Nêu Khái Niệm Môi Trường Sống Của Sinh Vật

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Sinh Trưởng Của Quần Thể Vi Khuẩn
  • Mối Quan Hệ Môi Trường Du Lịch Với Phát Triển Du Lịch
  • Lý Thuyết Kế Toán Môi Trường Dưới Góc Độ Kế Toán Doanh Nghiệp
  • Một Số Vấn Đề Pháp Lý Về Kinh Doanh Dịch Vụ Quản Lý Chất Thải Nguy Hại
  • Dưới Góc Độ Pháp Lý Mua Bán, Sáp Nhập Được Hiểu Thế Nào?
  • Câu 3:

    – Môi trường sốngCâu 12: là phần không bao quanh sinh vật mà ở đó các yếu tố cấu tạo nên môi trường trực tiếp hay gián tiếp tác động lên sự sinh trưởng, phát triển và những hoạt động khác của sinh vật.

    Giới hạn sinh thái:

    – Là giới hạn chịu đựng của sinh vật đối với một nhân tố sinh thái nhất định của môi trường, nằm ngoài giới hạn sinh thái thì sinh vật không tồn tại được.

    Giới hạn ST có:

    * Khoảng thuận lợi: là khoảng nhân tố ST ở mức phù hợp, đảm bảo cho sinh vật sống tốt nhất.

    * Khoảng chống chịu: là khoảng nhân tố ST gây ức chế cho hoạt động sống của sinh vật.

    Ví dụ: giới hạn sinh thái của cá rôphi Việt Nam là 5,6oC đến 42oC

    Hầu hết cây trồng nhiệt đới quang hợp tốt nhất ở nhiệt độ 20oC đến 30oC

    Câu 9:

    +) Nguyên nhân: -Về điều tiết của mắt : Do chúng ta có thói quen nhìn quá gần hay quá xa so với tầm nhìn chuẩn của mắt, bắt mắt phải làm việc nhiều trong thời gian dài ở độ sáng không thích hợp, hoặc sáng quá hoặc tối quá làm mỏi cơ mắt, (thí dụ vật nhìn cách xa mắt 20cm) so với khả năng bình thường của mắt (thí dụ vật nhìn cách xa mắt 30cm) làm cho mắt phải điều chỉnh tăng đi-ốp, hoặc do di truyền.

    2-Theo lý thuyết đông y, mắt là bộ phận bên ngoài nhưng lại có quan hệ mật thiết với các tạng phủ bên trong đặc biệt là tạng can vì can tàng huyết và can khai khiếu ra mắt, tức là mắt khỏe hay yếu đều do chức năng hoạt động của gan. Khi can huyết suy không cung cấp đủ máu lên nuôi dưỡng mắt làm mắt suy yếu (Can huyết hư gây quáng gà, giảm thị lực (cận thị), khô mắt. Can nhiệt gây chứng ngứa mắt, dị ứng ở mắt, mắt đỏ sưng đau). Ngoài ra, Thận thuộc thủy là mẹ của can thuộc mộc không cung cấp năng lượng nuôi con là gan, do đó theo đông y nguyen nhân chủ yếu gây ra tật khúc xạ là do chức năng gan thận suy.

    3-Nguyên nhân do ăn uống :

    Chế độ ăn uống không hợp lý, thiếu các dưỡng chất cần thiết cho mắt như Vitamin A, Vitamin B2, thiếu các loại rau xanh, thừa các chất đường, mỡ.

    Câu 4:

    động vật hằng nhiệt là động vật không thay đổi nhiệt độ theo đời sống môi trường.

    động vật biến nhiệt là động vật thích nghi với đời sống môi trường khác nhau, với nhiệt độ đo môi trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Khái Niệm Về Môi Trường
  • Bốn Trụ Cột Là Triết Lý Giáo Dục Của Unesco?
  • Môi Trường Sống Của Con Người (Mtscn)
  • Đánh Giá Môi Trường Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp
  • Môi Trường Chính Trị (Political Environment) Trong Marketing Là Gì?
  • Bàn Về Khái Niệm Đời Sống Văn Hóa Và Môi Trường Văn Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Văn Hóa Và Môi Trường
  • Định Nghĩa Và Khái Niệm Văn Hóa Môi Trường, Tầm Quan Trọng, Ví Dụ / Môi Trường
  • Xây Dựng Môi Trường Văn Hoá Để Phát Triển Văn Hoá Và Con Người, Phát Triển Bền Vững Đất Nước
  • So Sánh 2 Khái Niệm Văn Hóa Và Văn Minh
  • Thêm Một Lần Bàn Về Văn Hóa Và Văn Minh
  • Tin tức – Sự kiện / Nghiên cứu trao đổi

    Bàn về khái niệm đời sống văn hóa và môi trường văn hóa

    Qua phân tích các văn bản định hướng của Đảng và ý kiến của một số nhà nghiên cứu, bài viết đưa ra thời điểm xuất hiện và quan niệm về các cụm từ đời sống văn hóa, môi trường văn hóa. Nội hàm môi trường văn hoá rộng hơn đời sống văn hoá. Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống. Môi trường văn hoá đề cao vai trò chủ động của con người trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Xây dựng đời sống văn hoá là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm các yếu tố văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, môi trường tự nhiên và trên hết là những con người hiện diện văn hoá.

    Những năm gần đây, trong nhiều bài viết, giới nghiên cứu văn hoá có nói tới hai cụm từ đời sống văn hoá môi trường văn hoá. Nội hàm hai cụm từ trên như thế nào đang là vấn đề đặt ra, cần sự thống nhất về nhận thức, đồng thời làm rõ sự khác biệt của hai cụm từ trên chính là tạo sự thuận lợi cho nhận thức và hành động trong triển khai xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

    thái độ ứng xử với cái cũ, cái mới trong đời sống của nhân dân một cách hợp tình, hợp lý: ” Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết. Không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng nhiều phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay, thì phải làm…“.

    Trong bối cảnh trình độ học vấn của dân ta còn thấp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ “mới” thay cho từ “văn hoá” để cho dân dễ hiểu về xây dựng đời sống văn hoá. Có thể coi Đời sống mới là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xây dựng đời sống văn hóa ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Cho mãi tới những năm 80 của thế kỷ XX, trong chỉ đạo xây dựng đời sống văn hoá, Đảng, Nhà nước vẫn sử dụng từ “mới” được hiểu là kết tinh hàm lượng văn hoá, tri thức, cách tổ chức, giá trị mới trong xây dựng nếp sống, nền văn hoá và con người. Ví dụ ngày 15/1/1975, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 214/CT-TW về việc thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội. Văn kiện Đại hội IV (1976) của Đảng: “Ra sức xây dựng nền văn hoá mới, từng bước xây dựng nước ta thành một xã hội văn hóa cao”. Năm 1980, Ban Chỉ đạo Nếp sống mới Trung ương được thành lập ở các cấp để chỉ đạo vận động xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá mới.

    Cụm từ đời sống văn hoá xuất hiện trong văn kiện của Đảng từ Đại hội IV, đoạn viết: “Hết sức quan tâm tổ chức tốt đời sống văn hoá (tác giả nhấn mạnh) ở các vùng kinh tế mới, các nông trường, lâm trường, công trường ở các vùng dân

    tộc, ở miền núi và hải đảo”. Đến Đại hội V (1982), Đảng ta xác định rõ hơn nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hoá, nhất là đời sống văn hoá ở cơ sở, coi đó là một chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng văn hoá và con người: Sau Đại hội V, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở trở thành một phong trào phát triển sâu rộng trên địa bàn dân cư, đơn vị sản xuất, công tác, học tập tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức và nhu cầu hưởng thụ, sáng tạo văn hoá trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Từ đó, khái niệm về đời sống văn hoá ngày một sáng tỏ. Năm 1987, cuốn sách Năm 2007, cuốn Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, đảm bảo mỗi nhà máy, công trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường ấp, đều có đời sống văn hóa”. Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Namđã luận giải: “Đời sống văn hoá chính là những hành vi sống biểu hiện một trình độ văn hoá, bao gồm các hoạt động của xã hội, của tập thể, của từng cá nhân, nhằm mục đích văn hóa hoá tức là hoàn thiện con người”. Năm 2000, cuốn Giáo trình Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hóa là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cho rằng đời sống văn hoá bao gồm 4 yếu tố: văn hoá vật thể và phi vật thể; cảnh quan văn hoá; văn hoá cá nhân; văn hoá của các “tế bào” trong mỗi cộng đồng, từ đó đưa ra khái niệm: “Đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người”.

    Con người sinh ra và trưởng thành, muốn cho đời sống cá nhân được phong phú, lành mạnh thì tất yếu người đó có quan hệ đến:

    – Đời sống vật chất: đảm bảo yếu tố cho người đó sinh tồn.

    – Đời sống tinh thần: nhằm thỏa mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí, nghị lực, tư tưởng của người đó.

    – Đời sống xã hội: xã hội hình thành nhân cách con người. Bản thân mỗi người đều muốn sống với cộng đồng, thông qua cộng đồng để chứng minh, khẳng định phẩm chất, năng lực của mình và hoàn thiện bản thân.

