Lịch Sử Và Khái Niệm Tâm Lý Học Nhân Văn

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Văn Phòng Phẩm Là Gì?
  • Hồ Chí Minh Khái Niệm Văn Phòng Phẩm Là Gì? Văn Phòng Phẩm Gồm Những Gì?
  • 5. Khái Niệm Văn Phòng Phẩm Là Gì?
  • Văn Phòng Điện Tử Là Gì? Những Về Văn Phong Điện Tử
  • Văn Phòng Điện Tử Là Gì? Có Cần Cho Doanh Nghiệp?
  • Tâm lý học nhân văn là gì?

    Tâm lý học nhân văn hay còn được gọi là tâm lý học lực lượng thứ ba kết hợp hai triết học lãng mạn và hiện sinh, và sự kết hợp này được gọi là tâm lý học nhân văn. Tâm lý học lực lượng thứ ba và Tâm lý học nhân văn cũng là một, nhưng ngày nay tâm lý học nhân văn đã trở thành tên gọi phổ biến hơn.

    Điểm chính của tâm lý học nhân văn là nó tập trung vào tính biệt loại của con người, vào cái phân biệt con người với các loài khác. Nó khác các loại tâm lý học khác bởi vì nó coi con người không chỉ như là một sinh vật được biến đổi bởi văn hóa và kinh nghiệm, nhưng như là một nhân vị, một thực thể biểu tượng có khả năng suy tư về hiện hữu mình, và có khả năng cho hiện hữu mình một ý nghĩa, một hướng đi. (Kinget, 1975, p.v)

    Lịch sử hình thành tâm lý học nhân văn

    Vào đầu thập niên 1960, một nhóm nhà triết học do Abraham Maslow cầm đầu đã khởi xướng một phong trào được mệnh danh là tâm lý học lực lượng thứ ba.

    Các nhà triết học này cho rằng trường phái hành vi và trường phái phân tâm học, đã bỏ quên một số thuộc tính quan trọng của con người. Cái thiếu sót ở đây là những thông tin có thể giúp ta làm cho những người bình thường trở nên mạnh khỏe hơn, nghĩa là giúp họ đạt hết mức tiềm năng của họ.

    Điều cần thiết có một mô hình về con người nhấn mạnh tính độc đáo của họ và các khía cạnh tích cực hơn là tiêu cực của họ, và kiểu mô hình này chính là cái mà tâm lý học lực lượng thứ ba nhằm cung cấp.

    Mặc dù tâm lý học lực lượng thứ ba phổ biến trong các thập niên 1970 và 1980, nhưng lại bắt đầu mờ nhạt trong thập niên 1980. Tuy nhiên, giống như thuyết hành vi và phân tâm học, tâm lý học lực lượng thứ ba vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn trong tâm lý học hiện đại.

    Các học giả nổi tiếng của tâm lý học nhân văn

    Abraham Maslow

    Một số người cho rằng Alfred Adley mới chính là nhà tâm lý học nhân văn đầu tiên. Do ông định nghĩa lối sống lành mạnh là lối sống phản ảnh một lượng lớn các mối quan tâm xã hội, và với ý niệm của ông về ngã sáng tạo.

    Ông nhấn mạnh rằng người ta trở thành con người thế nào chủ yếu là do sự chọn lựa cá nhân. Chắc chắn lý thuyết của Adler có rất nhiều điểm chung với các lý thuyết sau này gọi là nhân văn. Tuy nhiên, thường xuyên hơn, người ta nhìn nhận Abraham Maslow (1908-1970) là người có công làm cho tâm lý học nhân văn trở thành một ngành tâm lý học chính thức.

    Maslow sinh ngày 01 tháng 4 năm 1908 tại , New York. Ông là con trưởng trong 7 anh em mà cha mẹ là những người di cư từ Nga sang Hoa Kỳ. Không gần gũi lắm với cha mẹ và là đứa bé Do Thái duy nhất trong xóm.

    Ông rất cô đơn và nhút nhát, thường tìm sự ẩn nấu nơi sách vở và các cuộc tìm tòi tri thức. Ông là một học sinh xuất sắc ở Boys High School tại Brooklyn và tiếp tục lên học tại City College ở New York.

    Khi là nghiên cứu sinh ở Wisconsin, Maslow trở thành sinh viên tiến sĩ đầu tiên của nhà tâm lý học thực nghiệm nổi tiếng Harry Harlow. Luận án tiến sĩ của Maslow viết về đề tài sự thiết lập quyền thống trị trong một quần thể khỉ.

    Các đề cương của Tâm lý học nhân văn

    Theo Maslow các nhà tâm lý học hoạt động trong mẫu tâm lý học nhân văn có các niềm tin cơ bản sau:

    • Không có nhiều điều gía trị có thể học hỏi được từ việc nghiên cứu loài vật.
    • Thực tại chủ quan là hướng dẫn hàng đầu cho việc nghiên cứu hành vi con người.
    • Nghiên cứu các cá nhân mang lại nhiều thông tin hơn nghiên cứu những điểm chung của các tập thể.
    • Cần có cố gắng đặc biệt để khám phá những điều làm mở mang hay làm giàu cho kinh nghiệm con người.
    • Nghiên cứu phải tìm các thông tin giúp giải quyết các vấn đề con người.
    • Mục tiêu của tâm lý học phải là hình thành một mô tả đầy đủ về ý nghĩa của hiện hữu con người là gì. Mô tả này phải bao gồm tầm quan trọng của ngôn ngữ, quy trình đánh giá, phạm vi đầy đủ các cảm xúc, và cách thức mà con người tìm kiếm và đạt đến ý nghĩa cuộc đời của họ.

    Thứ bậc các nhu cầu của con người

    Theo Maslow, các nhu cầu con người được sắp đặt theo một thứ bậc. Các nhu cầu càng thấp trong thứ bậc, chúng càng cơ bản và càng giống với các nhu cầu của loài vật. Các nhu cầu càng cao trong thứ bậc, chúng càng đặc trưng cho con người.

    Maslow hiểu sự tự thể hiện mình có nghĩa là đạt đầy đủ tiềm năng con người:

    Các nhạc sĩ phải làm nhạc, các họa sĩ phải vẽ, các thi sĩ phải viết nếu họ muốn cảm thấy hài long với chính mình. Con người có thể là gì thì họ phải là như thế. Họ phải là đúng với bản tính họ. Nhu cầu này chúng ta có thể gọi là nhu cầu tự thể hiện mình.

    Khái niệm về sự tự thể hiện mình đã bắt nguồn ít là từ thời Aristotle, nhưng Aristotle hiểu sự tự thể hiện mình là khuynh hướng bẩm sinh biểu hiện các tính chất hay yếu tính của một loài. Với khái niệm tự thể hiện, cả Jung, Maslow và Rogers có ý nói tới sự thể hiện tiềm năng của một cá nhân, không phải tiềm năng của loài như lối hiểu của Aristotle.

    Vì không ai có thể đạt tới đầy đủ tiềm năng của mình, nên Maslow cho rằng người tự thể hiện mình là người đã thỏa mãn thích đáng bậc thang các nhu cầu. Và ông đã liệt kê các tính chất của những người được xem là đã tự thể hiện mình như sau:

    • Họ nhận thức thực tại chính xác và đầy đủ.
    • Họ rất biết chấp nhận mình và người khác.
    • Tỏ ra có sự tự nhiên và tự phát.
    • Có nhu cầu riêng tư.
    • Có khuynh hướng độc lập với môi trường và văn hóa.
    • Có sự đánh giá liên tục đổi mới.
    • Định kỳ có các kinh nghiệm thần bí hay tột đỉnh.
    • Quan tâm tới mọi người thay vì chỉ quan tâm tới bạn bè hay người thân của họ.
    • Thường chỉ có ít bạn thân.
    • Có một tinh thần đạo đức mạnh nhưng không nhất thiết chấp nhận đạo đức truyền thống.
    • Có óc khôi hài rất phát triển nhưng không mang tính thù nghịch.
    • Có óc sáng tạo.

    Tuy Maslow kết luận rằng loại người này là những con người xuất chúng, ông cũng cho thấy không phải họ không có khuyết điểm.

    Carl Rogers

    Carl Rogers (1902-1987) sinh ngày 8 tháng 1 tại Oak Oak (một ngoại ô Chicago), bang , và là con thứ tư trong gia đình sáu anh chị em. Ông gần gũi với mẹ hơn cha, một kỹ sư công trình và vắng nhà thường xuyên. Ở vùng Oak Park, ông đi học cùng trường với Ernest Hemingway và các con của kiến trúc sư nổi tiếng Frank Lloyd Wright. Rogers mô tả gia đình ông như là rất gắn bó với tôn giáo và rất sung đạo. Các quan hệ với bạn bè bên ngoài không được gia đình khuyến khích.

    Không lạ gì Rogers tỏ ra rất cô đơn ở trường học và giống như Maslow, ông tìm trú ẩn trong sách vở, đọc bất cứ cái gì ông vớ được kể cả các sách bách khoa và từ điển. Năm 12 tuổi gia đình ông dời đến một nông trại cách Chicago 25 dặm về phía Tây.

    Mục đích của đổi nhà là tạo một bầu khí trong lành và đạo đức hơn cho gia đình. Vì cha ông đòi hỏi nông trại được điều hành một cách khoa học, Rogers đã phát triển một sự quan tâm sâu xa đối với khoa học bằng cách đọc bất cứ tài liệu nào ông có thể kiếm.

    Sau khi nhận bằng tiến sĩ, Rogers đến làm việc cho Ban Nghiên cứu trẻ em của Hội ngăn ngừa bạo lực đối với Trẻ em ở Rochester, New York. Tại đây ông đã có nhiều kinh nghiệm để dẫn ông tới việc triển khai kiểu tâm lý trị liệu của riêng ông.

    Lý thuyết của Rogers về nhân cách

    Theo yêu cầu của nhiều người, Rogers đã triển khai một lý thuyết về nhân cách để cắt nghĩa các hiện tượng ông đã quan sát trong tiến trình điều trị. Các yếu tố cơ bản của lý thuyết của ông được trình bày lần đầu tiên trong bài diễn thuyết ông đọc khi nhận chức chủ tịch APA (1947) và sau này được mở rộng trong cuốn Trị liệu dựa vào khách hàng (1951).

    Giống như Maslow, Roger giả thuyết có một động cơ bẩm sinh nơi con người hướng tới sự tự thể hiện mình. Và nếu người ta lấy khuynh hướng tự thể hiện này làm tiêu chuẩn sống, có nhiều khả năng họ sẽ thể hiện đời sống một cách sung mãn và cuối cùng đạt hết tiềm năng của họ.

    Ta gọi những người như thế là những người sống theo quá trình đánh giá hữu cơ. Sử dụng quy trình này, người ta đạt tới và duy trì được các kinh nghiệm phù hợp với khuynh hướng tự thể hiện nhưng ngăn chặn và tránh được các kinh nghiệm không phù hợp với khuynh hướng ấy.

    Những người như thế được thúc đẩy bởi các tình cảm chân chính của họ và sống một đời sống trung thực theo kiểu nói của các nhà hiện sinh – nghĩa là một đời sống được thúc đẩy bởi các tình cảm nội tâm chân chính chứ không phải bởi tập tục, niềm tin, truyền thống, giá trị hay các quy ước do người khác áp đặt.

    Theo Rogers, chỉ có một cách để tránh áp đặt các điều kiện về giá trị trên người khác, đó là dành cho họ sự nhìn nhận tích cực và vô điều kiện về giá trị. Với sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện, người ta được yêu mến và kính trọng vì bản chất thực sự của nhân cách họ. Và chỉ những ai kinh nghiệm được sự nhìn nhận tích cực vô điều kiện thì mới có thể trở thành một con người thể hiện sung mãn đời mình.

    Các phê bình

    Người ta không ngạc nhiên khi tâm lý học nhân văn bị phê bình. Các phê bình có thể được tập trung vào điểm sau:

    Tâm lý học nhân văn đồng hóa tâm lý học hành vi với công trình của Watson và Skinner. Cả hai tác giả này nhấn mạnh các sự kiện môi trường như là nguyên nhân của hành vi con người, đồng thời phủ nhận hay giảm thiểu tầm quan trọng của các sự kiện tinh thần. Tuy nhiên, cũng có các nhà hành vi khác nhấn mạnh các sự kiện tinh thần và mục đích trong các phân tích của họ về hành vi – ví dụ Tolman.

    Tâm lý học nhân văn không xét đến bản chất tích lũy của khoa học bằng cách nhấn mạnh rằng tâm lý học khoa học không quan tâm đến các thuộc tính siêu vật của con người.

    Mô tả về con người như các nhà nhân văn đề nghị thì giống với các mô tả được ưa thích trong quá khứ trong lĩnh vực văn học, thi ca hay tôn giáo. Nó diễn tả một kiểu tư duy ao ước mà không được sự hỗ trợ của các sự kiện mà khoa tâm lý học khách quan đã tích lũy được.

    Tâm lý học nhân văn phê bình thuyết hành vi, tâm phân học và tâm lý học khoa học nói chung, nhưng cả ba loại này đều đã có những cống hiến quan trọng cho sự cải thiện số phận con người, là mục tiêu chính mà tâm lý học nhân văn theo đuổi.

    Nhiều thuật ngữ và khái niệm mà các nhà tâm lý học nhân văn sử dụng thì quá mơ hồ không thể có một định nghĩa rõ ràng và có thể kiểm chứng. Thậm chí người ta còn có sự lẫn lộn về chính định nghĩa của tâm lý học nhân văn.

    Cống hiến

    Đóng góp chính của tâm lý học nhân văn cho khoa tâm lý học là việc nó mở rộng lĩnh vực của tâm lý học. Trong tâm lý học ngày nay, có một khuynh hướng ngày càng tang muốn nghiên cứu toàn thể con người.

    Chúng ta không chỉ muốn tìm hiểu con người học tập, suy nghĩ và phát triển thế nào về phương diện sinh vật và tri thức. Nhưng chúng ta còn muốn biết con người hình thành thế nào các kế hoạch để đạt các mục tiêu tương lai và tại sao người ta cười, khóc và tạo ý nghĩa trong cuộc đời họ.

    Theo đánh giá của nhiều người, tâm lý học nhân văn đã thổi một sức sống mới vào tâm lý học. Tâm lý học nhân văn đã nhìn thấy bản chất tốt đẹp trong con người, đề cao hoài bão và nỗ lực vươn lên của con người.

