Khái Niệm Thế Nào Là Nơi Công Cộng

--- Bài mới hơn ---

  • Người Cư Trú, Không Cư Trú Là Gì? Mẫu Xác Nhận Cư Trú, Tạm Trú Mới
  • Tài Chính Quốc Tế..chương 3: Cán Cân Thanh Toán Quốc Tế(Bp) 3.1.khái Niệm:
  • Nơi Cư Trú Là Gì ? Nơi Cư Trú Của Cá Nhân Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Nơi Cư Trú Của Cá Nhân ?
  • Các Loại Giấy Tờ Cư Trú Của Người Nước Ngoài Tại Việt Nam
  • Các Loại Giấy Tờ Cư Trú Của Người Nước Ngoài Ở Việt Nam
  • Khái Niệm Y Tế Công Cộng, Khái Niệm Thế Nào Là Nơi Công Cộng, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Nhà Máy Nhà Máy Là Cơ Sở Sản Xuất Công Nghiệp, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chúng Ta, Ve Viec Niem Yet Thong Bao Cong Khai Van Ban Phan Chuia Data, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Mẫu Bản Khai Của Đối Tượng Dân Công Hỏa Tuyến Bản Khai Dân Công …, Kế Hoạch Triển Khai Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học Và Công Nghệ, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Khai Quát Chung Nang Cao Hiệu Quả Phân Công Công Tác Quản Lý Giám Sát Đang Viên Trong Chi Bộ, Điều Lệ Mẫu Công Ty Niêm Yết, Báo Cáo Tài Chính Công Ty Niêm Yết, 327/vacpa V/v Công Khai Lần 2 Danh Sách Các Công Ty Kiểm Toán Đủ Điều Kiện Thực Hiện Kiểm Toán Năm 2, Quan Niệm Của Em Về Thành Công, Danh Sách Công Ty Niêm Yết, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Hnx, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa, Báo Cáo Tình Hình Quản Trị Công Ty Niêm Yết, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Excel, Bài Thuyết Trình Kỷ Niệm Thành Lập Công Ty, Danh Sách 50 Công Ty Niêm Yết Tốt Nhất, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Hose, Danh Sach Cong Ty Dai Chung Chua Niem Yet, Quan Niệm Giai Cấp Công Nhân Việt Nam, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Trên Hose, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Theo Ngành, Bài Diễn Văn Kỷ Niệm 90 Năm Ngày Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Trên Sàn Chứng Khoán, Danh Sách Công Ty Đại Chúng Chưa Niêm Yết 2021, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Theo Nhóm Ngành, Công Khai Đất Đai, Báo Cáo 3 Công Khai, Quy Chế 3 Công Khai, Mẫu Công Văn Sửa Tờ Khai, Mẫu Công Văn Xin Hủy Tờ Khai, Mẫu Công Văn Hủy Tờ Khai, Công Văn Xin Hủy Tờ Khai, Công Văn Hủy Tờ Khai, Mau Cong Khai, Mẫu Tờ Khai Người Có Công, Biểu Mẫu 3 Công Khai, Tờ Khai Căn Cước Công Dân, Mẫu Tờ Khai Căn Cước Công Dân, Quy Định 3 Công Khai, Mẫu Bản Khai Của Dân Công Hỏa Tuyến, Mẫu Tờ Khai Làm Thẻ Căn Cước Công Dân, Tờ Khai Hộ Chiếu Công Vụ, Bản Khai Dân Công Hỏa Tuyến, Quy Chế 3 Công Khai 4 Kiểm Tra, Mẫu Báo Cáo Công Khai Tài Chính, Công Văn Xin Cấp Lại Tờ Khai Hải Quan, Bản Khai Kết Quả Công Tác Thanh Tra, Báo Cáo 3 Công Khai Trường Mầm Non, Công Văn Hủy Tờ Khai Hải Quan, Công Văn Khai Hàng, Mẫu Bản Khai Quá Trình Công Tác, Công Văn Bổ Sung Tờ Khai, Mẫu Bản Khai Kết Quả Công Tác Thanh Tra, Bản Kê Khai Quá Trình Học Tập Công Tác, Bản Kê Khai Quá Trình Công Tác, Khai Trương Công Ty, Mẫu Khai Lý Lịch Kết Hôn Với Công An, Mẫu Tờ Khai Gia Hạn Hộ Chiếu Công Vụ, Mẫu Tờ Khai Cấp Hộ Chiếu Công Vụ, Mẫu Thư Mời Khai Trương Công Ty, Mẫu Công Văn Trích Lục Tờ Khai, Mẫu Công Văn Xin Trích Lục Tờ Khai,

    Khái Niệm Y Tế Công Cộng, Khái Niệm Thế Nào Là Nơi Công Cộng, 2. Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, 2 Khái Niệm Về Công Tác Dân Vận, Khái Niệm Công Ty Cổ Phần, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai, 7 Khái Niệm Công Dân Toàn Cầu, Mẫu Thông Báo Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa, Bien Ban Niem Yet Cong Khai Tai San, Khái Niệm Tổng Công Ty 90 91, Từ Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Khái Niệm Nào Sau Đây Là Đúng Với Công Việc, Biên Bản Kết Thuc Niêm Yết Công Khai Cấp Gcn – Qsd Đât, Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân, Mẫu Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Sản Thu Nhập, Thông Báo Niêm Yết Công Khai Thiệt Hại, Bien Ban Hop Niem Yet Ve Viec Cong Khai Tai San Thu Nhap , 2. Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Của Đảng Ta, Mẫu Bảng Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Mẫu Biên Bản Niêm Yết Công Khai Danh Sách, Mẫu Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Tai Chinh, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Tài Chính Cá Nhân, Hướng Dẫn Niêm Yết Công Khai Thủ Tục Hành Chính, Khái Niệm Nhà Máy Nhà Máy Là Cơ Sở Sản Xuất Công Nghiệp, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chúng Ta, Ve Viec Niem Yet Thong Bao Cong Khai Van Ban Phan Chuia Data, Biên Bản Kết Thúc Niêm Yết Công Khai Hồ Sơ Cấp Giấy Chứng Nhận, Biên Bản Niêm Yết Công Khai Giám Sát Thực Hiện Daanc Hủ Trường Học, Mâu Bien Ban Ket Thuc Niêm Yet Cong Khai Cap Giay Chưng Nhân Quyền Sử Dụng Đất, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để Chỉ, Khái Niệm 3 Mũi Giáp Công Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước Dùng Để C, Khái Niệm Nào Sau Đây Chỉ Cái Được Công Nhận Là Đúng Theo Quy Định Hoặc Theo, Mẫu Bản Khai Của Đối Tượng Dân Công Hỏa Tuyến Bản Khai Dân Công …, Kế Hoạch Triển Khai Công Tác Nghiên Cứu Khoa Học Và Công Nghệ, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Thông Báo Kết Luận Giám Sát Giám Sát Công Tác Tiếp Công Dân Và Niêm Yết Các Thủ Tục Hành Chính Trên, Khai Quát Chung Nang Cao Hiệu Quả Phân Công Công Tác Quản Lý Giám Sát Đang Viên Trong Chi Bộ, Điều Lệ Mẫu Công Ty Niêm Yết, Báo Cáo Tài Chính Công Ty Niêm Yết, 327/vacpa V/v Công Khai Lần 2 Danh Sách Các Công Ty Kiểm Toán Đủ Điều Kiện Thực Hiện Kiểm Toán Năm 2, Quan Niệm Của Em Về Thành Công, Danh Sách Công Ty Niêm Yết, Danh Sách Công Ty Niêm Yết Hnx, Quan Niệm Của Unesco Về Công Nghiệp Văn Hóa,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Và Định Nghĩa: Các Không Gian Công Cộng Là Gì. Phong Tục Ở Nơi Công Cộng. Cấm Hút Thuốc Lá Ở Nơi Công Cộng
  • Nơi Công Cộng: Định Nghĩa Theo Luật Của Liên Bang Nga
  • Tiết 6. Nl: Nhịp Và Phách Nhịp 2/4. Tđn: Tđn Số 2
  • Hãy Phát Biểu Một Định Nghĩa Về Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Nêu Những Đặc Trưng, Chức Năng Và Nhiệm
  • Kiên Quyết Tái Cơ Cấu Dn, Giảm Bớt Số Dn Nhà Nước Giữ Cổ Phần Chi Phối
  • Khái Niệm Nhà Nước Pháp Quyền Từ Góc Nhìn Triết Học :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việc Thực Hiện Công Khai, Minh Bạch Và Trách Nhiệm Giải Trình
  • Hành Trình Từ “chuyên Chính Vô Sản” Đến “làm Chủ Tập Thể” Và “nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam” :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Định Nghĩa Đất Hnk Là Gì Theo Quy Định Của Nhà Nước?
  • Các Loại Đất Được Phân Loại Như Thế Nào Theo Quy Định Của Luật Đất Đai ?
  • Đề Thi Công Chức Kho Bạc Nhà Nước Năm 2021 (Trọn Bộ)
  • Vận dụng các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin về nhà nước, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, theo định hướng nhận thức của Đảng ta về vấn đề Nhà nước pháp quyền Việt Nam và kế thừa thành quả của các nhà khoa học Việt Nam, chúng tôi mạnh dạn phát biểu một định nghĩa về khái niệm “nhà nước pháp quyền” như sau:

    Nhà nước pháp quyền là khái niệm dùng để chỉ xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật và được đảm bảo thực thi bâng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân.

    Trước hết, chúng tôi cho rằng, “nhà nước pháp quyền” tồn tại với tính cách một khái niệm. Điều đó có nghĩa là, “nhà nước pháp quyền” tồn tại trong tư duy, là sản phẩm của tư duy. Nó không đồng nhất với một mô hình nhà nước hiện tồn, có tính trực quan, mà là sự phản ánh một trình độ tất yếu đạt tới của quyền lực nhân dân trong xã hội được tổ chức thành nhà nước. Nói cách khác, đó là sự phản ánh một trình độ tất yếu đạt tới của bộ máy nhà nước. Nội dung của nó là khách quan, là bản chất của nhà nước ở một giai đoạn trong quá trình tự phát triển, được khái quát từ sự vận động và phát triển của các nhà nước hiện tồn, song tuyệt nhiên không đồng nhất với bất cứ một nhà nước hiện tồn nào.

    Đây là một quan niệm có tính phương pháp luận trong nghiên cứu nhà nước pháp quyền được rút ra từ lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước. Cũng giống như “vật chất” là một phạm trù triết học, chỉ tồn tại trong tư duy và là sản phẩm của tư duy thuần tuý (Ph.Ăngghen), “nhà nước pháp quyền” được định nghĩa như trên là một phạm trù của triết học duy vật biện chứng về lịch sử. Nhà nước pháp quyền là một trạng thái mà sự phát triển của nhà nước nhất định sẽ đạt tới, bất kể ý thức của con người có nhận thức dược hay không. Vì thế, nó có tính khách quan và phổ biến. Tuy nhiên, với mỗi dân tộc, con đường, cách thức đi tới nhà nước pháp quyền và nội dung của nhà nước pháp quyền lại mang những dấu ấn riêng của dân tộc ấy. Vì thế, hình thức tồn tại hiện thực của nhà nước pháp quyền rất phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp. Không thể biến mô hình nhà nước ở một quốc gia dân tộc này thành cái chung, giá trị chung, làm chuẩn mực đánh giá, phán xét mô hình nhà nước của một quốc gia dân tộc khác có phải nhà nước pháp quyền hay không, càng không thể từ sự quy chụp như thế để đánh giá quốc gia dân tộc ấy có phải là một quốc gia dân tộc văn minh, phát triển hay không.

