Thử Tìm Một Cơ Sở Lí Thuyết Cho Khái Niệm Phản Biện Xã Hội

--- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì? Tổng Quan Về Khái Niệm Bhxh
  • Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Là Gì?
  • Bảo Hiểm Xã Hội Bắt Buộc Là Gì? Những Bạn Cần Biết!
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Quỹ Bảo Hiểm Xã Hội
  • Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau, đến nay, khái niệm phản biện xã hội vẫn chưa được diễn giải một cách thuyết phục, thỏa đáng. Điều đó gợi ý rằng, đã đến lúc cần phải xác lập một cơ sở lí thuyết thích hợp cho thuật ngữ phản biện xã hội trước khi tiếp tục bàn luận về khái niệm này trong bối cảnh Việt Nam. Theo các tác giả của bài viết, phản biện xã hội tương ứng với một thuật ngữ mang tính phổ quát – đó là phê phán/phê bình xã hội (social criticism). Chính vì thế, hành trình đi tìm cơ sở lí thuyết cho khái niệm phản biện xã hội đồng nghĩa với việc trình bày một số nội dung cốt lõi của khái niệm phê bình/phê phán xã hội cả từ góc nhìn phổ quát lẫn góc nhìn lịch sử – cụ thể.

    Phê phán xã hội: từ góc nhìn phổ quát

    Theo Đinh Gia Hưng, khái niệm phản biện xã hội được chuyển ngữ trực tiếp từ một cụm từ tiếng Anh là social counter-argument. Tuy nhiên, social counter-argument là một cụm từ báo chí, mà không phải là một thuật ngữ khoa học. Điều này vô tình làm nghèo nội dung của khái niệm tiếng Việt khi mà từ nguyên tiếng Anh của nó chỉ giới hạn trong lĩnh vực truyền thông. Trong khi đó, truyền thống học thuật phương Tây vẫn sử dụng một khái niệm khác tuy cùng trường nghĩa nhưng có nội hàm phong phú hơn so với social counter-argument, đó là: social criticism: Phê phán/phê bình xã hội(1).

    Trong khi đó, từ phân tích của học giả Pháp Michael Foucault, tính phổ quát của phê phán/phê bình xã hội được thể hiện qua cách thức mà cá nhân (chủ thể) bộc lộ trong mối quan hệ liên ứng ( consensual) với các định chế, qui phạm xã hội(3). Tính phổ quát biểu hiện ở chỗ: sự phản tư của cá nhân trước các định chế/khuôn mẫu xã hội là vấn đề muôn thuở ở mọi nền văn hóa với các hình thức khác nhau. Michael Foucault cho rằng: các hệ hình tri thức hay các định chế xã hội (có khi ông còn gọi là thiết chế chân lý) có chức năng chi phối, điều tiết, thậm chí cấu tạo nên diện mạo của chủ thể xã hội. Không có cái tôi hình thành bên ngoài những thiết chế có sẵn từ trước. Bởi thế, chủ thể luôn có nguy cơ bị các định chế bên ngoài áp đặt, chế ngự, kìm hãm. Cho nên, muốn đổi mới, chủ thể phải tiến hành một công việc tưởng chừng bất khả giải: thay đổi chính cái khung khổ khuôn đúc nên mình – tức thay đổi tư duy, ý thức hệ, tri thức, quyền năng.

    Về nguyên tắc, muốn thay đổi một trật tự thì chủ thể phải nhận ra các khuyết tật, yếu điểm của trật tự đó. Trước đòi hỏi ấy, phê bình/phê phán xuất hiện. Nhiệm vụ của phê bình là đưa ra ánh sáng những quá trình, cơ chế gây nên hiện trạng xơ cứng, status quo, từ đó mở ra khả năng đổi mới (4). Foucault gọi quá trình thiết chế hóa, khuôn mẫu hóa hay tri thức hóa chủ thể là quá trình thiết trị hóa ( governmentalization). Cho nên, phê phán/phê bình đồng nghĩa với giải thiết trị, giải áp chế ( desubjugation). Nói khác đi, phê bình tức là từ chối bị thiết trị theo cách mà chủ thể đang bị thiết trị.

    Về sau, luận điểm của Foucault được Butler tiếp tục phát triển một cách sáng tạo. Butler phân tích rằng: chủ thể không phải chỉ đang được hình thành, được tạo tác ở dạng bị động bằng các thiết chế, các chuẩn mực văn hóa, xã hội; mà còn đang chủ động tạo tác chính những thiết chế này. Quá trình được tạo tác và đang tạo tác không tách rời nhau và phản ánh mối quan hệ giữa chuẩn mực và chủ thể (5). Một mặt, các khuôn mẫu giá trị luôn hướng chủ thể vào những hoạt động, hành vi, và kể cả tư duy, cảm xúc đã được quy định trước. Và, để hòa nhập được vào cộng đồng, cá nhân phải không ngừng tự đưa mình vào những chuẩn mực sẵn có. Mặt khác, trở thành một chủ thể hoàn chỉnh không phải là mục đích sau cùng của cá nhân. Chủ thể là một trạng thái hình thành, và không bao giờ là một cái gì đó có thể hoàn chỉnh. Hơn nữa, những thiết chế chuẩn mực, chân lý hoạch định một không gian giới hạn cho chủ thể không có nghĩa là những thiết chế đó tồn tại độc lập, bất di bất dịch trong mối quan hệ giữa chúng với chủ thể. Chúng tạo nên chủ thể nhưng cũng không ngừng được chủ thể tạo nên. Cái tôi tự hình thành nên chính nó trong phạm vi phân định sẵn chính là một luận điểm đề cao vai trò của chủ thể trong sự vận hành của văn hóa, xã hội, là một nỗ lực mà chính trị học của Butler muốn phá giải chủ nghĩa bản thể và những phạm trù như giới tính, căn cước vốn vẫn được cho là bất biến, độc lập hoàn toàn với chủ thể (6).

    Như vậy, trong ý nghĩa phổ quát nhất, ý niệm phê phán/phê bình trước hết diễn tả tính năng động, tích cực của cá thể trong mối quan hệ với các định chế, khuôn mẫu xã hội: vừa tiếp nhận các khuôn mẫu, định chế có sẵn để cộng sinh với nó; vừa phê phán các khuyết tật của nó để tìm kiếm các giá trị, khuôn mẫu mới, nhất là khi các khuôn mẫu/giá trị ấy có nguy cơ ngăn trở sự vươn lên của chủ thể. Mối quan hệ nước đôi, đa chiều này phản ánh một trong những thuộc tính cơ bản nhất của con người (hiểu theo nghĩa rộng): không ngừng suy tư, chất vấn, đấu tranh với mọi trở lực để hướng đến một viễn tưởng tự do, trong đó con người được là con người theo nghĩa cao quý, sang trọng nhất của danh từ này. Bởi thế, khi tìm cách vạch ra đường phân thủy giữa các lí thuyết phê phán ( critical theories) và các lí thuyết tiền phê phán, Horkheimer đã viết: một lí thuyết [được gọi] là phê phán trong chừng mực mà nó hướng vào mục đích giải phóng con người ( human beings) khỏi những ngoại cảnh nô dịch họ (7).

    Xét đến cùng, thực chất của phê phán/phê bình xã hội là vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Trong ý nghĩa ấy, nó là câu chuyện chung của mọi cộng đồng, mọi nền văn hóa; có điều, do sự qui định của các điều kiện lịch sử – cụ thể mà được biểu hiện hoặc vận động thành các dạng thức hay cấp độ khác nhau. Trong các xã hội mở, sự năng động của các cá thể sẽ kết thành sự năng động của toàn xã hội và hoạt động phê phán không còn giới hạn trong nỗ lực chống thiết trị hóa của mỗi cá thể mà phát triển thành một cơ chế quan hệ giữa xã hội dân sự và bộ máy nhà nước. Trong các xã hội đóng, sự năng động cá thể thiếu các điều kiện cần thiết để chuyển hóa thành sự năng động xã hội. Khi cộng đồng thiếu sự năng động và khai minh, khi nhà nước có xu hướng kiểm soát xã hội, điều tất yếu là phê phán/phê bình xã hội bị đẩy ra khỏi đời sống thực tiễn, từ đó bị xem như một cấm kị hay một sinh hoạt ngoại biên.

    Phê phán xã hội trong Hiện đại thứ nhất

    Dù là một ý niệm mang tính phổ quát, nhưng phải đợi đến thế kỉ XVII – XVIII, khi châu Âu bước vào quá trình hiện đại hóa (Hiện đại thứ nhất), thì trào lưu phê phán ( criticism) mới thực sự trở thành một hiện tượng văn hóa – xã hội và từ đây, thuật ngữ phê phán xã hội ( social criticism) mới chính thức ra đời để phản ánh một hiện thực tương ứng.

    Khái niệm Hiện đại thứ nhất được dùng để chỉ giai đoạn “cổ điển” của tiến trình hiện đại hóa – một giai đoạn kéo dài từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XX với ba đặc trưng cơ bản: công nghiệp hóa, đô thị hóa và cá nhân hóa. Trong một chừng mực nhất định, Hiện đại hóa thứ nhất là sự hiện thực hóa các đề án tư tưởng của phong trào Khai sáng diễn ra sôi nổi ở châu Âu trong thế kỉ XVIII mà nội dung cốt lõi của nó là niềm tin của con người về sự thế chỗ tất yếu của ánh sáng Lý Trí và Tiến Bộ đối với bóng tối của huyền thoại, giáo điều, mê tín, lạc hậu, bất công ngăn cản bước phát triển của con người trên tất cả các lãnh vực xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, khoa học (8). Nhưng bức tranh Khai sáng trong hiện thực lại không hoàn toàn sáng tươi như chính những người chủ trương Khai sáng kì vọng. Cuộc cách mạng Pháp 1789 với những hệ lụy ngoài ý muốn của nó đã phủ không ít bóng tối lên những niềm lạc quan. Điều này cho thấy: nhiều mệnh đề tư tưởng của Khai sáng cần được kiểm thảo lại: không phải để phủ định nó, mà để làm cho nó phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn. Do vậy, trong lịch sử hiện đại hóa phương Tây, bước đi đầu tiên của các nhà phê phán chính là phê phán bản thân hệ tư tưởng Khai sáng.

    Khởi đi với Jean-Jacques Rousseau, phong trào phê bình Khai sáng chủ yếu gắn với các quan điểm phê bình của Kant, Hegel và Marx. Đóng góp trước hết của ba triết gia Đức là đưa ra một cái nhìn biện chứng về Khai sáng: không có một quá trình Khai sáng chung chung, phi lịch sử, phi xã hội, trong suốt, toàn hảo. Khai sáng chỉ có ý nghĩa trong tương quan giữa Khai sáng và lịch sử về tự do của con người.

    Tiếp theo, đối lập với các nhà tư tưởng Khai sáng, Kant, Hegel và Marx cho rằng, tuy lịch sử tự do là công trình của con người, nhưng điều đó không có nghĩa rằng tự do mà con người tạo nên là kết quả của hành vi tuyệt đối tự do của con người. Con người làm nên lịch sử trong những hoàn cảnh không phải do chính con người lựa chọn, con người là kẻ nhận lãnh hoàn cảnh đã có sẵn từ trước còn để lại trực tiếp cho nó. Nghĩa là, hành động của nó không tuyệt đối tự do. Nhưng chính trong điều kiện không tự do ấy con người khởi sự làm nên tự do hay lên đường giải phóng. Do đấy, Khai sáng đối với Kant, Hegel và Marx không có nghĩa là qui hoạch ngay từ đầu một tiến trình lịch sử phổ quát, hay kiến tạo tiến trình tự do và giải phóng theo đường thẳng một chiều. Khai sáng đối với họ là sự phân tích phê phán để xem mỗi một tình trạng đã đạt được có tự do hay không tự do, có nghĩa là phản tỉnh, là tư duy tiên đoán về những phương tiện và mục đích khả thể hầu hỗ trợ việc thực hiện tự do trong tương lai (9).

    Sau cùng, Kant, Hegel và Marx cũng phê phán tính chất phổ quát, trừu tượng của các lý thuyết Khai sáng. Họ cho rằng những lý thuyết gia Khai sáng này quá lạc quan, tin rằng Khai sáng, tiến bộ, tự do và trưởng thành sẽ được tiếp tục triển khai trong xã hội toàn cầu tương lai vì sự ưu việt đạt được của Âu châu trên các lãnh vực thương mại, giao thông, khoa học và nghệ thuật, đào tạo và tôn giáo so với trước đó và nhất là so với các dân tộc còn chậm tiến ở Á, Phi và Mỹ La Tinh (10).

    Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, Hiện đại hóa thứ nhất bước sang một khúc ngoặt mới nhờ áp dụng công nghệ sản xuất dây chuyền theo kiểu Taylor (Mỹ). Phương pháp sản xuất mới đã tạo nên bước đột biến về năng suất và sản phẩm công nghiệp. Mặt khác, nó cũng đưa đến những hệ lụy mới trong đời sống xã hội với hai đặc điểm nổi bật: Thứ nhất,tính hiện đại trở thành sản xuất và tiêu dùng hàng loạt và thế giới thuần túy của lý trí từ nay đã bị xâm chiếm bởi những đám đông đem những công cụ của tính hiện đại phục vụ cho những yêu cầu tầm thường nhất, thậm chí phi lý nhất. Thứ hai, thế giới của lý trí hiện đại ngày càng bị phụ thuộc vào các chính sách hiện đại hóa và vào các nền độc tài dân tộc chủ nghĩa trong thế kỉ XX (11).

    Trước tình hình đó, phản ứng của giới trí thức phương Tây tỏ ra quyết liệt hơn so với các bậc tiền bối của họ ở thế kỉ XIX. Từ bối cảnh này đã hình thành nên các lí thuyết phê phán của trường phái Francfort – một trường phái được hình thành ở Đức trước thế chiến II và tiếp tục gây ảnh hưởng lên các trào lưu tư tưởng Âu – Mỹ trong các thập niên đầu của thời hậu chiến thế giới. Trong tâm thế “mang mang” (Huy Cận) của giới trí thức thời đại, Horkheimer, người đặt nền móng cho trường phái Francfort và là người đầu tiên định nghĩa thuật ngữ social criticism đã cảm tác: “Từ “lí trí” trong một thời gian dài đã có nghĩa là hoạt động nhận thức và hấp thụ những ý tưởng phổ quát được coi là mục đích của con người. Ngày nay, trái lại, không chỉ vai trò mà cả công việc chủ yếu của lý trí là phải tìm kiếm những phương tiện để phục vụ các mục đích của mỗi người vào một thời điểm nhất định”. Nói theo Walter Benjamin, một người bạn cùng chí hướng của ông, thì kinh nghiệm sáng tạo ( erfahrung) bị thay thế bằng cái đã trải qua ( erlebnis). Chủ thể cá nhân, bị tách khỏi lý trí, rơi vào sự phụ thuộc quyền lực chính trị hay kinh tế. Cần phải đem lại cho con người sự tự do tích cực mà Hegel và Marx từng mơ ước cho nó để che chở các cá nhân khỏi những lấn át quyền lực (12).

    Phê phán xã hội trong Hiện đại thứ hai

    Thuật ngữ Hiện đại thứ hai được dùng để chỉ một thời kì mới trong tiến trình hiện đại hóa của nhân loại – được bắt đầu từ thập niên 1970 và vẫn đang tiếp diễn cho đến ngày nay. Cơ sở để phân biệt giữa Hiện đại thứ nhất và Hiện đại thứ hai là sự thay thế ” lôgíc của việc sản xuất sự giàu có” bằng ” lôgíc của việc sản xuất nguy cơ“; đồng thời cũng là sự biến đổi từ ” lôgíc của việc phân phối sự giàu có” thành ” lôgíc của việc phân phối nguy cơ” (13). Trong bối cảnh ấy, vấn đề phê bình/phản tư xã hội tiếp tục được triển khai với những sắc diện mới. Cùng với Marcuse và đặc biệt là Jurgen Habermas, trào lưu phê phán tiếp tục mở rộng thêm với các thuyết nam nữ bình quyền ( feminism), thuyết phê phán chủng tộc ( critical race theory) và một số hình thức khác của chủ nghĩa phê phán hậu thuộc địa ( post-colonial criticism)(14).

    Nói tóm lại, phê bình/ phê phán xã hội là hệ quả sinh động của một quá trình chuyển hóa từ sự thức tỉnh thường trực của chủ thể/cá nhân trước các định chế, khuôn mẫu xã hội thành năng lực phản tư, phê phán của toàn xã hội trước những điều kiện, tình thế, hoàn cảnh có nguy cơ ngăn cản quá trình khai sáng, tiến bộ của cộng đồng nhằm mở đường cho những thay đổi tích cực, tiến bộ. Bởi vậy, phê bình/phê phán xã hội còn là động năng phát triển của các cộng đồng xã hội.

    Trở lại vấn đề đã được đặt ra ở đầu bài, việc chuyển dịch khái niệm phản biện xã hội từ social counter-argument hay social criticism trên thực tế đã vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện chữ nghĩa: về bản chất, nó là cách lựa chọn một hệ qui chiếu tri thức khả tín để làm công cụ tư duy và nhận thức một vấn đề mang tính thời sự và thực tiễn sâu sắc. Có thể công việc xác định hay diễn dịch từ nguyên của khái niệm phản biện xã hội sẽ chưa dừng lại, nhưng rõ ràng, việc đặt khái niệm này trong mối tương quan với phê bình/phê phán/phản tư xã hội ( social criticism) – một thuật ngữ phổ dụng trong nghiên cứu học thuật lẫn sinh hoạt đời thường ở các quốc gia phát triển đã mở ra một chân trời mới trong nhận thức về phản biện xã hội. Hóa ra: phản biện, phản tư, phê bình hay phê phán xã hội từ khởi thủy đã là những khái niệm liên văn hóa, mang cả tầm vóc phổ quát và cụ thể mà bất cứ cộng đồng nào cũng cần chuyển hóa nội dung của nó thành những cơ chế thực tiễn nhằm mở đường cho quá trình vươn đến Khai sáng, Tiến bộ, Dân chủ và Văn minh. Đến đây, có hai câu hỏi lớn tiếp tục được đặt ra: các chức năng cụ thể của phản biện xã hội trong đời sống thực tiễn là gì; và phản biện xã hội cần những điều kiện cơ bản nào để trở nên hiện thực hóa? Chúng tôi sẽ cố gắng tìm ra lời đáp cho hai câu hỏi mang tính bản thể luận ấy trong bài viết tiếp theo.

    (1) http://vn.360plus.yahoo.com/ghung71/article? mid=1091&fid=-1

    (2) Michael Walzer (1985), Inteptation and social criticism, chúng tôi tr. 30-31.

    (3) Trong mục này, chúng tôi sử dụng nhiều tư liệu của hai nghiên cứu sinh Phạm Quốc Lộc và Lê Nguyên Long trong một bài viết xuất sắc của họ: Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí luận, phê bình mới cho Việt Nam hiện nay, http://lyluanvanhoc.com/?p=5852.

    (4) (5) (6) Phạm Quốc Lộc – Lê Nguyên Long, tlđd.

    (7) Horkheimer (1982), Critical theory, http://plato.stanford.edu/entries/critical-theory/, tr. 244

    (8) Thái Kim Lan (2004), Khai sáng và tiến bộ – nhìn từ góc độ triết sử Tây phương, Tạp chí thời đại, số 3, http://primeproxy23.info/browse. php?u=Oi8vd3d3LnR hcGNoaXRob2lkYWkub3JnL1Rob2lEYWkzLzIwMDQwM 19US0xhbi5odG0%3D&b=5

    (9) (10) Thái Kim Lan, tlđd.

    (11) Ronald Inglehart (2008), Hiện đại hóa và hậu hiện đại hóa (Nguyễn Thị Phương Mai, Nguyễn Chí Tình, Nguyễn Mạnh Trường dịch; Vũ Thị Minh Chi hiệu đính), Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 57.

    (12) Alain Touraine (2003), Phê phán tính hiện đại (Nguyễn Kiến Giang dịch), Nxb Thế giới, Hà Nội, tr. 253.

    (13) Bùi Văn Nam Sơn, Hiện đại thứ hai và nền văn hóa công luận,http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/BuiVanNamSon/HienDaiThuHaiVaNenVanHoa chúng tôi

    (14) Critical theory, http://plato.stanford.edu/entries/critical-theory/

    (15) (16) Bùi Văn Nam Sơn, tlđd.

    Theo Đặng Hoàng Giang/Văn hoá Nghệ chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phản Biện Xã Hội Và Các Hình Thức, Giải Pháp Thực Hiện Ở Hà Nội
  • Phản Biện Xã Hội: Ý Nghĩa, Cơ Chế Và Điều Kiện Thực Thi
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Phản Biện Xã Hội
  • Hệ Thống Bus Là Gì? Các Loại Bus Hệ Thống? Tính Năng Của Bus Hệ Thống?
  • Những Điều Mà Bạn Cần Biết Về Can Bus Hiện Nay!
  • Nêu Các Hệ Cơ Quan Cấu Tạo Nên Cơ Thể Người1.cơ Thể Người Được Cấu Tạo Bởi Những Hệ Cơ Quan Nào?chức Năng Của Các Hệ Cơ Quan Đó? 2.thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tế Bào? 3.khái Niệm Về Phản Xạ, Cung Phản Xạ? 4.khớp Xương Là Gì?phân Loại Và Nêu Ví Dụ Cho Mỗi Loại Khớp Xương?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 52. Phản Xạ Không Điều Kiện Và Phản Xạ Có Điều Kiện
  • Lý Thuyết Phản Xạ Sinh 8
  • Nêu Khái Niệm Và Thành Phần Của Cung Phản Xạ
  • Khái Niệm Và Tính Chất Của Pxcđk Và Pxkđk? Ví Dụ Minh Họa. Giúp Mik Với Câu Hỏi 776647
  • Bài 29. Dẫn Truyền Xung Thần Kinh Trong Cung Phản Xạ
  • 1. Cơ thể người được cấu tạo bởi những hệ cơ quan nào? Chức năng của các hệ cơ quan đó? 2.Thành phần cấu tạo và chức năng của tế bào? 3. Khái niệm về phản xạ, cung phản xạ?

    – Phản xạ là phản ứng của cơ thể trả lời kích thích môi trường dưới sự điều khiển của hệ thần kinh.

    – Cung phản xạ là con đường mà xung thần kinh truyền từ cơ quan thụ cảm (da…) qua trung ương thần kinh đến cơ quan phản ứng (cơ, tuyến,…).

    4.Khớp xương là gì? Phân loại và nêu ví dụ cho mỗi loại khớp xương?