    Vì cho rằng bản chất con người vốn là tốt đẹp, có lòng vị tha, có tiềm năng sáng tạo. Nên tâm lý học nhân văn hướng đến mục tiêu giúp con người tìm được bản ngã đích thực của mình. Con người cần đối xử với nhau một cách tế nhị, cởi mở lẫn nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhân Văn (Humanities) Là Gì? Làm Sao Để Nhân Văn? Ý Nghĩa Của Nhân Văn
  • Văn Minh Đô Thị: Bắt Đầu Từ Đâu?
  • Nữ Hoàng Văn Hóa Tâm Linh Là Một Khái Niệm Được Lắp Ghép Rất Ẩu,
  • Văn Hóa Tâm Linh Trong Xã Hội Truyền Thống Và Hiện Đại
  • Hướng Dẫn Chọn Ống Nhòm Và Kính Thiên Văn Cho Người Mới Bắt Đầu (P1)
  • Khái Niệm ‘lịch Sử’ Trong Sử Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm ‘sử Luận’ Trong Sử Học
  • Đại Cương Lịch Sử Triết Học Lichsutriethoc Ppt
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng Và Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Khái Niệm Cơ Sở Hạ Tầng, Kiến Trúc Thượng Tầng
  • Nguyên Lý Về Sự Phát Triển: Tính Chất, Ý Nghĩa Và Vận Dụng Thực Tiễn
  • KHÁI NIỆM SỬ HỌC:

    HARRY RITTER

    ĐINH HỒNG PHÚC dịch

    Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

    LỊCH SỬ (Anh: ). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử – nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

    Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ ( res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt động nghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ để nói đến việc nghiên cứu về quá khứ 1950: 6). Nhà sử học là người “theo đuổi sự tra vấn này, và nhà sử học giỏi nhất là người theo đuổi nó tốt nhất” (Zagorin, 1956: 9).

    Ở thời Hy Lạp hóa và La Mã, lịch sử dùng để chỉ tự sự của người tra vấn; một sự thay đổi ngữ nghĩa diễn ra trong đó các ý niệm về sự tìm tòi nghiên cứu và sự chứng thực phụ thuộc vào nghệ thuật trình bày. Từ nghĩa này, chữ lịch sử theo nghĩa “câu chuyện” trở nên thông dụng, nghĩa là nó được dùng để chỉ các tự sự hư cấu và tự sự sự kiện (Press, 1977: 285, 288) – chẳng hạn, Câu chuyện của Tom Jones / History of Tom Jones của Fielding ở thế kỷ 18. Truyền thống tu từ học này – thứ truyền thống đã đi đến chỗ xếp lịch sử vào một nhánh của văn học, như là một phương tiện khai trí và giải trí cũng như là một nguồn nhận thức sự kiện quan trọng – vẫn giữ vị trí tối cao cho đến thế kỷ 18, đêm trước của sự ra đời lịch sử “khoa học” (Johnson, 1926: 21-22; Stromberg, 1951: 297-98).

    Suốt thời trung đại, lịch sử dần dần mang lấy nét nghĩa là toàn bộ diễn trình của các sự biến của con người, nghĩa này có lẽ không hề có ở thời cổ đại (Press, 1977: 283) nhưng lại trở thành yếu tố giữ vai trò then chốt trong thần học Kitô, trong triết học tư biện về lịch sử, và trong diễn ngôn đời thường của thời hiện đại. (Nhiều nghiên cứu trước đây về ý thức lịch sử thời cổ đại , hoặc rằng tư tưởng Hy-La và Do thái-Kitô giáo cổ đại cho thấy chúng có cả khái niệm tiến bộ lẫn khái niệm tái diễn ở bên ngoài sách vở”; nó giả định rằng quá khứ “có một thứ thực tại khách quan mà người nghiên cứu lịch sử có thể dùng để so sánh và kiểm tra các văn tập sử ký theo cách nào đó không thể giải thích được” (Johnson, 1926: 22). Các nhà phê phán truyền thống này cảnh báo rằng “chúng ta có thể biết quá khứ chỉ khi nào nó để lại những dấu vết của nó trong các tập sử ký và các tàn tích. Quá khứ không tồn tại ở đâu khác ngoài ý thức của con người” (Johnson, 1926: 22).

    Suốt thế kỷ 18, truyền thống cổ đại xem lịch sử như là tự sự được phối ngẫu với mối quan tâm đến sự kiện ở người sưu tầm cổ vật, và khoảng năm 1800 khái niệm hiện đại là “lịch sử khoa học” được hình thành. Thế thì lịch sử là sự tra vấn về bản tính của quá khứ vì bản thân quá khứ, được tiếp tục với mục đích là xác lập việc ghi chép tự sự về các sự biến như chúng “đã thực sự xảy ra” (Ranke, 1972: 234) công kích mô hình khoa học bằng cách cho rằng “theo bản chất bất biến của nó, lịch sử là một ‘câu chuyện'” – ý ông muốn nói là “nghệ thuật của lịch sử vẫn luôn là nghệ thuật của tự sự”; quan niệm lịch sử như là “nghệ thuật khai phóng” hay “bộ phận của văn chương của con người” vẫn còn phổ biến (Strayer, 1950. “History, popular and unpopular”. Trong Strayer: 27-57.

  • Barzun, Jacques. 1974. Clio and the doctors: psycho-history, quanto-history, and history. Chocago.
  • Berr, Henri, and Febvre, Lucien. 1932. “Hisroty and historiography: hisroty”. Encyclopedia of social sciences 7: 357-68.
  • Breisach, Ernst. 1983. Historiography: ancient, medieval and modern. Chicago.
  • Burke, Peter. 1969. The renaissance sense of the past. London.
  • Croce, Benedetto. 1972. “An inaugural lecture” trong Stern: 179-88.
  • Harbison, E. Harris. 1956. The Cristian scholar in the Age of Reformation. New York.
  • Hay, Denys. 1977. Annalists and historians: western historiography from the eighth to the eighteenth century. London.
  • Holborn, Hajo. 1949. “Greek and modern concepts of history”. Journal of the History of Ideas 10: 3-13.
  • Hughes, H. Stuart. 1964. History as art and as science: twin vistas on the past. New York.
  • Huizinga, Johan. 1972. Preface to Histories of the Latin and Germanic nations from 1494-1514. In Stern: 55-58.
  • Rothfels, Hans. 1961. “Einleitung”. In Waldemar Besson, ed., Geschichte: das Fischer Lexikon. Frankfurt.
  • Stern, Fritz. 1972. The varieties of history. New York.
  • Strayer, Joseph R. 1972. “Clio, a muse”. In Stern: 227-45.
  • Trompf, G. W. 1977. “Social science in historical perspective”. Philosophy of the social sciences 7: 113-38.
  • Trompf, G. W. 1979. The idea of historical recurrence in western thought: from Antiquity to the Reformation. Berkeley, Calif.
  • Turner, Frederich Jackson. [1891] 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.
  • Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.
  • Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.
  • White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.
  • Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Quản Lý Là Gì? Vì Sao Phải Hiểu Khái Niệm Quản Lý
  • Vật Chất Với Tư Cách Là Phạm Trù Trong Triết Học Mác
  • Luận Văn Đề Tài Khái Niệm Phủ Định Biện Chứng Trong Triết Học Mác
  • Phủ Định Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Là Gì? Phủ Định Biện Chứng Giữ Vai Trò Gì Đối Với Sự Phát Triển? Tại Sao? Thế Nào Là “phủ Định Của Phủ Định”? Cho Ví Dụ Minh Hoạ
  • Vấn Đề Con Người Trong Triết Học Chuong Xi Van De Con Nguoi 62 Ppt
  • Bài Giảng Lý Thuyết: Khái Niệm, Phân Loại Và Sơ Lược Lịch Sử Phát Triển Môn Điền Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tai Liệu Bdtx Gv Thcs Noi Dung 2 Bs Mon Hoa Theduc Thcs Doc
  • Chương 1 : Giới Thiệu Chung Về Microsoft Excel
  • Các Cách Sử Dụng Fill Handle Trong Excel
  • Tổng Hợp Những Tổ Hợp Phím Tắt Hay Dùng Trong Microsoft Excel
  • Danh Sách Các Phím Tắt Hữu Dụng Nhất Trong Microsoft Excel
  • ” Điền kinh” là tên goi được dịch ra từ tiếng Trung Quốc. Theo tiếng Trung

    Quốc “điền” có nghĩa là “ruộng” còn “kinh” có nghĩa là “đường”. Như vậy Điền kinh

    thực ra là tên gọi cho các môn thể thao tiến hành trên sân và trên đường. Theo

    cách gọi của nhiều nước khác ( Mỹ, Anh, Áo, Ba Lan, Pháp nhiều nước Nam

    Mỹ.) Điền kinh cũng được gọi theo nghĩa đó. Tuy nhiên tên gọi đó chỉ có thể phù

    hợp ở thuở ban đầu, vì ngày ngay loài người đã sáng tạo ra rất nhiều môn thể thao

    khác nữa không chỉ có điền kinh mới tiến hành thi ở sân và ở đường.

    Theo tiếng Hi Lạp, môn Điền kinh được gọi là ” Atleika”, từ này có nghĩa là

    “vật”, “đấu tranh”, “bài tập”. Vào thời Cổ Hi Lạp người ta gọi ” atlet” là những người

    chuyên thi đấu ở lĩnh vực sức mạnh và khéo léo.

    Theo thể thao hiện đại ngày nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Nga,

    Bulgary thì người ta gọi môn Điền kinh nhẹ để phân biệt với các môn được gọi là

    Điền kinhnặng như : Cử tạ , Vật, Quyền Anh Nhưng về thực chất, để đạt thnàh

    tích cao thì không có môn th ể thao nào ( kể cả điền kinh) có thể coi là “nhẹ”.

    Vì nhiều lý do khác nhau, tên gọi “Điền kinh” không thống nhất trên thế giới,

    nhưng ngày nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều công nhận điền kinh là tên

    gọi của môn thể thao cơ bản gồm các nội dung: đi, chạy, nhảy, ném đẩy và phối

    hợp các nội dung đó.