    Đời sống văn hóa có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của con người tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội để hướng con người vươn lên theo qui luật của cái đúng, cái đẹp, cái tốt, của chuẩn mực giá trị chân, thiện, mĩ, đào thải những biểu hiện tiêu cực tha hoá con người. Đời sống văn hóa là quá trình diễn ra sự trao đổi thông qua các hoạt động văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. Đó là quá trình các yếu tố văn hóa mà con người tiếp thu được tác động vào đời sống vật chất để con người biến đổi môi trường tự nhiên tạo lập môi trường nhân văn, làm ra được nhiều sản phẩm vật chất cho xã hội; tác động vào đời sống tinh thần để con người thỏa mãn nhu cầu chủ quan đáp ứng các yêu cầu về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống; tác động vào đời sống xã hội để xây dựng một hệ thống các giá trị chuẩn mực xã hội; tác động vào chính bản thân đời sống cá nhân, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân và cho cá nhân phương thức lựa chọn hướng đi tốt nhất cho chính cuộc đời mình.

    Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính kế thừa. Kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước tạo ra sự ổn định và tiền đề khẳng định những giá trị mới.

    Đời sống văn hóa bao giờ cũng có tính đổi mới, bởi lẽ con người luôn luôn có khát vọng vươn lên cái tốt đẹp, chỉ có mạnh dạn sáng tạo, mạnh dạn cải đổi mới mong đáp ứng nhu cầu càng cao về vật chất và tinh thần của con người.

    Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng: Đời sống văn hóa là hiện thực sinh động các hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạo các sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đáp ứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người.

    do A.I. Ác-môn-đốp chủ biên, dịch từ tiếng Nga và được Nhà xuất bản Văn hoá xuất bản đưa ra quan niệm: ” Cơ sở lý luận văn hoá Mác – Lênin Môi trường văn hoá là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau. Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hoá, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ. Môi trường văn hoá không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hoá“.

    Quan niệm trên chỉ cho rõ hai thành tố quan trọng của môi trường văn hoá:

    1. Những yếu tố vật thể (vật thể tự nhiên và vật thể nhân tạo).

    2. Nhân cách (có thể hiểu là hành vi văn hoá biểu hiện ở cộng đồng người và cá thể người).

    Hai thành tố này ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo, hưởng thụ, phổ biến các giá trị văn hoá và ý chí vươn lên của con người hướng tới chuẩn mực giá trị nhất định.

    Ở một góc nhìn khác, tác giả Đỗ Huy cho rằng ” Môi trường văn hoá chính là môi trường nhân hóa” và từ góc nhìn giá trị học nhấn mạnh vai trò của con người: ” Môi trường văn hoá chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình“.

    Từ định hướng trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng và từ thực tiễn sinh động của các phong trào văn hóa những năm đầu 90 (thế kỷ XX): phong trào xây dựng gia đình văn hóa; làng, bản, ấp văn hóa; khu dân cư tiên tiến; môi trường văn hóa trong quân đội…, Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (1998) đã đề ra 10 nhiệm vụ cơ bản xây dựng nền văn hóa Việt Nam, xếp nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa ở vị trí thứ hai sau nhiệm vụ xây dựng con người. Nghị quyết đặt ra mục tiêu của việc xây dựng môi trường văn hóa là: ” Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội…), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi…) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu văn hóa đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân“. Đồng thời Nghị quyết trên cũng chỉ ra những vấn đề quan tâm cụ thể của xây dựng môi trường văn hóa là: “Giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai

    trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa. Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh. Thu hẹp dần khoảng cách đời sống văn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân.

    Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm tầm quốc gia. Tăng cường hoạt động của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động văn hóa, nghệ thuật “.

    – Xây dựng đời sống văn hoá ở các đơn vị cơ sở

    – Xây dựng gia đình, cộng đồng dân cư văn hoá

    – Xây dựng nếp sống văn minh

    – Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá.

    – Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức, phong trào văn hoá, văn nghệ.

    Nội dung nêu trên chưa làm rõ thành tố nhân cách và môi trường tự nhiên trong xây dựng môi trường văn hoá. Những thiếu sót này đã được bổ sung trong nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh nêu trong Nghị quyết Trung ương 9, khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (2014). Đảng ta đã tiếp thu lý luận về phát triển bền vững của tổ chức UNESCO, bao gồm 3 trụ cột cơ bản: kinh tế bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững hướng tới mục tiêu làm cho con người phát triển toàn diện. Nghị quyết Trung ương 9 đã nêu hẳn một quan điểm chỉ đạo: “Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng” và trong nội dung xây dựng môi trường văn hóa đã nhấn mạnh vấn đề nhân cách văn hóa, bảo vệ môi trường tự nhiên: “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.

    Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ”.

    Như vậy, thông qua việc khảo sát các văn bản thể hiện quan điểm của Đảng về môi trường văn hoá, có thể nhận ra rằng tư duy của Đảng về môi trường văn hoá ngày một sáng rõ. Nội hàm môi trường văn hoá rộng hơn đời sống văn hoá. Đời sống văn hoá đề cập đến những điều kiện, những hành vi văn hoá của con người xuất phát từ nhu cầu đặt ra trong từng hoàn cảnh cụ thể của đời sống, nhằm thoả mãn khát vọng hưởng thụ và sáng tạo văn hoá. Môi trường văn hoá đề cao vai trò chủ động của con người với tư cách là sản phẩm của văn hoá đồng thời là chủ thể sáng tạo văn hoá trong các mối quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, tạo sự ổn định, phát triển, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng sống của con người. Xây dựng đời sống văn hoá là một nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng nằm trong chiến lược xây dựng môi trường văn hoá. Môi trường văn hoá bao gồm các yếu tố văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể, môi trường tự nhiên và trên hết là những con người hiện diện văn hoá.

    Tóm lại , môi trường văn hoá được hiểu với nghĩa rộng nhất của nó là sự hiện hữu các yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể do con người tái tạo ra; sự hiện hữu của cả những yếu tố vật thể tự nhiên bao quanh con người, trở thành khung cảnh và điều kiện tồn tại của con người; sự hiện diện của các nhân cách văn hóa trong không gian, thời gian xác định, quan hệ, tác động lẫn nhau hướng con người tới những chuẩn mực giá trị xã hội./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Văn Hóa An Toàn Lao Động Tại Các Doanh Nghiệp Việt Nam Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Xây Dựng Văn Hóa An Toàn Lao Động Trong Doanh Nghiệp
  • Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Vĩnh Sơn Sông Hinh
  • Ẩm Thực Là Gì? Tìm Hiểu Về Ẩm Thực Là Gì?
  • Giáo Trình Văn Hóa Ẩm Thực
  • Khái Niệm Về Chiến Lược Môi Trường Đô Thị (P2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Và Những Hậu Quả Mà Nó Đem Lại
  • Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà Là Gì? Điều Gì Gây Ra Nó?
  • Vì Sao Không Khí Trong Nhà Ô Nhiễm Gây Hại Hơn Không Khí Ngoài Trời?
  • Định Nghĩa Ô Nhiễm Không Khí Bằng Tiếng Anh
  • Bài Luận Tiếng Anh Vê Hệ Quả Của Ô Nhiễm Môi Trường
  • Việc chọn biện pháp xử lý rác thải do sinh hoạt phải dựa trên các điều kiện cụ thể của địa phương và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác. Hiện nay người ta thường dùng các biện pháp sinh học sau đây để xử lý rác thải: xử lý hiếu khí trong nhà máy, hoặc ủ hiếu khí tại bãi tập trung, tích trữ và ủ yếm khí tại các polygon.

    Có thể xem việc xử lý phế thải rắn sinh hoạt là giai đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường đô thị. Đây là một quá trình tổng hợp bao gồm thu gom, vận chuyển, tập trung và xử lý chế biến. Tất cả các khâu đểu quan trọng như nhau, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác vệ sinh môi trường. Đặc biệt việc phân loại từ khâu thu gom mang ý nghĩa quyết định.

    Với rác thải công nghiệp, việc xử lý mang tính đa dạng và phải thận trọng hơn nhiều, nếu không có thể gây ra những hậu quả nặng nề cho môi trường. Việc xử lý bằng chôn ủ trong các polygon đặc biệt, hay nung đốt trong lò nhiệt độ cao, cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

    + Trung hoà hoặc khử độc đối với những rác thải độc hại bằng hoá chất thích hợp hoặc phân huỷ ở nhiệt độ cao mà kết quả sản phẩm và quá trình xử lý an toàn cho môi trường.

    + Rác thải phóng xạ và nhiễm phóng xạ thực hiện chôn cất an toàn và nằm trong tầm kiểm soát thường xuyên.

    Ngày nay nguyên lý sử dụng lại phế thải rắn là xu hướng nghiên cứu được quan tâm. Xu hướng này là một trong những chiến lược công nghệ sạch, nó có ý nghĩa tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường tiến tới mục tiêu phát triển bền vững. Tại Mỹ hàng năm có khoảng 134.106 tấn phế thải rắn công nghiệp thì chứa tới ll,3.106tấn sắt, 0,86.106 tấn nhôm, 0,43.106 tấn kim loại khác, 13.106 tấn thuỷ tinh, trên 60.106 tấn giấy. Nếu đốt khối lượng rác này sẽ thu được một nhiệt lượng tương đương đốt 20.106 tấn dầu mỏ. Hiện nay trong quá trình xử lý một số loại rác, người ta đã thu được nhiên liệu lỏng, than cốc, metanol, amoniac, ure, cồn etilic và các loại vật liệu xây dựng hoặc ứng dụng nguyên lý pin axit đế thu điện năng.