    – Khớp xương là nơi tiếp giáp giữa các đầu xương.

    – Có 3 loại khớp là: khớp bất động, khớp bán đông và khớp động.

    – Khớp động: là phần tiếp giáp giữa 2 xương là sụn và bao hoạt dịch (chứa dịch khớp) khớp động có thể cử động dẻ dàng. VD: Các khớp ở tay, chân,…

    – Khớp bất động: là phần tiếp giáp giữa 2 xương đã hoá xương. Không cử động được. VD: khớp ở hộp sọ,…

    – Khớp bán động: là phần tiếp giáp giữa 2 xương là màng, dây chằng và đĩa dệm. Khớp này có thể cử động ở mức hạn chế. VD: khớp các đốt sống,…

    5.Thành phần hóa học của xương, vai trò của mỗi thành phần? – Xương gồm hai thành phần chính là cốt giao và muối khoáng. – Vai trò: + Chất khoáng: Làm cho xương bền chắc. + Cốt giao: Đảm bảo tính mềm dẻo cho xương. 6. Nêu tính chất của cơ, giải thích sự co cơ, ý nghĩa của sự co cơ. – Tính chất:

  • Tính chất cơ bản của cơ là co và giãn.
  • Cơ co khi có sự kích thích từ môi trường ngoài.
  • – Sự co cơ là khi tơ cơ mảnh xuyên sâu vào vùng phân bố của tơ cơ dày làm cho cơ ngắn lại. – Ý nghĩa: Làm cho xương cử động dẫn đến sự vận động của cơ thể.

    7. Các biện pháp vệ sinh hệ vận động.

    Các biện pháp vệ sinh hệ vận động:

    – Lao động vừa sức và thường xuyên luyện tập thể dục thể thao để bảo vệ và tạo điều kiện cho cơ, xương phát triển.

    – Khi mang vác hay học tập cần chú ý chống cong vẹo cột sống.

    8.Thành phần cấu tạo và chức năng của máu.

  • Máu gồm huyết tương (55%) và các tế bào máu (45%). Các tế bào máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
  • Huyết tương duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch ; vận chuyển các chất dinh dưỡng, các chất cần thiết khác và các chất thải.
  • Hồng cầu vận chuyển 02 và C02.
  • 9. Miễn dịch là gì? Các hình thức miễn dịch? Vai trò của bạch cầu trong sự miễn dịch của cơ thể.

    – Miễn dịch là khả năng cơ thể không bị mắc một bệnh nào đó.

    – Các hình thức miễn dịch: miễn dịch tự nhiên (miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch tập nhiễm) và miễn dịch nhân tạo.

    – Vai trò: Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Về Các Khái Niệm Và Quy Tắc Giao Thông Đường Bộ (Phần 5)
  • Chương 2 Phép Duy Vật Biện Chứng
  • Theo Phép Biện Chứng Duy Vật, Các Mối Liên Hệ Có Những Tính Chất Chung Nào? Cho Ví Dụ.
  • Sud: Phát Triển Đô Thị Bền Vững
  • Khái Niệm Đô Thị Bền Vững (Scs )
  • Sự Cần Thiết Phân Biệt Các Khái Niệm Từ Gốc, Từ Mượn, Từ Ngoại Lai Và Từ Ngoại Trong Nghiên Cứu Từ Vựng Tiếng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Chàng Trai Đi Phượt Bằng Xe Lăn, Chinh Phục Những Con Đèo Hiểm Trở Nhất Việt Nam: Mất 10 Năm Định Nghĩa Hai Từ “tự Do” Bằng Cách Chưa Ai Từng Làm!
  • 5 Điều Bạn Phải Hy Sinh Nếu Muốn Tương Lai Tốt Đẹp Hơn
  • Suy Nghĩ Cấp Thấp Sẽ Đưa Bạn Đến Một Cuộc Đời Cấp Thấp: 5 Điều Phải Từ Bỏ Nếu Muốn Tương Lai Tốt Đẹp Hơn
  • Những Câu Chửi Tục Mất Dạy Nhất Khiến Lũ Đểu Sợ Xanh Mắt Mèo
  • Giáo Dục: Tích “sạn” Thành Sỏi Và Chuyện … “ngáo Chữ”
  • Thực tế trong những năm gần đây khi phân tích từ vựng tiếng Việt về mặt nguồn gốc, nhiều luận văn cao học và luận án tiến sĩ thường phân biệt từ thuần Việt với từ Hán Việt như là sự đối lập giữa một bên là từ bản ngữ và một bên là từ ngoại lai. Nhưng vì các khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai chưa được xác định rõ ràng nên các số liệu thống kê thường ít có giá trị.

    Về lí luận, có thể hiểu từ vựng thuần Việt là những từ ngữ vốn có của tiếng Việt, còn từ vựng ngoại lai là những từ ngữ mà tiếng Việt mượn của các ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, trong thực tế việc nhận diện đâu là từ thuần Việt, đâu là từ ngoại lai không phải dễ dàng.

    Hiện nay, đa số các nhà ngôn ngữ học quan niệm tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc nhóm Việt – Mường, tiểu chi Việt – Chứt, nằm trong khối Việt Katu, thuộc khu vực phía đông của ngành Mon – Khơ-me, họ Nam Á. Nếu chỉ coi những từ gốc Nam Á trong tiếng Việt mới là các từ thuần Việt thì số lượng các từ thuần Việt chẳng đáng là bao. Công trình sưu tập được nhiều nhất những từ gốc Nam Á trong tiếng Việt là cuốn Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt của Vũ Đức Nghiệu .

    THƯ MỤC THAM KHẢO

    1. Trần Trí Dõi, Khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai từ góc nhìn của lịch sử tiếng Việt hiện nay, Ngôn ngữ, số 11, 2011.

    2. Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985.

    3. Nguyễn Thiện Giáp, Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.

    4. Nguyễn Thiện Giáp, Từ và từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014.

    5. Nguyễn Văn Khang, Từ ngoại lai trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.

    6. Vũ Đức Nghiệu, Lược khảo lịch sử từ vựng tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2011

    NGUYỄN THIỆN GIÁP 1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Loại Tiếng Việt ( Chuyên Đề 2 Ngữ Pháp
  • Phân Tích Khổ Thơ Đầu Của Bài Thơ “từ Ấy” Của Tố Hữu
  • Không Phải Ai Khác, Vì Sao Thái Từ Khôn Lại Là Center Của Idol Producer?
  • Một Khái Niệm Ngôn Ngữ Hay Bị Nhầm Trên Truyền Thông
  • An Nguy: ‘định Nghĩa ‘sao’ Là Như Thế Nào Cơ?’
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Dự Án Phần Mềm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhập Môn Công Nghệ Phần Mềm
  • Quản Lý Dự Án Phần Mềm: Mô Hình, Quy Trình Và Báo Cáo Chi Tiết
  • Đất Nền Là Gì? 4 Kiểu Đất Nền Nhà Đầu Tư Nên Tránh
  • Đất Nền Dự Án Là Gì
  • Nên Mua Đất Nền Dự Án Hay Đất Thổ Cư?
  • Published on

    các khái niệm cơ bản của dự án phần mề

    1. 1. 1 BÀI 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN PHẦN MỀM ThS. Thạc Bình Cường
    2. 2. 2 TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP * Chi tiêu cho Công nghệ thông tin (CNTT) thế giới tiếp tục tăng, và Forrester Research dự đoán rằng chi tiêu cho CNTT của Mỹ sẽ tăng 5.7% trong năm 2005, lên đến $795 tỷ. * Trong năm 2003, trung bình quản trị dự án cấp cao ở Mỹ thu nhập khoảng $90,000 một năm, và Giám đốc Trung tâm Quản trị dự án (PMO) kiếm nhiều hơn Trưởng phòng Công nghệ (CIO) ($118,633 so với $103,925). * Quản trị dự án CNTT giống như một công trường. Mọi việc đều rất ngổn ngang bừa bãi cần một nhà quản lý để đưa vào trật tự.  Vai trò của quản trị dự án trong việc phát triển một dự án CNTT?
    3. 3. 3 MỤC TIÊU Trình bày được các khái niệm về các vấn đề dự án và quản trị dự án. Trình bày được các bước quá trình phát triển dự án CNTT. Liệt kê được các kỹ thuật và mô hình kinh tế, nền kinh tế khi áp dụng các mô hình quản trị dự án.
    4. 4. 4 NỘI DUNG 1 Phát triển phần mềm truyền thống2 Sự tiến hóa nền kinh tế phần mềm3 Cải tiến kinh tế phần mềm4 Giới thiệu chung về dự án
    5. 5. 5 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN * Dự án là gì? * Quản lý dự án là gì? * Nói về người quản lý dự án.
    6. 6. 6 * Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến.  Phải dự kiến nguồn nhân lực;  Phải có ngày bắt đầu, ngày kết thúc;  Phải có kinh phí thực hiện công việc;  Phải mô tả được rõ ràng kết quả (output) của công việc. * Dự án kết thúc khi:  Hoàn thành mục tiêu đề ra và nghiệm thu kết quả (kết thúc tốt đẹp) trước thời hạn;  Hết kinh phí trước thời hạn (kết thúc thất bại);  Đến ngày cuối cùng (nếu tiếp tục nữa cũng không còn ý nghĩa). * Dự án thất bại khi:  Không đáp ứng các mục tiêu ban đầu;  Không đáp ứng được thời hạn;  Vượt quá ngân sách cho phép (20 – 30%). 1.1. DỰ ÁN LÀ GÌ?
    7. 7. 7 Không rõ mục tiêu: 18% Không quen thuộc với Phạm vi và sự phức Của dự án: 17% Thiếu thông tin: 21% Quản lý dự án không tốt: 32% Lý do khác: 12% Tại sao dự án thất bại? * Để tránh việc thất bại dự án 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 % Respondents Cải tổ việc quản lý dự án Nghiên cứu khả thi Tăng số các thành viên tham gia Tăng các phương sách từ bên ngoài Không phải những lý do trên 1.1. DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    8. 8. 8 * Quản lý dự án (QLDA) là việc áp dụng các công cụ, kiến thức và kỹ thuật nhằm định nghĩa, lập kế hoạch, tiến hành triển khai, tổ chức, kiểm soát và kết thúc dự án. * Một dự án được quản lý tốt, tức là khi kết thúc phải thoả mãn được chủ đầu tư về các mặt: thời hạn, chi phí và chất lượng kết quả. * Các nguyên lý chung của phương pháp luận QLDA:  Linh hoạt;  Hướng kết quả, không hướng nhiệm vụ (nhằm thoả mãn các thượng đế – khách hàng);  Huy động sự tham gia của mọi người (tính chất dân chủ);  Làm rõ trách nhiệm (chữ ký);  Phân cấp có mức độ (không nên chia thành quá nhiều mức);  Tài liệu cô đọng và có chất lượng (quá nhiều tài liệu tức là có quá ít thông tin);  Kết quả quan trọng hơn công cụ hay kĩ thuật (thực dụng);  Tạo ra các độ đo tốt (để có đánh giá đúng);  Suy nghĩ một cách nhìn xa trông rộng;  Cải tiến liên tục (kế hoạch không xơ cứng). 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ?
    9. 9. 9 Thực hiện dự án Nguồn Các đầu vào khác Các yêu cầu Các kết quả bàn giao của dự án Các đầu ra khác Quản lý dự án Những yêu cầu của người quản lý * Quản lý và thực hiện dự án: 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    10. 11. 11 * Lập kế hoạch quản lý bao gồm:  Xác định ranh giới của dự án: Đội lập kế hoạch, văn bản/thông tin hiện có;  Xây dựng các lựa chọn tiếp cận của dự án: Chiến lược thực hiện và các phương pháp luận tổ chức dự án;  Xây dựng các ước tính ban đầu;  Xây dựng cơ sở hạ tầng nguồn: Môi trường làm việc, MOC;  Xây dựng cơ sở hạ tầng của dự án: Quản lý cấu hình, chất lượng, rủi ro, sự kiện, sự thay đổi, kiểm soát dự án, lập báo cáo và lập kế hoạch;  Lập thành văn bản về kế hoạch quản lý. * Các phong cách QLDA:  Sau khi vạch kế hoạch rồi, phó mặc cho người khác thực hiện, không quan tâm theo dõi. Khi có chuyện gì xảy ra mới nghĩ cách đối phó;  Một đề tài nghiên cứu khoa học: Không có sáng kiến mới, cứ quanh quẩn với các phương pháp cũ, công nghệ cũ;  Thiết lập hướng làm việc chung;  Không lo lắng đến thời hạn giao nộp sản phẩm, đến khi dự án sắp hết hạn thì mới lo huy động thật đông người làm cho xong;  Quản lý chủ động, tích cực. Suốt quá trình thực hiện dự án không bị động về kinh phí, nhân lực và tiến độ đảm bảo (lý tưởng). 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    11. 12. 12 * QLDA thụ động có những đặc tính:  QLDA luôn đứng sau các mục tiêu của dự án;  Hấp tấp, bị kích động, tương lai ngắn hạn;  Khi làm quyết định, chỉ nghĩ đến các khó khăn trở ngại tạm thời, trước mắt, không nghĩ đến liệu rằng đó có phải là một bước đi đúng hay không;  Không kiểm soát được tình thế, nhiều khi phải thay đổi kế hoạch và tổ chức. * Hậu quả của QLDA thụ động:  Kết quả thu được không ổn định;  Tinh thần làm việc không cởi mở, hợp tác;  Năng suất thấp, công việc không chạy;  Rối loạn trong điều hành;  Không sử dụng hiệu quả tài nguyên;  Người quản lý dự án bị dự án quản lý;  Hồ sơ dự án kém chất lượng;  Chậm tiến độ, tiêu vượt quá kinh phí;  Chất lượng dự án không đảm bảo. 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    12. 13. 13 * Các thuộc tính của dự án IT:  Kết quả bàn giao có thể là ít hữu hình;  Phạm vi có thể khó kiểm soát;  Kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ và kỳ vọng trái ngược nhau;  Có thể bất đồng về mục tiêu kinh doanh;  Thay đổi quan trọng về tổ chức;  Các yêu cầu, phạm vi, và lợi nhuận chính xác có thể rất khó xác định;  Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ. * Lưu ý:  Quản lý dự án thành công chính là vấn đề về con người;  Khám phá các nguồn hỗ trợ và ngăn trở;  Nhìn bản chất, không tin hiện tượng;  Người khác có cách nhìn khác nhau;  Thiết lập kế hoạch chỉnh sửa dễ dàng;  Dám đối mặt với sự kiện;  Sử dụng quản trị để hỗ trợ cho các mục đích của dự án;  Thời gian mục tiêu đối với từng nhiệm vụ không được giống như đã nêu trong kế hoạch;  Đọc lại phạm vi và các mục tiêu của dự án mỗi tuần một lần;  Không ngạc nhiên. 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    13. 16. 16 * Trách nhiệm của QLDA: Trách nhiệm chính Chi tiết Nêu ra những điểm bao quát chung Về công việc, cấu trúc phân việc, lịch biểu và ngân sách Trao đổi với các đồng nghiệp Bao gồm các báo cáo, biểu mẫu, bản tin, hội họp và thủ tục làm việc. Ý tưởng là trao đổi cởi mở và trung thực trên cơ sở đều đặn Động viên, khuấy động tinh thần làm việc Bao gồm khích lệ, phân việc, mời tham gia và ủy quyền Định hướng công việc Bao gồm điều phối, theo dõi, thu thập hiện trạng và đánh giá hiện trạng Hỗ trợ cho mọi người 1.3. NÓI VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ DỰ ÁN (tiếp theo)
    14. 18. 18 * Xây dựng tập thể vững mạnh:  Bổ nhiệm người phụ trách;  Phân bổ trách nhiệm;  Khuyến khích tinh thần đồng đội;  Làm phát sinh lòng nhiệt tình;  Thành lập sự thống nhất chỉ huy;  Quản lý trách nhiệm;  Cung cấp môi trường làm việc tốt;  Trao đổi với đồng nghiệp. * Sức ép với QLDA: Kinh tế, marketing, các chuẩn về công nghệ, mục tiêu, uy tín danh dự, nguồn nhân lực, nhân sự, thủ tục hành chính, quan hệ với người đặt hàng, môi trường kinh doanh. * Phẩm chất QLDA: Trung thực, toàn tâm toàn ý, khả năng diễn đạt, khả năng chia sẻ thông cảm với người khác, nhất quán, kiên nhẫn, tính kiên quyết, khách quan, tầm nhìn xa trông rộng, … 1.3. NÓI VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ DỰ ÁN (tiếp theo)
    15. 19. 19 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG * Sơ lược về quá trình – dự án truyền thống: Dạng Văn bản không theo thể thức Sơ đồ luồng Chương trình nguồn Vạch ranh giới cấu hình Hoạt động Yêu cầu phân tích Thiết kế chương trình Lập trình và kiểm thử Tích hợp theo tỷ lệ mở rộng và kiểm sửa Sản phẩm Tài liệu Tài liệu Chương trình Vạch ranh giới yếu ớt Các hoạt động kế tiếp: Yêu cầu – thiết kế – lập trình – tích hợp – kiểm sửa Bắt đầu tích hợp Điểm gián đoạn thiết kế chậm Ngày đạt mục tiêu gốc Lịch trình dự án Tiếnđộpháttriển (%lậptrình) 100%
    16. 20. 20 * Các kinh nghiệm của quá trình phát triển phần mềm:  Quá trình phát triển là không dự đoán được rất cao. Chỉ có 10% dự án là đúng hạn và ngân sách;  Các nguyên tắc quản lý là khó phân biệt được thành công hay thất bại như các tiến bộ công nghệ;  Các mức vụn vặt và làm lại phần mềm là xác định trong tiến trình tăng trưởng. * Hai bước cơ bản để xây một chương trình: Phân tích và lập trình sẽ bao gồm các công việc sáng tạo mà nó đóng góp trực tiếp tới tính hữu dụng của sản phẩm. Phân tích Lập trình 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    17. 21. 21 Yêu cầu hệ thống Yêu cầu phần mềm Phân tích Thiết kế chương Lập trình Kiểm sửa Thực hiện * Mô hình thác nước cổ điển: 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    18. 22. 22 * Chi phí: STT Hoạt động Chi phí (%) 1 Quản lý 5 2 Xác định yêu cầu 5 3 Thiết kế 10 4 Mã hóa và kiểm sửa 30 5 Tích hợp và kiểm sửa 40 6 Triển khai 5 7 Môi trường 5 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    19. 23. 23 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo) * Sơ lược rủi ro: Kiểm sửaSơ lược rủi roSơ lược rủi roYêu cầu Chiềuhướngrủirocủadựán Thấp Cao Định hướng tập trung chu kỳ giải trình rủi ro Điều khiển chu kỳ quản lý rủi ro Chu kỳ khai thác rủi ro Chu kỳ chi tiết hóa rủi ro Vòng đời dự án
    20. 24. 24 * Lập tài liệu và điều khiển dự án:  Nhà dự thầu (contractor) chuẩn bị một tài liệu hợp đồng để phân phát cho khách hàng duyệt mà nó bảo đảm nắm bắt được các mẫu phát triển qua các bước trung gian;  Khách hàng có góp ý trở lại (trong vòng 15 đến 30 ngày);  Nhà thầu sau khi xem xét lại các ý kiến của khách hàng và nộp lại bản cuối cùng để duyệt (cũng trong vòng 15 tới 30 ngày). * Các kinh nghiệm cụ thể: Các kinh nghiệm ban đầu thường thấy thông qua thiết kế trên giấy và qua đó thường rất tóm tắt.  Vi phạm về sự mã hoá muộn trong vòng đời dự án;  Việc tích hợp hệ thống gây ra ác mộng về các vấn đề thể hiện không nhìn thấy trước và sự nhập nhằng về các giao diện giữa chúng;  Thờì gian và tài chính là các áp lực cho hệ thống làm việc;  Một sản phẩm không tối ưu nhưng đã chót làm và không có thời gian thiết kế lại;  Một sản phẩm rất yếu ớt, khó bảo trì và phân phối rất muộn mằn. 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    21. 25. 25 * Tóm tắt các vấn đề về thực tiễn:  Việc tích hợp kéo dài và phá vỡ thiết kế sau này;  Sự giải quyết rủi ro quá muộn;  Có yêu cầu phân rã theo chức năng;  Mối quan hệ giữa các cổ đông đối nghịch nhau;  Chỉ tập trung vào tài liệu và các cuộc họp rà soát lại. * Năm cải tiến cần thiết đối với mô hình thác nước:  Hoàn thiện thiết kế chương trình trước khi bắt đầu phân tích và mã hóa (xây dựng) chương trình;  Bảo trì hiện hành và hoàn thiện tài liệu;  Làm các nhiệm vụ hai lần nếu có thế;  Lập kế hoạch, điều khiển và theo dõi kiểm tra;  Trao đổi sâu sát và thu hút khách hàng. 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    22. 27. 27 * Nền kinh tế phần mềm; * Sự ước lượng chi phí phần mềm thực tế. 3. SỰ TIẾN HÓA NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM
    23. 28. 28 * Mô hình chi phí phần mềm bao gồm 5 tham số:  Kích cỡ của sản phẩm cuối thông thường số dòng chương trình nguồn.  Tiến trình xử lý để đưa ra sản phẩm cuối.  Khả năng của nhân sự.  Môi trường – Các công cụ và kỹ thuật.  Chất lượng yêu cầu của sản phẩm cuối. * Công thức lượng giá chi phí: Chi phí = (Nhân sự)(Môi trường)(Chất lượng)(Kích thướctiến trình). * Ba giai đoạn phát triển phần mềm được thể hiện ở hình vẽ sau: 3.1. NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM
    24. 29. 29 3.1. NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM (tiếp theo) – 1960s-1970s – Mô hình thác nước – Thiết kế chức năng – Tỷ lệ phi kinh tế – 1980s-1990s – Cải tiến tiến trình – Dựa vào bao bọc – Tỷ lệ phi kinh tế – 2000 và sau đó – Sự phát triển lặp đi lặp lại – Thành phần – Kết quả đầu tư ROI phần mềm Môi trường/Công cụ Tập quán Môi trường/Công cụ Không lỗi thời, riêng rẽ Môi trường/Công cụ Không lỗi thời, tích hợp Kích thước: 100% tập quán Kích thước: 30% dựa vào thành phần cơ bản 70% tập quán Kích thước: 70% dựa vào thành phần cơ bản 30% tập quán Tiến trình: Theo trường hợp đặc biệt Tiến trình: Có thể lặp lại Tiến trình: Quản lý/phân phối Kích thước phần mềm Sự phù hợp môi trường, kích thước và các công nghệ tiến trình Hiệu năng của dự án điển hình Khả năng dự đoán tồi Luôn luôn: Vượt quá ngân sách Vượt quá lịch trình Không có khả năng dự đoán Không thường xuyên: Đúng ngân sách Đúng lịch trình Có khả năng dự đoán Thường xuyên: Đúng ngân sách Đúng lịch trình Chiphí
    25. 30. 30 * Đánh giá các điểm chức năng:  Sự biến đổi chương trình nguồn làm cơ sở cho việc đánh giá;  Sử dụng các điểm chức năng “Function Points” để đánh giá chi phí:  Các dữ liệu đầu vào của người sử dụng  Các dữ liệu đầu ra  Nhóm các dữ liệu cục bộ  Giao diện dữ liệu ngoài  Các dạng câu hỏi ngoài * Độ chính xác: Toàn bộ độ chính xác của việc đánh giá chi phí phần mềm hiện tại được mô tả như là “… 20 % sự chính xác , 70 % về thời gian…” * Tiến trình chi phí nổi bật được mô tả như sau: Nhà quản lý phần mềm, nhà quản lý kiến trúc phần mềm, nhà quản lý phát triển phần mềm, nhà quản lý định giá phần mềm Mô hình chi phí Chi phí ước lượng “Đây là sự biện hộ nào đó về giá trị đó” Các rủi ro, sự lựa chọn, trả giá, thay thế “Dự án này phải có giá trị là $X để chiến thắng trong nền thương mại này” 3.2. SỰ ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ PHẦN MỀM THỰC TẾ
    26. 31. 31 * Các thuộc tính của đánh giá tốt:  Việc đánh giá phải được nhận thức và hỗ trợ bởi mọi các thành viên tham gia dự án;  Cán bộ quản lý dự án, đội kiến trúc, đội phát triển và đội kiểm thử trong từng công việc của họ;  Việc đánh giá phải được chấp nhận bởi tham vọng của toàn bộ các cổ đông nhưng cần hiện thực;  Việc đánh giá dựa vào mô hình xác định chuẩn với nền tảng tin cậy;  Việc đánh giá dựa trên các kinh nghiệm của các dự án trước;  Việc đánh giá được chi tiết cụ thể và đặc biệt quan tâm hiểu biết tới lĩnh vực rủi ro. 3.2. SỰ ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ PHẦN MỀM THỰC TẾ (tiếp theo)
    27. 32. 32 * Năm tiêu chí cải tiến nền kinh tế phần mềm:  Giảm kích cỡ của phần mềm;  Cải tiến tiến trình phát triển phần mềm;  Sử dụng các nhân sự có kỹ năng và nhóm đội tốt hơn;  Sử dụng môi trường, công cụ phát triển phần mềm tốt hơn;  Thoả hiệp, cân nhắc, hoặc thúc đẩy các mặt còn yếu dựa vào ngưỡng chất lượng. * Giảm kích thước phần mềm:  Lựa chọn ngôn ngữ lập trình;  Áp dụng các phương pháp hướng đối tượng và mô hình hoá trực quan;  Sử dụng lại phần mềm;  Các thành phần phần mềm thương mại hoá. * So sánh các điểm chức năng qua ví dụ ngôn ngữ:  1,000,000 dòng lệnh – ngôn ngữ Assembly;  400,000 dòng lệnh – ngôn ngữ C;  220,000 dòng lệnh – ngôn ngữ Ada 83;  175,000 dòng lệnh – ngôn ngữ Ada 95 hoặc C++. 4. CẢI TIẾN NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM
    28. 33. 33 * Phương pháp hướng đối tượng và mô hình trực quan:  Việc nắm bắt tính trừu tượng hoá của phần mềm dẫn đến giao tiếp và làm việc theo đội nhóm tốt hơn;  Việc tích hợp liên tục thường xuyên dẫn đến nhận biết các rủi ro sớm và hạn chế chi phí chỉnh sửa;  Kiến trúc hướng đối tượng đảm bảo phân tách các thành phần của hệ thống và tạo bức tường ngăn cản các sự cố lan truyền nhằm giảm chi phí;  Mô hình hướng đối tượng và trực quan tạo ra kiến trúc vững chắc nhằm tạo ra sản phẩm sạch và giảm chi phí. * Sử dụng lại phầm mềm:  Kiến trúc phần mềm chung;  Môi trường phát triển;  Các hệ điều hành;  Hệ thống quản trị CSDL;  Các sản phẩm trên mạng;  Các ứng dụng văn phòng. 4. CẢI TIẾN NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM (tiếp theo)
    29. 34. 34 * Chi phí sử dụng lại và lập lịch: 1 giải pháp dự án: $N và M tháng 2 giải pháp dự án: trên 50% chi phí và 100% thời gian 5 giải pháp dự án: trên 125% chi phí và trên 150% thời gian Giải pháp nhiều dự án: Thao tác với giá trị cao tên đơn vị đầu tư, các sản phẩm thương mại điển hình Số dự án sử dụng thành phần có thể tái sử dụng được Pháttriểnchiphívàlậplịchtàinguyên 4. CẢI TIẾN NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM (tiếp theo)
    30. 35. 35 CÂU HỎI THẢO LUẬN Xu hướng nền kinh tế phần mềm trong những năm gần đây như thế nào?
    31. 36. 36 TÓM LƯỢC CUỐI BÀI * Phát triển phần mềm thông thường ngày nay không đáng tin cậy và lạc hậu. * Mô hình thác nước cần cải tiến để làm việc thỏa đáng. Thực tiễn thông thường đảm bảo các tiêu chuẩn cho việc cải tiến trong tương lai và thay đổi các phương pháp phát triển phần mềm. * Đánh giá phần mềm phải dựa vào việc phân tích cụ thể và được hỗ trợ bởi các thành viên. * Cải tiến nền kinh tế phần mềm phải dựa vào việc giảm kích thước, sử dụng các thành viên có kỹ năng và cân đối các chỉ tiêu phần mềm tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Dự Án Phần Mềm Là Gì?
  • Kế Hoạch Quản Lý Môi Trường
  • Khái Niệm Và Một Số Đặc Trưng Cơ Bản Của Dự Án Đầu Tư
  • Hợp Đồng Thực Hiện Đầu Tư Dự Án
  • Hãy Phân Tích Định Nghĩa Của Dự Án Thông Qua Một Dự Án Công Trình Xây Dựng Cụ Thể
  • Bệnh Tiểu Đường: Khái Niệm, Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Phòng Ngừa