    nh tích bằng nhau đã nhảy qua. hoặc sẽ hạ thấp mức xà xuống nếu họ đều khônh nhảy qua được. Trình tự tăng hoặc giảm một mức xà là 2cm đối với nhảy cao và 5cm đối với nhảy sào. Khi đó các vận động viên này chỉ được nhảy một lần ở mỗi mức xà cho tới khi phân định được thứ hạng. Khi giải quyết thắng thua, các vận động viên có thành tích bằng nhau như vậy phải nhảy theo lượt của mình ( xem ví dụ). sẽ được xếp xếp cụng vị trí trong cuộc thi. Ghi chú: Điều luật ( c) sẽ không áp dụng đối với các môn phối hợp. Ví dụ: - Trước lúc vào cuộc thi tổ trưởng trọng tài giám định sẽ công bố mức xà bắt đầu và thứ tự các lần nâng mức xà. 1,75m; 1,80m; 1,84m; 1,88m; 1,91m; 1,94m; 1,97m; 1,99m... Hoàng Ngọc Viết - Bài giảng lý thuyết IAAF TOECS Level - 37 - - 37 -Susanne Kroesche Page 37 12/11/2009 - 37 - Độ cao (mức xà) Nhảy hỏng Nhảy phân thứ hạngVĐV 1,75m 1,80m 1,84m 1,88m 1,91m 1,94m 1,97m 1,94m 1,92m 1,94m Vị trí xếp hạng A 0 X0 0 XO X- XX XX 2 X 0 X 2 B - XO - X0 - - - 2 X 0 0 1 C - 0 X0 X0 - - XXX 2 X X 3 D - XO X0 X0 XXX XXX 3 4 0 = Nhảy qua X = Nhảy hỏng - Không nhảy Tất cả các vận động viên A, B, C và D đều vượt qua mức xà 1,88m. Theo điều luật về phân định thứ hạng khi có sự ngang bằng nhau về thnhf tích thì các trọng tài giám định cộng toàn bộ số lần hỏng từ đầu cho tới mức xà cao nhất cuối cùng đã được vượt qua là 1,88m. D có nhiều lần nhảy hỏng hơn A, B hoặc C , vì thế phải xếp ở vị trí thứ 4. thêm một lần nhảy nữa tại mức xà 1,94 là mức mà A và C mất quyền tiếp tục nhảy để phân định thứ hạng. Khi tất cả các vận động viên đều nhảy hỏng, thì xà ngang được hạ xuống ở mức 1,92m cho lần nhảy phân định sau. Khi chỉ có C nhảy hỏng ở mức xà 1,92m thì 2 vận động viên A và B sẽ có lần nhảy phân định them thứ 3 tại mức xà 1,94m. Ở mức xà này chỉ có B vượt qua được và vì vậy b được tuyên bố là người chiến thắng. * Trọng tài nhảy xa, nhảy 3 bước: - Phân công: + Trưởng trọng tài: Xác định lần nhảy thành công hay thất bại, giám sát và quyết định thành công + Ba trọng tài viên: Một người hỗ trợ bắt phạm quy, đo thành tích, sữa ván giậm nhảy, điểm rơi, đo thành tích, một người trang cát. + Hai thư ký: một người điểm danh, ghi kết quả, bấm giờ, một người công bố kết quả. - VĐV phá kỷ lục cần lấy phiếu ghi hướng và tốc độ gió. - Sau 3 lần nhảy phải đối chiếu kết quả, lập danh sách thứ tự vào chung kết, trình trưởng trọng tài môn nhảy duyệt, rồi công bố. * Trọng tài các môn ném đẩy: - Phân công: + Trưởng trọng tài: Xác định lần ném đẩy thành công hay thất bại, giám sát và quyết định thành công hoặc thất bại, giám sát và quyết định thành tích, cho phép tiến hành hoặc dừng thi đấu. + Trọng tài viên: có thể từ 3 - 6 người một người làm trọng tài chính trong sân, xác định điểm rơi, giám sát đo thành tích, hai người hỗ trợ nhìn điểm rơi, cắm cờ đo thành tích.hai người nhặt dụng cụ. Hoàng Ngọc Viết - Bài giảng lý thuyết IAAF TOECS Level - 38 - - 38 -Susanne Kroesche Page 38 12/11/2009 - 38 - + Hai thư ký: : một người điểm danh, ghi kết quả, bấm giờ, một người công bố kết quả. - Cần có có đánh dấu mức kỷ lục. - Khi VĐV phá kỷ lục cần giữ nguyên vị trí cấm cờ và thước đo để trưởng trọng tài đến xác nhận và lập biên bản công nhân kỷ lục mới. - Xác định điểm rơi cần phán đoán đúng hướng và điểm rơi để kịp thời di chuyển lập tức đến đứng trước điểm rơi, hương di chuyển chếch ngang để đảm bảo an toàn, mắt không ròi điểm rơi cho đến khi cắm cờ. - Sau 3 lần nhảy phải đối chiếu kết quả, lập danh sách thứ tự vào chung kết, trình trưởng trọng tài môn nhảy duyệt, rồi công bố. * Các trường hợp phạm luật trong các môn nhảy: 1) Nhảy xa và nhảy tam cấp: - Trong khi giậm nhảy, chạm đất phía sau vạch giậm nhảy bằng bất kỳ bộ phận nào của cơ thể, dù chạy đà không giậm nhảy hoặc có giậm nhảy; hoặc. - Giậm nhảy từ phía bên ngoài phạm vi cả hai đầu của ván, dù ở phía sau hay phía trước đường kéo dài của vạch giậm nhảy; hoặc - Chạm đất ở khu giữa vạch giậm nhảy và khu vực rơi xuống; hoặc - Sử dụng bất cứ hình thức nhào lộn nào trong khi chạy lên hoặc trong hành động giậm nhảy; hoặc - Trong quá trình tiếp đất, vận động viên chạm vào phần phía bên ngoài hố gần vạch giậm nhảy hơn so với điểm chạm gần nhất trên cát; hoặc - Khi rời khu vực rơi, điểm tiếp xúc đất đầu tiên bên ngoài hố cát gần vạch giậm nhảy hơn so với điểm chạm gần nhất trên cát ở khu vực rơi xuống, bao gồm bất kỳ điểm chạm do mất thăng bằng khi rơi nằm hoàn toàn trong hố cát nhưng gần vạch giậm nhảy hơn so với điểm chạm đầu tiên lúc rơi xuống - Quá thời gian thực hiện lần nhảy ( 60 giây) - Thực hiện không đúng kỹ thuật trong nhảy tam cấp ( ba bước) 2) Nhảy cao: - Sau lần nhảy, do hành động của vận động viên làm rơi xà; hoặc Hoàng Ngọc Viết - Bài giảng lý thuyết IAAF TOECS Level - 39 - - 39 -Susanne Kroesche Page 39 12/11/2009 - 39 - - Vận động viên chạy đà giậm nhảy không vượt qua phía trên xà ngang mà chạm đất ở khu vực ngoàì mặt phẳng tạo bởi hai cạnh gần của 2 cột chống xà, kể cả ở giữa hoặc bên ngoài hai cột chống xà bằng bất kỳ bộ phận nào của cơ thể. - Giậm nhảy bằng 2 chân hoặc có hình thức nhào lộn - Quá thời gian thực hiện lần nhảy ( 60 giây) 4. Phương pháp trọng tài các môn phối hợp: 1. Do trưởng trọng tài môn nhảy - ném chỉ đạo. 2. Thường có 1 trọng tài chính 2 trọng tài viên chịu trách nhiệm: Kiểm diện, dẫn vào vị trí thi đấu, lien hệ các nhóm trọng tài lien quan. 3. VĐV bỏ bất cứ nội dung nào đề không được thi tiếp nội dung tiếp theo và không có điểm. 4. Phải đảm bảo thời gian nghĩ giữa các nội dung tối thiểu là 30 phút. Hoàng Ngọc Viết - Bài giảng lý thuyết IAAF TOECS Level - 40 - - 40 -Susanne Kroesche Page 40 12/11/2009 - 40 - 5. Khi chạy nôi dung 800m và 1500m cần sắp xếp các VĐV có tổng số điểm các nôi dung trước tương đối cao vào cùng một nhóm. 6. Sau khi kết thúc nộI dung và toàn môn phải đối chiếu ngay kết quả, ghi váo phiếu trình duyệt, rồi công bố cho VĐV thành tích và điểm của từng môn, tổng số điểm và xếp hạng. CÁC CUỘC THI ĐẤU NHIỀU MÔN PHỐI HỢP NAM (5 môn và 10 môn phối hợp). - 5 môn phải được tiến hành thi trong 1 ngày theo trình tự: nhảy xa; ném lao; chạy 200m; ném đĩa và chạy 1500m. - 10 môn phối hợp được tiến hành thi trong 2 ngày liền nhau theo trình tự: Ngày thứ nhất: Chạy 100m; nhảy xa; đẩy tạ; nhảy cao và chạy 400m. Ngày thứ hai: Chạy 110m rào; ném đĩa; nhảy sào; ném lao và chạy 1500m. NỮ (7 môn phối hợp) - 7 môn phối hợp phải được tiến hành thi đấu trong 2 ngày liền nhau theo trình tự: Ngày thứ nhất: Chạy 100m rào, nhảy cao; đẩy tạ; chạy 200m. Ngày thứ hai: Nhảy xa; ném lao; chạy 800m. - 10 môn phối hợp của nữ được tiến hành thi trong 2 ngày liền nhau theo trình tự: Ngày thứ nhất: 100m; ném đĩa; nhảy sào; ném lao và chạy 400m. Ngày thứ hai: 100m rào; nhảy xa; đẩy tạ; nhảy cao và chạy 1.500m. PHẦN CHUNG Trọng tài giám sát nhiều môn phối hợp cần tính toán để: - Nếu có thể, cần có tối thiểu 30 phút cho mỗi vận động viên từ lúc kết thúc môn thi trước cho tới khi bắt đầu môn thi sau. - Nếu có thể, thời gian kéo dài từ lúc kết thúc môn thi cuối cùng của ngày thứ nhất đến lúc bắt đầu môn thi đầu tiên của ngày thứ hai tối thiểu phải là 10 tiếng. Trình tự thi đấu được rút thăm trước mỗi môn thi. Trong các môn chạy 100m. 200m, 400m, 100m rào và 110m rào, các vận động viên thi đấu theo nhóm, theo quyết định của đại điện kỹ thuật (Technical Delegate), tốt nhất là 5 người hoặc nhiều hơn song không bao giờ được ít hơn 3 người một nhóm. Trong môn thi cuối cùng của nhiều môn phối hợp, các đợt chạy phải được bố trí sao cho có một đợt chạy gồm các vận động viên dẫn đầu sau môn thi trước môn thi cuối cùng (áp chót). Cùng với ngoại lệ này các đợt chạy tiếp khác sau đó có thể được rút thăm như khi các vận động viên có thể làm ở cuộc thi trước. Hoàng Ngọc Viết - Bài giảng lý thuyết IAAF TOECS Level - 41 - - 41 -Susanne Kroesche Page 41 12/11/2009 - 41 - Trọng tài giám sát nhiều môn phối hợp phải có trách nhiệm bố trí lại bất kỳ nhóm nào nếu thấy điều đó nên làm. Các điều luật của IAAF đối với mỗi môn thi tạo thành cuộc thi nhiều môn phải áp dụng cùng các ngoại lệ sau đây: -Trong nhảy xa và các môn ném, mỗi vận động viên chỉ được phép thực hiện 3 lần. - Trong trường hợp thiết bị tính thời gian hoàn toàn tự động không có, thời gian của mỗi vận động viên phải được xác định bởi 3 trọng tài bấm giờ độc lập. - Trong các môn chạy trong sân vận động, một vận động viên sẽ bị loại ở bất kỳ cự ly thi nào mà tại đó phạm 2 lỗi xuất phát. - Chỉ được sử dụng một hệ thống xác định thời gian trong suốt một môn thi. Tuy nhiên, với mục tiêu xác định kỷ lục, việc xác định thời gian bằng đồng hồ điện tử hoàn toàn tự động phải được áp dụng bất kể việc xác định này có thể đối với các vận động viên khác hay không trong môn thi đó. Bất kỳ vận động viên nào vắng mặt khi xuất phát hoặc khi thực hiện lần nhảy hoặc đẩy ở một trong các môn thi sẽ không được phép tham gia các môn tiếp theo và bị coi là bỏ thi đấu. Do vậy vận động viên này sẽ không có điểm trong phân loại cuối cùng. Bất kỳ vận động viên nào quyết định rút khỏi cuộc thi nhiều môn phối hợp phải lập tức thông báo cho trọng tài giám sát về quyết định của mình. Số điểm theo bảng điểm hiện hành của IAAF phải được công bố tách biệt đối với mỗi môn cũng như tổng toàn bộ cho tất cả các vận động viên sau khi hoàn thành mỗi môn thi. Người thắng là người có tổng số điểm cao nhất. Trong trường hợp bằng điểm, người thắng là vận động viên có nhiều môn thi đạt điểm cao hơn các vận động viên khác cùng bằng điểm). Nếu điều này vẫn không giải quyết được thì người thắng là vận động viên có số điểm cao nhất trong bất kỳ môn thi nào và nếu điều này cũng không thể giải quyết được thì người thắng là người có số điểm cao nhất trong môn thứ hai v.v...Điều này cũng áp dụng để phân hạng trong các trường hợp bằng điểm nhau ở các vị trí khác trong cuộc thi đấu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Tiết : 18 Sự Biến Đổi Một Số Đại Lượng Vật Lí Của Các Nguyên Tố Hoá Học
  • Năng Lượng Ion Hóa Là Gì?
  • Định Nghĩa Năng Lượng, Các Dạng Năng Lượng: Thế Năng, Nội Năng,…
  • Điền Kinh Là Gì? Lịch Sử Phát Triển Môn Điền Kinh Ra Sao?
  • Quá Trình Phát Sinh Và Sự Dập Tắt Của Hồ Quang Điện
  • Khái Niệm Về Du Lịch Trải Nghiệm Và Những Lợi Ích Mang Lại

    --- Bài mới hơn ---

  • Du Lịch Trải Nghiệm Là Gì? Sự Khác Biệt Với Các Loại Hình Du Lịch Khác
  • Marketing Du Lịch Là Gì? 10 Bí Quyết Marketing Du Lịch Hiệu Quả Dựa Trên Khách Hàng
  • Những Định Nghĩa Về Du Lịch Xanh
  • Phát Triển Du Lịch Xanh Việt Nam
  • Nghiên Cứu Trao Đổi Về Du Lịch Xanh Tại Việt Nam Hiện Nay: Bài Học Kinh Nghiệm Của Thái Lan Và Triển Vọng Trong Tương Lai
  • Như tên gọi Du lịch trải nghiệm là một hình thức du lịch thiên về trải nghiệm của bản thân, học hỏi, khám phá những điều mới. Có người thích “du lịch nghỉ dưỡng” và có thể đến một địa điểm quen thuộc nhiều lần, thậm chí không ra khỏi resort một bước. Có người lại thích “du lịch theo tour”, đi theo hướng dẫn viên và đến những địa điểm nổi tiếng. Nhưng bấy nhiêu đó là chưa đủ với du lịch trải nghiệm”.

    Hoạt động du lịch trải nghiệm đòi hỏi bạn phải thâm nhập vào cuộc sống nhiều hơn, bạn sẽ học hỏi thêm nhiều điều mới mẻ trong cuộc sống thông qua việc ở nhà người dân địa phương, cùng sinh hoạt và ăn uống như một người dân bản địa, hòa mình cùng với thiên nhiên thơ mộng, núi rừng hùng vĩ. Chính những chuyến du lịch trải nghiệm này sẽ giúp bạn có thêm những góc nhìn khác về cuộc sống.

    2. Du lịch trải nghiệm giúp bạn khám phá thế giới

    Hoạt động du lịch trải nghiệm để nhìn thấy những gương mặt mới với nụ cười trên môi từ những người mà bạn chưa bao giờ tiếp xúc, hãy bỏ lại những điều phiền muộn, quên đi những gương mặt khiến mình không vui ở nơi làm việc. Đi để nhìn thấy những nếp sống, phong tục, tập quán, văn hóa khác với nơi bạn đang sinh sống, để nhận ra rằng mỗi nơi, mỗi vùng, mỗi cộng đồng lại có nếp nghĩ, nếp ăn, nếp ở khác nhau, thú vị và đa dạng như thế nào.

    Đi du lịch trải nghiệm để mở lòng ra với thế giới ngoài kia, để nhận ra rằng cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng có thể xoa dịu tâm hồn bạn. Đi để nhận ra rằng vẫn còn biết bao nhiêu con người phải đấu tranh từng giây từng phút để được sống, được cảm nhận hương vị sống. Chỉ có những chuyến đi mới giúp chúng ta có thêm nhiều trải nghiệm mới, tâm hồn rộng mở, phóng khoáng hơn, và cũng mạnh mẽ hơn.

    Du lịch trải nghiệm trở thành xu thế

    Trên thế giới, hình thức “du lịch trải nghiệm” này được được khai thác và phát triển khá lâu. Trong nhiều năm trở lại đây, hình thức du lịch hấp dẫn này cũng đang trở thành xu thế không chỉ của các bạn trẻ mà còn dành cho các gia đình ở mọi lứa tuổi. Theo chia sẻ của các hướng dẫn viên du lịch thì du khách đi du lịch theo hình thức du lịch trải nghiệm thích thú và lựa chọn nhiều hơn cả. Vì du khách không chỉ được đến những địa điểm mới với cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp mà du khách còn được quan sát ở cự ly gần, được trực tiếp hòa mình vào đời sống của người dân địa phương thông qua các hoạt động lao động như: bắt cá, làm bánh, trồng trọt, chăm sóc, thu hoạch hoa màu và thậm chí là nấu ăn…, ngủ nghỉ tại nhà dân.

    Những chuyến đi như vậy thực sự mang lại những trải nghiệm vô cùng khó quên đối với tất cả mọi người. Loại hình du lịch trải nghiệm này được nhiều người yêu thích cũng bởi vì đi du lịch mà không bị gò bó theo một chương trình khép kín hay đơn thuần là nghỉ dưỡng, ngủ và nghỉ như đi tour du lịch truyền thống. Không điều gì có thể tuyệt vời hơn khi bản thân chúng ta được nhìn, được ngắm, được cầm, nắm, được tận mắt chứng kiến và kiểm chứng mọi thứ. Và đặc biệt du lịch trải nghiệm vẫn đảm bảo an toàn so với hình thức du lịch “phượt”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Thể Thao: Động Lực Tương Lai Của Ngành Du Lịch Thế Giới
  • Du Lịch Thể Thao: Tiềm Năng Phát Triển Của Việt Nam
  • Du Lịch Thể Thao (Sports Tourism) Là Gì? Các Loại Khách Du Lịch Thể Thao
  • Du Lịch Sinh Thái Là Gì? Đây Là Xu Hướng Du Lịch Trong Tương Lai?
  • Tâm Lí Du Khách (Tourist Psychology) Là Gì? Lợi Ích Việc Nghiên Cứu
  • Dịch Vụ Du Lịch Lữ Hành Là Gì? Những Khái Niệm Về Lữ Hành Bạn Cần

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Nguyên Du Lịch Là Gì? Các Cách Phân Loại Tài Nguyên Du Lịch
  • Du Lịch Khen Thưởng Là Gì? Vì Sao Doanh Nghiệp Nên Tổ Chức Du Lịch Khen Thưởng?
  • Khách Sạn Là Gì? Các Sản Phẩm Của Khách Sạn Là Gì?
  • Định Nghĩa Khu Du Lịch Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Khu Du Lịch
  • Giải Pháp Thu Hút Khách Du Lịch Quốc Tế Đến Việt Nam
  • Cụm từ này thường được nhắc đến khá nhiều trong nền kinh tế hiện đại hay các dịch vụ du lịch và đôi khi để nói đến những khách du lịch vãng lai với những chuyến đi dài hơi mang tính chất bộ hành. Lữ hành được hiểu là một hoạt động du lịch với mục đích thực hiện chuyến đi từ nơi này đến nơi khác dưới những phương tiện khác nhau và lý do khác nhau, không nhất thiết phải quay trở lại điểm xuất phát ban đầu.

    Nghe qua khái niệm hơi khá trừu tượng, khu thư viện từ điển Việt Nam giải thích nghĩa khác của thì lữ hành còn có nghĩa là đi chơi xa và chuyến đi chơi có thể có hoặc không nhất thiết ấn định thời gian quay trở về.