    Việc đánh giá một mô hình nhà nước cụ thể không thể căn cứ vào những dấu hiệu, những biểu hiện bề ngoài, tức là không thể căn cứ vào hiện tượng, mà phải căn cứ vào thực chất, vào bản chất của nó. Chúng tôi cho rằng, những căn cứ mà lâu nay người ta dựa vào để đánh giá tính chất pháp quyền của một nhà nước, như “sự thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội”, “quan hệ giữa các cơ quan lập pháp – hành pháp – tư pháp là quan hệ quyền lực ràng buộc và hạn chế quyền lực”, đều là những biểu hiện bề ngoài, hoặc là của quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, hoặc là của quyền lực nhà nước và cơ chế tổ chức quyền lực nhà nước. Thực chất của vấn đề là ở chỗ, nhà nước và pháp luật có thể hiện được trình độ phát triển của quyền lực nhân dân hay không, hay nói cách khác, chỉ có quyền lực của nhân dân lao động được luật hoá và đảm bảo thực thi có hiệu quả bằng các thiết chế chính trị – xã hội nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân mới làm nên tính chất pháp quyền của nhà nước.

    Điều quan trọng không phải là hình thức pháp quyền, tức pháp luật thống trị nhà nước và xã hội, mà là nội dung pháp quyền, tức pháp luật ấy có phải là quyền lực của nhân dân lao động được “đề lên” thành luật hay không. Pháp luật chí là ý chí của một cá nhân (chế độ quân chủ) hay của một thiểu số trong xã hội (ví dụ như pháp luật tư sản) thì chưa thể đạt tới trình độ pháp quyền theo nghĩa đầy đủ nhất. Như vậy, nếu đồng nhất nhà nước pháp quyền với mô hình nhà nước hiện thực cụ thể, nhất là một mô hình nhà nước phương Tây nào đó, rồi coi đó là điểm xuất phát trong tư duy thì thực chất đã đồng nhất một cách trừu tượng cái phổ biến và cái đặc thù, cái bản chất với hiện tượng.

    Tóm lại, nhà nước pháp quyền trước hết cần phải được coi là một khái niệm.

    Thứ hai, nhà nước với tính cách nội dung khách quan được phản ánh trong khái niệm nhà nước pháp quyền là sự thống nhất giữa xã hội được tổ chức theo một cách thức xác định với bộ máy nhà nước – bộ phận biểu hiện tập trung của cách thức tổ chức xã hội ấy. Nội dung khái niệm nhà nước nói chung, pháp quyền nói riêng, nếu chỉ giới hạn ở bộ máy nhà nước, cho dù đây là nơi biểu hiện tập trung nhất chỉnh thể đời sống xã hội, thì vẫn là cách hiểu không đúng tinh thần duy vật thực tiễn của chủ nghĩa Mác. Việc phân tích quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng ghen về nhà nước cho thấy, nhà nước là một khái niệm rất sinh động, có nội hàm vận động phức tạp, phản ánh sự vận động phức tạp của đời sống xã hội. Sự tách rời, cô lập khái niệm nhà nước với tính cách bộ máy nhà nước với khái niệm nhà nước với tính cách xã hội được tổ chức theo cách xác định là sản phẩm của chính trình độ phát triển của xã hội, bị quy định bởi trình độ phát triển của sản xuất vật chất. Nó có tính lịch sử. Song, ngay cả trong tình trạng như vậy, khái niệm nhà nước vẫn là một khái niệm chứa đựng mâu thuẫn, vẫn là hình ảnh của chỉnh thể xã hội với hình thức là quyền lực công, lợi ích chung và nội dung là quyền lực bộ phận (giai cấp), lợi ích riêng (giai cấp). Tình trạng này sẽ bị vượt bỏ, và nhà nước với tính cách bộ máy và nhà nước với tính cách xã hội được tổ chức theo cách thức xác định sẽ đồng nhất trở lại một cách cụ thể.

    Đây cũng là một quan niệm có tính chất phương pháp luận trong nghiên cứu nhà nước pháp quyền. Trong các quan niệm về nhà nước pháp quyền mà chúng ta đã khảo sát ở trên, tuyệt đại đa số đều quan niệm nhà nước pháp quyền theo nghĩa bộ máy nhà nước hay nhà nước chính trị. Bởi vậy, những bàn luận về nguyên tắc, đặc trưng, v.v. của nhà nước pháp quyền đều chỉ tập trung vào bộ máy nhà nước, phần quan trọng nhất là xã hội được tổ chức theo cách xác định lại không được bàn tới, hoặc nếu có thì cũng chỉ với tính cách một hệ quả phải tính tới do quan hệ của nó với nhà nước. Cách tư duy này không tránh khỏi tình trạng không lý giải được thực chất, nguồn gốc những tính quy định pháp quyền của bộ máy nhà nước; do vậy, phải du nhập những tính quy định này từ những giá trị chung, nguyên tắc chung nào đó, hoặc từ một ý niệm tuyệt đối nào đó, hoặc suy một cách võ đoán từ nguyên tắc nhận thức đã bị biến thành nguyên tắc tiên nghiệm khi không xuất phát từ thực tiễn mà từ lý luận về sự quy định của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, của kinh tế với chính trị, của xã hội với nhà nước. Nói cách khác, tính tất yếu của nhà nước pháp quyền trở thành tính tuỳ tiện chủ quan. Chỉ có quan niệm nhà nước theo hai lớp nghĩa và quan trọng hơn, sự chuyển hoá giữa hai lớp nghĩa này mới cho phép tìm đến bản chất và tính tất yếu khách quan của nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng.

    Thứ ba, bản chất của nhà nước pháp quyền được phản ánh trong khái niệm nói trên là “quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành pháp luật và đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác nhằm mang lại quyền lợi cho nhân dân”. Đây chính là nội hàm căn bản nhất của khái niệm “nhà nước pháp quyền”.

    Sự hình thành và phát triển của nhà nước pháp quyền diễn ra theo lôgíc sau: Lực thông qua sự thừa nhận chung sẽ trở thành quyền lực; quyền lực được luật hoá và đảm bảo thực thi bằng bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế chính trị – xã hội khác sẽ trở thành pháp quyền và xã hội được tổ chức theo cách như vậy chính là nhà nước pháp quyền.

    Lực vốn là một khái niệm của vật lý học, dùng để chỉ một thuộc tính của sự vật. “Lực (sức mạnh) là khái niệm dùng để chỉ một thuộc tính của bất kỳ hệ vật chất nào, xét trong tương tác với hệ vật chất khác, có khả năng duy trì sự tồn tại hoặc tạo ra sự biến đổi”.

    Khi vận dụng vào khoa học xã hội, khái niệm “lực” được dùng để chỉ thuộc tính sức mạnh, là khả năng áp đặt và buộc người khác/tập đoàn xã hội khác thực hiện theo ý chí của mình trong quan hệ với cá nhân/quan hệ với xã hội. Mỗi cá nhân cũng như mỗi tập đoàn người trong xã hội đều có thể có một lực nhất định trong quan hệ với cá nhân hay tập đoàn khác, và vì thế tạo nên một kiểu tổ chức xã hội nhất định. Quan hệ lôgíc giữa “lực” và kiểu tổ chức xã hội đã được nhiều nhà nghiên cứu xã hội sử dụng khi tiến hành phân tích cấu trúc hệ thống xã hội. Chẳng hạn, nhà tương lai học người Mỹ A.Toffler cho rằng có 3 loại lực được tạo nên từ vũ khí, tiền bạc và trí tuệ, và tương ứng với nó là các kiểu tổ chức xã hội nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, đối với các lực lượng cấu thành xã hội, sức mạnh dựa trên cơ sở sở hữu các tư liệu sản xuất có vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội nói chung và cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ đối với tư liệu sản xuất là cách thức tổ chức xã hội căn bản – cách thức tổ chức xã hội thành các giai cấp và quan hệ giữa các giai cấp. C.Mác và Ph.ăng ghen viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ – tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức cái cơ sở hiện thực, trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị, và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”(l).

    Quan điểm này diễn đạt theo một cách khác có nghĩa là trên cơ sở sức mạnh kinh tế sẽ tổ chức nên chỉnh thể đời sống xã hội. Sự phân tích bản chất của đời sống xã hội sẽ không thể thu được kết quả khách quan nhất nếu không bắt đầu từ sự phân tích sức mạnh và quan hệ sức mạnh của các lực lượng trong xã hội đo quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất trong xã hội quy định. V.I.Lê nin đã khẳng định quan điểm có tính chất phương pháp luận này khi nói rằng, nếu không quy sự phát triển các quan hệ xã hội thành sự phát triển các quan hệ sản xuất và nếu không quy sự phát triển các quan hệ sản xuất thành sự phát triển của lực lượng sản xuất thì không thể có được lời giải đáp cho câu hỏi về quy luật khách quan của sự tồn tại và phát triển của xã hội, hay nói cách khác là không có căn cứ để hiểu quan điểm nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử: “sự phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử- tự nhiên”. Từ quan điểm có tính chất phương pháp luận đã trình bày ở trên, C.Mác và Ph.ăng ghen đã chỉ ra quy luật tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản; từ đó chỉ ra những quy luật chung nhất của đời sống nhân loại. V.I.Lê nin đã chỉ ra quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền. Hồ Chí Minh cũng đã tìm ra tính tất yếu tồn tại và tất yếu diệt vong của chủ nghĩa thực dân, từ đó thúc đẩy xã hội Việt Nam phát triển đúng theo quy luật khách quan vốn có của nó. Việc tìm hiểu nhà nước pháp quyền như một trình độ phát triển về chất trong quá trình vận động của nó không thể không xuất phát từ quan điểm nói trên.

    là một quan hệ xã hội, trong đó sức mạnh của một bên được thừa nhận, ý chí một bên trở thành ý chí hành động chung.

    Một quan hệ dựa trên sức mạnh sẽ chuyển hoá thành quan hệ quyền lực khi mà bên bị và phải hành động đã tự giác và tự nguyện hành động theo ý chí của bên kia. Sự thừa nhận chung có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức đời sống xã hội và được hiểu là sự thừa nhận của các bên tham gia quan hệ xã hội.

    Vấn đề cần quan tâm ở đây là, nói chung, bất cứ một chủ thể nào nắm giữ sức mạnh cũng luôn muốn trở thành chủ thể quyền lực, muốn được đối phương thừa nhận vị trí và vai trò chi phối của mình trong quan hệ với họ. Nhưng vì mỗi bên khi tham gia vào quan hệ xã hội đều xuất phát từ lợi ích riêng của mình, hơn nữa, do trình độ phát triển của sản xuất quy định, nên việc thoả mãn lợi ích riêng của các bên thường đối lập, thậm chí loại trừ nhau; trong khi đó, “kẻ mạnh không phải lúc ào cũng đủ mạnh để mãi mãi làm người thống trị, nếu như hắn ta không chuyển lực thành quyền và chuyển sự phục tùng thành nghĩa vụ” . Trên thực tế, đúng như J.J Rousseau đã chỉ ra, sức mạnh tự nó không thề trở thành quyền lực, mặc dù giữa lực và quyền lực có mối quan hệ nội tại rất chặt chẽ – không thể có quyền lực nếu không có sức mạnh.Ý chí bộ phận chỉ trở thành ý chí chung khi lợi ích mà nó đại diện đóng vai trò lợi ích chung.