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Bệnh Tiểu Đường Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Bệnh Tiểu Đường
  • Tiểu Đường (Đái Tháo Đường) Là Gì?
  • Định Nghĩa Bệnh Tiểu Đường Và Cách Điều Trị Theo Đông Y
  • 【Tìm Hiểu】Phân Loại Bệnh Tiểu Đường (Đái Tháo Đường)
  • Định Nghĩa Bệnh Viện Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Bệnh Viện
  • Khái niệm

    Bệnh tiểu đường hay còn được gọi một cái tên khác là bệnh đái tháo đường. Đây là một bệnh rối loạn chuyển hóa, cacbonhydrat, mỡ và protein. Khi mắc bệnh này tức là tuyến tụy của cơ thể bạn đã mất đi khả năng sử dụng hoặc sản xuất ra hoocmone insulin, việc này khiến cho lượng đường trong máu lúc nào cũng ở mức cao.

    Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh lý nghiêm trọng khác, tiêu biểu như bệnh tim mạch vành, mù lòa, suy thận, tai biến mạch máu não.

    Phân loại

    Hiện nay, bệnh tiểu đường được chia làm 2 loại: tiểu đường tuýp 1 và tiểu đường tuýp 2.

    Trong số những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hiện nay thì chỉ khoảng 5 đến 10% là thuộc tuýp 1, đối tượng mắc phải phần lớn là trẻ em và thanh thiếu niên.

    Bệnh này xảy ra là do hệ thống miễn dịch của cơ thể đã nhầm lẫn, tấn công các tế bào tuyến tụy thay vì việc tấn công các yếu tố bên ngoài. Điều này khiến cho insulin không được sản xuất, lượng đường glucose trong máy tăng cao.

    Nếu như tuýp 1 là chứng rối loạn tự miễn thì tuýp 2 là căn bệnh mãn tính, ảnh hưởng đến sự chuyển hóa đường trong cơ thể. Loại này chiếm tỷ lệ cao 90 đến 95% trong tổng số người mắc bệnh tiểu đường, đối tượng dễ mắc phải là những người trên 40 tuổi.

    Khi bệnh của bạn thuộc loại này thì các tế bào cơ thể trở nên đề kháng với insulin, tuyến tụy không thể tạo ra đủ lượng insulin cần thiết để vượt qua sự đề kháng này. Đường thay vì đi vào các tế bào để tạo ra năng lượng thì lại được tích tụ trong máu.

    2. Nguyên nhân gây bệnh

    Nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường cũng khác nhau với từng loại tuýp 1 hay tuýp 2.

    Nguyên nhân của bệnh tiểu đường tuýp 1

    Gen được di truyền từ bố mẹ sang con, giúp thực hiện việc tạo nên các protein cần thiết. Do biến thể của gen hoặc một số nhóm gen tương tác với nhau dẫn đến bệnh tiểu đường tuýp 1 ở trẻ nhỏ.

    Cơ thể được bảo vệ trước các đòn tấn công của các vi khuẩn, vi rút đó là do hệ miễn dịch. Khi hệ miễn dịch của cơ thể bị yếu đi sẽ khiến cho các tế bào bạch cầu tấn công tế bào beta, làm suy giảm chức năng của tuyến tụy, cơ thể mất dần khả năng tự sản xuất ra insulin.

    Các tác nhân môi trường, thực phẩm, nhiễm khuẩn hay các độc tố từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể cũng là nguyên nhân gây nên căn bệnh đại tháo đường tuýp 1 này.

    Nguyên nhân của bệnh tiểu đường tuýp 2

    Cũng xuất phát từ gen trong quá trình di truyền từ bố mẹ sang con, giống như tuýp 1. Nó làm giảm khả năng sản xuất ra insulin để chuyển hóa đường trong cơ thể.

    Có thể nói đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra căn bệnh này. Lượng calo dư thừa trong cơ thể sẽ dẫn đến tình trạng kháng insulin ở các tế bào. Cộng với việc lười vận động, tuyến tụy phải hoạt động hết công suất, dẫn tới mỏi mệt.

    3. Triệu chứng – dấu hiệu nhận biết bệnh tiểu đường

    Triệu chứng tiểu đường loại tuýp 1

    Do lượng đường trong máu cao hơn so với người bình thường nên cơ thể tiến hành đào thải ra ngoài qua đường bài tiết. Điều đó, khiến cho người bệnh phải đi vệ sinh nhiều lần.

    Bên cạnh việc bài tiết liên tục thì cơ thể không thể sử dụng lượng đường để cung cấp năng lượng nên chỉ sau bữa ăn một thời gian ngắn, bệnh nhân đã cảm thấy đói. Ngoài ra, việc mất nước làm kích thích trung tâm khát ở vùng hạ đồi, bệnh nhân luôn cảm thấy khát nước và uống nước liên tục.

    Mặc dù ăn uống nhiều hơn bình thường nhưng cơ thể lại không sử dụng được glucose để tạo năng lượng, buộc phải thoái hóa lipid, protid để bù vào. Việc này làm cho bệnh nhân sụt cân rất nhanh, người gầy nhom, xanh xao.

    Triệu chứng tiểu đường loại tuýp 2

    Những biểu hiện ban đầu của bệnh này thuộc tuýp 2 rất khó có thể nhận biết. Hầu hết các bệnh nhân được phát hiện thông qua việc khám sức khỏe định kỳ hoặc khi bệnh đã chuyển biến, đã bị mắc bệnh tầm 7 đến 10 năm.

    Cũng có một số dấu hiệu giống như ở tuýp 1 như: cơ thể mệt mỏi, giảm cân rất nhanh không lý do, ăn nhiều, thì loại này còn có một số dấu hiệu đặc trưng như sau:

    Lượng đường trong máu cao làm thay đổi hình dạng thấu kính của mắt, độ khúc xạ bị thay đổi, giảm tầm nhìn. Nếu để dấu hiệu bênh đái tháo đường này xuất hiện trong thời gian dài sẽ khiến mắt bị tổn thương vính viễn, nghiêm trọng hơn là dẫn tới mù mắt.

    Tại lượng đường trong máu quá cao khi lưu thông trong các tĩnh mạch và động mạch dẽ làm các vi mạch máu bị hư hỏng. Điều này khiến cho máu khó lưu thông tới các vùng khác để có thể chữa lành vết thương.

    4. Phương pháp điều trị bệnh

    Phương pháp Đông y

    Chuẩn bị: Sinh hoàng kỳ, thiên hoa phấn, nhân sâm, tri mẫu, thiêm môn đông, ngũ vị tử, đan sâm, sa uyển tử, cát căn.

    Công dụng: Điều trị các triệu chứng ăn nhiều, uống nước liên tục, đi tiểu tiện nhiều lần trên ngày, sút cân nhanh của bệnh tiểu đường. Đồng thời, thuốc còn có tác dụng ức chế tình trạng nước tiểu có chất đường, giảm dần cho đến khi trở lại bình thường lượng đường trong nước tiểu. Hơn nữa, bài thuốc còn giúp phục hồi chức năng tạng tỳ.

    Chuẩn bị: Nhàu, hoài sơn, câu kỷ tử và mạch môn.

    Công dụng: Mạch môn chống viêm, bảo vệ thận. Hoài sơn giảm đường huyết sau ăn, ngăn ngừa biến chứng thần kình. Trái Nhàu giảm mỡ máu xấu, chống oxy hóa. Cây kỷ từ giúp ngăn ngừa biến chứng mắt.

    Phương pháp Nam y

    Một số bài thuốc nam hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường:

    Trong mướp đắng có chứa hoạt chất chống lại sự phá hủy insulin bên trong cơ thể. Với công dụng ức chế chuyển hóa và hấp thu lượng đường giúp ổn định lượng đường huyết của người bệnh, mướp đắng đã trở thành một bài thuốc phòng chống và hỗ trợ điều trị cực kỳ hiệu quả đối với tiểu đường tuýt 2.

    Cách thức thực hiện cũng vô cùng đơn giản: chỉ cần thái nhỏ, hãm nước sôi, uống thay trà trong ngày.

    Các hoạt chất chứa bên trong dây thìa canh giúp kích thích các tế bào tuyến tụy sản sinh ra insulin, cân bằng lượng đường trong máu.

    Đồng thời, nó còn giúp ngăn chặn chuyển hóa và hấp thụ đường ngược trở lại từ ruột vào trong máu. Trong mỗi bữa ăn hàng ngày, bạn có thể uống nước dây thìa canh hoặc các sản phẩm được chiết xuất từ bài thuộc này trước khi ăn 30 phút.

    Hạt sen không chỉ cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể như lipid, các loại khoáng chất, các vitamin thì hạt sen còn làm tăng lượng insulin tiết ra, hạ lượng đường huyết.

    Phương pháp Tây y

    Để chữa trị cho bệnh nhân bị tiểu đường tuýp 1, giới chuyên môn chưa ra làm 3 nhóm:

    • Insulin có tác dụng nhanh gồm: Insulin hydrochlorid, nhũ dịch Insulin-kẽm.
    • Insulin có tác dụng trung bình gồm: Isophan Insulin, Lente Insulin.
    • Insulin tác dụng chậm có: Insulin Protamin kẽm, Insulin kẽm tác dụng chậm.

    Còn để chữa trị cho bệnh đái tháo đường thuộc tuýp 2 thì có các thuộc dẫn xuất của Sulfonyl ure. Tolbutamid, Acetohexamid, Tolazamid, Clopropamid là các thuốc thuộc nhóm có tác dụng yếu, còn ở nhóm thuốc có tác dụng mạnh hơn gồm: Glibenclamid, Glipizid, Gliclazid.

    5. Cách phòng ngừa bệnh

    Các cụ xưa đã có câu “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, vậy để phòng ngừa bệnh tiểu đường này chúng ta cần thực hiện những gì?.

    Xây dựng chế độ ăn uống khoa học

    Ăn uống đúng giờ, hạn chế sử dụng các chất béo động vật mà nên dùng các loại dầu có chiết xuất từ tự nhiên. Bạn cần bổ sung thêm thật nhiều rau xanh trong bữa ăn, đây không chỉ là nguồn cung cấp chất xơ và vitamin cho cơ thể mà còn giúp cân bằng lại hàm lượng chất béo thừa trong cơ thể, duy trì cân nặng ở mức ổn định.

    Tập cho mình thói quen vận động, tập thể dục thể thao

    Lợi ích của việc tập thể dục thể thao được nhiều phương tiện truyền thông nói đến, kể cả lời vận động toàn dân tập thể dục của Bác Hồ, là điều không thể chối cãi. Việc bạn ngồi lâu hay lười vận động tạo điều khiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể bạn và bệnh tiểu đường cũng như vậy.

    Khám bệnh thường xuyên, định kỳ

    Có những bệnh nhân chỉ nhận biết mình bị bệnh khi đi khám sức khỏe vì các biểu hiện bệnh không rõ, khó nhận biết. Do đó, để phát hiện bệnh sớm để có cách chữa trị kịp thời luôn là lời khuyên bổ ích đến từ các bác sĩ.

    Lưu ý: Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không nên áp dụng khi không có sự hướng dẫn và sử dụng từ bác sĩ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Thận Mạn: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Bệnh Thận Mạn Ở Trẻ Em
  • Bạn Đã Hiểu Đúng Những Khái Niệm Về Bệnh Gout Chưa?
  • Gout _ Chẩn Đoán Và Điều Trị
  • Định Nghĩa, Nguyên Nhân, Cách Phòng Bệnh Gout Từ Trong Trứng Nước
  • Yếu Sinh Lý Nam: Khái Niệm, Nguyên Nhân, Tác Hại Và Cách Trị Hiệu Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Yếu Sinh Lý : Khái Niệm, Nguyên Nhân, Dấu Hiệu & Cách Chữa
  • Yếu Sinh Lý Ở Nam Giới Khám Chữa Ở Đâu Tốt
  • Định Nghĩa Yoga Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Yoga
  • Khái Niệm Yoga Trong Phật Giáo
  • Yoga Là Gì? Lợi Ích Của Yoga Đối Với Sức Khỏe Và Tinh Thần
  • Yếu sinh lý nam là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay không chỉ ở phái mạnh mà còn ở phái đẹp nữa.

    Để tránh bị ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và hạnh phúc lứa đôi, chúng ta cần phải hiểu rõ được các vấn đề xung quanh tình trạng yếu sinh lý nam: từ khái niệm, dấu hiệu, nguyên nhân, tác hại đến cách trị và khắc phục hiệu quả.

    Khái niệm yếu sinh lý nam

    Yếu sinh lý nam là cụm từ dùng để chỉ sự rối loạn chức năng tình dục ở nam giới. Sự rối loạn này được thể hiện qua sự ham muốn, hưng phấn tình dục hay sự cương cứng của dương vật…

    + Suy giảm ham muốn tình dục, ít có nhu cầu quan hệ.

    + Rối loạn cương dương: khó cương dương vật, thời gian cương dương ngắn…

    + Rối loạn xuất tinh: xuất tinh sớm, khó hoặc không xuất tinh được.

    + Đau rát hay không đạt được khoái cảm khi quan hệ…

    Đâu là nguyên nhân gây yếu sinh lý nam ?

    Nhiều nam giới không hiểu nguyên nhân gì mà mình gặp phải tình trạng như vậy. Thông thường, yếu sinh lý không xuất phát từ 1 lý do mà là hệ quả của nhiều tác nhân mà thành.

    Theo các chuyên gia, 6 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do: tuổi tác, bệnh lý, tâm lý, dùng thuốc tây y, chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt.

    Tuổi cao là nguyên nhân gây yếu sinh lý nam

    Thông thường yếu sinh lý sẽ xảy ra từ độ tuổi trung niên trở lên. Nguyên nhân là do lúc này cơ thể bắt đầu lão hóa, các cơ quan bộ phận bị suy giảm chức năng bao gồm cả các cơ quan sinh sản, sinh dục.

    Bên cạnh đó, một số bệnh lý khác cũng ảnh hưởng nhiều đến sinh lý nam giới như: đái tháo đường, cao huyết áp hay các bệnh về tim mạch…

    Tâm lý là yếu tố quan trọng tác động đến sinh lý của nam giới

    Một trong những nguyên nhân phổ biến gây yếu sinh lý ở nam giới là yếu tố tâm lý. Thường xuyên căng thẳng stress, lo lắng, áp lực công việc hay tâm lý buồn đau… sẽ khiến cho phái mạnh bị suy giảm bản lĩnh “chốn phòng the”.

    Nếu nam giới ăn uống không đầy đủ, thiếu chất dinh dưỡng hoặc sử dụng quá nhiều những thực phẩm không tốt cho sinh lý như rau răm, sữa đậu nành, bột mì, muối, các món ăn nhiều dầu mỡ, thực phẩm chế biến sẵn… thì nguy cơ bị yếu sinh lý sẽ rất cao.

    Theo các chuyên gia, tình trạng nam giới bị yếu sinh lý có thể do tác dụng phụ của một số loại thuốc điều trị tây y như thuốc an thần, chống trầm cảm, thuốc tiểu đường, mỡ máu và cao huyết áp…

    Lối sống bừa bãi là nguyên nhân dẫn đến yếu sinh lý nam

    + Quan hệ tình dục quá nhiều: khiến cho các cơ quan sinh dục, sinh sản bị quá tải và suy giảm chức năng.

    + Lạm dụng rượu bia, đồ uống có cồn, chất kích thích: một số nghiên cứu khoa học cho thấy rằng uống bia rượu nhiều và thường xuyên sẽ dẫn tới tình trạng suy giảm hoạt động tình dục, yếu sinh lý, đồng thời khiến số lượng và chất lượng tinh trùng giảm đáng kể…

    + Hút thuốc lá: thói quen này là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến yếu sinh lý do ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của hệ tim mạch.

    Tác hại của yếu sinh lý nam

    Yếu sinh lý nam sẽ dẫn đến những hậu quả nào ?

    Đầu tiên yếu sinh lý sẽ khiến cho sức khỏe của nam giới bị giảm sút nghiêm trọng. Theo ước tính, những nam giới yếu sinh lý có tình trạng sức khỏe kém hơn so với người bình thường khoảng 30-50%. Nguyên nhân là do:

    + Họ không được hưởng trọn vẹn những lợi ích mà tình dục mang lại cho sức khỏe và tinh thần.

