Khái Niệm Là Gì Logic Học

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Môn Logic Học
  • Đối Tượng Của Logic Học
  • Tư Duy Logic Là Gì? Các Phương Pháp Rèn Luyện Tư Duy Logic ✅
  • 4 Phương Pháp Khoa Học Để Rèn Luyện Tư Duy Logic
  • Khái Quát Về Suy Luận
  • Khái Niệm Là Gì Logic Học, Logic Học Chương Khái Niệm, Logic, Bài Thi Logic, Logic Học, Bài Kiểm Tra Logic, Logic Seminar, Toán Logic, Bài Tập ôn Thi Môn Logic Học Đại Cương, Lý Luận Logic, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm P, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Phó Từ, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Oda, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm 4g, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm Xã Hội Học, Khái Niệm Xã Hội Hóa, Khái Niệm Xã Hội, Khái Niệm Văn Bản, Khái Niệm Vô ơn, Khái Niệm Về Tục Ngữ, Khái Niệm Về Số 0, Khái Niệm Về 5s, Khái Niệm Xâu, Khái Niệm Y Đức, Khái Niệm Y Tế, Khái Niệm Cảm ơn Và Xin Lỗi, Khái Niệm 511, Khái Niệm Yêu Xa, Khái Niệm Yếu Tố Thần Kì, Khái Niệm Yếu Tố Kì ảo, Khái Niệm Yếu Tố, Khái Niệm Yêu Cầu, Khái Niệm Yêu, Khái Niệm Văn Hóa, Khái Niệm 802.1x, Khái Niệm ưu Thế Lai, Khái Niệm Ucp 600, Khái Niệm Ucp, Khái Niệm U Xơ, Khái Niệm Tục Ngữ Lớp 7, Khái Niệm Tục Ngữ, Khái Niệm Ma Túy, Khái Niệm Tk 632, Khái Niệm Ung Thư Là Gì, Khái Niệm Uml, Khái Niệm Ung Thư, Khái Niệm Ung Thư Gan, Khái Niệm ưu Đãi Xã Hội, Khái Niệm ưu Đãi Đầu Tư, Khái Niệm ưu Đãi, Khái Niệm Usb, Khái Niệm Url, Khái Niệm ước Và Bội, Khái Niệm ước Mơ, Khái Niệm ước, Khái Niệm Thờ ơ, Khái Niệm L/c, Khái Niệm 4r, Khái Niệm 5g, Khái Niệm 5m, Khái Niệm 5s, 5 Từ Chỉ Khái Niệm, Khái Niệm 5s 3d, Khái Niệm 5s Là Gì, Khái Niệm 632,

    Khái Niệm Là Gì Logic Học, Logic Học Chương Khái Niệm, Logic, Bài Thi Logic, Logic Học, Bài Kiểm Tra Logic, Logic Seminar, Toán Logic, Bài Tập ôn Thi Môn Logic Học Đại Cương, Lý Luận Logic, Khái Niệm Số 0, Khái Niệm Oop, Khái Niệm Oxi, Khái Niệm Oxi Hóa, Khái Niệm Thơ 8 Chữ, Khái Niệm P, ở Sài Gòn Khái Niệm Thân Và Lạ, Khái Niệm Thơ 7 Chữ, Khái Niệm Phó Từ, ý Chí Khái Niệm, Khái Niệm Sử Thi, Khái Niệm R&d, Khái Niệm Số Từ, Khái Niệm Rủi Ro, Khái Niệm Rủi Ro Tỷ Giá, Khái Niệm Rút Gọn Câu, Khái Niệm, Từ Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm ơn Gọi, Khái Niệm M&a, Khái Niệm Là Gì Cho Ví Dụ, Khái Niệm M Là Gì, Khái Niệm Lực ở Lớp 6, Khái Niệm Lớp 7, Khái Niệm Là Gì, Khái Niệm Nào Là, Khái Niệm Lời Cảm ơn, Khái Niệm M&e, Khái Niệm Nhà Máy, Khái Niệm Oda, Từ Khái Niệm, Khái Niệm Oan Sai, Khái Niệm ô Tô, Khái Niệm ở Rể, Khái Niệm 4g, Khái Niệm ở Cữ, Khái Niệm Là Gì Lớp 4, Khái Niệm Lễ Hội, Khái Niệm Uy Tín, Khái Niệm Xã Hội Học,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trào Lưu Dụ ‘crush’ Tự Nói Ra 3 Từ ‘i Love You’ Và Những Cái Kết ‘cười Vỡ Bụng’
  • Công Chức Viên Chức Là Gì? Bạn Đã Hiểu Rõ Về Họ Hay Chưa?
  • Viên Chức Là Gì? Viên Chức Có Trở Thành Công Chức Được Hay Không?
  • Công Chức Là Gì ? Khái Niệm Công Chức Được Hiểu Như Thế Nào ?
  • Viên Chức, Công Chức Là Gì? Và Những Điều Bạn Cần Nên Biết
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Và Thực Hành Tạo Các Bảng Table Trong Ms Access

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Biệt Về Bảng Giá Đất, Khung Giá Đất, Giá Đất Cụ Thể Là Gì?
  • Bài 1: Chương Trình Bảng Tính Là Gì
  • Bảng Cân Đối Kế Toán Là Gì ? Khái Niệm, Kết Cấu Và Ý Nghĩa
  • Nga Đã Chuẩn Bị Kỹ Lưỡng Cho Chiến Dịch “mùa Xuân Crimea”?
  • Đô Thị Xanh Là Gì? Tạo Cuộc Sống Xanh Nơi Đô Thị Như Thế Nào?
  • Trong phần này sẽ tìm hiểu chi tiết hơn về các bảng dữ liệu MS Access, các kiểu dữ liệu và sự liên kết giữa các bảng.

    Bảng (Table) là nơi lưu trữ thông tin dữ liệu các đối tượng quản lý. Bảng có cấu trúc hai chiều gồm các dòng (Record – bản ghi – hàng) và các cột (Field – trường dữ liệu)

    Ví dụ, bảng HOCSINH lưu trữ thông tin về đối tượng học sinh gồm các trường dữ liệu (field): HOCSINHID, Ho, Ten, Ngaysinh, Dantoc, Noisinh, Diachi

    Mỗi đối tượng học sinh được biểu diễn trong một bản ghi (Record, dòng) dữ liệu. Bảng có thể có nhiều, một hoặc không có record nào.

    Trong một CSDL thường có nhiều bảng, mỗi bảng lưu trữ dữ liệu của một đối tượng nào đó, các đối tường này có thể có quan hệ với nhau.

    Ví dụ, bảng LOP và bảng HOCSINH có liên hệ một - nhiều. Mỗi lớp có nhiều học sinh, mỗi học sinh thuộc về một lớp

    Khóa chính – Primary Key

    Khóa chính (primary key) là trường dữ liệu (cột) có giá trị duy nhất giữa các hàng (record). Khóa chính để xác định chính xác Record nào đó trong bảng, nên khi ứng dụng hãy chọn một loại dữ liệu chuyên biệt nào đó làm khóa chính, ví dụ như bảng về sản phẩm thì chọn mã sản phẩm, bảng về nhân viên thì là mã nhân viên (hoặc số CMT) … Ví dụ bảng HOCSINH có một cột – trường dữ liệu là HOCSINHID làm khóa chính, nó thiết kế là một con số duy nhất – dành cho mỗi học sinh – biết khóa chính sau này sẽ nhanh chóng tìm đến Record chứa khóa chính đó. Trong sơ đồ quan hệ ở trên, trường có ký hiệu chìa khóa là khóa chính của bảng. Cách thiết lập khóa chính cho bảng ở phần sau.

    Khóa ngoại – Foreign key

    Khóa ngoại là trường (cột) dữ liệu chứa các giá trị tham chiếu (trỏ đến) một khóa chính của bảng khác. Việc tạo ra các cột (trường) là khóa ngoại sẽ hình thành nên mối quan hệ giữa các bảng.

    Như sơ đồ trên, bảng DIEM có trường HOCSINHID là khóa ngoại, nó tham chiếu đến khóa chính HOCSINHID của bảng HOCSINH, từ đó mỗi điểm xác định được của học sinh nào, tương tự có trường MONHOCID là khóa ngoại tham chiếu đến bảng MONHOC

    Tạo bảng trong Access

    Khi đã định hướng được cần tạo một bảng, bảng gồm các trường dữ liệu gì thì bắt đầu tạo bảng bằng cách chọn mục Create trên Menu Ribbon.

    Bạn có thể chọn Table – để tạo bảng và vào ngày chế độ Datasheet View để thiết kế bảng, ở chế độ này bạng đang quan sát bảng dạng như bảng tính – từ đó thêm các cột

    Chọn menu Table Design để tạo bảng mới và vào ngay chế độ Design View – Ta sẽ sử dụng chế độ tổng quát này khi tạo, thiết kế bảng

    Thiết kế bảng ta phải định nghĩa các thành phần:

    • Field Name – Định nghĩa cột (trường dữ liệu trong bảng)
    • Data Type – Chọn kiểu dữ liệu của trường (xem các kiểu dữ liệu ở dưới)
    • Description – Mô tả thông tin thêm về trường, chứa các thông tin để đọc lại biết được mục đích dữ liệu
    • Fiel Properties – Thiết lập các thuộc tính cho trường dữ liệu, nó gồm có hai nhóm

      • General – thông tin chung, tùy thuộc vào kiểu dữ liệu của trường mà thông tin chung có các mục khác nhau như định dạng hiện thị dữ liệu, kích thước dữ liệu, giá trị mặc định …
      • Lookup – xác định các nguồn dữ liệu và định dạng hiện thị nếu cần thiết

    Các kiểu dữ liệu

    Khi tạo các trường cho bảng, chọn kiểu dữ liệu phù hợp rất quan trọng, nó đảm bảo CSDL vận hành hiểu quả:

    Short Text

    Nó còn là Text ở bản 2007 – 2010, biểu diễn dữ liệu dạng chữ (tên người, tên sản phẩm, tiêu đề …)

    Tối đa 255 ký tự.

    Long Text

    Còn là kiểu Memo (2007 – 2010). Để biểu diễn cả câu văn, đoạn văn dài.

    Đến 1GB

    Number

    Các dữ liệu dạng số

    1, 2, 4, 8, or 16 byte

    Date/Time

    Biểu diễn ngày và tháng

    8 bytes.

    Currency

    Dữ liệu số, dạng tiền tệ, biểu diễn số chính xác 4 số sau dấu chấm.

    8 bytes.

    AutoNumber

    Dạng số duy nhất, tự động sinh ra bởi Access

    4 bytes.

    Yes/No

    Kiểu logic Boolean (true/false); Access lưu nó dưới dạng số, 0 là false và -1 là true

    1 byte.

    Attachment

    Lưu các loại dữ liệu file như các file hình ảnh, tài liệu, bảng tính …

    Thực hành tạo các bảng dữ liệu

    Phần này tiến hành tạo ra các bảng cho một ứng dụng quản lý học sinh đơn giản. Trước tiên nó gồm các bảng có mối quan hệ với sơ đồ ở phần trên.

    Cấu trúc bảng

    Tên cột (Field Name) Kiểu dữ liệu (Data Type) Ghi chú

    KHOAID

    AutoNumber

    Khóa chính, số tự động tăng. Để thiết bật/tắt là khóa chính, chọn dòng có tên trường rồi bấm chọn Primary Key hoặc phải chuột vào tên trường và chọn Primary Key

    NamNH

    Date/Time

    Năm nhập học, kiểu ngày – giờ. Định dạng trường này hiện thị năm học (không hiện thị ngày, thánh).

    • dd hiện thị ngày; mm hiện thị tháng (số); yyyy hiện thị năm
    • dd/mm/yyyy là kết hợp để hiện thị dạng ngày 22/12/2000
    • mm-yyyy là kết hợp để hiện thị dạng ngày 12-2000

    TenKhoa

    Short Text

    Kiểu Text, chọn kích thước 10 ký tự (Field Size), có đánh chỉ mục, không được trùng giá trị, dòng chữ có chiều dài khác 0

    Sau khi tạo bảng, lưu lại với tên NIENKHOA tiến hành nhập dữ liệu trực tiếp mẫu

    Bảng trình bày về các ngành học: tên ngành học, mã ngành, số năm học. Cấu trúc tạo bảng như hình dưới

    Đối với trường nào cần thiết lập giá trị mặc định thì điền giá trị mặc định ở mục Default Value của thuộc tính trường

    Sau khi tạo bảng nhập dữ liệu mẫu sau:

    Bảng này quản lý danh sách các lớp học, mỗi lớp có tên lớp, và có khóa ngoại tham chiếu đến bảng NIENKHOANGANH, phần này vẫn chưa thiết lập các liên kết bảng nên sẽ tạo bảng này với cấu trúc như sau:

    Thiết lập Lookup cho trường NGANHID

    Một trường dữ liệu có thể thiết lập thuộc tính Lookup cho nó, thuộc tính này giúp tham chiếu đến một nguồn dữ liệu khác trong quá trình nhập liệu (có thể thiết lập một ComboBox, ListBox để nhập liệu). Ví dụ cột NGANHID sẽ tham chiếu đến bảng NGANH và trường NGANHID của bảng đó để hiện thị một danh sách các giá trị, chọn được khi soạn thảo. Từng bước thiết lập như sau:

    • Chọn Display ControlCombo Box : loại này hiện thị một hộp danh sách đổ xuống để chọn
    • Chọn Row Source TypeTable/Query – có nghĩa là nguồn dữ liệu từ bảng, hoặc các Query
    • Row Source là các truy vấn lấy ra dữ liệu – cách viết các truy vấn sẽ trình bày sau. Ở đây muốn tham chiếu đến bảng nào, hãy điền tên bảng đó vào. Điền làNGANH, nó sẽ tham khảo các dòng dữ liệu của bảng ngành
    • Bound Column là thứ tự cột cần liên kết dữ liệu, ở đây cột NGANHID của bảngNGANH là giá trị tham chiếu, cột này có vị trí số 1 – nên điền 1
    • Column Count là số cột – tính từ cột 1 cần lấy dữ liệu đưa vào Combo Box. Cần lấy cột 1 và 2 (tức cột NGANHID và TENGANH)

    Làm tương tự cho cột NIENKHOAID tham chiếu đến bảng NIENKHOA

    Lúc này khi soạn thảo dữ liệu bảng, nó xuất hiện Combo Box có thể chọn giá trị, những giá trị này tham chiếu từ dữ liệu bảng khác.

    Để ý, nếu muốn ẩn đi cột thứ nhất chỉ hiện thị cột thứ hai (tên ngành) để nhìn dữ liệu trực quan hơn. Thì có thể thiết lập độ rộng cột cần ẩn là 0cm vào thuộc tính Colunm Widths. Ví dụ 0cm;2cm có nghĩa cột 1 0cm, cột 2 rộng 2cm (nhớ là cột trong Combo Box). Kết quả sẽ là:

    Dữ liệu mẫu

    Bảng này quản lý danh sách học sinh các lớp, nó có các trường dữ liệu như sau:

    LookUp nguồn Value List

    Trong trường giới tính GT nhận giá trị logic YES/NO, ấn định nếu là YES thì là NAM, và NO là Nữ. Mặc định thì dữ liệu là checkbox (hộp kiểm để lựa chọn). Nếu muốn thay hộp kiểm này bằng Combo Box để có một danh sách đổ xuống chọn NAM/NỮ thì dùng Lookup với thiết lập như sau:

    • Display Control chọn Combo Box
    • Row Source Type chọn Value List
    • Row Source liệt kê các giá trị của bảng nguồn, mỗi giá trị cách nhau bởi dấu ;, chuỗi thì đặt trong dấu"" như bảng

      -1 NAM 0 NỮ

      thì điền vào

      -1;"Nam";0;"Nữ"

    • Bound Column chọn là 1, nghĩa là cột 1 là nguồn gán giá trị
    • Colunm Widths chọn là 0cm;2cm; để ẩn -1, 0 giữ hiện thị Nam, Nữ

    Dữ liệu mẫu:

    Bảng này để quản lý các môn học, cấu trúc như sau

    Dữ liệu mẫu:

    Bảng này lưu trữ điểm của các môn học, cấu trúc như sau:

    Nạp dữ liệu vào MS Access từ file Excel

    Có thể nạp dữ liệu từ một Worksheet vào một bảng của MS Access. Ví dụ file Excel, có worksheet tên HOCSINH như sau: có có dòng đầu tiên giống tên các cột của bảng HOCSINH trong Access.

    Ví dụ, để nạp dữ liệu vào bảng HOCSINH, nhấn phải chuột vào đối tượng bảng, chọn import từ excel như hình dưới:

    Trong cửa số hiện ra, chọn file excel đúng cấu trúc, và thiết lập như hình để nạp:

    File dữ liệu mẫu Excel cho bảng HOCSINH: Download

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thú Vị Opera Software Khởi Động Dự Án Trình Duyệt Dành Cho Mèo
  • Nét Đặc Trưng Trong Văn Hóa Ẩm Thực Việt Nam
  • Tản Văn Và Những Điều Chưa Biết
  • Tản Văn Là Gì? Kĩ Năng Viết Tản Văn Cần Có
  • Tản Văn Là Gì? Đặc Trưng Của Tản Văn
  • Đa Dạng Sinh Học Và Các Khái Niệm

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Đích Của Trường Học Là Gì?
  • Để Xây Dựng “trường Học Hạnh Phúc”
  • Học Thuyết Khoa Học Là Gì ? ” Blog Kinh Nghiệm
  • Phụ Lục I: Khái Niệm, Trường Phái, Học Thuyết
  • Tự Do Học Thuật Và Những Giới Hạn Còn Ít Người Biết
  • Khái niệm chung về Đa dạng sinh học

    Theo Công ước Đa dạng sinh học, khái niệm “Đa dạng sinh học” (biopersity, biological persity) có nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần,…; thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái .

    – Toàn bộ gen, các loài và các hệ sinh thái trong một vùng hoặc trên toàn thế giới .

    – Tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái . [FAO]

    – Tính đa dạng, trạng thái khác nhau về đặc tính hoặc chất lượng (R.Patrick,1983)

    – Sự đa dạng và tính khác nhau của các sinh vật sống và các phức hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó. Tính đa dạng có thể định nghĩa là một số lượng xác định các đối tượng khác nhau và tần số xuất hiện tương đối của chúng. Đối với đa dạng sinh học, những đối tượng này được tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ sinh thái phước tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử của vật chất di truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác nhau và sự phong phú tương đối của chúng. (OTA, 1987).

    – Sự đa dạng của các sinh vật trên trái đất, bao gồm cả sự đa dạng về di truyền của chúng và các dạng tổ hợp. Đây là một thuật ngữ khái quát về sự phong phú của sinh vật tự nhiên, hỗ trợ cho cuộc sống và sức khoẻ của con người . Khái niệm này bao hàm mối tương tác qua lại giữa các gen, các loài và các hệ sinh thái (Reid & Miller, 1989).

    – Sự phong phú về sự sống trên trái đất, bao gồm hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, cũng như các thông tin di truyền mà chúng lưu giữ và các hệ sinh thái mà chúng tạo nên (AID, 1989).

    – Tính đa dạng của sự sống và các quá trình hoạt động của nó (U .S. Forest Service, 1990).

    – Bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, các hệ sinh thái và quá trình sinh thái học mà chúng tham gia . Đây là khái niệm bao trùm cho mức độ phong phú của tự nhiên, bao gồm cả số lượng và tần số xuất hiện của các hệ sinh thái, các loài và các gen di truyền trong một tổ hợp xác định. (McNeely et al., 1990).

    – Tính đa dạng của sự sống ở mọi cấp độ tổ chức, biểu hiện bởi số lượng và tần số xuất hiện tương đối của các đối tượng (gen, sinh vật, hệ sinh thái) (EPA, 1990).

    – Tính đa dạng của gen di truyền, kiểu gen và các bộ gen cũng như mối quan hệ của chúng với môi trường ở mức phân tử, loài, quần thể và hệ sinh thái (FAO, 1990).

    – Tính đa dạng về di truyền, phân loại và hệ sinh thái của các sinh vật sống ở một vùng, một môi trường, một hệ sinh thái xác định hoặc toàn bộ trái đất (McAllister, 1991).

    – Toàn bộ sự đa dạng và khác nhau giữa các sinh vật sống và trong chính sinh vật đó, cũng như đối với các hệ sinh thái mà các sinh vật tồn tại trong đó; bao hàm cả đa dạng hệ sinh thái hoặc đa dạng quần xã, đa dạng loài và đa dạng di truyền (Pending legislation, U .S. Congres 1991).

    – Tính đa dạng của sự sống và các quá trình hoạt động của nó. Bao gồm tính đa dạng về các sinh vật sống, sự khác biệt về mặt di truyền giữa chúng và các quần xã, các hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó. (Keystone Dialogue, 1991)

    – Tính đa dạng và sự khác nhau của tất cả động vật, thực vật và vi sinh vật trên trái đất, có thể được phân thành 3 cấp: đa dạng di truyền (biến thiên trong loài), đa dạng loài, và đa dạng sinh cảnh (Overseas Development Administration, 1991).

    – Đề xuất một cấp thứ tư – đa dạng chức năng – sự đa dạng của những phản ứng khác nhau đối với những thay đổi của môi trường, nhất là sự đa dạng về quy mô không gian và thời gian mà các sinh vật phản ứng với nhau và với môi trường (J. Steele, 1991).

    – Toàn bộ các gen di truyền, các loài và các hệ sinh thái trong một vùng (WRI, IUCN and UNEP, 1992).

    – Toàn bộ sự đa dạng của sự sống trên trái đất. Bao gồm tất cả các gen di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các quá trình sinh thái (ICBP, 1992).

    – Toàn bộ sự đa dạng và sự khác nhau giữa các sinh vật sống và trong chính sinh vật đó, các tổ hợp sinh vật và các hệ sinh thái hướng sinh cảnh. Thuật ngữ bao gồm các mức đa dạng hệ sinh thái, loài và sinh cảnh, cũng như trong một loài (đa dạng di truyền) (Fiedler & Jain, 1992).

    – Tính đa dạng của sinh vật ở mọi cấp độ, từ những biến dị di truyền trong cùng một loài đến sự đa dạng của các loài, giống/chi, họ và thậm chí cả các mức phân loại cao hơn; bao gồm cả đa dạng hệ sinh thái, gồm cả các quần xã sinh vật trong các sinh cảnh cụ thể và các điều kiện vật lý mà chúng sinh sống trong đó (Wilson, 1992).