    Chừng nào mà một lực lượng xã hội không nhận thức được và không có đủ khả năng biến lợi ích riêng của mình thành lợi ích chung trên cơ sở kiến tạo lợi ích chung thực sự cho xã hội, thì chừng đó lực lượng ấy không thể có quyền lực thực sự. Tất nhiên, việc núp dưới hình thức lợi ích chung luôn là một sự lợi dụng và sẽ còn bị lợi dụng khi mà kẻ núp dưới hình thức ấy không đủ khả năng tạo ra lợi ích chung thực sự. Khi ấy, sức mạnh đóng vai trò tiêu cực, không phải là công cụ để tạo ra lợi ích chung mà là để duy trì quyền lợi của kẻ núp dưới lợi ích chung. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin đã chứng minh rằng, nếu sản xuất vật chất là nguồn gốc của sự tồn tại và phát triển của xã hội, thì sức mạnh của nhân dân lao động là sức mạnh to lớn nhất trong lịch sử. Chính nhân dân lao động là người sáng tạo ra lịch sử. Vì vậy, để tiến hành những cải tạo căn bản trong xã hội, cần phải tập hợp và phát .huy sức mạnh của nhân dân lao động. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhân dân lao động cũng là người có quyền lực trong xã hội, mặc dù họ chiếm đa số, tức là về lý thuyết, họ có thể tự thừa nhận sức mạnh của mình. Sự phát triển của xã hội loài người trải qua các hình thái kinh tế – xã hội đã chứng minh rằng, các giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất mới hình thành trong lòng hình thái kinh tế – xã hội cũ chỉ có thể giành và giữ quyền tổ chức đời sống xã hội – tập trung ở bộ máy nhà nước – khi thể hiện mình là cái phố biến, là đại diện cho lợi ích chung của toàn thể xã hội, biến sức mạnh của nhân dân lao động thành sức mạnh phục vụ cho lợi ích của giai cấp mình. ỏ giai đoạn đầu trong sự tồn tại với tư cách giai cấp của mình, sự thể hiện ấy mang tính bản chất, nhưng cùng với thời gian, sự thể hiện ấy dần chỉ còn là hiện tượng bề ngoài. Điều này đã xảy ra với giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp tư sản. Chỉ đến giai cấp vô sản, vai trò phổ biến của nó trong xã hội mới luôn có tính bản chất, bởi giai cấp vô sản mà hạt nhân của nó là giai cấp công nhân hiện đại chính là chủ thể của các quá trình sản xuất vật chất, và bản thân nó cũng là giai cấp những người lao động. Như vậy, lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng, sự hình thành quyền lực của nhân dân lao động là tất yếu. Nhân dân lao động nhất định sẽ trở thành người chủ thực sự của các quan hệ xã hội, của các quá trình xã hội, của toàn thể xã hội.

    là quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước và các thiết chế chính trị xã hội khác.

    Pháp quyền có sự phân biệt với pháp luật. Pháp luật là ý chí của giai cấp nắm giữ sức mạnh kinh tế được đề lên thành luật. Khi giai cấp này đồng thời là đại biểu cho toàn thể xã hội, nghĩa là sức mạnh của nó được toàn thể xã hội thừa nhận, thì ý chí của nó dưới hình thức luật là pháp quyền, còn khi nó chỉ đại diện cho chính mình như một bộ phận trong quan hệ đối lập với các bộ phận khác trong xã hội (nghĩa là sức mạnh của nó không được toàn thể xã hội thừa nhận) thì ý chí của nó dưới hình thức luật chỉ là pháp luật.

    Trong xã hội có giai cấp, bộ máy nhà nước là cơ quan mang hình thức quyền lực công, đại diện cho lợi ích chung. Chỉ có nó mới đủ tư cách và khả năng thể chế hoá một ý chí nào đó thành luật và đảm bảo thực thi ý chí đó bằng một hệ thống các công cụ vật chất, như quân đội, cảnh sát, nhà tù, toà án, v.v., cùng với hệ thống các thiết chế chính trị – xã hội khác. Mặt khác, về bản chất, bộ máy nhà nước là của một giai cấp nhất định và phục vụ cho giai cấp ấy. Cho nên, để một quyền lực có khả năng được thể chế hoá thành luật và được đảm bảo thực thi, việc đầu tiên là chủ thể quyền lực phải giành lấy quyền tổ chức và điều hành nhà nước. Vấn đề nhà nước, do vậy, là vấn đề trung tâm của mọi cuộc cách mạng xã hội.

    Một điều khác cũng cần lưu ý ở đây là năng lực của bộ máy nhà nước trong việc luật hoá và đảm bảo thực thi quyền lực đã được luật hoá. Quyền lực có thể không trở thành pháp quyền khi chủ thể của nó không giành lấy quyền tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước, nhưng ngay cả khi đã giành được quyền tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước, pháp quyền vẫn không tồn tại nếu bộ máy ấy không đủ sức luật hoá và đảm bảo thực thi quyền lực đã được luật hoá.

    Sự phân tích về lực và quyền lực ở trên cho thấy, nếu nhân dân là người chủ thực sự của sức mạnh xã hội thì sự hình thành quyền lực của nhân dân là tất yếu trong lịch sử phát triển của nhân loại, và nếu quyền lực của nhân dân tất yếu hình thành thì chỉ khi nhân dân giành được quyền tổ chức, điều hành bộ máy nhà nước và bộ máy ấy đủ sức luật hoá cũng như đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân đã được luật hoá mới hình thành nên pháp quyền thực sự và tổ chức xã hội thành nhà nước pháp quyền.

    Như vậy, với các khái niệm công cụ là lực, quyền lực và pháp quyền như trên, ta có thể thấy, tại sao chỉ có xã hội tổ chức theo cách quyền lực của nhân dân được thể chế hoá thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước và các thiết chế chính trị – xã hội khác thì đó mới là nhà nước pháp quyền.

    Khái niệm này tự nó đã loại bỏ các loại hình nhà nước từ nhà nước tư sản trở về trước ra khỏi ngoại diên khái niệm nhà nước pháp quyền theo nghĩa đầy đủ, đồng thời khẳng định nhà nước pháp quyền là một trình độ phát triển tất yếu đạt tới của nhà nước.

    Các hình thức nhà nước từ nhà nước tư sản trở về trước không phải là nhà nước pháp quyền theo ý nghĩa đầy đủ của nó, mà chí mang những mầm mống của nhà nước pháp quyền, bất kể trong nhà nước ấy, pháp luật có đóng vai trò thống trị hay không và quyền lực nhà nước có được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập hay không. Các hình thức nhà nước ấy chỉ có mầm mống nhà nước pháp quyền, bởi lẽ, xét về mặt giai cấp , các nhà nước ấy đều được tổ chức theo cách quyền lực của một giai cấp thống trị, thiểu số trong xã hội, được thể chế hoá thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước. Như vậy, nếu căn cử vào khái niệm nhà nước pháp quyền nêu trên, thì các nhà nước ấy tuyệt nhiên không thể được coi là nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, xét về mặt giải phóng con người, sự thay thế giai cấp chủ nô bằng giai cấp địa chủ phong kiến, sự thay thế giai cấp địa chủ phong kiến bằng giai cấp tư sản đều là những bước phát triển quan trọng trong quá trình giải phóng con người cả về chất lượng lẫn số lượng. Bản thân các giai cấp thống trị, ngoài bản chất giai cấp thì ở tầng bậc bản chất sâu hơn, họ vẫn là con người. Mặt khác, cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến cao hơn cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ chiếm hữu nô lệ và cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa lại cao hơn cách thức tổ chức xã hội dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến. Quyền lực xã hội cũng phát triển khi lần lượt trải qua các chủ thể là giai cấp chủ nô, giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp tư sản. Theo nghĩa ấy, trong các hình thức nhà nước từ nhà nước tư sản trở về trước tồn tại những mầm mống, những phần của nhà nước pháp quyền và đều là những bước tiến trong hành trình đi tới nhà nước pháp quyền theo nghĩa đầy đủ nhất.

    Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã tạo ra sự thay đổi chưa từng có trong lịch sử loài người khi nó thay thế lực lượng lãnh đạo xã hội vốn chỉ là một thiểu số bóc lột bằng đa số nhân dân lao động. Đồng thời, nó cũng tạo ra bước chuyển to lớn trong sự giải phóng con người trên cơ sở nắm giữ quyền lực trong xã hội.

    Tính chất mà mọi hình thức nhà nước trước đó không thể có là, khi sức mạnh của nhân dân được tập hợp và phát huy thì đồng thời nó cũng trở thành quyền lực, bởi sức mạnh đó là sức mạnh của đa số trong xã hội. Từ việc giành lấy quyền tổ chức và điều hành bộ máy nhà nước, nhân dân lao động sẽ tổ chức lại đời sống xã hội bằng cách thể chế hoá ý chí của mình thành luật và đảm bảo thực thi luật ấy bằng bộ máy nhà nước cùng với hệ thống các thiết chế chính trị – xã hội . Ý chí chung ở đây là ý chí chung thực sự. Lợi ích chung ở đây là lợi ích chung thực sự. Do vậy, mâu thuẫn nội tại trong xã hội và trong bộ máy nhà nước có điều kiện tồn tại trong trạng thái thống nhất cao độ. Nhà nước và xã hội tiến nhập trở lại với nhau. Nhà nước dần mất đi tính chất chính trị (bởi trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, vẫn tồn tại các giai cấp). Nhà nước pháp quyền là bước phát triển cuối cùng trước khi nhà nước hoàn toàn mất đi tính chất chính trị, nhà nước với tính cách bộ máy và nhà nước với tính cách xã hội được tổ chức theo cách xác định đồng nhất một cách cụ thể với nhau. Đó chính là điều mà C.Mác đã khẳng định khi phê phán triệt để triết học pháp quyền của Hêghen. Nhà nước với tính cách một bộ phận thì là bộ phận thực sự, bên cạnh các bộ phận khác cấu thành chỉnh thể đời sống xã hội; với tính cách chỉnh thể thì là chỉnh thể thực sự khi nó thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

    Khái niệm nhà nước pháp quyền như xác định ở trên đã đặt ra nhiều vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

    Theo quan điểm của chúng tôi, chỉ có một khái niệm “nhà nước pháp quyền” theo nghĩa trình độ phát triển cao của nhà nước trong xã hội loài người. Tự bản thân nó, nói “nhà nước pháp quyền” tức là nói “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, và nói “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tức là nói đến nhà nước pháp quyền ở trình độ phát triển đầy đủ nhất, là nhà nước đã đạt đến trình độ dân chủ hoàn bị nhất. Bản chất của “nhà nước pháp quyền”, hay “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là tất cả mọi quyền hành, lực lượng và lợi ích đều ở nơi nhân dân.

    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước pháp quyền với tính cách là khái niệm, là nội dung đã “tìm thấy” cái vỏ vật chất, cái hình thức của nó.

    Nếu phân chia khái niệm “nhà nước pháp quyền” thành hai khái niệm “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” thì điều đó không có nghĩa thừa nhận sự tồn tại trong hiện thực một loại hình nhà nước pháp quyền này bên cạnh một nhà nước pháp quyền kia. Nói theo ngôn ngữ của C.Mác, “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” không phải là những “giống” đồng đăng với nhau. “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” vừa là “giống” bởi trong hiện thực, nó đang tồn tại trong cùng không gian – thời gian với “nhà nước pháp quyền xã hội tư bản chủ nghĩa”, là những hình thức của “nhà nước pháp quyền”, vừa là “loài”, bởi nó là sự vượt bỏ so với “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa”, là “tương lai” của “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa”. “Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” là hình thức chưa thể hiện hết nội dung “nhà nước pháp quyền”, còn “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là nhà nước đã thêm hiện hết nội dung của “nhà nước pháp quyền”, là “nhà nước pháp quyền” dưới hình thái vật chất của nó.

    Nói một cách đơn giản hơn, nếu sử dụng hai khái niệm này, thì điều đó chỉ có nghĩa “nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa” là nhà nước pháp quyền ở trình độ tư bản chủ nghĩa, là nhà nước pháp quyền chưa đầy đủ, còn “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” là nhà nước pháp quyền ở trình độ xã hội chủ nghĩa, là nhà nước pháp quyền theo ý nghĩa đầy đủ nhất.