    Để chống ô nhiễm môi trường đất, không khí và các nguồn nước mặt, nước ngầm, việc xử lý chất thải rắn phải đảm bảo nghiêm ngặt tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình công nghệ đặt ra. Vì thế không thể giải quyết vấn đề rác thải theo kiểu manh mún, mà phải có tính tập trung cao, có Quy hoạch rõ ràng, cụ thể, chính xác, tạo cơ hội tập trung nguồn lực tối đa thì mới giải quyết tốt được, đặc biệt theo xu hướng “sử dụng lại” làm nguyên liệu thứ cấp cho công nghiệp.

    Với rác thải bệnh viện, hiện nay thường sử dụng phương pháp đốt là chủ yếu. Phương pháp này có thể làm ô nhiễm môi trường không khí song đơn giản dễ làm và khối lượng ít. Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây chỉ ra một hướng mới là làm tiệt trùng rác thải bệnh viện bằng hệ thống thiết bị chuyên dụng, sau đó xử lý cùng rác thải sinh hoạt.

    c) Ô nhiễm nước và vệ sinh nguồn nước trong đô thị

    Đô thị là nơi tập trung mọi hoạt động nên lượng nước sử dụng hàng ngày rất lớn, đáp ứng cho các yêu cầu cơ bản sau đây: (1) Cho sản xuất công nghiệp, (2) Cho sinh hoạt đô thị, (3) Phòng cháy chữa cháy, (4) Làm vệ sinh đường sá.

    Tùy theo mức độ yêu cầu có thể dùng các loại nước cấp với chất lượng khác nhau, nhưng nói chung dù dùng vào mục đích gì cũng phải là nước sạch, nếu không sản phẩm công nghiệp sẽ kém chất lượng, hệ thống cấp nước và thiết bị chuyên dụng sẽ dễ bị phá hỏng vì nước không sạch gây ra ăn mòn, cặn lắng, và mất vệ sinh môi trường.

    Cấp nước trong đô thị nước ta, về chất lượng được quy định theo tiêu chuẩn TCVN 51 -72 của Nhà nước ban hành, trong đó quy định thành phần tạp chất cho phép trong nước và thành phần vi khuẩn, vi trùng gây bệnh cho con người (tả, lỵ, các vi khuẩn gây bệnh tiêu hoá…)

    Tính riêng nước sạch sinh hoạt hàng ngày trong gia đình, để thoả mãn yêu cầu tối thiểu cũng phải là 70 – 100 lít/người.ngày (ả Mỹ 380-500 lít/người ngày, Pháp 200-500 lít/người ngày, Singapo 250 – 400 lít/người ngày). Trong các đô thị ở nước ta, số dân đô thị được cấp nước sạch mới khoảng 70%, đặc biệt ở một số đô thị chỉ mới có 30- 40% dân cư được sử dụng nước sạch của hệ thống cấp nước đô thị, còn lại dùng nước giếng khoan hoặc giếng khơi tuỳ thuộc vào điểu kiện thuận lợi của từng khu vực. Để đảm bảo đủ nước cung cấp cho đô thị, thường phải dùng cả nguồn nước ngầm lẫn nguồn nước mặt của những hê thông sông lớn chạy qua. Muốn có đủ nước và nước có chất lượng tốt thì phải giữ cho nguồn nước được trong sạch không bị ô nhiễm. Đây là điều rất khó khăn trong các đô thị. dãc biệt là các đô thị lớn. Lý do ô nhiễm nước mặt là do nước thải đô thị có lương chât bấn lớn

    Có nhiều chất thái trong đô thị là nguồn gốc gây ô nhiễm nước, chúng là các chất tồn dư nguồn gốc nước được tạo ra dưới hai dạng nguồn điểm và nguồn phân tán. Nguồn điểm là các nguồn thải trực tiếp vào môi trường nước từ cống xả của các nhà máy công nghiệp hay cống rãnh thành phố. Nguồn phân tán bao gồm các yếu tố tác động đưa vào dòng chẩy sông, rạch, mương, hồ và nước ngầm thông qua dòng rửa trôi trên bề mặt đô thị và quá trình thấm hút. Vì vậy một bãi xử lý chất thải rắn không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, hay một bãi đỗ xe… cũng trở thành nguồn ô nhiễm nước.

    Do đó tính chất ô nhiễm nước trong các khu vực đô thị khác nhau là khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm phát triển và hình thái địa lý của khu vực đô thị đó. Song mức độ ánh hưởng của nó tới môi trường nước phụ thuộc vào mức độ xử lý trước khi xả thải và vào dung lượng thuỷ vực có thể pha loãng. Để dễ nhận biết trong xử lý, người ta thường

    chia ra dòng thải công nghiệp và dòng thải sinh hoạt.

    + Dòng thải sinh hoạt chứa đa phần là chất hữu cơ có khả năng phân huỷ được, nhưng lại làm hỏng hệ sinh thái thuỷ sinh vì tăng quá mức độ phú dưỡng trong nước. Chúng làm cho các loài tảo ở đây phát triển quá mức (gọi là hiện tượng nước nở hoa). Do sinh vật tiêu thụ trong hệ sinh thái thủy sinh không tiêu thụ kịp nên khi tảo chết đi chúng sẽ bị phân huỷ và giải phóng ra độc tố, gây ra hiện tượng thiếu oxy trong nước (chỉ số BOD và COD lớn) làm ảnh hưởng mạnh đến sự sống của sinh vật nước và dẫn đến hệ sinh thái sông hồ đô thị mất cân bằng. Quá trình này kéo dài dẫn đến thành phần sinh vật nước bị chết, các chất hữu cơ không được sinh vật tiêu thụ, tiếp tục phân huỷ do thối rữa nên nước trở thành hôi thối, biến thành nơi cư trú của các loại vi trùng, các yếu tố gây bệnh, các ký sinh trùng đe doạ sức khoẻ cộng đồng đô thị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Bạn Cần Biết Về Khái Niệm Ô Nhiễm Môi Trường
  • Đã Đến Lúc Cần Xây Dựng Luật Về Kiểm Soát Chất Lượng Không Khí
  • Huong Dan Xay Dung Ke Hoach Hanh Dong Kiem Soat O Nhiem Cap Dia Phuong
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Kiểm Soát Ô Nhiễm Không Khí, Hot
  • Biện Pháp Phòng Chống Kiểm Soát Suy Thoái, Sự Cố Và Ô Nhiễm Môi Trường
  • Khái Niệm Và Phân Loại Các Loại Hình Tội Phạm Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Luận Văn: Các Tội Phạm Về Môi Trường Theo Luật Hình Sự, Hot
  • Chi Phí Là Gì ? Khái Niệm Về Chi Phí Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Khái Niệm Chi Phí Và Phân Loại Chi Phí Trong Kế Toán Quản Trị
  • Chi Phí Môi Trường (Environmental Cost) Trong Doanh Nghiệp Sản Xuất Là Gì?
  • Msde: Microsoft Phát Triển Môi Trường
  • ThienNhien.Net – Ở Việt Nam, trước năm 1999, vấn đề bảo vệ môi trường mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa được chú trọng đúng mức. Điều này phần nào thể hiện ở Bộ luật Hình sự 1985 khi chưa dành một chương riêng để quy định về các tội phạm về môi trường. Thời đó, các tội phạm gây thiệt hại cho môi trường được hiểu như là những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (các tội quy định tại Điều 179, 180, 181 Bộ luật Hình sự 1985), hoặc các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (như Điều 216 Bộ luật Hình sự 1985). Cá biệt, chỉ có một điều luật dành để quy định tội phạm xâm hại đến môi trường là Điều 195.

    Hiến pháp năm 1992 là nền tảng cơ bản cho chính sách hình sự của Việt Nam đối với tội phạm về môi trường khi quy định: Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường” (Điều 29). Trên cơ sở đó, Bộ luật Hình sự 1999 đã dành Chương XVII để quy định các tội phạm về môi trường gồm 10 tội danh (từ Điều 182-191) và đến Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009, con số này là 11.

    Về mặt lập pháp là vậy, song trên thực tế, số lượng các hành vi xâm phạm đến môi trường bị xử lý không đáng kể mặc dù những năm gần đây vi phạm môi trường ở Việt Nam ngày càng phổ biến, đa dạng, liên tục với mức độ tổn hại ngày càng nghiêm trọng. Đặc biệt, trong số các vụ việc bị xử lý cũng không có nhiều vụ bị truy cứu trách nhiệm hình sự cho dù các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự là tương đối đầy đủ. Những sai phạm điển hình như vụ Công ty TNHH Vedan xả nước thải trực tiếp xuống sông Thị Vải (Đồng Nai), Công ty sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin xả chất thải rắn (hạt nix) độc hại không qua xử lý ra môi trường (Khánh Hoà), Nhà máy Miwon (Việt Trì – Phú Thọ) xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Hồng; hành vi xả nước thải độc hại ra sông Đông Điền (huyện Nhà Bè – TP. Hồ Chí Minh) của Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương; các công ty nhập chất thải phế liệu về cảng Hải Phòng, Sài Gòn và Đà Nẵng… đều không bị xử lý hình sự.

    Sở dĩ có thực trạng này, ngoài một số bất cập của Bộ luật Hình sự hiện hành về tội phạm môi trường còn một nguyên nhân sâu xa có thể kể đến là việc các nhà lập pháp chưa xây dựng khái niệm về nhóm tội phạm môi trường. Điều này dẫn đến những khó khăn trong việc xây dựng các hình thức chế tài, phạm vi, nhiệm vụ và chiến lược của hoạt động phòng ngừa một cách hợp lý, từ đó phân hoá trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm này.