    – Là phức hệ vượt quá sự hiểu biết và có giá trị không thể đo đếm được, đa dạng sinh học là toàn bộ tính đa dạng của sự sống trên trái đất (Ryan, 1992).

    – Tính đa dạng về cấu trúc và chức năng của các dạng sống ở các mức di truyền, quần thể, loài, quần xã và hệ sinh thái (Sandlund et al., 1993).

    – Là toàn bộ đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng sinh thái, cũng như những tác động tương hỗ giữa chúng, trong một vùng xác định, tại một thời điểm xác định (di Castri, 1995).

    – Là toàn bộ các mức tổ chức về mặt di truyền học, các cấp phân loại và sinh thái học, cũng như mối tương tác theo thứ bậc, tại các mức độ tổ hợp khác nhau (di Castri & Younốs, 1996).

    Đa dạng loài

    Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó.

    Đa dạng loài là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau .

    Có lẽ do thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật ngữ “đa dạng sinh học” thường được dùng như một từ đồng nghĩa của “đa dạng loài”, đặc biệt là “sự phong phú về loài”, thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú. Đa dạng sinh học toàn cầu thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu . Ước tính đến thời điểm này đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định; còn tổng số loài tồn tại trên trái đất vào khoảng 5 triệu đến gần 100 triệu . Theo như ước tính của công tác bảo tồn, có khoảng 12,5 triệu loài trên trái đất. Nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật.

    Mức độ loài thường được coi là một mức cố nhiên được dùng khi xem xét sự đa dạng của tất cả các sinh vật. Loài cũng là yếu tố cơ bản của cơ chế tiến hoá, và sự hình thành cũng như sự tuyệt chủng của loài là tác nhân chính chi phối đa dạng sinh học. Mặt khác, các nhà phân loại học không thể nhận biết và phân loại loài với độ chính xác tuyệt đối, khái niệm loài rất khác nhau giữa các nhóm sinh vật.

    Hơn nữa, số lượng các loài chỉ đơn thuần cho biết một phần về đa dạng sinh học, ẩn chứa trong thuật ngữ này là khái niệm về mức độ hoặc quy mô của sự đa dạng; tức là những sinh vật có sự khác biêt rõ rệt về một số đặc điểm đặc thù sẽ có vai trò quan trọng đối với đa dạng sinh học hơn nhiều so với những sinh vật giống nhau .

    Một loài càng có nhiều khác biệt với các loài khác (ví dụ, có một vị trí cô lập trong hệ thống phân loại), thì loài đó càng có đóng góp nhiều đối với mọi mức độ của đa dạng sinh học toàn cầu . Như vậy, xét theo quan điểm này, 2 loài thằn lằn răng nêm Tuatara (chi Sphenodon) ở New Zealand, là những thành viên hiện còn sót lại của bộ bò sát Rhynchocephalia, có vai trò quan trọng hơn các thành viên thuộc 1 số bộ thằn lằn bậc cao khác. Theo lập luận này, một vùng với nhiều đơn vị phân loại bậc cao khác nhau sẽ có tính đa dạng về cấp phân loại lớn hơn những vùng có ít đơn vị phân loại bậc cao mặc dù có nhiều loài hơn. Chẳng hạn, hệ sinh thái biển thường có nhiều ngành sinh vật hơn nhưng ít loài hơn so với hệ sinh thái trên cạn, do đó đa dạng về cấp phân loại sẽ cao hơn nhưng đa dạng loài sẽ thấp hơn. Các biện pháp nghiên cứu đang được phát triển cố gắng kết hợp việc định lượng sự đặc thù tiến hoá của loài .

    Tầm quan trọng về mặt sinh thái học của một loài có thể có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc quần xã, và do đó đến đa dạng sinh học. Ví dụ, một loài cây của rừng mưa nhiệt đới là nơi cư trú của một hệ động vật không xương sống bản địa với một trăm loài, hiển nhiên đóng góp đối với việc duy trì đa dạng sinh học toàn cầu là lớn hơn so với một thực vật núi cao châu Âu không có một loài sinh vật nào phụ thuộc vào.

    Đa dạng hệ sinh thái

    Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái.

    Đánh giá định lượng về tính đa dạng ở mức quần xã, nơi cư trú hoặc hệ sinh thái còn nhiều khó khăn. Trong khi có thể định nghĩa về nguyên tắc thế nào là đa dạng di truyền và đa dạng loài, từ đó xây dựng các phương pháp đánh giá khác nhau, thì không có một định nghĩa và phân loại thống nhất nào về đa dạng hệ sinh thái ở mức toàn cầu, và trên thực tế khó đánh giá được đa dạng hệ sinh thái ở các cấp độ khác ngoài cấp khu vực và vùng, và cũng thường chỉ xem xét đối với thảm thực vật. Một hệ sinh thái khác nhiều so với một loài hay một gen ở chỗ chúng còn bao gồm cả các thành phần vô sinh, chẳng hạn đá mẹ và khí hậu.

    Đa dạng hệ sinh thái thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thành viên. Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tương đối của các loài khác nhau cũng như các kiểu dạng của loài . Trong trường hợp thứ nhất, các loài khác nhau càng phong phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư trú càng đa dạng. Trong trường hợp thứ hai, người ta quan tâm tới số lượng loài trong các lớp kích thước khác nhau, tại các dải dinh dưỡng khác nhau, hoặc trong các nhóm phân loại khác nhau . Do đó một hệ sinh thái giả thiết chỉ có một vài loài thực vật sẽ kém đa dạng hơn vùng có cùng số lượng loài nhưng bao gồm cả động vật ăn cỏ và động vật ăn thịt. Do tầm quan trọng của các yếu tố này khác nhau khi đánh giá tính đa dạng của các khu vực khác nhau, nên không có một chỉ số có căn cứ chính xác cho việc đánh giá tính đa dạng. Điều này rõ ràng có ý nghĩa quan trọng đối với việc xếp hạng các khu vực khác nhau.

    Đa dạng di truyền

    Đa dạng di truyền là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm, và vi sinh vật. Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau .

    Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể.

    Đa dạng di truyền là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã. Xét cho cùng, đa dạng di truyền chính là sự biến dị của sự tổ hợp trình tự của bốn cặp bazơ cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền.

    Một biến dị gen xuất hiện ở một cá thể do đột biến gen hoặc nhiễm sắc thể, ở các sinh vật sinh sản hữu tính có thể được nhân rộng trong quần thể nhờ tái tổ hợp. Người ta ước tính rằng, số lượng các tổ hợp có thể giữa các dạng khác nhau của các trình tự gen ở người cũng như ở ruồi giấm đều lớn hơn số lượng các các nguyên tử trong vũ trụ. Các dạng khác của đa dạng di truyền có thể được xác định tại mọi cấp độ tổ chức, bao gồm cả số lượng DNA trong mỗi tế bào, cũng như số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể.

    Tập hợp các biến dị gen trong một quần thể giao phối cùng loài có được nhờ chọn lọc. Mức độ sống sót của các biến dị khác nhau dẫn đến tần suất khác nhau của các gen trong tập hợp gen. Điều này cũng tương tự trong tiến hoá của quần thể. Như vậy, tầm quan trọng của biến dị gen là rất rõ ràng: nó tạo ra sự thay đổi tiến hoá tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo .

    Chỉ một phần nhỏ (thường nhỏ hơn 1%) vật chất di truyền của các sinh vật bậc cao là được biểu hiện ra ngoài thành các tính trạng kiểu hình hoặc chức năng của sinh vật; vai trò của những DNA còn lại và tầm quan trọng của các biến di gen của nó vẫn chưa được làm rõ.

    Ước tính cứ 109 gen khác nhau phân bố trên sinh giới thì có 1 gen không có đóng góp đối với toàn bộ đa dạng di truyền. Đặc biệt, những gen kiểm soát quá trình sinh hóa cơ bản, được duy trì bền vững ở các đơn vị phân loại khác nhau và thường ít có biến dị, mặc dù những biến dị này nếu có sẽ ảnh hưởng nhiều đến tính đa dạng của sinh vật. Đối với các gen duy trì sự tồn tại của các gen khác cũng tương tự như vậy . Hơn nữa, một số lớn các biến dị phân tử trong hệ thống miễn dịch của động vật có vú được quy định bởi một số lượng nhỏ các gen di truyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nêu Khái Niệm Về Sinh Họcsinh Học Là Gì?? Hỏi Cho Mấy Bạn Kiếm Điểm Nèk
  • Khái Niệm Máy Ánh Sáng Sinh Học Là Gì?
  • Kiến Thức Cơ Bản Về Sinh Học: Đặc Điểm Của Sự Sống
  • Khái Niệm Chế Phẩm Sinh Học Là Gì? Ứng Dụng Trong Nuôi Tôm Như Thế Nào
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Của Kiểm Tra, Đánh Giá
  • Khái Niệm Phương Pháp Sáng Tác Trong Lí Luận Phê Bình Văn Học Mác Xít Là Nguỵ Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Phong Cách Sáng Tác Của Nhà Văn
  • Thế Nào Là Dạy Học Tích Cực?
  • Các Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Học Sinh
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Của Kiểm Tra, Đánh Giá
  • Trong hệ thống lí luận văn học mác xít lưu truyền từ những năm 30 thế kỉ trước đến nay có một khái niệm quyền uy ngự trị trong lí luận văn học các nước xã hội chủ nghĩa. Đó là khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó không chỉ là phương pháp sáng tác mà còn là phương pháp phê bình văn học.

    Nhà văn thì phải nắm vững phương pháp sáng để sáng tác, còn nhà phê bình văn học thì phải vận dụng phương pháp ấy để phê bình, đánh giá xem tác phẩm nào đó hay cả nền văn học có đi theo định hướng của phương pháp ấy không. Nếu có thì biểu dương, nếu không thì phê phán, trường hợp nặng thì có thể đi đến chấm dứt cuộc đời sáng tác. Từ khi kết thúc cách mạng văn hoá, bước sang hiện đại hoá, Trung Quốc dần dần đã từ bỏ khái niệm phương pháp sáng tác. Các giáo trình lí luận văn học Trung Quốc từ năm 1995 đã lần lượt không dùng khái niệm ấy nữa. Giáo trình Lí luận văn học do H. D. Tamarchenco chủ biên đã loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác. Trên thế giới, hiện nay hầu duy nhất chỉ có nước Việt Nam ta trong giáo trình lí luận văn học là vẫn còn mục phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Gần đây nhà nghiên cứu Phương Lựu trong một bài báo hưởng ứng Nghị quyết 23 của Bộ chính trị tháng 6 – 2008, đã phê phán rất sâu sắc những “sai lầm cơ bản của lí luận hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nhưng đối với vấn đề có tiếp tục sử dụng khái niệm phương pháp sáng tác nữa không, thì ý kiến của ông là tiếp tục, và ông còn hăng hái “bước đầu hình dung phương pháp sáng tác thay thế”, mà ông gọi là “chủ nghĩa chân thực, dân bản”, Ở đây người viết cho thấy phương pháp sáng tác gốc của nó là phong cách, người ta đã lấy nội dung của phong cách làm phương pháp. L.I. Timofeev chủ trương gọi phương pháp sáng tác là phương pháp nghệ thuật thể hiện một cách hiểu khác, đó là nguyên tắc thiết kế mĩ học của sáng tác. Anh là nhà nghệ sĩ, khi sáng tác một tác phẩm anh phải xử lí chất liệu đời sống, anh phải xây dựng thể loại, thực hiện tự sự hay trữ tình theo một cách nào đó, tức là thực hiện nguyên tắc thiết kế mĩ học đối với tác phẩm sao cho tác động đến người đọc tốt nhất. Phương pháp sáng tác như thế là việc của nghệ sĩ, thể hiện trong sáng tác của họ, người ta có thể miêu tả nó, khái quát nó sau khi tác phẩm đã hoàn thành. Hiểu như thế phương pháp sáng tác là một phạm trù có tính chất cá nhân, tồn tại bên trong hoạt động sáng tác của nghệ sĩ. Mỗi người có phương pháp riêng, người này không thể sử dụng phương pháp của người khác. Từ logic ấy, một thời gian M. B. Khrapchenco đã nêu lên vấn đề “phương pháp sáng tác cá nhân”, mà vào đầu những năm 60, trong giáo trình lí luận văn học ở Việt Nam, Nguyễn Văn Hạnh đã nhạy bén tiếp nhận và thể hiện. Khái niệm ấy chỉ lưu hành một thời gian ngắn rồi thôi. Vì sao? Vấn đề mà lí thuyết chủ đạo quan tâm là phương pháp chung có tính ràng buộc đối với mọi người, còn phương pháp riêng thì quan tâm làm gì? Mà phương pháp chung là cái chung của mọi phương pháp cá nhân, thì nó phải có sau phương pháp riêng, như thế thì không phát huy được vai trò chỉ đạo. Từ đó sự phân biệt phương pháp chung, riêng bị thủ tiêu.

    Vấn đề là “nguyên tắc mĩ học” trong sáng tác của nhà văn như Timofeev nói là phong cách hay phương pháp? Trong sách Thi pháp văn học Nga cổ, nhà nghiên cứu Likhachev định nghĩa “Phong cách không chỉ là hình thức ngôn ngữ, mà còn là nguyên tắc mĩ học của cấu trúc, thống nhất toàn bộ nội dung và toàn bộ hình thức của tác phẩm. Hệ thồng tạo hình thức có thể được khám phá trong tất cả mọi yếu tố của tác phẩm. Phong cách nghệ thuật thống nhất trong nó toàn bộ sự cảm thụ hiện thực vốn có của nhà văn, và phương pháp nghệ thuật của nhà văn, do các nhiệm vụ mà anh đặt ra cho mình quy định.”. Do đó nguyên tắc nhận thức nằm trước, nằm ngoài chứ không phải khi sáng tác mới đi nhận thức. Khi sáng tác chỉ có nguyên tắc thẩm mĩ nhằm biểu hiện giá trị nhận thức và giá trị đạo đức. Văn học lãng mạn, văn học huyền ảo, văn học biểu hiện, siêu thực gia công theo các nguyên tắc thẩm mĩ khác nhau, chứ không thể nói họ nhận thức hiện thực theo các nguyên tắc khác biệt nhau. Ở đây không được đánh đồng nguyên tắc nhận thức, đánh giá đạo đức với nguyên tắc gia công thẩm mĩ.

    Mọi ý muốn bảo vệ khái niệm phương pháp sáng tác, làm cho nó không chỉ là “nguyên tắc phản ánh”, mà còn là thẩm mĩ đều thất bại, bởi đã đi vào sáng tạo thì nó hoặc là mang tính cá nhân, hoặc là thuộc bình diện phong cách. Chẳng hạn nói đến nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực là chi tiết cụ thể, chân thực, mô tả đời sống trong hình thức của bản thân đời sống thì đó là nguyên tắc phong cách của trường phái này, mà lúc đầu người ta đã dịch đúng, là “chủ nghĩa tả thực”. Tả thực là miêu tả như thực, như sự vật vốn có, giống như trong tranh của Courbet. Các chủ nghĩa như tượng trưng, ấn tượng, siêu thực… đều là các phong cách, trường phái, không phải phương pháp sáng tác.

    Từ sự phân tích trên chúng tôi đề nghị từ nay chính thức đưa khái niệm phương pháp sáng tác ra khỏi chương trình lí luận văn học ở các cấp. Bỏ nó đi giáo trình sẽ được viết lại khoa học hơn, giảng viên yên tâm, sinh viên không còn lo lắng. Các nhà lí luận giành thì giờ bàn luận về phong cách, tất cả đều hay. Được khuyến khích bởi tinh thần của Nghị quyết 23 của Bộ chính trị về tiếp tục và phát tiển văn học, nghệ thuật trong thời kì mới: “khích lệ những tìm tòi, tôn trọng những ý kiến khác nhau về lí luận và phê bình văn nghệ vì lợi ích chung và sự phát triển lành mạnh của văn nghệ.” tôi thấy đã đến lúc dứt khoát loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác nhằm hoàn thiện hệ thống lí luận văn nghệ của chúng ta. Bỏ khái niệm phương pháp sáng tác không phải là hành vi theo đuôi nước ngoài, mà là bỏ đi một thuật ngữ nguỵ tạo của lí luận văn học Xô viết, vốn không có trong lí luận mác xít, để hệ thống lí luận văn học được chặt chẽ hơn, phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa Mác, đồng thời nội dung mà ta vẫn gọi là “phương pháp sáng tác” thì chuyển sang lí thuyết hay chủ trương về sáng tác.

    Hà Nội 3 – 2012.

    V. E. Khalizev, Lí luận văn học, M., 2004, tr. 374.

    Trong cuốn Lí luận văn học Tập 1 có tên là Văn học, Ju. Borev là biên tập chính, nxb IMLI RAN, năm 2005 có in bài Các phương pháp và các phong cách của A. V. Mikhailov và bài Về phạm trù phương pháp sáng tác của V. D. Skvoznikov, người đã viết mục từ phương pháp sáng tác trong Từ điển bách khoa mà chúng tôi đã trích, có ý muốn khẳng định lại khái niệm của lí luận văn học Xô viết, song vẫn các lập luận cũ. Bài viết của A. V. Mikhailov hẳn là bài viết cũ, vì tác giả đã mất năm 1995, sau khi Liên Xô sụp đổ ông đã phát biểu một loạt ý kiến phản tư về lí luận văn học Xô viết. Xem: Nghiên cứu văn học như là một vấn đề của nghiên cứu văn học, nxb. Nasledie, M., 2001. Chỉ cần chú ý điểm này là thấy đó không phải là quan điểm của các nhà nghiên cứu Nga. Trong cuốn Thi pháp học lịch sử cũng của IMLI, do Grintzer chủ biên, M, 1994, không có phạm trù phương pháp sáng tác.

    Theo sách Chủ nghĩa hiện thực, Chu Phát Tường dịch, nxb Côn Lôn, 1989, tr. 29.

    Xem Lí Vận Đoàn. Văn học đương đại Trung Quốc và chủ nghĩa hiện thực giả. Văn học đương đại, số 1 – 2005.

    Tuy nhiên Trường Chinh vẫn dùng “chủ nghĩa tả thực”, điều đó chứng tỏ lúc này ông chưa tiếp xúc với Bài nói chuyện tại Diên An của Mao Trạch Đông.

    Likhachev D .X. Thi pháp văn học Nga cổ, L. Khoa học, 1979, tr. 32. Tiếng Nga.

    Bakhtin M. M. Vấn đề thể loại lời nói. Xem Bakhtin toàn tập, tập 4, nxb Giáo dục Hà Bắc, Trung Quốc, 1998, tr. 140, tiếng Trung.

    G. N. Pospelov. Mấy vấn đề phong cách văn học. Đại học tổng hợp Mascova, 1970.

    [18] Dư Hồng, Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và diễn ngôn chính đảng, trong sách: Bàn về lịch sử tư tưởng văn nghệ Trung Quốc thế kỉ XX, Cát Hồng Binh chủ biên, tập 1, Thượng Hải, 2006, tr. 131.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Ngụy Tạo Của Khái Niệm Phương Pháp Sáng Tác Trong Lí Luận Phê Bình Văn Học
  • Đặc Điểm Trường Trung Học Phổ Thông Ở Việt Nam
  • Quy Định Chung Về Trường Trung Học Cơ Sở
  • Quy Định Chung Về Trường Trung Học Phổ Thông
  • Các Trường Không Cần ‘giá Dịch Vụ’, Chỉ Cần Định Nghĩa Lại Học Phí
  • Tính Ngụy Tạo Của Khái Niệm Phương Pháp Sáng Tác Trong Lí Luận Phê Bình Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Phương Pháp Sáng Tác Trong Lí Luận Phê Bình Văn Học Mác Xít Là Nguỵ Tạo
  • Phong Cách Sáng Tác Của Nhà Văn
  • Thế Nào Là Dạy Học Tích Cực?
  • Các Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả
  • Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Học Sinh
  • Trong hệ thống lí luận văn học mác xít lưu truyền từ những năm 30 thế kỉ trước đến nay có một khái niệm quyền uy ngự trị trong lí luận văn học các nước xã hội chủ nghĩa. Đó là khái niệm phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó không chỉ là phương pháp sáng tác mà còn là phương pháp phê bình văn học. Nhà văn thì phải nắm vững phương pháp sáng để sáng tác, còn nhà phê bình văn học thì phải vận dụng phương pháp ấy để phê bình, đánh giá xem tác phẩm nào đó hay cả nền văn học có đi theo định hướng của phương pháp ấy không. Nếu có thì biểu dương, nếu không thì phê phán, trường hợp nặng thì có thể đi đến chấm dứt cuộc đời sáng tác của nhà văn. Từ khi kết thúc cách mạng văn hoá, bước sang hiện đại hoá, Trung Quốc dần dần đã từ bỏ khái niệm phương pháp sáng tác. Các giáo trình lí luận văn học Trung Quốc từ năm 1995 đã lần lượt không dùng khái niệm ấy nữa . Giáo trình Lí luận văn học do H. D. Tamarchenco chủ biên đã loại bỏ khái niệm phương pháp sáng tác . Trên thế giới, hiện nay hầu duy nhất chỉ có nước Việt Nam ta trong giáo trình lí luận văn học là vẫn còn mục phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Gần đây nhà nghiên cứu Phương Lựu trong một bài báo viết tháng 6 – 2008, đã phê phán rất sâu sắc những “sai lầm cơ bản của lí luận hiện thực xã hội chủ nghĩa”, nhưng đối với vấn đề có tiếp tục sử dụng khái niệm phương pháp sáng tác nữa không, thì ý kiến của ông là tiếp tục, và ông còn “bước đầu hình dung phương pháp sáng tác thay thế”chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa bằng phương pháp mà ông gọi là “chủ nghĩa chân thực, dân bản” , rồi sau đó coi là phương pháp sáng tác tốt nhất. Tính chất ý thức hệ của khái niệm là rõ ràng, song tính khoa học của nó ngay từ thời Goethe đã gây tranh cãi. Sau lần đề xuất của Goethe, các nhà văn khác như V. Hugo, G. Maupassant, G. Sand, các nhà thơ tượng trưng Nga như Briusov, Belyi… và nhà lí luận người Mĩ gốc Séc R. Wellek cũng có lúc nói đến thuật ngữ “phương pháp sáng tác”, nhưng toàn bộ lí luận văn học phương Tây người ta chỉ dùng khái niệm chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa lãng mạn như Geothe và Schiller đề xuất, mà không hề tiếp nhận khái niệm phương pháp sáng tác. Đó là điều rất đáng suy nghĩ. Trong một số bức thư từ bàn về văn học của Marx và Engels hai ông có bàn về chủ nghĩa hiện thực, về chủ nghĩa lãng mạn, nhưng không hề gọi đó là phương pháp sáng tác! Marx đã yêu cầu văn học nên Shakespeare hoá, không nên Schiller hoá, nghĩa là ông có thể đã đọc ý kiến của Goethe về phương thức sáng tác, nhưng lại không dùng khái niệm mà Goethe đã nêu ra đó. Đó cũng là một vấn đề cần suy nghĩ. Hồ Chí Minh lúc sinh thời trong nhiều lần nói chuyện với văn nghệ sĩ cũng không một lần nói đến phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa.