    + Đồng thời do nồng độ testosterone suy giảm nên sinh lực dành cho các hoạt động thể chất của đàn ông yếu sinh lý cũng bị giới hạn.

    Cùng với sức khỏe thì tâm lý của các quý ông cũng sẽ trở nên xấu đi. Sự tự ti mặc cảm, thiếu tự tin sẽ làm cho nam giới luôn ở trong tình trạng suy nghĩ tiêu cực và tồi tệ.

    Bên cạnh đó, các thống kê xã hội học đã chỉ ra rằng đời sống tình dục không hoà hợp là nguyên nhân rất lớn dẫn đến các vụ ly hôn ở các cặp vợ chồng. Người chồng mắc bệnh yếu sinh lý một mặt không đáp ứng được nhu cầu chăn gối của người vợ khiến họ chán nản và thiếu thốn. Bản thân người chồng cũng từ đó mà tự ti, lãnh cảm, giữ khoảng cách với vợ. Rạn nứt hôn nhân là một trong những hệ luỵ đáng kể của bệnh yếu sinh lý nam giới.

    Cách trị yếu sinh lý cho nam giới

    Cách trị yếu sinh lý nam hiệu quả

    + Không lạm dụng thuốc tây: chỉ được sử dụng thuốc tây khi có chỉ định của bác sỹ và phải dùng theo đúng liều lượng hướng dẫn để tránh gặp phải các tác dụng phụ không mong muốn.

    + Thay đổi lối sống sinh hoạt một cách lành mạnh, loại bỏ các thói quen xấu dẫn đến tình trạng yếu sinh lý đã nêu ra ở trên.

    + Xây dựng chế độ ăn uống khoa học: ăn nhiều các thực phẩm giúp tăng cường sinh lý, đồng thời hạn chế tối đa những loại thực phẩm ảnh hưởng xấu đến sinh lý nam giới.

    + Thay đổi suy nghĩ tích cực, hạn chế căng thẳng, thường xuyên thư giãn đầu óc, đặc biệt là với nam giới yếu sinh lý do vấn đề tâm lý.

    + Nếu yếu sinh lý ở nam giới là do bệnh lý gây ra thì trước tiên cần phải điều trị dứt điểm các bệnh này trước.

    + Tăng cường luyện tập thể chất: không những giúp nâng cao sức khỏe, giúp thư giãn đầu óc giải tỏa stress mà còn giúp thúc đẩy quá trình sản sinh hormon nội tiết trong cơ thể.

    + Sử dụng kết hợp thêm sản phẩm hỗ trợ từ thiên nhiên: đây là cách giúp trị yếu sinh lý ở nam giới hiệu quả cao, tiết kiệm thời gian mà lại an toàn lành tính, không gây ra các tác dụng phụ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

    Thảo dược dành cho nam giới

    5 Thảo dược giúp trị yếu sinh lý cho nam giới

    Chính vì vậy, các quý ông nên sử dụng các loại thảo dược có nguồn gốc từ tự nhiên giúp cải thiện chức năng sinh lý rất tốt như: Lá cây Damiana, Rễ cây Sarsaparilla, Muira puama, Hạt Guarana.

    + Lá cây Damiana: là loại thảo dược mọc hoang dã ở Tây Nam Texas, Hoa Kỳ, Trung Mỹ, Mexico, Nam Mỹ… giúp kích thích ham muốn tình dục, hỗ trợ điều trị chứng bất lực, rối loạn cương dương, lãnh cảm ở nam giới.

    + Rễ cây Sarsaparilla: là loại cây thuốc ở Ấn Độ rất giàu các khoáng chất như kali, crom, magie, selen, đồng, kẽm có tác dụng giúp tăng cường sinh lý, nâng cao chức năng tình dục, cải thiện khả năng sinh sản và có thể dùng trong các trường hợp rối loạn cương dương, liệt dương…

    + Muira puama: là loại thảo dược ở Nam Mỹ có chứa nhiều Sterol tự nhiên. Đây là hợp chất quan trọng cho quá trình tổng hợp testosterone nội sinh giúp tăng ham muốn tình dục, tăng khả năng cương dương.

    + Hạt Guarana: là loại hạt có tác dụng giúp bồi bổ cơ thể, cung cấp năng lượng cho cơ thể, giúp kích thích tình dục và hỗ trợ điều trị chứng rối loạn cương dương.

    Mặc dù tác dụng chậm nhưng bù lại hiệu quả của các loại thảo dược này sẽ bền vững và lâu dài hơn. Không những vậy khi sử dụng thảo dược, nam giới hoàn toàn không phải lo lắng về những tác phụ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

    BoniSeal – Bí quyết khắc phục yếu sinh lý an toàn hiệu quả cho phái mạnh

    Nếu như các quý ông đang tìm kiếm một sản phẩm thiên nhiên giúp tăng cường sinh lý vượt trội thì BoniSeal chính là sự lựa chọn hàng đầu hiện nay. Đây là sản phẩm có thành phần toàn diện nhất trên thị trường hiện nay bởi ngoài thảo dược, BoniSeal còn có tinh chất động vật giúp phát huy tác dụng nhanh và mạnh hơn.

    BoniSeal – Bí quyết khắc phục yếu sinh lý an toàn hiệu quả cho phái mạnh

    + Nhóm thảo dược: Chiết xuất từ hạt Guarana, Chiết xuất thảo dược Muira puama, lá cây Damiana, Boron, Rễ cây sarsaparilla. Đây đều là những thảo dược mọc phổ biến ở Nam Mỹ, Hoa Kỳ và Mexico, từ lâu đã được người dân bản địa sử dụng để tăng cường sinh lực cho nam giới, phòng chống mãn dục nam và bệnh phì đại tiền liệt tuyến.

    + Nhóm thành phần có nguồn gốc động vật: Tinh hoàn hải cẩu, Albumin trứng, Hàu, Sữa ong chúa. Đây là những thành phần giúp cải thiện sinh lý nam giới với hoạt lực nhanh, mạnh và bền vững hơn rất nhiều so với thảo dược. Đặc biệt là tinh hoàn hải cẩu, từ lâu đã được xem là đặc sản giúp tăng cường testosterone nội sinh cho nam giới, từ đó giúp tăng cường sinh lý rất hiệu quả.

    + Nhóm vi chất bao gồm: Kẽm, vitamin E, C, B3, B6… Trong đó quan trọng nhất là kẽm – thành phần quan trọng trong tinh dịch của nam giới, ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng của tinh trùng, có vai trò cực kỳ quan trọng giúp hỗ trợ điều trị vô sinh nam .

    Không chỉ có công thức thành phần toàn diện với nhiều nhóm thành phần, ưu điểm đột phá của BoniSeal còn nằm ở công nghệ bào chế hiện đại hàng đầu thế giới. Đó là công nghệ Microfluidizer từ Mỹ và Canada – Công nghệ giúp tối ưu sinh khả dụng, khả năng hấp thu của các thành phần và nâng cao hiệu quả tác dụng lên gấp nhiều lần so với các phương pháp bào chế thông thường.

    Cơ chế tác dụng của BoniSeal

    Chú Nguyễn Mạnh Hùng, 65 tuổi, ở số 119 lầu 1,2,3 đường 3/2, p.11, q.10, Hồ Chí Minh, điện thoại: 0937.126.994

    Dùng thuốc tây điều trị chứng tiểu đêm nhiều lần của mình khiến chú Hùng bị suy giảm chức năng sinh lý nghiêm trọng. Chú không còn bất cứ ham muốn hay hứng thú gì về chuyện chăn gối nữa, nhìn thấy vợ mà như khúc gỗ chẳng có ham muốn gì cả. Nhưng mọi chuyện đã thay đổi từ khi chú sử dụng BoniSeal, không ngờ có thể cải thiện được ở độ tuổi của chú. 1 tháng 2 vợ chồng cũng gần gũi được đôi ba lần, nồng nàn như thuở mới yêu. Chú cảm ơn BoniSeal nhiều lắm!

    Bác Nguyễn Đình Độ, 71 tuổi, số 143, ngõ 7 thôn Phú Diễn, xã Hữu Hòa, Thanh Trì, Hà Nội, điện thoại: 0358.173.144

    Bác vừa bị suy giảm chức năng sinh lý do tuổi tác vừa bị tình trạng tiểu đêm nhiều lần do phì đại tiền liệt tuyến kích thước lên tới 47gr. Nhờ dùng đều đặn BoniSeal mà không những sinh lý của bác quay trở lại như thời thanh niên mà người còn khỏe, dẻo dai hơn, tiểu đêm chỉ còn 1 lần hoặc không lần nào và đặc biệt kích thước tiền liệt tuyến chỉ còn 26gr.

    Chú Nguyễn Đức Trí, 66 tuổi, thôn Ngô Nội, xã Trung Nghĩa, Yên Phong, Bắc Ninh, điện thoại: 0977959448

    Chú bị tiểu nhiều, ban ngày cứ 1 tiếng tiểu 1 lần, ban đêm thì tiểu tới 3-4 lần, dòng tiểu nhỏ, phải rặn khi đi tiểu. Cũng thời gian này sinh lý của chú bị suy giảm nghiêm trọng, người lúc nào cũng mệt mỏi, yếu xìu, không còn ham muốn vợ chồng nữa. Tưởng rằng tới tuổi thì phải chịu, nào ngờ gặp được BoniSeal, tình trạng cải thiện hẳn, không những hết tình trạng tiểu đêm nhiều, tiểu khó mà người còn khỏe lên, sinh lý cải thiện rõ rệt. 1 tuần hai vợ chồng cũng gặp nhau được đôi ba lần, vô cùng sung sức.

    Tác dụng của BoniSeal không chỉ được khẳng định qua hiệu quả của những bệnh nhân sử dụng mà BoniSeal còn được các chuyên gia đánh giá cao khi vinh dự được nhận được cúp và giải thưởng “Sản phẩm vàng vì sức khỏe cộng đồng” năm 2021- đây là giải thưởng thường niên do chủ tịch hiệp hội thực phẩm chức năng trao tặng.

    Sản phẩm vàng vì sức khỏe cộng đồng

    BoniSeal – Sản phẩm chính hãng của tập đoàn Viva Nutraceuticals từ Mỹ và Canada

    Phân phối độc quyền tại Việt Nam bởi công ty Botania.

    Địa chỉ: 204 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội.

    Tổng đài tư vấn miễn phí: 18001044

    Mời các bạn xem giấy phép của Bộ y tế TẠI ĐÂY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Yếu Sinh Lý
  • Xe Tải 3 Chân Là Gì?
  • Xe Tải Dưới 1,5 Tấn Có Thể Không Được Coi Là Xe Con Nữa
  • Định Nghĩa Xe Tải Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Xe Tải
  • Thông Tư 06 Của Bộ Gtvt: Xe Tải Hóa… Xe Con
  • Ngôn Ngữ Học Xã Hội: Những Quan Niệm Và Khuynh Hướng (Phần 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đối Tượng Nghiên Cứu Của Xã Hội Học Là Gì
  • Thuật Ngữ Chính Xác Cho Con Trỏ Chuột / Núm Vú / Cần Điều Khiển Ở Giữa Bàn Phím Của Máy Tính Xách Tay Là Gì?
  • Những Thuật Ngữ Y Khoa Bác Sĩ Không Muốn Cho Người Bệnh Biết
  • Dịch Thuật Y Khoa: Liệu Nó Có Làm Đơn Giản Hóa Các Thuật Ngữ Y Khoa
  • Chuẩn Kiến Thức Lớp 9 Môn Ngữ Văn
  • Tác giả: TRẦN THANH ÁI

    ( Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ)

    3. Ngôn ngữ học Xã hội: Những quan niệm và khuynh hướng

    Sự khủng hoảng của ngôn ngữ học hình thức nói chung và ngôn ngữ học cấu trúc nói riêng đã phát sinh nhu cầu cần phải đổi mới trong ngành nghiên cứu ngôn ngữ, như nhận định của P. Kuentz:

    “Vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay là phải xây dựng một ngành ngôn ngữ học mới. Nói như thế không có nghĩa là phải vượt lên trên ngôn ngữ học, mà là giúp ngôn ngữ học tự vượt lên trên chính mình, nghĩa là phải vừa mở rộng lĩnh vực nghiên cứu của nó, vừa duy trì yêu cầu kiểm tra nghiêm ngặt những thao tác ấy. Dấu hiệu của một sự biến đổi trong lĩnh vực này ngày càng rõ nét. Bây giờ chỉ còn việc là tạo ra những công cụ cho phép mở rộng quyền lực của ngôn ngữ học mà không làm mất đi tính chất nghiêm ngặt của tiến trình” (dẫn lại từ Kerbrat-Orecchioni, 1980: 5).

    “Ngôn ngữ học hình thức, sau khi đã giải quyết được nhiều sự kiện ngôn ngữ, đã tỏ ra bất lực, không thể kham nổi hiện tượng biến đổi ngôn ngữ, và đồng thời, nó cũng không giải đáp được những câu hỏi mà nó đã từ chối nêu ra nhưng cuộc sống lại đặt ra với nó, những câu hỏi về vị trí và vai trò của các hiện tượng ngôn ngữ trong xã hội: hai bất lực này (…) dẫn đến việc xem xét lại ngôn ngữ học hình thức và việc đăng quang của cái mà những người lạc quan gọi là một ngành học, còn những người bi quan thì gọi là một nhãn hiệu: đó là ngôn ngữ học xã hội” (Marcellesi, 1980: 4).

    Điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ học hình thức không còn vai trò của nó nữa. J.-B. Marcellesi đã không ít lần lưu ý rằng sự thành công của ngôn ngữ học xã hội không hề có nghĩa là ngôn ngữ học hình thức là vô ích, phù phiếm. Mỗi ngành nghiên cứu nhằm giải đáp một số vấn đề, nhưng trong số những vấn đề ấy, có những vấn đề cấp bách hơn những vấn đề khác.

    3.1 Một số quan niệm khác nhau về ngôn ngữ học xã hội

    Thuật ngữ sociolinguistique gồm hai yếu tố: socio-linguistique và có thể được hiểu theo hai cách khác nhau: thứ nhất, socio– có thể được coi là tiền tố phái sinh của từ social (thuộc về xã hội), như trong các cụm từ socioculturel (văn hóa xã hội) hoặc socioéconomique (kinh tế xã hội). Giải thích như thế chẳng khác nào cho rằng thuật ngữ sociolinguisque bao hàm một sự trùng lắp ý, bởi vì bản thân ngôn ngữ học đã mang bản chất xã hội. Cách giải thích thứ hai cho rằng socio– là từ viết tắt của sociologie (xã hội học). Như thế, sociolinguistique là ngành nghiên cứu những hiện tượng ngôn ngữ bằng cách sử dụng những công cụ nghiên cứu mà ngành xã hội học đã tạo ra.

    Thật ra, vấn đề không chỉ đơn giản như vậy. Fishman (1971) đã cố gắng đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này bằng cách xác định nhiệm vụ nghiên cứu của nó:

    “Ngôn ngữ học xã hội nhằm xác định ai nói? bằng ngôn ngữ nào? khi nào? về vấn đề gì? và nói với ai? Vì thế ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu đặc điểm của những dạng thái khác nhau của ngôn ngữ, đặc điểm của chức năng của chúng và đặc điểm của người sử dụng chúng, vì cho rằng ba yếu tố này không ngừng tác động qua lại với nhau và biến đổi ngay trong cộng đồng ngôn ngữ.” (Fishman, 1971: 68).

    Theo Todorov (1972), ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu mối quan hệ giữa hoạt động ngôn ngữ và xã hội hoặc nền văn hóa, hoặc tập tính của con người. Chính vì thế, tác giả này cho rằng đây không phải là một ngành khoa học duy nhất, mà là một tập hợp gồm nhiều ngành nghiên cứu khác nhau và tính chất đa dạng này thể hiện qua các tên gọi của nó: xã hội học về hoạt động ngôn ngữ (sociologie du langage), ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistique), ngôn ngữ học chủng tộc (ethnolinguistique), nhân chủng học ngôn ngữ (anthropologie linguistique), ngôn ngữ học nhân chủng (linguistique anthropologique)…

    Qua cách quan niệm mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, người ta phân biệt hai phương pháp nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học xã hội như sau:

    3.1.1 Quan niệm xem xã hội và hoạt động ngôn ngữ có mối quan hệ nhân quả

    Khái quát về quan niệm này, Ducrot diễn đạt mối quan hệ giữa xã hội và hoạt động ngôn ngữ trong sự quan tâm của ngôn ngữ học xã hội như:

    “Người ta nêu ra sự tồn tại của hai thực thể riêng biệt: hoạt động ngôn ngữ và xã hội (hoặc văn hóa…), ta nghiên cứu thực thể này qua sự tồn tại của thực thể kia. Ta xem cái này như là nguyên nhân, cái kia như là kết quả và ta nghiên cứu kết quả nhằm tìm hiểu nguyên nhân, hoặc ngược lại, tùy theo việc thực thể nào sẵn sàng cho sự phân tích chặt chẽ. Nhưng thường thường, xã hội là mục đích của nghiên cứu, và hoạt động ngôn ngữ là trung gian để đạt đến mục đích nghiên cứu” (Ducrot & Todorov, 1972: 84).

    Trong quan niệm này, có hai khuynh hướng ngôn ngữ học xã hội trái ngược nhau:

    Quan niệm xem xã hội là nhân tố quy định ngôn ngữ

    Theo quan điểm truyền thống, xã hội quy định mọi hoạt động ngôn ngữ. Vì thế, việc nghiên cứu các biến thể ngôn ngữ (variantes linguistiques) sẽ cho phép xác định các biến thể xã hội học (variantes sociologiques) đã tạo ra chúng. Chẳng hạn trong tiếng Việt, ta có nhiều từ khác nhau để xưng hô trong khi trò chuyện: ông, bác, chú, anh, cậu, cháu, em… để gọi người đối thoại là nam giới, bà, bác, cô, chị, em, cháu... để gọi người đối thoại là nữ giới. Phân tích những trường hợp sử dụng các từ xưng hô ấy cho phép nhà nghiên cứu rút ra được những kết luận về mối quan hệ giữa những người tham gia trò chuyện, đồng thời đưa ra những phác họa về cấu trúc xã hội mà các chủ thể nói năng đang sống: các dạng xưng hô phong phú trong tiếng Việt thể hiện một cấu trúc xã hội chặt chẽ, có nhiều tầng lớp (hiérarchisé) (xem Nguyễn Phú Phong, 1995). Roger Brown (Hoa Kỳ) là người đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực này và KerbratOrecchioni (1990, 1992, 1994) ở Pháp đã phác họa nên bức tranh khá toàn diện về những nghi thức lời nói của nhiều dân tộc trên thế giới để cho thấy sự khác biệt trong cách sử dụng ngôn ngữ phản ánh sự khác biệt về cấu trúc xã hội.

    W. Labov xuất phát từ quan niệm “hoạt động ngôn ngữ là biểu hiện nhạy cảm của các quá trình xã hội”, đã tiến hành nghiên cứu những biến thể âm vị (variantes phonologiques) trong phương ngữ của dân cư ở New York, từ đó tìm ra mối liên hệ của hoạt động ngôn ngữ với sự khác biệt xã hội (nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thu nhập,…). “Phương hướng nghiên cứu này mang đậm nét xã hội học và ta có thể gọi nó là ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistique)” (Todorov, 1972: 85).

    Quan điểm này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về lịch sử từ vựng, theo đó, từ ngữ được quy định bởi những khám phá khoa học, kỹ thuật và những biến đổi xã hội.

    Quan niệm xem ngôn ngữ là nhân tố quy định xã hội

    Một khuynh hướng nghiên cứu khác xuất phát từ quan điểm ngược lại, theo đó hoạt động ngôn ngữ không phải là sự phản ánh của các cấu trúc văn hóa, xã hội hoặc tâm lý, mà là nguyên nhân của chúng. Nói cách khác, các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này cho rằng chính hoạt động ngôn ngữ quy định xã hội, thậm chí, như R. Barthes đã nói, “ngôn ngữ là phát xít, vì nó buộc người ta phải nói; ngôn ngữ là nơi ẩn chứa quyền lực của con người…, nói chính là chế ngự” (1978: 12). Chính vì thế, để tìm hiểu văn hóa, xã hội của một cộng đồng dân cư, người ta có thể nghiên cứu các hoạt động ngôn ngữ. Người ta gọi đó là ngôn ngữ học chủng tộc (ethnolinguistique). Đại diện cho khuynh hướng này là W. von Humboldt. Ông cho rằng hoạt động ngôn ngữ tổ chức (organiser) và quy định thế giới quanh ta. Quan điểm của Humboldt đã làm nền tảng cho nhiều khuynh hướng nghiên cứu khác:

    a) Phái “Humboldt mới” ở Đức (Weisgerber, Trier, Porzig,…): Theo họ, hoạt động ngôn ngữ gắn liền với một thế giới quan, vì mỗi dân tộc có một ngôn ngữ, nên nghiên cứu một ngôn ngữ có thể biết được tinh thần cũng như tính cách của dân tộc đó. Việc nghiên cứu này dựa trên phân tích các trường ngữ nghĩa (champs sémantiques) trong thế giới tự nhiên cũng như trong đời sống vật chất hoặc tinh thần, vì các trường ngữ nghĩa ấy được cơ cấu khác nhau giữa ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác: khái niệm “đất nước” trong cụm từ Việt Nam, đất nước và con người chẳng hạn, được thể hiện bằng cách kết hợp “đất” và “nước”, nhưng trong tiếng Pháp (hoặc tiếng Anh chẳng hạn), cách thể hiện khái niệm này hoàn toàn khác (P.: pays, A.: country).

    b) Phái “Sapir-Whorf” ở Hoa Kỳ: khuynh hướng này rất thịnh hành trong những năm 30 và 40. Dựa trên những kết quả nghiên cứu của Sapir, Benjamin Lee Whorf muốn chứng minh rằng các phạm trù cơ bản nhất của tư tưởng như là thời gian, không gian, chủ thể, khách thể,… không giống nhau giữa các ngôn ngữ không cùng ngữ hệ, chẳng hạn như giữa tiếng Anh và tiếng Hopi của các bộ lạc da đỏ. Khác với phái Humboldt mới, Whorf quan tâm đến các phạm trù ngữ pháp hơn là những cấu trúc từ vựng.

