Khái Niệm Trách Nhiệm Vật Chất Là Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chung Về Trách Nhiệm Bồi Thường Thiệt Hại Và Phân Loại Trách Nhiệm Bồi Thường Thiệt Hại
  • Trách Nhiệm Vật Chất Trong Quan Hệ Lao Động
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Vật Chất Của Người Lao Động
  • Trách Nhiệm Vật Chất Trong Kỷ Luật Lao Động
  • Phát Biểu Định Nghĩa Của V.i. Lênin Về Vật Chất. Hãy Phân Tích Nội Dung Cơ Bản Và Ý Nghĩa Của Định Nghĩa Đó?
  • Trách nhiệm vật chất của người lao động là trách nhiệm phải bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm trong khi thực hiện nghĩa vụ lao động đã gây ra

    Trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động chủ yếu có hai trường hợp :

    – Làm mất dụng cụ, thiết bị, làm mất các tài sản khác do doanh nghiệp giao; hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.

    – Làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp.

    Xem xét về trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động, ta thấy quy định “người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật về thiệt hại đã gây ra” thì thực chất là trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, điểm khác biệt của trách nhiệm vật chất trong quan hệ lao động với trách nhiệm dân sự là “nếu gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất thì phải bồi thường nhiều nhất ba tháng lương”. Quy định này phù hợp với đặc tính của pháp luật lao động, thực chất là một dạng của trách nhiệm vật chất hạn chế. Ở nhiều nước khác, với lập luận người lao động do không có tài sản nên trong trường hợp này thì không phải bồi thường, nhưng lại có thể bị sa thải.

    Việc bồi thường không quá ba tháng lương vừa tăng cường tinh thần trách nhiệm của người lao động, vừa bảo vệ được chỗ làm việc của người lao động. Đối với người sử dụng lao động cũng bù đắp được một phần thiệt hại và giữ được quan hệ sử dụng lao động ổn định. Trường hợp không phải do sơ suất, thiệt hại nghiêm trọng thì việc bồi thường đã theo trách nhiệm dân sự.

  • đặc điểm của trách nhiệm vật chất
  • ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Vật Chất Đối Với Người Lao Động Theo Quy Định Pháp Luật
  • Dư Lượng Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật
  • Thuốc Bảo Vệ Thực Vật Là Gì? Sử Dụng An Toàn Với Hóa Chất
  • Định Nghĩa, Phân Loại Thuốc Bảo Vệ Thực Vật (Bvtv)
  • Tình Hình Khai Thác Và Bồi Thường Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Tại Petrolimex Sg
  • Khái Niệm Chất Bán Dẫn Là Gì? Ứng Dụng Vật Liệu Bán Dẫn

    --- Bài mới hơn ---

  • Chất Bán Dẫn Là Gì ? Phân Loại ? Các Thuộc Tính ? Các Ứng Dụng Thực Tế
  • Bài 6: Chất Bán Dẫn Là Gì ? Ứng Dụng Của Chất Bán Dẫn Trong Cuộc Sống
  • Chất Béo Không Bão Hòa, Chất Béo Bão Hòa Và Chất Béo Chuyển Hóa Là Gì? Chúng Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 174:2011 Than Đá Và Cốc
  • Tìm Hiểu Về Lò Hơi
  • Chất bán dẫn là gì? Có ứng dụng như thế nào trong cuộc sống? Đã bao giờ các bạn thắc mắc và có ý định muốn khám phá, tìm hiểu chưa? Qua bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp các thông tin hữu ích, giúp các bạn giải đáp mọi khúc mắc xung quanh vấn đề này.

    Khái niệm về chất bán dẫn

    Chất bán dẫn là những chất có độ dẫn điện ở mức trung gian vừa dẫn điện và vừa cách điện. Chất bán dẫn được xem như một chất cách điện ở nhiệt độ thấp và có tính dẫn điện ở nhiệt độ phòng. Gọi là “bán dẫn” vì ở một điều kiện nào đó chất này sẽ dẫn điện, còn ở điều kiện khác sẽ không dẫn điện.

    Độ dẫn điện trong vật liệu bán dẫn

    Các chất bán dẫn dẫn điện kém ở nhiệt độ bình thường. Khoa học kỹ thuật ngày nay đã có nhiều cải tiến khắc phục tình trạng này, để chúng tạo ra nhiều electron tự do, nhờ một số tạp chất hoặc hiệu ứng trường dành cho chất bán dẫn giúp dẫn điện tốt hơn.

    Khi kết hợp hai lớp p-n với nhau điều này dẫn đến việc trao đổi điện tích tại lớp tiếp xúc p-n. Các điện tử từ n sẽ chuyển sang lớp p và ngược lại các lỗ trống lớp p chuyển sang lớp n do quá trình trung hòa về điện. Một sản phẩm của quá trình này là làm ion tích điện, tạo ra một điện trường.

    Tính chất dẫn điện của các vật liệu rắn được giải thích nhờ lý thuyết vùng năng lượng. Như ta biết, điện tử tồn tại trong nguyên tử trên những mức năng lượng gián đoạn (các trạng thái dừng). Nhưng trong chất rắn, khi mà các nguyên tử kết hợp lại với nhau thành các khối, thì các mức năng lượng này bị phủ lên nhau, và trở thành các vùng năng lượng và sẽ có ba vùng chính, đó là:

    • Vùng hóa trị (Valence band): Là vùng có năng lượng thấp nhất theo thang năng lượng, là vùng mà điện tử bị liên kết mạnh với nguyên tử và không linh động.
    • Vùng dẫn (Conduction band): Vùng có mức năng lượng cao nhất, là vùng mà điện tử sẽ linh động (như các điện tử tự do) và điện tử ở vùng này sẽ là điện tử dẫn, có nghĩa là chất sẽ có khả năng dẫn điện khi có điện tử tồn tại trên vùng dẫn. Tính dẫn điện tăng khi mật độ điện tử trên vùng dẫn tăng.
    • Vùng cấm (Forbidden band): Là vùng nằm giữa vùng hóa trị và vùng dẫn, không có mức năng lượng nào do đó điện tử không thể tồn tại trên vùng cấm. Nếu bán dẫn pha tạp, có thể xuất hiện các mức năng lượng trong vùng cấm (mức pha tạp). Khoảng cách giữa đáy vùng dẫn và đỉnh vùng hóa trị gọi là độ rộng vùng cấm, hay năng lượng vùng cấm (Band Gap). Tùy theo độ rộng vùng cấm lớn hay nhỏ mà chất có thể là dẫn điện hoặc không dẫn điện.

    Bản chất dòng diện trong vật liệu bán dẫn

    Bản chất dòng điện trong chất bán dẫn thuần

    Nếu ta tăng nhiệt độ tinh thể, nhiệt năng sẽ làm tăng năng lượng một số điện tử và làm gãy một số nối hóa trị. Các điện tử ở các nối bị gãy rời xa nhau và có thể di chuyển dễ dàng trong mạng tinh thể dưới tác dụng của điện trường. Tại các nối hóa trị bị gãy ta có các lỗ trống (hole). Về phương diện năng lượng, ta có thể nói rằng nhiệt năng làm tăng năng lượng các điện tử trong dải hóa trị.

    Khi năng lượng này lớn hơn năng lượng của dải cấm (0,7eV đối với Ge và 1,12eV đối với Si), điện tử có thể vượt dải cấm vào dải dẫn điện và chừa lại những lỗ trống (trạng thái năng lượng trống) trong dải hóa trị. Ta nhận thấy số điện tử trong dải dẫn điện bằng số lỗ trống trong dải hóa trị.

    Nếu ta gọi n là mật độ điện tử có năng lượng trong dải dẫn điện và p là mật độ lỗ trống có năng lượng trong dải hóa trị. Ta có: n=p=ni

    Ta gọi chất bán dẫn có tính chất n=p là chất bán dẫn nội bẩm hay chất bán dẫn thuần. Thông thường người ta gặp nhiều khó khăn để chế tạo chất bán dẫn loại này.