    Ở Liên Xô, do khái niệm phương pháp sáng tác có tính chung, làm việc gì đó cũng ít nhiều mang tính sáng tạo (hay sáng tác), cho nên có người gọi là “phương pháp nghệ thuật” cho cụ thể. Có người thì thấy đó chỉ là “nguyên tắc phản ánh”, không coi là phương pháp sáng tác. Thuật ngữ này đã được dùng với rất nhiều định ngữ khác nhau: “vô sản”, “biện chứng”, “hùng vĩ”, “xã hội chủ nghĩa”, “cách mạng”, “vĩ đại”… Khái niệm này khi thì hiểu rất hẹp, như là một phong cách trong hội hoạ của Courbet (“chủ nghĩa tả thực”) hoặc chỉ một trường phái cụ thể, mà M. Gorki gọi là “chủ nghĩa hiện thực phê phán”, khi lại hiểu rất rộng như “chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” với R. Garaudy, khi lại xem là “hệ thống mở” như viện sĩ D. Markov. Tất cả điều đó chứng tỏ khái niệm này thiếu một hạt nhân khoa học vững chắc. Cả nội hàm, lẫn ngoại diên đều đều mơ hồ. Ở Liên Xô và Trung Quốc một thời nó được coi là phương pháp sáng tác (dù là hệ thống mở) của nhà nước, có tính quan phương. Do đó một thời gian dài, tuy luôn có nhiều ý kiến không tán thành, song là vấn đề rất khó bàn, nếu bàn mà không muốn đụng chạm thì cũng luẩn quẩn và nhàm chán.

    Xét về cấu trúc nội dung khái niệm phương pháp sáng tác thiếu tính khoa học. Nhìn chung dù ở Liên Xô hay ở Trung Quốc, Việt Nam khái niệm phương pháp được hiểu đại đồng, tiểu dị. Đại đa số nhà nghiên cứu cho rằng, phương pháp sáng tác = nguyên tắc sáng tác (nhận thức, tư tưởng) + phương thức (mô hình tư duy nghệ thuật) + thủ pháp (các biện pháp miêu tả, biểu hiện), trong đó yếu tố thứ nhất được coi là hạt nhân và có tác dụng quy định đối với hai yếu tố sau. Mô hình lí luận về phương pháp này (có người gọi là cấu trúc phương pháp) có nhiều điều bất ổn. Một là từ mô hình đó ai cũng thấy rõ là quan niệm, nguyên tắc thẩm mĩ không phải là hạt nhân của phương pháp nghệ thuật, mà ở vào địa vị phụ thuộc. Một số tác giả khác coi yếu tố thứ hai (tư duy nghệ thuật) mới là hạt nhân, mà như thế là phá vỡ cấu trúc phương pháp, vì nguyên tắc nhận thức, tư tưởng lại là phụ thuộc. Thứ hai, hai yếu tố sau của phương pháp thực chất là thuộc phạm trù phong cách. Nếu để chúng vào nội dung của phương pháp thì khái niệm phương pháp sáng tác sẽ là: phương pháp sáng tác = nguyên tắc nhận thức + phong cách, như thế phong cách không có giá trị riêng mà phương pháp là khái niệm nửa dơi nửa chuột.

    Tính chất pha tạp của khái niệm được thể hiện trong định nghĩa của từ điển bách khoa. Từ điển Bách khoa văn học Liên Xô năm 1987 nêu định nghĩa: “Cần phải nhấn mạnh rằng phương pháp sáng tác không phải là “phương thức” hay “nguyên tắc” logic – trừu tượng. Phương pháp là nguyên tắc chung trong thái độ sáng tạo của nghệ sĩ đối với hiện thực được nhận thức, tức là nguyên tăc tái tạo (peresozdanie), và do đó mà không tồn tại bên ngoài sự thể hiện cụ thể, có tính cá nhân. Với nội dung như thế, phạm trù này đã chín muồi từ lâu, và thường được gọi bằng tên gọi là “phong cách” hay tên gọi khác.”.

    Hà Nội 3 – 2012.

    V. E. Khalizev, Lí luận văn học, M., 2004, tr. 374.

    Trong cuốn Lí luận văn học Tập 1 có tên là Văn học, Ju. Borev là biên tập chính, nxb IMLI RAN, năm 2005 có in bài Các phương pháp và các phong cách của A. V. Mikhailov và bài Về phạm trù phương pháp sáng tác của V. D. Skvoznikov, người đã viết mục từ phương pháp sáng tác trong Từ điển bách khoa mà chúng tôi đã trích, có ý muốn khẳng định lại khái niệm của lí luận văn học Xô viết, song vẫn các lập luận cũ. Bài viết của A. V. Mikhailov hẳn là bài viết cũ, vì tác giả đã mất năm 1995, sau khi Liên Xô sụp đổ ông đã phát biểu một loạt ý kiến phản tư về lí luận văn học Xô viết. Xem: Nghiên cứu văn học như là một vấn đề của nghiên cứu văn học, nxb. Nasledie, M., 2001. Chỉ cần chú ý điểm này là thấy đó không phải là quan điểm của các nhà nghiên cứu Nga. Trong cuốn Thi pháp học lịch sử cũng của IMLI, do Grintzer chủ biên, M, 1994, không có phạm trù phương pháp sáng tác.

    Theo sách Chủ nghĩa hiện thực, Chu Phát Tường dịch, nxb Côn Lôn, 1989, tr. 29.

    Ở Trung Quốc tác giả Chu Lập Ba trong tiểu thuyết Mưa to gió lớn cũng bắt chước kiểu này. Ở Việt Nam ta thấy trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc có nhân vật anh Thế bên cạnh anh hùng Núp, trong Vơ chồng A Phủ của Tô Hoài có nhân vật A Châu lãnh đạo A Phủ căm thù Tây đứng lên chống Tây. Đến năm 1985 trong Tuyển tập truyện ngắn, nhà văn Tô Hoài đã gạch bỏ đoạn A Châu lãnh đạo A Phủ..

    Xem trong sách Rễ bèo chân sóng, hồi kí của Vũ Bão, phần phụ lục.

    Từ điển bách khoa văn học Liên Xô, M. 1987, tr. 218, cột 2, tác giả là V. D. Skvoznikov..

    Bakhtin M. M. Vấn đề thể loại lời nói. Xem Bakhtin toàn tập, tập 4, nxb Giáo dục Hà Bắc, Trung Quốc, 1998, tr. 140.

    G. N. Pospelov. Mấy vấn đề phong cách văn học. Đại học tổng hợp Mascova, 1970.

    Văn kiện chính thức của Đảng như Nghị quyết Trung ương V (Khoá VIII) cũng có khi nhắc đến: ” Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng“. Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị của Đảng ngày 16 – 6- 2008, cũng khẳng định sự đa dạng về phong cách nghệ thuật như một thành tựu của văn học thời gian qua. Khi đề ra chủ trương và giải pháp thì cũng nêu: ” tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học nghệ thuật nước nhà.” Văn học Việt Nam đương đại đã có đa dạng về phong cách, còn đa dạng về phương pháp thì chưa thấy nói. Ở đây hình như Nghị quyết 23 còn thiếu sự khuyến khích đa dạng về phong cách. Có thể hiểu đa dạng về phương pháp sáng tác ở đây chính là đa dạng về phong cách thì hợp lí hơn.

    [20] Cũng có người nêu ý kiến, vấn đề phương pháp sáng tác cứ để cho nó tự chết. Hoàng Ngọc Hiến sinh thời đã có lúc viết phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa “đã đội nón ra đi”. Nhưng trong nhà trường đại học, nếu không loại bỏ nó ra khỏi chương trình thì nó vẫn cứ sống và gây phìên nhiễu.

    Nguồn: http://trandinhsu.wordpss.com/2013/05/24/tinh-nguy-tao-cua-khai-niem-phuong-phap-sang-tac-trong-li-luan-phe-binh-van-hoc/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Trường Trung Học Phổ Thông Ở Việt Nam
  • Quy Định Chung Về Trường Trung Học Cơ Sở
  • Quy Định Chung Về Trường Trung Học Phổ Thông
  • Các Trường Không Cần ‘giá Dịch Vụ’, Chỉ Cần Định Nghĩa Lại Học Phí
  • Nhà Quản Lý Giáo Dục Đề Nghị Giữ Nguyên Khái Niệm “học Phí”
  • Dạy Học Khái Niệm Toán Học Phần Giải Tích Ở Lớp 11 Trường Thpt Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Cho Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ: Đất Nước (Nguyễn Khoa Điềm)
  • Phân Tích Bài Thơ Đất Nước Của Nguyễn Khoa Điềm, 6 Bài Văn Mẫu, Mở Bài
  • Bài Thơ: Định Nghĩa Về Đất Nước (Lê Minh Quốc)
  • Quan Niệm Về ‘đất Nước’ Trong Thơ
  • Nguyễn Khoa Điềm Đã Định Nghĩa Bằng Thơ Về Đất Nước
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC su PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA TOÁN

    NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH

    DẠY HỌC KHÁI NIỆM TOÁN HỌC

    ****

    PHẰN “GIẢI TÍCH” Ở LỚP 11 TRƯỜNG THPT

    THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIẺN NĂNG Lực

    CHO HỌC SINH

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

    ĐẠI HỌC * * * *

    Chuyên ngành: Phương pháp dạy học môn Toán

    Người hướng dẫn khoa học ThS. Nguyễn Văn Hà

    HÀ NỘI-2015

    LỜI CẢM ƠN

    Sau một thời gian nghiên cứu cùng với sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của thầy

    giáo – TS Nguyễn Văn Hà khoá luận của em đến nay đã được hoàn thành.

    Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Nguyễn Văn Hà, người đã

    trực tiếp hướng dẫn em thực hiện khoá luận này. Em cũng xin chân thành cảm ơn sự

    giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Toán đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong thời gian

    em làm khoá luận.

    Do lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, hơn nữa do thời gian

    và năng lực còn hạn chế nên mặc dù đã có nhiều cố gắng song bản khoá luận không

    tránh khỏi những thiếu sót.Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô

    giáo và của các bạn sinh viên để khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, tháng 05 năm 2021 Sinh viên

    Nguyễn Thị Phương Anh

    LỜI CAM ĐOAN

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Khoá luận này là kết quả khách quan, trung thực và là kết quả của em trong suốt quá trình học tập nghiên

    cứu vừa qua, dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo – TS Nguyễn Văn Hà.

    Em xin cam đoan khoá luận với đề tài “Dạy học khái niệm Toán học phần “giải tích” ở lóp 11 trường

    THPT theo định hướng phát triến năng lực cho học sinh” không trùng với kết quả của các tác giả khác.

    Neu sai em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

    Hà Nội, thảng 05 năm 2021 Sinh viên

    Nguyễn Thị Phương Anh

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………………………………..1

    1……………………………………………………………………………Lý do chọn đề tài

    1

    2………………………………………………………………………Mục đích nghiên cứu

    2

    3……………………………………………………………………..Nhiệm vụ nghiên cứu

    2

    4…………………………………………………………………Phương pháp nghiên cún

    2

    5………………………………………………………………………….Cấu trúc khoá luận

    2

    Chương 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN………………………………………………3

    1.1………………………………….Dạy học theo định hướng phát triến năng lực

    3

    1.1.1…………………………………………………………….Nguồn gốc của năng lực

    3

    1.1.2…………………………………………………………………………..Các khái niệm

    3

    ỉ. 1.3. Các quan điếm về cẩu trúc

    1.1.4.

    Dạy học theo định hướng phát trỉên

    năng lực toán học………………………..7

    12

    Nguyên nhân thay đôi phương pháp dạy học theo định hướng

    phát trỉến năng lực………………………………………………………………………….. 13

    1.1.6.

    Đặc trưng phân biệt dạy học theo định hướng nội dung và dạy

    học theo định hướng phát triến năng lực…………………………………………… 16

    1. 2. Dạy học khái niệm toán học………………………………………………………….17

    1.2.1…………………………………………………………………………………………Đại cương về định ngĩa khái niệm

    17

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    1.2.2…………………………………………………………………………………………Vị trí của khái niệm và yêu cầu của

    dạy học khải niệm………………………………………………………………………19

    1.2.3. Một số hình thức định nghĩa khải niệm thường dùng ở

    Khóa luận tốt nghiệp

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    phô thông………………………………………………………………………………………..20

    1.2.4…………………………………………………………………………………………Các qui tắc định nghĩa khái niệm 22

    1.2.5…………………………………………………………………………………………Những con đường tiêp cận khái niệm

    23

    1.2.6…………………………………………………………………………………………Hoạt động củng cố khải niệm

    27

    1.2.7…………………………………………………………………………………………Dạy học phân chia khải niệm

    30

    1.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực đối với chương trình toán phổ thông

    1.3.1.

    32

    Thực trạng dạy học theo định hướng phát triến năng lực trong

    dạy học môn toán ở nhà trường phô thông hiện nay……………………………..32

    1.3.2.Tác dụng của việc dạy học phát triến năng lực trong dạy học

    môn toán ở trường phô thông…………………………………………………………….32

    1.4 Vị trí vai trò của các khái niệm giải tích trong chương trình toán

    phổ thông…………………………………………………………………………………………33

    1.4.1.Vị trí đặc điếm của giới hạn trong chương trình toán phô

    thông……………………………………………………………………………………………….33

    1.4.2.Vị trí đặc điềm của khải niệm đạo hàm trong chương trình

    toán phô thông………………………………………………………………………………….33

    Chương 2: DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG Lực MỘT SỐ KHÁI NIỆM GIẢI TÍCH

    Ở TRƯỜNG PHỐ THÔNG 35

    2.1. Các khái niệm giải tích trong chương trình sách giáo khoa Đại số

    và giải tích lớp 11 nâng cao……………………………………………………………….35

    2.2.Thiết kế tình huống dạy học một số khái niệm phần giải tích lóp 11 theo định hướng phát triến

    năng

    lực cho học sinh………………………………..36

    2.2.1…………………………………………………………………………….Giới hạn dãy so 36

    2.2.2…………………………………………………………………………….Giới hạn hàm so 47

    2.2.3…………………………………………………………………………….Hàm sô liên tục tại một điềm

    2.2.4…………………………………………………………………………….Đạo hàm

    57

    KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………………..62

    TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………….63

    Nguyên

    Thị Phương

    Lý do chọn

    đề tài Anh

    10

    K37A Toán

    Thực tiễn cuộc sống đòi hỏi con người khả năng vận dụng thành thạo tri thức đã biết để giải quyết vấn đề

    hon là lý thuyết sáo rỗng. Nằm trong lộ trình đối mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiếm tra đánh giá ở các

    52

    trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh trên tinh thần nghị quyết 29-NQ/TƯ về đối mới

    Khóa

    luậntạo,

    tốtviệc

    nghiệp

    Trường

    ĐHSP

    Hà Nội

    2 theo hướng

    căn bản toàn diện giáo

    dục đào

    thay đổi từ dạy học theo cách tiếp

    cận nội

    dung sang

    dạy học

    phát triến năng lực cho học sinh là một hệ quả tất yếu.

    Neu như dạy học tiếp cận nội dung là dạy cho học sinh biết cái gì thì dạy học phát triến năng lực là dạy các

    em làm được những gì trên cơ sở các em đã biết. Như vậy dạy học theo định hướng phát triển năng lực quy định

    mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cuối cùng là thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng

    giáo dục.

    Các khái niệm giải tích khá mới mẻ với học sinh lớp 11 khi từ trước đến nay các em chỉ quen thuộc với khái

    niệm đại số. Việc hiểu và vận dụng được các khái niệm này lại càng khó khăn. Mặt khác các khái niệm về giới

    hạn và đạo hàm là những khái niệm cơ bản của giải tích, có thể nói không có giới hạn thì không có giải tích nên

    việc nắm vững các khái niệm này vừa giúp các em tiếp cận thành công 1 khía cạnh mới của toán học vừa là tiền

    đề giúp các em tìm hiểu các nội dung khác của giải tích.

    Trên cơ sở đó tôi lựa chọn đề tài “DẠY HỌC KHÁI NIỆM TOÁN HỌC PHÀN “GIẢI TÍCH” LỚP 11

    TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIẺN NĂNG Lực CHO HỌC SINH” làm đề tài khoá luận

    của mình.

    2.

    Mục đích nghiên cứu

    Phát triển các năng lực của học sinh nói chung, năng lực toán học nói riêng, hìn thành kĩ năng

    giải quyết vấn đề trên cơ sở kiến thức đã học.

    Củng cố niềm tin vào công cụ toán học.

    3.

    Nhiệm vụ nghiên cửu

    Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh theo định hướng phát triển năng lực

    cho học sinh.

    Thiết kế 1 số tình huống dạy học các khái niệm giải tích trong chương 4, 5.

    4.

    Phương pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

    Tống kết kinh nghiệm tham khảo các giáo án, bài giảng theo định hướng này.

    Nghiên cứu chương 4,5 đại số và giải tích 11 nâng cao.

    5.

    Cấu trúc khoá luận Khoá luận gồm hai

    Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

    – Chương 2: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực một số khái niệm giải tích ở trường phố

    thông

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    Chương 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN

    Khóa luận tốt nghiệp

    1.1.

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

    1.1.1.

    Nguồn gốc của năng lực

    Từ cuối thế kỉ XIX đến nay đã có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất và nguồn gốc của năng lực. Hiện

    nay đã có xu hướng thống nhất trên một số quan điếm cơ bản, quan trọng về lí luận cũng như thực tiễn.

    Một là, những yếu tố bẩm sinh, di truyền là điều kiện cần thiết ban đầu cho sự phát triển năng lực. Đó là

    điều kiện cần nhung chưa đủ .

    Hai là, năng lực của con người có nguồn gốc xã hội, lịch sử. Con người từ khi sinh ra đã có sẵn những tố

    chất nhất định cho sự phát triển các năng lực tương ứng, nhưng nếu không có môi trường xã hội thì cũng không

    phát triển được. Xã hội đã được các thế hệ trước cải tạo, xây dựng và để lại các dấu ấn đó cho các thế hệ sau trong

    môi trường Văn hóa – Xã hội.

    Ba là, năng lực có nguồn gốc từ hoạt động và là sản phẩm của hoạt động. Sống trong môi trường xã hội tự

    nhiên do các thế hệ trước tạo ra và chịu sự tác động của nó, con người ở thế hệ sau không chỉ đơn giản sủ dụng

    hay thích ứng với các thành tựu của các thế hệ trước để lại, mà còn cải tạo chúng và tạo ra các kết quả “vật chất”

    mới hoàn thiện hơn cho các hoạt động tiếp theo.

    Tóm lại, ngày nay khoa học cho rằng năng lực là hiện tượng có bản chất, nguồn gốc phức tạp. Các tố chất

    và hoạt động của con người tương tác qua lại với nhau để tạo ra các năng lực.

    1.1.2.

    a)

    Các khái niệm

    Khái niệm năng lực

    những yêu cầu mới mẻ và do đó nó gắn liền với tính sáng tạo, tuy có khác nhau về mức độ.

    Nói đến học sinh có năng lực toán học là nói đến học sinh có trí thông minh trong việc học toán. Tất cả học

    luận

    nghiệp

    Trường

    ĐHSP

    sinh đều có khả năngKhóa

    và phải

    nắmtốt

    được

    chương trình toán trung học, nhưng

    các khả

    năngHà

    nàyNội

    khác2nhau tuỳ vào

    từng học sinh. Các khả năng này không phải cố định, không thay đổi: các năng lực này không phải nhất thành, bất

    biến mà hình thành và phát triển trong quá trình học tập, rèn luyện để nắm được hoạt động tương ứng. Vì vậy cần

    nghiên cứu để nắm được bản chất của

    năng lực và con đường hình thành, phát triến, hoàn thiện của năng lực. ĩ. 1.3. Các quan điếm về cấu trúc năng

    lực toán học

    a)

    Quan điểm của V.A.Krutecxki

    V.A.Krutecxki- nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Tâm lý học thuộc Viện Hàn lâm khoa học giáo

    dục Liên Xô trước đây, đã nghiên cún tâm lí năng lực toán học với công trình độ sộ “Tâm lý năng lực toán” Luận

    án tiến sĩ của ông được Hội đồng bác học Liên Xô đánh giá rất cao. Công trình là kết quả của việc nghiên cứu lý

    luận và thực tiễn, có tiến hành thực nghiệm hết sức công phu được tiến hành từ năm 1955 đến 1968.

    Ket quả chủ yếu và quan trọng nhất là ông đã chỉ ra cấu trúc năng lực toán học của học sinh bao gồm

    những thành phần sau (dựa trên quan điểm lý thuyết thông tin):

    *

    về mặt thu nhận thông tin toán học

    Đó là năng lực tri giác hình thức hoá tài liệu toán học, năng lực nắm cấu trúc hình thức của bài toán.

    *

    về mặt chế biến thông tin toán học

    1)

    Năng lực tư duy logic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và không gian, hệ thống kí

    hiệu dố và dấu, năng lực tư duy bằng các kí hiệu toán học.

    2)

    Năng lực khái quát hoá nhanh và rộng các đối tượng, quan hệ toán học và các phép toán.

    3)

    Năng lực rút gọn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng.