    Có nhiều khái niệm về tội phạm môi trường trong khoa học Luật hình sự, nhưng đa số chưa rõ ràng và đầy đủ. Một trong số đó là: Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường sinh thái”(NXB Công an Nhân dân, 2001). Khái niệm này khiến cho người đọc hiểu nhầm rằng tội phạm về môi trường bao gồm cả những hành vi vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực môi trường khi chưa nêu được dấu hiệu “vi phạm pháp luật hình sự”. Mặt khác, khái niệm này đã đồng nhất “sự bền vững và ổn định của môi trường” (với tư cách là đối tượng của tội phạm) với “các quan hệ xã hội về quản lý và bảo vệ môi trường” (với tư cách là khách thể của tội phạm môi trường).

    Một khái niệm khác cho rằng:”Các tội phạm về môi trường là các hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm các quy định của Nhà nước về môi trường, qua đó gây thiệt hại cho môi trường” (Đại học Luật Hà Nội, 2000). Khái niệm này cũng chưa có sự phân biệt giữa tội phạm về môi trường và hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường. Thêm vào đó, yếu tố “gây thiệt hại cho môi trường” trong khái niệm đã khiến cho các nhà lập pháp nhìn nhận rằng tất cả tội phạm về môi trường phải được xây dựng với cấu thành tội phạm vật chất. Sau cùng, khái niệm chưa xác định được khách thể của tội phạm môi trường.

    Cũng có tác giả cho rằng: “Tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS Việt Nam, xâm hại tới các quan hệ xã hội về giữ gìn môi trường trong sạch, sử dụng hợp lý những tài nguyên của nó và đảm bảo an toàn môi trường cho dân cư”(Trần Lê Hồng, 2001). Khái niệm này không đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của tội phạm là chủ thể và yếu tố chủ quan của tội phạm.

    Khái niệm về tội phạm môi trường cần phải thể hiện được đầy đủ các đặc điểm của tội phạm nói chung vừa phải bao hàm được đặc trưng cho khách thể của những tội phạm về môi trường được quy định trong Chương XVII Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành cũng như chính sách hình sự của Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghĩa là, bên cạnh việc bao quát các tội phạm môi trường được quy định tại Chương XVII, khái niệm còn phải bao hàm được một số tội phạm được quy định ở các Chương khác của Bộ luật Hình sự nhưng cũng ảnh hưởng đến môi trường.

    Để có chính sách hình sự và chiến lược phù hợp nhằm phòng ngừa có hiệu quả các tội phạm về môi trường, bên cạnh đưa ra khái niệm tội phạm môi trường, việc phân loại các nhóm tội phạm môi trường có ý nghĩa không kém. Với mục tiêu đưa ra chiến lược phòng ngừa tội phạm môi trường, việc phân loại các nhóm tội phạm này cần dựa trên đặc trưng của hành vi khách quan và khách thể bị xâm hại. Theo đó, có thể chia các nhóm tội phạm môi trường ở Việt Nam như sau:

    Đây là nhóm tội phạm có tác động trực tiếp đến môi trường sống của con người và mọi sinh vật trong phạm vi của nó, cho dù người phạm tội có trực tiếp hay gián tiếp, cố ý hay vô ý gây ra. Khi môi trường sống bị ô nhiễm, tính mạng, sức khoẻ con người sẽ không được đảm bảo. Mặt khác, thiệt hại về kinh tế do sinh vật nuôi trồng bị ảnh hưởng là điều không thể tránh khỏi. Bởi vậy, về mặt lập pháp cũng như trong hoạch định chiến lược phòng ngừa cần có sự quan tâm đặc biệt đến nhóm tội phạm này.

    Đây là nhóm các tội phạm dù không trực tiếp làm cho môi trường bị ô nhiễm, nhưng đe doạ đến an ninh sinh thái của con người và sinh vật, gây mất cân bằng sinh thái. Điều này có thể trước mắt chưa tạo ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống con người, nhưng trong tương lai, tác hại của nó là khó lường và việc khắc phục hậu quả là vô cùng phức tạp. Bởi vậy, việc chủ động phòng ngừa là việc nên làm thông qua việc hoàn thiện Bộ luật Hình sự cũng như chiến lược phòng ngừa từ các cơ quan thực thi pháp luật. Có thế mới tránh được những hậu quả khôn lường sau này.

    Nhóm tội phạm này tuy xâm hại chính đến trật tự quản lý kinh tế, nhưng thông qua đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Tài nguyên thiên nhiên được hình thành qua hàng triệu năm và không thể tái tạo vì vậy nếu khai thác thiếu kiểm soát tài nguyên sẽ cạn kiệt và các thế hệ sau không thể có đầy đủ nguồn lực để phát triển kinh tế. Mặt khác, môi trường cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tài nguyên thiên nhiên về bản chất là một yếu tố cấu thành quan trọng của môi trường. Do đó, việc đặt ra vấn đề phòng ngừa các tội phạm cũng là sự cấp thiết đòi hỏi kết hợp giữa các biện pháp kinh tế với hình sự, hành chính. Có như thế mới mong tránh được những thiệt hại về kinh tế và những sự cố về môi trường sau này.

    Theo dự báo, trong những năm tới, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường vẫn còn nhiều diễn biến mới, phức tạp, chưa thể giải quyết một sớm một chiều. Pháp luật về môi trường nói chung và pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thiện; lực lượng thực thi pháp luật về môi trường cũng đang từng bước củng cố về năng lực. Đây là điều kiện để các đối tượng phạm tội thực hiện hành vi xâm hại môi trường, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp; kinh doanh nhập khẩu; khai thác tài nguyên, khoáng sản v.v… Ngoài ra, trong thời kỳ hội nhập, chúng ta phải đặc biệt lưu ý nguy cơ các doanh nghiệp nước ngoài do áp lực về môi trường ở nước họ, sẵn sàng đầu tư các công nghệ lạc hậu vào Việt Nam nhằm trốn phí môi trường với các thủ đoạn ngày một tinh vi hơn. Dưới áp lực về yêu cầu tăng trưởng kinh tế, áp lực về công ăn việc làm, về đối ngoại, về an sinh xã hội, việc xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường vẫn là bài toán nan giải. Bởi lẽ, việc tổ chức phát hiện vi phạm không khó, nhưng việc xử lý sai phạm, đặc biệt là ở các doanh nghiệp lớn, có yếu tố nước ngoài, số lượng lao động đông lại rất khó khăn.

    Có thể thấy rõ, ngày nay, bảo vệ môi trường đang ngày càng được Nhà nước quan tâm. Điều này được minh chứng rõ nét qua việc Hiến pháp năm 2013 đã dành nhiều điều quy định về bảo vệ môi trường nhằm hướng đến một môi trường trong sạch cho mọi người và sinh vật, đảm bảo sự phát triển bền vững, cũng như quyền bình đẳng trong tiếp cận môi trường của mọi công dân. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở các quy định của Hiến pháp năm 2013 mà không kịp thời có cách tiếp cận đúng đắn để hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và các quy định về tội phạm môi trường nói riêng thì mục tiêu kiềm chế hành vi vi phạm pháp luật môi trường sẽ không thành công và chúng ta sẽ phải tiếp tục sống trong môi trường ô nhiễm, đe dọa đến tính mạng, sức khỏe và chất lượng cuộc sống.

    1. Quốc hội, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005.
    2. XH. Xử lý hình sự vi phạm về môi trường: Nhìn nhận từ khía cạnh pháp luật Việt Nam. Nguồn: http://bit.ly/btcs00405
    3. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2000.
    4. Chinh, N. T. (2010). Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm về môi trường theo luật hình sự Việt Nam

    Tiến sĩ Phạm Văn Beo, Trưởng Bộ môn Luật Tư pháp, Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đánh Giá Nhanh Môi Trường Pháp Lý Và Chính Sách Liên Quan Đến Từ Thiện Doanh Nghiệp Và Hợp Tác Với Khu Vực Xã Hội Dân Sự Ở Việt Nam
  • Một Số Khái Niệm Căn Bản Về Xử Lý Sinh Học Môi Trường Ô Nhiễm
  • Môi Trường Nhiệt Đới Là Gì?
  • Môi Trường Nhiệt Đới Là Gì? Đặc Điểm Và Khí Hậu Của Môi Trường Nhiệt Đới
  • Môi Trường Là Gì Và Phân Tích Yếu Tố Môi Trường Tự Nhiên
  • Đổi Mới Khái Niệm “kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”?

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Kinh Tế Hàng Hoá, Kinh Tế Thị Trường
  • Khái Niệm Khoa Học Công Nghệ Là Gì Và Vai Trò Trong Đời Sống?
  • Chương I. §1. Khái Niệm Về Khối Đa Diện
  • Kinh Doanh Là Gì? Những Khái Niệm Căn Bản Cập Nhật
  • Kinh Doanh Là Gì? Các Khái Niệm Cơ Bản Trong Kinh Doanh
  • Xây dựng thể chế kinh tế thị trường là vấn đề từng được tranh luận đôi khi đến mức nảy lửa, cả trong hội trường và bên lề nhiều diễn đàn của Ủy ban Kinh tế Quốc hội.

    Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), TS. Nguyễn Đình Cung là một trong số các chuyên gia quyết liệt bảo vệ quan điểm “không chuyển sang kinh tế thị trường thì không giải quyết được gì cả”.

    Nút thắt nằm ở Nhà nước

    Lần này, ở báo cáo nghiên cứu dài tới trên 50 trang gửi đến Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2021, diễn ra trong hai ngày 21 và 22/4, ông Cung đặt vấn đề đổi mới khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Đổi mới tư duy và tháo bỏ nút thắt thể chế để chuyển mạnh nền kinh tế Việt Nam sang kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại là tên của nghiên cứu này.