    Gồm có chất bán dẫn loại N (bán dẫn âm) và bán dẫn loại P (bán dẫn dương):

    • Chất bán dẫn loại N: Cho một lượng nhỏ chất có hoá trị 5 như Phospho (P) vào chất bán dẫn Si thì một nguyên tử P liên kết với 4 nguyên tử Si theo liên kết cộng hoá trị, nguyên tử Phospho chỉ có 4 điện tử tham gia liên kết và còn dư một điện tử và trở thành điện tử tự do. Chất bán dẫn lúc này trở thành thừa điện tử (mang điện âm) và được gọi là bán dẫn N (Negative: âm).
    • Chất bán dẫn loại P: Cho một lượng nhỏ chất có hoá trị 3 như Indium (In) vào chất bán dẫn Si thì 1 nguyên tử Indium sẽ liên kết với 4 nguyên tử Si theo liên kết cộng hoá trị và liên kết bị thiếu một điện tử, trở thành lỗ trống (mang điện dương) và được gọi là chất bán dẫn P.

    Ứng dụng của chất bán dẫn

    Chất bán dẫn không phải là vật chất mà mọi người thường thấy trực tiếp bên ngoài, nên khá khó hiểu và mường tượng ra được, tuy nhiên thực tế được sử dụng rất nhiều trong các thiết bị hiện đại, như:

    – Cảm biến nhiệt độ trong điều hòa, hệ thống điều khiển nhiệt độ chính xác trong nồi cơm điện có sử dụng chất bán dẫn. Bộ vi xử lý của máy tính CPU cũng được làm từ các nguyên liệu chất bán dẫn…. Nhiều thiết bị thông minh khác như điện thoại di động, máy ảnh, TV, máy giặt, tủ lạnh và bóng đèn LED cũng sử dụng chất bán dẫn. Hoặc trong hoạt động của cây ATM, xe lửa, internet, thiết bị truyền thông….

    – Ngoài ra, tinh thể bán dẫn được pha tạp để tạo ra một miền p rất mỏng kẹp giữa hai miền n và n gọi là tranzito lưỡng cực n-p-n được ứng dụng nhiều để lắp mạch khuếch đại và khóa điện tử.

    Qua một số thông tin mà chúng tôi chia sẻ ở trên, hy vọng sẽ giúp các bạn có những kiến thức cơ bản về chất bán dẫn. Sự xuất hiện của chất bán dẫn đã mang lại nhiều lợi ích trong ứng dụng cuộc sống của con người, góp phần phát triển các thiết bị điện hiện đại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biểu Hiện Phẩm Chất Và Năng Lực Của Học Sinh
  • Năng Lực Và Năng Lực Tự Học Của Học Sinh Là Gì?
  • Vai Trò Của Tự Học Với Việc Phát Triển Phẩm Chất Và Năng Lực Người Học
  • Dạy Học Phát Triển Phẩm Chất, Năng Lực Học Sinh ⋆ Trung Tâm Đào Tạo Ngắn Hạn Spkt
  • Mối Quan Hệ Giữa Vật Chất Và Ý Thức
  • Khái Niệm Đào Tạo Nghề Chất Lượng Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Quản Lý Chất Lượng Đào Tạo Nghề Ở Các Trường Trung Cấp Chuyên Nghiệp Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dịch Vụ Điểm Cao Rất Hay
  • Chương Ii. §1. Đại Lượng Tỉ Lệ Thuận
  • Khái Niệm Chất Lượng Phục Vụ Bài Báo Cáo Quản Trị Kinh Doanh
  • Chất Lượng Sản Phẩm Là Gì? Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Chất Lượng
  • Chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng người lao động được đào tạo nghề theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng dạy nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở dạy nghề, của cả hệ thống dạy nghề. Chất lượng dạy nghề biến đổi theo thời gian và theo không gian dưới tác động của các yếu tố đảm bảo chất lượng.

    Chất lượng cao được tính bằng giá trị chuyển đổi thông qua hình thức trả lương hay thu nhập cao hơn của người lao động; chất lượng cao đòi hỏi phải được các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp quốc tế và các nước phát triển trong khu vực và thế giới công nhận chất lượng.

    Tính đến nay, chưa có một định nghĩa hay một khái niệm đầy đủ thế nào là đào tạo nghề chất lượng cao. Nhiều quan điểm cho rằng, đào tạo nghề chất lượng cao có yêu cầu về nội dung chương trình, về phương thức đào tạo, về đối tượng người học cao hơn việc đào tạo đại trà. Cũng có quan điểm cho rằng, đào tạo nghề chất lượng cao là đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội với mức thu học phí cao. Ngoài ra, có quan điểm cho rằng đào tạo nghề chất lượng cao là đào tạo cho người học tham gia các khóa đào tạo dài hạn (trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề) hay đào tạo nghề chất lượng cao có thể hiểu là những người lao động qua đào tạo nghề, có khả năng thực hiện các công việc để tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đạt chuẩn quốc gia ở bậc trình độ kỹ năng được đào tạo, đánh giá.

    Như vậy, theo tác giả: Đào tạo nghề chất lượng cao có thể được hiểu là quá trình đào tạo cho các đối tượng người học có nhu cầu học tập để sau khi được đào tạo, các cá nhân có đủ những năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực giải quyết vấn đề) với nội dung, phương thức tổ chức đào tạo được thiết kế theo yêu cầu nhằm đáp ứng các chuẩn đầu ra tương ứng với từng cấp trình độ đào tạo của từng nghề.

    Tuy nhiên, ở luận án này tác giả tập trung chủ yếu vào giải pháp tài chính cho đào tạo nghề mà chất lượng đào tạo đạt được mức độ cao ở trình độ trung cấp nghề và cao đẳng nghề với sản phẩm đầu ra là người lao động có kỹ năng nghề cao, có khả năng hoàn thành một phần hay toàn bộ một công việc phức tạp mà lao động giản đơn không làm được. Theo đó, chất lượng cao được xem xét ở cả chiều rộng và chiều sâu, nghĩa là một mặt có giải pháp tăng cường chất lượng cho đào tạo nghề nói chung, mặt khác sẽ thí điểm đột phá ở một số lớp của một số nghề trọng điểm cấp độ khu vực và quốc tế của các chương trình chuyển giao từ nước ngoài với giáo viên và các điều kiện cơ sở vật chất thiết bị của các nước tiên tiến trên thế giới và khu vực như Úc, Đức, Malaysia…

    Khái niệm đào tạo nghề chất lượng cao

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Nông Thôn Huyện Kim Bảng
  • Đề Tài: Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo Nghề Tại Trường Cao Đẳng Nghề
  • Bài 11. Khối Lượng Riêng
  • *định Nghĩa Khối Lượng Riêng Của Một Chất? *định Nghĩa Trọng Lượng Riêng Của Một Chất? *để Đo Khối Lượng Riêng Của Một Chất Ta Làm Như Thế Nào? Kể Tên Các Loại
  • Giáo Án Vật Lý 10 Bài 10: Ba Định Luật Niu
  • Hợp Chất Protein Là Gì? Khái Niệm Và Của Tính Chất Của Protein

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Kiến Thức Hóa 12 Chương : Polime
  • Polime Là Gì? Tổng Hợp Kiến Thức Hóa 12 Ôn Thi Đại Học Chương 4
  • Lý Thuyết Đại Cương Về Polime Hóa 12
  • Lý Thuyết Vật Liệu Polime Hóa 12
  • Polymer Là Gì? Tìm Hiểu Chi Tiết Về Polymer
  • Protein là một chuyên đề rất quan trọng trong chương trình hóa học lớp 12. Với bài viết này chúng ta cùng nhau tìm hiểu về protein là gì và tính chất của protein.

    I/ Khái niệm protein – phân loại protein

    1/ Khái niệm protein là gì

    Protein là hợp chất của những polipeptit cao phân tử chúng có phân tử khối từ vài chục nghìn đến vài triệu phân tử.

    2/ Phân loại protein

    Cách phân loại của protein là gì

    Protein đơn giản: là protein được tạo thành từ các a – amino axit ví dụ như anbumin của lòng trắng trứng hay fibroin của tơ tằm,…

    II/ Cấu trúc phân tử của protein là gì

    Protein được tạo thành bởi nhiều gốc a – amino axit khác nhau bằng các liên kết peptit như:

    …- NH – CH – C – NH – CH – C – NH – CH – C – …

    R 1 O R 2 O R 3 O

    Hay ( – NH – CH – C – ) n

    R i O

    Trong đó ta có : n là số gốc a – amino axit

    Protein luôn tồn tại ở 2 dạng chính là:

    – Dạng protein hình sợi (với dạng này protein không tan trong nước): protein này có trong tóc, móng hay sừng.

    – Dạng protein hình cầu ( dạng protein này tan trong nước → tạo dd keo) : protein này thường có trong lòng trắng trứng hay hemoglobin của máu.