    Năng lực tư duy bằng các cấu trúc rút gọn.

    4)

    Tính linh hoạt của quá trình tư duy trong hoạt động toán học.

    5)

    Khuynh hướng vươn tới tính rõ ràng , đơn giản, tiết kiệm, hợp lý của lời giải.

    6)

    Năng lực nhanh chóng và dễ dàng sửa lại phương hướng của quá trình tư duy, năng lực

    chuyển từ tiến trình tư duy thuận sang tiến trình tư duy đảo (trong suy luận toán học).

    *

    về mặt lim trữ thông tin toán học

    Trí nhớ toán học (trí nhớ khái quát về các: quan hệ toán học, đặc điểm về loại, sơ đồ suy luận và chứng minh,

    phương pháp giải toán,nguyên tắc, đường lối giải toán).

    *

    về thành phần tổng hợp khái quát Khuynh hướng toán học

    của trí tuệ

    Các thành phần nêu trên có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và hợp thành hệ thống định nghĩa

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    một cấu trúc toàn vẹn của năng lực toán học.

    Sơ đồ triển khai của cấu trúc năng lực toán học có thể được biểu thị bằng một công thức khác, cô đọng hơn: năng

    lực toán học được đặc trưng bởi tư duy khái quát, gọn, tắt và linh hoạt trong lĩnh vực quan hệ toán học, hệ thống

    kí hiệu số và dấu, và bởi khuynh hướng toán học của trí tuệ.

    nghiệp cũng đưa ra những gợiTrường

    ĐHSP

    HàbồiNội

    2 năng lực

    Cùng với cấuKhóa

    trúc nóiluận

    trên,tốt

    V.A.Krutecxki

    ý về phương

    pháp

    dưỡng

    toán học cho học sinh.

    Nghiên cứu quan diểm của V.A.Krutecxi về năng lực toán học có thể thấy một số vấn đề quan trọng sau:

    *

    về mặt lý luận:

    1)

    Theo V.A.Krutecxki thì nói đến học sinh có năng lực toán học là nói đến học sinh có trí

    thông minh trong việc học toán.

    2)

    Vấn đề năng lực chính là vấn đề khác biệt cá nhân. Khi nói về năng lực tức là giả định

    rằng: có sự khác biệt về nhũng mặt nào đó giữa các cá nhân, chẳng hạn về năng lực toán học.Điều quan

    trọng năng lực không chỉ là bâm sinh mà còn được phát sinh phát triến trong hoạt động, trong đời sống

    của mỗi cá nhân.

    3) Khi nói đến năng lực tức là nói đến năng lực trong một loại hoạt động nhất định của con

    người.Năng lực toán học cũng vậy, nó chỉ tồn tại trong hoạt động toán học và chỉ trên cơ sở phân tích

    hoạt động toán học mới thấy được biếu hiện của năng lực toán học;

    4) Hiệu quả hoạt động trong một lĩnh vục nào đó của con người thường phụ thuộc vào một to hợp

    năng lực. Ket quả học tập toán cũng không nằm ngoài quy luật đó, ngoài ra còn phụ thuộc vào một số

    yếu tố khác, chang hạn niềm say mê, thái độ học tập, sự khuyến khích hỗ trợ của giáo viên, của gia đình

    và xã hội.

    *

    về mặt thực tiễn

    1) Trong lĩnh vực đào tạo con người phải nghiên cứu năng lực của mỗi người trong lĩnh vực đào

    tạo, phải biết những phương pháp tốt nhất để bồi dưỡng năng lực đó;

    2) Năng lực toán học là năng lực tạo thành các mối liên tưởng khái quát, tắt, linh hoạt, ngược và hệ

    thống chúng dựa trên tài liệu toán học. Các năng lực đã nêu biếu hiện với các mức độ khác nhau ở các em

    học sinh giỏi, trung bình, kém. ơ các em năng khiếu và giỏi thì các mối liên tưởng đó được tạo thành

    ngay tức khắc sau một số ít bài tập, ở các em trung bình thì muốn hình thành các mối liên tưởng cần cả

    một hệ thống bài tập và phải có sự rèn luyện.

    b)

    Quan điếm của A.N.Kôlmôgôrôv

    Trong cuốn sách về nghề nghiệp của nhà Toán học, A.N.Kôlmôgôrôv đã chỉ ra rằng, năng lực ghi nhớ máy

    móc một số lượng lớn các sự kiện, công thức, cộng và nhân nhẩm hàng dãy dài các số có nhiều chữ số không

    quan hệ đến năng lực toán học. Trong thành phần các quan hệ toán học ông nêu ra:

    1) Năng lực biến đối thành thạo các biếu thức chữ phức tạp, năng lực tìm kiếm các cách hay để giải

    các phương trình không phù hợp với qui tắc giải thông thường, hoặc như các nhà toán học gọi là năng lực

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    tính toán hay năng lực “angôrit”;

    2) Trí tưởng tượng hình học hoặc “trực giác hình học”;

    3) Nghệ thuật suy luận lôgic, được phân nhỏ hợp lý, tuần tự. Có thể nói rằng tiêu chuẩn của sự

    trưởng thành logic cần thiết cho nhà toán học là hiếu nguyên nhân quy nạp toán học và có kỹ năng vận

    luậnđắn.

    tốt nghiệp

    dụng nó mộtKhóa

    cách đúng

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Ông còn nhấn mạnh rằng: các khía cạnh khác nhau của năng lực toán học thường gặp trong các tổ hợp khác

    nhau và năng lực này thường bộc lộ rất sớm và đòi hỏi phải luyện tập liên tục.

    c)

    Quan điểm của A.I.Marcusevich

    Viện sĩ A.I.Marcusevich đã chỉ ra 6 phẩm chất sau

    đây của trí tuệ

    và tính cách cần được giáo dục cùng với việc dạy toán:

    1)

    Có kỹ năng biết tách ra cái bản chất của vấn đề và loạibỏ các

    chi

    tiết không cơ bản( kỹ năng trừu tượng hoá);

    2) Kỹ năng xây dựng được sơ đồ của hiện tượng sao cho trong đó chỉ giữ lại những gì cần thiết cho

    việc giải thích vấn đề về mặt Toán học, đó chính là các quan hệ thuộc, thứ tự, số lượng và độ đo, phân bố

    không gian (kỹ năng sơ đồ hoá);

    3) Kỹ năng rút ra các hệ quả logic từ các tiên đề đã cho(tư duy suy diễn);

    4) Kỹ năng phân tích vấn đề đã cho thành các trường họp riêng, kỹ năng phân biệt được khi nào

    chúng bao quát được mọi khả năng, khi nào chúng chỉ là các ví dụ chứ không bao quát hết mọi khả năng;

    5) Kỹ năng vận dụng các kết quả rút ra từ những suy luận lý thuyết cho những vấn đề cụ thế và đối

    chiếu các kết quả đó với các kết quả dự kiến, kỹ năng đánh giá ảnh hưởng của việc thay đổi các điều kiện

    đến độ tin cậy của các kết quả;

    6) Khái quát các kết quả nhận được và đặt ra những vấn đề mới ở dạng khái quát;

    d)

    Quan điểm của X.L.Svacxbuốc

    X.L.Svacxbuốc sau khi khái quát hoá ý kiến của các nhà toán học, đã nghiên cứu các yếu tố sau đây trong sự

    phát triển toán học:

    1) Các biểu tượng không gian;

    2) Tư duy trừu tượng;

    3) Chuyển thành sơ đồ toán học;

    4) Tư duy suy diễn;

    5) Phân tích, xem xét các trường hợp riêng;

    6) Áp dụng các kết luận:

    7) Tính phê phán;

    8) Ngôn ngữ toán học;

    9) Kiên trì khi giải toán;

    e)

    Quan điếm của B.V.Gơnhedenco

    Nguyên

    Thị Phương

    K37A

    Toán

    Viện sỹ B.V.Gơnhedencô

    trongAnh

    một loạt bài báo 10

    đăng trên Tạp chí “Toán học trong

    nhà

    trường” trong các

    năm từ 1962 đến 1965 đã đưa ra các tính chất sau đây của tư duy toán học:

    1) Năng lực nhìn thấy được tính không rõ ràng của suy luận, thấy được sự thiếu vắng các mắt xích

    cần thiết của chứng minh;

    luận

    tốt nghiệp

    2) Có Khóa

    thói quen

    lý giải

    logic một cách đầy đủ;

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    3) Chia nhỏ một cách rõ ràng tiến trình suy luận;

    4) Sự cô đọng;

    5) Sự chính xác của ký hiệu.

    f)

    Quan điểm của UNESCO

    Theo quan điểm của Tổ chức UNESCO thì 10 yếu tố cơ bản của NLTH đó là:

    1) Năng lực phát biểu và tái hiện định nghĩa, kí hiệu, các phép toán và các khái niệm;

    2)

    Năng lực tính nhanh, cẩn thận, và sử dụng các kí hiệu;

    3)

    Năng lực dịch chuyển dữ kiện kí hiệu;

    4)

    Năng lực biểu diễn dữ kiện bằng các kí hiệu;

    5)

    Năng lực theo dõi một hướng suy luận hay chứng minh;

    6)

    Năng lực xây dựng một chứng minh;

    7)

    Năng lực áp dụng quan niệm cho bài toán toán học;

    8)

    Năng lực áp dụng cho bài toán không toán học;

    9) Năng lực phân tích bài toán và xác định các phép toán có thể áp dụng;

    10)

    Năng lực tìm cách khái quát hoá toán học.

    1.1,4.

    Dạy học theo định hưởng phát triên năng lực Dạy học theo định hướng phát triển

    năng lực : nay còn gọi là

    dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành

    xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.

    Dạy học định hướng phát triến năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết

    quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội

    dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là

    đạt được kết quả đầu ra mong muốn.

    1.1.5.Nguyên nhân thay đối phương pháp dạy học theo định hướng phát triên năng lực

    Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục “định hướng nội dung” (điều khiển

    đầu vào). Đặc điểm của chương trình giảo dục định hướng nội dung là chú trọng truyền thụ hệ thống tri thức khoa

    học theo các môn học đã được qui định trong chương trình dạy học. Những nội dung của các môn học này dựa

    trên các khoa học chuyên ngành tương ứng. Người ta chú trọng trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học

    khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau.

    Tuy nhiên chương trình giáo dục định hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong nhiều tình huống thực tiễn. Mục tiêu dạy học chương trình định

    hướng nội dung được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát , đánh giá

    được một cách cụ thể nên không đảm bảo rõ ràng về việc đạt được chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra.

    Việc quản lí chất lượng giáo dục ở đây tập trung vào “điều khiến đầu vào” là nội dung dạy học.

    nghiệp

    ĐHSP

    Hà Nội

    2 hệ thống tri

    Ưu điêm của Khóa

    chươngluận

    trìnhtốt

    giáo

    dục định hướng nội dung là việcTrường

    truyền thụ

    cho người

    học một

    thức khoa học. Tuy nhiên, ngày nay chương trình dạy hoe định hướng nội dung không còn thích họp,trong đó có

    những nguyên nhân sau:

    * Ngày nay, tri thức thay đối và bị lạc hậu nhanh chóng, việc qui định cứng nhắc những nội dung

    chi tiết trong chương trình dạy học dẫn đến nội dung chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri

    thức hiện đại. Do đó việc rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc

    chuẩn bị cho con người có khả năng học tập suốt đời.

    * Chương trình dạy học định hướng nội dung dẫn đến xu hướng việc kiếm tra, đánh giá chủ yếu

    dựa trên việc kiếm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức

    trong những tình huống thực tiễn.

    * Do phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phâm

    giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động. Do đó chương

    trình giáo dục định hướng nội dung này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị

    trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động , khả năng sáng tạo và tính năng động.

    Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực

    chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.

    (i)

    Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ

    chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính

    xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả

    năng nhận thức và tâm lý vận động.

    (ii)

    Năng lực phương pháp {Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động

    có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp

    bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận

    thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua

    việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.

    (iii)

    Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình

    huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với

    những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.

    (iv)

    Năng lực cá thể (Induvỉdual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những

    nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực

    Khóa

    luận

    Trường

    ĐHSP

    2 và tư vấn,

    của GV bao gồm những

    nhóm

    cơ tốt

    bảnnghiệp

    sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo

    dục, năng

    lựcHà

    chẩnNội

    đoán

    năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.

    Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO:

    Chương trình định hướng phát

    nội dung

    triển năng lực

    Mục tiêu

    Mục tiêu dạy học được mô

    Ket quả học tập cần đạt được mô

    giáo dục

    tả không chi tiết và không

    tả chi tiết và có thể quan sát, đánh

    nhất thiết phải quan sát,

    giá được; thể hiện được mức độ

    đánh giá được

    tiến bộ của HS một cách liên tục

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    Nội dung

    Việc lựa chọn nội dung dựa

    Lựa chọn những nội dung nhằm

    môn, không gắn với các tình

    định, gắn với các tình huống thực

    huống thực tiễn. Nội dung

    tiễn. Chương trình chỉ quy định

    được quy định chi tiết trong

    những nội dung chính, không quy

    chương trình.

    định chi tiết.

    Phương

    GV là người truyền thụ tri

    – GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ

    pháp dạy

    thức, là trung tâm của quá

    trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội

    học

    trình dạy học. HS tiếp thu

    tri thức. Chú trọng sự phát triển

    thụ động nhũng tri thức

    khả năng giải quyết vấn đề,

    được quy định sẵn.

    khả năng giao tiếp,…;

    – Chú trọng sử dụng các quan

    điểm, phương pháp và kỹ thuật

    dạy học tích cực; các phương pháp

    dạy học thí nghiệm, thực hành

    Hình thức

    Chủ yếu dạy học lý thuyết

    Tổ chức hình thức học tập đa

    dạy học

    trên lớp học

    dạng; chú ý các hoạt động xã hội,

    ngoại khóa, nghiên cứu khoa học,

    trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh

    ứng dụng công nghệ thông tin và

    truyền thông trong dạy và học

    Đánh giá

    Tiêu chí đánh giá được xây

    Tiêu chí đánh giá dựa vào năng

    kết quả

    dựng chủ yếu dựa trên sự

    lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ

    học tập

    ghi nhớ và tái hiện nội dung

    trong quá trình học tập, chú trọng

    của HS

    đã học.

    khả năng vận dụng trong các tình

    huống thực tiễn.

    10

    K37A Toán

    Đại cương về định ngĩa khái niệm

    Khái niệm

    phương diện: bản thân lóp đối tượng xác định khái niệm được gọi là ngoại diên còn toàn bộ thuộc tính chung của

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    K37A Toán

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Định nghĩa khái niệm

    Định nghĩa 1 khái niệm là 1 thao tác logic nhằm phân biệt lớp đối tượng xác định khái niệm này với các đối

    tượng khác thường bằng cách vạch ra nội hàm của khái niệm đó.

    Các định nghĩa

    Từ mới ( biểu thị khái niệm

    thường có cấu trúc sau:

    (Những ) từ chỉ miền

    mới)

    đối tượng đã biết

    (loại)

    Ví dụ: “Hình vuông

    là một hình chữ nhật có hai

    cạnh liên tiếp bằng nhau”. Trong định nghĩa này, từ mới là hình vuông, loại hay miền đối tượng là hình chữ nhật

    òn sự khác biệt về chủng là hai cạnh liên tiếp bằng nhau.

    Miền đối tượng (loại) và các thuộc tính về chủng tạo thành đặc trưng của khái niệm. Đặc trưng của khái

    niệm là điều kiện cần và đủ để xác định khái niệm đó. cố nhiều cách nêuđặc trưng

    niệm tức là có thế định nghĩa cùng 1

    khái niệm theo nhiều cách

    của cùng 1

    khái

    khác

    nhau. . Chang hạn, hình vuông ngoài định nghĩa đã nêu trong ví dụ trên, còn có thể được định nghĩa theo một

    cách khác, ví dụ như “Hình vuông là hình thoi có một góc vuông”.

    Trong định nghĩa theo cấu trúc

    loại phải tương ứng với 1 khái niệm đã

    Nguyên Thị Phương Anh

    đã nêu từ chỉ miền đối tượng hay

    biết

    10

    K37A Toán

    c)

    Khái niệm không định nghĩa

    luậnthường

    tốt nghiệp

    Trường

    Nội

    2 hình vuông

    Định nghĩa một kháiKhóa

    niệm mới

    dựa vào một hay nhiều khái niệm

    đã biết. ĐHSP

    Ví dụ đểHà

    định

    nghĩa

    ta cần định nghĩa hình chữ nhật; để định nghĩa hình chữ nhật ta cần định nghĩa hình bình hành’, để định nghĩa

    hình bình hành ta cần định nghĩa tứ giác… Tuy nhiên quá trình nay không thê kéo dài vô hạn. Tức là phải có khái

    niệm không định nghĩa, được thừa nhận làm điểm xuất phát, gọi là những khái niệm nguyên thuỷ, chang hạn

    người ta thừa nhận điếm, đường thắng, mặt phang là những khái niệm nguyên thuỷ.

    Đối với những khái niệm không định nghĩa ở trường phổ thông, cần mô tả giảo thích thông qua các ví dụ cụ

    thể để học sinh hình dung được những khái niệm này, hiểu được chúng 1 cách trực giác.

    1.2.2.

    a)

    Vị trí của khái niệm và yêu cầu của dạy học khái niệm

    Vị trí của dạy học khái niệm

    Trong việc dạy học toán, cũng như việc dạy học bất cứ khoa học nào ở trường phổ thông, điều quan trọng

    bậc nhất là hình thành 1 cách vững chắc cho học sinh 1 hệ thống khái niệm. Đó là cơ sở của toàn bộ kiến thức

    toán học cho học sinh, là tiền đề quan trọng đế xây dựng cho họ khả năng vận dụng các kiến thức đã học.

    b)

    Yêu cầu của dạy học khái niệm

    Việc dạy học khái niệm ở trường THPT phải làm cho học sinh dần đạt được nhũng yêu cầu sau:

    – Nắm vững các đặc điếm đặc trưng cho một khái niệm.

    – Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho trước có thuộc phạm vi

    một khái niệm nào đó hay không, đồng thời biết thế hiện khái niệm.

    – Biết phát biểu rõ ràng, chính xác định nghĩa của một số khái niệm.

    – Biết vận dụng khái niệm trong những tình huống cụ thế trong hoại động giải toán và ứng dụng

    vào thực tế.

    – Biết phân loại khái niệm và nắm được mối quan hệ của một khái niệm với những khái niệm khác

    trong một hệ thống khái niệm.

    Ví dụ đối với những khái niệm như “Hình bình hành”, “đạo hàm”,…học sinh phải hiểu được định nghĩa

    một cách chính xác và vận dụng được các định nghĩa đó trong khi giải bài tập, còn đối với khái niệm “chiều” của

    vectơ, chương trình lại không đòi hỏi học sinh phải nêu định nghĩa tường minhmà chỉ cần hình dung định nghĩa

    này một cách trực giác dựa vào kinh nghiệm sống của bản thân mình.

    1.2.3.Một số hình thức định nghĩa khái niệm thường dùng ở phổ thông

    a)

    Định nghĩa khái niệm theo hình thức loài- chủng

    Nôi duns: Định nghĩa theo phương pháp loài- chủng là một hình thức định nghĩa nêu lên khái niệm loài và đặc

    tính của chủng.

    Khái niệm được định nghĩa = Khái niệm loài + Đặc tính của chủng

    Nguyên

    Thị

    Phương

    K37A

    Toán

    Ví dụ 1:

    “Hình

    thoiAnh

    là hình bình hành10

    có hai cạnh liên tiếp bằng nhau”.

    Trong

    định nghĩa này:

    – Hình bình hành là khái niệm loài;

    – Hai cạnh liên tiếp bằng nhau là đặc tính của chủng.

    Ví dụ 2: “Số nguyên tố là số tự nhiên lớn hơn 1 và chỉ có hai ước số là 1 và chính nó”. Ở đây:

    -Số tự nhiên là khái niệm loài;

    Khóa

    luận là

    tốt1 nghiệp

    -Chỉ có hai ước

    số chung

    và chính nó là đặc tính của chủng.Trường ĐHSP Hà Nội 2

    b)

    Định nghĩa bằng quy ước

    Nôi dung: Định nghĩa bằng quy ước là hình thức định nghĩa gán cho đối tượng cần định nghĩa 1 đối tượng cụ thể

    nào đó.

    ♦ Ví dụ: a°

    = 1 ( Đối tượng cần định nghĩa là a° = 1 )

    a ” = -y [ n e N , a ^ o) a”

    Chú ý: Khi dạy học định nghĩa bằng quy ước, giáo viên không phải giải thích tại sao lại quy ước được như vậy mà

    chỉ đặt vấn đề quy ước như vậy có họp lý hay không.

    Ví dụ: a = 1 là định nghĩa hợp lý vì = ^- = a m m = a°.

    a”‘

    c)

    Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề

    Nôi dung: Người ta chọn ra 1 đối tượng cơ bản, quan hệ cơ bản và thừa nhận chúng gọi là các tiên đề. Từ đó định

    nghĩa các khái niệm khác, chứng minh các tính chất khác bằng suy luận hợp logic.

    Ví dụ 1: Quan hệ tương đương được định nghĩa như sau:

    Cho tập X cùng quan hệ tương đương T, (X,T) được gọi là quan hệ

    tương đương nếu thoả mãn 3 tính chất sau:

    i)Tính chất phản xạ:

    ii)

    tính chất đối xứng:

    iii)

    Tính chất bắc cầu.

    Ví du 2: ta có định nghĩa khái niệm nhóm như sau:

    Tập x(x *0) cùng phép toán hai ngôi * được gọi là nhóm nếu

    ,

    ,

    thoả mãn:

    i)CÓ tính chất kết hợp;

    ii)

    Có phần tử đơn vị ee X sao cho Vxel : x * e = e * x = x ;

    iii)

    Tồn tại phần tử nghịch đảo Vxe X , 3 x e X : x * x ] = x ] * X = e

    d)

    Định nghĩa bằng phương pháp mô tả

    Nôi duns: Định nghĩa bằng phương pháp mô tả là hình thức định nghĩa chỉ ra nhũng đối tượng trong thực tiễn có

    hình ảnh gần gũi với đối tượng, quan hệ cần định nghĩa hoặc chỉ ra quy trình tạo ra chúng.