    Tại đây, Viện trưởng CIEM đã phân tích cặn kẽ về các loại kinh tế thị trường, cũng như một số điểm nghẽn hay nút thắt thể chế chế ngăn cản chuyển đổi mạnh mẽ sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

    Ông Cung khái quát, hiện đang tồn tại hàng loạt các nút thắt thể chế ngăn cản hoặc làm chậm lại tiến trình cải cách kinh tế đang dang dở ở Việt Nam. Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình ngay khi mức thu nhập bình quân đầu người còn rất thấp.

    Nguyên nhân của các nút thắt nói trên, theo TS. Nguyễn Đình Cung, lại nằm ở phía Nhà nước.

    “Có thế nói, cải cách 30 năm qua ở Việt Nam mới chủ yếu tập trung vào giảm và thu hẹp vai trò và chức năng của Nhà nước, mà chưa có đổi mới căn bản cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước; chưa thay đổi cơ bản tư duy về kinh tế thị trường, về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường”, Viện trưởng CIEM đúc kết.

    Kiến nghị đầu tiên của chuyên gia này về cải cách thể chế, là đổi mới nhận thức và làm rõ nội hàm của một số khái niệm cơ bản của quá trình cải cách tiếp theo.

    Mà xếp hàng đầu, theo ông, chính là khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Vị chuyên gia này cho rằng, thực tế nói trên đang trở thành rào cản lớn, chưa thể vượt qua đối với đổi mới nói riêng, và phát triển quốc gia nói chung.

    Theo tinh thần đó, ông Cung đề xuất đổi mới khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” như sau:

    “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, trong đó, Nhà nước và thị trường là hai yếu tố không thể thiếu, phối hợp, cộng sinh và bổ sung cho nhau hướng đến thị trường hoàn hảo”.

    “Thị trường hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả không thể thiếu được một Nhà nước mạnh, có hiệu lực và hiệu quả. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trước hết là xây dựng và hoàn thiện thể chế cho một nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ”.

    Trên cơ sở kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, định hướng xã hội chủ nghĩa được bảo đảm bằng điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa theo hướng tăng trưởng bao dung, công bằng; phân phối lại thu nhập và tổ chức cung ứng dịch vụ công theo hướng Nhà nước phúc lợi ngày càng nhiều hơn tùy phụ thuộc vào giai đoạn và trình độ phát triển; và phát triển hệ thống an sinh xã hội hướng mạnh tới các nhóm yếu thế trong xã hội”.

    “Đổi mới lần hai đã trở thành mệnh lệnh”

    Nói rõ là đề xuất này có khác so với nội hàm đang sử dụng hiện nay và khác với một số đề xuất khác trên một số điểm, ông Cung viết tiếp:

    “Ví dụ, Đại hội 11 của Đảng: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt bới các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”.

    “Chính cách hiểu cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường được tạo dựng và quản lý bởi Nhà nước đã tạo ra cách hiểu sai lệch về vai trò của Nhà nước; đồng thời, tạo cơ sở lý luận và dư địa cho can thiệp quá mức, không phù hợp của Nhà nước; làm cho thị trường sai lệch và méo mó, không thực hiện được đúng và đầy đủ chức năng của mình trong nền kinh tế”.

    Theo ông Cung, nền kinh tế thị trường mà Việt Nam hướng đến phải là nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại tương tự như kinh tế thị trường tại các nước thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).

    “Hiện vẫn còn khoảng chênh lệch rất lớn về trình độ phát triển của thị trường của nền kinh tế Việt Nam so với nền kinh tế của các quốc gia nói trên và có sự khác biệt trước hết về tư duy và quan niệm. Ở Việt Nam, quan điểm chính thống vẫn chưa tin vào thị trường và kinh tế thị trường”, tác giả báo cáo nghiên cứu viết tiếp.

    Cho rằng làn sóng đổi mới lần hai đã trở nên rất cần thiết, Viện trưởng CIEM cũng nhấn mạnh, đổi mới lần hai khó khăn hơn bội phần so với đổi mới lần thứ nhất, cách đây 30 năm.

    Song, “tuy khó khăn và đầy thách thức, nhưng đổi mới lần hai đã trở thành mệnh lệnh, không thể không làm”, tác giả khép lại báo cáo nghiên cứu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Thị Trường Hiện Đại Theo Định Hướng Xhcn Là Gì?
  • Khái Niệm Kinh Tế Thị Trường
  • Những Câu Nói Hay Của Joker Bất Hủ Nhất Tình Yêu Và Tiếng Anh
  • Joker Và Khái Niệm The Shadow Của Carl Jung
  • Định Nghĩa Trẻ Trâu Là Gì? Dấu Hiệu Nhận Biết Trẻ Trâu Chính Hiệu
  • Khái Niệm Chung Về Du Lịch Và Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Du Lịch Và Bảo Vệ Môi Trường: Vẫn Là Cán Cân Lệch!
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 7 Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên (Tiết 1)
  • Lý Thuyết Gdcd 7 Bài 14: Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên Hay, Chi Tiết.
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 7
  • Môi Trường Kinh Doanh Là Gì? Tác Động Đến Doanh Nghiệp Như Thế Nào?
  • Như chúng ta đã biết rằng để phát triển du lịch thì điều kiện đầu tiên không thể thiếu là tài nguyên thiên nhiên. Trong đó thì môi trường tự nhiên như môi trường nước, không khí, đất đai đồi núi là yếu tố chính nhằm đem đến sự thoả mãn cho du khách du lịch. Theo luật bảo vệ môi trường của nước ta công bố ngày10/1/1994: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Khi du lịch ngày càng phát triển thì đồng nghĩa với tác động không nhỏ đến môi trường tự nhiên như suy thoái đât đai, nguồn nước, cảnh quan tự nhiên sẽ bị phá vỡ, dần dần thì vẻ đẹp tự nhiên của nó sẽ không còn nữa và thay vào đó là các hệ thống xử lý rác thải mà thôi.

    Đây là loại hình du lịch ngày càng được ưa chuộng và phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế giới. Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới (Ecotorism society): “Du lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”. Cùng với khai thác tài nguyên du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển cuả môi trường tự nhiên bằng các biện pháp lâu dài. Khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển, sự ra đời của các loại máy móc thì mặt trái của vấn đề ô nhiễm môi trường và suy thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho tài nguyên du lịch ngày bị cạn kiệt, mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái thực chất là loại có quy mô không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập với môi trường tự nhiên ở điểm du lịch, khu du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch nay Tổ chức Du lịch thế giới đã khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách cùng người dân ổ vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng vv. . . đồng thời chú trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát triển hoạt động của du lịch trong tương lai.

    Loại hình du lịch sinh thái có nhiệm vụ: bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên; bảo đảm đối với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên mà họ đang chiêm ngưỡng ;thu hút tích cực sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương trong việc quản lý bảo vệ và phat triển du lịch đang triển khai thực hiện trong điểm du lịch, khu du lịch vv. . . Qua các yêu cầu nhiệm vụ đề ra nói lên loại hinh du lịch sinh thái vừa bảo đảm sự hài lòng đối vơí du khách ở mức độ cao để tạo lập sự hấp dẫn đối với họ, đồng thời qua du khách quảng bá uy tín của điểm du lịch, khu du lịch. Từ đó ngành du lịch có điều kiện bảo đảm và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lich và cũng là cơ hội tăng thu nhập từ hoạt động du lịch đối với các nhóm dân cư trong cộng đồng địa phương, cũng tức là có điều kiện thuận lợi về xã hội hoá thu nhập từ du lịch. Cho đến nay vẫn chưa có sự xác định hoà hảo về loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này quả vẫn còn mới mẻ, mặc dù những năm 1997-1998 Tổ chức Du lịch thế giới và Liên Hợp Quốc đã nêu một số quan điểm chuyển mạnh sang loại hình du lịch sinh thái phù hợp với điều kiện mới của sự phát triển du lịch. Nói chung du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào những hình thức truyền thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên và nền văn hoá bản địa, du khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về nhưng nét đặc thù vốn có văn hoá cổ điển, vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại.

    Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”. Sự phát triển của một quốc gia phải được đảm bảo một cách thống nhất và đồng thời trên 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Bền vững về kinh tế thể hiện một cách khái quát ở sự ổn định và không ngừng gia tăng sức sản xuất của quốc gia, thông thường được hiển thị bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc gia trên đầu người (GDP/người). Bền vững ở xã hội thể hiện ở sự phân chia thu nhập và phúc lợi xã hội, thông thường đươc hiển thị bằng tính công bằng trong phân bố các tầng lớp giàu nghèo trong xã hội. Bền vững về môi trường thể hiện ổ sự sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường xã hội, phục vụ nhu cầu các thế hệ hiện tại mà vẫn để lại cho các thế hệ tương lai nhưng tài nguyên và điều kiên môi trường cần thiết cho sự phát triển của họ. Ngày nay song song với việc phát triển du lịch là đi đôi với việc tàn phá môi trường tự nhiên xung quanh. Những việc phá hoại môi trường này chỉ đem lại cho quốc gia và doanh nghiệp một chút ít lợi ích trước mắt, còn về lâu dài đây chính là mối nguy hại đe doạ đến sự sống còn của môi trường, từ năm 1990 ý nghĩa của việc phát triển du lịch môi trường, một xu thế phát triển lâu dài đã được biết tới. Cho nên chủ trương của Tổng cục du lịch Việt Nam hiên nay khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tập trung vào phát triển du lịch bền vững hay còn gọi “du lịch sinh thái “, ” du lịch xanh”. Ở đây hàm hai ý nghĩa, một là khái niệm về tính” liên tục”, hai là khái niệm về tính” bảo tồn “. Để làm được điều đó thì phải có chiến lược lâu dài về việc bảo vệ môi trường xã hội nói chung và môi trường du lịch nói riêng. Nhưng trên thực tế cho thấy, phát triển bền vững đòi hỏi phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho sản xuất lương thực, chất đốt trong khi vẫn mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của số dân tăng nhanh, hay ngày càng nhiều công trình kiến trúc mọc lên ngay khu bảo tồn thiên nhiên thì thật là mâu thuẫn. Khi mà diện tích đất hoang dã, đất không thích hợp cho con người sử dụng tiếp tục tăng, thu hẹp địa bàn cư trú của các loài hoang dã. Các rừng nhiệt đới, hệ sinh thái, rạng san hô, rừng ngập mặn ven biển, các bãi biển và nhiều địa bàn cư trú duy nhất khác đang bị phá huỷ dẫn đến nguy cơ diệt chủng của một số loài.