    Ví dụ: người lữ hành ( khách du lịch đi chơi xa) hay dịch vụ quản trị lữ hành( tổ chức các hoạt động du lịch mang tính định hướng và ấn định dịch vụ di chuyển),…

    Ảnh: Chuyến đi chơi có thể có hoặc không nhất thiết ấn định thời gian quay trở về

    II. Những khái niệm lữ hành bạn nên biết

    1. Du lịch lữ hành là gì?

    Lữ hành và du lịch là hai hoạt động luôn bổ trợ nhau và có tính chất song song. Du lịch lữ hành là hình thức du lịch được tổ chức những chuyến đi xa có thể theo tour (có hướng dẫn viên), đơn vị tổ chức và hỗ trợ khách hàng trong suốt chuyến đi có thể là một công ty vừa tổ chức du lịch vừa kèm theo việc lo dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, cả phương tiện di chuyển.

    Không giống những chuyến đi có hoạch định trước về thời gian trở về, du lịch lữ hành thường mang tính “dài hơi” hơn. Giống như một chuyến du lịch xa của các khách bộ hành.

    2. Bạn biết gì về dịch vụ lữ hành?

    Dịch vụ lữ hành là một sản phẩm của doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực du lịch. Trong đó, dịch vụ lữ hành được đảm bảo trọn gói các quyền lợi cần thiết để khách hàng được hưởng trọn chuyến đi của mình như: di chuyển, lưu trú, ăn uống và đảm bảo thời gian thuận lợi cho khách hàng đăng ký các dịch vụ cho chuyến đi.

    Trên thực tế, không phải công ty nào hoạt động trong lĩnh vực này cũng có đủ giấy phép đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa và giấy phép đăng ký kinh doanh lữ hành quốc tế đúng quy định. Bên cạnh đó, khi các công ty muốn đưa ra các gói dịch vụ lữ hành cũng cần chứng minh được tính pháp lý và hoạt động kinh doanh của dịch vụ này. Các bạn có thể tham khảo kỹ hơn về các dịch vụ lữ hành là gì nếu đang muốn tìm kiếm cho mình một địa chỉ công ty du lịch đáng tin cậy cho chuyến đi của mình.

    Ảnh: Phải có giấy phép chứng minh tính pháp lý và hoạt động kinh doanh dịch lữ hành

    3. Sản phẩm lữ hành là gì?

    Thường có khá nhiều yếu tố để tạo nên một sản phẩm lữ hành như tính pháp luật, kinh tế và nội dung. Nó phụ thuộc nhiều hơn vào những người học ngành quản trị du lịch hay các công ty muốn tổ chức tour trọn gói. Sản phẩm lữ hành không ngừng ra đời dưới nhiều phương thức khác nhau để phục vụ cho nhu cầu khám phá hay đi du lịch của mỗi người.

    4. Khái niệm về người lữ hành

    Có khá nhiều khái niệm về người lữ hành là gì, cơ bản người lữ hành có thể là chính bạn, có thể là những người tham gia dịch vụ du lịch khác nhau hay tự túc hoặc theo lộ trình cụ thể nào đó, mà có sự trợ giúp của các công ty du lịch.

    Mặc khác, người lữ hành có thể được hiểu là người du lịch theo cảm hứng, họ sẽ đi đến bất kỳ nơi nào mà họ muốn, đi một mình, một chuyến kéo dài hoặc mang tính hơi dài, không nhất định thời gian trở về. Đối với những người lữ hành du lịch tự túc một mình sẽ có phần bụi bặm hơn và không quá cầu kỳ về phương tiện di chuyển, nơi ở hay ấn định trước điểm đến bất kì nào.

    Ảnh: Người lữ hành đi du lịch theo cảm hứng

    Hình ảnh người lữ hành thường là tự trải nghiệm qua từng vùng đất và với thời buổi hiện đại như ngày nay, khách lữ hành có thêm điều kiện khác nhau để tận hưởng chuyến đi xa vài ngày của mình nhưng không quá vất vả.

    5. Một số điều cần biết về doanh nghiệp lữ hành

    Doanh nghiệp lữ hành được giải thích là mô hình doanh nghiệp có hình thức kinh doanh chủ yếu hướng đến các lĩnh vực xây dựng, mua bán, trao đổi và tiến hành thực hiện các hình thức du lịch trọn gói cho khách, qua đó họ cũng thực hiện các vai trò của mình trong việc phục vụ các nhu cầu du lịch của khách hàng từ mọi khâu.

    6. Doanh nghiệp lữ hành và công ty lữ hành có gì khác nhau?

    Về cơ bản thì khái niệm doanh nghiệp lữ hành và công ty lữ không quá khác biệt về nhau, đây đều là cách gọi chung nói tới hình thức kinh doanh chung là hoạt động mua bán, trao đổi, lên kế hoạch du lịch cần thiết đáp ứng nhu cầu của khách hàng đi khám những vùng đất mới hoặc nghỉ dưỡng.

    7. Định nghĩa về kinh doanh lữ hành

    8. Thông tin về quản trị lữ hành

    9. Quản trị du lịch và lữ hành

    Ảnh: Quản trị du lịch và lữ hành thực hiện kế hoạch dự án du lịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lữ Hành Là Gì? Ngành Quản Trị Dịch Vụ Du Lịch Và Lữ Hành Học Gì
  • Định Nghĩa Du Lịch Mạo Hiểm Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Du Lịch Mạo Hiểm
  • Đề Tài: Điều Kiện Phát Triển Du Lịch Mạo Hiểm Tại Hà Giang, Hay
  • Du Lịch Mạo Hiểm Ở Việt Nam
  • Cùng Tìm Hiểu Du Lịch Mạo Hiểm Là Gì, Hấp Dẫn Ra Sao
  • Một Số Khái Niệm Chủ Yếu Trong Thống Kê Du Lịch Thế Giới Và Của Một Số Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khách Du Lịch (Tourists) Là Gì? Phân Loại Khách Du Lịch
  • Tổ Chức Du Lịch Thế Giới
  • Điểm Đến Du Lịch Là Gì ? Phân Biệt Điểm Tham Quan Và Điểm Đến Du Lịch
  • Khái Niệm Điểm Du Lịch Và Các Yếu Tố Cấu Thành Điểm Du Lịch
  • Định Nghĩa Hoạt Động Du Lịch Và Ý Nghĩa Hoạt Động Du Lịch Là Gì ?
  • Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh trên phạm vi toàn thế giới. Số lượng người tham gia vào các chuyến đi du lịch quốc tế tăng lên rất nhanh. Năm 1950 mới có 25,3 triệu lượt người đi du lịch thì năm 1996 là 592 triệu. Tổ chức du lịch thế giới (WTO) dự báo đến năm 2010 thế giới sẽ có khoảng 937 triệu người đi du lịch và đến năm 2021 sẽ lên khoảng 1,6 tỷ người.

    Nguồn thu nhập ngoại tệ từ du lịch quốc tế của nhiều nước ngày càng lớn. Trong vòng 30 năm (1960 – 1991) thu nhập từ du lịch của thế giới đã tăng lên khoảng 38 lần, từ 6,8 tỷ USD năm 1960 lên 102 tỷ USD năm 1980, tới 260 tỷ USD năm 1991 và 423 tỷ USD vào năm 1996, bằng hơn 8% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá toàn thế giới. Du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước. Hoạt động du lịch tạo ra 180 triệu chỗ làm việc, thu hút khoảng 11% lực lượng lao động toàn cầu.

    Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành khác như vận tải, bưu điện, thương nghiệp, tài chính, các hoạt động phục vụ sinh hoạt cá nhân, các dịch vụ phục vụ nhu cầu giải trí, các hoạt động văn hoá thể thao…Mặt khác, hoạt động du lịch còn có tác dụng tăng cường các mối quan hệ xã hội, tình hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia.

    Với hiệu quả như vậy, nhiều nước chú trọng phát triển du lịch, coi du lịch là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mình. Cùng với sự phát triển của du lịch mà hệ thống thống kê du lịch của nhiều nước cũng được phát triển và ngày càng hoàn thiện thêm. Trước đây khái niệm thống kê về du lịch chỉ được bó hẹp trong phạm vi hoạt động của con người đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên với mục đích đi thăm quan các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử trong nước và trên thế giới hoặc đi vui chơi giải trí. Ngày nay, theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), khái niệm du lịch được mở rộng thêm rất nhiều: ” Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”.

    Như vậy theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới về du lịch và trong khuôn khổ của thống kê du lịch thì lượng khách du lịch sẽ được tính gồm:

    a). Những chuyến đi đến nơi khác môi trường sống thường xuyên của họ, do đó sẽ ít hơn những chuyến đi lại thường xuyên giữa những nơi mà người đó đang ở hoặc nghiên cứu đến một nơi khác nơi cư trú thường xuyên của họ;

    (b). Nơi mà người đó đi đến phải dưới 12 tháng liên tục, nếu từ 12 tháng liên tục trở lên sẽ trở thành người cư trú thường xuyên ở nơi đó (theo quan điểm của thống kê);

    (c). Mục đích chính của chuyến đi sẽ không phải đến đó để nhận thù lao (hay là để kiếm sống) do đó sẽ loại trừ những trường hợp chuyển nơi cư trú cho mục đích công việc. Vì thế những người đi với các mục đích sau đây sẽ được tính vào khách du lịch :

    – Đi vào dịp thời gian rỗi, giải trí và các kỳ nghỉ

    – Đi thăm bạn bè, họ hàng

    – Đi tu hành hoặc hành hương

    – Đi theo các mục đích tương tự khác.

    Dựa theo khái niệm này mà khách du lịch được chia làm hai loại : Khách Quốc tế và khách trong nước.

    Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi nước người đó cư trú thường xuyên và ngoài môi trường sống thường xuyên của họ với thời gian liên tục ít hơn 12 tháng với mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống), không bao gồm các trường hợp sau:

    (a) Những người đến và sống ở nước này như một người cư trú thường xuyên ở nước đó kể cả những người đi theo sống dựa vào họ.

    (b) Những người công nhân cư trú ở gần biên giới nước này nhưng lại làm việc cho một nước khác ở gần biên giới nước đó

    (c) Những nhà ngoại giao, tư vấn và các thành viên lực lượng vũ trang ở nước khác đến theo sự phân công bao gồm cả những người ở và những người đi theo sống dựa vào họ

    (d) Những người đi theo dạng tị nạn hoặc du mục

    (e) Những người quá cảnh mà không vào nước đó (chỉ chờ chuyển máy bay ở sân bay) thông qua kiểm tra hộ chiếu như những hành khách transit ở lại trong thời gian rất ngắn ở ga sân bay. Hoặc là những hành khách trên thuyền đỗ ở cảng mà không được phép lên bờ.

    Bất kỳ một người nào đó đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của họ và trong phạm vi nước sở tại với thời gian liên tục dưới 12 tháng và mục đích của chuyến đi là không phải đến đó để dược nhận thù lao (hay nói cách khác là không phải để kiếm sống), như vậy khách trong nước không bao gồm các trường hợp sau:

    (a) Những người cư trú ở nước này đến một nơi khác với mục đích là cư trú ở nơi đó

    (b) Những người đến một nơi khác và nhận được thù lao từ nơi đó

    (c) Những người đến và làm việc tạm thời ở nơi đó

    (d) Những người đi thường xuyên hoặc theo thói quen giữa các vùng lân cận để học tập hoặc nghiên cứu

    (e) Những người du mục và những người không cư trú cố định

    (f) Những chuyến đi diễn tập của các lực lượng vũ trang.

    3. Môi trường thường xuyên của con người (Usual environment):

    Khu vực xung quanh nơi ở, nơi làm việc hoặc nơi đến thăm thường xuyên của con người.

    II. THỐNG KÊ DU LỊCH Ở ẤN ĐỘ

    Đối với Ấn Độ phạm vi khách du lịch được vận dụng khác với khái niệm của Tổ chức du lịch thế giới. Cụ thể như sau:

    1. Khách Quốc tế đến Ấn Độ

    Bất kỳ người nào mang hộ chiếu nước ngoài vào Ấn Độ với mục đích chính của chuyến đi là không phải đến đây để nhận thù lao (hay là kiếm sống). Những người đi với mục đích sau đây không được tính là khách du lịch nước ngoài:

    – Những người đến Ấn Độ với mục đích để kiếm sống

    – Những người đến Ấn Độ với mục đích định cư

    – Những người Nepal vào Ấn Độ theo dọc biên giới của hai nước

    – Tất cả những người vào Ấn Độ từ Bhutan bằng đường bộ

    Bất kỳ một người nào đó đi trong phạm vi nước mình nhưng tới một nơi khác nơi ở thường xuyên (usual place) v à ở lại khách sạn, hay cơ sở lưu trú với thời gian ít hơn 6 tháng theo các mục đích sau:

    – Thư giãn, giải trí, thể thao…

    – Tôn giáo, hành hương và công tác xã hội

    – Nghiên cứu và chăm sóc sức khoẻ

    Khách đi với các mục đích sau đây sẽ không được tính là du lịch trong nước:

    – Người đến Ấn Độ với mục đích để kiếm tiền

    – Người về quê để sống hoặc những chuyến đi ngắn để thăm họ hàng, bạn bè, đi công tác xã hội hay tôn giáo… và nghỉ tại nhà của mình hay nhà của bạn bè, họ hàng mà không sử dụng bất kỳ một loại thiết bị ngắm cảnh nào.

    – Người nước ngoài cư trú tại Ấn Độ.

    3. Môi trường thường xuyên (usual envirnoment)

    Ở Ấn độ không có qui định cụ thể về môi trường thường xuyên. Song để xác định phạm vi khách du lịch họ căn cứ vào nơi ở thường xuyên. Nơi ở thường xuyên mà Ấn Độ qui định là nơi sinh sống thường xuyên, nơi làm việc, nơi học tập…

    III. THỐNG KÊ DU LỊCH Ở ÔXTRÂYLIA

    Đối với Ôxtrâylia, khái niệm về hoạt động du lịch cũng đồng nghĩa với khái niệm mà WTO đưa ra và những trường hợp sau đây không được Ôxtrâylia tính trong thống kê du lịch:

    – Những người đi lại thường xuyên do mục đích của công việc như người lái xe, phi công máy bay.

    – Những người đi lại do phải bắt buộc hoặc bị giam giữ như ở bệnh viện, nhà tù.

    – Những người mới đến (thời gian dưới 12 tháng) nhưng với mục đích sẽ cư trú vĩnh viễn ở đó.

    – Những người đi lại với nhiệm vụ của quân đội.

    – Những người đi lại nhưng trong phạm vi môi trường thường xuyên của họ.

    1. Khách Quốc tế đến ôxtrâylia

    Bất kỳ người nào không phải cư trú thường xuyên ở Ôxtrâylia mà đến đây với mục đích không phải để nhận thù lao thì đều được coi là khách du lịch Quốc tế đến Ôxtrâylia

    Bất kỳ người nào cư trú ở Ôxtrâylia mà đi ra khỏi môi trường sống thường xuyên của họ nhưng trong phạm vi nước mình thì đều được coi là khách trong nước.