    IV/ Tính chất hóa học

    Trong hóa học chúng ta cần tìm hiểu các tính chất hóa học của protein là gì để có thể giải tốt các dạng bài tập về protein

    1/ Phản ứng thủy phân của protein là gì?

    • Khi thủy phân trong môi trường axit → protein tạo các a – amino axit ban đầu
    • Khi thủy phân trong môi trường bazơ → protein tạo muối của các a – amino axit ban đầu

    2/ Phản ứng màu biure

    • Protein khi tác dụng với Cu(OH)2sẽ tạo hợp chất màu tím (đây đặc trưng của peptit)
    • Protein phản ứng sẽ tạo kết tủa vàng với dd HNOđặc.

    1/ Enzin

    Enzin có bản chất là protein và enzim được coi là chất xúc tác sinh học với hai đặc điểm sau:

    – Có tính chọn lọc rất cao và mỗi enzin làm chất xúc tác cho một phản ứng nhất định.

    – Trong phản ứng tốc độ của phẳn ứng nhờ xúc tác enzin là rất cao.

    2/ Axit nucleic

    • Axit nucleiclà hợp chất cao phân tử của nhiều gốc nucleotit kết hợp nhau do các liên kết photphodiese.
    • Mỗi một gốc nucleotit gồm ba thành phần kết hợp với nhau theo tỉ lệ 1:1:1 là: Bazơ nitơ – pentozơ – axit photphoric

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Nghề Nấu Ăn 11
  • Những Điều Cơ Bản Của Một Chế Độ Dinh Dưỡng Thể Thao Hoàn Hảo, Phần 2, Protein
  • Protein Dạng Sợi Là Gì? Phân Loại, Tính Chất Và Cấu Trúc Của Protein
  • Khái Niệm, Phân Loại Và Tính Chất Của Peptit, Protein
  • Protein Va Bien Doi Sinh Hoa
  • Phân Tích Khái Niệm Sản Xuất Vật Chất Và Tại Sao Quá Trình Sản Xuất Vật Chất Là Cơ Sở Của Sự Tồn Và Phát Triển Của Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1: Sản Xuất Vật Chất Chuong Iii Docx
  • Câu 14: Vai Trò Của Phương Thức Sản Xuất Đối Với Sự Tồn Tại Và Phát Triển Xã Hội? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Câu 29. Sản Xuất Vật Chất Và Vai Trò Của Nó Đối Với Sự Tồn Tại, Phát Triển Của Xã Hội?
  • Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Là Gì?
  • Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Pti 2021
  • 1.Sản xuất vật chất là một loại hình hoạt động thực tiễn với mục đích cải biến các đối tượng của giới tự nhiên theo nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội.

    2.Phương thức sản xuất biểu thị cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người; cách thức mà con người tiến hành sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng. Mỗi phương thức sản xuất đều có yếu tố kỹ thuật và kinh tế của mình; trong đó yếu tố kỹ thuật là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nào để tác động biến đổi các đối tượng của quá trình đó; còn yếu tố kinh tế của phương thức sản xuất là thuật ngữ dùng để chỉ quá trình sản xuất được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế nào. Hai yếu tố trên của phương thức sản xuất vận động theo hướng tách biệt và phụ thuộc lẫn nhau tạo ra vai trò của phương thức sản xuất là quy định tính chất, kết cấu, sự vận động và phát triển của xã hội.

    3) Vai trò của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội

    Sản xuất vật chất luôn giữ vai trò quy định sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người; là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển những mối quan hệ xã hội; là cơ sở của sự hình thành, biến đổi và phát triển của xã hội loài người

    a) Mọi thành viên trong xã hội đều tiêu dùng (ăn, uống, ở, mặc v.v). Những thứ có sẵn trong tự nhiên không thể thoả mãn mọi nhu cầu của con người, nên nó phải sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất vật chất là yêu cầu khách quan cơ bản; là một hành động lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm trước đây con người vẫn phải tiến hành. Cùng với việc cải biến giới tự nhiên, con người cũng cải biến chính bản thân mình và cải biến cả các mối quan hệ giữa con người với nhau và chính việc cải biến đó làm cho việc chinh phục giới tự nhiên đạt hiệu quả cao hơn.

    b) Xã hội loài người tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất. Lịch sử xã hội loài người, do vậy và trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất vật chất.

    c) Sản xuất vật chất là cơ sở để hình thành nên các mối quan hệxãhội khác. Xã hội loài người là một tổ chức vật chất và giữa các yếu tố cấu thành nó cũng có những kiểu quan hệ nhất định. Các quan hệ xã hội về nhà nước, chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, khoa học v.v (cái thứ hai) đều được hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất vật chất (cái thứ nhất) nhất định. Trong quá trình đó, con người đồng thời cũng sản xuất ra và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của mình.

    d) Sản xuất vật chất là cơ sở của sự tiến bộ xã hội.Sản xuất vật chất không ngừng được các thế hệ người phát triển từ thấp đến cao. Mỗi khi phương thức sản xuất thay đổi, quan hệ giữa người với người trong sản xuất cũng thay đổi; và do vậy, mọi mặt của đời sống xã hội đều có sự thay đổi theo sự tiến bộ của phương thức sản xuất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng
  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Sản Xuất Vật Chất Và Tại Sao Quá Trình Sản Xuất Vật Chất Là Cơ Sở Của Sự Tồn Và Phát Triển Của Xã Hội
  • Bài 1: Sản Xuất Vật Chất Chuong Iii Docx
  • Câu 14: Vai Trò Của Phương Thức Sản Xuất Đối Với Sự Tồn Tại Và Phát Triển Xã Hội? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Câu 29. Sản Xuất Vật Chất Và Vai Trò Của Nó Đối Với Sự Tồn Tại, Phát Triển Của Xã Hội?
  • Bảo Hiểm Vật Chất Xe Cơ Giới Là Gì?
  • Có phải hệ thần kinh chỉ hoạt động với hai phương thức như nhà bác học Páp-lốp đã nêu? Câu trả lời: Hệ thần kinh không chỉ hoạt động với hai phương thức đó mà còn với bad phương thức nữa dành cho các hệ thần kinh cao cấp. Hệ thần kinh ghi nhớ như thế nào?Có một nguyên lý của thế giới tự nhiên giải thích được cho những điều đó và không chỉ như vậy, nó còn giải thích được từ những cái ở tầm vĩ mô như sự tập trung với mật độ vật chất rất cao trong các hố đen, sự nở ra của vũ trụ đến những cái bình thường như tác dụng của các loại gia vị lên thức ăn, cơ chế tác động của các chất tẩy rửa, giả thích được sự hình thành bọt khí ở đầu quả trứng gà, giải thích được tại sao chất độc, trong một số trường hợp lại có lợi còn chất bổ khi dùng quá liều lại có hại. Bản chất của hiện tượng lão hóa cũng được nhìn dưới một góc độ mới để thấy rằng hiện tượng lão hóa không chỉ có trong cơ thể sống mà còn trong các chất hữu cơ vô sinh khác,v.v…Nguyên lý đó là nguyên lý của mối quan hệ đặc biệt giữa vật chất và năng lượng.

    Các chân lí khoa học luôn tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của con người. Quá ttrình nhận thức khoa học là quá trình đưa tư tưởng khoa học tiến đến chân lí khoa học. Tư tưởng khoa học là một nhân tố chủ quan được xây dựng từ các quan niệm khoa học, mà các quan niệm đó lại được xây dựng trên các quan điểm khoa học. Khi các quan niệm được xây dựng mà chưa có đủ các quan điểm để đảm bảo tính đúng đắn cho chúng thì các tư tưởng khoa học được xây dựng từ chúng cũng sẽ thiếu đi sự chính xác khi các tư tưởng đó nhằm phản ánh các nguyên lí và cao hơn là các chân lí khoa học. Vì vậy chúng ta có những tư tưởng khoa học đúng, gần đúng hoặc sai lệch. Trong khi chưa có một tư tưởng khoa học đúng đắn thì những tư tưởng gần đúng có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức bởi các chân lý khoa học không phải luôn sẵn sàng cho việc nhận thức chúng. Quá trình nhận thức là quá trình đúng dần.Trong quá trình phát triển của khoa học, những tư tưởng khoa học càng gần với các chân lí khoa học thì giúp ích cho sự phát triển khoa học càng nhiều. Lịch sử phát triển của loài người cũng là lịch sử của quá trình nhận thức.