    Tóm lại, phát triển du lịch môi trường bao gồm các yếu tố như sau: khai thác và phát triển tài nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh thái đồng thời bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi phục những nguồn tài nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một khu du lịch nào đó, chúng ta phải xây dựng kế hoạch phát triển dựa trên những đặc trưng thế mạnh của khu vực đó, đồng thời phải có quyết định đúng đẳn trong việc có ứng dụng những yếu tố trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề: Bảo Vệ Môi Trường Du Lịch
  • Bỏ Túi Ngay Đoạn Văn Tiếng Anh Về Môi Trường Có Dịch
  • Môi Trường Đất Là Gì? Ô Nhiễm Môi Trường Đất Là Gì?
  • Ô Nhiễm Môi Trường Đất
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8128:2015 Vi Sinh Vật Trong Thực Phẩm, Thức Ăn Chăn Nuôi Và Nước
  • Ô Nhiễm Môi Trường Đất Là Gì, Khái Niệm, Nguyên Nhân Và Hướng Giải Quyết

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Đất Và Những Hệ Luỵ Mà Ô Nhiễm Môi Trường Đất Đem Lại
  • Thế Nào Là Ô Nhiễm Môi Trường Đất?
  • Dịch Vụ Dịch Thuật Chuyên Ngành Môi Trường: Uy Tín, Chuyên Nghiệp
  • Giáo Án Giáo Dục Công Dân Lớp 7 Bài: Ngoại Khóa Bảo Vệ Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên
  • Môi Trường Kinh Doanh Là Gì?
  • Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT – MỐI NGUY HẠI CỦA CON NGƯỜI VÀ SINH VẬT

    Đất là nguồn tài nguyên quý giá, là nơi sinh sống của con người và vạn vật. Vấn đề ô nhiễm đất sẽ ảnh hưởng tới tương lai của động thực vật và ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước, gây hại cho chúng ta rất nhiều.

    Với tốc độ phát triển kinh tế và công nghiệp hóa hiện nay. Tình trạng ô nhiễm đất đang ngày 1 trầm trọng và đang lo lắng. Là vấn đề cần mọi người, mọi nhà và các cơ quan ban ngành, các cấp nhà nước quan tâm chú trọng.

    Các loại chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp độc hại ra môi trường ddaatas, các công cuộc khai thác khoáng sản không được xử lý triệt để làm đất ô nhiễm thêm. Trước khi quá muộn, hãy chung tay cùng công ty phế liệu Bảo Phong trong công cuộc thu mua phế liệu, vận chuyển xử lý rác thải và tái chế phế liệu để hạn chế việc ô nhiễm đất.

    SỐ LIỆU THỐNG KÊ VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT

    Theo số liệu thống kê về tình hình ô nhiễm môi trường đất mới nhất của các chuyên gia từ đầu năm 2021, có nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường đất trong đời sống và sản xuất nông nghiệp đó là ô nhiễm trong nguyên liệu sản xuất phân lân có chứa 3% Flo. Khi bón nhiều phân lân vào đất sẽ làm tăng hàm lượng Flo trong đất và sẽ làm ô nhiễm đất . Khoảng 50 – 60% lượng Flo này nằm lại trong phân bón.. Bên cạnh đó còn phát sinh rất nhiều loại các chất thải của nhà máy sản xuất phân lân có chứa 96,9% các chất gây ô nhiễm mà chủ yếu là Flo. Dân bón đạm cho cây trồng, cây chỉ sử dụng được 40 – 60%, phần còn lại nằm trong đất và gây ô nhiễm đất; thứ hai là ô nhiễm thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật. Loại thuốc này nếu dùng quá nheieuf và để tồn dư lâu dài trong môi trường đất sẽ gây chết tất cả những sinh vật có hại và cả có lợi trong môi trường đất.

    KHÁI NIỆM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT

    Ô nhiễm đất là bao gồm các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm từ con người và môi trường khi nồng độ của chúng tăng lên quá mức an toàn, đặc biệt là các chất thải của hộ dân, của doanh nghiệp sản xuất kim loại và chất thải rắn của ngành khai thác mỏ. Ngaoif ra còn có tác nhân tự nhiên bao gồm: nguồn gây ô nhiễm tự nhiên đến từ việc nhiễm phèn, Gley hóa, nhiễm mặn trong đất và sự lan truyền từ môi trường nước ra đất đã bị ô nhiễm; hoặc nguồn ô nhiễm nhân tạo như từ Chất thải công nghiệp, Chất thải nông nghiệp: thuốc trừ sâu, Chất thải sinh hoạt và các tác động khác của con người ở khu đô thị, chợ, khu sản xuất…gây ra nhiễm độc diện rộng từ đất qua nước, gây ngộ độc và ô nhiễm đất, nguồn nước và môi trường.

    CÁC THÀNH PHẦN CHỦ YẾU GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT

    Ô nhiễm vi sinh vật trong môi trường đất: do tập quán, sản xuất chăn nuôi không hợp vệ sinh, dùng phân chuồng bón cây … làm sinh ra các tác nhân sinh học như trực khuẩn lỵ, thương hàn, ký sinh trùng (giun, sán). Ngoài ra, hiện tượng chặt phá rừng khiến đất bị rửa trôi, thói quen canh tác lạc hậu của người nông dân cũng cũng làm đất đai kiệt quệ.

    Ô nhiễm đất do sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu quá tải, trong đó không ít loại thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng.

    Rác và chất thải rắn: rác các loại, đơn cử là Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 3.000 tấn/ngày; trong đó rác công nghiệp 50%, rác sinh hoạt 40% và rác bệnh viện 10%.

    Chất dạng khí: sản sinh từ việc đốt nhiên liệu; bụi chì từ khí thải của xe; hàm lượng chì và kẽm cao tại các mỏ quặng; thuốc bảo vệ thực vật….

    Dầu trong đất: thăm dò và khai thác dầu là ô nhiễm đất và các môi trường sống xung quanh

    Ô NHIỄM ĐẤT NÔNG NGHIỆP

    Dẫu biết trong lĩnh vực công – nông – lâm nghiệp, việc ủ dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là cần thiết trong việc nâng cao năng suất, giảm thiểu dịch bện, nâng cao chất lượng cây trồng. Nhưng hiện nay việc sử dụng các chất kích thích như phân bón hóa học và thuốc BVTV thiếu hiệu quả và an toàn đã làm suy thoái tài nguyên đất, ngoài ra việc xả thải từ vỏ thuốc, bao phân cũng gây hại không kém. Đó không chỉ là sự lãng phí lớn lượng phân bón và làm dư thừa chúng ra môi trường do nông dân lạm dụng quá mức cần thiết mà còn làm gia tăng chi phí sản xuất và tăng cao nguy cơ mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, động vật và môi trường đất.

    BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT

    Sử dụng sản phẩm hữu cơ

    Tái chế và tái sử dụng tài nguyên để ngăn chặn ô nhiễm đất

    Việc tái chế và tái sử dụng tài nguyên bất cứ khi nào có thể sẽ làm giảm chất thải, giảm ô nhiễm đất và là biện pháp xử lý ô nhiễm đất hiệu quả và thiết thực nhất hiện nay khi song song với quá trình đô thị hóa. Tái chế phế liệu , xử lý rác thải tại nguồn trước khi thải ra môi trường đã ngăn chặn việc bán phá giá khoảng 85 triệu tấn nguyên liệu vào năm 2010, tiết kiệm nguồn nguyên liệu của quốc gia, đặc biệt là những nguồn nguyên liệu khoáng sản không thể tái tạo.

    Sử dụng phân động vật đẻ bón cây thay vì phân vô cơ

    Việc dùng phân động vật sẽ giúp nông dân giảm thiểu được chi phí mua phân, đồng thời đó tăng vi sinh vật có lợi và làm tươi xốp đất. Tránh làm quá tải đất với các chất dinh dưỡng có nồng độ cao như nitơ (N) và phốt pho (P)có trong phân vô cơ “thông thường”.

    Tránh sử dụng hóa chất và thuốc trừ sâu trong canh tác

    Thuốc trừ sâu hại cả thực phẩm và con người và môi trường nếu bị lạm dụng. Bộ Nông nghiệp khuyến khích nông dân Việt Nam nên sử dụng các phương pháp kiểm soát dịch hại sinh học, sử dụng các loại phân bón hữu cơ thay vì sử dụng thuốc trừ sâu. Việc sử dụng tất cả các phương pháp kiểm soát dịch hại từ tự nhiên làm giảm độc tính của đất.