    ♦Ví dụ 1: Các khái niệm “điêm trong mặt phăng, đường thăng, mặt phang” là các khái niệm

    không định nghĩa, chúng được định nghĩa theo phương pháp mô tả.

    ♦Ví dụ 2: Góc lượng giác trong Đại số 10 (định nghĩa theo quy trình tạo ra chúng).Cho hai tia Ou,

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    K37A Toán

    Ov, nếu tia Om quay chỉ theo chiều dương (hay chỉ theo chiều âm) xuất phát từ tia đầu Ou đến trùng với

    tia cuối Ov thì ta nói: Tia Om quét một góc lượng giác từ tia đầu Ou, tia cuối Ov.

    1.2.4.

    Các qui tắc định nghĩa khái niệm

    a)

    Qui tắc 1: Định nghĩa phải tương xứng

    Khóa

    tốtnghĩa

    nghiệp

    Hàđược

    Nộiđịnh

    2 nghĩa phải

    Định nghĩa theo

    qui luận

    tắc này

    là phạm vi của khái niệm địnhTrường

    nghĩa vàĐHSP

    khái niệm

    bằng nhau.

    Định nghĩa không tương xứng là định nghĩa mà phạm vi của khái niệm quá hẹp hay quá rộng so với khái

    niệm được định nghĩa.

    ♦Ví dụ 1: “Số vô tỉ là số thập phân vô hạn không tuần hoàn” là định nghĩa đúng, phù họp, tương

    xứng.

    ♦Ví dụ 2: “Số vô tỉ là căn số của những số hữu tỉ trong trường họp những số này không thế khai

    căn được” là định nghĩa không tương xúng vì khái niệm được định nghĩa có phạm vi hẹp hơn so với

    phạm vi khái niệm định nghĩa, ví dụ số e và số n là những số vô tỉ nhưng không là kết quả của phép khai

    căn nào.

    b)

    Qui tắc 2: Định nghĩa không được vòng quanh

    Định nghĩa theo qui tắc này có nghĩa là phải dựa vào khái niệm đã biết đã được định nghĩa.

    ♦Ví dụ 1: Định nghĩa về số đo góc “độ là – của góc vuông, góc

    vuông là góc có số đo 90°” là định nghĩa vòng quanh.

    ♦Ví dụ 2: “Góc nhị diện là góc tạo bởi hai nửa mặt phang đi qua một đường thẳng” là định nghĩa

    vòng quanh vì khái niệm góc chưa xác

    định. Vì thế ta phải định nghĩa góc nhị diện như sau: “Góc nhị diện là phần không gian giới hạn bởi hai nửa mặt

    phang cùng đi qua một đường thẳng.

    c)

    Qui tắc 3: Định nghĩa phải tối thiểu

    Định nghĩa theo qui tắc này tức là trong nội dung khái niệm định nghĩa không chứa những thuộc tính có thế suy ra

    từ các thuộc tính còn lại.

    ♦Ví dụ 1: Định nghĩa “Hình bình hành là tứ giác phang có các cặp cạnh song song và bằng nhau”

    vi phạm quy tắc này vì ở định nghĩa thừa một trong hai điều kiện song song hoặc bằng nhau

    ♦Ví dụ 2: Định nghĩa “số nguyên tố là số tự nhiên lớn hơn 1 và chỉ có hai ước số là 1 và chính nó”

    thừa điều kiện “là 1 và chính nó” nhưng vì lí do sư phạm nên người ta đưa vào trong định nghĩa để học

    sinh hiếu rõ hai ước đó là hai ước cụ thế nào.

    d)

    Qui tắc 4 : Định nghĩa không dùng lối phủ định nếu loài không được phân chia thành 2

    tập hợp triệt ( tức là khái niệm loài không bao gồm hai khái niệm mâu thuẫn).

    ♦Ví dụ 1: “Hình thoi không phải là hình tam giác” là định nghĩa chỉ nêu lên dấu hiệu xem xét một

    hình không phải là hình tam giác, chưa chỉ ra được đặc trưng của hình thoi.

    ♦Ví

    dụ 2:

    “Số

    siêu việt

    khái niệm loài là tập

    Nguyên

    Thị

    Phương

    Anhlà những số thực

    10không đại số” là định nghĩa đúng

    K37AvìToán

    số thực được phân chia thành hai tập họp gồm tập hợp số đại số và tập hợp số siêu việt, hai tập số này là

    hai tập họp tách rời nhau nhưng họp của chúng tạo thành tập số thực

    1.2.5.

    Những con đường tiếp cận khái niệm

    Con đường tiếp cận khái niệm được hiểu là quá trình hoạt động và tư duy dẫn tới một sự hiểu biết về khái

    Khóa

    luận

    tốt nhờ

    nghiệp

    Trường

    ĐHSP

    Nội một

    2 tình huống

    niệm đó nhờ định nghĩa

    tường

    minh,

    mô tả, nhờ trực giác, ở mức độ

    nhận biết

    một đối

    tượng,

    có thuộc về khái niệm đó hay không.

    Trong dạy học người ta phân biệt ba con đường tiếp cận khái niệm

    đó là:

    Con đường qui nạp,

    t

    *’ Con đường suy diễn,

    Con đường kiến thiết.

    Con đường qui nạp

    Xuất phát từ một số đối tượng riêng lẻ như vật thật, mô hình, hình vẽ giáo viên dẫn dắt học sinh phân tích ,

    so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá để tìm ra dấu hiệu đặc trung của một khái niệm thể hiện ở những trường

    họp cụ thể này, từ đó đi đến một định nghĩa tường minh hay một sự hiếu biết trực giác về khái niệm đó tuỳ theo

    yêu cầu của chương trình.

    Qui trình tiếp cận 1 khái niệm theo con đường qui nạp:

    i)

    Giáo viên đưa ra những ví dụ cụ thế đế học sinh thấy sự tồn tại hoặc tác dụng của một

    đối tượng nào đó

    ii)

    Giáo viên dẫn dắt học sinh phân tích, so sánh và nêu bật những đặc điểm chung của các

    đối tượng đang được xem xét. Có thể đưa ra đối chiếu một vài đối tượng không có đủ các đặc điểm đã

    nêu.

    iii)

    Giáo viên gợi mở đế học sinh phát biếu một định nghĩa bằng cách nêu tên và đặc điểm

    đặc trưng của khái niệm.

    Con đường quy nạp có ưu điểm là thuận lợi cho việc huy động hoạt động tích cực của học sinh, góp phần

    phát triển năng lực trí tuệ chung và đào tạo cho họ nâng cao tính độc lập trong việc đưa ra định nghĩa. Tuy nhiên

    con đường này đòi hỏi tốn nhiều thời gian nên không phải lúc nào cũng có điều kiện thực hiện.

    Con đường qui nạp thường được sử dụng trong điều kiện như sau:

    – Chưa phát hiện được một khái niệm loại nào làm điếm xuất phát cho con đường suy diễn

    – Đã định hình được một số đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm cần hình thành, do đó có đủ

    điều kiện để thực hiện phép qui nạp

    b)

    Con đường suy diễn

    Một số khái niệm được hình thành theo con đường suy diễn, đi ngay vào định nghĩa khái niệm mới như

    trường họp riêng của một khái niệm nào đó mà học sinh đã được học.

    Nguyên Thị Phương Anh

    10

    Qui trình tiêp cận một khái niệm băng con đương suy diên:

    i)

    ta quan tâm.

    K37A Toán

    Xuất phát từ khái niệm đã biết, thêm vào nội hàm của khái niệm đó một số đặc điếm mà

    ii)

    Phát biếu định nghĩa bằng cách nêu tên khái niệm mới và định nghĩa nó bằng một khái

    Đưa ra ví dụ minh hoạ cho khái niệm được định nghĩa.

    Việc định nghĩa hình chữ nhật, hình thoi như những trường họp riêng của hình bình hành; định nghĩa hàm

    số mũ, hàm số lôgarit và nhừng hàm số lượng giác như những trường họp riêng của khái niệm hàm số là những ví

    dụ về việc tiếp cận khái niệm theo con đường suy diễn.

    Con đường suy diễn có ưu điểm là tiết kiệm thời gian và thuận lợi cho việc tập luyện cho học sinh tự học

    những khái niệm toán học thông qua sách và tài liệu, hoặc nghe những báo cáo khoa học trên lĩnh vực toán học.

    Tuy nhiên, con đường này hạn chế về mặt khuyến khích học sinh phát triển những năng lực trí tuệ chung như

    phân tích, tổng họp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá.

    Con đường này thường được sử dụng khi phát hiện ra một khái niệm loại làm điếm xuất phát cho con

    đường suy diễn.

    c)

    Con đường kiến thiết

    Qui trình tiêp cận một khái niệm theo con đường Mên thỉêt:

    i)

    Xây dựng một hay nhiều đối tượng đại diện cho khái niệm cần được hình thành, hướng

    vào nhũng yêu cầu tổng quát nhất định xuất phát từ nội bộ môn toán hay từ thực tiễn.

    ii)

    Khái quát hoá quá trình xây dựng đối tượng đại diện đi tới đặc điếm đặc trưng cho khái

    niệm cần hình thành.

    iii)

    Phát biểu định nghĩa đã được gợi ý

    Con đường này mang cả những yếu tố qui nạp lẫn suy diễn. Yeu tố suy diễn thể hiện ở chỗ xuất phát từ

    những yêu cầu tổng quát để xây dụng một hay nhiều đối tượng đại diện cho khái niệm cần hình thành. Yeu tố quy

    nạp thể hiện ở chỗ khái quát hoá quá trình xây dựng đối tượng đại diện riêng lẻ đi đến đặc điểm tổng quát đặc

    trưng cho khái niệm cần định nghĩa.

    Ví dụ ta đi định nghĩa luỹ thừa với số mũ nguyên âm ( học sinh đã được quy ước a° = 1 với a * 0).

    i)

    Xây dựng một đối tượng đại diện

    Cẳng hạn ta muốn định nghĩa 3 4 . Đe đảm bảo phép nâng lên luỹ thừa mới này cũng có những tính chất cơ bản

    của các luỹ thừa với số mũ tự nhiên, ví dụ á” X a” = a”‘+”, ta cần có 3 4 X 34 = 3 4+4 = 3°

    Nhưng 3° = 1 do đó 3 4 X 34 = 1 . Muốn vậy ta phải định nghĩa

    ii)

    Khái quát hoá quá trình xây dựng đối tượng đại diện

    Một cách tống quát, đế đảm bảo luỹ thừa với số mũ âm cũng có các tính chất cơ bản của luỹ thừa với số

    mũ tự nhiên, ta cần phải định nghĩa:

    m

    Nguyên Thị PhươngaAnh= à”

    10

    Trong đó a là một số thực khác 0, còn m là số tự nhiên,

    iii)

    a–

    Phát biểu một định nghĩa được gợi ý ở bước (ii)

    1

    m

    K37A Toán

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Nhìn Mới Về Tiến Trình Dạy Học Khái Niệm Toán Học
  • Chương Trình Dạy Học Đối Với Giáo Dục Đại Học Bao Gồm Những Nội Dung Gì?
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì Và Có Đặc Trưng Như Thế Nào?
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 【Thành Công Nhất】
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Đặc Điểm Thi Hành Án Dân Sự, Khái Niệm Thi Hành Án Dân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Thi Hành Án Dân Sự Là Gì?
  • Dân Số Là Gì? Sự Bùng Nổ Dân Số
  • Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu
  • Định Nghĩa Cư Dân Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Cư Dân
  • Cư Dân Mạng Có Thật Sự Là Cộng Đồng Chân Chính Hay Không
  • 21/10/2019 – 9:32 AMSách Pháp Luật 277 Lượt xem

    Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật THADS nói riêng đã có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển. Theo tiến trình lịch sử, từ Pháp lệnh THADS năm 1989, Pháp lệnh năm 1993, Pháp lệnh THADS 2004 đến Luật THADS năm 2008 và hiện nay là Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014, hệ thống văn bản pháp luật THADS vẫn đặt ra những yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.

    Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới cùng với Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu thì Thi hành án dân sự (THADS) đến nay vẫn còn là điểm nghẽn “bottleneck” đối với nhiều nền tư pháp trên thế giới. Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tính hiệu quả của THADS có mối quan hệ biện chứng với môi trường đầu tư, niềm tin của công chúng vào công lý và việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân. Kết quả của công tác THADS phụ thuộc nhiều vào sự rõ ràng,tính thống nhất của hệ thống luật pháp và sự hiểu biết sâu sắc của cán bộ thi hành án cũng như của công chúng vào các quy định của pháp luật.

    Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này đến tất cả bạn đọc!

    Giá sản phẩm trên Sách Chính Trị Tài Chính chúng tôi đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh

    Nguyên tắc bình luật xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội

    – Người chưa thành niên (hay là người dưới 18 tuổi) là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương và khả năng tự bảo vệ mình trước sự xâm hại của tội phạm cũng như các hành vi trái pháp luật khác còn bị hạn chế.

    – Mặt khác, người chưa thành niên mà nhất là trẻ em do chưa có phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, đặc biệt là về tâm lý và nhận thức và sức khỏe, nên đối tượng này dễ trở thành nặn nhân của các hành vi phạm tội cũng như các hành vi bạo hành khác

    – Xuất phát từ yêu cầu tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, về chính sách, Nhà nước ta đã đưa đối tượng người chưa thành niên vào diện được ưu tiên bảo vệ, đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật với việc ban hành nhiều văn bản pháp luật mới và xây dựng những cơ chế đặc thù nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích của người chưa thành niên.

    – Về mặt hình sự, chính sách trên được cụ thể hóa trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, hạn chế các hành vi xâm hại đến người chưa thành niên, góp phần bảo vệ một cách hiệu quả quyền lợi chính đáng của người chưa thành niên, cũng như bảo đảm môi trường thân thiện khi họ tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bị hại.

    – Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng, tìm hiểu và năm vững các quy định của và Bộ luật Tố tụng hình sự về người chưa thành niên là người bị hại,

    – Ngoài ra, phần phụ lục cuốn sách còn in các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự mới nhất để bạn đọc tiện tra cứu và áp dụng khi cần thiết. Do đây là lĩnh vực khó và phức tạp, nên mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, mong nhận được sự góp ý và phê bình của bạn đọc, Hy vọng cuốn sách sẽ có giá trị hữu ích đối với bạn đọc. Sách đẹp, khổ 20*28 cm, dày 400 trang, Giá: 395.000đ. Nộp lưu chiểu quý II / 2021.

    Nội dung cuốn sách bao gồm:

    Sự tham gia tố tụng hình sự của bị hại là người dưới 18 tuổi

    PHẦN THỨ III: Các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật hình sự

    Các quy định về thủ tục tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi

    Các quy định về phòng xử án và quy chế tổ chức phiên tòa

    và gia đình được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19-6-2014, Luật này thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2015.

    Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ngoài việc kế thừa các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và loại bỏ những quy định không còn phù hợp, thì đồng thời cũng được bổ sung một số quy định mới mà đặc biệt là quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và được bố cục lại cho phù hợp với từng nhóm quan hệ nhằm bảo đảm tính logic, hợp lý.

    Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng thuận tiện trong việc nghiên cứu và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình mới, Nhà xuất bản Lao Động cho xuất bản cuốn sách có độ dày 400 trang,giá phát hành 365.00đ/1 quyển

    Cuốn sách được bố cục thành hai phần:

    PHẦN I. BÌNH LUẬN LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH.

    PHẦN II. CÁC QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ,ĐẤT ĐAI, MÔI TRƯỜNG, AN NINH TRẬT TỰ, XÂY DỰNG, THƯƠNG MẠI (MỚI NHẤT 2021).

    Bộ Luật dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 24-11-2015 ( có hiệu lực thi hành ngày 1-1-2017 và thay thế Bộ luật dân sự 2005. Sau 10 thi hành, Bộ luật dân sự 2005 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế pháp để hướng dẫn, chỉ dẫn, công nhận, tôn trọng, bảo vệ tốt nhất quyền dân sự; nhiều quy định của Bộ luật chưa thực sự là chuẩn mực ứng xử pháp lý cho mọi chủ thể trong cộng đồng dân cư. Đồng thời, thiếu cơ sở pháp lý khi các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp…Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả điều chỉnh của Bộ luật dân sự nói riêng, pháp luật dân sự nói chung. Ý thức được điều đó, các nhà soạn luật Việt Nam đã xây dựng Bộ luật dân sự năm 2021 phù hợp với sự phát triển về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam hiện nay, đặc biệt là sự tồn tại và vận hành của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập và phát triển. Bộ luật dân sự 2021 ra đời có nhiều đổi mới cả về kết cấu, nội dung và hình thức thể hiện tư duy pháp lý và quan điểm lập pháp phù hợp; góp phần xây dựng hệ thống pháp luật dân sự thống nhất, ổn định cũng như nền khoa học pháp lý Việt Nam.

    Tập thể tác giả hy vọng, công trình khoa học này là tài liệu quý giá, cung cấp những kiến thức và thông tin thiết thực, bổ ích cho nhu cầu tìm hiểu, nghiêm cứu, học tập, giảng dạy và áp dụng thực tiễn.

    Nội dung cuốn sách gồm các phần chính sau đây:

    Phần II. Quyền sở hữu và quyền khác khác đối với tài sản.

    Phần III. Nghĩa vụ và hợp đồng.