    3. Môi trường thường xuyên

    Môi trường thường xuyên của một người là một khu vực mà người đó sinh hoạt thường xuyên như nơi ở, nơi làm việc, nơi học tập và những nơi khác mà đi lại thường xuyên. Môi trường thường xuyên xác định dựa vào hai tiêu thức là tần suất và khoảng cách. Cụ thể ở ôxtrâylia qui định như sau:

    – Nơi mà người đó đi lại ít nhất 1 tuần 1 lần thì vẫn được coi là trong môi trường thường xuyên

    – Khoảng cách mà người đó đi lại trong phạm vi 40 km kể từ nơi cư trú đối với những chuyến đi nghỉ qua đêm và 50 km đối với những chuyến đi trong ngày thì vẫn được coi là trong môi trường thường xuyên.

    IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ CHUNG

    Các khái niệm áp dụng trong thống kê du lịch rất phức tạp mặc dù sau nhiều lần họp Tổ chức du lịch thế giới (WTO) đã đưa ra được khái niệm về du lịch. Tùy theo đặc điểm của từng nước và sự phát triển về thống kê du lịch mà mỗi nước có sự vận dụng khác nhau. Để vẽ lên được toàn bộ bức tranh về hoạt động du lịch thì phải xác định đúng các khái niệm cơ bản về thống kê du lịch. Theo định nghĩa của WTO thì một người được coi là khách khi thoả mãn 3 tiêu chuẩn ở trên, trong đó có một tiêu chuẩn trên thực tế gây không ít khó khăn cho quá trình thu thập số liệu. Đó là tiêu chuẩn chuyến đi phải là để đến một nơi khác với môi trường thường xuyên của người đó. Đối với du lịch quốc tế, có thể thấy rằng khi một người đi ra nước ngoài không có nghĩa trong mọi trường hợpngười đó đã đi ra khỏi môi trường thường xuyên của mình. Đối với vùng biên giới giữa các nước, có một số trường hợp những người đi lại không ra khỏi môi trường thường xuyên của họ, đó là:

    – Những công nhân qua lại biên giới một cách thường xuyên để làm thuê.

    – Những người qua lại biên giới thường xuyên với những mục đích khác nhau như mua bán, trao đổi hàng hoá…

    Trong thực tế, với sự phát triển của mối quan hệ quốc tế của các nước, ngày nay có nhiều chuyến đi có khoảng cách ngắn giữa các nước và những chuyến đi đó không nằm trong phạm vi của thống kê du lịch. Đó chính là sự đi lại vùng biên giới. Vấn đề đặt ra là cần phải loại trừ những sự đi lại thường xuyên ở vùng biên giới, tức là phải loại trừ việc đi lại trong môi trường thường xuyên ở các tuyến biên giới đường bộ.

    Ở nước ta hiện nay công tác thống kê du lịch cũng từng bước được cải tiến. Song để dáp ứng được nhu cầu chung của thế giới chúng ta cần hoàn thiện sớm hệ thống các khái niệm, chỉ tiêu về du lịch. Tiến hành điều tra, khảo sát để đưa ra được qui định chung về môi trường thường xuyên. Đồng thời xúc tiến việc nghiên cứu, áp dụng thống kê của một số nước phát triển trên thế giới nhằm xác định được mảng thống kê du lịch trong nước cũng như việc xây dựng tài khoản vệ tinh du lịch (Tourism Satellite Account).

    1. Recommendation on Tuorism Statistics – Department for Economic and Social information and Policy Analysis Statistical Division United Nations (1994) 2. Overview of basic tourism Statistics – (World Tourism Oganization) 3. India Tourism Statistics 1996 – Market Research Division department of Tourism Government of India 4. Australian National Acconts: Tourism Satellite Account 1997 – 1998 5. Report on Asia/Pacific Seminar on Statistics and Tourism Satellite Account.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Du Lịch Mice Là Gì? Tổ Chức Du Lịch Mice Chuyên Nghiệp Và Uy Tín
  • Mice Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Du Lịch Mice: Loại Hình, Đặc Điểm & Ý Nghĩa
  • Du Lịch Mice Là Gì? Các Loại Hình Du Lịch Mice Bạn Nên Biết
  • Du Lịch Mice Là Gì? Đặc Điểm, Vai Trò Và Loại Hình
  • Du Lịch Văn Hoá (Cultural Tourism) Là Gì? Thực Trạng Phát Triển
  • Khái Niệm “vốn Văn Hóa” Của Pierre Bourdieu

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Hóa Mạng Ở Việt Nam, Thực Trạng Và Giải Pháp Quản Lý
  • Hãy Giải Thích Khái Niệm Văn Hóa Văn Minh Văn Hiến Văn Vật
  • Phát Triển Văn Hóa Từ Quan Điểm Của Các Nhà Sáng Lập Chủ Nghĩa Mác
  • Hoạt Động Marketing Của Một Số Nhà Hát Ở Việt Nam
  • Giáo Trình Marketing Căn Bản Ts Nguyễn Thượng Thái Chuong 1 Nhung Van De Co Ban
  • 2. Khái niệm vốn văn hóa được Bourdieu sử dụng từ những năm 1960 trong quá trình nghiên cứu về xã hội học giáo dục. Đến năm 1986, trong một công trình tổng kết lại về các hình thức của vốn, Bourdieu đã trình bày có hệ thống hơn về hai khái niệm vốn văn hóa và vốn xã hội. Trong đó, ông xem vốn văn hóa là hệ thống các thành tố văn hóa có thể luân chuyển và tạo ra những giá trị trao đổi trong quá trình phát triển, là một hình thức “tư bản văn hóa”. Theo đó, vốn văn hóa tồn tại dưới ba hình thức chủ yếu là: i – Trạng thái thể hiện ( Embodied state), là các yếu tố văn hóa được thể hiện qua chủ thể của nó, tức là con người, là những yếu tô tồn tại hiện hữu và lâu dài trong tâm trí và cơ thể của con người chủ thể văn hóa. Nói cách khác thì vốn văn hóa ở trạng thái thể hiện chính là tiềm lực văn hóa của con người và năng lực vận dụng các yếu tố văn hóa để tạo ra giá trị trong quá trình phát triển. Vốn văn hóa ở tráng thái biểu hiện là hệ thống yếu tố văn hóa biểu hiện qua yếu tố con người. ii – Trạng thái khách quan ( Objectified state), là hệ thống các yếu tố văn hóa ở dạng tồn tại hiện hữu khách quan ngoài con người, là những hình thức vật chất của vốn văn hóa như sách vở, công cụ, nhà cửa, trang thiết bị, máy móc… hay cả những sản phẩm trí tuệ, tinh thần như các dấu tích (trace), việc thực hành các lý thuyết (realization of theories) hay phê bình các lý thuyết (critiques of theories)… cũng là vốn văn hóa ở trạng thái khách quan. Vốn văn hóa ở trạng thái khách quan có thể là sản phẩm của cá nhân hay cộng đồng được hiện hữu và có thể sử dụng để trao đổi, luân chuyển nhằm tạo ra giá trị. iii – Trạng thái thể chế ( Institutionalized state), là những yếu tố văn hóa tổ chức thành các khuôn mẫu, định hình cho sự tồn tại và hoạt động của các yếu tố văn hóa dựa trên những khuôn mẫu đó (Bourdieu, 1986). Trong ba trạng thái này, Bourdieu nhấn mạnh vai trò của vốn văn hóa ở trạng thái thể hiện, tuy nhiên, ông cũng xác định rõ: “hầu hết các thuộc tính của vốn văn hóa có thể được rút ra từ thực tế, ở trạng thái cơ bản của nó, nó được liên kết với chủ thể văn hóa và phỏng đoán hiện thân” (Bourdieu, 1986, p. 244). Mở rộng ra, vốn văn hóa ở trạng thái thể chế là hệ thống các nguyên tắc, thể chế quy định tổ chức và hoạt động của các yếu tố văn hóa khác. Đó cũng là những giá trị chuẩn mực được xã hội, cộng đồng chấp nhận và tuân thủ.

    Khái niệm vốn văn hóa trong nghiên cứu của Bourdieu là một khái niệm trìu tượng, rất khó để đặt một nội hàm cụ thể vào cho khái niệm này. Nhưng dựa trên ba hình thức tồn tại của vốn văn hóa-như Bourdieu phân tích, có thể nhìn nhận vốn văn hóa là một hệ thống các yếu tố văn hóa tồn tại khách quan hoặc thể hiện qua con người và những thể chế, khuôn mẫu quy định hay tác động đến sự tồn tại và vận động của các yếu tố văn hóa đó, và có khả năng luân chuyển, trao đổi để tạo ra những giá trị trong quá trình phát triển. Vì khái niệm này quá trìu tượng nên nhiều khi dễ hiểu nhầm và đồng nhất với khái niệm văn hóa/nền văn hóa. Nhưng cần chú ý hơn đến những khái niệm vốn của Bourdieu, ở đây đặc biệt nhấn mạnh đến giá trị luân chuyển, trao đổi của vốn với tư cách là “tư bản” (capital) chứ không đơn giản là “nguồn” (source). Vốn văn hóa không chỉ tất cả các yếu tố văn hóa mà đề cập đến những yếu tố văn hóa có khả năng luân chuyển, có giá trị trao đổi và tạo ra lợi ích trong quá trình luân chuyển, trao đổi đó.

    3. Khái niệm vốn văn hóa xuất hiện đầu tiên trong các nghiên cứu về xã hội học giáo dục của Bourdieu. Trong quá trình đi tìm một khái niệm lý thuyết để tiếp cận về sự phân tầng và sự bất bình đẳng trong giáo dục, Bourdieu đã xây dựng nên khái niệm này. Ông đã sử dụng khái niệm vốn văn hóa để giải thích cho tình trạng thành tích học tập không đồng đều giữa các học sinh có nguồn gốc xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau. Vốn văn hóa trở thành cầu nối cho mối liên hệ giữa thành tích học tập và chi phí đầu tư cho giáo dục của các gia đình. Từ vốn văn hóa được đầu tư vào quá trình giáo dục đã ảnh hưởng đến thành tích học tập của học sinh. Theo đó, thành tích học tập hay tài năng bản thân học sinh là kết quả của quá trình đầu tư thời gian và vốn văn hóa (Bourdieu, 1986). Như vậy, vốn văn hóa có vai trò quan trọng trong giáo dục và đầu tư vốn văn hóa là quá trình quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến thành tích học tập của học sinh.

    Nguồn cảm hứng để Bourdieu xây dựng khái niệm vốn văn hóa và vận dụng vốn văn hóa trong nghiên cứu xã hội học là những nghiên cứu về giáo dục của Gary S. Becker. Trong bối cảnh các nền văn hóa ngày càng giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại thì những nghiên cứu về vốn văn hóa càng có vai trò quan trọng. Tiếp cận vốn văn hóa mở ra những con đường để nhận thức về việc khai thác, phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa của các cộng đồng, tộc người khác nhau.

    Bennett, T. (2006): Distinction on the Box: Cultural Capital and the Social Space of Broadcasting. Cultural Trends 15, 2, 193-212.

    Bourdieu, P. (1977): Cultural Reproduction and Social Reproduction, in J. Karabel and A. H. Halsey (eds) Power and Ideology in Education. New York, NY: Oxford University Press. Pp. 487-511.

    Bourdieu, P. (1986): The Forms of Capital, in J. G. Richardson (ed.) Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education. New York: Greenwood Press. Pp. 241-258.

    David Throsby (1999): Cultural Capital. Journal of Cultural Economics 23: 3-12, 1999.

    DiMaggio, P. (1982): Cultural Capital and School Success: The Impact of Status Culture Participation on the Grades of US High School Students. American Sociological Review 47, 2, 189-201.

    DiMaggio, P. and Mohr, J. (1985): Cultural Capital, Educational Attainment and Marital Selection. American Journal of Sociology 90, 6, 1231-1261.

    Driessen, G. W. J. M. (2001): Ethnicity, Forms of Capital and EducationalAchievement. International Review of Education47, 6, 513-538.

    Goldthorpe, J. H. (2007): ” Cultural Capital”: Some Critical Observations. Acta Sociologica 50, 3, 211-229.

    Gordon Fyfe (2004): Reproductions, cultural capital and museums: aspects of the culture of copies. Museum and society, Mar 2004. 2 (1) 47-67, 2004, Gordon Fyfe. ISSN 1479-8360.

    Kalmijn, M. and Kraaykamp, G. (1996): Race, Cultural Capital and Schooling: An Analysis of Trends in the United States. Sociology and Education 69, 1, 22-34.

    Katsillis, J. and Rubinson, R. (1990): Cultural Capital, Student Achievement, and Educational Reproduction: The Case of Greece. American Sociological Review 55, 2, 270-279.

    Lareau, A. and Weininger, E. B. (2003): Cultural Capital in Educational Research: A Critical Assessment. Theory and Society 32, 5-6, 567-606.

    Michael Tzanakis (2011): Bourdieu’s Social Reproduction Thesis and The Role of Cultural Capital in Educational Attainment: A Critical Review of Key Empirical Studies. Educate, Vol. 11, No. 1, 2011, pp. 76-90.

    Sullivan, A. (2001): Cultural Capital and Educational Attainment. Sociology 35, 4, 893-912.

    Sullivan, A. (2007): Cultural Capital, Cultural Knowledge and Ability. Sociological Research Online 12, 6, 1.

    Nguyễn Văn Sửu (2015): Khung sinh kế bền vững: một cách phân tích toàn diện về phát triển và giảm nghèo. In trong “Nhân học phát triển: lich sử, lý thuyết và công cụ thực hành”. Nxb Tri thức, Hà Nội, trang 15-33.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Sử Dụng Mạng Xã Hội
  • Văn Hóa Chất Lượng (Phần 2)
  • Làm Sao Để Có Văn Hóa Chất Lượng?
  • Văn Hóa Chất Lượng (Phần 1)
  • Luận Văn: Văn Hóa Tâm Linh Trong Truyện Ngắn, Tiểu Thuyết Việt Nam
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Giai Cấp Công Nhân Và Chủ Nghĩa Xã Hội Trong Bối Cảnh Hiện Nay
  • Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Sở Dĩ Được Thực Hiện Bởi Giai Cấp Công Nhân Vì: A. Là Một Gi
  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Trong Điều Lệ Đảng
  • Phân Tích Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân. Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân Là Gì? Phân Tích Những Điều Kiện Khách Quan Quy Sứ Mệnh Lịch Sử Của Giai Cấp Công Nhân.
  • Vấn Đề 7: Giai Cấp Công Nhân
  • 9.Phân tích khái niệm giai cấp công nhân. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Phân tích những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    9.1. Khái niệm giai cấp công nhân (giai cấp vô sản):

    Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn luôn phát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định.

    Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại. Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn liền với sự phát triển của đại công nghiệp, nó là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó.

    Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp tư sản, là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư. Họ là những người được tự do về thân thể và có quyền bán sức lao động tùy theo cung – cầu hàng hóa sức lao động. Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hóa về vật chất lẫn tinh thần. Sự tồn tại của họ phụ thuộc và quy luật cung – cầu hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt.

    Dưới chủ nghĩa tư bản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình đế sống”.

    Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C. Mác và Ph. Ăngghen, họ vẫn chỉ có hai tiêu chí cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác.

    – Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trong nền sản xuất công nghiệp. Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao. Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Giai cấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân.

    – Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:

    + Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sản hiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột. Tức là giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt. Chính căn cứ vào tiêu chí này mà những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản.

    + Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền. Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa. Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa.

    Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.

    9.2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

    Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ có thể thoát khỏi ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại.

    9.3. Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế – xã hội khách quan của nó quy định:

    – Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển. Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao. Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay.

    – Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống. Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động. Một khi sức lao động đã trở thành hàng hóa, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của cạnh tranh; số phận của nó tùy thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hóa sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ. Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hóa cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hòa trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa. Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ có khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó. Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới. Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản. Đó là khả năng đoàn kết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc.

    Vì vậy, C. Mác và Ph. Ăngghen khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.

    A. Mở bài:

    Trong giai đoạn hiện nay, trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta lại thấy không ít những luận thuyết, những quan điểm khác nhau tấn công chủ nghĩa Mác – Lê nin, hy vọng có thể hạ bệ và thay thế chủ nghĩa Mác – Lênin. Những luận thuyết phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân lại được nở rộ ở nhiều nơi. Người ta cố tình lập luận rằng, C. Mác đã gắn cho giai cấp công nhân cái sứ mệnh mà nó không có chỉ bởi vì ông thương đó là giai cấp nghèo khổ; rằng, chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, đã trở thành “chủ nghĩa tư bản nhân dân”, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung”, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; rằng, công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột nữa, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa! … Có đúng là ngày nay giai cấp công nhân đã mất vai trò lịch sử? Đó là câu hỏi không ít người đã và đang tự hỏi về cái sứ mệnh lịch sử mà Mác và Lênin đưa ra cho giai cấp công nhân kia.

    Và đề trả lời cho câu hỏi đó em đã chọn đề tài : ” Giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của mình trong thời đại ngày nay” để có thể nhìn nhận vấn đề này một cách đúng đắn nhất.

    B. Nội dung:

    1.Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    Để đi sâu vào tìm hiểu sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là gì? Trước hết ta cần nắm rõ khái niệm giai cấp công nhân.

    – Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành cộng nghiệp thuộc các trình độ kĩ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế xã hội của họ phụ thuộc vào chế độ xã hội đương thời, ở các nước tư bản. Họ là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư ở các nước xã hội chủ nghĩa, họ là những người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình

    – Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu sụp đổ. Các thế lực phản động đả kích chủ nghĩa Mac-Lênin phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đến ngày nay giai cấp công nhân có còn tồn tại hay ko? Để làm rõ điều này chúng ta cần căn cứ vào 2 thuộc tính sau đây để nhận diện:

    +Thứ nhất nói về phương thức lao động, phương thức sản xuất: Mác và Ăng-ghen cho rằng công nhân là tất cả những người lao động trực tiếp hay gián tiếp có sử dụng công cụ lao động trong lĩnh vực sản xuất cộng nghiệp ngày càng hiện đại.

    + Thứ hai nói về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: công nhân là những người ko có tư liệu sản xuất phải làm thuê, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư Mác-Ăngghen gọi họ là giai cấp vô sản.

    Lấy hai tiêu chí trên để phân biệt và xác định rằng giai cấp công nhân ngày nay ko hề bị biến mất mà trái lại ngày càng không ngừng phát triển về số lượng. Cụ thể theo tổ chức lao động quốc tế 1900, toàn thế giới có 80 triệu công nhân, đến 199 có hơn 600 triệu, đến 1998 tăng đến 800 triệu.

    Đối với giai cấp công nhân hiện nay mặc dù cơ cấu ngành nghề ở các nuớc tư bản dịch vụ chiếm 50-70% sản xuất đã được tự động hoá với một trình rất cao,nhưng trong lao động kể cả trực tiếp hay gián tiếp ngừơi lao động điều phải sử dụng công cụ lao động của cộng nghiệp hiện đại và họ điều là những nguời ko có tư liệu sản xuất. Do đó xét về địa vị xã hội họ vẫn là người làm thuê. nếu như trước kia người công nhân chỉ bán sức lao động cơ bắp là chủ yếu, thì ngày nay họ còn bán luôn cả sức lao động trí óc và đôi khi bán chất xám lại là điều chủ yếu.Trong xã hội ngày nay có phải cuộc sống của công nhân được trung lưu hóa? Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần xét hai xã hội:

    + Ở các nước tư bản, phần đông họ ko càn là những người vô sản trần trụi với hai bàn tay trắng, một số có tư liệu sản xuất phụ mà họ có thể cùng gia đình làm thêm ở nhà để sản xuất một số công đoạn phụ cho nhà máy, xí nghiệp. Một số ít có cổ phần nhưng rất bé và bản thân họ cũng chỉ là những người lao động làm thuê. Và trên thực tế ko phải người công nhân nào cũng có thể mua được cổ phần.

    + Đối các nước xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền họ trở thành giai cấp lãnh đạo, tư liệu sản xuất là của chung. Họ vẫn là giai cấp công nhân nhưng ko còn là vô sản như trước nữa. Như vậy về địa vị kinh tế xã hội của giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa căn bản đã khác so với trước đây nhưng trong thời kì quá độ lên xã hội chủ nghĩa như ở nước ta hiện nay thì còn có một bộ phận công nhân làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân và họ vẫn là người bị bóc lột.

    2. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Sứ mệnh đó trong thời đại ngày nay.

    a. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:

    Ph. Ăngghen viết: ” thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy – đó là sứ mệnh lịch

    sử của giai cấp vô sản hiện đại”

    V.I .Lênin cũng chỉ rõ: “Điểm chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng

    rõ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”.

    Nói một cách khái quát, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

    Một câu hỏi nữa được đặt ra đó là: ” Tại sao giai cấp công nhân hiện đại có thể thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy ?”

    – Giai cấp công nhân hiện đại có thể thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử ấy của mình là do địa vị kinh tế – xã hội của nó quy định.

    + Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện đội ngũ giai cấp công nhân, họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội và là nhân tố quyết định trong việc thủ tiêu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    + Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất, nếu có thì chỉ là một phần rất nhỏ mà thôi, vì thế họ phải bán sức lao động và bị bóc lột nặng nề. Nhưng họ là lực lượng xã hội ngày càng lứon mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Họ là điều kiện tồn tại của giai cấp tư sản và xã hội tư bản.

    + Giai cấp công nhân có lợi ích cơ bản nhất trí với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động nên có thể thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân trong quá trinh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

    – Địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan những đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân hiện đại.

    – Những đặc điểm đó là:

    + Giai cấp công nhân hiện đại là giai cấp tiên tiến nhất.

    + Là giai cấp có tinh thần triệt để cách mạnh.

    + Là giai cấp có tính tổ chức và kỉ luật cao.

    + Là giai cấp có bản chất quốc thế.

    b. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong giai đoạn ngày nay:

    Trong điều kiện ngày nay, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại rất đa dạng, có nhiều trình độ khác nhau và không ngừng biến đổi theo hướng không thuần nhất: Công nhân kỹ thuật ngày càng tăng công nhân ngày càng được nâng cao về trình độ, đóng vai trò chính trong quá trình phát triển, công nhân truyền thống giảm dần. ở các nước tư bản phát triển “công nhân áo xanh” chỉ chiếm 12 – 15% tổng số công nhân . ở Italia công nhân kỹ thuật cao “công nhân áo trắng” chiếm 53% tổng số công nhân. ở Nhật 90% công nhân có trình độ đại học. ở Tây Ban Nha công nhân kỹ thuật chiếm 53%. Công nhân làm việc trong các ngành dịch vụ tăng lên xấp xỉ 50% tổng số công nhân. Mặc dù một số ít trong giai cấp công nhân có cổ phần trong các xí nghiệp của tư bản, nhưng về cơ bản giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, sự phân biệt giàu nghèo và tình trạng bất công xã hội vẫn tăng lên, bản chất bóc lột giá trị thặng dư vẫn tồn tại, dù được biểu hiện dưới hình thức tinh vi hơn. Cả sự bần cùng hóa tuyệt đối lẫn bần cùng hóa tương đối của giai cấp công nhân vẫn đang tồn tại. Tuy đại bộ phận tầng lớp trí thức và lao động có kỹ năng đang có việc làm được cải thiện mức sống và gia nhập vào tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn không xóa được sự phân hóa giàu nghèo. Chính những nhà xã hội học tư sản tiến bộ đã chứng minh ở các nước tư bản hiện nay sự bóc lột còn cao hơn và với cơ chế càng tinh vi hơn thời Mác.

    Do tính quy định của sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân ngày nay có một số biểu hiện mới: trình độ văn hóa – tay nghề cao hơn; một số công nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ phiếu, đời sống một bộ phận được cải thiện v.v… Song, những biểu hiện đó không làm thay đổi địa vị cơ bản của công nhân trong chủ nghĩa tư bản. Họ vẫn đang là lực lượng chủ yếu làm ra của cải cho xã hội và lợi nhuận cho các nhà tư bản; là lực lượng đối lập trực tiếp với giai cấp tư sản, bị bóc lột nhiều nhất và khoảng cách về mức thu nhập giữa họ với giới chủ ngày càng lớn. Công nhân trong các nước tư bản phát triển được trí tuệ hóa, lao động bớt nặng nhọc hơn, có chút ít cổ phần trong doanh nghiệp… thì họ càng bị ràng buộc chặt chẽ hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng nề và tinh vi hơn. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư trung bình ở thế kỷ XIX là 20, thì hiện nay là 300, cá biệt có nơi, như tập đoàn Microsoft tỷ suất này lên tới 5000. Từ một chiều cạnh khác, hiện nay sự tăng lên lượng tri thức khoa học và văn hóa của công nhân lại cũng là một tiền đề quan trọng để giúp họ nhận thức và cải tạo xã hội. Họ đang phê phán chủ nghĩa tư bản và đến với chủ nghĩa xã hội như đến với cái đúng và do sự thôi thúc của lý trí chứ không chỉ do nghèo đói. Với tri thức và khả năng làm chủ công nghệ cao, với năng lực sáng tạo và ý thức về sứ mệnh, giai cấp công nhân hiện đại đang có thêm điều kiện để tự giải phóng.

    Như vậy dù mức sống có cao hơn trước, dù công nhân có được tham gia quản lý thông qua đại biểu trong hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự” và “chế độ ủy nhiệm”‘ nhưng họ vẫn là người làm thuê bán sức lao động, ý chí của chủ nghĩa tư bản vẫn là quyền lực chi phối, tầng lớp “nhà quản lý” vẫn chỉ là kẻ phụ thuộc vào giới chủ. Giai cấp công nhân vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và trực tiếp, vẫn là giai cấp tiên phong trong xã hội. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không thể chuyển vào tay một giai cấp hay tầng lớp xã hội nào khác: Những chỉ dẫn cơ bản về đặc trưng bản chất của giai cấp công nhân của Mác – Ăngghen – Lênin đưa ra vẫn là cơ sở phương pháp luận để xem xét, phân tích giai cấp công nhân hiện đại trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển hay trong những nước đang tiếp tục con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nước thế giới thứ ba và toàn thế giới nói chung, trước đây cũng như hiện nay.

    Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động ra của cải vật chất trong lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sản phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và sự phát triển của xã hội.

    Giai cấp công nhân vừa là người lãnh đạo, đồng thời cùng với nông dân, trí thức và các giai cấp, tầng lớp lao động khác họp thành lực lượng tổng hợp của quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử đó.

    Nhờ có những điều chỉnh lớn và tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là qua toàn cầu hóa kinh tế, chủ nghĩa tư bản đang còn khả năng tiếp tục kéo dài sự tồn tại nhưng không thể tránh được “định mệnh” mà Mác đã vạch ra từ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là biểu hiện tập trung của xu thế xã hội hóa lực lượng sản xuất và cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ bản trong lòng chủ nghĩa tư bản. Nó khai triển mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến mọi ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện xã hội đa dạng. Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân hiện đại đang bị chủ nghĩa tư bản toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với một giai cấp “ngày càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất và phản động về chính trị; Đó là mâu thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, hay “phương Bắc và phương Nam”, giữa “trung tâm và ngoại vi”…; là mâu thuẫn của lợi ích từng quốc gia – dân tộc với lợi ích của các tập đoàn tư bản; giữa những nước phát triển và đang phát triển; giữa chủ quyền quốc gia – dân tộc với xu thế đồng hóa cưỡng bức; giữa văn hoá dân tộc với cuộc xâm lăng bằng tư tưởng, lối sống của những nước đế quốc trong môi trường toàn cầu đang vận hành theo những cơ chế bất bình đẳng; Đó còn là mâu thuẫn giữa các nước tư bản xung quanh việc tranh giành vị trí, thế lực và ảnh hưởng thông qua việc chiếm lĩnh ưu thế về khoa học và công nghệ, những nguồn tài nguyên…

    Nhìn chung từ thực tiễn hiện đại, nhu cầu có một toàn cầu hóa với chất lượng mới đang hiện rõ. Và, mầm mống của một phương thức sản xuất mới cũng đang lớn dần, chủ yếu là theo cách này. Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế và không hề xa lạ với những hiện tượng quốc tế phản ánh tiến bộ xã hội. Chủ động, tích cực hội nhập quá trình toàn cầu hóa kinh tế; tận dụng những thời cơ, tranh thủ ngoại lực từ quá trình toàn cầu hoá hiện nay và làm biến đổi nó theo hướng tích cực là một tiến trình hợp quy luật và là con đường để thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân.

    3. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam:

    Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung cơ bản của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Sứ mệnh của giai cấp công nhân Việt Nam là giải phóng dân tộc và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; qua đó giải phóng giai cấp, giải phóng người lao động, xây dựng một “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”…Hiện nay, để sớm đưa đất nước khỏi tình kém phát triển, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay là “Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Theo đó phát triển giai cấp công nhân cũng chính là phát triển, hoàn thiện chủ thể của sứ mệnh lịch sử hiện đại – cơ sở xã hội quan trọng nhất bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam cũng chỉ có thể thực hiện thắng lợi khi quyền lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, được giữ vững và không ngừng tăng cường; Nhà nước xã hội chủ nghĩa và chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân lao động nước ta không ngừng được hoàn thiện và phát triển.

    Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân: Là giai cấp tiên tiến, là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là giai cấp có tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật và có tinh thần quốc tế vô sản nhưng do hàn cảnh lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:

    + Ra đời trước g/c tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề ngay từ mới ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng Tháng10 Nga, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, ko bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản, giai cấp công nhân Việt Nam từ khi có đảng lãnh đạo, đã nhanh chóng bước lên vũ đài chính trị với tư cách là một lực lượng chính trị độc lập với mục tiêu: Giải phóng dân tộc xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Giai cấp công nhân khi sinh ra đã kế thừa truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc, tinh thần đó lại được nhân lên gấp bội khi có sự lãnh đạo của Đảng.