    Thu mua phế liệu vì môi trường đất

    Công ty phế liệu Bảo phong nhiều năm kinh nghiệm trong nghề thu mua phế liệu, chúng tôi cảm thấy tự hào vì được đóng góp chút công sức nhỏ cho công cuộc bảo vệ môi trường đất cho nước nhà và tương lai thế hệ con cháu chúng ta.

    Việc thu gom và xử lý phế liệu hay các loại rác thải nhựa, rác thải độc hại sẽ giúp cho chúng tôi tạo công ăn việc làm cho nhân viên và giúp bạn có thêm khoản thu nhập kha khá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Gdcd 11 Bài 12: Chính Sách Tài Nguyên Và Bảo Vệ Môi Trường
  • Giải Bài Tập Giáo Dục Công Dân 11
  • Môi Trường Là Gì? Tài Nguyên Thiên Nhiên Là Gì? Nếu 4 Yếu Tố Môi Trường, 4 Yếu Tố Thiên Nhiên? Nêu Vai Trò Của Môi Trường Và Tài Nguyên Thiên Nhiên Đối Với Đời Sống Con Người?
  • Đặc Tính Một Số Môi Trường Phân Lập Và Chuẩn Đoán Vi Khuẩn Gây Bệnh
  • Tụ Cầu Vmu Đh Y Khoa Vinh
  • Định Nghĩa Bilateral Netting / Bù Trừ Ròng Song Biên Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Bilateral Tax Agreement / Thỏa Thuận Thuế Song Phương Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilateral Trade / Thương Mại Song Phương Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilbao Stock Exchange (Bil) .bi / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Bilbao (Bil).bi Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill And Hold / Hóa Đơn Và Giữ Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill And Melinda Gates / Bill And Melinda Gates Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Quá trình hợp nhất các thỏa thuận hoán đổi giữa hai bên thành một thỏa thuận duy nhất. Do đó, thay vì mỗi thỏa thuận hoán đổi dẫn đến một luồng thanh toán riêng lẻ của một trong hai bên, tất cả các giao dịch hoán đổi được kết hợp với nhau để chỉ một khoản thanh toán ròng được thực hiện cho một bên dựa trên các luồng của các giao dịch hoán đổi kết hợp.

    Giải thích

    Một lý do chính cho bù trừ ròng là nó bổ sung thêm an ninh trong trường hợp phá sản cho một trong hai bên. Bằng cách tạo bù trừ ròng, trong trường hợp phá sản, tất cả các giao dịch hoán đổi được thực hiện thay vì chỉ những người có lợi nhuận cho công ty trải qua phá sản. Ví dụ: nếu không có bù trừ ròng song phương, công ty sắp phá sản có thể thu thập tất cả các giao dịch hoán đổi tiền trong khi nói rằng họ không thể thực hiện thanh toán với các giao dịch hoán đổi tiền do phá sản.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Bilateral Monopoly / Thị Trường Độc Quyền Song Song Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Settlement Agent / Đại Lý Thanh Toán Ủy Quyền Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Participant / Thành Viên Lập Quỹ Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Investment / Đầu Tư Được Cấp Phép Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Forex Dealer / Người Mua Bán Chứng Khoán Ngoại Hối Được Cấp Phép Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilateral Monopoly / Thị Trường Độc Quyền Song Song Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Bilateral Netting / Bù Trừ Ròng Song Biên Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilateral Tax Agreement / Thỏa Thuận Thuế Song Phương Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilateral Trade / Thương Mại Song Phương Là Gì?
  • Định Nghĩa Bilbao Stock Exchange (Bil) .bi / Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Bilbao (Bil).bi Là Gì?
  • Định Nghĩa Bill And Hold / Hóa Đơn Và Giữ Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Đây là một thị trường chỉ có một nhà cung cấp và một người mua. Một nhà cung cấp sẽ có xu hướng hoạt động như một quyền lực độc quyền, và tìm cách tính giá cao cho một người mua. Người mua đơn độc sẽ hướng tới việc trả một mức giá càng thấp càng tốt. Do cả hai bên có các mục tiêu mâu thuẫn, hai bên phải đàm phán dựa trên khả năng thương lượng tương đối của mỗi bên, với giá cuối cùng nằm ở giữa điểm lợi nhuận tối đa của hai bên.

    Giải thích

    Các hệ thống độc quyền song phương thường được các nhà kinh tế sử dụng để mô tả thị trường lao động của các quốc gia công nghiệp hóa vào những năm 1800 và đầu thế kỷ 20. Các công ty lớn về cơ bản sẽ độc quyền tất cả các công việc trong một thị trấn duy nhất và sử dụng sức mạnh của họ để thúc đẩy tiền lương xuống mức thấp hơn. Công nhân, để tăng sức mạnh thương lượng của họ, thành lập các công đoàn lao động với khả năng đình công, và trở thành một lực lượng bình đẳng tại bàn thương lượng liên quan đến tiền lương được trả.

    Khi chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển mạnh ở Mỹ và các nơi khác, nhiều công ty đang cạnh tranh cho lực lượng lao động, và sức mạnh của một công ty đơn lẻ để áp đặt tiền lương giảm đáng kể. Như vậy, tỷ lệ công nhân là thành viên của một liên minh đã giảm, trong khi hầu hết các ngành công nghiệp mới đã hình thành mà không cần các nhóm thương lượng tập thể giữa các công nhân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Authorized Settlement Agent / Đại Lý Thanh Toán Ủy Quyền Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Participant / Thành Viên Lập Quỹ Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Investment / Đầu Tư Được Cấp Phép Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorized Forex Dealer / Người Mua Bán Chứng Khoán Ngoại Hối Được Cấp Phép Là Gì?
  • Định Nghĩa Authorization Code / Mã Ủy Quyền Là Gì?
  • Spc Là Gì Có Thật Không? Một Số Khái Niệm Về Scp 001, 999, 173, 096, 049, 682, 610, 000, 1003 Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Dns Resolver Là Gì? Tại Sao Phải Đổi Dns Mới Có Thể Truy Cập Được Một Số Trang Web?
  • 1.1.1.1 Là Gì? Nó Tăng Tốc Internet Và Bảo Mật Dữ Liệu Như Thế Nào Khi Duyệt Web?
  • Dhcp Relay Là Gì? Cấu Hình Dhcp Relay Như Thế Nào ?
  • Nhân Viên Order Là Gì? 7 Kỹ Năng “vàng” Một Nhân Viên Order Nhà Hàng
  • Alipay Là Gì? Cách Nạp Tiền Vào Tài Khoản Alipay Tại Việt Nam?
  • SCP là tổ chức lưu trữ tất cả các thông tin và báo cáo về các hiện tượng siêu việt, siêu nhiên. Trên mạng internet hiện nay có rất nhiều thông tin trôi nổi không chính xác về SCP. Vậy SCP là gì? SCP có thực sự đáng sợ như lời đồn? Mục đích tồn tại của nó là gì? Hãy cùng mình tìm hiểu nhé!SCP là cụm từ viết tắt của ba chữ: secure, contain, protect (Bảo mật, lưu trữ và bảo vệ) hay còn được gọi dưới cái tên “Quy trình quản thúc đặc biệt”. Đây thực chất là một trang tuyệt mật về lưu trữ thông tin, báo cáo về các vật thể kì lạ, không rõ nguồn gốc và có khả năng gây hại cho cuộc sống con người.

    Tên gọi đầy đủ của tổ chức này là SCP Foundation. SCP Foundation là gì? Đây chỉ đơn giản là tên gọi gốc và chính thức của tổ chức SCP, “foundation” nghĩa là nền tảng, một nghĩa khác là tổ chức. Vậy nên SCP Foundation không phải là một thực thể hay hiện tượng siêu nhiên nào đó như internet lưu truyền.

    Hiện nay trên mang internet người ta hay thổi phồng sự thật về SCP và các thông tin xung quanh nó giống như thử thách câu chuyện Momop challenge là gì mà được nhiều người quan tâm thế. SCP không hề có hại cho con người. Tổ chức này là hư cấu, là một sản phẩm kì bí và huyền ảo của dòng truyện Creepypasta. Trong series truyện dài kì này, SCP được lập nên với mục đích tốt đẹp nhằm hỗ trợ cuộc sống con người. Bởi vậy những thông tin như “SCP là một tổ chức hắc ám” hay “SCP là tổ chức của người ngoài hành tinh” đều là thông tin sai lệch và chưa được kiểm chứng.

    Hiện nay, SCP đang tồn tại dưới dạng một trang web lưu trữ thông tin. Trang web này cho phép người dùng có thể đăng lên tất cả những thông tin được cho là của các SCP – các thực thể có khả năng gây nguy hiểm cho cuộc sống con người và cần nghiên cứu sâu.

    Trên trang chủ chính thức của SCP, câu hỏi SCP la gi đã được giải thích cụ thể và được dịch thành như sau:

    Tổ chức đứng trong bóng tối để đấu tranh, quản thúc, lưu giữ và che đậy CHÚNG – SCP – những thứ mà loài người chưa thể hiểu được khỏi con mắt hiếu kỳ của cộng đồng, để nhân loại sống một cuộc sống bình yên và lành mạnh.

    Bởi đây chỉ là một tổ chức hư cấu, trang web được lập lên nhằm tạo ra những câu chuyện không có thật, gây cảm giác sợ hãi, tò mò cho người đọc nên tất cả các mô hình của SCP đều là những miêu tả không có thật.