    Quan niệm xem ngôn ngữ và xã hội có sự đồng biến

    Khuynh hướng thứ ba, cho rằng có một sự đồng biến (covariance) giữa các hiện tượng xã hội và ngôn ngữ. Tuy nhiên, khuynh hướng này lại phân hóa theo hai quan điểm trái ngược nhau:

    a) Quan điểm thực chứng luận mặc dù nhìn nhận hiện tượng đồng biến, nhưng từ chối khái quát thành tính nhân quả của hiện tượng này.

    b) Quan điểm biện chứng cho rằng có sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả tương hỗ giữa các hiện tượng xã hội và hiện tượng ngôn ngữ. Mối quan hệ này thể hiện bởi vô vàn những tương tác phức tạp, trong đó, một hiện tượng của lĩnh vực này là hậu quả của nhiều nguyên nhân từ lĩnh vực kia và ngược lại. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm này cho rằng sự đồng biến hàm chứa nguyên lý nhân quả, theo đó, chính nhu cầu quan hệ xã hội đã sản sinh ra ngôn ngữ. Vì thế, việc mô tả tính chất đa dạng ngôn ngữ chính là lịch sử các mối quan hệ xã hội. Đến đây, chúng ta nhận thấy rằng khái niệm đồng biến bắt nguồn từ khái niệm sự tương ứng tổng quát (correspondance générale) mà J. Dubois đã chứng minh trong công trình xuất bản năm 1962: Le vocabulaire politique et social en France de 1869 à 1872 (Từ vựng chính trị và xã hội ở Pháp từ năm 1869 đến 1872). Nổi bật nhất về quan điểm này là trường phái Rouen, mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.

    3.1.2 Quan niệm xem hoạt động ngôn ngữ như là một hoạt động xã hội, một loại tập tính

    Khuynh hướng nghiên cứu này không nhằm đối lập xã hội với hoạt động ngôn ngữ, mà tạo ra đối tượng nghiên cứu mới là hoạt động ngôn ngữ với tư cách là một hoạt động xã hội. Các nhà nghiên cứu theo khuynh hướng này cho rằng mối quan hệ giữa xã hội và hoạt động ngôn ngữ không phải là mối quan hệ nhân quả, mà là quan hệ họ hàng, vì chúng cùng chịu sự chi phối bởi một nhân tố sâu kín hơn, mà theo D. Hymes, đó là văn hóa. Người ta gọi khuynh hướng này là nhân chủng học ngôn ngữ (anthropologie linguistique). Thật ra ý tưởng hoạt động ngôn ngữ có thể được xem như một phương thức hành động (mode actionnel) không phải là mới mẻ. Nhưng phải đợi đến các công trình nghiên cứu của Bronislav Malinowski thì ý tưởng ấy mới được nâng lên thành một khuynh hướng khoa học. Ông phân biệt các phát ngôn (énoncé) theo chức năng của chúng: những phát ngôn thông dụng trong các ngôn ngữ hiện đại chủ yếu nhằm diễn đạt tư tưởng, những phát ngôn thông dụng trong các ngôn ngữ “sơ khai” dùng để thực hiện một hành động nào đó. Malinowski xem các phát ngôn không có giá trị về mặt thông tin, mà chỉ có chức năng thiết lập quan hệ liên cá nhân (các phát ngôn về thời tiết, các câu chào hỏi thể hiện phép lịch sự, các câu hỏi thăm sức khỏe…) như là những minh họa cho phương thức hành động của hoạt động ngôn ngữ.

    Ý tưởng của Malinowski được nhà nghiên cứu người Anh J.R. Firth và các học trò của ông tiếp tục, nhưng ông cho rằng mọi phát ngôn đều có chức năng hành động. Chính sự nhìn nhận này đã khiến ông khẳng định tầm quan trọng của bối cảnh tình huống (contexte de situation) và gợi ý hai cấp độ nghiên cứu: cấp độ tình huống (xưng hô, chào hỏi, thiết lập quan hệ…) và cấp độ chức năng (đồng ý, khuyến khích, lên án, chịu trách nhiệm, hoặc mong muốn, nguyền rủa, thách thức, tự hào…). Nhưng Firth cũng chỉ dừng lại ở việc lập nên các danh sách trên.

    Gần như cùng thời gian ấy, Hội Ngôn ngữ học Praha cũng đã tiến hành những công việc nghiên cứu tương tự nhưng hoàn toàn độc lập với các nhà nghiên cứu người Anh. Cách tiếp cận của Hội là chức năng của ngôn ngữ, nên các thành viên của Hội không những quan tâm đến các chức năng cơ bản của hoạt động ngôn ngữ theo tinh thần của Buhler (gồm các chức năng chủ yếu như chức năng thể hiện nhằm vào nội dung quy chiếu, chức năng biểu cảm cho biết mối quan hệ giữa người phát ngôn với cái mà anh ta nói đến, và chức năng mời gọi hướng về người đối thoại), mà còn đến nhiều chức năng khác mà một phát ngôn có thể đảm nhận.

    Ở Pháp, các nhà chủng tộc học như Durkheim, Mauss, Granet luôn nhạy cảm với các vấn đề về ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ như Saussure, Meillet, Vendryes luôn tìm cách gắn lý thuyết ngôn ngữ của họ với các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, phải đợi đến công trình của Marcel Cohen Vì một ngành xã hội học về hoạt động ngôn ngữ (1956) ta mới có một cái nhìn hệ thống về lĩnh vực này. Thay vì gọi chức năng (fonction), Cohen nói đến sức mạnh của ngôn ngữ (puissances du langage), và tập hợp chúng như sau:

     Lời nói và sức mạnh siêu nhiên (các lễ hội tế thần, ma thuật, lời tiên tri, tên người, tên nơi chốn…);

     Các câu nói thông dụng trong các mối quan hệ giữa người với nhau (gặp gỡ và chia tay; yêu cầu và cám ơn; chúc tụng, khen ngợi, mong ước, phàn nàn, chia buồn, đề tặng; hứa hẹn, thề nguyền; thù địch và hòa bình…);

     Thuyết phục và chỉ dẫn;

     Giải trí (văn học; sân khấu; phát thanh và truyền hình; chơi chữ…).

    Một đóng góp quan trọng của ngành nhân chủng học ngôn ngữ đến từ các triết gia Anh, là những chuyên gia về ngôn ngữ đời thường (langage ordinaire). Wittgenstein và nhất là Austin, đã tìm cách mô tả các trường hợp sử dụng khác nhau của ngôn ngữ, đã xây dựng nên khái niệm lực ngôn trung (force illocutoire). Lực ngôn trung tồn tại trong mọi phát ngôn, nó gắn liền với ngữ nghĩa nhưng không đồng nhất với ngữ nghĩa. Austin đã khảo sát tất cả các động từ trong tiếng Anh dùng để chỉ một hành động được thực hiện bằng lời nói.

    3.2 Các trường phái chủ yếu của ngôn ngữ học xã hội

    Ngôn ngữ học xã hội phát triển theo ba trường phái chính.

    Ngôn ngữ học xã hội biến đổi (sociolinguistique variationniste)

    Người xây dựng nền móng cho khuynh hướng nghiên cứu này là William Labov. Ông nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ những dị biệt ngôn ngữ và như thế đối lập với Noam Chomsky, người chọn mục tiêu nghiên cứu là năng lực ngôn ngữ của một người nói/nghe lý tưởng thuộc một cộng đồng ngôn ngữ đồng nhất, dựa trên việc xét đoán về tính ngữ pháp. Ngôn ngữ học xã hội biến đổi quan tâm đến ngôn ngữ được sử dụng thật sự trong một cộng đồng ngôn ngữ, nó quan tâm đến tất cả những gì biến đổi trong một ngôn ngữ, để nghiên cứu cấu trúc xã hội của hiện tượng biến đổi ấy. Vì thế, nó không thể chọn tính chất đồng nhất ngôn ngữ làm định đề.

     Phân tích các thay đổi ngôn ngữ đang diễn ra;

     Nghiên cứu các dữ liệu của các hoạt động ngôn ngữ tự phát;

     Quan sát các cách sử dụng ngôn ngữ trong các mạng lưới xã hội.

    Sự thay đổi ngôn ngữ

    Xuất phát từ luận điểm của A. Meillet và nhất là của U. Weinreich, theo đó mọi ngôn ngữ đều đang trong quá trình thay đổi và nhà nghiên cứu chỉ có thể nắm bắt được sự thay đổi đó bằng cách gắn nó với sự thay đổi xã hội với những biến đổi trong đời sống mà những biến thể ngôn ngữ chỉ là những hậu quả mà thôi, Labov cho rằng cần phải từ bỏ quan niệm ngôn ngữ là đồng nhất, cái cách chỉ tiến hành nghiên cứu trên cấu trúc ngôn ngữ, phải thiết lập các mối quan hệ giữa sức ép bên trong cấu trúc ngôn ngữ và sức ép bên ngoài từ xã hội. Có như thế mới có hy vọng hiểu được và giải thích được các sự thay đổi đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trong mọi ngôn ngữ.

    Một công trình nghiên cứu thực địa của W. Labov có thể được coi là tiêu biểu cho phương pháp tiếp cận này, đó là công trình mang tên Các động cơ xã hội của sự thay đổi ngữ âm, được tiến hành trong hai năm 1961-1962 trên hòn đảo Martha’s Vineyard. Mục tiêu của công trình này là nhằm thiết lập nên lịch sử xã hội của một sự thay đổi đang diễn ra, qua cuộc sống của cộng đồng đó. Công trình không chỉ gạt bỏ mọi nguyên nhân nội tại xuất phát từ cấu trúc ngôn ngữ, mà còn tìm lời giải đáp cho ba câu hỏi luôn xuất hiện trong mọi thay đổi ngôn ngữ:

     Hiện tượng biến thể ngôn ngữ xuất phát từ đâu?

     Nó lan tỏa như thế nào?

     Nó có cái gì là ổn định?

    Các công trình nghiên cứu phương ngữ trước đó đều nhận thấy rằng một số nét ngữ âm đặc biệt của người dân đảo này đang phát triển: trong khi người dân trên đất liền phát âm các nguyên âm đôi /ay/ và /aw/ là (ai) và (au), thì người dân ở đảo phát âm là (ei) và (eu). Các biến ngôn ngữ mà Labov chọn hội đủ các điều kiện sau đây: chúng được thể hiện bằng những biến thể khác nhau, chúng có tần số xuất hiện cao, chúng thoát khỏi sự kiểm soát có ý thức của người phát ngôn, chúng thuộc về một cấu trúc rộng hơn bao gồm nhiều đơn vị chức năng, và cuối cùng, chúng có thể định lượng được. Labov đã loại bỏ phương pháp nghiên cứu lịch đại truyền thống, để nghiên cứu sự thay đổi từ những dữ liệu điều tra đồng đại. Đó cũng chính là giả thuyết cơ bản của Labov: sự biến thể quan sát được trong đồng đại thật ra là sự thay đổi ngôn ngữ; nhà nghiên cứu quan sát sự phân bố của một nét ngôn ngữ qua sự khác biệt về tập tính giữa những người phát ngôn.

    Ngôn ngữ học xã hội biến đổi mô tả tất cả những dạng biến đổi được ghi nhận không thuộc cá nhân. Nó phân biệt sự biến đổi xã hội thể hiện qua sự phân tầng mang tính chất xã hội của một biến ngôn ngữ, sự biến đổi phong cách học, xuất hiện trong cùng một diễn ngôn của một người nói. Ngoài ra, còn một dạng biến đổi nữa, không thuộc sự biến đổi xã hội cũng như sự biến đổi phong cách học, đó là sự biến đổi cố hữu, nó xuất hiện trong cùng một phong cách của cùng một người nói, phát sinh từ tính chất dị biệt nội tại trong một hệ thống ngôn ngữ.

    Biến đổi ngôn ngữ học xã hội (variation sociolinguistique)

    Đơn vị phân tích của ngôn ngữ học xã hội là biến ngôn ngữ học xã hội (variable sociolinguistique), tức là một thành phần ngôn ngữ đồng biến với các biến ngoại ngôn ngữ (variable extra-linguistique) như là giai cấp xã hội, giới tính, tuổi tác, cấp độ ngôn ngữ (niveau de langue)… Để xác định một biến ngôn ngữ, người ta khảo sát toàn bộ những dị bản bao gồm những cách nói khác nhau để diễn tả cùng một việc. Sau đó, người ta phân tích những điều kiện ngoại ngôn ngữ quy định việc phát ngôn của các dị bản ấy và tiến hành nghiên cứu việc phân bố xã hội và phong cách của các dị bản.

    Người ta cũng nghiên cứu những nhân tố ngôn ngữ có ảnh hưởng đến việc quyết định chọn dị bản này hay dị bản khác. Tóm lại, ngôn ngữ học xã hội không chỉ nghiên cứu các hiện tượng ngoại ngôn ngữ, nó xem ngôn ngữ như là một hệ thống biến đổi nội tại và nó nghiên cứu các biến đổi ngôn ngữ không phải vì mục đích tự thân, mà để góp phần vào việc nghiên cứu các cấu trúc ngôn ngữ cũng như hiện tượng thay đổi của ngôn ngữ.

    Ngôn ngữ học xã hội tiến hành việc phân tích bằng cách dựa vào các dữ liệu có thật được thu thập một cách có hệ thống. Phương pháp tiến hành là điều tra xã hội học về địa bàn về cách chọn mẫu phân tích, cho đến việc nghiên cứu định lượng và định tính các dữ liệu. Việc điều tra bằng cách đàm đạo thường được bổ sung bằng việc nghiên cứu cộng đồng ngôn ngữ theo quan điểm chủng tộc học.

    Nguồn: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ

    Phần C: Khoa học Xã hội, Nhân văn và Giáo dục: 25 (2013): 79-95

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vắc Xin Là Gì? Tìm Hiểu Về Vắc Xin Là Gì?
  • Triển Vọng Của Công Nghệ Sản Xuất Vacxin
  • Thuật Ngữ Vacxin Có Nguồn Gốc Từ Đâu?
  • Các Thuật Ngữ Chuyên Ngành Ô Tô, Xe Tải
  • Những Thuật Ngữ Cần Biết Khi Định Vay Ngân Hàng Mua Xe Ô Tô Trả Góp
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Phản Biện Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Phản Biện Xã Hội: Ý Nghĩa, Cơ Chế Và Điều Kiện Thực Thi
  • Phản Biện Xã Hội Và Các Hình Thức, Giải Pháp Thực Hiện Ở Hà Nội
  • Thử Tìm Một Cơ Sở Lí Thuyết Cho Khái Niệm Phản Biện Xã Hội
  • Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì? Tổng Quan Về Khái Niệm Bhxh
  • Bảo Hiểm Xã Hội Là Gì?
  • 64782

    1. Khái niệm phản biện xã hội

    Phản biện xã hội là một lĩnh vực phản biện đặc thù. Nếu như phản biện khoa học là hình thức được áp dụng khi tiến hành nghiên cứu, xét duyệt, nghiệm thu các công trình nghiên cứu khoa học để đưa ra các quyết định về tính đúng sai; chủ thể tiến hành các cuộc phản biện khoa học là hội đồng nghiệm thu, đánh giá các công trình nghiên cứu khoa học, đề án, dự án có những thẩm quyền xác định (nghiệm thu – không nghiệm thu, tán thành – không tán thành) đối với công trình nghiên cứu, phát minh, sáng chế được đưa ra xét duyệt, thì phản biện xã hội là hình thức được áp dụng để tìm được sự đồng thuận xã hội về lợi ích trong thẩm định, xét duyệt các chủ trương, đường lối, trong ban hành các đạo luật, trong hoạch định các đề án, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

    Về bản chất, phản biện xã hội là một hình thức thể hiện quyền tự do được xây dựng trên cơ sở quyền tự do ngôn luận. Theo đó, phản biện xã hội chính là quyền bày tỏ ý kiến một cách có hệ thống và có cơ sở khoa học nhằm thực hiện quyền dân chủ của cá nhân đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về quyền con người. Đó là: “1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp; 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ”. Như vậy, quyền tự do ngôn luận được hiểu chính là tiền đề, là điều kiện cơ bản cần thiết để người dân thực hiện phản biện xã hội và phản biện xã hội cũng chính là một trong những hình thức để người dân phát huy vai trò của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội.

    2. Đặc điểm của phản biện xã hội

    Phản biện xã hội có các đặc điểm sau:

    Thứ nhất, phản biện xã hội phải luôn luôn hướng tới việc xem xét, lập luận, phân tích để từ đó lựa chọn hoặc đề xuất phương án thay đổi một cách chính xác và hợp lý nhất.

    Thứ hai, phản biện xã hội là hoạt động mang tính xã hội rõ nét.

    Phản biện xã hội được thực hiện bởi các chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước. Chủ thể phản biện xã hội, hoặc là các thành viên của xã hội, hoặc là các tổ chức xã hội được vận hành theo nguyên tắc dân sự mà không mang tính quyền lực nhà nước. Đặc trưng này thể hiện rõ sự khác biệt giữa phản biện xã hội với phản biện trong các cơ quan nhà nước. Nếu như sự phản biện trong hệ thống các cơ quan nhà nước thể hiện mối quan hệ kiểm soát nội bộ bên trong của hệ thống quyền lực nhà nước thì phản biện xã hội thể hiện sự kiểm soát của xã hội – kiểm soát bên ngoài đối với hệ thống quyền lực đó. “Bất kỳ ai chịu sự tác động của đối tượng phản biện đều có thể trở thành chủ thể phản biện, đều có quyền phản biện và quyền được tôn trọng sự phản biện của mình. Tính dân chủ, tính quần chúng rộng rãi là điều kiện để hoàn thiện đối tượng phản biện và cũng là điều kiện để hoạt động phản biện phát triển”. Một mặt, Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Mặt khác, Nhân dân cũng có thể sử dụng quyền lực của mình một cách trực tiếp thông qua bầu cử, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, hoặc kiến nghị, đóng góp ý kiến hoặc trực tiếp tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và biểu quyết khi được trưng cầu ý dân.

    Mặt khác, người dân còn tham gia vào quá trình phản biện xã hội với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước. Họ là chủ thể của các quan hệ pháp luật, chịu sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của các quy phạm pháp luật, nên cảm nhận rõ ràng những tác động trực tiếp của chính sách, pháp luật đó. Vì vậy, họ có quyền bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình trước những chính sách, pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ hoặc xâm phạm các quyền lợi đó.

    Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, việc phát huy quyền tham gia ý kiến, phản biện của người dân đối với việc thực thi quyền lực chính trị là sự khẳng định nguyên lý: Nhân dân đích thực là chủ thể của quyền lực nhà nước. Phản biện xã hội chính là hình thức để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, là cách biến nguyên lý ” Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ ” từ câu chữ và khẩu hiệu chuyển thành hơi thở hàng ngày của cuộc sống xã hội. Do vậy, quá trình xây dựng pháp luật là một quá trình phức tạp, phải giải quyết những mâu thuẫn, xung đột lợi ích của nhiều nhóm lợi ích trong xã hội, phản ánh nhiều xu thế, quan điểm khác nhau, nhất là trong nền kinh tế thị trường đa sở hữu, đa quan hệ. Chính vì vậy, ngay trong quá trình lập pháp phải có sự “cân, đong, đo, đếm”, hài hoà giữa các nhóm lợi ích, các bộ phận trong xã hội phù hợp với định hướng phát triển của xã hội. Điều này chỉ có thể làm được nếu như các chủ thể trong xã hội được được biết, được tiếp cận, được tham gia ý kiến, đươc kiến nghị, được đối thoại, thể hiện thái độ, ý chí, lợi ích của họ ngay trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật. Nếu các cá nhân tin rằng, họ vừa tham gia một cách có ý nghĩa vào các quyết định ảnh hưởng đến bản thân mình thì họ sẽ sẵn sàng chấp nhận những thay đổi đó hơn. ” Quá trình tham gia mang lại cho cá nhân tiếng nói để định hình một đổi thay, cho nên những thay đổi đó có khả năng dễ được chấp nhận hơn và ít bị đảo ngược hơn khi cơ hội đầu tiên xuất hiện Điều 19 của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR) quy định rằng ” ai cũng có quyền giữ quan điểm mà không can thiệp” và “ai cũng có quyền tự do biểu đạt; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp in ấn, dưới hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác tùy theo sự lựa chọn của họ“. Quyền này cũng nhận và phổ biến thông tin và ý kiến các loại, không kể biên giới quốc gia, bất kể bằng lời nói, bằng văn bản hay được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Điều 10 của Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950, Điều 13 của Công ước châu Mỹ về nhân quyền năm 1969 và Điều 9 của Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc năm 1981.

    Điều 25 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.

    Xem: Hồ Bá Thâm (2009), Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr. 27 và 28.

    Xem: Nguyễn Trần Bạt (2014), Phản biện xã hội, https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/phan_bien_xa_hoi.html, ngày 12/7/2014.

    Xem: Nguyễn Trần Bạt, Phản biện xã hội, tlđd.

    Xem: Nguyễn Chính Tâm (2007), Phản biện xã hội và sự phát triển của Việt Nam, Báo điện tử Vietnamnet, ngày 09/6/2007.

    Xem: Bộ Tư pháp (2005), Chương trình 909, Đề án 5: Xây dựng cơ chế huy động có hiệu quả sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn và nhân dân vào quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Chủ nhiệm Dương Thị Thanh Mai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Bus Là Gì? Các Loại Bus Hệ Thống? Tính Năng Của Bus Hệ Thống?
  • Những Điều Mà Bạn Cần Biết Về Can Bus Hiện Nay!
  • Bus Máy Tính Là Gì ? ” Bazantech Việt Nam
  • Xe Đạp Gấp Là Gì ? Tại Sao Nên Chọn Xe Đạp Gấp
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Đi Xe Đạp Mà Người Mới Bắt Đầu Đi Xe Đạp
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Về Đi Xe Đạp Mà Người Mới Bắt Đầu Đi Xe Đạp

    --- Bài mới hơn ---

  • Xe Đạp Gấp Là Gì ? Tại Sao Nên Chọn Xe Đạp Gấp
  • Bus Máy Tính Là Gì ? ” Bazantech Việt Nam
  • Những Điều Mà Bạn Cần Biết Về Can Bus Hiện Nay!
  • Hệ Thống Bus Là Gì? Các Loại Bus Hệ Thống? Tính Năng Của Bus Hệ Thống?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Phản Biện Xã Hội
  • Khi mùa xuân đến, nhiều người sẽ cố gắng thực hiện một chuyến đi xe dap dia hinh trong những ngày nghỉ. Hoặc bởi vì giá cả đang tăng lên, nhiều người chọn sử dụng xe đạp như một công cụ đi lại, ngoài sự tiện lợi của việc tiết kiệm tiền, họ cũng có thể tăng cường sức khỏe và đạt được kết quả 1 múi tên thắng 2 đích. Tuy nhiên, trước khi chúng ta mua xe đạp, trước tiên chúng ta phải tìm hiểu các khái niệm cơ bản về đi xe đạp mà người mới bắt đầu đi xe đạp:

    Xác định nhu cầu đi xe của bạn

    Tìm hiểu thêm:

    Sau khi thiết lập yêu cầu đi xe của chúng ta, mối quan tâm chính của chúng ta là mối quan hệ giữa khung xe và con người. Khung là cấu trúc quan trọng nhất của một chiếc xe đạp, và nó cũng là yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm đi xe. Trong trường hợp của một chiếc xe đạp đường trường, với mục đích đua xe, nó là tự nhiên nhằm vào một thiết kế nhẹ, và sức mạnh cao là một mối quan tâm của tránh biến dạng vỡ trong khi đi xe. Nói chung, vật liệu của khung là: hợp kim nhôm, hợp kim titan, sợi carbon và thép tổng hợp truyền thống.