    + Sinh ra và trưởng thành ở một nước phong kiến nửa thuôc địa, nông nghiệp lạc hậu nên hạn chế lớn nhất của giai cấp công nhân Việt Nam là còn chịu ảnh hưởng tư tưởng nho giáo phong kiến, tác phong của nền sản xuất nhỏ tiểu nông, câu nệ với sách vở, xa rời quần chúng, thoát ly sản xuất, chúng ta đừng có ảo tưởng những tàn dư tâm lý sản xuất nhỏ ấy có thể một ngày, hai ngày bị quét sạch ra khỏi đời sống xã hội.

    Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay gồm người lao động chân tay, lao động trí óc, hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các. Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, họ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến có tri thức. Họ là lực lương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, là hạt nhân vững chắc trong liên minh công nhân, nông dân trí thức. Nhược điểm của giai cấp công nhân Việt Nam: như số lượng còn ít, chưa được rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp. Nhưng điều đó ko thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch sử chủ nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam. Xét về bản chất thì chưa thể có và ko thể có tổ chức chính trị nào, giai cấp nào có thể thay thế được giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, trong đó nhân dân lao động được làm chủ, đất nước độc lập và phồn vinh xóa bỏ áp bức bất công, mọi người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Đối với giai cấp công nhân cần phải ” coi trọng phát triển về sồ lượng và chất lượng nâng cao giác ngộ, bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề ngiệp, thực hiện” trí thức hoá công nhân ” nâng cao năng lực ứng dụng và sang tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu wả ngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo trong thời kì mới…”

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam (…).

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hóa; có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học-công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao “.

    Cùng với việc triển khai thực hiện chiến lược xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân. Đó là vấn đề bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, đặc biệt là về tiền lương, thu nhập, nhà ở, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội…, tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp công nhân. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong các loại hình doanh nghiệp. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đào tạo, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; chú trọng đào tạo nghề cho công nhân xuất thân từ nông dân và nữ công nhân; từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc, kiến thức pháp luật, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, xây dựng lối sống lành mạnh trong công nhân, nhất là công nhân trẻ. Quan tâm xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở Đảng trong các loại hình doanh nghiệp; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp phù hợp với từng thành phần kinh tế. Đẩy mạnh phát triển đoàn viên và tổ chức gắn với nâng cao chất lượng hoạt động của Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong các loại hình doanh nghiệp phù hợp với Điều lệ và quy định của pháp luật. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong việc xây dựng giai cấp công nhân.

    Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động; trong đó, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước có vai trò quyết định, Công đoàn có vai trò quan trọng trực tiếp trong việc chăm lo xây dựng giai cấp công nhân. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cùng với xây dựng tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị-xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh. Xây dựng giai cấp công nhân nước ta phát triển toàn diện xứng đáng là giai cấp lãnh đạo cách mạng, tích cực phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, có tầm quan trọng chiến lược và quyết định đối với công cuộc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    C. Kết luận:

    Trở lại với câu hỏi đầu tiên: ” Có đúng là giai cấp công nhân ngày nay mất đi sứ mệnh lịch sử của mình hay không?”

    Để làm rõ vấn đề này cần phải dựa trên cơ sở luận chứng địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân hiện nay gắn với việc làm sáng tỏ bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện đại.

    + Phương pháp luận trong xem xét vai trò lịch sử của một giai cấp là phải dựa trên cơ sở địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp đó trong xã hội, chứ không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của bất kỳ một cá nhân hoặc một lực lượng xã hội nào. Trong lịch sử, chế độ tư bản chủ nghĩa đã từng chiến thắng chế độ phong kiến bởi vì giai cấp tư sản đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất mới, dựa trên nền đại công nghiệp, tiến bộ hơn hẳn phương thức sản xuất lạc hậu của chế độ phong kiến.

    Đối với giai cấp công nhân, “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”. Trên cơ sở luận giải địa vị kinh tế – xã hội của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã đưa ra kết luận khoa học: sự sụp đổ của giai cấp tư sản và sự thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

    Điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không phải giai cấp này là giai cấp nghèo khổ, mà điều quyết định là do địa vị kinh tế – xã hội của chính nó. Trong xã hội tư bản, các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; trái lại, giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, là lực lượng sản xuất tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. Đây là điều quyết định giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

    Lấy sự nghèo khổ làm cơ sở để luận giải sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một lập luận phản khoa học và là mưu đồ hòng xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin.

    + Lại có quan điểm cho rằng, hiện nay ở các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân không còn bị bóc lột như trước nữa; nó đã trở nên “trung lưu hoá” thậm chí trở thành “nhà tư bản” khi đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty. Đúng là hiện nay, việc thực hiện cổ phần hoá ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng khắp. Người dân hễ có tiền tích luỹ là có thể mua cổ phiếu ở xí nghiệp, công ty cổ phần nào đó (ở Mỹ 10%, ở Anh 12% người lao động có cổ phần) với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn.

    Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, việc bán cổ phiếu cho công nhân không những không động chạm đến quyền lợi của giới chủ, mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn tư bản. Một chủ tư bản không cần một số lượng tư bản lớn cũng có thể chi phối cả công ty, hoặc nhiều công ty trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hết sức lớn. Bán cổ phiếu cho người lao động chỉ diễn ra trong chừng mực không tổn hại đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đến lợi ích của giới chủ. Khi đã có cổ phiếu, dù người công nhân có được những quyền lợi nhất định gắn với tình hình sản xuất của Công ty và lợi tức do kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại, nhưng thực chất nguồn lợi nhuận ấy chẳng qua là một phần giá trị thặng dư do chính công nhân làm ra, chứ không phải bớt đi giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản đã bỏ túi. Vậy là, người công nhân không phải đã trở thành nhà “nhà tư bản” theo cái cách người ta nói, mà là “thành nhà tư bản đối với chính mình”.

    Như vậy, công nhân hiện nay dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hội tư bản. Chế độ cổ phiếu thật sự là phương pháp hữu hiệu cột chặt người lao động là bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào giới chủ. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa, do đó chỉ là ảo tưởng, hoặc đó là hành động tự lừa dối mà thôi.

    Giai cấp công nhân nếu đã trở nên “trung lưu hoá”, thì cái sự “trung lưu hoá” ấy là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới chứ không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; đó là do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân trong đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội, mức sống cao về vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không còn giống như những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Đó là sự thật. Thế nhưng, từ những biến đổi đó mà đi đến kết luận giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng nữa, thì đó là sai lầm cả về chính trị và khoa học.

    + Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định: chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lực lượng sản xuất hùng hậu hơn các thế kỷ trước cộng lại. Trong điều kiện cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất đó càng được tăng lên nhanh chóng với những bước tiến nhảy vọt. Chính những yếu tố đó là cơ sở vật chất giúp cho chủ nghĩa tư bản có thể tận dụng một cách hữu hiệu những thành tựu khoa học – công nghệ mới để kéo dài tuổi thọ của mình. Trên thực tế, chủ nghĩa tư bản đã và đang tìm mọi cách điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới.

    Mặc dù có những thay đổi và đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế trong những thập kỷ gần đây, nhưng trong lòng thế giới tư bản hiện đại, mâu thuẫn vốn có của nó giữa lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất không những vẫn còn tồn tại, mà có mặt còn sâu sắc hơn là lan ra phạm vi rộng hơn. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định: chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi những mâu thuẫn vốn có”.

    Mâu thuẫn xã hội cơ bản giữa giai cấp những người vô sản và giai cấp những người hữu sản; giữa những người nghèo và những người giàu không chỉ còn trong phạm vi một quốc gia, nó đã phát triển ở tầm quốc tế. Sự phát triển của các tập đoàn tư bản, các công ty tư bản xuyên quốc gia tăng sự bòn rút tài nguyên và bóc lột nhân dân nhiều nước thuộc “thế giới thứ ba”; các cuộc chiến tranh đẫm máu chống các quốc gia độc lập có chủ quyền do chủ nghĩa đế quốc phát động… là nguyên nhân chủ yếu khiến cho hơn 500 triệu người bị đe đoạ chết đói, 1,6 tỷ người sống trong cảnh khốn cùng, 600 triệu người thất nghiệp, hơn 800 triệu người mù chữ… Tất cả điều đó đã nói lên tính chất ăn bám, bóc lột, phản động và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc.

    Rõ ràng, chủ nghĩa tư bản niện đại dù có biến đổi, thích nghi thì về bản chất vẫn là chủ nghĩa tư bản, là chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ở trình độ cao, chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia, chứ không hề có sự thay đổi bản chất; nó vẫn là chế độ bóc lột, bất công và đầy mâu thuẫn.

    + Theo V.I.Lênin, chủ nghĩa đế quốc là “phòng chờ” đi vào chủ nghiã xã hội. Như thế, phải chăng trong điều kiện mới, cùng với sự phát triển và tác dộng của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thì “phòng chờ” đó càng được mở rộng hơn. Đúng như vậy, với sự mở rộng “phòng chờ” đó, tất yếu sẽ diễn ra sự vùng dậy của lực lượng sản xuất làm nổ tung toàn bộ cái quan hệ sản xuất đang trói buộc nó. Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, mà chủ nghĩa tư bản đang lợi dụng để kéo dài tuổi thọ của nó, đang dần vượt ra khỏi “sự kiểm soát của chính nó”. Do thực hiện chế độ cổ phiếu, nên giới chủ không phải muốn làm gì cũng được mà không tính đến lực lượng cổ đông đông đảo là giai cấp công nhân, tuy giá trị cổ phiếu của họ là nhỏ bé.

    Trong điều kiện đó, Đảng Cộng sản, công đoàn, các tổ chức, đoàn thể của giai cấp công nhân được mở rộng và hoạt động ngày càng phong phú hơn, tạo áp lực đối với giới chủ ngày càng mạnh mẽ hơn. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản phát triển ngày càng gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các nước đang phát triển trong một mặt trận chung chống chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc. Giai cấp công nhân ngày càng được rèn luyện và trưởng thành trong đấu tranh chống giai cấp tư sản cả về chính trị và kinh tế trên quy mô quốc gia và quốc tế.

    Cần nhắc lại luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình mà nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy – những công nhân hiện đại, những người vô sản”. Luận điểm nổi tiếng đó càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện lịch sử mới.

    Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đối với những người cộng sản, giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ trên thế giới, quả là một thực tế nghiệt ngã và đau xót. Thế nhưng, điều đó không có nghĩa là chủ nghĩa xã hội bị “tiêu vong”, giai cấp công nhân đã “mất vai trò lịch sử”: cũng không làm mất đi ý chí phấn đấu và niềm tin vào tương lai xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Trái lại, giai cấp công nhân có thêm những bài học quý giá về những vấn đề cơ bản của cách mạng, bài học sâu sắc về “cách mạng phải biết tự bảo vệ”; càng nhận thức rõ hơn tính chất quyết liệt, gay go của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc trong thời đại ngày nay; càng hiểu rõ hơn những bước thăng trầm, những khúc quanh trên con đường thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

    Nhận thức và vận dụng: Lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

    ứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là một phạm trù cơ bản nhất của CNXH khoa học, do đó đã được C.Mác – Ph.Ăngghen và V.I.Lênin nghiên cứu và phát triển hoàn thiện trong quá trình phát triển của lịch sử thế giới.

    C.Mác và Ăngghen đã tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, chỉ ra biện pháp và con đường để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. V.I.Lênin khẳng định: “Điểm chủ yếu trong học thuyết Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” 1 .

    Khi sử dụng khái niệm giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng những thuật ngữ khác nhau: như giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp… về cơ bản thuật ngữ này trước hết biểu thị một khái niệm thống nhất đó là chỉ giai cấp công nhân hiện đại, con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại.

    Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là sản phẩm của cách mạng công nghiệp, ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp; trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao.Có hai tiêu chí cơ bản:

    Về phương thức lao động của giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là những người lao động công nghiệp, sản xuất ra sản phẩm công nghiệp. Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt người công nhân hiện đại với người thợ thủ công thời trung cổ, người thợ thủ công trong công trường thủ công. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp. C.Mác và Ph.Ăngghen phân tích: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp” 2 . “Công nhân cũng là một phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy… công nhân Anh là đứa con đầu lòng của nền công nghiệp hiện đại” 3 .

    Về địa vị của giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: giai cấp công nhân là những người lao động không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, họ buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống. “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống” 4 .

    Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản Ph.Ăngghen đưa ra định nghĩa: “giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào việc bán sức lao động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào yêu cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, giai cấp vô sản hay giai cấp của những người vô sản là giai cấp lao động lao động trong thế kỷ XIX” 5 . “giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng sản sinh ra…” 6 .

    Phát triển học thuyết của C.Mác và Ph.Ăngghen trong giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là trong thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga Xô viết, V.I.Lênin phát triển, hoàn thiện và làm rõ hơn vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình cách mạng XHCN. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành những người chủ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Địa vị kinh tế chính trị của giai cấp công nhân có những thay đổi căn bản.

    Xuất phát từ quan niệm của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sự biến đổi của giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay, có thể định nghĩa: Giai cấp công nhân: “Là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của LLSX có tính chất xã hội hóa ngay càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội, là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ CNTB lên CNXH. Trong các nước TBCN, giai cấp công nhân là những người không có hoặc về cơ bản không có TLSX, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; Trong các nước XHCN, họ đã cùng nhân dân lao động làm chủ những TLSX chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân mình” 7 .

    Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền công nghiệp hiện đại, lực lượng đại biểu cho sự phát triển của lực lượng sản xuất tiến bộ, cho xu hướng tiến bộ của phương thức sản xuất. Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sửtoàn thế giới của giai cấp công nhân là tổ chức lãnh đạo xã hội (XH) thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản để đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng toàn XH khỏi áp bức bất công xóa bỏ CNTB xây dựng thành công CNCS trên phạm vi toàn thế giới.

    Tổ chức lãnh đạo XH thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản: xoá bỏ chế độ TBCN, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. Giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn CNTB, từng bước xây dựng CNXH, CNCS.

    Về kinh tế: giai cấp công nhân trở thành lực lượng sản xuất cơ bản và là giai cấp quyết định sự tồn tại xã hội hiện đại và tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH.

    Về chính trị: Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động tiến hành đấu tranh giành chính quyền, xác lập và bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ cho nhân dân.

    Về văn hóa tư tưởng: giai cấp công nhân đấu tranh với hệ tư tưởng phi vô sản, xác lập địa vị thống trị của hệ tư tưởng giai cấp công nhân xây dựng nền văn hóa và con người mới XHCN.

    Xét một cách tổng quát: Địa vị kinh tế xã hội khách quan của giai cấp công nhân chỉ ra rằng giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới CNTB. V.I.Lênin: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do những điều kiện khách quan quy định: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là công nhân, là người lao động” 8 . Và, với tính chất như vậy, nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

    Sau khi giành được chính quyền, giai cấp công nhân, đại biểu cho sự tiến hóa tất yếu của lịch sử, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo XH xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cụ thể: về kinh tế, văn hóa, xã hội.

    Đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp công nhân, này tạo khả năng để giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình: giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất. Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, C.Mác: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là thực sự cách mạng. Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp” 9 . Giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỷ luật cao; giai cấp công nhân có bản chất quốc tế.

