hôn, kể cả với người dị tính, tại nhà hàng Quảng Bình, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, đám cưới của 2 cô đã diễn ra trong sự chúc phúc của người thân, bạn bè.

    Được biết, bà Nhung sinh năm 1971 còn bà Phương sinh năm 1964. Hiện bà Nhung đang sống ở Hải Phòng còn bà Phương là Việt kiều.

    Sau đám cưới, hai người đã có khoảng thời gian hạnh phúc cùng nhau đi trăng mật. Đám cưới của 2 cô đã nhận được nhiều lời chúc phúc và ủng hộ của mọi người trên mạng xã hội.

    “Tiến Thành x2”: Cặp đôi đồng tính cùng tên hot nhất Facebook

    Cái tên Nguyễn Tiến Thành (Thành lớn) và Đặng Tiến Thành (Thành bé) được nhắc đến rất nhiều với cộng đồng LGBT trong năm 2021. Đơn giản, hai người đã có một chuyện tình đẹp và lãng mạn…

    Quen nhau qua Facebook, hai chàng trai đã tiến đến với nhau như bao mối tình lãng mạn: đi ăn uống, hẹn hò, rồi tỏ tình…

    Được sự ủng hộ của gia đình, cả hai đã thực sự được sống với niềm hạnh phúc mà bao người đồng tính luôn hằng tìm kiếm.

    Khi được hỏi về việc có tổ chức đám cưới hay không, Thành cho biết: “Bọn mình nghĩ là yêu nhau thật lòng, nghiêm túc, sẽ nắm tay nhau lâu nhất có thể và nói với nhau rằng: “Ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt!”.

    Có lẽ, đó là điều mà các cặp đôi đều luôn mong muốn trong cuộc đời này; không cần hứa hẹn gì cả nhưng hãy yêu nhau thật lâu, nắm tay nhau thật chặt vì “ngày nào còn yêu nhau thì ngày đó còn đặc biệt”.

    Chuyện tình lãng mạn của MC Ngọc Trang và Jay Lin

    Cặp đôi của MC Ngọc Trang – Jay Lin được đánh giá là một mối tình siêu đẹp trong cộng đồng LGBT khi cả hai người đều khá nổi tiếng.

    MC Ngọc Trang là gương mặt quen thuộc với nhiều khán giả của đài truyền hình Việt Nam (VTV) qua nhiều chương trình như “Vì bạn xứng đáng”, “Chìa khóa thành công – CEO”, “Mua sắm thú vị”, “Không gian nghệ thuật VTV1”, “Tạp chí đẹp”,…

    Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom)

    Những ngày cuối năm, cộng đồng LGBT tại Việt Nam lại ngập tràn tin vui khi được chứng kiến một đám cưới đồng tính nữa tại thành phố Biên Hòa, Đồng Nai; một đám cưới với tình yêu và sự chúc phúc của gia đình cả hai bên.

    Tình cờ biết nhau qua mạng xã hội từ tháng 7/2015, Lê Văn Cường (SN 1991, Biên Hòa) và Trần Trọng Nghĩa (SN 1993, Trảng Bom) đã tìm thấy ở nhau những điểm tương đồng. Để rồi gặp nhau, hẹn hò và hiểu nhau hơn, mối tình lãng mạn của họ cũng lớn dần cho đến khi cả hai người quyết định làm đám cưới.

    Từ những câu chuyện tình cảm với kết thúc có hậu trên đây có lẽ đã khiến trái tim bạn thêm phần nào đồng cảm và suy nghĩ tích cực về cộng đồng này hơn rồi phải không.

    Mỗi một năm trôi qua là thêm một năm để chúng ta phát triển, thêm một năm hiện đại, cả thế giới đã công nhận cộng đồng này thì mỗi chúng ta là những bạn đọc trẻ, là tương lai của xã hội cần có cái nhìn khách quan hơn, tốt đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giấc Ngủ Là Gì? Ý Nghĩa Của Giấc Ngủ Với Sức Khỏe Mỗi Người?
  • Mount File Iso Là Gì?
  • Zumba Fitness Là Gì? Bạn Có Thật Sự Hiểu Rõ Về Khái Niệm Này?
  • Rượu Chivas 18, 12, 21 Là Gì?
  • Zona Thần Kinh Bội Nhiễm Là Gì? Cách Điều Trị Hiệu Quả
  • Tin tức online tv