    Sự khác biệt ở đây chính là ở nội hàm của khái niệm trung tâm của nhà nước pháp quyền là “nhân dân”. Nếu chế độ tư bản chủ nghĩa được hiểu là chế độ mà nhân dân với tư cách “chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực trong xã hội” vẫn là một thiểu số nhà tư bản thì hình thức pháp lý của ý chí của chủ thể quyền lực ấy vẫn chỉ là pháp luật và vì thế, chưa thực sự có nhà nước pháp quyền, dù tính chất pháp quyền của nó cao hơn nhà nước phong kiến hay nhà nước chiếm hữu nô lệ. Nếu chế độ xã hội chủ nghĩa được hiểu là chế độ mà nhân dân với tư cách “chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực trong xã hội” là nhân dân lao động chiếm tuyệt đại đa số thành viên của xã hội, là “toàn dân” theo cách nói của Hồ Chí Minh, thì ý chí của nhân dân được đề lên thành luật cũng đồng thời trở thành pháp quyền. Trong điều kiện ấy, toàn bộ tổ chức xã hội và nhà nước là sự tự tổ chức của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; do đó, là xã hội – nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó.

    Dĩ nhiên, nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó – nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa – nhà nước dân chủ – không phải cứ muốn là có ngay được. Với trình độ phát triển của xã hội hiện nay, ngay cả ở những nước đã trải qua một thời kỳ lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì nhà nước pháp quyền trước hết vẫn là một mục tiêu. Nói cách khác, ở các nước xác định mục tiêu phát triển xã hội là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vận dụng triết lý phát triển xã hội dựa trên nền tảng học thuyết Mác – Lê nin và do Đảng Cộng sản chân chính cách mạng lãnh đạo, thì nhà nước pháp quyền vẫn là nhà nước pháp quyền “đang thành” chứ chưa phải là “đã thành”, dù nó đã đạt trình độ cao hơn so với nhà nước pháp quyền ở trình độ tư bản chủ nghĩa. chính vì thế, tiến hành xây đựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính Là hiện thực hóa những nội dung cơ bản: 1.Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực và quyền lợi trong xã hội; 2. Pháp quyền trong chế độ chính trị Việt Nam hiện nay là ý chí của nhân dân được đề lên thành luật và đảm bảo thực thi bằng nhà nước cùng với các thiết chế chính trị xã hội khác; 3. Bộ máy nhà nước trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là của dân, do dân, vì dân; 4. Xây dựng hệ thống các thiết chế chính trị – xã hội với tư cách một công cụ thực thi quyền lực của nhân dân cùng với bộ máy nhà nước; 5. Nhà nước quản lý và điều hành xã hội theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; 6. Kiên trì chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động; 7. Củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền.

    Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất là xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, nội dung của nó chính là làm cho nhân dân thực sự trở thành chủ thể tối cao và duy nhất của mọi quyền lực và quyền lợi; các công cụ quyền lực trong xã hội, như nhà nước, các thiết chế chính trị – xã hội, pháp luật phải thực sự là công cụ bảo vệ, thực thi quyền lực và quyền lợi của nhân dân; cần phải làm cho chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu vào quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, phải củng cố và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhà Cấp 4 Là Gì? Phân Biệt Nhà Cấp 4 Với Nhà Cấp 1, Cấp 2 Và Cấp 3
  • Phân Loại Nhà Ở Việt Nam
  • Hồ Chí Minh Định Nghĩa Thế Nào Là Nhà Cấp 4
  • Định Nghĩa Nhà Cấp 4 Là Gì
  • Hợp Đồng Hợp Tác Kinh Doanh Mỹ Phẩm
  • Khái Niệm Và Các Mô Hình Về Phát Triển Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Và Sự Phát Triển Bền Vững
  • Quản Lý Sức Khoẻ Môi Trường
  • Kiến Trúc Bền Vững Là Gì? Khái Niệm, Lợi Ích, Tiêu Chí 2021
  • Phí Bảo Vệ Môi Trường
  • Phí Bảo Vệ Môi Trường Đang Được Sử Dụng Như Thế Nào?
  • Khái niệm phát triển bền vững (PTBV) được uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới (Uỷ ban Brundland) nêu ra năm 1987 như sau: “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của,mình, sao cho không phương hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ”.

    Năm 1987, trong cuốn “Tương lai chung của chúng ta” của uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới xuất bản đã đưa thuật ngữ phát triển bển vững, nó được xem như một “báo cáo về thế giới” và nhanh chóng được lưu hành rộng rãi. Thuật ngữ PTBV được báo cáo là: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ”. Bốn năm sau, năm 1991, uỷ ban này công bố một tài liệu khác mang tên “Chăm lo cho Trái Đất”, thuật ngữ PTBV và tính bển vững được mở rộng thêm: “Phát triển bền vững là sự phát triển nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các hệ thống sinh thái. Tính bền vững là một đặc điểm đặc trưng của một quá trình hoặc một trạng thái có thể duy trì mãi mãi”. Tại hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992, Khái niệm PTBV được bổ sung và hoàn chỉnh thêm. Theo đó, phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp nhau của ba hệ thống tương tác lớn của thế giới: hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội.

    Từ đó khái niệm về PTBV tiếp tục được nghiên cứu kỹ lưỡng trong chương trình nghị sự 21, là chương trình hành động về PTBV chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21 đã được thông qua.

    Có nhiều lý thuyết, mô hình mô tả nội dung của phát triển bền vững. Theo Jacobs và Sedler hình 1.2.a, thì phát triển bển vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm; hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của Trái Đất). Trong mô hình hình 1.2.a., sự phát triển bền vững không cho phép vì sự ưu tiên của hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay phát triển bển vững là sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên.

    Hình 1.2. Mô hình PTBV (a. Jacobs và Sadler, 1990; b. Ngân hàng thế giới)

    Theo mô hình của ngân hàng thế giới như hình 1.2.b. phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã hội (công bằng dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (báo đảm cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người).

    Trong mô hình của Hội đồng về Môi trường và phát triển bền vững thế giới (WCED) 1987, thì tập trung trình bày quan niệm phát triển bền vững theo các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội.

    Còn trong mô hình của Villen 1990 thì trình bày các nội dung cụ thể để duy trì sự cân bằng của mối quan hệ kinh tế – sinh thái – xã hội trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.

    Trong các mô hình trên có thể khác nhau về phương pháp tiếp cận nhưng đều thống nhất các quan niệm chung về phát triển bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Môi Trường Kinh Tế (Economic Environment) Là Gì?
  • Môi Trường Tự Nhiên Là Gì? 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Hạng Của Một Ma Trận & Ma Trận Nghịch Đảo
  • Imt: Định Lý Ma Trận Khả Nghịch
  • Ma Trận Swot Là Gì? Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết Về Swot Matrix
  • Định Nghĩa Nhà Khoa Học Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Nhà Khoa Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đơn Vị Kilogram Sắp Được Định Nghĩa Lại (Từ Gd
  • Vài Nét Về Tội Phạm Học Và Nghiên Cứu Tội Phạm Học Ở Việt Nam
  • Học Thuyết Về Tội Phạm
  • Top 5 Phim Khoa Học Viễn Tưởng Hay Nhất 2021 Do Forbes Công Bố
  • Những Ý Tưởng Thiết Kế Máy Bay Như Phim Khoa Học Viễn Tưởng
  • Việc áp dụng có hệ thống các phương pháp và kỹ thuật được đề cập cho phép tạo ra kiến thức khoa học, đó là thông tin cụ thể và có thể kiểm chứng. Trong trường hợp này, tính từ khoa học được liên kết với độ chính xác và tính khách quan tiềm ẩn trong phương pháp luận của khoa học.

    Mặt khác, một nhà khoa học là người chuyên về khoa học. Có rất nhiều ngành nghề mà bài tập của họ chuyển đổi đối tượng thành một nhà khoa học, mặc dù, nói chung, thuật ngữ này được liên kết với các ngành khoa học được phát triển trong các phòng thí nghiệm.

    Trong mọi trường hợp, các nhà nhân chủng học, nhà sinh học, nhà vật lý, nhà cổ sinh vật học, nhà khoa học chính trị, nhà hóa học và nhà xã hội học, trong số nhiều người khác, là các nhà khoa học.

    Nhiều người là các nhà khoa học đã trở thành nhân vật chủ chốt trong lịch sử nhờ những đóng góp, lý thuyết hoặc khám phá mà họ đã thực hiện trong các lĩnh vực hoặc ngành học khác nhau. Đây sẽ là trường hợp, ví dụ, của Albert Einstein (14 tháng 3 năm 1879 – 18 tháng 4 năm 1955), người được đại đa số coi là nhà khoa học quan trọng nhất của thế kỷ XX.

    Điều đó được xem xét hoặc phân loại được trích dẫn xuất phát từ việc ông nêu ra lý thuyết tương đối rộng, vốn được coi là một cuộc cách mạng xác thực về khái niệm trọng lực. Đến lượt, một thực tế đã mang theo nó để tạo ra một nhánh khoa học mới trong lĩnh vực Vật lý: Vũ trụ học, chịu trách nhiệm nghiên cứu và phân tích sự tiến hóa của Vũ trụ.

    Tất cả điều này mà không quên rằng ông đã thực hiện cách tiếp cận các câu hỏi khác thậm chí đã đưa ông đến nhận giải thưởng Nobel Vật lý năm 1921. Chúng tôi đang đề cập đến những đóng góp của ông cho lĩnh vực Vật lý lý thuyết và ý tưởng của ông về hiệu ứng quang điện.

    Theo cùng một cách chúng ta không thể bỏ qua các nhà khoa học khác, vì công việc của họ đã trở thành quan trọng nhất và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử. Trong số đó có những con số về tầm vóc của nhà vật lý và vũ trụ học Stephen Hawking, người Anh Isaac Newton, người Anh cũng Charles Darwin cho lý thuyết về sự tiến hóa của loài, Thomas Edison, cha đẻ của bóng đèn hoặc người Ba Lan Marie Curie vì khám phá về phóng xạ.

    Có một số điểm khác biệt để nhận ra các nhà khoa học xuất sắc nhất trên thế giới. Điều quan trọng nhất trên toàn cầu là giải thưởng Nobel, được trao từ năm 1901 bởi ý chí của nhà phát minh thuốc nổ, Alfred Nobel Thụy Điển.

    Những người đoạt giải Nobel phân biệt các tính cách nổi bật nhất từ vật lý, hóa học, y học, kinh tếvăn học, cũng như công nhận những nhà hoạt động vì công việc vì hòa bình .

    Hoạt động của nhà khoa học, nhiều lần, được đặt câu hỏi từ quan điểm đạo đức . Một nhà khoa học sử dụng kiến ​​thức của mình để phát minh ra vũ khí, chẳng hạn, không đóng góp cho sự phát triển xã hội, ngoài thực tế là kiến ​​thức cụ thể không gây hại cho chính nó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chấn Động: “chiếc Đồng Hồ Chính Xác Đến Mức Phải Định Nghĩa Lại Về Giây”
  • Hướng Tới Một Định Nghĩa Mới Về Kilogram
  • Các Nhà Khoa Học Tiến Gần Tới Định Nghĩa Mới Về Kg
  • Kết Nối Các Nhà Khoa Học
  • Đơn Vị Kilogram Chính Thức Được Định Nghĩa Lại
  • Định Nghĩa Tai Nạn Giao Thông Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Tai Nạn Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Kinh Tế Và Vai Trò Của Việc Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Trong Sản Xuất Kinh Doanh Của Doanh
  • Khái Niệm Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Kinh Doanh
  • Cả Thế Giới Đang Phải Định Nghĩa Thực Phẩm Lại Thế Nào Là “lành Mạnh”
  • Theo Các Chuyên Gia Thì Định Nghĩa Khái Niệm Hiểu Như Thế Nào Là Đúng Nhất?
  • Định Nghĩa Khác Biệt, Đặc Biệt Và Độc Đáo
  • Một tai nạn được gọi là một sự kiện gây ra thiệt hại không tự nguyện hoặc làm thay đổi trạng thái thông thường của một sự kiện. Quá cảnh, mặt khác, là hành vi quá cảnh (đi từ nơi này đến nơi khác, đi du lịch).