    Đo lường và lựa chọn khung dễ dàng

    -Hợp kim nhôm: độ cứng cao, nhưng nó cũng dễ dàng để cảm thấy rung động và độ thoải mái kém.

    -Sợi carbon: độ đàn hồi tốt, kết cấu nhẹ, độ bền cao, nhưng đắt tiền.

    -Hợp kim Titanium: Kết hợp hiệu suất của độ đàn hồi và độ cứng, nhưng chi phí của nó cũng là một bất lợi.

    -Thép tổng hợp: Có nhiều loại vật liệu tổng hợp để lựa chọn, nhưng chúng tương đối nặng.

    Tuy nhiên, do các phương pháp chế biến khác nhau được sử dụng bởi khó để xử lý vật liệu khung, chẳng hạn như chất lượng xử lý nhiệt hoặc rèn và hàn, cũng có những ưu điểm và nhược điểm. Không được làm bằng vật liệu tiên tiến, khung chắc chắn sẽ có một trải nghiệm đi cao cấp. Khuyến cáo rằng người mới bắt đầu có thể tham khảo các sản phẩm được sản xuất bởi các nhà sản xuất nổi tiếng khi mua hàng.

    Trong khi mọi người đang lựa chọn chiếc xe đạp đầu tiên để bắt đầu, sự an toàn và thoải mái nên được ưu tiên cao nhất. Khi chọn khung xe đầu tiên, chú ý xem kích thước của khung có phù hợp với kích thước của người lái hay không. Chúng tôi thường đo chiều cao của người lái bằng cách đo chiều cao của bàn chân đến cánh tay của người lái và chọn kích thước khung xe phù hợp.

    Có rất nhiều loại kích thước khung cho xe đạp và những chiếc xe thương hiệu thường có kích thước cho mỗi hai cm, và đó cũng là một phân loại kích thước cho mỗi cm. Kích thước chung của chiếc xe là từ ngũ thông đến mép trên của riser, có chiều dài từ 47 cm đến 62 cm, được chia thành 8 hoặc 16 kích cỡ. Người lái nên tránh chọn một chiếc xe quá cao. Điều này là để tránh tai nạn có thể dễ dàng gây thiệt hại cho các ống trên của khung và gây thương tích, cũng như các tình huống mà chân không thể đạt xuống đất khi đậu xe.

    Sau đó kiểm tra độ mềm cơ thể của người lái. Kiểm tra phần eo và phần mở rộng sau bằng cách đứng về phía trước và cúi xuống. Sau khi xác định kích thước của khung, cửa hàng xe sẽ điều chỉnh mức của vòi và trục yên. Nếu cơ thể của người lái không mềm mại, hoặc là một người cao tuổi, sự khác biệt về chiều cao giữa vòi và đệm yên sẽ không quá lớn, để người lái có thể đi trong một tư thế thoải mái hơn. Sức bền cơ bắp của các cơ bắp cơ bản của con người (như eo, bụng và phần thân trên) cũng ảnh hưởng đến sự ổn định và thoải mái trong khi dạp xe, sẽ làm cho đạp xe dễ dàng hơn và đỡ tốn sức hơn.

    Khung phù hợp cung cấp cho người đi xe một chuyến đi thoải mái hơn

    Điều chỉnh yên

    Trong thực tế, yên của một chiếc xe đạp đua không được thiết kế theo nhân thể công học. Khi xem xét thiết kế của phương tiện đường bộ ban đầu, để giảm trọng lượng của chiếc xe, kích thước và chất liệu của yên đã được hy sinh, và khái niệm thiết kế mỏng và nhẹ, và người lái phải chú ý xem liệu nó có thoải mái hay không. Xương chậu của phụ nữ rộng hơn nam giới, vì vậy phụ nữ sẽ sử dụng yên lớn hơn; Bởi vì cấu trúc sinh lý của đàn ông, để tránh bộ phận sinh dục bị ép khi đi xa, người ta nên cân nhắc mua quần phù hợp. Các đệm trong quần được khâu bằng đệm mềm để giảm bớt sự khó chịu trong khi đi xe. Nếu ngân sách không đủ, bạn cũng có thể chọn một tấm đệm có giá phải chăng hơn để sử dụng. Bạn cũng có thể xem xét việc sử dụng yên nhưng ngoai quan tùy chọn theo từng người.

    Khi điều chỉnh chiều cao của yên, chân của người lái sẽ có thể chỉ cần đạp lên bàn đạp trong điều kiện thẳng tự nhiên. Khi đạp xe về phía trước, khi bàn đạp ở điểm thấp nhất, đầu gối sẽ hơi cong, điều này cũng có thể giữ tư thế ngồi của người lái ổn định và sẽ không khiến cơ thể rung khi đạp.

    Góc độ yên càng bằng phẳng càng tốt để duy trì vị trí đệm ngang có tác động đáng kể đến tư thế người lái

    Quần đạp xe hiệu quả có thể ngăn chặn nỗi đau của ma sát dưới cánh tay là một trong những vũ khí ma thuật cần thiết để đi xe đạp (trái) Có một đệm bên trong để giảm bớt sự khó chịu khi vận động lâu (phải).

    Góc độ yên cũng rất quan trọng, về cơ bản sẽ điều chỉnh yên thành một góc nằm ngang. Khi một người mới bắt đầu được tiếp xúc đầu tiên với một chiếc xe đạp đường bộ, người đó thường không quen với chiếc xe và dễ bị gây ra vấn đề. khuyến khích cho người mới bắt đầu để tham khảo ý kiến một chủ cửa hàng hoặc một người lái để điều chỉnh tư thế của họ trước khi đi trên đường. Sau khi đi khoảng 200 cây số lần đầu tiên, đi đến cửa hàng và yêu cầu một kỹ thuật viên chuyên nghiệp thực hiện các phép đo phù hợp. Bằng cách này, tư thế đúng và điều chỉnh xe được thiết lập nhiều hơn, và kết quả luyện tập sẽ hiệu quả hơn.

    Tay lái

    Nói chung, khi chọn tay lái phù hợp với bạn, hãy giữ tay lái chống lại vai của bạn. Đầu của tay lái bên phải ở giữa cánh tay nơi cánh tay trên nối với vai. Hầu hết đàn ông sử dụng cạnh ngoài của tay lái 42 đến 45 cm. Khi lựa chọn cho các cuộc thi đua, bạn có thể thêm chiều rộng một chút, vì vậy bạn có thể tăng sức mạnh cho chạy nước rút hoặc lên dốc.Nhưng công chúng nói rằng bạn nên chọn kích thước dựa trên chiều rộng vai.

    Góc không đúng có thể gây chấn thương cổ tay(trái) Khi góc xử lý được điều chỉnh, nó được dựa trên góc thoải mái nhất của cổ tay(phải)

    Phanh xe

    Hiện nay, hầu hết các xe đạp đua chủ yếu sử dụng kẹp hai trục để lựa chọn các bộ phận phanh. Các hành trình phanh trái và phải và lực của kẹp hai trục thậm chí còn mạnh mẽ hơn so với trục của trục đơn. Người mới bắt đầu phải kiểm tra mức độ hao mòn của các má phanh phía trước và phía sau trước khi đi. Đặc biệt chú ý đến các đoạn xuống dốc dài hoặc mặt đất trơn trượt trong suốt hành trình để tránh nguy cơ bị mất lái do phanh kém.

    Bánh kẹp hai trục ít ổn định hơn các bộ ổn định trục đơn

    Hãy chắc chắn kiểm tra mức độ mòn của má phanh trước khi đi trên đường

    Bánh xe và lốp xe

    Việc lựa chọn các nhóm bánh xe nên chú ý đến mức độ chạy lệch và nảy. Khi khung bánh xe quay, nó sẽ không hiển thị một điều kiện tròn hoàn hảo. Chúng ta có thể quan sát xem khi bánh xe quay khoảng cách giữa độ chạy lệch và nảy có quá lớn không. Độ chạy lệch và nảy bộ bánh xe nhỏ hơn, nó sẽ ổn định hơn khi đi. Chúng ta cũng có thể chọn chiều cao của khung bánh xe theo thói quen đi xe. Nếu bạn muốn tấn công những ngọn đồi của người chơi có thể sử dụng khung bánh xe thấp hơn, đi một con đường bằng phẳng, bạn có thể chọn sự ổn định cao hơn của khung bánh xe cao, và thậm chí tay đua sẽ sử dụng khung bánh xe ổn định để đạt được tốc độ nhanh hơn. Về vật liệu, bánh xe hợp kim nhôm có độ bền nhất định và cũng tiết kiệm hơn.

    Xe đạp đường bộ sẽ nhẹ và tốt nếu chúng được làm chủ yếu từ bánh xe đua.

    Sự xuất hiện của một lốp xe tốt không thể có nứt bất thường, mài mòn, vv

    Ngoài việc quan sát mức độ mòn của má phanh trước khi lên đường, người mới bắt đầu cũng phải chú ý đến sự mòn của lốp xe. Trong các cuộc thi chuyên nghiệp, người chơi sẽ chọn lốp xe theo các điều kiện đường xá và điều kiện thời tiết khác nhau. Nhưng để có độ bám tốt, lốp xe phải được kết cấu tốt, không có vết nứt hoặc những chỗ nhô ra bất thường.

    Cân nhắc an toàn

    Quy định giao thông của Đài Loan quy định rằng xe đạp phải được trang bị phụ kiện phản quang phía trước và sau. Nhiều người lái sẽ chọn cài đặt thiết bị đèn, Ngoài các chức năng chiếu sáng ban đêm, đèn cũng có thể nhắc nhở các xe đi vào và là những phụ kiện cực kỳ quan trọng. Đối với người đi, quần áo nên được bảo vệ ở những nơi mà cơ thể và xe tiếp xúc với nhau, để tránh bị thương khi đạp xe. Ngoài quần, nó cũng được khuyến cáo rằng người mới bắt đầu có thể đeo găng tay trong khi đạp xe. Để tránh lòng bàn tay cọ xát do việc đi xe trong thời gian dài, cũng có những miếng đệm may trong găng tay, có thể làm giảm sự khó chịu khi cầm tay cầm.

    Người mới bắt đầu nên sử dụng găng tay có tích hợp đệm (trái) Găng tay được người chơi cao cấp sử dụng thoải mái hơn nhưng thiếu bảo vệ(phải)

    Khóa giày và khóa bàn đạp có thể ổn định vị trí của bàn chân, hỗ trợ cho mắt cá chân và lòng bàn chân, sửa tư thế đi xe kém và tạo ra năng lượng đạp hiệu quả hơn. Tuy nhiên, người mới bắt đầu không nên sử dụng khóa giày và khóa bàn đạp trước khi họ quen thuộc với xe. Ngoài những lo ngại tâm lý có thể xảy ra trong khi lái xe, người mới bắt đầu không thể phản ứng kịp thời trong trường hợp khẩn cấp có thể gây hại lớn hơn. Xét cho cùng, an toàn là con đường duy nhất để về nhà.

    Xe đạp Nghĩa Hải là nhà phân phối độc quyền các dòng xe đạp Nhật Bản với thương hiệu Maruishi nổi tiếng, có bề dày hoạt động hơn 130 năm. Hãng xe đạp Maruishi có nhiều dòng xe và đa dạng về kiểu dáng, mẫu mã như xe đạp cào cào, xe đạp mini, xe đạp địa hình, xe đạp gấp, xe đạp thể thao,…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Đường Xe Đạp Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Đường Xe Đạp
  • ‘khái Niệm Tăng Trưởng Xanh Về Lâu Dài, Sẽ Dẫn Chúng Ta Tới Việc Quản Lý Vịnh Hạ Long Một Cách Thông Thái’
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Về Tăng Trưởng Xanh Odt
  • Tăng Trưởng Xanh (Green Growth) Là Gì? Tình Hình Áp Dụng
  • Tăng Trưởng Xanh Tại Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Nêu Khái Niệm Trò Chơi Dân Gian

    --- Bài mới hơn ---

  • Tcdg: Nhóm Thiết Kế Khái Niệm
  • Trò Chơi Dân Gian Là Gì? Những Trò Chơi Dân Gian Hấp Dẫn Dành Cho Trẻ Và Lợi Ích Của Trò Chơi Dân Gian
  • Vài Quan Niệm Tri Thức
  • Tổng Quan Về Hội Nông Dân Việt Nam
  • 5 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Phát Triển Hội Nông Dân Việt Nam
  • * Dụng cụ:

    + Một cái khăn bất kì tượng trưng cho cờ

    + Một vòng tròn

    + Vạch xuất phát củng là đích của 2 đội

    * Cách chơi:

    + Quản trò chia tập thể chơi thành hai đội, có số lượng bằng nhau mỗi đội có từ 5-6 bạn, đứng hàng ngang ở vạp xuất phát của đội mình. Đếm theo số thứ tự 1,2,3,4,5… các bạn phải nhớ số của mình.

    + Khi quản trò gọi tới số nào thì số đó của hai đội nhanh chóng chạy đến vòng và cướp cờ.

    + Khi quản trò gọi số nào về thì số đó phải về

    + Một lúc quản trò có thể gọi hai ba bốn số.

    * Luật chơi:

    + Khi đang cằm cờ nếu bị bạn vỗ vào người, thua cuộc

    + Khi lấy được cờ chạy về vạch xuất phát của đội mình không bị đội bạn vỗ vào người, thắng cuộc

    + Khi có nguy cơ bị vỗ vào người thì được phép bỏ cờ xuống đất để chánh bị thua

    + Số nào vỗ số đó không được vỗ vào số khác. Nếu bị số khác vỗ vào không thua

    + Số nào bị thua rồi (“bị chết”) quản trò không gọi số đó chơi nữa

    + Người chơi không được ôm, giữ nhau cho bạn cướp cờ

    + Người chơi tìm cách lừa đối phương để nhang cờ về, lựa chọn sân bải phù hợp để chánh nguy cơ, cờ ra khỏi vòng tròn, để cờ lại vòng tròn chỉ được cướp cờ trong vòng tròn

    + Khoảng cách cờ đến hai đội bằng nhau

    2. Trò chơi: THẢ CHÓ

    * Cách chơi:

    + Một bạn đóng vai “chú chó”

    + một bạn đóng vai ” ông chủ”

    + các bạn còn lại đống vai “thỏ con”

    + các bạn cùng hát: “ve ve chùm chùm, cá bóng nổi lửa, ba con lửa chếp chôi, ba con voi thượng đế, ba con dế đi tìm, ù a ù ịch”

    + một bạn làm ông chủ xoè ngữa bàn tay phải, các bạn tập trung thành một vòng tròn bên xung quanh ông chủ và lấy ngón tay trái của mình đặt vào lòng bàn tay của ông chủ khi nghe có có câu “ù a ù ịch” thì các bạn sẽ rút tay ra ông chủ sẽ bốp tay lại* Luật chơi:

    + khi bạn nào bị ông chủ nắm ngón tay, sẽ đóng vai chú chó, các bạn còn lại sẽ làm thỏ

    + khi ông chủ tả một vật nào đó thì lập tức các chú thỏ sẽ chạy tới chạm vào trong một khoản thời gian nào đó và ông chủ sẽ thả chó

    + khi thấy chú chó xuất hiện thì ngay lập tức thỏ phải chại nhanh đến chổ vật ông chũ tả chạm vào. và quay về chạm ông chủ. khi thấy chú chó thì các chú thỏ phải đi về ở tư thế khum, 2 tay chéo nhau đặc lên lổ tay.nêu đi về ở tư thế khum mà không chéo tay thì bị chú chó bắt hoặc đứng lên để chạy về mà bị chú chó đụng sẽ bị đóng vai chú chó thay cho bạn làm chú chó

    3. Trò chơi: DUNG DĂNG DUNG DẼ

    * Cách chơi:

    + Địa điểm :trong nhà ngoài sân

    + Số lượng:từ 5-10 em chơi 1 nhớm

    + Hướng dẫn:quản trò vẽ sẳn các vòng tròn nhỏ trên đất,số lượng vòng tròn ích hơn số người chơi,chơi1.

    Khi chơi các bạn nắm áo tạo thành một hàng đi quanh các vùng tròn và cùng độc”dung dăng dung dè dắc trẽ đi chơi,đi đến cổng trời gặp cậu gặp mợ,cho cháu về quê, cho dê đi học,cho cóc ở nhà cho gà bới bếp,ngồi xệp xuống đây” khi đọc hết chử đây các bạn chơi nhanh chóng tìm một vòng tròn và ngồi xệp xuống.sẽ có một bạn không có vòng tròn để ngồi tiếp tục xoá vòng tròn và chơi như trên,lại sẽ có 1 bạn không có,trò chơi tiếp tục khi chỉ còn 2 người* Luật chơi

    + Trong 1 khoản thời gian bạn nào khống có vòng thì bị thua

    + Hai bạn ngồi cùng 1 vòng bạn nào ngồi xuóng dưới là thắng

    4. Trò chơi: CHI CHI CHÀNH CHÀNH

    * Cách chơi và luật chơi:

    Người chơi có thể từ 3 người trở lên. Chọn một người đứng ra trước xòe bàn tay ra các người khác giơ ngón trỏ ra đặt vào long bàn tay vào. Người xòe bàn tay đọc thật nhanh:

    Chi chi chành chành.

    Cái đanh thổi lửa.

    Con ngựa chết chương.

    Ba vương ngũ đế.

    Chấp chế đi tìm

    Ù à ù ập.Đọc đến chữ “ập” người xòe tay nắm lại, những người khác cố gắng rút tay ra thật nhanh, ai rút không kịp bị nắm trúng thì vào thế chỗ người xòe tay và vừa làm vừa đọc bài đồng dao cho các bạn khác chơi.

    5. Trò chơi: CHÙM NỤM

    * Cách chơi và luật chơi:

    Tất cả các bạn chơi phải nắm tay lại và xếp chồng lên nhau. Tay người này xen kẽ tay người kia không được để hai tay của mình gần nhau.

    Người nào để tay đầu tiên chỉ đặt một tay và cũng được xem là người bị đầu tiên , tay còn lại dùng để chỉ mỗi từ trong bài đồng dao tương ứng với một nắm tay. Tất cả cùng hát :Chùm nụm chùm nẹo

    Tay tí tay tiên

    Đồng tiền chiếc đũa

    Hạt lúa ba bông

    An trộm ăn cắp

    Trứng gà trứng vịt

    Bù xe bù xít

    Con rắn con rít

    Nó rít tay nàyĐến từ cuối cùng “này” trúng tay ai thì người đó phải rút nắm tay ra hoặc người chỉ chặt ngang nắm tay của người đó. Lúc này người bị phải chỉ thay cho người đầu tiên vừa hát vừa chỉ các nắm tay các bạn chơi. Cuộc chơi cứ thế tiếp tục đến hết các nắm tay thì trì chơi kết thúc.

    6. Trò chơi:NHẢY BAO BỐ

    * Cách chơi:

    Người chơi chia làm hai đội trở lên thông thường thì từ hai đến ba đội, mỗi đội phải có số người bằng nhau.Mỗi đội có một ô hàng dọc để nhảy và có hai lằn mức một xuất phát và một mức đích. Mỗi đội sếp thành một hàng dọc.

    Người đứng đầu bước vào trong bao bố hai tay giữ lấy miệng bao. Sau khi nghe lệnh xuất phát người đứng đầu mỗi đội mới nhảy đến đích rồi lại quay trở lại mức xuất phát đưa bao cho người thứ 2. Khi nào ngườithứ nhất nhảy về đến đích thì người thứ 2 tiếp theo mới bắt đầu nhảy. Cứ như vậy lần lượt đến người cuối cùng. Đội nào về trước đội đó thắng* Luật chơi:

    Ngừơi chơi nào nhảy trước hiệu lệnh xuất phát là phạm luật, người nhảy chưa đến mức quy định mà quay lại cũng phạm luật. Nhảy chưa đến đích mà bỏ bao ra cũng phạm luật và có thể bị loại khỏi cuộc chơi.

    7. Trò chơi: ĐÚC CÂY DỪA, CHỪA CÂY MỎNG

    Bây giờ tôi nhớ và ôn lại những kỷ niệm hồi còn nhỏ, tất cả trẽ em xóm tôi có những trò chơi dân gian, không biết phát xuất từ lúc nào ở Ninh Hòa.

    Trò chơi sau đây rất vui, khi tụm năm tụm bảy được rồi thì chơi quên ăn, quên làm, chơi say mê như trò chơi “Đúc cây dừa, chừa cây mỏng”.

    Bắt đầu trò chơi này không cần bao nhiêu người, có bao nhiêu người chơi cũng được.

    Tất cả người chơi ngồi xếp hàng xuống thềm nhà, hai chân duỗi thằng ra phía trước, người ở đầu hàng đếm chuyền xuống đến người ở cuối hàng và tiếp tục người ở cuối hàng đếm chuyền đến người ở đầu hàng. Vừa đếm vừa đọc bài ca dân gian như vầy:

    Đúc cây dừa

    chừa cây mỏng

    cây bình đỏng (đóng)

    cây bí đao

    cây nào cao

    cây nào thấp

    chầp chùng mùng tơi chín đỏ

    con thỏ nhảy qua

    bà già ứ ự

    chùm rụm chùm rịu (rạ)

    mà ra chân này

    Khi đọc hết bài ca “mà ra chân này”, ở cuối câu tới chân người nào đó, thì thụt chân vào, người nào thụt hết hai chân thì thắng, còn lại người sau cùng người nào chưa thụt cân vào thì thua. Khi đó những người thắng cuộc chuẩn bị chạy để người thua cuộc rượt bắt, bắt được bất cứ người nào xả bàn làm lại.