    Quá trình nhận thức của loài người về vật chất đã chuyển dần từ nhận thức đơn giản đến nhận thức sâu sắc hơn và đúng đắn hơn. Từ xưa con người đã cho rằng vật chất gồm có các vật thể và các chất. Nhận thức về các vật thể không có nhiều sự thay đổi trong lịch sử nhận thức, nhưng nhận thức về chất đã có nhiều sự đổi thay, từ chỗ cho rằng các chất bao gồm lửa, nước, đất đá, gỗ, kim loại đến chỗ xác định được rằng các chất là các nguyên tố hoá học có cấu tạo từ các nguyên tử. Từ chỗ cho rằng các nguyên tử là các cấu trúc vật chất nhỏ nhất không thể phân chia đến chỗ xác định được rằng nguyên tử lại được hình thành từ các cấu trúc nhỏ hơn nữa, có nghĩa là nguyên tử cũng phân chia được. Từ ngữ không thay đổi, nhưng nội dung của khái niệm vật chất đã thay đổi để chứa đựng ý nghĩa mới. Và bắt đầu từ đây, khái niệm vật chất không chỉ còn là các vật thể và các chất, nó bao hàm một ý nghĩa lớn lao hơn, sâu sắc hơn, vật chất là một bản thể của vũ trụ. Những cái mà chúng ta vẫn gọi là vật chất từ xưa đến nay là các vật thể và các chất, đều là những dạng tồn tại của vật chất được gọi chung là các cấu trúc vật chất. Cấu trúc vật chất là hình thức biểu thị cho sự tồn tại của vật chất. Và để tồn tại ở hình thức biểu thị này, vật chất cần một yếu tố có quan hệ với nó đó là năng lượng. Thực tế, vạn vật trong vũ trụ được hình thành bởi hai yếu tố cơ bản là vật chất và năng lượng. Vật chất và năng lượng là hai khái niêm, hai phạm trù triết học riêng nhưng có mối quan hệ đặc biệt với nhau. Chúng là hai bản thể của vũ trụ. Vật chất luôn vận động, nhưng vận động không phải là thuộc tính của vật chất. Vật chất, với các cấu trúc của nó, là nơi trú ngụ và phát huy tác dụng của năng lượng, còn năng lượng giúp cho vật chất có cấu trúc và làm cho các cấu trúc đó vận động. Mối quan hệ này vì vậy trở nên đặc biệt. Không có năng lượng thì vật chất không có cấu trúc và sự vận động. Ngược lại, không có vật chất thì năng lượng không có nơi cư trú và phát huy tác dụng của nó. Đây là nguyên lý và cũng là ý nghĩa triết học của mối quan hệ đặc biệt giữa vật chất và năng lượng.

    Quan niệm cho rằng vật chất và năng lượng là hai yếu tố riêng, hai bản thể của vũ trụ có mối quan hệ đặc biệt khăng khít, vật chất ( nói chính xác hơn là các cấu trúc vật chất ) là nơi cư trú và phát huy tác dụng của năng lượng, còn năng lượng giúp cho vật chất có cấu trúc và sự vận động, không có vật chất thì không có nơi trú ngụ cho năng lượng hay có cái mang năng lượng và ngược lại, không có năng lượng thì vật chất không có cấu trúc và sự vận động là một quan niệm có thể giúp giải thích được những điều nói trên. Từ trước tới nay, khoa học nói chung và triết học nói riêng thường chỉ đề cập tới vai trò làm cho các cấu trúc vật chất vận động mà không chú ý tới vai trò tạo cho vật chất có cấu trúc của năng lượng. Đây là cái nhìn phiến diện về một bản thể của vũ trụ. Nguyên nhân của cái nhìn phiến diện này xuất phát từ mối quan hệ khăng khít giữa năng lượng và vật chất. Sự khăng khít khiến cho nhân loại đã nghĩ rằng năng lượng là vật chất mà biểu hiện cô đọng nhất là công thức Q = mc2 của Anh-xtanh. Thực tế đây chỉ là quan hệ tương đương chứ không phải quan hệ bằng.

    Tác dụng tạo cho vật chất có cấu trúc của năng lượng thể hiện ở chỗ năng lượng tạo ra lực liên kết. Với các tác dụng khác nhau của năng lượng mà vật chất có các dạng liên kết khác nhau. Có hai dạng liên kết cơ bản là liên kết vật lý và liên kết hoá học. Liên kết vật lý tạo ra các cấu trúc vật chất không có tổ chức hoặc tổ chức thấp. Liên kết hoá học tạo ra các cấu trúc vật chất có tính tổ chức. Liên kết vật lý được thức hiện bởi các lực hấp dẫn, lực điện tích trái dấu, lực từ. Liên kết hoá học được thực hiện bởi lưới lực điện từ. Trong một cấu trúc vật chất có thể tồn tại đồng thời cả hai hình thức liên kết này.

    Để có thể đi sâu vào những vấn đề mới này, trước hết, chúng ta cần thống nhất về khái niệm ” cấu trúc vật chất” . Khái niệm ” cấu trúc vật chất” không chỉ giới hạn trong phạm vi các nguyên tử, các nguyên tố, các hợp chất hoá học, các vật thể được xác định bằng các giác quan hay các phương tiện kỹ thuật và giữa các thành phần của chúng có những mối liên kết hoá học hay cơ học để có một tổ chức nào đó. Khi khái niệm ” cấu trúc vật chất” bị giới hạn như vậy thì chúng ta cũng sẽ dễ dàng làm giới hạn số lượng cũng như loại cấu trúc vật chất, đặc biệt là các cấu trúc vật chất vô cùng nhỏ, thậm chí chúng ta còn dễ dàng cho rằng các cấu trúc vật chất có mối liên kết bám dính không phải là các cấu trúc vật chất như các mẩu giấy bị quản bút nhựa hút khi quản bút nhựa đã được sát lên len dạ…Khái niệm cấu trúc vật chất trong quan niệm mới này được hiểu rất rộng. Một hạt bụi bám vào bức tường thì bức tường và hạt bụi làm nên một cấu trúc vật chất. Giọt sương bám ở đầu ngọn cỏ thì giọt sương và ngọn cỏ cũng tạo nên một cấu trúc vật chất. Nói cụ thể hơn, một cấu trúc vật chất là một tập hợp vật chất có liên kết mà sự liên kết đó đủ để chống lại một số tác động phá hoại cấu trúc từ bên ngoài. Quan niệm như vậy không chỉ mở rộng các hình thức liên kết tạo ra các cấu trúc vật chất mà còn không giới hạn số lượng hoặc số loại cấu trúc vật chất. Các nguyên tố hoá học, các vật thể, các hạt siêu nhỏ hoặc vô cùng nhỏ như nơ tri nô, các lượng tử ánh sáng cho đến các vật thể to lớn như các ngôi sao, các hành tinh, các hố đen, thậm trí khi tất cả vật chất trong vũ trụ tập hợp lại thành một vật thể đều là các cấu trúc vật chất. Bằng sự sắp xếp có trật tự trong cấu trúc, chúng ta có các cấu trúc vật chất có tổ chức, Bằng sự sắp xếp không có trật tự ( tất nhiên vẫn phải có liên kết ) ,chúng ta có các cấu trúc vật chất không có tính tổ chức. Việc tạo nên các cấu trúc có hay không có tổ chức bắt nguồn từ hình thức liên kết của các cấu trúc vật chất thành viên. Khi các cấu trúc vật chất thực hiên liên kết xuyên tâm thì vị trí liên kết có thể ở bất kì chỗ nào trên bề mặt ngoài của các thành viên, do đó sự sắp xếp các thành viên không đòi hỏi phải xác định vị trí. Đây là hình thức liên kết vật lí. Năng lượng đã tạo ra lực liên kết có đường tác dụng xuyên qua khối tâm của các thành viên, gắn kết các thành viên bằng lực hút. Nhưng không phải tất cả các cấu trúc vật chất thực hiện việc liên kết các thành viên của chúng bằng liên kết xuyên tâm là các cấu trúc không có tổ chức. Có hai yếu tố bắt buộc các cấu trúc vật chất liên kết xuyên tâm có sự tổ chức trong cấu trúc của nó, đó là hình dạng và các mức năng lượng của từng thành viên .Hình dạng của các thành viên xác định vị trí liên kết sao cho cường độ liên kết đạt mức cao nhất .Dạng, loại và mức năng lượng tạo ra tương tác giữa các thành viên làm hạn chế tính ngẫu nhiên trong sắp xếp, làm cho cấu trúc vật chất được tạo ra có một trật tự nào đó. Hai thanh nam châm hút nhau bằng lực từ xuyên tâm nhưng trái cực.Các prôtôn và êlectrôn liên kết với nhau bằng lực điện tích trái dấu xuyên qua tâm hạt nhân nguyên tử và các điện tử, nhưng các prô tôn ở trong hạt nhân, còn các điện tử luôn ở bên ngoài hạt nhân và tạo thành các lớp tuỳ theo mức năng lượng của các điện tử. Các nguyên tử của các nguyên tố hoá học là các cấu trúc vật chất có tổ chức.