    Phần V. Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tồ nước ngoài

    • Nhà Sách Pháp Luật ở Thái Bình
    • Nhà Sách Pháp Luật tại Tiền Giang
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021
    • Hướng Dẫn Cách Tra Biểu Thuế XNK 2021
    • Nhà Sách Pháp Luât Tại Vĩnh Long
    • Báo Giá Bộ Luật Lao Động 3 Thứ Tiếng
    • Sách Luật Bảo Hiểm Xã Hội Bảo Hiểm Y Tế Song Ngữ Việt Anh
    • Biểu Thuế Xuất Khẩu, Biểu Nhập Khẩu Tổng Hợp
    • Sổ Tay Bí Thư Chi Bộ và Chi ỦY Viên
    • Sổ Sinh Hoạt Chi Bộ Năm 2021
    • Tổng Hợp Thuế Suất Thuế Xuất Khẩu, Thuế Nhập Khẩu 2021
    • Biểu Thuế Xuất khẩu Nhập Khẩu Tổng Hợp 2021 Song Ngữ Việt Anh
    • Bán Sách Biểu Thuế Suất Thuế Nhập Khẩu Tổng Hợp 2021 Song Ngữ
    • Website bán Sách Pháp Luật giá rẻ uy tín Tại TP. HCM
    • Báo Giá Sách Công Tác Đảng Năm 2021
    • Cập Nhật Sách Biểu thuế EVFTA 2021
    • Võ Nguyên Giáp – Đại Tướng Vì Hòa Bình Đại Tướng Của Lòng Dân
    • Tuyển Chọn Quyết Định Giám Đốc Thẩm Và Bản Án
    • Tìm Hiểu Đề Án Phát Triển Giáo dục Mầm Non Giai Đoạn 2021 – 2025
    • Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính, Trong Lĩnh Vực Tiền Tệ Ngân Hàng
    • Chỉ Dẫn Tra Cứu, Áp Dụng Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự Năm 2021
    • So sánh Bộ luật lao động năm 2012 – 2021 và các văn bản hướng dẫn
    • Tìm Hiểu Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Chùa Việt Nam
    • Văn Bản Hợp Nhất Luật Đất Đai
    • Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu EVFTA 2021
    • Ứng dụng phong thủy trong xây dựng
    • Cẩm nang công tác dân vận mặt trận dành cho chủ tịch
    • Các triều đại việt nam từ xưa đến nay
    • Văn hóa dòng họ nguyễn, đình, đền, lăng, phủ Việt Nam
    • Sự Ra Đời Của Tín Ngưỡng Thờ Cúng Tổ Tiên
    • Biểu thuế XNK ưu đãi đặc biệt giai đoạn 2021-2022
    • Tìm hiểu 712 hành vi vi phạm hành chính mới nhất
    • Tìm hiểu Luật cán bộ công chức và luật viên chức 2021
    • Sách pháp luật hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến phiên bản 4.0
    • Sách Pháp Luật quy định mới về vay và cho vay thẩm định tín dụng
    • Sách pháp luật tìm hiểu 100 câu hỏi đáp công tác y tế trường học
    • Sách Pháp Luật Hướng Dẫn Nghiệp Vụ Kế Toán Trường Học
    • Sách Pháp Luật Quy định chi tiết thi hành Luật Giáo dục
    • Công tác tuyển sinh vào các trường trong quân đội
    • Hướng dẫn định tội danh với 538 tội danh trong bộ luật hình sự
    • Hướng dẫn đánh giá, xếp loại chất lượng hoạt động công đoàn các cấp
    • Báo giá sổ tay đảng viên năm 2021-2021 chính hãng giá rẻ
    • Sách luật xử lý vi phạm hành chính 510 hành vi vi phạm hành chính
    • Tiêu chí đánh giá phân hạng sản phẩm chương trình mỗi xã một sản phẩm
    • Tham khảo mẫu thư viện trường đại học, phổ thông, thư viện công cộng
    • Tổng kết 10 năm thực hiện CTMTQGXD Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020
    • Biện pháp phòng ngừa hành vi xâm hại trẻ em và mức độ xử lý pháp luật
    • Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh
    • Quy định về thẻ ngân hàng, hướng dẫn mở, sử dụng tài khoản
    • Những thay đổi mới trong chính sách bảo hiểm xã hội năm 2021
    • Hướng dẫn cơ chế chính sách tài chính kế toán trường học
    • Tìm hiểu Luật Khiếu Nại, Luật Tố Cáo, Luật Tiếp Công Dân (sửa đổi)
    • Sách Pháp Luật Đất Đai
    • Hộ kinh doanh nên tìm hiểu sách pháp luật doanh nghiệp
    • Nguyên tắc áp dụng sách pháp luật trong giải quyết tranh chấp
    • Sách pháp luật xử lý vi phạm hành chính
    • Sách pháp luật biển báo hiệu giao thông đưởng thủy nội địa
    • Sách pháp luật cẩm nang công tác tổ chức tòa án
    • Báo Giá Sổ Tay Đảng Viên Qúy III Năm 2021
    • Biển báo hiệu giao thông đường bộ có bao nhiêu nhóm chính
    • Tập huấn luật xây dựng sửa đổi bổ sung
    • Tài liệu Hỏi đáp các nghiệp vụ về giám sát thi công xây dựng
    • Khám phá bộ luật lao động tam ngữ anh – hoa -việt
    • Những lưu ý về sách pháp luật đất đai, nhà ở
    • 4 Bước xây dựng mô hình tủ sách pháp luật mới nhất
    • Bình Luận Khoa Học Điều 59 Miễn Hình Phạt
    • DownLoad Các mẫu sách pháp luật doanh nghiệp mới nhất
    • Khái niệm tổng quát về sách pháp luật dân sự
    • Báo Giá Sổ Tay Đảng Viên
    • Xây dựng sách pháp luật hình sự trong giai đoạn mới
    • Nhà Sách Pháp Luật Hình Sự giá rẻ Tại Hà Nội
    • 3 bước đọc sách pháp luật hiệu quả nhất
    • Tìm hiểu giá Sách Pháp Luật
    • Phương pháp hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trưởng
    • Lợi ích của việc xây dựng tủ sách pháp luật
    • Tốp 4 cuốn Sách Pháp Luật Việt Nam
    • Mức Phạt Mới Theo Nghị Định 100 Đối Với Xe Máy
    • 9 lý do phát hành sách bộ luật lao động 2021
    • sách luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ
    • Tra Biểu Thuế Suất Thuế Nhập Khẩu Ưu Đãi Đặc Biệt AHKFTA
    • Nghị định 39/2020/NĐ-CP về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt
    • Tìm hiểu sách luật sĩ quan quân đội nhân dân việt nam
    • Những trường hợp viên chức nguy cơ bị cho nghỉ việc 01/7/2020
    • Cần Phải Cải Cách Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
    • Sổ tay xây dựng cơ sở đảng xếp loại chất lượng đảng viên
    • Đại thắng mùa xuân năm 1975 sức mạnh đoàn kết dân tộc Việt Nam
    • Sách tuyên ngôn của đảng cộng sản và công cuộc đổi mới ở việt nam
    • Sách Tìm Hiểu Lịch Sử Đảng cộng sản việt nam 1930 – 2021
    • Báo Giá Sổ Tay Đảng Viên Tháng 5 Qúy 2 Năm 2021
    • Bài Viết 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
    • Liên hệ bản thân về trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên
    • Sách Quy Định Mới Về Công Tác Đảng Chỉnh Đốn Đảng 2021
    • Sách Điều Lệ Đảng Mới Nhất Năm 2021
    • sổ tay bí thư chi bộ giải đáp về nghiệp vụ công tác đảng
    • HƯỚNG DẪN MỚI VỀ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC ĐẢNG VIÊN & KẾT NẠP ĐẢNG
    • Sách Hướng Dẫn Công Tác Phòng Chống Dịch Bệnh Trong Trường Học
    • Sách hướng dẫn phòng chống dịch bệnh trong trường học
    • Sách Pháp Luật Nghiệp Vụ Dành Cho Công Chứng Viên
    • Báo Giá Sách Công Tác Đảng Năm 2021
    • Sách Công Tác Đảng Năm 2021
    • Sách Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Tháng 4
    • Sách Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình Tháng 5/2020
    • Sách Hướng Dẫn Quy Chế Bầu Cử Trong Đảng Các Biểu Mẫu Công Tác Đảng
    • Sách Quy Chuẩn Kỹ Thuật Quốc Gia về Báo Hiệu Đường Bộ Năm 2021
    • Sách Bộ Luật Lao Động Chính Sách Tiền Lương
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021 Mới
    • Định mức dự toán lắp đặt xây dựng công trình
    • Sách Định Mức Sửa Chữa Bảo Dưỡng Công Trình
    • Sách Từ Điển Pháp Luật Việt Nam Mới
    • Báo Giá Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021 Cục Hải Quan Điện Biên
    • Nghị định số 91 xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Kiểm Tra Sau Thông Quan
    • Bán Sổ Tay Đảng Viên Năm 2021 – 2021
    • Biểu thuế xuất nhập khẩu 2021 song ngữ việt anh
    • Sách incoterms 2021 bản song ngữ việt – anh
    • Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình Sở Xây Dựng TP.HCM
    • BÁN SÁCH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2021
    • Tìm hiểu các hình thức sử dụng đất theo luật đất đai 2013
    • Luật thi đua khen thưởng, Luật cán bộ, công chức Luật viên chức
    • Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trong giai đoạn xét xử
    • Hệ thống hình phạt theo quy định của bộ luật hình sự năm 2021
    • Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm giao thông đường bộ
    • Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính
    • Bán Sách Định Mức Xây Dựng 2021
    • Bảng Tra Cứu Bộ Định Mức Xây Dựng 2021
    • Điểm Bán Sổ Tay Đảng Viên Năm 2021 – 2021
    • Định mức dự toán xây dựng công trình, phần khảo sát, thí nghiệm
    • Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình Phần Lắp Đặt
    • Định mức dự toán xây dựng công trình, phần sửa chữa bảo dưỡng
    • Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình Phần Xây Dựng năm 2021
    • Bán Bộ Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình 2021
    • Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Mới Bản Song Ngữ Việt Anh
    • Biểu thuế xuất nhập khẩu 2021 bản song ngữ
    • Biểu thuế xuất nhập khẩu 2021 song ngữ việt anh (NXB Tài Chính)
    • Sách Pháp Luật Biểu Thuế XNK Song Ngữ Việt Anh 2021
    • Sách pháp luật hướng dẫn khám chữa bệnh
    • Sách Pháp Luật Bộ Tranh Cây Thuốc Mẫu Khám Chữa Bệnh
    • Sách Pháp Luật Sổ Tay Thầy Thuốc Thực Hành
    • Chỉ Dẫn Tra Cứu, Áp Dụng Bộ Luật Hình Sự Năm 2021
    • Sách Pháp Luật Chính Trị Tài Chính – Sách Luật Hà Nội TP. HCM
    • Sổ Tay Công Tác Đảng – Sách Pháp Luật
    • Sổ Tay Xây Dựng Nghiệp Vụ Công Tác Đảng 2021
    • Cách Tra Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021 Chính Xác Nhất
    • Luật bồi thường đất đai tái định cư khi thu hồi đất mới nhất
    • Luật xây dựng, xác định cấp công trình cải tạo sửa chữa
    • quy trình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
    • Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của đảng cộng sản việt nam
    • Ý nghĩa của tuyên ngôn đảng cộng sản việt nam
    • Mẫu quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục
    • Tài liệu công tác đảng công tác chính trị, sổ tay đảng viên
    • Kỹ năng sư phạm của giáo viên tiểu học, khái niệm giáo dục sư phạm
    • Luật giáo dục 2021, Chế độ chính sách mới đối với nhà giáo
    • Những quan điểm mới trong chương trình giáo dục phổ thông
    • Kỹ năng tự bảo vệ bản thân để phòng, chống xâm hại tình dục ở trẻ em
    • Các biện pháp phòng ngừa bạo lực xâm hại tình dục học đường
    • Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục đại học, bộ giáo dục
    • Tài Liệu Hướng Dẫn Thực Hiện Hóa Đơn Điện Tử Khi Bán Hàng Hóa
    • Đối tượng áp dụng mức lương tối thiểu vùng 2021
    • Hướng dẫn cách sắp xếp ban thờ gia tiên cho đúng cách
    • Vai trò của hội cựu chiến binh trong giai đoạn hiện nay
    • Phương Pháp Coi Ngày Tốt Xấu Theo Lịch Can Chi
    • Thông tin cơ cấu tổ chức hội cựu chiến binh việt nam hiện nay
    • Phong tục tết nguyên đán miền bắc, chợ tết miền trung, miền nam
    • Nghị định chỉ dẫn áp dụng luật xử lý vi phạm hành chính
    • Trách nhiệm của công dân trong phòng chống tham nhũng
    • Phòng, chống tham nhũng, phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng
    • 5 quan điểm của đảng về phòng chống tham nhũng lãng phí
    • Hệ số lương nhà nước, quy định về tiền lương của cán bộ công chức
    • Năm 2021 có tăng lương hưu không
    • Các Thông tư hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động Việt – Anh – Hoa
    • Văn bản mới về tiền lương, mức lương tối thiểu vùng 2021
    • Hỏi đáp về nghiệp vụ kế toán, kiểm toán trường học
    • Mức xử phạt hành chính các lỗi kế toán thuế thường mắc phải
    • Quy chế quản lý tài chính, tài sản trong doanh nghiệp
    • Kỹ năng tổ chức hoạt động tự kiểm tra tài chính, kế toán thu, chi
    • Các Khoản Chi Ngân Sách Qua Kho Bạc Nhà Nước
    • Học sinh cần làm gì để sử dụng có hiệu quả mạng internet
    • Chỉ dẫn áp dụng quản lý ngân sách cấp xã, phường, thị trấn
    • Kinh nghiệm quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn
    • Chỉ dẫn áp dụng quỹ tiền tệ của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn
    • Chú giải chi tiết mã HS năm 2021 trong biểu thuế xuất nhập khẩu 2021
    • Nghị quyết mới nhất của ban chấp hành trung ương về xây dựng đảng
    • Biểu thuế xuất nhập khẩu tiếng anh thực hiện hiệp định CPTPP
    • Bảng biểu thuế xuất nhập khẩu 2021 thực hiện hiệp định CPTPP
    • Chỉ dẫn áp dụng Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản
    • Chỉ dẫn áp dụng luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự
    • Chỉ dẫn áp dụng luật hôn nhân và gia đình 2014, độ tuổi kết hôn
    • Văn bản mới của tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn điều tra xét xử
    • Nghị Định Chỉ Dẫn Áp Dụng Luật Thi Hành Án Hình Sự Năm 2021
    • Những vấn đề sai xót khi so sánh đối chiếu bộ luật hình sự 2021
    • Luật Nhà Ở Đất Đai, Pháp Luật Kinh Doanh Môi Giới Bất Động Sản
    • Luật Đất đai, Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
    • Những khó khăn trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính
    • Lời khai là phương tiện chứng minh có thể thay đổi, chứng cứ
    • Thời hạn giải quyết khiếu nại tố cáo cấp xã, phường, thị trấn
    • Thực hiện luật hôn nhân gia đình và áp dụng luật hôn nhân gia đình
    • Đề thi kỹ năng giải quyết vụ án hành chính, xét xử vụ án hành chính
    • Cách thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trên thế giới
    • Xem ngày tốt xấu theo tuổi, Cách hóa giải vận hạn để gặp hung hóa cát
    • Luật tố tụng dân sự là gì, giáo trình kỹ năng chuyên sâu của luật sư
    • Kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự, bộ luật tố tụng dân sự 2021
    • Những điểm mới đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, xử lý hình sự
    • Kỹ năng hành nghề luật sư trong tố tụng hình sự, dân sự
    • Bài học qua 50 năm thực hiện di chúc của chủ tịch hồ chí minh
    • Quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường
    • Các loại cây thuốc nam quý, cây thuốc vị thuốc việt nam
    • Tổng kết 10 năm thực hiện CTMTQG xây dựng Nông thôn mới
    • Những thành tựu đạt được và bài học qua 50 năm thực hiện di chúc
    • Hướng dẫn mới của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị một số bệnh ung thư
    • NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN
    • Phòng ngừa tội phạm và phòng, chống vi phạm pháp luật trong học sinh, sinh viên
    • Một số quy định của pháp luật lao động đối với người chưa thành niên
    • Phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản
    • Nguyên Tắc, Tiêu Chuẩn, Định Mức, Phương Thức Mua Sắm Tài Sản Nhà Nước
    • Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng trong lịch sử việt nam
    • Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền
    • Chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn bao lâu
    • Thực tiễn áp dụng các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế hiện nay
    • Công tác chứng thực và quản lý hộ tịch hiện nay tại địa phương
    • Cách tính thuế xuất nhập khẩu, thuế gtgt hàng xuất khẩu
    • Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng
    • Sổ Tay Luật Sư Và Kỹ Năng Hành Nghề Luật Sư
    • Công tác của cấp ủy đảng ở cơ sở và của người bí thư
    • Các bước quan trọng trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
    • Hướng Dẫn báo cáo tài chính trong đơn vị hành chính sự nghiệp
    • Sơ đồ quy trình thu hồi công nợ
    • Chế độ chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn
    • Quy trình tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
    • Sổ tay tư vấn giám sát công trình dân dụng
    • Hướng Dẫn Kế Toán Nghiệp Vụ Thuế Đối Với Hàng Hóa Xuất Khẩu
    • Download Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021
    • Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021 Bộ Tài Chính
    • Biểu Thuế Nhập Khẩu Ưu Đãi Đặc Biệt 2021 – 2021
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2021
    • Cẩm nang nghiệp vụ dành cho kế toán trường học
    • Sổ tay công chứng viên
    • Hỏi đáp pháp luật về bảo hiểm y tế
    • Pháp Luật Về Môi Giới Bất Động Sản Ở Việt Nam
    • Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự
    • Đồng phạm trong luật hình sự việt nam
    • Sách Luật đấu thầu báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu, lựa chọn nhà thầu
    • 382 câu hỏi đáp tình huống đấu thầu
    • Các thông tư liên tịch ban hành năm 2021
    • Hệ thống biểu mẫu Các Nghị quyết mới
    • Chính sách tín dụng, hỗ trợ vay và cho và cho vay mới nhất
    • Cơ chế chính sách của nhà nước xây dựng nông thôn mới
    • Sách Luật hợp tác xã và nghị định hướng dẫn
    • Pháp luật bất động sản và các thủ tục pháp lý nhà đất
    • Tiêu chuẩn, định mức, thủ tục hành chính
    • Chỉ Dẫn Áp Dụng Luận Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
    • BÁN BIỂU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TIẾNG VIỆT
    • Biểu Thuế Nhập Khẩu Song Ngữ Việt – Anh 2021
    • BIỂU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 2021 SONG NGỮ VIỆT – ANH GIÁ RẺ
    • Biểu thuế xuất nhập khẩu năm 2021 song ngữ Việt Anh
    • Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Năm 2021 Áp Dụng Cho Biểu Thuế XNK Năm 2021
    • Nghiệp Vụ Dịch Vụ Kinh Doanh Đòi Nợ
    • Tài liệu bồi dưỡng công tác đảng cho bí thư
    • Hướng dẫn xác định quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất
    • Bán Sách Đơn giá xây dựng 2021 – 2021
    • Giới thiệu đơn giá xây dựng công trình Tp. Hồ Chí Minh
    • Khái Niệm Về Sách Kế Toán Ngân Sách, Xã Phường, Thị Trấn
    • Tìm Hiểu Luật Thuế, Chính Sách Thuế Mới và Hóa Đơn Chứng Từ
    • Sách Hướng Dẫn Lập Báo Cáo Tài Chính Xã Phường
    • Hướng Dẫn Kế Toán Xuất Nhập Khẩu
    • Định Mức Dự Toán Xây Dựng Công Trình Phần Khảo Sát
    • Chỉ Dẫn Áp Dụng Định Mức Dự Toán Xây Dựng
    • Tìm Hiểu Chính Sách Tăng Lương, Điều Chỉnh Tiền Lương Năm 2021
    • Tìm hiểu về thủ tục giải quyết vụ án ly hôn tại tòa án
    • Tìm hiểu thủ tục giải quyết tranh chấp quyền thừa kế
    • Giới Thiệu Bộ Tranh Cây Thuốc Mẫu Khám Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
    • Hội nhập quốc tế với vấn đề quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc
    • Bảng Báo Giá Sách Bình Luận Bộ Luật Hình Sự
    • Tìm Hiểu Cách Soạn Thảo Văn Bản Trong Hội Nghị
    • Phương pháp, kỹ năng nghiên cứu đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự
    • 5 loại thuế chính doanh nghiệp cần biết
    • Những kiến thức cần có trong cuộc sống
    • Giới thiệu luật giao thông đường bộ
    • Sách luật ngân sách nhà nước là gì ?
    • Tóm tắt quá trình công tác của Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    • Chiến thắng Điện Biên Phủ, Thắng lợi của sức mạnh Việt Nam
    • Dấu ấn 65 năm chiến thắng điện biên phủ
    • Tìm hiểu công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam
    • Hoàn cảnh dấu ấn chiến thắng lịch sử của chiến dịch điện biên phủ
    • Nội dung học tập phong cách hồ chí minh
    • Cuộc đời và sự nghiệp đại tướng võ nguyên giáp
    • Tìm Hiểu công tác an ninh và quốc phòng trong thời kỳ mới
    • 100 câu hỏi về biển đảo việt nam có đáp án
    • Chuyện kể về các anh hùng dân tộc
    • Tìm hiểu biển đảo việt nam
    • Đại tướng, Tổng Tư lệnh, Võ Nguyên Giáp, Cuộc trường chinh lịch sử
    • Sổ tay pháp luật dành cho hội cựu chiến binh việt nam
    • Những Bà mẹ Việt Nam anh hùng thời đại Hồ Chí Minh
    • Lực lượng đặc biệt làm gì trên chiến trường miền Nam
    • Cuba Fidel Castro và việt nam những nghĩa tình sâu nặng
    • Sách Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm gương sáng mãi muôn đời
    • Giới thiệu chân dung các tổng bí thư việt nam qua các thời kỳ
    • Học tập theo chỉ thị số 05-ct/tw của bộ chính trị
    • Giới thiệu Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cách mạng Việt Nam
    • Giới thiệu sách, hình ảnh chủ quyền biển đảo hoàng sa trường sa
    • Nghệ thuật quân sự, Võ Nguyên Giáp, Tầm nhìn chiến lược về quân sự
    • Tìm hiểu sách Chủ tịch Hồ Chí Minh một thiên tài quân sự
    • Tìm hiểu sách học tập và làm theo tấm gương đạo đức hồ chí minh
    • Tóm tắt lịch sử nguồn gốc dòng họ nguyễn
    • Kỳ tích đường Hồ Chí Minh trên biển
    • Chủ tịch Hồ Chí Minh trong trái tim người lính
    • Nghiên cứu hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2021
    • Giới thiệu văn bản hợp nhất chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
    • Giới thiệu sách diễn giải các báo cáo tài chính doanh nghiệp
    • Dấu ấn chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
    • Biểu thuế XK – NK năm 2021
    • Các phương pháp nghiên cứu chứng cứ
    • Sách bộ luật lao động mới 2021
    • Sách Biểu Thuế
    • Báo Giá Sách Luật
    • ứng dụng sách chỉ dẫn áp dụng bộ luật hình sự
    • Bảng báo giá Sách Luật
    • Hướng dẫn nghiệp vụ công tác đảng viên và kết nạp đảng viên
    • Bảng báo giá sách sổ tay công tác đảng
    • Bảng báo giá sách kế toán
    • Bảng báo giá sách bộ luật lao động mới nhất
    • Bảng báo giá sách pháp luật
    • Sách xây dựng
    • Sách Bộ Luật Dân Sự Mới
    • 100 câu hỏi đáp pháp luật hôn nhân gia đình tại tòa án
    • Chỉ dẫn áp dụng thuế TAX hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu
    • Giải đáp các tình huống thường gặp về khai báo hải quan xuất nhập khẩu
    • Sách biểu thuế xuất nhập khẩu bản song ngữ việt anh (NXB: Lao Động)
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu song ngữ anh-việt
    • Tra Biểu thuế xuất khẩu nhập khẩu 2021 song ngữ việt – anh
    • Bán sách biểu thuế xuất nhập khẩu 2021 ở Hà Nội
    • Hiệp Định Paris Về Việt Nam Năm 1973
    • Văn bản quy định về luật đầu tư công, luật đấu thầu, mua sắm
    • Bảng báo giá sách chỉ dẫn áp dụng bộ luật hình sự
    • Chỉ dẫn tra cứu áp dụng bộ luật hình sự mới
    • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự việt nam
    • Hướng dẫn xử lý 550 hành vi thực trạng vi phạm pháp luật
    • Phương pháp chế biến, sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền
    • Giới thiệu Sách Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
    • Hướng dẫn khởi nghiệp với nghề luật sư
    • Sách luật trách nhiệm hinh sự đối với các tội xâm phạm trật tự
    • Sách bồi dưỡng kế toán trưởng đơn vị hành chính sự nghiệp
    • Sách luât sách giáo trình luật hình sự
    • Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam
    • Tăng Lương và điều chỉnh mức lương tối thiểu từng vùng đối với người lao động
    • Hướng dẫn kỹ năng tổ chức đại hội công đoàn
    • Sách Bộ luật Lao động tam ngữ tiếng anh, tiếng việt, tiếng hoa
    • Tài liệu bồi dưỡng kế toán
    • Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13
    • Sổ tay công tác đoàn thanh niên
    • Thông tin Sách Bộ Luật Lao Động 2021
    • Chính sách tăng lương và điều chỉnh tiền lương
    • Tìm Hiểu Pháp Luật Dành Cho Bí Thư Đoàn
    • Bảng báo gía sách cẩm nang
    • Kiến thức phòng cháy chữa cháy trong trường học
    • Sách mẫu hợp đồng biện pháp phòng chống rủi ro khi ký kết
    • Sách hướng dẫn nghiệp vụ kế toán trường học
    • Sách cẩm nang quản lý tài chính
    • Cẩm nang tra cứu tiêu chuẩn định mức chi tiêu
    • Sách Lịch Sử Họ Nguyễn Việt Nam
    • Sách Cẩm nang công tác khuyến học
    • Những câu hỏi về luật thể dục, sửa đổi, luật thể thao mới nhất
    • Sách Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo sửa đổi Luật Tiếp công dân
    • Sách Chế Độ Kế Toán Hành Chính Hướng dẫn xây dựng dự toán
    • Sách Các Thông tư liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao
    • Thông tin mới nhất Bộ luật lao động Việt Anh Hoa
    • Câu hỏi đáp về biển, đảo sách cẩm nang pháp luật về biển đảo việt nam
    • Quy định quản lý tài chính ngân sách kế toán trường học
    • Sách Luật Bảo vệ môi trường (Song ngữ Việt – Anh)
    • Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp 2021 song ngữ Việt Anh ( NXB Lao Động)
    • Cẩm nang nang xây dựng nông thôn mới
    • Quy Định mới về Thủ tục hải quan xuất nhập khẩu
    • Điểm Nổi Bật Đặc Biệt Của Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp
    • Sổ Tay Pháp Luật Về Phòng, Chống Ma Túy, Trong Học Đường & Xã Hội
    • Bảng báo giá Sách Bộ Luật Lao Động mới nhất năm 2021
    • Sách Luật Hay Chọn Lọc, Mua Sách Luật online Tại TP. HCM, Giảm 50%
    • Sách Giáo Dục Rẻ, Đẹp Chính Hãng, Giảm Giá 50% Sách Giáo Dục
    • Sách Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu Năm 2021 Bản Song Ngữ
    • Sách pháp luật doanh nghiệp, Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

    Chia sẻ bài viết:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Hành Án Dân Sự Là Gì? Thi Hành Án Dân Sự Có Những Đặc Điểm Gì?
  • Tìm Hiểu Hoạt Động Thi Hành Án Dân Sự Là Gì Và Các Vấn Đề Liên Quan
  • Thế Nào Là Một Bài Dân Ca?
  • Khái Quát Chung Về Dân Ca Việt Nam
  • “dân Vận Khéo Thì Việc Gì Cũng Thành Công”
  • Bài 1: Khái Niệm Luận Chứng Và Chứng Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Điểm Là Gì, Luận Cứ Là Gì, Ví Dụ Trong Ngữ Văn 7
  • Ước Chung Lớn Nhất Và Các Bước Tìm Ưcln
  • Ước Chung Và Bội Chung Là Gì? Ước Chung Lớn Nhất Và Bội Chung Nhỏ Nhất
  • Bội Chung Nhỏ Nhất Và Các Bước Tìm Bcnn
  • Ước Chung Lớn Nhất Là Gì? Bội Chung Nhỏ Nhất Là Gì? Ước Bội Số Tự Nhiên
  • Tóm tắt lý thuyết

    Luận chứng là một loại năng lực lập luận. Có hai năng lực lập luận cơ bản trái ngược nhau:

    • (1) Suy luận thực chất là luận kết, là quá trình đi từ tiền đề đến kết luận bằng những phương thức khác nhau, như suy diễn, quy nạp, loại suy (xem chương VI).
    • (2) Luận chứng là quá trình đi từ luận đề (thực chất là kết luận được đưa ra trước), và nhờ các luận cứ (thực chất là các tiền đề) để suy luận, (thực chất là các luận kết) nhằm quay lại luận đề coi như luận kết.
    • Tôn: Người thì phải chết
    • Nhân: Vì là sinh vật
    • Dụ:
      • Lý dụ: phàm là sinh vật thì đều phải chết
      • Sư dụ: như Xôcrát.