    Từ sự phân tích địa vị kinh tế – xã hội, đặc điểm chính trị – xã hội của giai cấp và tầng lớp trung gian có thể kết luận: chỉ duy nhất giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, từng bước xây dựng CNXH, CSCN trên phạm vi toàn thế giới.

    Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân – nhân tố chủ quan cơ bản nhất để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đầu tiên đảm bảo cho giai cấp công nhân hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. Vì: Đảng Cộng sản mang bản chất giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản là tổ chức bao gồm những phần tử tiên tiến, ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng Cộng sản đại biểu một cách triệt để và trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, Đảng Cộng sản lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.

    Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được thể hiện qua việc thực hiện các nhiệm vụ: Đảng Cộng sản vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, phân tích đúng đắn tình hình cụ thể đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của quá trình cách mạng cũng như của từng giai đoạn cách mạng (giành chính quyền, xây dựng CNXH…) trong từng nước cũng như trên toàn thế giới. Đảng Cộng sản tuyên truyền đường lối, giáo dục, thuyết phục giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động thực hiện thắng lợi đường lối đã đề ra. Đảng Cộng sản tổ chức, chỉ huy toàn bộ quá trình cách mạng cũng như từng giai đoạn cách mạng: tập hợp lực lượng, bố trí cán bộ, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh; Mọi cán bộ, đảng viên ca Đảng Cộng sản gương mẫu thực hiện và thực hiện đường lối đã đề ra.

    Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được thể hiện thông qua việc thực hiện hai giai đoạn cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN.

    Trước hết giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản đã lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính nhân dân, “phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.

    Sau đó phải chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN: giai cấp công nhân từng bước lãnh đạo nhân dân lao động xây dựng CNXH – chế độ xã hội không có người bóc lột người, “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

    Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng XH to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và lao động trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh có tính chất công nghiệp” 10 .

    Giai cấp công nhân Việt Nam có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” 11 .

    Để giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh của mình, giai cấp công nhân cũng như mỗi người công nhân cần thường xuyên phấn đấu vươn lên, trưởng thành về các mặt: tư tưởng, chính trị, lập trường giai cấp, văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề… cần tập trung:

    Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

    Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bồi dưỡng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân;

    Thực hiện tốt chính sách, pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân gắn với tăng năng suất lao động;

    Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy trong xây dựng giai cấp công nhân;

    Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn trong xây dựng giai cấp công nhân

    Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế.Quán triệt quan điểm và mục tiêu, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Được Thể Hiện Ở Những Điểm Chủ Yếu Nào?
  • Bản Chất Giai Cấp Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Giai Cấp Công Nhân Việt Nam
  • Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Giữ Vững Bản Chất Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Trong Tình Hình Mới
  • Khái Niệm Về Vải Kaki (Khaki) Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kim Loại Màu Là Gì? Kim Loại Đen Là Gì? Giá Kim Loại Màu Hôm Nay
  • Soul Knight Hack Mod Apk 2.6.7 ( Vô Hạn Tiền + Mở Khóa)
  • Tiểu Sử Nhân Vật: Driver Knight Là Ai ?
  • Tóc Đen Nhuộm Light Màu Gì Đẹp?
  • Ánh Sáng Xanh (Blue Light) Là Gì? Nó Có Hại Cho Mắt Bạn?
  • Khái niệm vải kaki

    Vải kaki (tên gọi khác là khaki) là vải làm từ sợi cotton hoặc sợi len được dệt một cách chắc chắn với nhiều kiểu dệt khác nhau. Tuy nhiên trên thị trường còn có một số loại vải Kaki pha thêm những thành phần sợi tổng hợp như polyester hoặc visco, dệt chéo với sợi cotton để mang đến cho bạn cảm giác thoải mái và dễ chịu hơn.

    Tên Kaki có nguồn gốc từ tiếng Urdu, có nghĩa là bụi hay màu đất.

    Lịch sử của vải kaki

    Vải kaki ra đời từ giữa thế kỉ 19 tại Ấn Độ. Năm 1848, vải kaki được sử dụng để may toàn bộ quân phục cho lính Anh và các quân đội khác trên toàn thế giới.

    “Thực chất tên khaki là tên một màu trong tiếng anh, đó là màu nâu nhạt pha với màu vàng nhạt”.

    Vào tháng 12/1846, Tướng sĩ quan quân đội của Anh – Harry Lawrence đã giới thiệu và cho ra mắt bộ quân phục đầu tiên làm bằng vải kaki tại đất nước Ấn Độ. Thời gian trước đó, quân phục của lính Anh sử dụng là áo khoác đỏ và quần pajama màu trắng được làm từ sợi vải bông thô. Điều đó hoàn toàn không phù hợp với thời tiết nóng nực ở Ấn Độ. Chính vì thế, Lawrence đã tìm cách khắc phục nhược điểm đó bằng một chất liệu khác mỏng, nhẹ hơn để thích hợp trong chiến đấu, đồng thời nó lại có màu nâu của đất giúp dễ dàng ngụy trang.

    Chất liệu vải mới tuyệt vời đó chính là vải kaki. Chính thức vào năm 1848, vải kaki được sử dụng để may toàn bộ quân phục cho lính Anh và các quân đội khác trên toàn thế giới.

    Năm 1898, Hải quân và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã chọn quân phục vải kaki để thay thế cho đồng phục màu xanh truyền thống của họ.

    Năm 1902, ngoài việc vẫn sử dụng màu vải kaki, Quân đội Đế quốc Anh còn cho ra đời một màu sắc khác của vải kaki đó là màu nâu xanh thẫm và màu xám. Lực lượng viễn chinh của Mỹ cũng sử dụng hai màu này trong thế chiến thứ nhất.

    Người ta cho rằng vải kaki sinh ra là để bảo vệ những người lính, giúp họ ngụy trang chống lại sự nguy hiểm của chiến trường.

    Sau chiến tranh thế giới thứ II, vải kaki được sử dụng rộng rãi, phổ biến ở Mỹ. Quần kaki hay những đồng phục “khakis” được dùng để mặc hằng ngày và bất kể màu sắc. Vải kaki phù hợp may trang phục cho mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh và môi trường nên nó được sử dụng khá phổ biến hiện nay.

    Đặc điểm của vải kaki

    Vải kaki có tính chất chung là bền, mát, không nhăn, hút ẩm tốt. Vải kaki sợi giống như những sợi lanh và bông cotton nhưng được dệt một cách chắc chắn. Bạn có thể hiểu chúng có họ hàng với nhau. Vậy nên nó rất nhiều những ưu điểm được ứng dụng rộng rãi.

    Ưu điểm:

    – Vì có cấu trúc dệt rất chắc chắn vậy nên ưu điểm nổi bật nhất của nó là rất bền, ít nhăn và không bị xù lông.

    – Có khả năng thấm hút mồ hôi cao, thoáng mát, dễ dàng làm sạch và nhanh khô.

    – Rất dễ nhuộm màu và cầm màu tốt, có thể co giãn hoặc không. Vậy nên vải Kaki không chỉ được sử dụng để may quần áo thông thường, mà còn được sử dụng để may balo, mũ, đồng phục công sở, phổ biến nhất là đồng phục bảo hộ lao động.

    – Vải Kaki có rất nhiều màu sắc và kiểu dáng phong phú khác nhau cho bạn lựa chọn. Trang phục được may từ vải này thường có đường may xếp li và có nhiều túi lớn nhỏ để phù hợp với mọi lứa tuổi và mọi hoàn cảnh sử dụng.

    Nhược điểm:

    – Vải kaki thường không phù hợp với những thiết kế quá cầu kì và giá thành của nó khá đắt.

    Vải Kaki thun là loại vải có độ co giãn tương đối tốt. Nó cũng khá dày vì có chất liệu thun dệt xen lẫn các sợi vải nhưng vẫn tạo cho người mặc cảm giác thoải mái và thoáng mát. Kaki thun thích hợp dùng để may các sản phẩm ôm sát mặc hàng ngày hoặc váy công sở dành cho nữ.

    Kaki không thun

    Vải Kaki này có độ cứng cao, không co gãn, ít nhăn. Nó thường được sử dụng trong quân đội hoặc đồ bảo hộ lao động. Ngoài ra, loại vải này cũng được ứng dụng rất nhiều trong các trang phục dành cho nam, đặc biệt dùng để may các mẫu quần tây nam, đề cao tính lịch sự, gọn gàng và lịch lãm của phái mạnh.

    Ngoài hai loại kaki chính kể trên, nó còn được phân thành hai dạng khác đó là Kaki Polyester và Kaki Cotton.

    Loại vải này có nguồn gốc từ các sợi tổng hợp, nó có thành phần của sợi cotton và Etylen (polyster) – một chất thường thấy trong lĩnh vực khai thác dầu mỏ.

    Kaki Polyester có khả năng chống cháy, hút ẩm thấp và không co dãn khi giặt. Những đặc tính này là do quá trình tạo chất Etylen được thực hiện trong quá trình phản ứng trùng hợp polyster nên cấu tạo của chúng gồm nhiều chất không thể tách rời.

    Kaki Cotton

    Vải Kaki Cotton được dệt từ những sợi bông tự nhiên và mỏng hơn nhiều so với Kaki thun. Các trang phục làm từ vải Kaki Cotton thường tạo cảm giác thoải mái, thoáng mát, dễ chịu, bám sát nhưng không quá gò bó vào cơ thể. Do vậy, vải Kaki Cotton thích hợp để may các loại trang phục dành cho phụ nữ như váy, quần dáng ôm sát cơ thể và tôn lên vóc dáng đẹp tự nhiên của người phụ nữ.

    Cách nhận biết các loại vải Kaki

    Để nhận biết vải Kaki thun và Kaki không thun bạn có thể dựa vào độ dày và độ co giãn của vải. Vải nào có độ co giãn nhiều và mềm, hơn sẽ là Kaki thun, ngược lạ.

    Với Kaki Polyester và Kaki Cotton, ta có thể phân biệt bằng cách đốt cháy. Khi đốt cháy, vải Kaki Cotton sẽ cháy rất nhanh với ngọn lửa màu vàng và tàn tro của nó rất mịn. Còn vải kaki Polyester sẽ không dễ cháy và có mùi thơm nhẹ.

    Cách bảo quản vải kaki

    Khi giặt:

    – Với đồ kaki bạn nên lột mặt trái của sản phẩm để giặt và tránh giũ mạnh ảnh hưởng đến chất lượng của sợi vải. Nên giặt đồ kaki riêng biệt, không giặt chung với các loại sợi vải thông thường khác.

    – Chỉ nên giặt các sản phẩm làm từ vải kaki bằng tay chứ không nên sử dụng máy giặt vì lực quay mạnh của máy sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc sợi vải.

    – Chất làm sạch dùng trong quá trình giặt phải dịu nhẹ, lành tính, không có tính tẩy mạnh. Đặc biệt không dùng thuốc tẩy chuyên dụng để loại bỏ vết bẩn trên vải Kaki. Điều đó sẽ gây ra tình trạng loang lổ màu, trông rất mất thẩm mỹ.

    Khi phơi:

    Tuyệt đối không được để ánh nắng trực tiếp quá gắt chiếu vào vải khiến vải bị bạc màu hoặc ngả sang màu khác.

    Khi cất giữ:

    – Với trang phục vải kaki nên sử dụng giấy lụa hoặc khăn bông sạch bọc ngoài để tránh vi khuẩn và bụi bẩn bám vào quần áo.

    – Không nên gập và để nhiều đồ nặng lên trên quần áo kaki vì để lâu trong thời gian dài sẽ gây tình trạng mất form hoặc bị gấp nếp, nhăm nhúm. Môi trường lý tưởng nhất để bảo quản quần áo kaki là nơi thoáng mát, khô ráo, tuyệt đối tránh khu vực ẩm ướt.

    – Thay vì chọn tủ gỗ, bạn nên để vải kaki trong tủ nhôm kính để tránh việc bị mối mọt.

    Tổng kết

    Chính nhờ những ưu điểm nổi trội như vậy, vải kaki hiện đang là một chất liệu vải đã và đang được sử dụng khá phổ biến. Sự đa dạng về màu sắc và kiểu dáng hứa hẹn sẽ mang đến những trang phục đạt đến tính thẩm mĩ và độ bền tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từng Là Màu Đắt Nhất, Iphone 7 Jet Black Sụt Giá Thảm Hại, Trở Thành Màu Rẻ Nhất Hiện Nay
  • Tại Sao Jet Black Là Màu Nổi Bật Nhất Của Iphone 7, Nhưng Người Dùng Việt Lại Tỏ Ra Không Mặn Mà?
  • Review Son 3Ce Immanence Cloud Lip Tint Màu Đỏ Rượu Vang Đẹp Nhất
  • Son Ink Màu 23 Thời Thượng Và Review Chi Tiết Về Tất Cả Các Dòng.
  • 13 Dấu Hiệu Chứng Tỏ Bạn Là Một Đứa Trẻ Chàm Indigo Child
  • Định Nghĩa Substandard / Dưới Tiêu Chuẩn Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Substitute Check / Chi Phiếu Thay Thế Là Gì?
  • Định Nghĩa Sunset Clause / Điều Khoản Hết Hiệu Lực Là Gì?
  • Định Nghĩa Super Now Account / Tài Khoản Super Now Là Gì?
  • Định Nghĩa Take The Offer / Nhận Giá Chào Là Gì?
  • Định Nghĩa Tandem Loan / Khoản Cho Vay Được Trợ Cấp Là Gì?
  • Khái niệm thuật ngữ

    Khoản cho vay hay tài sản sinh lợi khác của ngân hàng được bảo vệ không đầy đủ bởi giá trị ròng ngắn hạn và khả năng chi trả của người vay, hay thế chấp được cầm cố. Các khoản vay được xếp loại dưới tiêu chuẩn có đặc điểm khác biệt, là khả năng người cho vay sẽ chịu khoản lỗ nào đó nếu phần thiếu sót không được sửa chữa. Khoản lỗ tiền lãi được dự kiến trước, hoặc có thể đã phát sinh, nhưng khoản lỗ vốn gốc được xem là ít có khả năng xảy ra. Xem ADVERSELY CLASSIFIED ASSETS; DOUBTFUL LOAN; LOSS Phân loại rủi ro quốc gia các khoản vay xuyên biên giới cho quốc gia nợ, trong đó quốc gia nợ liên quan đã không đáp ứng các khoản thanh toán nợ bên ngoài, đã chấp nhận một chương trình điều chỉnh kinh tế được khuyến nghị bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế, hay thương lượng lịch tái cơ cấu nợ với các chủ nợ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Subprime Loan / Khoản Cho Vay Dưới Chuẩn Là Gì?
  • Định Nghĩa Subordination Agreement / Thỏa Thuận Phụ Thuộc Là Gì?
  • Định Nghĩa Subordinate Debt / Nợ Thứ Yếu Là Gì?
  • Định Nghĩa Subject To Verification / Phụ Thuộc Vào Xác Minh Là Gì?
  • Định Nghĩa Subject To Mortgage / Phụ Thuộc Vào Cầm Cố Là Gì?
  • Tin tức online tv