    Tính tổ chức trong các cấu trúc liên kết xuyên tâm ( hay liên kết vật lý ) này không cao khi chúng có những đặc điểm sau :

    -Tính tổ chức không chi phối toàn bộ các thành viên trong cấu trúc.

    Khi trong cấu trúc tồn tại một hoặc mốt số thành viên liên kết xuyên tâm một cách tuỳ tiện thì trật tự của các thành viên có thể thay đổi. Điều này có nghĩa là có thể tạo ra nhiều các cấu trúc khác nhau từ cùng một số cấu trúc thành viên. Nhưng nếu các cấu trúc đó không mang lại những tính chất khác nhau thì việc tạo ra những cấu trúc như vậy sẽ không có nhiều ý nghĩa.

    -Một số thành viên trong cấu trúc chịu sự tác động từ bên ngoài để tạo nên tính tổ chức cho cấu trúc.

    Các điện tử trong một lõi sắt từ chuyển động hỗn loạn khiến lõi sắt từ không hút được sắt, nhưng khi cho dòng điện chạy qua ống dây dẫn bao quanh lõi sắt từ, các điện tử chuyển động có hướng tạo ra tác dụng từ cho lõi sắt, biến lõi sắt thành nam châm. Tính chất này chấm dứt khi dòng điện trong ống dây bị ngắt. Nói chung, khi các cấu trúc vật chất có thể thay đổi tổ chức và kéo theo sự thay đổi tính chất tác dụng thì chúng sẽ có những ý nghĩa nào đó khi chúng ta khai thác những tính chất, tác dụng này.

    Liên kết hoá học khác với liên kết vật lí ở chỗ các thành viên liên kết với nhau không phải bằng lực liên kết xuyên tâm mà bằng sự liên kết một số thành viên nằm ở bề mặt ngoài của cấu trúc này với một số thành viên nằm ở bề mặt ngoài của cấu trúc kia thông qua liên kết xuyên tâm giữa các thành viên đó với nhau và với điều kiện đường tác dụng của các lực này không trùng với đường xuyên qua khối tâm của các cấu trúc chính. Cũng có thể nói là khi các cấu trúc vật chất thực hiện liên kết hoá học, chúng đã thực hiện việc cài xen các thành viên ở bề mặt ngoài của chúng vào nhau. Đây là điểm khác với liên kết vật lí bởi trong liên kết vật lí,giữa bề mặt ngoài của các cấu trúc tồn tại khoảng cách,còn trong liên kết hoá học, khoảng cách này là không có.

    Do các thành viên ở bề mặt ngoài của cấu trúc không liên kết được hoặc liên kết không đồng thời với toàn bộ các thành viên ở bề mặt ngoài của cấu trúc đối tác nên các vị trí liên kết trong liên kết hoá học không xuất hiện ở bất kì vị trí nào trên bề mặt của một thành viên. Nói cách khác, các vị trí liên kết trong liên kết hoá học được định vị, điều này làm cho các cấu trúc mới được tạo ra có sự sắp xếp các thành viên của nó, hình thành nên tính tổ chức cho cấu trúc. Sự thay đổi tổ chức xuất hiện khi trên bề mặt cấu trúc có thể cho nhiều vị trí khác nhau để thực hiện một loại liên kết, và đây là tính biến đổi trong liên kết hoá học nếu sự thay đổi này có thể đem đến sự thay đổi tính chất, tính năng,tác dụng cho cấu trúc đó. Có thể đánh giá rằng về mặt số lượng thì sự biến đổi trong liên kết vật lí nhiều hơn trong kiên kết hoá học, nhưng sự biến đổi trong liên kết hoá học mang đến nhiều sự thay đổi tính chất hơn cho cho các cấu trúc so với liên kết vật lí.

    Trong liên kết hoá học, nếu các thành phần tham gia liên kết thực hiện được việc liên kết đồng thời với nhiều thành viên với nhau, tạo nên một mạng lưới mà mỗi mắt lưới là một thành phần tham gia liên kết thì độ bền của liên kết sẽ tăng lên. Đây là cơ sở cho độ bền hoá học của các cấu trúc vật chất. Độ bền này đặc biệt được nâng cao khi mạng lưới được khép kín và bao quanh toàn bộ cấu trúc.

    Hình thức liên kết hoá học không phải luôn được tạo ra từ các phản ứng hoá học và cũng không phải chỉ có các phản ứng hoá học mới tạo ra được các mối liên kết hoá học( với những phản ứng có tính kết hợp giữa các chất). Một cấu trúc chính (như nước đóng băng) cũng có liên kết hoá học. Tuỳ từng trường hợp và tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà chúng ta xác định ý nghĩa của hình thức liên kết hoá học theo nghĩa rộng hay hẹp, nhấn mạnh hay giảm nhẹ ý nghĩa của các đặc điểm, các tính chất của liên kết theo một chiều hướng nào đó. Nói chung, liên kết hoá học không phải chỉ có trong phạm vi các cấu trúc vật chất là các nguyên tố hoá học, nhưng với các nguyên tố hoá học thì nó mang tính phổ biến và dễ nghiên cứu. Mặt khác, điều kiện để thiết lập mối liên kết hoá học là các lực liên kết không trùng với đường xuyên qua khối tâm của các thành viên chính, nên dạng năng lượng tạo ra liên kết hoá học là không cùng dạng với lực liên kết vật lí của các cấu trúc chính ( trong trường hợp này là lực hấp dẫn). Điều kiện này quy định và làm hạn chế số lượng các mối liên kết hoá học. Các mối liên kết hoá học không phải được thành lập giữa các thành viên bất kì , ở đây có sự chọn lọc các thành viên phù hợp với nhau ( chủ yếu là phù hợp về năng lượng) để tạo ra liên kết. Lực hấp dẫn tạo ra liên kết vật lí giữa bất kì cấu trúc nào miễn là chúng có khối lượng và khoảng cách thích hợp. Còn lực điện tích, lực từ, lực điện từ chỉ tạo ra một số mối liên kết giữa một số dạng cấu trúc nhất định. Lực hấp dẫn không tạo được liên kết hoá học. Lực điện từ có khả năng tạo được lưới lực điện từ cho nên nó có thể tạo nên liên kết hoá học. Ví dụ về tác dụng tạo nên cấu trúc cho vật chất có rất nhiều và rất dễ nhận ra, từ việc đánh phèn để lọc nước đến việc nấu canh cua. Cặn vôi bám vào xoong nồi khi nấu nước và việc tạo ra các nhũ đá trong các hang động đá vôi đều do tác dụng của năng lượng. Các lớp bùn trầm tích ghi lại dấu ấn của lịch sử phát triển sự sống đã hoá đá sau hàng triệu năm cũng bởi năng lượng. Tế bào chất trong các tế bào thần kinh hấp thụ năng lượng trong các kích thích thần kinh để tạo ra một cấu trúc nhớ cho hệ thần kinh. Các vết thương hở được cầm máu nhanh hơn các vết thương kín nhờ vào việc chúng được tiết xúc với nguồn năng lượng sẵn có trong không khí. Khi dùng vita min C nhiều thì nguy cơ tạo ra sỏi thận tăng lên bởi vitamin C là nguồn cung cấp năng lượng cho việc tạo sỏi thận. Các phân tử prôtêin để tạo ra tơ nhện hay tơ tằm hấp thụ năng lượng trong không khí để liên kết với nhau tạo thành sợi, điều mà trước đó khi còn trong bụng nhện hay bụng tằm chúng không thực hiện được vì không có năng lượng. Khi luộc trứng là khi các prôtêin trong trứng hấp thụ năng lượng (dưới dạng nhiệt năng) để tạo ra một khối vật chất ở thể rắn.