    Giả sử một đối tượng bị ngừng tim khi lái xe. Khi anh ta biến mất, anh ta mất kiểm soát phương tiện và chạy qua một người đi bộ . Người lái xe, người không có tiền sử tim mạch, lưu hành tôn trọng luật lệ giao thông, trong khi nạn nhân không vi phạm bất kỳ quy tắc nào. Có thể nói rằng tai nạn giao thông này, do đó, thực sự là tình cờ hoặc nguy hiểm, vì không có hành vi bất cẩn.

    Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, tai nạn giao thông xảy ra là kết quả trực tiếp của lỗi con người. Thông thường, chúng được gây ra bởi việc lái xe liều lĩnh, do lái xe thiếu thận trọng hoặc do thiếu sót trong cơ sở hạ tầng đường bộ (tình trạng xấu của đường, thiếu biển báo, v.v.).

    Nếu một người đàn ông say rượu180 km mỗi giờ và va chạm với một phương tiện khác, tin tức có thể được trình bày là một tai nạn giao thông hoặc tai nạn đường bộ. Tuy nhiên, thiệt hại gây ra có thể tránh được nếu người lái xe tuân thủ các quy tắc về tiêu thụ rượu khi lái xe và với tốc độ tối đa cho phép khi lái xe.

    Một trong những nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông là sự thiếu hụt giáo dục đường bộ mà trẻ em nhận được từ người lớn tuổi. Mặc dù ở nhiều quốc gia, chính phủ yêu cầu công dân phải vượt qua kỳ thi lý thuyết, trong đó họ kiểm tra kiến ​​thức kỹ thuật về quy tắc lái xe và các yếu tố khác nhau của đường công cộng, điều này không xảy ra trên toàn thế giới ; mặt khác, đó là một sự áp đặt tương đối gần đây, đó là lý do tại sao nhiều tài xế trẻ đã không phải tuân thủ nó .

    Điều này dẫn đến một tỷ lệ lớn các tài xế không biết sâu về các quy định hiện hành và thay vào đó, ai quyết định dựa trên tiêu chí riêng của họ về cách di chuyển trên đường phố trong thành phố của họ. Điều này không chính xác và, thông thường, thông tin không chính xác sau đó truyền cho con bạn, v.v. Nếu chúng ta thêm hiện tượng này vào sự thiếu kiểm soát tồn tại ở một số quốc gia nhất định, không khó hiểu tại sao có quá nhiều vụ tai nạn giao thông mỗi ngày.

    Thống kê của nhiều quốc gia chỉ ra rằng số vụ tai nạn giao thông lớn nhất là do những người lái xe rất trẻ, những người không có nhiều kinh nghiệm lái xe. Nói chung là không bao giờ tốt, nhưng có rất nhiều ví dụ về thanh thiếu niên nhầm lẫn lái xe với một cuộc thi, và bỏ qua trách nhiệm của họ để tham gia vào các cuộc đua đường phố đích thực, gây ra tất cả các loại bất hạnh, gây nguy hiểm cho cả cuộc sống của họ. của bạn bè và tại sao không, của bất kỳ người vô tội nào đi qua con đường của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Tcvn Và Qcvn
  • Sự Khác Nhau Giữa Quốc Gia Và Vùng Lãnh Thổ
  • Cho Biết Thuật Ngữ”khái Niệm” Và “định Nghĩa” Giống Và Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Các Qui Tắc Định Nghĩa Khái Niệm
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Về Khái Niệm Tư Duy Phản Biện

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Dục Toàn Diện Để Tạo Ra Con Người Toàn Diện
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Qui Tắc Định Nghĩa Khái Niệm
  • Cho Biết Thuật Ngữ”khái Niệm” Và “định Nghĩa” Giống Và Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Sự Khác Nhau Giữa Quốc Gia Và Vùng Lãnh Thổ
  • VỀ KHÁI NIỆM TƯ DUY PHẢN BIỆN

    RUSSELI BROOKER

    PHẠM THỊ LY dịch

    Tư duy phản biện là một quá trình tư duynhằm chất vấn các giả định hay giả thiết. Đó là cách để khẳng định rằng một nhận định nào đó là đúng hay sai, đôi khi đúng, hay có phần đúng. Nguồn gốc của khái niệm tư duy phản biện có thể tìm thấy trong tư tưởng của phương Tây đối với phương pháp tư duy theo lối Socrat của người Hy lạp cổ, còn ở phương Đông, là trong kinh Vệ đà của nhà Phật. Tư duy phản biện là thành tố quan trọng của mọi nghề nghiệp chuyên môn. Nó là một phần của quá trình giáo dục và ngày càng có tầm quan trọng đáng kể đối với sự tiến bộ của sinh viên thông qua đào tạo bậc đại học, tuy các nhà giáo dục vẫn còn tranh luận về ý nghĩa chính xác và tầm cỡ của vấn đề này.

    Định nghĩa: Tư duy phản biện được miêu tả là “những suy nghĩ mang tính chất phản ánh có lý lẽ về việc tin vào điều gì hoặc làm điều gì”. Nó cũng được miêu tả là “tư duy về tư duy”. Trong phạm vi bộ khung khái niệm triết học của lý thuyết phản biện xã hội, tư duy phản biện thường được hiểu là sự gắn bó với thực tiễn xã hội và chính trị trong việc tham gia dân chủ, là ước muốn hình dung ra hay mở ra những quan điểm khác mà ta có thể lựa chọn; là ước muốn kết hợp những quan điểm mới hay những quan điểm cũ đã biến cải vào cách tư duy và hành động của chúng ta, cũng như ước muốn thúc đẩy khả năng phản biện nơi người khác.

    Lịch sử và Từ nguyên học

    Ý nghĩa

    Tư duy phản biện làm rõ mục tiêu, khảo sát các giả định, nhận định về những giá trị tiềm ẩn bên trong, đánh giá các minh chứng, hoàn thành các hành động, và đánh giá các kết luận.

    Tư duy phản biện là điều cốt lõi để trở thành một người đọc có trình độ hay một người viết thực sự có đẳng cấp. Trong mọi thuật ngữ chung nhất, tư duy phản biện được diễn tả là ” một cách để đưa ra mọi vấn đề của cuộc sống”

    Kỹ năng

    Các kỹ năng cốt lõi của Tư duy phản biện là quan sát, diễn giải, phân tích, suy luận, đánh giá, giải thích, và tri nhận tổng hợp. Có một mức độ đồng thuận đáng kể trong các chuyên gia về việc cho rằng một cá nhân hay một nhóm người có gắn bó với một tư duy phản biện mạnh mẽ thì sẽ hết sức chú trọng tới:

    · Minh chứng qua quan sát

    · Bối cảnh

    · Những tiêu chí quan yếu và thiết thực để có một nhận định đúng

    · Những phương pháp có thể áp dụng được hay kỹ thuật xây dựng nhận định

    · Những cơ cấu lý thuyết có thể áp dụng được để hiểu những vấn đề và câu hỏi trong tầm tay

    Ngoài việc sở hữu kỹ năng tư duy phản biện mạnh mẽ, người ta phải được chuẩn bị để sẵn sàng gắn việc giải quyết những vấn đề ấy với việc sử dụng những kỹ năng này. Tư duy phản biện vận dụng không chỉ tri thức về logic mà còn những tiêu chí trí tuệ khác như sự rõ ràng, đáng tin cậy, sự xác đáng, sự sâu sắc, tính thiết thực, chiều sâu và tầm rộng, cũng như sự quan yếu và tính công bằng.

    Quá trình

    Tư duy phản biện đòi hỏi những khả năng:

    · Nhận ra vấn đề, tìm ra được những phương tiện khả thi để đáp ứng cho việc giải quyết những vấn đề đó

    · Hiểu tầm quan trọng của ưu tiên hóa và trật tự ưu tiên trong việc giải quyết vấn đề

    · Thu thập những thông tin thiết yếu và sắp xếp theo một trật tự nhất định

    · Nhận ra những giả định và giá trị không được nêu rõ

    · Lĩnh hội thấu đáo và dùng ngôn ngữ một cách rõ ràng, chính xác, sáng suốt

    · Diễn giải các dữ liệu nhằm đánh giá các minh chứng và luận điểm

    · Nhận thức được sự tồn tại (hay không tồn tại) của những mối quan hệ logic giữa các ý kiến, nhận định

    · Rút ra những kết luận và khái quát hóa được đảm bảo

    · Đưa những kết luận và khái quát hóa ấy ra kiểm nghiệm

    · Xây dựng lại mô hình niềm tin của mình trên cơ sở những trải nghiệm rộng hơn

    · Đưa ra những nhận định, đánh giá xác đáng về những điều cụ thể trong đời sống hàng ngày

    Tóm lại:

    “Tư duy phản biện là một nỗ lực nhất quán nhằm xem xét bất cứ niềm tin nào hay bất cứ hình thức tri thức nào dưới ánh sáng của các minh chứng hỗ trợ cho nó và những kết luận xa hơn mà nó nhắm tới.”

    Những nguyên tắc và khuynh hướng

    Ước muốn tự phê phán

    Tư duy phản biện vừa là ý muốn vừa là khả năng có thể tự đánh giá những suy nghĩ của chính mình. Tư duy có thể bị phê phán vì người ta không có đủ những thông tin thiết yếu – thực ra thì những thông tin quan trọng có thể còn chưa được khám phá, hay thậm chí chưa thể biết được- hoặc là vì người ta đã suy luận không hợp lý, dùng những khái niệm không phù hợp, hay thất bại vì không lưu ý tới những ý nghĩa quan trọng bên trong. Tư duy người ta có thể không rõ ràng, thiếu chính xác, không sâu sắc, không thiết thực, chật hẹp, nông cạn, phi logic, hay tầm thường, do ngờ nghệch hay do không biết ứng dụng những kỹ năng tư duy đã học một cách phù hợp ….

    Những suy nghĩ có cân nhắc

    Trong khi dùng tư duy phản biện để giải quyết vấn đề và tìm ra những quyết định một cách có cân nhắc, người ta coi các minh chứng (cũng như những chứng cớ điều tra), bối cảnh của nhận định, những tiêu chí thiết yếu để tạo ra một nhận định đúng, những phương pháp hay kỹ thuật có thể áp dụng được để xây dựng các luận điểm, và những cấu trúc lý thuyết có thể ứng dụng để hiểu những vấn đề trong tầm tay. ….

    Năng lực

    Tư duy phản biện vận dụng không chỉ tri thức về logic (chính thức, hoặc thường thấy hơn, phi chính thức) mà còn những tiêu chí trí tuệ khác như sự rõ ràng, đáng tin cậy, sự xác đáng, sự sâu sắc, tính thiết thực, chiều sâu và tầm rộng, cũng như sự quan yếu và tính công bằng.

    Thói quen hay đặc điểm của ý nghĩ

    Thói quen tích cực của việc suy nghĩ biểu lộ đặc điểm của một người sẵn sàng cho tư duy phản biện bao gồm một khát vọng dũng cảm theo đuổi lẽ phải và các minh chứng làm căn cứ cho mọi nhận định bất kể nó sẽ dẫn đến đâu; một đầu óc cởi mở, một sự chú ý trước tới những hậu quả có thể xảy ra đối với một lựa chọn nào đó, một cách tiếp cận có hệ thống trong việc giải quyết vấn đề, một bản tính tò mò muốn biết đến ngọn đến nguồn mọi thứ, một đầu óc không định kiến và sự trưởng thành trong nhận định, cũng như tự tin về lẽ phải.

    Tầm quan trọng

    Tư duy phản biện được coi là quan trọng trong mọi lãnh vực khoa học là vì nó tạo điều kiện cho người ta phân tích, đánh giá, giải thích, và xây dựng lại những suy nghĩ của mình, bằng cách đó làm giảm rủi ro vận dụng, hay hành động, hay suy nghĩ với một niềm tin sai lầm. Tuy nhiên, ngay cả với những kiến thức về phương pháp đặt câu hỏi và lập luận logic, người ta vẫn có thể phạm sai lầm do thiếu năng lực vận dụng hay do những đặc điểm tính cách như tự coi cái tôi của mình là trung tâm vũ trụ. Tư duy phản biện bao hàm việc xác định rõ những định kiến, thiên vị, tuyên truyền, tự lừa dối, xuyên tạc, và những thông tin sai lạc.v.v. Với những kết quả nghiên cứu trong tâm lý học tri nhận, một số nhà giáo dục tin rằng nhà trường cần phải tập trung vào việc dạy cho sinh viên những kỹ năng về tư duy phản biện và nuôi dưỡng trong họ những phẩm chất cốt lõi của hoạt động trí tuệ.