    Ta thấy rõ. Tôn đóng vai trò luận đề. Nhân đóng vai trò luân cứ. Lý dụ và Sự dụ đóng vai trò suy luận thuyết minh.

    Cấu trúc Tam chi tác pháp khác hẳn cấu trúc Tam đoạn luận Anxtốt. Vì Tam đoạn luận Arixtột là quá trình suy luân thuần túy.

    Mọi người đều phải chet.

    Xôcrát là người.

    Vậy Xôcrát phải chết.

    • Luận đề, đó là phán đoán mà giá trị chân lý của nó cẩn được khẳng định hoặc phủ định.
    • Luận cứ, đó là những phán đoán chân thực làm tiền đề cho quá trình suy luận ra luận đề như kết luận.

    Thí dụ:

    • Luận đề: nếu hai số cùng bằng một số thứ ba thì chúng bằng nhau: ({rm{}} to (a = c))

    Quá trình chứng minh:

    • Bước 1: theo giả thiết ta có a – c (1), b = c (2)
    • Bước 2: nếu a = c thì suy ra (underline {c{rm{ }} = {rm{ }}a} ) (3) (theo luận cữ số 2).
    • Bước 3: nếu b = c và c = a thì suy ra b = a (4) (theo công thức 3 và luận cứ số 3).
    • Bước 4: nếu b = a thì suy ra (underline {a{rm{ }} = {rm{ }}b} ) (5) (theo luận cứ số 2).

    Công thức (5) là điều cần chứng minh. Cấu trúc của chứng minh, như vậy có 3 thành phần chính:

    • Luận đề là phán đoán cần được chứng minh là chân thực.
    • Luận cứ là những phán đoán chân thực.
    • Quá trình chứng minh là từ nhũng luận cứ chân thực suy ra luận đề như kết luận chân thực.

    Luận cứ của quá trình chứng minh có thể có nhiều loại:

    • Các nguyên lý, quy luật khoa học.
    • Các tiền đề định đề toán học.
    • Các nguyên lý lôgic.
    • Các sự kiện kinh nghiệm và thực nghiệm.
    • Các bằng chứng thực tiễn.

    Có hai loại chứng minh: trực tiếp và gián tiếp

    Chứng minh trực tiếp

    Đó là quá trình sử dụng các luận cứ chân thực để suy ra luận để như kết luận chân thực.

    Thí dụ:

    Theo các tính chất của phép cộng như giao hoán, kết hợp, phân phối.

    Quá trình chứng minh

    Thay thế số 3 trong đẳng thức (1) bằng dẳng thức (2) ta có: 4 = (2 + 1) + 1 (4)

    Từ (4) nhờ tính kết hợp của phép cộng, suy ra: 4 = 2 + (1 + 1) (5)

    Từ (5), nhờ đẳng thức (3) suy ra: 4 = 2 + 2 là điều cần chứng minh

    Lược đồ lôgic chung của phép chứng minh trực tiếp là theo modus ponens.

    A → B, A B

    Trong đó, B là luận đề cần chứng minh, còn A là luận cứ còn dấu ký hiệu quá trình suy luận.

    Chứng minh gián tiếp

      Chứng minh bằng phản chứng

    Phản chứng là thay vì chứng minh tính chân thực của luận đề người ta cơ thể chứng minh tính giả dối của phản đề, từ đó theo quy luật bài trung suy ra luận đề là kết luận chân thực.

    Thí dụ:

    • Luận đề: Từ một điểm nằm ngoài một đương thẳng chỉ có thể vẽ một đường thẳng vuông góc vói nó mà thôi.
    • Luận cứ: Tổng các góc của một tam giác bằng hai góc vuông (t.ức bàng 180°).

    Quá trình phản chứng

    • Phát biếu phản đề: Từ một điểm nằm ngoài một đường thẳng có thể vẽ hai đường thẳng vuông góc với nó.
    • Chứng minh phản đề là giả dối. Thật vậy. theo phản đề thì ta có tam giác sau đây.

    Theo luật bài trung suy ra luận đề là chân thực.

    Lược đồ lôgic chung của phép phán chứng là theo modus tollens.

    A → B, (overline B ) (overline A)

    Chứng minh lựa chọn

    • Luận đề: An là học sinh đoạt giải nhất thi toán quốc gia
    • Luận cứ:
      • Biết chắc vào chung kết chỉ có 4 học sinh An, Bình, Thắng, Linh.
      • Đã có bằng chứng Bình, Thắng, Linh không đoạt giải nhất.

    Quá trình chứng minh: Suv luận phân liệt từ hai tiền để

    An hoặc Bình hoặc Thắng hoặc Linh đoạt giải nhất

    Bình, Thắng và Linh không doạt giải nhất

    Vậv, chắc chắn An đoạt giải nhất, đó là điều phải chứng minh

    Lược đồ lôgic chung của chứng minh lựa chọn có dạng (Aunderline vee Bunderline vee Cunderline vee D,,,overline B wedge overline C wedge overline D ) A

    Chứng minh lựa chọn thực chất là phép loại trừ các luận đề trong phép tuyển đề cuối cùng còn luận đề cần chứng minh. Điều kiện cần và đủ phải là (1) không bỏ sót trướng hợp khả dĩ nào (2) phép tuyển phải là phép tuyển chặt chẽ.

    Quy tắc đối với luận đề

    • Luận đề phải rõ ràng. Đây là yêu cầu đương nhiên, vì nếu ngược lại thì sẽ không rõ là phải chứng minh điều gì. Thí dụ, không thế chứng minh và cũng khó bác bỏ luận đề sau đây: “Trường sinh học cấu tạo từ các sinh lượng tử”, vì phán đoán dựa trên hai khái niệm là “trường sinh học” và “sinh lượng tử”, đó là những khái niệm đang còn là giả thuyết của khoa học hiện đại,
    • Không được đánh tráo luận đề trong quá trinh luận chứng. Vi phạm nguvên tắc này có nghĩa là vi phạm luật đồng nhất – một quy luật logic cơ ban của tư duy đúng đắn, Thí dụ, trong tác phẩm của mình “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” (1909), V.I.Lênin đã phê phán sai lầm đánh tráo luận đề của các nhà khoa học theo chủ nghĩa duy tâm vật lý, khi họ chứng minh luận đề do họ đưa ra: “vật chất biến mất”. Thực chất, như Lênin đã chỉ rõ, là không phải như vậy. Cái biến mất không phải là vật chất nói chung mà chỉ là một dạng cụ thể của vật chất, đó chính là dạng hạt (vật thể vi mô) của vật chất. Như vậy là đã có sự đánh tráo luận đê trong quá trình chứng minh. Luận đề là “vật chất biến mất”, nhưng khi chứng minh thì đã bị thay thế bằng luận đề khác: “vật thể biến mất”. Kết quả là, tuy đã chứng minh được rằng “điện tử biến mất”, nhưng điều đó không thể đồng nhất với “vật chất biến mất”, bởi vì điện tử với tư cách là hạt cơ bản chỉ là một dạng tồn tại cụ thể của vật chất chứ không phải là toàn bộ vật chất với tư cách là thực tại khách quan. Vật lý học ngày nay đã chứng minh được rằng điện tử với tư cách là hạt cơ bản (dạng chất của vật chất) có thể chuyển hoá thành sóng điện từ (dạng trường vật lý của vật chất). Do đó, không có vấn dề vật chất biến mất mà chỉ có vấn để dạng vật chất này chuyển hoá thành dạng vật chất khác mà thôi.

    Quy tắc đối với luận cứ

    • Luận cứ phải chân thực. Quy tắc này thực chất là yêu cầu của suy luận đúng đắn. Luận cứ là tiền đề của suy luận, muôn suy luận đúng đắn thì điểu kiện cần và đủ là tiền đề chân thực và quá trình suy luận tuân theo các quy luật và quy tắc logic hình thức. Vi phạm các quy tắc này thì gọi là “sai lầm cơ bản”.
    • Luận cứ phải là lý do đầy đủ của luận đề. Đây thực chất là yêu cầu của luật lý do dầy đủ trong logic học hình thức. Nếu không tuân theo luật lý do đầy đủ thì dù luận cứ có chân thực vẫn không đủ sức chứng minh luận đề, sai lầm này gọi là không suy ra được. Thí dụ, các luận cứ sau đây là lý do đẫy đủ để chứng minh luận đề: “quả đất hình tròn”.
      • Ta có thể đi vòng quanh quả dất;
      • Nhìn chiếc thuyền từ chân trời đi tới, thoạt đau ta thấy cột buồm rồi sau mới thấy thân thuyền;
      • Càng lên cao tầm nhìn mỏ rộng thì chân trời cũng được nới rộng thêm, v.v..
    • Luận cứ phải độc lập với luận đề xét về mặt tính chân thực. Nếu vi phạm quy tắc này thì sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn của chứng minh, nghĩa là dùng cái chưa được chứng minh đổ chứng minh luận đề. Thí dụ, có người nói giá trị của hàng hóa do giá trị sức lao động quy định, nhưng để chứng minh điều đó lại lập luận rằng giá trị sức lao động bị quy định bởi giá trị hàng hóa. Như thế là luẩn quẩn, nghĩa là dùng luận đề để chứng minh luận cứ.

    Quy tắc đối với quá trình chứng minh

    • Quá trình chứng minh thực chất là quá trình suy luận, từ luận cứ đóng vai trò tiển để rút ra kết luận hợp logic. Do đó, các quy tắc suy luận đúng đắn đều là quy tắc của quá trình chứng minh. Như đã biết suy luận có 3 loại: (1) suy diễn, (2) quy nạp và (3) loại suy.
    • Vì vậy, tương ứng với chúng, tùy loại suy luận được sử dụng trong quá trình chứng minh mà quy tắc chứng minh phải được vận dụng thích hợp.
    • Chẳng hạn, nếu có hai luận cứ:
      • (1) Nếu một số có chữ số cuối cùng là 0 thì nó chia hết cho 5;
      • (2) Số này chia hết cho 5 thì không thể rút ra kết luận tất suy rằng “số này có chữ số cuỗi cùng là 0”, vì làm như thế là vi phạm quy tắc suy diễn có điều kiện: a → b, b a

    Ngụy biện là một quá trình chứng minh sai lầm. Có nhiều kiểu ngụy biện khác nhau. Chẳng hạn, dùng thủ thuật đánh tráo trong quá trình chứng minh, Thí dụ, trong đại số học, người ta có thể đánh tráo điều kiện dùng công thức khai căn bậc lẻ và khai căn bậc chẵn như sau:

    (sqrt {{{(a – b)}^2}} = sqrt {{{(b – a)}^2}} ) (1) suy ra

    ((a – b) = (b – a)) (2) suy ra

    2a = 2b (3) suy ra

    a = b (4)như vậy là

    con kiến có trọng lượng a bằng con voi có trọng lượng b!?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chứng Khoán Là Gì? Khái Niệm Và Rủi Ro Khi Đầu Tư Chứng Khoán
  • Hướng Dẫn Kiếm Tiền Từ Đầu Tư Chứng Khoán (Cập Nhật 2021)
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Chứng Khoán Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Đầu Tư Là Gì? Kiến Thức Đầu Tư Chứng Khoán Cho Người Bắt Đầu
  • Tổng Quan Thị Trường Chứng Khoán
  • Tổ Chức Dạy Học Khái Niệm Toán Học Thuộc Chủ Đề Vectơ Trong Mặt Phẳng Ở Lớp 10 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Sử Dụng Ngôn Ngữ Toán Học Và Năng Lực Vận Dụng Toán Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Soi Điểm Chọn Trường, Điểm Chuẩn Tuyển Sinh, Điểm Chuẩn Vào Lớp 10: Đề Tài Skkn Hóa 8: Giảng Dạy Hình Thành Các Khái Niệm Về Chất Ở Chương Trình Hóa Học Lớp 8 Như Thế Nào
  • Một Số Kinh Nghiệm Hình Thành Khái Niệm Về Chất Ở Môn Hóa Học Lớp 8 Theo Phương Pháp Mới (Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học)
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ Lớp 8 Bài 24: Khái Niệm Về Chi Tiết Máy Và Lắp Ghép
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Hình Thành Khái Niệm Về Chất Ở Môn Hóa Học Lớp 8 Theo Phương Pháp Mới( Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học)
  • Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Hình Thành Khái Niệm Về Chất Ở Môn Hóa Học Lớp 8 Theo Phương Pháp Mới( Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học)
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA TOÁN

    ======

    NGUYỄN THỊ THỦY

    TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁI NIỆM TOÁN HỌC

    THUỘC CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT PHẲNG

    Ở LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TOÁN HỌC

    VÀ NĂNG LỰC VẬN DỤNG TOÁN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

    Hà Nội – 2021

    Hà Nội – 2021

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA TOÁN

    ======

    NGUYỄN THỊ THỦY

    TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁI NIỆM TOÁN HỌC

    THUỘC CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT PHẲNG

    Ở LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TOÁN HỌC

    VÀ NĂNG LỰC VẬN DỤNG TOÁN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

    Người hướng dẫn khoa học

    Ths. Nguyễn Văn Hà

    Hà Nội – 2021

    LỜI CẢM ƠN

    Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được

    sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học và các

    bạn sinh viên trong khoa. Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các

    thầy, cô trong tổ phương pháp dạy học và đặc biệt là thầy giáo Nguyễn Văn

    Hà-người đã định hướng, chọn đề tài và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn

    thiện khóa luận tốt nghiệp này.

    Do thời gian và kiến thức có hạn, khóa luận không tránh khỏi có những

    hạn chế và thiếu sót nhất định. Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến

    của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện

    hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, tháng 5 năm 2021

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thủy

    LỜI CAM ĐOAN

    Tên em là: Nguyễn Thị Thủy

    Sinh viên lớp: K39A-Sư phạm Toán

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng em dưới sự

    chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn. Và nó không trùng với kết quả của bất cứ

    tác giả nào khác.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2021

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thủy

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………..1

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……………………….4

    1.1. Năng lực và năng lực Toán học……………………………………………4

    1.1.1 Năng lực …………………………………………………………………………4

    1.1.2 Năng lực Toán học của học sinh ………………………………………..6

    1.2. Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán học …7

    1.2.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh ……………..7

    1.2.2 Năng lực vận dụng Toán học …………………………………………….7

    1.2.3 Phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng

    Toán học trong dạy học khái niệm hình học ………………………………..9

    1.3. Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông ………………….10

    1.3.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm ………………………………….10

    1.3.2 Vị trí khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm …………………..13

    1.3.3 Một số hình thức định nghĩa khái niệm ở phổ thông …………14

    1.3.4 Các quy tắc định nghĩa khái niệm …………………………………….15

    1.3.5 Những con đường tiếp cận khái niệm. ………………………………16

    1.3.6 Hoạt động củng cố khái niệm. ………………………………………….19

    1.3.7 Dạy học phân chia khái niệm. ………………………………………….21

    Tiểu kết chương 1: ………………………………………………………………….22

    Chương 2: ỨNG DỤNG THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

    KHÁI NIỆM HÌNH HỌC CỦA CHỦ ĐỀ VECTƠ THEO ĐỊNH

    HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

    TOÁN HỌC VÀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC ……………………………..24

    1

    Nghiên cứu về lí luận:

    – Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lưc cho

    học sinh.

    – Dạy học khái niệm Toán học và nội dung dạy học khái niệm

    “Vectơ” ở lớp 10 THPT.

     Thiết kế và xây dựng kế hoạch dạy học các khái niệm Toán học

    phần “Vectơ” ở lớp 10 THPT.

    4. Đối tượng nghiên cứu.

    Các khái niệm Toán học phần “Vectơ” ở lớp 10 THPT.

    2

    3

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1.1. Năng lực và năng lực Toán học

    1.1.1 Năng lực

    Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các

    đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu, đặc trưng của

    một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.

    Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân

    mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do

    tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.

    Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực

    chung và năng lực chuyên môn.

    + Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác

    nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực

    luyện tập, năng lực tưởng tưởng.

    + Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định

    của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội

    hoạ, năng lực toán học…

    Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với

    nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát

    triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển

    của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng

    đối với sự phát triển của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có kết

    quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở

    trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực

    công việc của mình.

    4

    5

    vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó. Kỹ xảo là những kỹ năng

    được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không

    phải tập trung nhiều ý thức vào việc mình đang làm. Còn năng lực là một tổ

    hợp phầm chất tương đối ổn đinh, cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện

    có kết quả một hoạt động. Như vậy năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các

    kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.

    1.1.2 Năng lực Toán học của học sinh

    Theo V.A.Krutetxki thì khái niệm năng lực toán học được hiểu dưới hai

    bình diện sau:

    Năng lực nghiên cứu toán học là năng lực sáng tạo, các năng lực hoạt

    động toán học tạo ra được các kết quả, thành tựu mới, khách quan và quý giá.

    Năng lực toán học của học sinh là năng lực học tập giáo trình phổ

    thông, lĩnh hội nhanh chóng và có kết quả cao các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

    tương ứng.

    – Năng lực toán học của học sinh:

    Từ khái niệm về năng lực ta có thể đi đến khái niệm về năng lực toán

    học của học sinh: “Năng lực toán học là những đặc điểm tâm lí đáp ứng được

    yêu cầu hoạt động học toán và tạo điều kiện lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng

    trong lĩnh vực toán học tương đối nhanh chóng, dễ dàng, sâu sắc trong những

    điều kiện như nhau”

    – Cấu trúc về năng lực toán học của học sinh:

    + Năng lực tính toán, giải toán

    + Năng lực tư duy toán học

    + Năng lực giao tiếp toán học (Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học)

    + Năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn

    + Năng lực giải quyết vấn đề

    + Năng lực sáng tạo toán học

    6

    1.2. Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán học

    1.2.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh

    -Tư duy là một qúa trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất,

    những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng

    trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

    – Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên

    lạc hay giao tiếpvới nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả

    năng sử dụng một hệ thống như vậy.

    – Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ:

    Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết

    quả tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và

    cho bản thân chủ thể tư duy.

    Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy

    tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá

    trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…) để nhận thức được cái

    bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng.

    Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm

    thanh vô nghĩa. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương

    tiện của tư duy.

    Như vậy, trong quá trình dạy học toán việc phát triển năng lực sử dụng

    ngôn ngữ Toán học gắn liền với phát triển tư duy Toán học.

    1.2.2 Năng lực vận dụng Toán học

    Hiện nay, các nhà giáo dục và các nhà sư phạm đều thống nhất về việc

    đánh giá theo cấp độ nhận thức tri thức từ thấp tới cao của học sinh trong học

    tập như sau:

    7

    – Nhận biết:

    Nhớ lại, tái hiện được nội dung tri thức, liệt kệ, thuật lại, nhận dạng tri

    thức.

    Yêu cầu của nhận biết là nhớ lại, tái hiện lại được khái niệm và nhận

    dạng được khái niệm. Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh

    vực nhận thức

    – Thông hiểu:

    Nắm được ý nghĩa của thông tin, chuyển đổi được từ dạng này sang

    dạng khác, so sánh, sắp xếp, dự đoán, mở rộng,,,

    Yêu cầu của thông hiểu là biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa

    khái niệm và có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách

    tương tự như đã biết trên lớp học.

    – Vận dụng:

    Khả năng sử dụng kiến thức đã học vào hoàn cảnh cụ thể mới; vận

    dụng nhận biết, hiểu biết thông tin vấn đề đặt ra

    Yêu cầu vận dụng là sử dụng được các quy tắc, phương pháp, khái

    niệm, … để giải quyết vấn đề trong học tập hoặc trong cuộc sống

    + Vận dụng cấp độ thấp:

    Tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản và có thể sử

    dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm, lý thuyết đã học trong

    các tình huống khác

    + Vận dụng cấp độ cao (sáng tạo):

    Phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, những bộ phận

    cấu thành

    Yêu cầu là sử dụng khái niệm đã học để giải quyết các vấn đề mới,

    không giống với những điều đó được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa

    8

    nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng và kiến thức được giảng dạy

    ở mức độ nhận thức này.