    Một đặc điểm của các cấu trúc vật chất là chúng không có tính liên tục. Mỗi cấu trúc vật chất, dù nhỏ đến đâu, cũng đều được tạo ra từ các cấu trúc thành viên nhỏ hơn với một hình thức liên kết nào đó và có khoảng cách giữa các thành viên. Đây là một đặc điểm quan trọng giúp cho các cấu trúc có thể vận động, hấp thụ và giải phóng năng lượng.

    Tính không liên tục của các cấu trúc vật chất có ý nghĩa rất quan trọng bởi trước hết, tính chất này tạo ra không gian, sau đó là tạo điều kiện để năng lượng có thể xâm nhập và nén vật chất lại. Vật chất càng được nén với mật độ càng cao thì tác dụng của năng lượng càng lớn bởi lúc đó sự tập trung của năng lượng cũng rất lớn, Sự thể hiện tác dụng của năng lượng lúc này là sức hút mạnh mẽ. Sức hút càng tăng thì vất chất bị nén càng chặt. Đây là quá trình tập trung năng lượng và vật chất của các hố đen trong vũ trụ nói riêng và toàn thể vũ trụ nói chung để sau đó tạo nên các vụ nổ Big bang. Khi nén vật chất, năng lượng làm cho khoảng không giữa các thành viên của cấu trúc, giữa các cấu trúc vật chất thu hẹp lại, tạo nên sự co lại của các cấu trúc vật chất.( còn tiếp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?
  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lê
  • Khái Niệm Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Vật Chất Và Ý Thức ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quan Niệm Mới Về Vật Chất Và Năng Lượng
  • Phân Tích Khái Niệm Sản Xuất Vật Chất Và Tại Sao Quá Trình Sản Xuất Vật Chất Là Cơ Sở Của Sự Tồn Và Phát Triển Của Xã Hội
  • Bài 1: Sản Xuất Vật Chất Chuong Iii Docx
  • Câu 14: Vai Trò Của Phương Thức Sản Xuất Đối Với Sự Tồn Tại Và Phát Triển Xã Hội? Ý Nghĩa Phương Pháp Luận
  • Câu 29. Sản Xuất Vật Chất Và Vai Trò Của Nó Đối Với Sự Tồn Tại, Phát Triển Của Xã Hội?
  • Trong nhiều năm, các giáo trình triết học Mác – Lênin ở nước ta, về cơ bản, đều khẳng định: Vấn đề cơ bản của triết học là “mối quan hệ giữa vật chất và ý thức”. Gần đây, giáo trình về môn học này của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh viết: “Quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất, trở thành vấn đề lớn và là vấn đề cơ bản của triết học”.

    Hiện nay, cách giải thích tại sao “mối quan hệ giữa vật chất và ý thức” hay “quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức và vật chất” lại là vấn đề cơ bản của triết học cũng khác nhau. Có giáo trình viết: Trong thế giới cố vô vàn hiện tượng, nhưng chung quy chúng chỉ phân thành hai loại, một là những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy). Do đó vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy là vấn đề cơ bản của triết học”. Lại có giáo trình cho rằng: Vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay ý thức và vật chất được gọi là vấn đề cơ bản hay vấn đề tối cao của triết học vì giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học”.

    Hiện tượng này cũng xảy ra tương tự khi đề cập đến nội dung vấn đề cơ bản của triết học. Thí dụ: “Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất giải quyết vấn đề giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào… Mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học giải quyết vấn đề khả năng nhận thức của con người”, “Khi nghiên cứu các hệ thống, các trường phái triết học, chủ nghĩa Mác cho rằng, vấn đề quan trọng hàng đầu là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và thế giới tự nhiên, cái nào có trước, cái nào có sau…”

    Là những tài liệu để giảng dạy, học tập, các giáo trình triết học Mác – Lênin ở nước ta hiện nay tuy có sự thống nhất về tư tưởng và đều xuất phát từ các tác phẩm kinh điển, nhưng trong trường hợp này, lại có sự lý giải ít nhiều khác nhau, đã gây ra những lúng túng nhất định không chỉ đối với người học (đặc biệt là đối với đối tượng lấy tự học là chính), mà còn đối với cả người dạy và người tham khảo. Vì vậy, việc trao đổi thêm những nội dung trên nhằm góp phần tìm cách diễn giải sao cho rõ để không chỉ phản ánh đúng đắn quan điểm từ kinh điển của triết học Mác – Lênin, mà còn phù hợp với sự phát triển của dân trí đương thời là điều cần thiết.

    Theo chúng tôi, trước khi đi vào nội dung cụ thể vấn đề cơ băn của triết học, phải làm sáng tỏ vấn đề cơ bản của các khoa học nói chung và của triết học nói riêng là gì?

    Ngành khoa học nào cũng phải nghiên cứu hàng loạt vấn đề. Tất cả những vấn đề đó tạo nên hệ chống các vân đề (hay hệ vấn đề) thuộc đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học đó. Vị trí, vai trò của các vấn đề trong hệ vấn đề không giống nhau. Có vấn đề chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Có vấn đề đóng vai trò quan trọng. Lại có vấn đề đóng vai trò cực kỳ quan trọng, quan trọng đến mức nó đóng vai trò là nền tảng, định hướng cho ngành khoa học ấy giải quyết những nội dung còn lại. Đấy chính là vấn đề cơ bản của một ngành khoa học.

    Triết học cũng vậy. Với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy, triết học có hệ vấn đề của mình. Trong hệ vấn đề ấy, có vân đề đóng vai trò là nền tảng, định hướng để giải quyết những vấn đề khác. Theo chúng tôi, đây là cơ sở quan trọng nhất để xác định vấn đề cơ bản của triết học.

    Về nội dung vấn đề cơ bản của triết học

    Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen viết: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. Trong tác phẩm này và một số tác phẩm khác, khi nói về vấn đề cơ bản của triết học, Ph.Ăngghen không định nghĩa tư duy là gì, tồn lại là gì mà chỉ nêu một số khái niệm khác tương tự như tinh thần, tự nhiên, vì vậy dễ dẫn đến cách giải thích quan hệ giữa “tư duy và tồn tại”, “tinh thần và tự nhiên” của Ph.Ăngghen là quan hệ giữa “ý thức và vật chất” hoặc quan hệ giữa “vật chất và ý thức”.

    Chúng ta biết rằng, ngay sau khi nêu quan điểm “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”, Ph.Ăngghen viết tiếp:

    “Ngay từ thời hết sức xa xưa, khi con người hoàn toàn chưa biết gì về cấu tạo thân thể của họ và chưa biết giải thích những điều thấy trong mơ, họ đã đi đến chỗ quan niệm rằng tư duy và cảm giác của họ không phải là hoạt động của chính thân thể họ (TG nhấn mạnh) mà là hoạt động của một linh hồn đặc biệt nào đó cư trú trong thân thể và rời bỏ thân thể họ khi họ chết, ngay từ thuở đó, họ đã phải suy nghĩ về quan hệ giữa linh hồn ấy với thế giới bên ngoài”… Do đó, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học, cũng hoàn toàn giống như bất cứ tôn giáo nào, đều có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và ngu dốt của thời kỳ mông muội… (TG nhấn mạnh ). Vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, một vấn đề đã đóng một vai trò lớn lao trong triết học kinh viện thời trung cổ, vấn đề xem cái nào có trước, tinh thần hay tự nhiên? vấn đề đó bất chấp giáo hội, lại mang một hình thức gay gắt: thế giới do Chúa Trời sáng tạo ra, hay nó vẫn tồn tại từ trước đến nay (TG nhấn mạnh).

    Cách giải đáp vấn đề ấy đá chia các nhà triết học thành hai phe lớn. Những người quả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên, và do đó rút cục lại thừa nhận rằng thế giới được sáng tạo ra bằng cách nào đó… những người đó là thuộc phe chủ nghĩa duy tâm. Còn những người cho rằng tự nhiên là cái có được thì thuộc các học phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.