    Trong nhà trường

    John Dewey chỉ là một trong nhiều nhà lãnh đạo giáo dục đã nhận ra rằng một chương trình đào tạo nhằm vào việc xây dựng kỹ năng tư duy sẽ có lợi không chỉ cho người học mà là cho cả cộng đồng và toàn xã hội.

    Điểm mấu chốt để thấy tầm quan trọng của tư duy phản biện trong khoa học là hiểu rõ tầm quan trọng lớn lao của tư duy phản biện trong việc học tập. Có hai ý nghĩa đối với việc học tập. Ý nghĩa thứ nhất xuất hiện khi người học lần đầu tiên xây dựng trong tâm trí mình những ý tưởng cơ bản, những nguyên tắc và lý thuyết cố hữu về nội dung. Đây là quá trình nội tại hóa. Ý nghĩa thứ hai nảy sinh khi người học sử dụng những ý tưởng, nguyên tắc và lý thuyết ấy một cách hữu hiệu vì nó đã trở thành thiết yếu trong đời họ. Đó là quá trình ứng dụng. Thầy giáo giỏi sẽ nuôi dưỡng tư duy phản biện cho học sinh trong mọi giai đoạn của việc học kể cả giai đoạn khởi sự. Quá trình gắn kết trí tuệ này là trọng tâm của hoạt động trợ giảng tại những trường như Oxford, Duham, Cambridge và London School of Economics. Người trợ giảng đặt câu hỏi với sinh viên theo cách của triết gia Socrat. Điều trọng yếu ở đây là, người thầy vun đắp tư duy phản biện cho sinh viên bằng cách đưa ra những câu hỏi kích thích tư duy, là điều cốt lõi trong việc kiến tạo tri thức.

    Nguồn: http://www.vanhoanghean.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Của Tư Duy. Muốn Phát Triển Tư Duy Thì Cần Phải Làm Gì ?
  • Tìm Hiểu Thêm Về Khái Niệm Tư Duy :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Tư Duy Và Ứng Dụng Các Đặc Điểm Của Tư Duy Trong Cuộc Sống Và Học Tập
  • Đại Cương Về Dòng Điện Xoay Chiều, Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 12
  • Bài 2: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Ứng Dụng Của Dòng Điện Xoay Chiều
  • Phân Tích Khái Niệm Của Tư Duy. Muốn Phát Triển Tư Duy Thì Cần Phải Làm Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Khái Niệm Tư Duy Phản Biện
  • Giáo Dục Toàn Diện Để Tạo Ra Con Người Toàn Diện
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Qui Tắc Định Nghĩa Khái Niệm
  • Cho Biết Thuật Ngữ”khái Niệm” Và “định Nghĩa” Giống Và Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Định nghĩa: Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.

    * Các khái niệm cần làm rõ:

    – Quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng.

    Quá trình tâm lý gồm các quá trình:

    + Quá trình nhận thức: là quá trình phản ảnh bản thân hiện tượng khách quan (cảm giác, tri giác, biểu tượng, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy).

    + Quá trình cảm xúc: là những rung cảm của chủ thể khi nhận thức thế giới bên ngoài từ đó biểu thị thái độ đối với khách quan bên ngoài.

    + Quá trình ý chí: là quá trình điều khiển, hành động của chủ thể nhằm cải tạo thế giới, thỏa mãn yêu cầu cá nhân và xã hội (không chỉ điều khiển cá nhân mà cả thế giới bên ngoài).

    Vì vậy Đời sống tâm lý luôn phải cân bằng 3 quá trình trên. . Nếu thiên về lý trí con người sẽ thiếu tình cảm, tâm hồn khô khan. . Nếu thiên về tình cảm con người sẽ thiếu sáng suốt.

    – Thiếu ý chí thì tình cảm con người không thể biến thành hành động. (vd: Đi dọc đường thấy quán hủ tiếu thấy thèm nên ghé vào ăn. Lúc gặp người già đi ăn xin thấy thương cảm nên cho tiền)

    – Thuộc tính bản chất: là sự tổng hợp tất cả các mặt, các mối liên hệ mang tính cơ bản, tất nhiên, ổn định bên trong sự vật chi phối sự vận động và phát triển của nó để phân biệt giữa sự vật này với sự khác.

    Đặc tính vốn có của một sự vật, nhờ đó sự vật tồn tại và qua đó con người nhận thức được sự vật, phân biệt được sự vật này với sự vật khác.

    Màu sắc là một thuộc tính của mọi vật thể. (vd: Thuộc tính bản chất của con người đó chính là biết chế tạo và sử dụng các công cụ lao động, có ngôn ngữ, có quan hệ xã hội. “Gừng cay muối mặn”).

    – Nhận thức cảm tính là: phản ánh một cách trực tiếp các đối tượng bên ngoài sự vật, hiện tượng (màu sắc, kích thước, khối lượng, âm thanh, mùi, vị, bề mặt, nhiệt độ,…) thông qua các giác quan vào bộ não của con người. Mang tính chủ quan nên thường không chính xác.

    – Nhận thức lý tính: được nảy sinh từ nhận thức cảm tính. Nó phản ánh một cách gián tiếp, trừu tượng, khái quát, sâu sắc những đặc điểm, tính chất, quan hệ bên trong của sự vật (đặc tính, tính chất, công dụng) vào trong bộ não con người và được biểu đạt bằng ngôn ngữ. Mang tính khách quan nên thường chính xác.

    – Mối liên hệ: là sự tác động (ràng buộc, thâm nhập,…) lẫn nhau mà sự thay đổi cái này tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi của cái kia. (vd: mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng, khi bản chất thay đổi thì hiện tượng sẽ thay đổi, đồng thời hiện tượng sẽ tác động lại đối với bản chất).

    – Quy luật: Quan hệ không đổi, được biểu thị dưới dạng công thức khái quát, giữa nhiều hiện tượng hoặc nhóm hiện tượng, là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, chung, lặp lại giữa các sự vật hiện tượng và chi phối mọi sự vận động, phát triển của nó. (vd: Quy luật từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại là một trong những quy luật cơ bản nhất trong thế giới vật chất, tồn tại trong mọi sự vận động và phát triển).

    – Chưa biết: là sự hoàn toàn chưa nhận thức hay nhận thức chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, chưa biết chắc chắn, là quá trình nhận thức cảm tính của con người (là giai đoạn đầu để hình thành nên tư duy). Có thể xem chưa biết có hai dạng như sau:

    * Chưa biết không tư duy: sự hoàn toàn chưa nhận thức, xa tầm hiểu biết. Vd: Một đứa trẻ lớp 1 sẽ hoàn toàn không nhận thức được một bài toán lượng giác của lớp 10.

    * Chưa biết có tư duy: sự nhận thức chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, chưa biết chắc chắn.

    Vd: Ca dao có câu: “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối.” Thực chất người ta chỉ biết vào những ngày của tháng nào thì trời sẽ sáng lâu hay tối lâu. Nhưng không hề biết vào những tháng này thì trục của Trái đất bị lệch nhiều nhất và làm cho một bán cầu nhận ánh sáng nhiều nhất hay ít nhất.

    Phát triển tư duy

    – Phải xem trọng việc phát triển tư duy. Vì nếu không có khả năng tư duy thì không thể học tập, không thể hiểu biết, không cải tạo được tự nhiên, xã hội và rèn luyện bản thân.

    – Phải đặt cá nhân vào tình huống có vấn đề để kích thích tính tích cực của bản thân, độc lập sáng tạo khi giải quyết tình huống có vấn đề. – Phải rèn luyện học tập nâng cao nhận thức để phát triển khả năng tư duy tốt, chính xác.

    – Phải tăng cường khả năng trừu tượng khái quát. – Phải thường xuyên quan sát tìm hiểu thực tế, rèn luyện cảm giác, tính nhạy cảm, năng lực trí nhớ, nhằm nâng cao nhận thức cảm tính để sau đó rút ra nhận thức một cách lý tính, có khoa học.

    – Phải trau dồi vốn ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là cái vỏ thể hiện của tư duy và thông qua đó mới biểu đạt tư duy của bản thân cũng như lĩnh hội tư duy của người khác.

    – Tích cực trong nhiều hoạt động và các mối quan hệ giao tiếp.

    * Bên cạnh đó, cũng có những sai sót trong tư duy mà chúng ta cần tránh Sai sót trong tư duy có khi là hiện tượng tâm lý bình thường nhưng cũng có khi sai sót do bệnh lý.

    Là những sai sót thuộc về kết quả tư duy (phán đoán, suy lý không chính xác, sự hiểu biết khái niệm không đầy đủ), hoặc về hình thức thao tác của tư duy (không biết tư duy trừu tượng, sai sót trong phân tích, tổng hợp vấn đề, thiếu mềm dẻo, …)

    Sai sót của tư duy có quan hệ chặt chẽ với những sai sót của các quá trình tâm lý khác nhất là ý thức, cảm xúc, chú ý, năng lực, vốn hiểu biết.

    ● Sự định kiến

    – Là kết quả tư duy về những sự vật hiện tượng có thực nhưng người bệnh cố gán cho nó một ý nghĩa khác quá mức, không đúng như vốn có của nó và ý tưởng này chiếm ưu thế trong ý thức, tình cảm,…của người bệnh. Vd người bệnh quá cường điệu về khuyết điểm của mình, tự ty…

    ● Ý tưởng ám ảnh:

    – Bệnh nhân có những ý tưởng không phù hợp với thực tế khách quan. Vd: Bệnh nhân luôn có ý nghĩ rằng mình có lỗi hoặc xúc phạm với thầy thuốc,… nhưng trong thực tế thì không phải như vậy. Ý nghĩ này có khi người bệnh biết là sai và tự đấu tranh để xua đuổi nó nhưng không được. Ý tưởng ám ảnh thường gắn với những hiện tượng ám ảnh khác, như lo sợ ám ảnh, hành vi ám ảnh.