    Một ví dụ về mô hình SCP như SCP-051. Đây là mô hình sản phụ Nhật Bản được làm từ ngà voi. Mô hình này chỉ có chiều dài là 25cm, rất nhỏ. Khi soi qua kính hiển vi có thể nhìn thấy rõ các bộ phận cơ bản của một sản phụ nhất là chiếc bụng có thể tháo ra với bên trong là mô hình xương chậu cùng phần đầu của bốn đứa bé.

    Khi bạn search ” SCP là gì wikipedia ” trên Google sẽ trả về cho bạn rất nhiều kết quả khác nhau nhưng tất cả trong số đó đều là hư cấu, bạn không nên quá tin vào đó mà hãy coi đấy chỉ là một câu chuyện kinh dị mang tính chất giải trí.

    SCP Foundation chia các thực thể SCP thành ba loại:

    • SAFE: Đây là những SCP đã được tìm hiểu hoặc nghiên cứu rõ ràng, cụ thể và không gây hại gì cho con người nên có thể bỏ mặc.
    • EUCLID: Đây là dạng SCP chưa có đầy đủ thông về chúng. Những SCP này có thể vô hại hoặc gây hại chỉ trong một vùng nhất định nào đó. Các đối tượng này cần được nghiên cứu và tìm hiểu thêm.
    • KETER: Đây chắn chắn là những đối tượng mang tính nguy hiểm bậc nhất, cần được theo dõi một cách sát sao 24/7. Các thông tin về loại SCP này phải bao gồm mô tả về chúng và cách ngăn chặn, tiêu diệt. Trong trường hợp xấu nhất, bắt buộc phải tiêu hủy, không được phép giữ lại với bất kì mục đích gì.

    SCP là gì đã được mình giải đáp phía trên. Vậy các bạn có tò mò có những SCP nào không? Những SCP này cso đáng sợ đến mức mà con người cần phải tránh xa hay không?

    Một số khái niệm về SCP 001, SCP 049, SCP 1003,…

    Tổ chức này lưu trữ đến tận 2999 đối tượng bí hiểm và kì lạ, mỗi một SCP sẽ có một câu chuyện riêng. Hãy cùng mình tìm hiểu về những SCP được quan tâm nhất.

    SCP 001 là gì? Đối tượng này mang những thông tin tuyệt mật, cấm lưu hành trên mọi hình thức. nhưng hiện nay đã rò rì một số thông tin liên quan được cho là của SCP 001.

    • Phân loại: Keter
    • Mô tả: SCP 001 là một tập giấy được ghim lại với nhau ở phía trên, bên trái.
    • Hiện nay SCP này đang được lưu trữ trong một chiếc cặp tài liệu với khóa làm bằng hợp kim và titan. Có những tranh cãi xung quanh việc lưu trữ SCP này. Đây là đối tượng nguy hiểm nhất trong 2999 SCP, được giam giữ bởi các nhân viên cấp D trong căn phòng có độ bảo mật vô cùng cao.

    SCP 999 là gì? Đối tượng này không được phép ra khỏi nơi quản thúc trong bất kì trường hợp nào.

    • Phân loại: Safe
    • Mô tả: đây là một khối nhớt có màu cam, có thể biến thành babats kì hình thù nào, nhưng phần lớn tồn tại dưới hình dạng một chiếc ghế. SCP 999 được cho ăn ngày hai lần. Đối tượng này có đặc tính giống loài chó, sẽ tới ôm bằng chân giả khi có người lại gần.

    SCP 173 là gì? Tên đối tượng này là “Tượng điêu khắc – Bản gốc”. Nó được làm từ bê tông và thép, bên ngoài sơn hiệu Krylon.

    • Phân loại: Euclid
    • Mô tả: SCP 173 có biểu hiện thù địch, giết người bằng cách bẻ cổ nạn nhân. Cách duy nhất để giữ yên nó là nhìn thẳng vào mắt nó, không được chớp mắt. Đối tượng này luôn phải có ít nhất ba người canh giữ.

    SCP 096 là gì? Đối tượng này còn được gọi là “The Shy Guy” – Gã ngại ngùng.

    • Phân loại: Euclid
    • Mô tả: có hình dáng giống con người, cao 2.38m. Cơ thể rất gầy và da nhăn nheo như một người suy dinh dưỡng. Tay dài 1.5m không cân đối so với cơ thể, các đầu ngón tay nhọn hoắc. Miệng của nó có thể mở rộng gấp bốn lần bạn đầu.
    • SCP 096 thường đi lang thang quanh nhà quản thúc, nhưng nếu có ai nhìn thấy mặt của nó thì SCP 096 sẽ rơi vào trạng thái hoảng loạn, lấy tay ôm mặt, rồi sau đó chạy thật nhanh đến người đã nhìn mặt nó và giết. Không có vật nào có thể làm giảm tốc độ của đối tượng này.

    Còn một số SCP khác cũng được mọi người quan tâm như SCP 049, SCP 682, SCP 610,… thì chưa có nhiều thông tin về chúng.

    SCP 049: Đây là “tiến sĩ truyền nhiễm” hay còn gọi là “bác sĩ dịch hạch”. Vậy SCP 049 là gì?

    • Phân loại: Euclid
    • Mô tả: Hình dáng giống con người, nặng 95.3kg và cao 1.9m, được giam giữ trong phòng có camera. Khuôn mặt và thân hình đối tượng này được che giấu sau một lớp áo choàng có mũ to và dài, tuy nhiên lớp áo này lại chính là một phần cơ thể của SCP 049 nên các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể phân tích được nhiều. Nó không thể nói chuyện nhưng lại khá hiểu tiếng Anh. Bất kì ai chạm vào nó sẽ bị chết bởi một chất nào đó.

    SCP 682: là một sinh vật lớn mang hình dáng thằn lằn hoặc cá sấu.

    • Phân loại: Keter
    • Mô tả: SCP-682 là một sinh vật lớn có hình dáng giống thằn lằn lai cá sấu. Đối tượng này mang tính thù địch, căm ghét mọi thứ xung quanh và gây nguy hiểm lớn cho con người.
    • Liệu SCP 682 là gì mà có sức mạnh, phản xạ và tốc độ vô cùng cao. Nó có thể tăng giảm kích thước linh hoạt tùy vào khối lượng tiêu thụ của nó. Bên trong đối tượng này có chứa axit và có thể tồn tại dù 87% cơ thể bị phá hủy.

    SCP 610 là một dạng virus gây đột biến da ở người.

    • Phân loại: Keter
    • Mô tả: Đây là loại virus gây nhiễm trùng da ở người. Sau thời gian ủ bệnh người này sẽ vô cùng đau rát, da trên cơ thể bắt đầu nổi sẹo, lồi lên như các hạt đầu, phần đầu biến dạng trở nên dài ra, nhỏ lại, trụi hết tóc và lông. Toàn bộ cơ thể khi bệnh đã phát ra nhầy nhụa bởi những dịch tiết ra ngoài, người ửng đỏ. Lúc này sẽ đi tìm người khác để lây bệnh, tập tính sống tương đối giống zombie. Miễn là nằm trong khi vực kiểm soát thì đối tượng này sẽ không gây bệnh. SCP 610 là gì không quan trọng bằng việc mức độ lây nhiễm của nó.

    SCP 1003 là một loại sán dây đặc biệt, vô cùng nguy hại với bất kì ai. SCP 1003 đã được nghiên cứ và cho thấy đây là đối tượng nguy hiểm cấp độ cao.

    • Phân loại: Keter
    • Mô tả: Khi bất kì ai bị nhiễm bệnh, sán dây sẽ ủ bệnh trong cơ thể người với thời gian khá dài. Nó phát triển như một bào thai bình thường và nơi lưu trú là tại gan. Khi đủ lớn nó sẽ mang hình dáng một đứa trẻ trắng bệch với hàm răng sắt nhọn. Vật ký sinh này có thể cố gắng học cách sống như một con người, cũng có thể ăn thịt đồng loại của nó.

    Cuối cùng có một loại SCP đang có nhiều nghi vấn và thông tin không được chính xác. SCP 000 là gì? Đây có thể là SCP không tồn tại hoặc do một cá nhân nào đó nghĩ ra để tăng sự đáng sợ của câu chuyện về các SCP này.

    Có một thông tin về SCP nữa đang bị mọi người nhầm lẫn, đó là win SCP. Đây chỉ là một ứng dụng khách, tiện ích SFTP, FTP, WebDAV, Amazon S3 và SCP mã nguồn mở. Nó có chức năng truyền tệp giữa các máy tính từ xa và hoàn toàn miễn phí.

    Nếu muốn cài đặt bạn có thể lên các trang web download hiện nay, tất cả đều không mất phí. Ứng dụng này rất có ích cho những ai cần sao chép dữ liệu từ xa.

    Cuối cùng, câu hỏi SCP là gì cũng đã được giải đáp qua bài viết này. Bạn sẽ không còn hoang mang về những câu chuyện đang sợ xung quanh tổ chức này mà coi nó như một hình thức giải trí bằng các câu chuyện không có thật. Hy vọng bài viết này có ích cho tất cả những ai quan tâm đến SCP Fooundation.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Exp Là Gì Trong Toán Học?
  • Cố Gắng Lên Trong Tiếng Anh Dịch Ra Nghĩa Là Gì?
  • Add Là Gì, Nghĩa Là Gì Trên Facebook, Zalo, Game?
  • Sự Khác Nhau Của Phanh Cbs Và Phanh Abs Là Gì?
  • Hệ Thống Phanh Abs Trên Xe Máy Là Gì ?
  • Tin tức online tv