    Như vậy, trong quan hệ “giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần với tự nhiên” thì khái niệm tư duy, tinh thần mà Ph.Ăngghen sử dụng nên giải thích như thế nào cho rõ? Có nên không khi chúng ta cho rằng: “… một là những hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên), hai là những hiện tượng tinh thần (ý thức, tư duy)”, hoặc “… mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại hay ý thức và vật chất được gọi là vấn đề cơ bản… của triết học”. Mặc dù phần nói về chủ nghĩa duy tâm khách quan có giải thích về khái niệm tinh chần, nhưng ngay từ đầu, cách trình bày trên đã làm cho người tìm hiểu vấn đề cơ bản của triết học và cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm đồng nhất nội dung khái niệm tư duy, tinh thần với nội dung khái niệm ý thức, tinh thần mà xã hội đang sử đụng (ý thức, tinh thần là ý thức, tinh thần của con người). Sự đồng nhất này không đúng, vì khái niệm tư duy, tinh thần mà Ph.Ăngghen sử dụng ở đây chỉ muốn đề cập đến cái phi vật chất, cái không phải là vật chất.

    Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đều thừa nhận sự tồn tại của cái phi vật chất. Với chủ nghĩa duy vật, đấy là ý thức, tinh thần, sản phẩm của vật chất, cái phản ánh vật chất, cái bị vật chất quyết định cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện. Với chủ nghĩa duy tâm, đấy là thực thể siêu tự nhiên (không có nguồn gốc từ tự nhiên, không phải là cái phản ánh tự nhiên), thế giới vật chất là sản phẩm thuần trí của thực thể siêu tự nhiên này nên thế giới vật chất không có thực chất của nó.

    Theo quan điểm truyền thống, chủ nghĩa duy tâm chia thành hai phái, chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan, trong đó chủ nghĩa duy tâm chủ quan gắn liền với tên tuổi của triết gia – Giáo sĩ người Anh Giogiơ Béccơly (George Berkeley). Chúng ta biết rằng, vào thế kỷ XVII, Giogiơ Béccơly đã biện minh cho chủ nghĩa duy tâm dưới hình thức mới bằng cách dựa trên những tiền đề hơi khác so với các quan điểm của chủ nghĩa duy tâm truyền thống. Đấy là vạn vật quanh ta là các khái niệm trong ý thức của ta (Béccơly và những người sau ông nói nhiều và nhấn mạnh ý này) song tất cả (cả ta và ý thức của ta) đều có nguồn gốc từ cái thuần trí của giới siêu tự nhiên, bị cái thuần trí của giới siêu tự nhiên quyết định. (Cuộc đối thoại thứ nhất và cuộc đối thoại thứ hai đặc biệt là đoạn kết trong cuộc đối thoại thứ hai giữa Philông ( Philonnus) và Hylaxơ (Hylas) của Béccơly phản ánh rất rõ tư tưởng này).

    Vì vậy nếu chỉ dừng lại ở quan niệm chủ nghĩa duy tâm nhủ quan cho rằng ý thức của con người của chủ thể là cái tồn cài sẵn trong con người, là cái có trước, còn các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp các cảm giác, chỉ là cái phụ thuộc vào ý thức chủ thể thì chưa đủ. Chúng tôi cho rằng khi tuyệt đối hoá vai trò của ý thức con người (ý thức của chủ thể), coi sự vật là ,,phức hợp các cảm giũa, thì không có nghĩa chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại do nguồn gốc này hay nguồn gốc khác, dưới hình thức này hay hình thức khác của sự vật, mà ở đây chủ nghĩa duy tâm chủ quan đã tuyệt đối hoá vai trò của cảm giác, của ý thức ở góc độ nhận thức luận. Hơn nữa, sự ra đời của chủ nghĩa duy tâm chủ quan là một trong những biểu hiện sự bế tắc, sự truy tìm lối thoát về mặt lý luận của chủ nghĩa duy tâm. Về bản chất, chủ nghĩa duy tâm chủ quan không phủ nhận sự tồn tại của thế giới siêu tự nhiên, phi vật chất, vì vậy, có thể được không khi hiểu: chủ nghĩa duy tâm không chia thành hai phái, mà chủ nghĩa duy tâm chủ quan hay chủ nghĩa duy tâm khách quan chỉ là những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

    Những vấn đề trên không phải được rút ra từ câu chữ, từ lý luận thuần tuý, mà quan trọng hơn, từ nhu cầu của cuộc sống hiện thực. Cho đến nay, không phải chỉ những người thuộc chủ nghĩa duy vật hay những người có học vấn cao mới hiểu tinh thần, ý thức là của con người, mà đấy thuộc loại kiến thức phổ thông, bất cứ ai cũng biết. Chính vì vậy không ít người, đặc biệt đặc biệt là giáo dân của các tôn giáo hữu thần, tuy không thừa nhận “tinh thần”, “ý thức” kể cả cái gọi là “ý thức khách quan” là cái có trước, là cái quyết định giới tự nhiên, song họ lại rất tin tưởng ở một thế giới siêu tự nhiên, phi vật chất tồn tại với tư cách là lực lượng sáng tạo . Ngay cả các nhà duy vật, thậm chí các nhà khoa học duy vật, cũng có lúc này, lúc khác rơi vào quan điểm của chủ nghĩa duy tâm (thường là duy tâm chủ quan), thì, kể cả những lúc duy tâm nhất cũng không ai quan niệm “tinh thần”, “ý thức” của con người có trước tự nhiên, không ai quan niệm sự vật là “phức hợp các cảm giác” xét dưới góc độ bản thể luận.

    Về bản chất vấn đề cơ bàn của triết học

    Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề giữa tư duy và tồn tại, song do “tư duy” được các trường phái triết học quan niệm khác nhau nên bản chất vấn đề cơ bản của triết học cũng được hiểu khác nhau.

    Với chủ nghĩa duy tâm khách quan, đấy là mối quan hệ giữa giới siêu tự nhiên, phi vật chất tồn tại dưới những tên gọi khác nhau với giới tự nhiên, con người và xã hội loài người.

    Với chủ nghĩa duy tâm chủ quan, đấy là mối quan hệ giữa toàn bộ những biểu hiện của tinh thần, ý thức con người như ý chí, tình cảm, tri thức… với hiện thực.

    Với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì:

    ” Mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại” thường được lý giải trực tiếp là “mối quan hệ giữa ý thức và vật chất”.

    Thực ra, khái niệm “tư duy” có ngoại diên hẹp hơn khái niệm “ý thức” còn khái niệm “tồn tại” lại có ngoại điên rộng hơn khái niệm “vật chất”. Vì vậy, chỉ trong trường hợp này và chỉ trong những trường hợp tương tự như thế này thì mới có thể đồng nhất “tư duy”, với “ý thức”, “tồn tại” với “vật chất”, còn trong nhưng trường hợp khác thì nội dung của những khái niệm đó phải được phân biệt rõ ràng, nhất là khi đề cập đến các vấn đề bản chất của thế giới, tính thống nhất vật chất của thế giới và lý luận nhận thức.

    Cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là cơ sở để phân biệt chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm. Song, theo Ph.Ăngghen, lúc đầu [và chỉ lúc đầu (TG nhấn mạnh), cơ sở của sự phân biệt đó chỉ là ở việc thừa nhận hay không thừa nhận tự nhiên là cái có trước và do đó, không thửa nhận hay thừa nhận sự sáng tạo ra thế giới. Điều này cho thấy, quan hệ trước sau không phải là cơ sở quan trọng hàng đầu, cũng không phải là cơ sở duy nhất để xác định duy vật hay duy tâm trong khi giải quyết những vấn đề mà triết học đặt ra, mà quan trọng hơn, phải xét xem vai trò quyết định thuộc về nhân tố nào thuộc về vật chất hay ý thức. Chẳng hạn, vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xã hội là mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Đấy là mối quan hệ giữa những nhân tố vật chất mà những biểu hiện cơ bản của nó là hoàn cảnh địa lý, dân số và phương thức sản xuất với nhưng nhân tố tinh thần được biểu hiện qua ý thức của những con người cụ thể, hình thành nên tâm lý xã hội, hệ tư tưởng với hai cấp độ ý thức sinh hoạt đời thường và ý thức lý luận. Trong mối quan hệ này, tồn tại xã hội không thể có trước, ý thức xã hội không thể có sau, mà sự ra đời của tồn tại xã hội và ý thức xã hội là đồng thời. Tính chất duy vật ở đây chỉ được bộc lộ khi thừa nhận ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội, là cá i bị tồn tại xã hội quyết định.

    Tương tự, gọi là duy âm chủ quan với những biểu hiện của nó như chủ quan duy ý chí chủ quan duy tình cảm, chủ quan duy tri thức… không có nghĩa là quan niệm những yếu tố thuộc ý thức này là cái có trước, mà chỉ là quan niệm cho rằng những yếu tố này (ý chí, tình cảm, tri thức… ) có thể quyết định sự thành công hay thất bại của con người (xem nhẹ hoàn cảnh khách quan).