    ● Hoang tưởng: – Là những ý nghĩ, phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế do bệnh tâm thần sinh ra. Vd: Bệnh nhân luôn có ý nghĩ mình bị truy hại, bị nhiều bệnh hoặc mình là người vĩ đại,… những ý nghĩ này sẽ mất đi khi bệnh khỏi hoặc thuyên giảm trong các bệnh tâm thần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Thêm Về Khái Niệm Tư Duy :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Tư Duy Và Ứng Dụng Các Đặc Điểm Của Tư Duy Trong Cuộc Sống Và Học Tập
  • Đại Cương Về Dòng Điện Xoay Chiều, Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 12
  • Bài 2: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Ứng Dụng Của Dòng Điện Xoay Chiều
  • Giải Đáp: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Công Thức Tính Ra Sao
  • Tìm Hiểu Thêm Về Khái Niệm Tư Duy :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Của Tư Duy. Muốn Phát Triển Tư Duy Thì Cần Phải Làm Gì ?
  • Về Khái Niệm Tư Duy Phản Biện
  • Giáo Dục Toàn Diện Để Tạo Ra Con Người Toàn Diện
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Qui Tắc Định Nghĩa Khái Niệm
  • Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức. Lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng. Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người. Điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra “Trí tuệ nhân tạo”. Tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức (1). Ngày nay, người ta còn nói tới tư duy của người máy…

    Song, dù là loại tư duy nào thì nó cũng có sự khác biệt căn bản với tư duy con người, ở chỗ: Tư duy của con người mang bản chất xã hội – lịch sử, có tính sáng tạo, có khả năng khái quát và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện. Tư duy con người được quy định bởi các nguyên nhân, các yêu cầu của quá trình phát triển lịch sử – xã hội, chứ không đừng lại ở mức độ tư duy bằng các thao tác chân tay hay bằng một chương trình đã được lập sẵn. Có thể nói một cách khái quát, các nhà tâm lý học Mác – xít, trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chúng, đã khẳng định: Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não của con người. Trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan bằng những khái niệm, phán đoán… tư duy bao giờ cũng có mối liên hệ nhất định với một hình thức hoạt động của vật chất, với sự hoạt động của não người. Trong khi xác đính sự giống nhau giữa tâm lý người và động vật, các nhà tâm lý học Mác – xít cũng chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa tư duy của con người và hoạt động tâm lý động vật. Một trong những khác nhau ấy là tư duy con người sử dụng khái niệm để ghi lại những kết quả trừu tượng hoá, tư duy được ra đời do lao động và trên cơ sở của sự phát triển xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, thế giới tự nhiên tác động vào các giác quan tạo ra cảm giác, tri giác và biểu tượng là cơ sở ban đầu của tư duy. Tư duy khái quát những thu nhận của cảm giác bằng những khái niệm và những phạm trù khoa học, mang lại cho chúng ta những quan điểm rộng hơn, sâu hơn những cảm giác trực tiếp. Nhờ trừu tượng hoá mà tư duy đã chỉ ra được những mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ nội tại của các sự vật, hiện tượng đó. Và chỉ có khái quát về lý luận mói cho phép tư duy của con người tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng và các quy luật phát triển của chúng.

    Như vậy, tư duy trước hết là sự phản ánh ở trình độ cao bằng con đường khái quát hoá, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật của đối tượng. Phản ánh ở đây hiểu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là phản ánh biện chứng, “là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn của sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, như là một quá trình trong đó con người không thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, mà tác động tới nó, cải tạo nó và bắt nó phải phục tùng những mục đích của mình”(2). Đó là phản ánh tâm lý, là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính, các mối quan hệ, liên hệ bản chất, quy luật vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong biện thực khách quan(3). Theo V.I. Lê nin, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, .đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn. “Tư duy của người ta – đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai… đến vô hạn”(4).

    Tư duy là quá trình vận dụng các khái niệm, phạm trù theo những quy luật lôgíc chặt chẽ nhằm đạt đến chân lý. Theo M.N. Sacđacôv “Khái niệm” là “sự hiểu biết những dấu hiệu chung và bản chất của sự vật, hiện tượng của hiện thực”(5). L.X.Vưgốtxki lại cho rằng “Khái niệm” xuất hiện khi hàng loạt các dấu hiệu đã được trừu tượng hoá lại được tổng hợp, “sự tổng hợp trừu tượng trở thành hình thúc cơ bản của tư duy nhờ đó người ta đạt được suy nghĩ về hiện thực bao quanh”. Ông còn đi sâu phân biệt hai dạng khái niệm thông thường và khái niệm khoa học. “Khi nói về khái niệm thông thường, chúng ta cho rằng giao tiếp với môi trường xã hội rộng rãi và thiếu hệ thống là chỉ báo cơ bản của điều kiện phát triển nguồn gốc của nó. Các quyết định đối với khái niệm khoa học là chúng được lĩnh hội và phát triển dưới sự chỉ đạo và giúp đỡ cuả giáo viên và tri thức ở đây được cung cấp cho trẻ em trong hệ thống nhất định”(6). Ở đây, sự khác biệt mang tính quyết định của hai dạng khái tuệ không phải trong nội dung khách quan của chúng mà ở phương pháp và con đường tiếp thu nó. Như vậy, việc cung cấp và việc tiếp thu những tri thức những khái niệm khoa học theo một hệ thống, theo những quy luật lôgíc, chặt chẽ không chỉ giúp trẻ mà ngay cả chúng ta, những người lớn phát triển tư duy được tốt hơn.

    Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần. Theo C. Mác thì cái tinh thần (ở đây, chúng ta cũng có thể hiểu đó chính là tư duy) chẳng qua là cái vật chất được chuyển vào trong đầu và được cải tạo lại ở trong đó(7). Tư duy còn là quá trình tiến tới cái mới, đề xuất những nhận thức mới, là quá trình không ngừng bổ sung và đổi mới. Quy luật của tư duy thực chất là quy luật của sự phát triển và tìm tòi cái mới. Vấn đề này được Rubinstêin cho rằng: Trong quá trình tư duy, khách thể được tất cả nội dung mới, cứ mỗi lần lật đi, lật lại, nó lại được bộc lộ một khía cạnh mới, tất cả các tính chất mới của nó được làm rõ. Một số tác giả khác lại cho rằng, trong quá trình lập luận, tư duy đạt được những cứ liệu ngày càng mới, vượt ra ngoài phạm vi các điều kiện ban đầu và khi sử dụng các điều kiện này, tư duy đi đến những kết luận ngày càng mới, nhờ chủ đưa các đối tượng ở vị trí ban đầu vào trong các mối liên hệ mới. Mỗi lần như vậy, tư duy tựa như lật ra một khía cạnh mới, phát hiện và rút ra hết được các thuộc tính và quan hệ mới của chúng(8).

    Phân tích dưới góc độ lý luận tính hai mặt của quá trình tư duy thống nhất, tác giả Nguyễn Bá Dương (10) đã đi đến nhận định: Quá trình tìm kiếm, phát minh cái mới trong khoa học cũng giống như quá trình tái tạo lại kinh nghiệm của lịch sử – xã hội loài người diễn ra dưới hình thức giải quyết các tình huống có vấn đề. Bản thân mỗi kinh nghiệm lịch sử – xã hội luôn có tính tổng hợp chứa đựng bên trong nó. Điều đó có nghĩa là, nó chính là sản phẩm có tính tổng hòa của hoạt động sáng tạo của xã hội loài người. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn cơ bản của sự phát triển trí tuệ loài người là ở chỗ “tư duy một mặt là một quá trình tìm kiếm và phát hiện ra cái mới, cái bản chất, mặt khác nó còn là quá trình tái tạo lại những tri thức, những kinh nghiệm lịch sử – xã hội đã được loài người tích luỹ”.

    Sơ đồ quá trình tư duy

    Quá trình tư duy được nhà tâm lý học Xô – viết K.K. Platônôv phân chia thành các giai đoạn hết sức cụ thể, các giai đoạn này được diễn ra một cách hết sức nhanh, thậm chí như sự tự động hoá. Đặc biệt, trong các giai đoạn này, các thao tác tư duy đều được diễn ra một cách tự động. Trên cơ sở sơ đồ quá trình tư duy do một số nhà tâm lý học Việt Nam xây dựng, chúng tôi xây dựng mô hình các giai đoạn của quá trình tư duy như sau:

    (I): Khi giả thuyết bị phủ định, có thể hình thành giả thuyết mới.

    (II): Khi hình thành giả thuyết mới vẫn bị phủ định, lúc này cần phải nhận thức lại vấn đề từ đầu. Quá trình tư duymới .

    (III): Khi có kết quả, cần phải được kiểm tra lại, đối chiếu lại. Khi xét trong các mối quan hệ với khách thể và nhiệm vụ nó giải quyết, tư duy được xem như một hoạt động. Ở khía cạnh này, tư duy không những có tính quy luật của sự diễn biến theo quá trình (như phân tích, tổng hợp, khái quát) mà còn có cả mặt nhân cách, động cơ chung cho tư duy và mọi hoạt động của con người. Cũng từ góc độ xem xét tư duy như một hoạt động cho phép chúng ta hiểu tư duy không chỉ là sản phẩm của hiện thực khách quan, mà còn là sản phẩm của mối quan hệ qua lại giữa con người với hiện thực khách quan. Bới lẽ, chính mối quan hệ này được thể hiện như một hoạt động. Cũng chính thông qua mối quan hệ này mà các đặc điểm của hoạt động bên ngoài, tính phổ quát của các tháo tác lôgíc trong hoạt động bên ngoài chuyển dần sang cái phát sính bên trong của hoạt động đó. Vì vậy, giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong (tức tư duy) có sự đẳng cấu về cấu trúc. Tư duy như một quá trình và tư duy như một hoạt động – đó là hai khía cạnh của cùng một hiện tượng mà thôi. Hoạt động tư duy bao giờ cũng đồng thời là quá trình tư duy và quá trình tư duy về một khía cạnh nào đó chính là bản thân hoạt động ấy hay như một thành phần của nó (11).

    Để định nghĩa tư duy, chúng tôi nhận thấy các nhà tâm lý học trong nước cũng như nước ngoài, mỗi người có một cách hiểu riêng của mình. X.L. Rubinstêin cho rằng: Tư duy là sự “Thâm nhập vào những tầng mới của bản thể, là giành lấy và đưa ra ánh sáng những cái cho đến nay vẫn giấu kín trong cõi sâu bí ẩn: Đặt ra và giải quyết vấn đề của thực tại và cuộc sống, tìm tòi và giải đáp câu hỏi thực ra nó là như thế nào, câu trả lời đó là cần thiết để biết nên sống thế nào, cho đúng và cần làm gì ?”(12). A. Spiếckin lại cho rằng: Tư duy của con người, phản ánh hiện thực, về bản chất là quá trình truyền đạt gồm hai tính chất: Một mặt, con người hướng về vật chất, phản ánh những nét đặc trưng và những mối liên hệ của vật ấy với vật khác, và mặt khác con người hướng về xã hội để truyền đạt những kết quả của tư duy của mình(13). Từ cách tiếp cận mô hình xử lý thông tin, tác giả Đặng Phương Kiệt quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn”(14).

    Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng, các quá trình tư duy của con người được diễn ra ở đoạn trên cùng của trình tự xử lý thông tin và điều gì sẽ diễn ra khi đạt tới giai đoạn này của quá trình xử lý thông tin thì được gọi là tư duy. Dựa trên cơ sở những mối liên hệ, quan hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và lý thuyết phản ánh, tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hay các hiện tượng của hiện thực khách quan”(15). Tác giả cho rằng, tư duy khác hẳn với tri giác ở chỗ tư duy không chỉ thực hiện được những bước như đã xảy ra ở tri giác, là tách các phần riêng lẻ của sự vật, mà còn cố gắng hiểu các phần đó có quan hệ với nhau như thế nào. Tư duy phản ánh bản chất của sự vật, và do đó là hình thức phản ánh hiện thực cao nhất. Với việc xem tư duy như là quá trình phân tích, tổng hợp… Nguyễn Đình Trãi cho rằng: Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu đã thu được qua nhận thức cảm tính, nhận thức kinh nghiệm để rút ra cái chung, cái bản chất của sự vật(16).

    Với tư cách là quá trình nhận thức, tập thể tác giả: Trần Minh Đức, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Mộc Lan, coi “Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” (17).

    Phân tích một số quan niệm về tư duy như trên để có thể hiểu sâu thêm định nghĩa của tư duy: Tư duy là quá trình tân lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp là khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết.

    Chú thích

    1 X L. Rubinstêin, Cơ sở tâm lý học đại cương,, NXB Giáo dục, Mátxcơva, 1989, tập 1.

    2. Từ điển Triết học, NXB Mátxcơva, 1975, tr. 430.

    3. Đại học Quốc gia Hà Nội, Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, 1996, tr.17.

    4. V.I. Lê nin, Bút ký triết học, NXB Sự thật, Hà Nội, 1977.

    5. M.N. Sacđacôv, Tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr.43.

    6. M.N. Sacđacôv, tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr.43.

    7. V.V. Đavưđôv, Các dạng khái quát hoá trong dạy học, NXB ĐHQG, H.,2000, tr.234, 244.

    8. C. Mác, Tư bản, NXB Sự thật, H., 1971 , tập 1 , tr.33.

    9. Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến bộ, M., 1978, tr. 282, 275.