    Nhiều người làng Sán Dìu ở vùng Thanh Lanh (Bình Xuyên) xưa có trò chơi “Tả cáy” (có nghĩa là “Đánh gà”).

    Con gà làm bằng gỗ tiện tròn bằng quả bóng bàn. Có thể có từ 5 đến 10 người cùng chơi, mỗi người cầm một cái gậy dài hơn một mét bằng tre hoặc bằng gỗ. Đào một cái lỗ bằng cái bát con ở giữa bãi chơi để “Con gà” dưới lỗ. Người đứng cái cầm gậy đẩy con gà ra khỏi lỗ. Những người khác dùng gậy hối gà vào lỗ. Người đứng cái vừa dùng gậy hối và đi vừa phải để ý đỡ đòn kẽo gậy của người khác đập trượt vào chân mình. Người nào đứng cái giỏi giữ cái lâu nhất không có gà lọt xuống được coi là thắng cuộc. Khi để “gà” lọt xuống lỗ thì người “cái” phải làm “con” để người vừa hối gà xuống lỗ được đứng cái

    Trong dịp lễ hội, một số làng ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam có tổ chức thổi cơm thi. Cuộc thi thổi cơm ở từng nơi có những luật lệ, nét đặc trưng riêng như nấu cơm trên thuyền, nấu cơm trông trẽ, vừa đi vừa nấu cơm…

    Cuộc thi nhằm diễn lại tích của Phan Tây Nhạc, vị tướng thời vua Hùng thứ 18, đã rèn luyện cho quân sĩ thực hành một cách thành thạo, đặc biệt là nấu được cơm ăn trong điều kiện khó khăn.

    * Thể lệ cuộc thi: nguyên liệu là thóc, sẵn củi, chưa có lửa, chưa có nước. Các đội phải làm gạo, tạo ra lửa, đi lấy nước về nấu cơm. Cuộc thi có ba bước: thi làm gạo; tạo lửa, lấy nước và thổi cơm.

    Mỗi nhóm 10 người (cả nam và nữ), họ tự xay thóc, giã gạo, dần sàng, lấy lửa, lấy nước và nấu cơm.

    Bước 1, thi làm gạo: sau hồi trống lệnh, các đội đổ thóc vào xay, giã, dần sàng. Giáp nào có được gạo trắng trước nhất là thắng cuộc.

    Bước 2, thi kéo lửa và lấy nước: Lấy lửa từ hai thanh nứa già cọ vào nhau (khó nhất là khâu này), áp bùi nhùi rơm khô vào cho bén lửa. Người lấy nước cách đó khoảng 1km, nước chứa sẵn vào 4 cái be bằng đồng, đợi người đến lấy mang về. Giáp nào lấy được lửa trước và lấy nước về đích trước thì giáp đó thắng cuộc.

    Bước 3, nấu cơm: giáp nào thổi được cơm chín dẽo, ngon và xong trước thì thắng cuộc. Cơm của giáp đó được dùng để cúng thần.

    Thi nấu cơm ở hội Từ Trọng (Hoàng Hóa – Thanh Hóa)

    Người dự thi ngồi trên thuyền thúng tại một đầm rộng, lộng gió. Mỗi người một thuyền, kiềng, rơm ẩm, bã mía tươi và trang bị khác giống nhau. Sau hiệu lệnh, các thí sinh đưa thuyền rời bờ ra giữa đầm. Thuyền bồng bềnh, gió lộng, củi lửa lại khó cháy, thậm trí có lần bị mưa phùn gió bắc. Kết thúc cuộc thi ai có nồi cơm hoặc chõ xôi chín dẽo, ngon là người thắng cuộc.

    Đánh quay là trò chơi dành cho con trai. Chơi thành nhóm từ 2 người trở lên, nếu đông có thể chia thành nhiều nhóm. Một người cũng có thể chơi quay, nhưng nếu chơi nhiều người và có nhiều người ở ngoài cổ vũ thì sẽ sôi nổi và hấp dẫn hơn nhiều.

    Đồ chơi là con quay bằng gỗ hay sừng hình nón cụt, có chân bằng sắt. Dùng một sợi dây, quấn từ dưới lên trên rồi cầm một đầu dây thả thật mạnh cho quay tít. Con quay của ai quay lâu nhất, người đó được. Có thể dùng một con quay khác bổ vào con quay đang quay mà nó vẫn quay thì người chủ của con quay đó được nhất.

    13. Trò chơi: Ô ĂN QUAN

    Vẽ một hình chữ nhật được chia đôi theo chiều dài và ngăn thành 5 hàng dọc cách khoảng đều nhau, ta có được 10 ô vuông nhỏ. Hai đầu hình chữ nhật được vẽ thành 2 hình vòng cung, đó là 2 ô quan lớn đặc trưng cho mỗi bên, đặt vào đó một viên sỏi lớn có hình thể và màu sắc khác nhau để dễ phân biệt hai bên, mỗi ô vuông được đặt 5 viên sỏi nhỏ, mỗi bên có 5 ô.

    Hai người hai bên, người thứ nhất đi quan với nắm sỏi trong ô vuông nhỏ tùy vào người chơi chọn ô, sỏi được rãi đều chung quanh từng viên một trong những ô vuông cả phần của ô quan lớn, khi đến hòn sỏi cuối cùng ta vẫn bắt lấy ô bên cạnh và cứ thế tiếp tục đi quan (bỏ những viên sỏi nhỏ vào từng ô liên tục). Cho đến lúc nào viên sỏi cuối cùng được dừng cách khoảng là một ô trống, như thế là ta chặp ô trống bắt lấy phần sỏi trong ô bên cạnh để nhặt ra ngoài. Vậy là những viên sỏi đó đã thuộc về người chơi, và người đối diện mới được bắt đầu.

    Đến lượt đối phương đi quan cũng như người đầu tiên, cả hai thay phiên nhau đi quan cho đến khi nào nhặt được phần ô quan lớn và lấy được hết phần của đối phương. Như thế người đối diện đã thua hết quan.

    Hết quan tàn dân, thu quân kéo về. Hết ván, bày lại như cũ, ai thiếu phải vay của bên kia. Tính thắng thua theo nợ các viên sỏi.

    Quan ăn 10 viên sỏi.Cách chơi ô ăn quan được nói lên rất đơn giản nhưng người chơi ô ăn quan đã giỏi thì việc tính toán rất tài tình mà người đối diện phải thua cuộc vì không còn quan (sỏi) bên phần mình để tiếp tục cuộc chơi…

    14. Trò chơi: MÈO ĐUỔI CHUỘT

    Trò chơi gồm từ 7 đến 10 người. Tất cả đứng thành vòng tròn, tay nắm tay, giơ cao lên qua đầu. Rồi bắt đầu hát.

    Mèo đuổi chuột

    Mời bạn ra đây

    Tay nắm chặt tay

    Đứng thành vòng rộng

    Chuột luồn lỗ hổng

    Mèo chạy đằng sau

    Thế rồi chú chuột lại đóng vai mèo

    Co cẳng chạy theo, bác mèo hóa chuột

    Một người được chọn làm mèo và một người được chọn làm chuột. Hai người này đứng vào giữa vòng tròn, quay lưng vào nhau. Khi mọi người hát đến câu cuối thì chuột bắt đầu chạy, mèo phải chạy đằng sau. Tuy nhiên mèo phải chạy đúng chỗ chuột đã chạy. Mèo thắng khi mèo bắt được chuột. Rồi hai người đổi vai trò mèo chuột cho nhau. Trò chơi lại được tiếp tục.

    15. Trò chơi: RỒNG RẮN LÊN MÂY

    Một người đứng ra làm thầy thuốc, những người còn lại sắp hàng một, tay người sau nắm vạt áo người trước hoặc đặt trên vai của người phía trước. Sau đó tất cả bắt đầu đi lượn qua lượn lại như con rắn, vừa đi vừa hát:

    Rồng rắn lên mây

    Có cây lúc lắc

    Hỏi thăm thầy thuốc

    Có nhà hay không?

    Người đóng vai thầy thuốc trả lời:

    – Thấy thuốc đi chơi ! (hay đi chợ, đi câu cá , đi vắng nhà… tùy ý mà chế ra).

    Đoàn người lại đi và hát tiếp cho đến khi thầy thuốc trả lời:

    – Có !

    Và bắt đầu đối thoại như sau : Thầy thuốc hỏi:

    – Rồng rắn đi đâu?

    Người đứng làm đầu của rồng rắn trả lời:

    – Rồng rắn đi lấy thuốc để chữa bệnh cho con.

    – Con lên mấy ?

    – Con lên một

    – Thuốc chẳng hay

    -Con lên hai.

    – Thuốc chẳng hay.

    ………………………………………….. ….

    Cứ thế cho đến khi:

    – Con lên mười.

    – Thuốc hay vậy.

    Kế đó, thì thầy thuốc đòi hỏi:

    + Xin khúc đầu.

    – Những xương cùng xẩu.

    + Xin khúc giữa.

    – Những máu cùng me.

    + Xin khúc đuôi.

    – Tha hồ mà đuổi.

    Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách làm sao mà bắt cho được người cuối cùng trong hàng.

    Ngược lại thì người đứng đầu phải dang tay chạy, cố ngăn cản không cho người thầy thuốc bắt được cái đuôi của mình, trong lúc đó cái đuôi phải chạy và tìm cách né tránh thầy thuốc. Nếu thầy thuốc bắt được người cuối cùng thì người đó phải ra thay làm thầy thuốc.

    Nếu đang chơi dằng co giữa chừng, mà rồng rắn bị đứt ngang thì tạm ngừng để nối lại và tiếp tục trò chơi.

    16. Trò chơi: NÉM CÒN

    Với người Việt cổ xưa, trò chơi này thường dành cho giới nữ, con nhà quý phái, xưa kia là các mỵ nương, con gái Lạc hầu, Lạc tướng. Đối với các dân tộc Mường, Tày, Hmông, Thái… ném còn là trò tín ngưỡng hấp dẫn nhất của trai gái trong dịp hội xuân.

    Quả “còn” hình cầu to bằng nắm tay trẽ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu, bên trong nhồi thóc và hạt bông (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả còn có các tua vải nhiều màu trang trí và có tác dụng định hướng trong khi bay. Sân ném còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây tre (hoặc vầu) cao, trên đỉnh có “vòng còn” hình tròn (khung còn), khung còn một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Cả mặt giấy là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây còn, ném quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc.

    Mở đầu cuộc chơi là phần nghi lễ, thầy mo dâng hai quả còn làm lễ giữa trời đất, cầu cho bản làng yên vui, mùa màng tươi tốt, nhà nhà no ấm. Sau phần nghi lễ, thầy mo cầm hai quả còn đã được “ban phép” tung lên cho mọi người tranh cướp, khai cuộc chơi ném còn năm đó. Các quả còn khác của các gia đình lúc này mới được tung lên như những con chim én.

    Trước khi khép hội, thầy mo rạch quả còn thiêng (đã được ban phép) lấy hạt bên trong, tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày quan niệm hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu và may mắn, vì nó đã được truyền hơi ấm của những bàn tay nam nữ (âm – dương).

    Ném còn làm cho người trong cuộc hào hứng, người đứng ngoài hò reo cổ vũ khiến không khí cuộc chơi rất sôi nổi, hấp dẫn. Ném còn là trò chơi không những thu hút nam nữ thanh niên mà nhiều người lớn tuổi cũng rất thích. Trò vui này mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong giao hoà âm – dương, mùa màng tươi tốt.

    Hàng năm, ở một số vùng có tổ chức hội thi thơ như ở Hoa Lư (Ninh Bình) và Yên Đổ (Hà Nam).

    Vùng Hoa Lư, Ninh Bình, có phong cảnh nên thơ, hùng vĩ. Hàng năm nhân ngày hội đền vua Đinh, để giữ gìn nếp xưa và khuyến khích dân chúng trên đường văn học, dân làng mở hội thi thơ, không những riêng cho dân sở tại mà còn cho tất cả những ai văn hay chữ tốt, muốn được giải và muốn được tiếng tăm với mọi người.

    Đề thơ tuỳ ban tổ chức lựa chọn. Giải thưởng thường chỉ được mấy vuông nhiễu điều, gói chè, mươi quả cau. Những người được giải hãnh diện về thơ hơn vì giải. Hàng năm có 3 giải thưởng cho cuộc thi này, vì ban giám khảo gồm các tay văn học nổi tiếng trong vùng. Có khi Ban tổ chức mời cả những bậc đại khoa có danh chấm giải. Ngày xưa, thường vị tuần phủ chủ tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng chấm thơ.

    Hàng năm làng Yên Đổ (Hà Nam) tổ chức cuộc thi thơ vào 24 tháng Chạp, nhân phiên chợ Đồng.

    Buổi sáng hôm đó, cuôc thi văn thơ đã được các bô lão trong làng tổ chức tại ngôi đình cạnh chợ. Văn sĩ khắp nơi đến tụ tập ở Tưởng Đền để dự cuộc thi thơ. Các vị khoa mục làng Yên Đổ và các làng gần đó làm giám khảo. Thí sinh nào trúng giải thưởng sẽ được hoan hô và được ban thưởng phần thưởng rất hậu. Thật là cuộc thi tao nhã và hào hứng với mục đích khuyến khích thí sinh dùi mài kinh sử, tranh ngôi đoạt giáp sau này.

    Sau cuộc thi, những người trúng giải được nếm rượu ở Tưởng Đền với các bô lão trong làng.

    Chim Bồ câu được là biểu tượng cho hoà bình – tự do nên thường được gọi là chim Hoà bình. Dựa vào những đặc tính ấy của chim. Từ lâu, ông cha ta đã sáng tạo một lối chơi dân gian tao nhã: thi thả chim bồ câu. Tương truyền, thú chơi này xuất hiện từ thời Lý.

    Bồ câu là loài chim có khả năng đinh hướng tốt, dù xa nhà cũng tìm được về tổ ấm trừ khi gặp gió bão, chúng có tính hợp quần cao, sống theo đàn, chung thuỷ và nghĩa tình.

    Hàng năm có đến hàng chục hội thi thả chim câu thường được tổ chức vào hai mùa: mùa hạ (tháng 3-4 âm lịch) và mùa thu (tháng 7-8 âm lịch). Khu vực trung tâm hội thi thuộc Châu thổ sông Hồng kéo dài từ 2 bên bờ sông Đuống đến một phần tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh (Đa Phúc, Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Tiên Sơn, Yên Phong). Hội thi còn diễn ra ở một số nơi phía Tây Hà Nội như Tây Tựu, Đan Phượng, Hoài Đức.

    Từ xưa các cụ đã định ra tiêu chuẩn thi thả chim câu bay rất nghiêm ngặt. Cả đàn bay chặt chẽ, cự ly đều, không tách rời đàn, vòng lượn hẹp và tròn, bay cao, trụ hướng thẳng đứng lên. Khi mắt thường nhìn lên thấy cả đàn thấy cả đàn chụm thành môt vòng tròn nhỏ không thấy vỗ cánh rồi tìm hướng bay về tổ. Lúc đó đàn chim được vào “trông thượng” để xét giải.

    Vậy mà cái thú chơi chim lành mạnh thanh nhã lúc nông nhàn, hội hè đình đám, biểu tượng khát vọng của tự do, ca ngợi đức tính của đoàn kết, chung thuỷ vẫn cuốn hút nhiều người, nhiều nơi ở mọi lứa tuổi.

    20. Trò chơi: ĐÁNH ROI MÚA MỌC

    Roi bằng tre vót nhẵn và dẻo, đầu bịt vải đỏ, còn mộc đan bằng tre sơn đỏ. Các đấu thủ đấu tay đôi với nhau: vừa dùng roi để đánh, dùng mộc để đỡ, ai đánh trúng địch thủ vào chỗ hiểm và đánh trúng nhiều thì thắng, thường đánh trúng vào vai và sườn mới được nhiều điểm.

    Các hội lễ ở miền Bắc thường được tổ chức thi đấu vào những ngày đầu tháng giêng.

    Tục kéo co ở mỗi nơi có những lối chơi khác nhau, nhưng bao giờ số người chơi cũng chia làm hai phe, mỗi phe cùng dùng sức mạnh để kéo cho được bên kia ngã về phía mình.

    Có khi cả hai bên đều là nam, có khi bên nam, bên nữ. Trong trường hợp bên nam bên nữ, dân làng thường chọn những trai gái chưa vợ chưa chồng.

    Một cột trụ để ở giữa sân chơi, có dây thừng buộc dài hay dây song, dây tre hoặc cây tre, thường dài khoảng 20m căng đều ra hai phía, hai bên xúm nhau nắm lấy dây thừng để kéo. Một vị chức sắc hay bô lão cầm trịch ra hiệu lệnh. Hai bên ra sức kéo, sao cho cột trụ kéo về bên mình là thắng. Bên ngoài dân làng cổ vũ hai bên bằng tiếng “dô ta”, “cố lên”.

    Có nơi người ta lấy tay người, sức người trực tiếp kéo co. Hai người đứng đầu hai bên nắm lấy tay nhau, còn các người sau ôm bụng người trước mà kéo. Đang giữa cuộc, một người bên nào bị đứt dây là thua bên kia. Kéo co cũng kéo ba keo, bên nào thắng liền ba keo là bên ấy được.

    23. Trò chơi: ĐẤU VẬT

    Đấu vật rất phổ biến ở nhiều hội xuân miền Bắc và miền Trung. Trong hội làng Mai Động (Hà Nội) có thi vật ở ngay trước bãi đình làng. Các đô vật ở các nơi kéo về dự giải rất đông. Làng treo giải vật gồm nhất, nhì, ba và nhiều giải khác.

    Trong lúc vật, các đô vật cởi trần và chỉ đóng một cái khố cho kín hạ bộ. Cởi trần cốt để đôi bên không thể nắm áo, nắm quần nhau gây lợi thế cho mình được. Khố các đô vật phần nhiều bằng lụa, nhiều màu. Trước khi vào vật, hai đô vật lễ vọng vào trong đình.

    Cuộc thi bắt đầu, các đô vật lên lễ đài. Sau một hồi khua chân múa tay để rình miếng nhau, họ mới xông vào ôm lấy nhau. Họ lừa nhau, dùng những miếng để vật ngửa địch thủ. Với miếng võ nằm bò, có tay đô vật nằm lì mặc cho địch thủ đẩy mình, rồi bất thần họ nhỏm đứng dậy để phản công.

    Thường thì giải ba được vật trước, rồi đến giải nhì và sau cùng là giải nhất. Mỗi một giải vật xong, người chúng giải được làng đốt mựng một bánh pháo.

    Trò vật cù: trên một khoảng sân, thường có khoảng 14 thanh niên trai tráng chia hai bên cởi trần, đóng khố, tìm cách lừa nhau để ôm cho được quả bóng bằng củ chuối gọt nhẵn chạy về bỏ vào chuồng (lỗ nhỏ được đào theo hình vuông hoặc tròn, gần như là vừa khít với quả cù) đối phương thì là thắng cuộc.

    Quả cù được làm từ gốc chuối, đặc biệt thích hợp là gốc chuối hột loại lớn, đào lên lấy củ. Dùng dao sắc đẽo củ chuối thành hình tròn có đường kính cữ 30cm, trọng lượng 5 – 7kg là có quả cù đảm bảo yêu cầu. Quả cù phải sạch nhựa và có độ dẽo cần thiết, bởi nó thường xuyên bị giành giật, quăng ném mạnh dễ vỡ trong khi chơi. Vì vậy, quả cù sau khi lược đẽo xong, được luộc qua nước sôi, vớt ra phơi nắng khá kỹ. Lúc này quả cù có màu sẫm và rất dẽo, không bị nứt vỡ khi chơi. Sân chơi cù thường là những sân cát bên bờ sông hay trong làng, chiều dài độ 50m, ngang độ 25m. Có ba hình thức chơi cù: cù gôn, cù đẩy và củ nước. Cả ba lối chơi này đều có chung hình thức tính điểm và bố trí giống nhau, ở hai đầu sân của mỗi bên là hai chiếc sọt đan bằng nan tre, nứa cao 1,5m, đường kính 50cm (cù gôn, cù nước), hay đào một hố sâu rộng 50 x 50cm (cù đẩy). Bên nào giành và đưa được cù vào sọt (hay vào hố) của đối phương được một điểm. Để đưa được quả cù vào đích cũng không phải dễ dàng gì bởi phải giành giật, tranh cướp quyết liệt, bên nào cũng tìm mọi cách nhằm cản phá đối phương đưa cù vào sọt (hố) của mình. Hội vật cù vì thế rất sôi nổi, hào hứng, cuốn hút mọi người.

    Mỗi cuộc chơi không qui định cụ thể, số người tham gia mỗi bên cũng không hạn chế. Có khi hội vật cù lên đến đỉnh điểm, đàn ông trai tráng trong làng đều hăng hái vào cuộc không kể tuổi tác, lúc ấy thường là vào dịp Tết Nguyên đán. Người tham gia vật cù đều cởi trần đóng khố. Đề phân biệt người của hai đội, ban tổ chức qui định rnàu sắc của khố hay dải khăn màu vấn trên đầu. Tuy từ xưa không có một điều luật cụ thể, nhưng trong hội vật cù không hề có lối chơi thô bạo, ác ý. Rất quyết liệt nhưng cũng rất trong sáng. Kết thúc cuộc chơi, đội nào có số lần đưa cù vào đích của đối phương nhiều hơn là đội thắng. Giải thưởng chỉ mang tính tượng trưng, danh dự. Ở hội cù, người các làng xem và cổ vũ rất đông, hò reo, đánh trống chiêng cuồng nhiệt cổ vũ cho đội nhà và tán thưởng những đường chạy cù ngoạn mục…

    25. Trò chơi: BỊT MẮT BẮT DÊ

    Trẽ con từ 6 đến 15 tuổi hay chơi trò bịt mắt bắt dê. Một người xung phong để mọi người bịt mắt lại bằng một chiếc khăn để không nhìn thấy, những người còn lại đứng thành vòng tròn quanh người bị bịt mắt.

    Mọi người chạy xung quanh người bị bịt mắt đến khi nào người đó hô “bắt đầu” hoặc “đứng lại” thì tất cả mọi người phải đứng lại, không được di chuyển nữa. Lúc này người bị bịt mắt bắt đầu lần đi xung quanh để bắt được ai đó, mọi người thì cố tránh để không bị bắt và tạo ra nhiều tiếng động để đánh lạc hướng. Đến khi ai đó bị bắt và người bị bịt mắt đoán đúng tên thì người đó sẽ phải ra “bắt dê”, nếu đoán sai lại bị bịt mắt lại và làm tiếp.