    Như vậy, năng lực vận dụng là cấp độ tư duy cao nhất trong lĩnh vực

    nhận thức các tri thức của học sinh trong học tập

    1.2.3 Phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán

    học trong dạy học khái niệm hình học

    a) Định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học

    Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực chủ trương

    giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông

    qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các

    tình huống do cuộc sống đặt ra.

    Do đó, định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học kiến thức

    mới là “Tăng cường cho học sinh được trải nghiệm qua các hoạt động tư duy

    trong quá trình hình thành, kiến tạo tri thức; đồng thời chú trọng các hoạt

    động vận dụng tri thức để giải quyết được vấn đề đặt ra trong các tình huống

    của thực tiễn”

    ,

    để phát triển năng lực vận dụng Toán học đòi hỏi tổ chức cho học sinh được

    trải nghiệm qua các hoạt động củng cố trong dạy học:

    – Liên hệ, sử dụng các kiến thức vừa học vào thực tế đời sống xung

    quanh học sinh.

    – Tăng cường áp dụng các kiến thức vừa học (Các quy tắc, phương

    pháp, khái niệm, …) để giải quyết vấn đề trong học tập hoặc trong cuộc sống

    1.3. Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông

    1.3.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm

    Khái niệm

    Khái niệm là một hình thức tư duy phản ánh tư tưởng chung, đặc trưng

    bản chất của lớp đối tượng hoặc quan hệ giữa các đối tượng.

    10

    Như vậy có hai loại khái niệm:

    – Khái niệm về lớp đối tượng: Chẳng hạn như khái niệm: “Hình chóp”,

    “Hình chóp đều”, …..

    + Hình chóp: “Trong mặt phẳng (P) cho đa giác chúng tôi và điểm S

    không thuộc mặt phẳng (P). Hình tạo bởi n miền tam giác chúng tôi gọi

    là hình chóp SA1A2A3…An”.

    + Hình chóp đều: Một hình chóp được gọi là hình chóp đều nếu đáy của

    nó là một đa giác đều và các cạnh bên bằng nhau.

    – Khái niệm về quan hệ đối tượng: Chẳng hạn như khái niệm: “Phương

    trình tương đương”,…

    + Phương trình tương đương: Hai phương trình cùng ẩn được gọi là

    tương đương nếu chúng có cùng tập nghiệm.

     Nội hàm và ngoại diên của khái niệm.

    Ngoại diên của khái niệm: Tập hợp các đối tượng hoặc lớp đối tượng

    phản ánh trong định nghĩa khái niệm.

    Nội hàm của khái niệm: Tập hợp các thuộc tính chung của lớp đối

    tượng tương đương hoặc quan hệ đối tượng.

    Ví dụ 1: Xét khái niệm “Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh kề

    bằng nhau”.

    Ta thấy rằng ngoại diên của khái niệm trên là tập hợp tất cả các hình

    vuông, nội hàm của khái niệm trên là “hai cạnh kề bằng nhau”.

    Giữa nội hàm và ngoại diên có mối quan hệ mang tính quy luật, nội

    hàm càng được mở rộng thì ngoại diên càng bị thu hẹp và ngược lại. Thật vậy

    nếu ta mở rộng nội hàm của khái niệm hình bình hành, chẳng hạn bổ sung

    thêm đặc điểm “có một góc vuông” thì ta sẽ được lớp các hình chữ nhật là

    một bộ phận thực sự của lớp các hình bình hành.

    11

     Định nghĩa khái niệm.

    Định nghĩa một khái niệm là một thao tác logic nhằm phân biệt lớp đối

    tượng xác định khái niệm này với các đối tượng khác, thường bằng cách vạch

    ra nội hàm của khái niệm đó.

    Các định nghĩa thường có cấu trúc sau:

    Từ mới (biểu thị khái

    niệm mới)

    (Những) từ chỉ miền đối Tân từ (diễn tả khác biệt

    tượng đã biết (loại)

    về chúng)

    Ví dụ: “Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh liên tiếp bằng nhau”.

    Trong định nghĩa trên, từ mới là “hình vuông”, loại hay miền đối tượng

    là “hình chữ nhật”, sự khác biệt về chúng là “hai cạnh liên tiếp bằng nhau”.

    Miền đối tượng (loại) và các thuộc tính về chúng tạo thành đặc trưng

    của khái niệm. Đặc trưng của khái niệm là điều kiện cần và đủ để xác định

    khái niệm đó. Nói chung, có nhiều cách nêu đặc trưng của cùng một khái

    niệm, tức là có thể định nghĩa cùng một khái niệm theo nhiều cách khác nhau.

    Chẳng hạn, hình vuông ngoài định nghĩa nêu trong ví dụ trên, còn có thể định

    nghĩa theo một cách khác như “Hình vuông là hình thoi có một góc vuông”.

    Khi xét một đối tượng xem có thuộc một ngoại diên của một khái niệm

    nào đó hay không, người ta thường quan tâm những thuộc tính của đối tượng

    đó: Những thuộc tính nào nằm trong nội hàm của khái niệm đang xét thì được

    coi là thuộc tính bản chất, còn những thuộc tính nào không thuộc nội hàm của

    khái niệm đó thì được gọi là thuộc tính không bản chất đối với khái niệm

    đang xét.

     Khái niệm không định nghĩa

    Định nghĩa khái niệm mới thường dựa vào một hay nhiều khái niệm đã

    biết. Ví dụ về định nghĩa khái niệm hình vuông ta cần định nghĩa hình chữ

    nhật, để định nghĩa hình chữ nhật ta cần định nghĩa hình bình hành, để định

    12

    nghĩa hình bình hành ta cần định nghĩa tứ giác,… Tuy nhiên, quá trình này

    không thể kéo dài vô hạn, tức là phải có khái niệm được thừa nhận làm điểm

    xuất phát, gọi là những hái niệm nguyên thủy trong Toán học.

    Ở trường phổ thông, chúng ta thấy có một số khái niệm cũng không

    được định nghĩa vì lí do sư phạm, mặc dù chúng có thể được định nghĩa trong

    Toán học.

    Đối với những khái niệm không định nghĩa ở trường phổ thông, cần mô

    tả giải thích thông qua những ví dụ cụ thể để học sinh hình dung được những

    khái niệm này, hiểu được chúng một cách trực giác.

    1.3.2 Vị trí khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm

    a) Vị trí dạy học khái niệm.

    Trong vệc dạy học toán, cũng như việc dạy học bất cứ một khoa học

    nào ở trường phổ thông, điều quan trọng bậc nhất là hình thành một cach

    vững chắc cho học sinh một hệ thống khái niệ. Việc hình thành một hệ thống

    khái niệm Toán học là nền tảng của toàn bộ kiến thức Toán, là tiền đề hình

    thành khả năng vận dụng hiệu quả các kiến thức đã học, có tác dụng lớn đến

    việc phát triển trí tuệ, đồng thời góp phần giáo dục thế giới quan cho học sinh

    qua việc nhận thức đúng đắn quá trình phát sinh và phát triển của các khái

    niệm Toán học.

    b) Yêu cầu của dạy học khái niệm.

    Nắm vững các đặc trưng cho một khái niệm.

    Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho

    trước có thuộc phạm vi một khái niệm nào đó hay không, đồng thời biết thể

    hiện khái niệm.

    Biết phát biểu rõ ràng, chính xác định nghĩa của một khái niệm.

    Biết vận dụng khái niệm trong những tình huống cụ thể trong hoạt động

    giải toán và ứng dụng vào thực tiễn.

    13

    Biết phân loại khái niệm và nắm được mối quan hệ của một khái niệm

    với những khái niệm khác trong một hệ thống khái niệm.

    1.3.3 Một số hình thức định nghĩa khái niệm ở phổ thông

    a) Định nghĩa theo phương pháp loại- chủng.

    – Nội dung: Định nghĩa theo phương pháp loại – chủng là một hình thức

    định nghĩa nêu lên khái niệm loại và đặc tính của chúng. (Vạch rõ nội dung

    của khái niệm, nêu rõ dấu hiệu đặc trưng của đối tượng được phản ánh vào

    trong khái niệm).

    – Cấu trúc: Khái niệm được định nghĩa = Khái niệm loại + Dấu hiệu đặc

    trưng của chúng.

    – Ví dụ: Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau.

    Trong đó: Hình vuông: Là khái niệm được định nghĩa.

    Hình chữ nhật: Là khái niệm loại.

    Hai cạnh kề bằng nhau: Dấu hiệu đặc trưng của chúng.

    b) Định nghĩa bằng quy ước.

    – Nội dung: Định nghĩa bằng quy ước là hình thức định nghĩa gán cho

    đối tượng cần định nghĩa một tên gọi hay một đối tượng nào đó đã biết.

    – Ví dụ: a0 = 1 (a  0)

    c) Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề.

    – Nội dung: Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề là hình thức định

    nghĩa gián tiếp các khái niệm cơ bản thông qua các tiên đề.

    – Ví dụ: ABC = A’B’C’ nếu:

    ,

    ,

    , AB= A’B’,

    AC= A’C’, BC= B’C’.

    d) Định nghĩa bằng mô tả:

    – Nội dung: Định nghĩa bằng mô tả là phương pháp định nghĩa nêu cách

    tạo ra đối tượng hoặc mô tả những đối tượng ít nhiều gần giống nó.

    14

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Thực Trạng Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại City View Hotel, 9 Điểm!
  • Tìm Hiểu Về Quản Trị Nhân Sự Trong Khách Sạn
  • Vườn Trí Tuệ Lyceum Trong Rise Of Kingdoms (Updated 22/01/2021) . Câu Hỏi Và Đáp Án Rok
  • Dạy Toán Theo Năng Lực Người Học
  • Hậu Quả Khi Cha Mẹ Tạo Áp Lực Học Tập Cho Con
  • Định Hướng Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Thức Khái Niệm “đảng Lãnh Đạo”, “đảng Cầm Quyền” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Trong Điều Kiện Mới
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Nội Dung, Phương Thức Lãnh Đạo Và Cầm Quyền Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Hiện Nay
  • “đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Trong Điều Kiện Mới
  • Nội Dung, Phương Thức Cầm Quyền Của Đảng: Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn
  • Định hướng đổi mới phương thức lãnh đạo-cầm quyền của Đảng (phần 1)

    I. Một số vấn đề lý luận-thực tiễn về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị

    Để nhận thức rõ nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đổi với hệ thống chính trị cần nhận thức rõ vấn đề Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền chế định như thế nào đối với phương thức lãnh đạo của Đảng.

    1. Đảng lãnh đạo và đảng cầm quyền

    Trong các văn kiện của Đảng, khái niệm: “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” gần đây đã được sử dụng khá thường xuyên. Trong Văn kiện Đại hội X, Đảng ta đã xác định: ” Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện“. Đại hội XI tiếp tục xác định: ” Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền “. Xác định rõ nội hàm của các khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền”, “Đảng lãnh đạo chính quyền” (và hệ thống chính trị nói chung) có vai trò quan trọng đối với việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị hiện nay, trong đó có vấn đề quan trọng là xây dựng tổ chức, bộ máy tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả.

    Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm Đảng lãnh đạo rất cụ thể và sâu sắc: “Lãnh đạo là làm đày tớ nhân dân và làm cho tốt”; “Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ cấp nào và ngành nào – đều phải là người đày tớ trung thành của nhân dân” , có như vậy nhân dân mới tin, tín nhiệm và đi theo.

    Khái niệm “Đảng lãnh đạo” thể hiện các nội dung chủ yếu sau:

    Thứ nhất, “Đảng lãnh đạo” là chỉ sự tác động, ảnh hưởng của Đảng bằng việc xác định được Cương lĩnh, đường lối, mục tiêu chính trị đúng đắn đáp ứng được lợi ích và nguyện vọng cơ bản của đông đảo quần chúng nhân dân; các tổ chức đảng và đảng viên trở thành lực lượng tiên phong vận động, lãnh đạo quần chúng nhân dân thực hiện.

    Thứ ba, “Đảng lãnh đạo” được hiểu như sự suy tôn của quần chúng nhân dân, thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo của mình.

    Thứ tư, Đảng phải có năng lực thực tiễn tập hợp, tổ chức quần chúng bằng những hình thức thích hợp để tạo nên sức mạnh thực hiện đường lối của Đảng.

    Cầm quyền là chủ thể lãnh đạo “nắm chính quyền”, trực tiếp lãnh đạo chính quyền. Đảng cầm quyền là Đảng được nhân dân giao (ủy thác) qua bầu cử, hay giành được bằng cách nào đó, quyền thành lập và lãnh đạo Nhà nước (Chính phủ).

    Như vậy, khi Đảng được cầm quyền vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội được thể hiện qua sự tín nhiệm của nhân dân trao cho quyền thành lập và lãnh đạo Nhà nước; đồng thời Đảng thực hiện sự cầm quyền bằng cách thông qua nhà nước – bằng con đường pháp luật (pháp quyền) mà nhân dân ủy quyền cho nhà nước để thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội.

    Như vậy là Đảng nắm giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước (Chính phủ), thông qua Nhà nước để cụ thể hóa, thể chế hóa, kiểm soát quá trình hoạch định và thực thi các đường lối, chính sách của Đảng trên toàn xã hội. Có nghĩa là Đảng trực tiếp “có quyền lực nhà nước”, thông qua quyền lực nhà nước để thể chế hóa cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của mình và qua Nhà nước để thực hiện chúng trong cuộc sống. Các quyết định của đảng (đường lối, chủ trương, chính sách) thể hiện qua “danh nghĩa” quyền lực nhà nước (quyền lực do người dân uỷ nhiệm), thông qua quá trình thể chế hóa dân chủ đã được pháp luật quy định, chứ không phải Đảng đưa ra các quyết định nhân danh đảng buộc nhà nước và xã hội phải tuân theo. Khái niệm “Đảng cầm quyền” còn được hiểu là “đảng nắm chính quyền” bằng tổ các chức đảng và những người đại diện của đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước. Như vậy, Đảng cầm quyền là một khái niệm gắn với quyền lực nhà nước. Tức Đảng có quyền lực chính trị bằng việc “nắm chính quyền” hay “nắm quyền lực nhà nước”. Không những thế, theo Lênin, khi đảng nắm được chính quyền thì đảng không chỉ có quyền lực chính trị, mà “với tư cách nhà nước, còn có thêm được quyền lực kinh tế”.

    2. Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng

    Khi Đảng cầm quyền, khái niệm “Đảng lãnh đạo Nhà nước” cần phải được nhận thức cho đúng. Ở đây là mối quan hệ giữa năng lực và uy tín sự lãnh đạo thực tế của Đảng gắn với quyền lực do sự “cầm quyền” của Đảng. Do vậy, hoạt động của Đảng vừa có sự lãnh đạo, vừa có sự cầm quyền, với các phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có những nội dung khác nhau nhưng gắn bó mật thiết với nhau. Trong đó bản chất lãnh đạo đúng đắn, khoa học, “tất cả vì lợi ích của nhân dân” phải là nền tảng cốt lõi của sự cầm quyền của Đảng.

    Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống phương pháp, hình thức, biện pháp mà Đảng sử dụng để thực hiện sự lãnh đạo (tác động lên) hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm hiện thực hóa Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối, quan điểm, mục tiêu của Đảng trong thực tiễn.

    Phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có những điểm giống nhau và khác nhau. Điểm giống nhau chủ yếu ở chỗ: Sự lãnh đạo (cầm quyền) của Đảng đối với Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội đều nhằm hướng tới thực hiện Cương lĩnh, đường lối, chính sách, mục tiêu do Đảng đề ra. Điểm khác nhau chủ yếu ở chỗ: Phương thức lãnh đạo của Đảng tập trung chủ yếu ở việc xác định đúng đắn đường lối, mục tiêu thể hiện trong Cương lĩnh, chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng; ở tính thuyết phục của công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục để nhân dân tin tưởng, tự nguyện làm theo, thực hiện thắng lợi đường lối, mục tiêu của Đảng. Còn phương thức cầm quyền của Đảng tập trung chủ yếu ở thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước để thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật, thể chế, cơ chế của Nhà nước và lãnh đạo – chỉ đạo tổ chức thực hiện bằng hệ thống pháp luật nhà nước nhằm thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách mục tiêu của Đảng đề ra. Như vậy, khi Đảng cầm quyền, phương thức cầm quyền của Đảng phải là sự kế tiếp, gắn kết hữu cơ – biện chứng với phương thức lãnh đạo.

    Là một tổ chức nằm trong hệ thống chính trị, hơn nữa lại là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị, Đảng có quyền lực chính trị, nhưng Đảng không có quyền lực Nhà nước, Đảng không thể “nhân danh” Nhà nước để lãnh đạo xã hội. Do đó, không được lẫn lộn giữa Đảng và Nhà nước, giữa “quyền lực” của Đảng và quyền lực Nhà nước. Sự khác nhau giữa “quyền lực” của Đảng và quyền lực Nhà nước trước hết và chủ yếu bắt nguồn từ sự khác nhau về chức năng của Đảng và chức năng của Nhà nước. Đảng là lực lượng lãnh đạo chính trị đối với Nhà nước và xã hội, còn Nhà nước là bộ máy quản lý xã hội theo Hiến pháp và pháp luật. Do đó, “quyền lực” của Đảng chủ yếu dựa trên uy tín chính trị mang lại, còn quyền lực của Nhà nước chủ yếu dựa trên pháp luật, bộ máy cưỡng chế, quản lý – quản trị xã hội, bộ máy hành chính công quyền. Đây là vấn đề quan trọng cần quán triệt khi xây dựng tổ chức và bộ máy của hệ thống chính trị. Nhận thức đúng chức năng lãnh đạo và chức năng cầm quyền của Đảng, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là cơ sở để xác lập phương thức lãnh đạo và phương thức cần quyền đúng đắn của Đảng và xây dựng tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động phù hợp của hệ thống chính trị. Đồng chí Lê Duẩn đã có những luận điểm rất quan trọng về mối quan hệ này : “Phải khắc phục tình trạng lẫn lộn chức năng của Đảng với chức năng của Nhà nước”, “Không thể buông lỏng lãnh đạo các cơ quan chính quyền, song cũng không thể bao biện công việc của chính quyền”, “Việc xây dựng Đảng phải gắn với xây dựng chính quyền Nhà nước, việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng phải gắn liền với việc nâng cao năng lực quản lý của nhà nước”, “Đảng không thể nào thực hiện được sự lãnh đạo của mình đối với xã hội mà không thông qua chính quyền nhà nước”. Đồng thời “Chống khuynh hướng coi nhẹ vai trò và trách nhiệm của tổ chức Đảng trong cơ quan Nhà nước”, “chống quan niệm phân công máy móc, tách rời hoạt động của cấp ủy Đảng với hoạt động của cơ quan nhà nước”, “Không nên cho rằng có sự đối lập giữa việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với việc nâng cao vai trò và hiệu lực của chính quyền nhà nước. Sức mạnh của Đảng cầm quyền và sức chiến đấu của nó biểu hiện chính là ở hiệu lực và sức mạnh của bộ máy nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng “. Như vậy, đòi hỏi phải xử lý một cách rất khoa học – rất thực tiễn giữa hai vấn đề “Phải khắc phục tình trạng lẫn lộn chức năng của Đảng với chức năng của Nhà nước”, đồng thời “chống quan niệm phân công máy móc, tách rời hoạt động của cấp ủy Đảng với hoạt động của cơ quan nhà nước”, “đối lập giữa việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với việc nâng cao vai trò và hiệu lực của chính quyền nhà nước”. Đó là những luận điểm rất quan trọng gợi mở cho việc nhận thức đúng về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị gắn với xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính tri tin gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, để Đảng không rơi vào tình trạng lạm quyền, bao biện làm thay các công việc Nhà nước, trái lại phát huy được vai trò quản lý, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, nhưng cũng không hạ thấp, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là vấn đề rất hệ trọng cả về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi phải đổi mới phương thức lãnh đạo – phương thức cầm quyền của Đảng đồng bộ với xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, và đối với hệ thống chính trị nói chung. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị khoa học, phù hợp, tinh gọn hiệu quả.

    Ở nước ta, về nguyên tắc, Đảng là lực lượng tiêu biểu, đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, khi Đảng “nắm” chính quyền cũng tức là Đảng vừa là người lãnh đạo và đồng thời cũng là cầm quyền. Tuy phương thức thực hiện quyền lãnh đạo và quyền cầm quyền này quan hệ biện chứng mật thiết với nhau, nhưng không thể đồng nhất là một. Điều này được thể hiện ở phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước khác với phương thức Đảng lãnh đạo MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị.

    3. Nội dung các phương thức lãnh đạo của Đảng

    Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khảng định : ” Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Trong Cương lĩnh đã chỉ rõ những nội dung cơ bản các phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội là :

    2) Đảng lãnh đạo 3) 4) 5) Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. 6) Đồng thời khi Đảng cần quyền, nhất là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền thì một phương thức lãnh đạo rất quan trọng và cơ bản của Đảng đối với Nhà nước cần được nhấn mạnh là “phương thức lãnh đạo của Đảng phải chủ yếu bằng Nhà nước và thông qua Nhà nước” Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 306.

    Nguyễn Hữu Đổng, Ngô Duy Đức: Nhận thức khái niệm “Đảng lãnh đạo”, “Đảng cầm quyền” theo Tư tưởng Hồ Chí Minh ,

    Hồ Chí Minh: Sđd, t. 10, tr. 323.

    Xem: Nguyễn Văn Huyên: Đảng Cộng sản cầm quyền – Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.36-38.

    Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, HN, 2011, tr. 144

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nol: Bản Chất Của Lãnh Đạo
  • Yếu Tố Ban Lãnh Đạo Trong Lựa Chọn Doanh Nghiệp Đầu Tư
  • Không Ngừng Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo Và Sức Chiến Đấu Của Đảng
  • Tiểu Luận Llct Nâng Cao Sức Chiến Đấu Của Tccsđ
  • Để Nâng Cao Năng Lực Lãnh Đạo, Sức Chiến Đấu Của Tổ Chức Cơ Sở Đảng