    10. Nguyễn Bá Dương, Quan niệm tâm lý học về dạy học nêu vấn đề trong tâm lý học Xô – viết, Luận án PTS, 1983.

    11. Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến bộ, M., 1978, tr. 277.

    12. M.N. Sacđacôv, Tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr. 9-10.

    13. A. Spiếckin, Sự hình thành tư duy trừu tượng trong những giai đoạn phát triển đầu tiên của loài người, NXB Sự thật, H., 1960, tr.28.

    14. Đặng Phương Kiệt, Cơ sở tâm lý học ứng dụng, NXB ĐHQG, Hà Nội, 2000, tr.292.

    15. Mai Hữu Khuê, Những khía cánh tâm lý của quản lý, NXB Lao động,, H.,1985, tr.153.

    16. Nguyễn Đình Trãi, Năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luan Mác – Lênin ở các trường chính trị tỉnh, Luận án tiến sỹ triết học , 2001 , tr.19.

    17. Đại học Quốc gia Hà Nội, Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, 1996, tr.107.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Duy Và Ứng Dụng Các Đặc Điểm Của Tư Duy Trong Cuộc Sống Và Học Tập
  • Đại Cương Về Dòng Điện Xoay Chiều, Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 12
  • Bài 2: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Ứng Dụng Của Dòng Điện Xoay Chiều
  • Giải Đáp: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Công Thức Tính Ra Sao
  • Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì?
  • Ý Nghĩa Của Các Nhà Khoa Học Xã Hội Trong Khái Niệm Chân Lý Và Đạo Đức Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Trắc Nghiệm Logic Học
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Logic Học Đại Cương
  • Bảng Cân Đối Kế Toán Là Gì? Nguyên Tắc Và Cách Lập Bảng Cân Đối Kế Toán
  • Ai Sẽ Định Nghĩa Lại Khái Niệm Con Người
  • Tìm Hiểu 2 Khái Niệm Trong Cá Cược Bóng Đá Cơ Bản Nhất
  • Theo hiểu biết của người bình thường, chân lý đồng nghĩa với từ “chân lý”. Nói cách khác, điều này ngược lại với việc nói dối. Và ý nghĩa của các nhà khoa học xã hội trong khái niệm chân lý là gì? Nó có tuyệt đối hay là tất cả kiến thức của chúng ta tương đối?

    Các nhà khoa học xã hội đưa ra khái niệm chân lý là gì?

    Trong triết học và nghiên cứu xã hội, sự chú ý rất lớn được trả cho việc nghiên cứu chân lý. Nhiều nhà khoa học đã cố gắng để định nghĩa khái niệm này. Các nhà khoa học xã hội đưa ra khái niệm chân lý là gì? Từ này được hiểu là sự phản chiếu trong ý thức con người của đối tượng tri thức như nó, bất kể ý thức của chúng ta. Như vậy, sự thật là những suy nghĩ hoặc tuyên bố của những người tương ứng với thực tế của thực tế.

    Như một ví dụ của sự thật, người ta có thể trích dẫn một thực tế khoa học như sự quay của trái đất trong một quỹ đạo xung quanh Mặt trời. Tuy nhiên, chỉ một vài thế kỷ trước tổ tiên của chúng tôi đã không nghĩ như vậy. Đối với họ, ý kiến thực sự là mặt trời đang di chuyển, xoay quanh trái đất. Nó chỉ ra rằng những gì mọi người coi là sự thật và kiến thức thực sự duy nhất, nhiều năm sau đó hóa ra là một sai lầm. Có lẽ, khi khoa học phát triển, những điều đúng cho chúng ta hôm nay trong tương lai sẽ không còn nữa.

    Chân lý tương đối và tuyệt đối

    Từ quan điểm của lý thuyết về tri thức, mọi thứ không phải là sự thật là một ảo tưởng. Làm thế nào để phân biệt sự thật với một ý kiến sai? Tuyệt đối, đó là sự thật duy nhất và trọn vẹn, sự thật được xem xét khi nó được thiết lập bằng dữ liệu thực nghiệm, lý thuyết lý thuyết và chứng minh, và cũng tương ứng với thế giới chung quanh chúng ta.

    Với sự phát triển của khoa học, các chân lý tương đối được dần dần được cải thiện và bổ sung bởi các sự kiện mới, và cuối cùng có thể trở thành tuyệt đối. Có lẽ, sẽ có một thời khắc phát triển nền văn minh của chúng ta, khi nhân loại sẽ có tất cả kiến thức về thế giới của chúng ta. Sau đó, sự thật sẽ trở nên tuyệt đối, và các khái niệm tương đối sẽ không còn tồn tại. Cũng có thể mọi người sẽ không bao giờ đạt được chân lý tuyệt đối trong nghiên cứu về thế giới của chúng ta.

    Ý nghĩa của các nhà khoa học xã hội trong khái niệm đạo đức là gì?

    Đạo đức là sự thể hiện của người dân về những điều xấu và tốt, về những gì là tốt và nhân đạo, và những gì không phải là cũng như các quy tắc và chuẩn mực của hành vi theo họ trong xã hội. Biết được ý nghĩa của các nhà xã hội học đã đưa ra khái niệm chân lý, bạn có thể so sánh hai khái niệm này.

    Mối quan hệ của họ là đạo đức là con đường đạo đức đích thực của con người. Nó xác định hành vi của các cá nhân trong các tình huống khác nhau. Đạo đức được hình thành và thay đổi trong suốt cuộc đời chúng ta trong quá trình hiểu ý thức đạo đức, cần hành động đúng, theo lương tâm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vấn Đề Chân Lý :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Bài Tập Môn Logic Học Có Đáp Án
  • Marketing Là Gì? Bản Chất Của Marketing
  • Cách Nhìn Mới Về Tiến Trình Dạy Học Khái Niệm Toán Học Cach Nhin Moi Ve Tien Trinh Day Hoc Khai Niem Toan Hoc Doc
  • Định Nghĩa Xâm Lược Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Xâm Lược

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Kẻ Xâm Lược Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Kẻ Xâm Lược
  • Bài 19. Nhân Dân Việt Nam Kháng Chiến Chống Pháp Xâm Lược (Từ Năm 1858 Đến Trước Năm 1873)
  • Từ Không Nhân Nhượng Đến Hợp Tác Bình Đẳng.
  • Từ ‘xuân’ Trong Thơ Bác Hồ
  • Yard Là Gì? Định Nghĩa, Ví Dụ, Giải Thích
  • Từ cuộc xâm lược của người Latin, cuộc xâm lượchành động và tác dụng của cuộc xâm lược . Đó là về việc gián đoạn, xâm nhập bằng vũ lực hoặc chiếm chỗ không thường xuyên. Nó cũng đề cập đến những gì xâm nhập và lây lan ở một nơi hoặc phương tiện, đến sự xâm nhập phi lý vào các chức năng nước ngoài hoặc, nói về một cảm giác, để chiếm giữ một ai đó.

    Sự xâm nhập của các lực lượng vũ trang của một quốc gia vào lãnh thổ nước ngoài được gọi là một cuộc xâm lược và thường nhằm mục đích chinh phục lãnh thổ đó hoặc lật đổ một chính phủ .

    Một cuộc xâm lược ngụ ý sự dịch chuyển của nhiều lực lượng để kiểm soát một lãnh thổ. Đối với điều này, các loại chiến thuật khác nhau được phát triển được thiết kế bởi các chỉ huy quân đội. Ai bị xâm chiếm, có thể sử dụng các phương pháp phòng thủ khác nhau, chẳng hạn như xây dựng các bức tường hoặc sử dụng các đặc điểm địa lý tự nhiên.

    Cuộc xâm lược quân sự được coi là một cuộc xâm lược vi phạm các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Theo nghĩa này, là một tội ác chiến tranh .

    Lý do cho một cuộc xâm lược có thể rất đa dạng: cướp bóc tài nguyên, phục hồi lãnh thổ đã bị mất trong quá khứ, đàn áp kẻ thù, bảo vệ đồng minh, bảo vệ chống lại một cuộc tấn công trong tương lai hoặc trừng phạt đối với một chính phủ nào đó Họ là một số trong số họ.

    Hiện nay, khái niệm xâm lược gắn liền với sự can thiệp, một loại uyển ngữ được các cường quốc hiện đại sử dụng để vào một quốc gia nhằm theo đuổi lợi ích cho cư dân hoặc cho xã hội quốc tế nói chung.

    Ở cấp độ xã hội, xâm phạm quyền riêng tư của người khác là một biểu hiện có thể có nhiều ý nghĩa. Một mặt, nó có thể là gián điệp với ai đó, và điều này có thể xảy ra trong các tình huống khác nhau và với mức độ ác ý khác nhau; Một số ví dụ về hành vi thiếu tôn trọng này đang theo dõi một cá nhân trên đường, quan sát anh ta từ bên ngoài nhà hoặc trong nhà vệ sinh công cộng, chẳng hạn như của một câu lạc bộ thể thao. Nếu bạn thêm vào điều này thực tế ghi lại nó trên video và lan truyền nó trên Internet, không chỉ mức độ nghiêm trọng của tội phạm còn lớn hơn, nhưng hậu quả cho nạn nhân cũng vậy.

    Vào cuối năm 2010, một thanh niên người Mỹ đã tự tử sau khi bị quay phim khi đang quan hệ tình dục trong phòng ngủ của chính mình. Rõ ràng, bạn cùng phòng của anh ta đã lên kế hoạch ghi lại video một cuộc gặp gỡ thân mật của nạn nhân với một người đàn ông khác, về nguyên tắc để chơi một trò đùa thực tế về anh ta ; tuy nhiên, sau đó ông đã cân nhắc rằng tác động sẽ lớn hơn nếu bản ghi được đăng trên Web . Bỏ qua thành phần đồng bóng của hành vi tội phạm này và cậu bé không công khai giới tính của mình, đó là một cuộc xâm phạm quyền riêng tư của anh ta về một căn cứ gần như không thể vượt qua.

    Đối với các cuộc xâm lược của sinh vật ngoài trái đất, không có câu chuyện nào có tác động nhiều như chương trình phát thanh nổi tiếng của Orson Welles . Người đàn ông đa năng này đã tính đến tài năng diễn xuất và sáng tạo kịch bản của mình, và vào ngày 30 tháng 10 năm 1938, ông quyết định phát sóng kịch bản kịch bản dựa trên tiểu thuyết ” Cuộc chiến của thế giới “, nhằm cảnh báo người nghe về một cáo buộc xâm lược người ngoài hành tinh. Mặc dù ở hai điểm trong màn trình diễn đã được giải thích rằng đó là hư cấu, nhiều người nghe đã tham gia sau đó và tin rằng câu chuyện mà họ đã kể một cách thuyết phục như vậy.

    Hàng ngàn người được gọi là lực lượng an ninh, kinh hoàng trước cuộc xâm lăng ngoài trái đất mà họ tin rằng mình là nạn nhân. Sáng hôm sau, một khi tình huống tạo ra một cơn cuồng loạn tập thể chưa từng có đã được giải tỏa, khuôn mặt tươi cười duy nhất là Welles, người nổi tiếng đã tăng lên đáng kể nhờ trò đùa Halloween của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bị Trai Lạ Hỏi Sỗ Sàng: ‘em Thích Tư Thế Nào Nhất’, Elly Trần Đáp Trả Mặn Như Muối Nhưng Cũng Không Quên Xéo Xắt Lại
  • Xung Quanh Việc Dạy Học Khái Niệm Từ Láy Cho Học Sinh Tiểu Học Xung Quanh Viec Day Hoc Khai Niem Tu Lay Doc
  • Định Nghĩa Xã Hội Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Xã Hội
  • Có Thể Bạn Chưa Nhận Ra Chiến Lược Giá Sản Phẩm Mới Của Apple Sẽ Khiến Các Đối Thủ Lo Sợ Đến Mức Nào
  • Trẻ Hoá Sự Xa Xỉ (Kỳ 1): Trước Rolls
  • Tin tức online tv