    Có ai đó muốn ra chơi cùng thì phải vào làm luôn, người đang bị bịt mắt lúc này được ra ngoài hoặc là phải oẳn tù tì xem ai thắng.

    26. Trò chơi: KÉO CƯA LỪA XẼ

    Hai người ngồi đối diện nhau, cầm chặt tay nhau. Vừa hát vừa kéo tay và đẩy qua đẩy trông như đang cưa một khúc gỗ ở giữa hai người.

    Mỗi lần hát một từ thì lại đẩy hoặc kéo về một lần. Bài hát có thể là:

    Kéo cưa lừa xẽ

    Ông thợ nào khỏe

    Về ăn cơm vua

    Ông thợ nào thua

    Về bú tí mẹ

    Hoặc:

    Kéo cưa lừa xẽ

    Làm ít ăn nhiều

    Nằm đâu ngủ đấy

    Nó lấy mất của

    Lấy gì mà kéo

    Trò tung cầu, cướp cầu là một trò chơi mang tính nghi lễ (hoặc phong tục) mang tính bắt buộc ở nhiều lễ hội. Tuỳ từng địa phương có quy định, cách chơi hay tên gọi khác nhau.

    Một bên cuớp cầu để ném vào một cái hố đào sẵn bên hướng đông, nhóm bên kia cướp cầu để ném vào hố hướng tây. Bên nào cướp được cầu và ném vào hố của bên kia nhiều lần là bên thắng cuộc. Cũng có nơi cầu được ném vào một hố ở giữa sân đình hay ném vào một cái giỏ không đáy treo trên cây, bên nào ném vào giỏ của bên kia trước thì bên đó thắng cuộc. Có nơi quy ước bên nào ném vào giỏ của bên mình trước thì bên đó thắng cuộc.

    28. Trò chơi: KÉO CHỮ

    Trò chơi kéo chữ phát triển ở vùng Hoa Lư, Tam Điệp (Ninh Bình). Một đội kéo chữ có 32 con trai dưới 15 tuổi mặc quần xanh, áo trắng có nẹp đỏ, chân quấn xà cạp, tay cầm gậy dài 1,2m cuốn giấy màu và ở trên đầu gậy có gù sặc sỡ.

    Tất cả được chia làm hai dẫy, mỗi dẫy có một người cầm đầu (tổng cờ tiền) và một người đứng cuối (tổng cờ hậu). Tổng cờ phải chọn những người có mặt mũi khôi ngô, mặc quần trắng, áo the đầu đội khăn xếp, thắt lưng ba múi, tay cầm cờ thần vuông.

    Vào cuộc kéo chữ, theo tiếng trống của người tiểu cảnh, hai cánh quân dàn ra dưới sự hướng dẫn của các tổng cờ để xếp thành các chữ khác nhau. Các tổng cờ vừa dẫn quân vừa múa hát, làm cho không khí rất sôi nổi và náo nhiệt. Đội quân theo tổng cờ chạy theo hình xoáy ốc với những động tác phức tạp, lần lượt các chữ được hiện ra (chữ Hán hoặc Nôm) “Thái bình”, “Thiên phúc”, “Xuân hoà khả lạc”, “Quốc thái dân an”…

    Từ xa xưa ở Việt Nam đã có đua thuyền. Đua thuyền ở nhiều nơi không phải là trò thi tài mà là hành vi thực hiện một nghi lễ với thuỷ thần, xuất phát từ tục cầu nước của cư dân nông nghiệp – tín ngưỡng phồn thực.

    Có nơi cuộc thi chỉ có hai thuyền (Đào Xá – Phú Thọ), một chải “đực” mang hình chim ở mũi thuyền, chải kia là “cái” mang hình cá. Hai biểu tượng đối ứng giao hoà âm – dương (chim trên cao, dương – cá dưới nước, âm); khô – ướt (thuyền và nước); thuyền trôi, mái chèo khuấy nước nhằm “đánh thức thuỷ thần” và cuộc đua ấy chỉ thực hiện vào ban đêm, đến dạng sáng thì kết thúc. Cuộc đua thuyền của cư dân miền biển thì lại mang ý nghĩa cầu ngư. Có địa phương tổ chức đua thuyền để tưởng niệm các anh hùng giỏi về thủy chiến…

    Ngày nay, đua thuyền là một nội dung quan trọng trong chương trình của rất nhiều lễ hội từ Bắc chí Nam, nhất là các địa phương có sông hồ hoặc gần biển. Cuộc đua thuyền hiện nay ở nhiều địa phương không đơn thuần là một hoạt động tín ngưỡng như bưổi ban đầu mà đã trở thành sự kiện thể thao hấp dẫn có quy mô lớn, thu hút nhiều đối tượng tham gia. Đua thuyền đã có thêm sứ mệnh của cuộc thi tài và biểu dương sức mạnh tập thể.

    30. Trò chơi: CHƠI HÓP

    Chơi hóp là một trong những trò chơi trong dân gian Ninh Hòa mà tôi xin ghi lại để cống hiến quý bạn đồng hương ít nhiều đã có một thời trải qua trong thời niên thiếu tại quê hương mến yêu.

    Để bắt đầu trò chơi, tùy theo cách chia bắt cặp hoặc chơi lẽ từng người, bao nhiêu người chơi cũng được, ăn thua hoặc bằng tiền, hoặc hình, hoặc bịch thuốc lá…v..v…, tùy theo điều kiện và giao kèo sẵn có.

    Cách chơi:

    Vẽ một hình chữ nhật, dài rộng tùy thích không cần kích thước. Chúng ta cần một cục gạch thẽ nguyên và nửa cục gạch thẽ khác được kê sát và nằm giữa lằn mức của cạnh (hay một đầu) của hình chữ nhật. Hai cục gạch này được cấu trúc sao cho nửa cục gạch dựng đứng (điểm tựa) và cục gạch nguyên vẹn được gát lên đầu tựa của nửa cục gạch kia. Như vậy, chúng ta có đuôi của cục gạch nguyên chạm mặt đất, đầu đưa lên trời, chính giữa tựa trên đầu của “nửa cục gạch” kia tạo thành một mặt dốc để khởi động vận chuyển tròn của đồng tiền cắc (hòn chì). Đến đây, chúng ta có mái xuôi (mặt dốc) giống hình của một đòn bẫy.

    Tiếp tục thiết bị, chúng ta gạch một đường thẳng kể từ đường giao tuyến của mặt dốc (của cục gạch nguyên) và mặt đất (mái xuôi) dài khoảng 5 tấc và cứ cách 1 tấc gạch 1 lằn mức ngang dành cho những người bị hóp mang đồng tiền cắc (hòn chì) lên đặt ở mức ngang đó: “có thể bị hóp 1,2,3 ..v..v..”

    Trước khi chơi, người chơi thi tranh đua để đi sau cùng bằng cách dùng đồng bạc cắc hoặc viên ngói bể được đập và mài tròn đến khi có diện tích (kích thước) bằng (hay vừa) đồng tiền mà người chơi gọi là hòn chì dùng để thi đua tranh giành phần thắng. Người chơi cầm hòn chì thẳng đứng khảy (khởi động chạy tròn) mạnh nhẹ tùy ý xuống dốc xuôi của cục gạch, sao cho hòn chì chạy và ngã dừng gần mức càng tốt, cán mức thì càng tốt hơn. Như vậy, người chơi có thể tranh giành đi sau cùng nhưng đừng để hòn chì lăn ra khỏi mức thì thua.

    Thi xong người chơi đi theo thứ tự, nghĩa là người nào khảy hòn chì chạy ra ngoài mức đi trước, xa mức đi kế và gần mức đi sau cùng… Người thua cuộc thì được đi đầu tiên, khảy hòn chì xuống viên gạch (mặt xuôi) để cho nó lăn xuống mức dưới; phiên người kế tiếp cố gắng khảy hòn chì, chạy xa hơn người đi trước thì tốt, cứ như thế chúng ta thay phiên lần lượt đi, cố gắng đi xa hơn mấy người trước, đừng để hòn chì chạy ra khỏi mức phía trước gọi là hóp, có khi bị hóp 2,3,4 ..v…v…

    Khi chơi người chơi bắt bồ và tìm cách cứu bồ. Khi hòn chì của bạn khảy thua phe khác, ta có quyền xê dịch viên gạch xéo qua góc này hoặc góc khác với mục đích là để khảy hòn chì không theo đường thẳng chính diện (trực chỉ song song với hai cạnh bên của hình chữ nhật) mà chạy xéo góc hơn bạn mình, thua người bắt bạn mình, như vậy gọi là “xỉa tiền”.

    Người thắng cuộc thi đi sau cùng, xem xét kỹ cách bắt những hòn chì của người đi trước, nếu khảy xa hơn để bắt được thì tốt và được đi sau cùng bàn kế tiếp, bằng không thì khảy nhẹ hòn chì để bắt những người bị hóp, xong cứ thứ tự người nào gần mức đầu dưới thì chố người thua mình ở phía trên.

    31. Trò chơi: ĐÁNH TRỎNG Đánh trỏng là một môn chơi rất là dân gian ở Ninh Hòa của lứa tuồi trẽ thơ dành riêng cho các cô cậu có gan bẫm.Trò chơi không lệ thuộc vào số người, chia thành hai nhóm, cây trỏng để đánh thường thường chúng tôi chọn một trong hai loại cây ở quê nhà chỗ nào cũng có “cây dong hoặc cây gòn”, vì hai loại cây này khi khô rất nhẹ, chặt làm hai khúc, cây cầm đánh dài khoảng 5 hoặc 6 tấc gọi là cây đập đầu mào, cây ngắn 2 tấc gọi là cây đầu mào.

    Khi có sẵn hai dụng cụ trên, chúng tôi đào một lỗ dài hơn 2 tấc, chiều sâu không tính miễn sao để đầu mào nằm gọn vào lỗ là được rồi, gạch phía trước lỗ một đường mức khoảng cách 6 hoặc 7 thước. Sáp vào trận hai nhóm bắt đầu khắc tính điểm, bên nào khắc điểm nhiều thì đi trước. Cách chơi bắt đầu, nhóm thua ra đứng phía trước lằn mức, nhóm ăn ở trong và bắt đầu chơi. Trước khi chơi hai bên giao kèo đánh được bao nhiêu điểm thì thắng . Thường thì chơi đánh trên 100 điểm mới thắng.

    1/ Phần dích đầu trỏng: đặt đầu trỏng ngắn nằm ngang trên miệng lỗ và lấy cây dài dích sao cho đầu trỏng ngắn bay ra khỏi mức, đừng để cho bên đối phương chận lại hay bắt được đầu trỏng là người đó chết, dích đầu trỏng bay cũng là một nghệ thuật, mắt nhìn liếc đối phương đứng chỗ nào trống hoặc phải dích xa hay cao để đầu trỏng bay cao, khi bên đối phương bắt không được thì người dích đặt cây trỏng dài nằm ngang trên lỗ, để cho đối phương lượm đầu trỏng ngắn nằm ở đâu thì từ chỗ đó chố vào, nếu trúng cây trỏng dài thì người đó chết ” cứ như vậy nếu chết tiếp tục thì thay thế người khác đi”.

    2/ Phần ne đầu trỏng nhỏ: Đến phần ne đầu trỏng, người ăn thường đứng sát mức, tay cầm trỏng dài để đầu trỏng ngắn nằm ngang dựa vào cùm tay, bắt đầu hất đầu trỏng ngắn tưng lên rồi khắc, liếc mắt nhìn những người thua đứng hàng mức bên ngoài đánh đầu trỏng ngắn thật mạnh ra ngoài để bên thua đừng bắt được. Khi đầu trỏng rớt xuống đất, bên thua lượm và chố vào đừng cho người bên trúng đón đánh được đầu trỏng ngắn bay ra ngoài, thì bắt đầu tính được điểm rồi . Phần tính điểm ở đây tính vào phần khắc ở trên, khắc bao nhiều cái tính bao nhiêu điểm.

    3/ Chặt đầu mào: Đặt đầu mào nằm xuôi xuống lỗ sao để một đầu chỏng lên, khi chặt đầu mào đầu trỏng ngắn bay lên, đón đầu trỏng ngắn rơi xuống rồi khắc bao nhiêu cái thì tính bao nhiêu điểm, nên đánh ra ngoài mức để sao cho đối phương đánh bắt không được thì mới tính điểm.

    4/ Phần Âm u: Bên nào đánh thắng trước điểm đã giao kèo thì âm u bên thua, tùy theo chơi để bắt cặp người ăn, người thua âm u, bên ăn bắt đầu khắc bao nhiêu cái thì nhảy bao nhiêu bước khi âm u, người ăn một tay cầm cây trỏng dài dựa vào cùm tay tưng lên rồi ne thật mạnh cho đầu trỏng ngắn bay đi thật xa, rồi rơi xuống đất người thua lượm đầu trỏng ngắn cầm trên tay, người ăn bắt đầu nhảy bắt đầu từ vị trí đầu trỏng ngắn rớt xuống, nhảy bao nhiêu bước, từ điểm khắc bao nhiêu cái ở trên. Khi nhảy xong rồi đặt cây trỏng dài xuống để cho người thua chố, nếu chố trúng cây trỏng dài, thì người thua u một hơi dài về lỗ, người ăn chạy theo sau cầm cây trỏng dài đợi khi người thua tắt hơi để đánh người thua, rồi tiếp tục cặp khác âm u. Xong hết rồi hai nhóm chơi khắc lại, tiếp tục chơi tiếp.

    Một lượt nhảy qua nhảy lại xong rồi canh bốn, thì tới canh búp.

    Khi làm canh tư, hai đứa ngồi làm chồng những bàn chân lên nhau gót chân chạm đầu ngón chân thành một tháp cao thẳng đứng tới lượt canh búp, canh nở, canh tàn, sau cùng là tới canh gươm, những canh trên chồng lên cao của ngón chân trên hết, giao kèo chơi chỉ được để cổ tay chạm ngón chân cái làm bàn tay búp, nở, tàn, gươm (nhiều bạn cũng ma giáo khi nhảy qua không để ý lú tay lên cho đụng người mẹ là chết cả đám). Những người con nhảy qua không được, có quyền nhảy qua chổ thấp nếu bên kia đồng ý.

    – Sau cùng, là đi qua sông nhỏ, sông lớn là xong, hai người làm canh qua sông nhỏ bốn bàn chân chạm vào nhau bẹt ra hơi nhỏ để người đi bước vào cũng nói “đi canh nhỏ về canh nhỏ”. Vậy là xong canh nhỏ. Canh lớn hai người làm dang chân rộng ra để bên đi bước vào mà đi canh lớn, đi canh lớn là sắp hết trò chơi, toán đi bước qua và đọc “qua sông lớn về sông lớn”. Khi về sông lớn hai người làm đưa tay lên cho người mẹ nắm và bắt đầu nói về sông lớn thì tất cả vụt chạy như rượt bắt, mấy đứa con thì lo chạy trước. Khi bắt được đứa nào thì đứa đó chết, bắt được hết thì xả bàn làm lại, hai bên tiếp tục bao tiếng xùm, bên nào thua thì làm.

    Nói tóm lại, đó là trò chơi dân gian vui nhất đối với trẽ thơ.

    ***Canh búp, nở, tàn, gươm: điển hình là một nụ hoa, dùng bàn tay để trên canh tư

    *Canh búp: dùng bàn tay chụm lại

    *Canh nở: dùng bàn tay chụm, nhưng để hé miệng

    *Canh tàn: xòe cả lòng bàn tay

    *Canh gươm: để một ngón tay thẳng đứng

    33. Trò chơi: KỂ CHUYỆN

    Sự Tích Bưởi Năm Roi

    Một buổi trưa hè nắng gay gắt, Ông Năm đang ngon giấc trong giấc ngủ trưa, chợt nghe tiếng chó sủa vang. Ông cầm ngay cây gậy để bên cạnh chiếc ghế bố ông thường nằm nghỉ trưa và đi thật nhanh đến nơi có tiếng chó sủa trong khu vườn sau nhà, một vườn cây ăn trái đang được mùa và những cây bưởi nhà ông có tiếng là ngọt lịm.

    Thằng Được cùng lũ bạn trong xóm leo rào vào và nó đang trèo trên cây bưởi, còn lũ bạn chừng 5 đứa đang trong tư thế chờ chực những quả bưởi rơi xuống từ tay thằng Được. Tiếng chó sủa làm cả đám trẽ hú hồn, thoáng thấy bóng dáng ông Năm cầm cây gậy lũ trẽ ba hồn chín vía mỗi đứa một hướng tìm đường tẩu thoát, chỉ còn thằng Được là đang lơ lửng trên cây không tuột xuống kịp. Ông Năm la lớn:

    – Thằng nhỏ mày xuống đây mau!

    Thằng Được leo xuống trong gương mặt tái xanh vì bị bắt quả tang, Nó lí nhí:

    – Dạ, ông tha cho con

    -Tại sao hái trộm?

    -Dạ, tại con thích ăn Bưởi của Ông

    -À, vậy là hái trộm, tội này đáng đánh đòn.

    Thằng nhỏ khóc hu hu và xin ông tha tội, nhưng ông không tha, ông quát:

    -Mày muốn mấy roi?

    Thằng bé chỉ biết khóc và im lặng với nét mặt sợ sệt, ông nói lớn:

    -Tội ăn trộm, vậy ông đánh mày năm roi.

    Thế là từ đó có tên Bưởi Năm Roi.

    Trong các trò chơi dân gian khi chỉ có 2 người, để biết được một trong hai người ai là người được ưu tiên thì với trò Sình Sầm dễ phân biệt trước sau. Những vật dụng được thể hiện qua bàn tay :

    – Cái Búa: nắm các ngón tay lại như quả đấm

    – Cái Kéo: nắm 3 ngón tay gồm có ngón cái, ngón áp út, và ngón út lại, và xèo 2 ngón tay còn lại (ngón trỏ, ngón giữa) ta có hình cái Kéo

    – Cái Bao: xòe cả 5 ngón tay ra .

    Luật chơi: Cái Búa thì đập cái kéo, cái kéo thì cắt cái bao, cái bao thì chùm được cái búa

    Khi cả hai cùng đọc: “Uýnh Sình Sầm mày ra cái gì? tao ra cái này”, trong khi bàn tay được dấu sau lưng và khi dứt câu thì đưa tay ra cùng một lúc không được trước sau với dấu hiệu tùy vào mỗi bên, như thế ta biết được bên nào thắng bên nào thua theo luật định, khi hai bên ra cùng một dấu hiệu thì được sình sầm lại.

    Một số người chơi rồng rắn, nối đuôi nhau bằng cách người đứng sau hai tay ôm ngang hông người đứng trước, cứ thế xếp thành hàng dài tùy theo số người chơi, hình thù như một con rắn dài có mắt khúc.

    Người đứng đầu làm đầu rắn, người đứng cuối làm đuôi rắn, giữa là thân rắn và một người làm ông thầy thuốc Bắc ngồi đối diện với con rắn. Khi con rắn (đoàn người nối đuôi nhau) cùng thưa với ông thầy bài tấu trên, Ông thầy không đồng ý thì con rắn sẽ đi vài vòng rồi quay lại tâu tiếp để xin ông thầy cho thuốc.

    Sau nhiều lần từ chối, ông thầy đồng ý thì ông sẽ đứng lên để tìm cách bắt lấy được đuôi của con rắn ông mới cho thuốc. Tình trạng con rắn lúc đó phải cố tránh né để ông thầy không bắt được đuôi nên cố sức che chắn không cho ông thầy tiến về phía sau, và cùng nhau hò hét với bài hát:

    “mạnh thầy thầy bắt được thầy ăn, mạnh rắn rắn bắt được rắn cắn”.

    Thế là cả đoàn người nối đuôi nhau phải lượn qua lượn lại (chạy qua, chạy lại) theo đầu con rắn. Cả đám người cứ thế cố né tránh, ông thầy một mình nhanh chân hơn và dễ chạy hơn, nên con rắn một lúc lâu thấm mệt và thật khó giữ được sự ngay hàng như lúc đầu nên cũng sẽ bị đứt ra nhiều đoạn, thế là đầu con rắn không còn điều khiển cho phần đuôi nữa. Vậy là ông thầy bắt được cái đuôi rắn dễ dàng.

    Trò chơi vui khi phải chạy lượn qua lại tránh thầy thuốc Bắc. Chỉ có vậy thôi nhưng với đám trẽ nhỏ trong những đêm sáng trăng ở quê nhà, với ánh sáng không tỏ tranh sáng tranh tối, thật là một trò chơi vui đùa thú vị.

    36. Trò chơi: CÚNG THÍ THỰC CÔ HỒN

    Tôi còn nhớ rõ lắm cách đây trên 30 năm, gia đình tôi sống tại một vùng quê nhỏ nhưng đầy ấp tình người, người dân quê vẫn luôn giữ được tập tục tốt đẹp: Ngày Lễ Vu Lan Rằm tháng 7 âm lịch, tức là ngày cúng Cửu huyền thất tổ, đồng thời là ngày cúng “Cô hồn các đảng” không nơi nương tựa. Việc cúng cô hồn không ai bảo ai nhà nhà đều lập bàn thờ cúng thí với lòng thành và ý thức rằng những oan hồn sống lây lất phiêu bạc nơi gò đồng, núi rừng, đói rách tả tơi, lang thang đây đó, không ai đơm quẩy thì ta nên nghĩ tưởng nhớ đến họ mà tội nghiệp, nếu không trong tâm họ sẽ cảm thấy bức rức trong lòng.

    Vào mỗi đêm trong tuần tháng 7, bất kể kẽ giàu người nghèo, mọi người đều thiết lễ cúng cô hồn tùy theo khả năng, hoàn cảnh của mình, có gì cúng nấy. Lễ cúng được bày giữa sân nhà hoặc trước cửa nhà, trên hết là một bàn cúng hương hoa quả, chè xôi bánh trái, nhất là phải có một bát cháo trắng, một đĩa nhỏ gạo muối và một nia để bày bánh trái với dụng ý cúng cho cô hồn non trẽ gồm: kẹo, bánh, mía cắt khúc, khoai lang, khoai mì, đậu phộng, cốc, ổi…và những đồng tiền cắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 6 Trò Chơi Dân Gian Phổ Biến Nhất Cho Trẻ
  • Khái Niệm, Đặc Trưng Của Tác Phẩm Văn Học Nghệ Thuật Dân Gian
  • Già Hoá Dân Số: Vấn Đề Chính Sách Ở Việt Nam
  • Trực Tuyến: Già Hóa Dân Số
  • Trung Tam Thong Tin Va Du Bao Kinh Te