    Ranh giới giữa ý thức và vật chất vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối. Tính tuyệt đối của ranh giới này được giới hạn ở góc độ nhận thức luận cơ bản, đó là sự thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức. Ngoài giới hạn ấy, khi khẳng định nguồn gốc vật chất của ý thức, khẳng định khả năng ý thức được vật chất hoá thông qua hoạt động của con người thì chủ nghĩa duy vật biện chứng đã thừa nhận tính tương đối của ranh giới này.

    Mặt khác, nói đến ý thức là nói đến ý thức của con người, nói đến vật chất là nói đến giới tự nhiên, thế giới vật chất, nên bản chất mối quan hệ giữa ý chức và vật chất là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên mà con người đang sống trong đó. Ở đây, hai mặt trong vấn đề cơ bản của triết học được chủ nghĩa duy vật biện chứng đặt ra rất rõ ràng, và chủng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau:

    Mặt thứ nhất: Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì vị trí, vai trò của con người đối với giới tự nhiên như thế nào?

    Mặt thứ hai: Trong mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên thì khả năng nhận thức của con người về giới tự nhiên ra sao?

    Vân đề cơ bản của triết học đã, đang và chắc chắn sẽ còn nhiều quan điểm khác nhau. Một vài ý kiến trên chỉ để các bạn đồng nghiệp tham khảo với mong muốn góp phần làm cho việc học tập

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Triết Học
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật
  • Trong Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Những Cụm Từ Nào Thể Hiện Việc Lênin Đã Giải Quyết Trên Lập Trường Của Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng Hai Mặt Vấn Đề Cơ Bản Của Triết Học
  • Định Nghĩa Vật Chất Của Lê
  • Phạm Trù (Khái Niệm) “vật Chất” Giữ Vai Trò Gì Đối Với Chủ Nghĩa Duy Vật? Các Nhà Triết Học Duy Vật Trước Mác Đã Có Quan Niệm Thế Nào Về “vật Chất”? Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Lịch Sử Của Những Quan Niệm Đó?
  • Khái Niệm Chất Lượng Cho Vay Của Nhtm

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoạt Động Cho Vay Và Hình Thức Cho Vay Cơ Bản Của Ngân Hàng
  • Khái Niệm Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Vai Trò Của Vốn Đối Với Ngân Hàng Thương Mại
  • Khái Niệm, Vai Trò Của Hoạt Động Huy Động Vốn Của Ngân Hàng
  • Pháp Luật Về Tái Cơ Cấu Quản Trị Nội Bộ Của Ngân Hàng Thương Mại Ở Việt Nam
  • Trong hoạt động của ngân hàng thì cho vay là hoạt động chủ yếu đem lại thu nhập chính cho ngân hàng, cho vay còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy vấn đề chất lượng cho vay luôn được quan tâm thích đáng, nhưng thực chất chất lượng cho vay là gì?

    Một cách khái quát, chất lượng của một khoản vay được hiểu là lợi ích kinh tế mà khoản vay đó mang lại cho cả người đi vay và người cho vay. Một khoản vay của ngân hàng được coi là có chất lượng tốt khi nó mang lại lợi ích kinh tế cho cả ngân hàng và khách hàng, tức là vốn vay đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra một số tiền lớn đủ để trang trải chi phí, trả được gốc và lãi cho ngân hàng và có lợi nhuận, góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.

    Quan hệ cho vay có sự tham gia của hai chủ thể ngân hàng và khách hàng, mối quan hệ này được đặt trong sự vận động chung của nền kinh tế xã hội. Vì thế sẽ thật phiến diện khi xem xét chất lượng cho vay của ngân hàng chỉ từ góc độ của ngân hàng hay khách hàng. Việc xem xét chất lượng cho vay phải có sự đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau: từ phía ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.

    – Xét từ góc độ ngân hàng thì chất lượng cho vay thể hiện ở mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động này mang lại. Khi cho vay, điều mà ngân hàng quan tâm là khoản vay đó phải được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, được hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.

    – Xét từ góc độ khách hàng

    Một khoản tín dụng được khách hàng đánh giá là tốt khi nó thoả mãn được nhu cầu của họ. Mức độ thoả mãn của khách hàng thể hiện ở chỗ khoản tín dụng đó được cung ứng một cách đầy đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu vốn của họ với lãi suất, kỳ hạn, phương thức giải ngân, thu nợ hợp lý, các thủ tục vay vốn được tiến hành nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí.

    – Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội

    Chất lượng cho vay là khả năng đáp ứng những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong lĩnh vực mà khoản tín dụng ngân hàng tham gia hoạt động .

    Chất lượng các khoản tín dụng tốt đồng nghĩa với việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả, sản phẩm cung ứng với chất lượng tốt và giá thành hợp lý, đáp ứng nhu cầu trong nước, một phần cho xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên thị trường góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, ngoài ra nó còn thể hiện tính an toàn cao của hoạt động ngân hàng, nâng cao khả năng thanh toán, chi trả và hạn chế được rủi ro.

    Như vậy chất lượng tín dụng cao là thoả mãn được đồng thời cả ba mục tiêu của ngân hàng, của khách hàng và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Trong khi ba mục tiêu này lại có mặt mâu thuẫn với nhau: ngân hàng muốn đạt được lợi nhuận cao nhất từ các khoản vốn vay vì thế họ muốn khoản tín dụng đó có lãi suất cao mà lại được hoàn trả gốc và lãi đúng hạn; còn với khách hàng tiền lãi là một khoản chi phí, muốn đạt lợi nhuận cao họ phải tối thiểu hoá chi phí, nên họ mong muốn có được khoản vốn vay với mức lãi suất thấp; mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi hoạt động tín dụng của ngân hàng phải giải quyết được công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế công cộng, bảo vệ môi trường hướng tới việc phát triển kinh tế – xã hội một cách bền vững. Vì thế hoạt động tín dụng tốt là phải dung hoà được lợi ích của ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế – xã hội, có như vậy ngân hàng mới hoạt động và phát triển bền vững.

    * Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại

    Ngân hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ, trong đó ngân hàng sử dụng số vốn huy động được từ nền kinh tế để cho vay đối với khách hàng. Trong các hoạt động của ngân hàng thì tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng, tuy nhiên đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, ngân hàng luôn tìm cách khắc phục, hạn chế những rủi ro mà hoạt động tín dụng gây ra, nâng cao chất lượng tín dụng để mang lại sự ổn định đảm bảo cho mục tiêu an toàn và sinh lợi của Ngân hàng thương mại.

    Hơn nữa, ngân hàng Nhà nước kiểm soát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc và chính sách lãi suất đã làm ảnh hưởng tới mức cung tiền tệ. Sự tăng trưởng của hoạt động tín dụng là điều kiện cần thiết cho sự phát triển vững chắc của nền kinh tế, hoạt động tín dụng có hiệu quả sẽ làm mức cung ứng tiền luôn được điều chỉnh cho phù hợp với mức cầu tiền tệ trong nền kinh tế. Điều này góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, giá cả, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

    Như vậy, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng là vấn đề sống còn đối với hoạt động của ngân hàng. Nâng cao chất lượng tín dụng là nhu cầu bức thiết, nó không chỉ có ý nghĩa đối với ngân hàng thương mại mà còn có ý nghĩa với các chủ thể kinh tế và đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng tín dụng tạo cơ sở vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Khái niệm chất lượng cho vay của NHTM

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Cơ Sở Lí Luận Về Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Cho Vay Là Gì? Các Hình Thức Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại Hiện Nay
  • Khái Niệm Hoạt Động Cho Vay Của Ngân Hàng Thương Mại
  • Nguon Von Va Quan Ly Nguon Von Cua Ngan Hang Thuong Mai Doc
  • Câu 1: Khái Niệm Đặc Điểm Bản Chất Của Quá Trình Giáo Dục ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Thức Về Giá Trị Đạo Đức Quân Nhân Của Học Viên Sĩ Quan Quân Đội Hiện Nay
  • Tăng Cường Giáo Dục Và Rèn Luyện Kỷ Luật Cho Quân Nhân Trong Quân Đội
  • Hiểu Thế Nào Về Quân Nhân Và Sĩ Quan ?
  • Tăng Cường Công Tác Giáo Dục, Quản Lý Kỷ Luật Trong Quân Đội
  • Hai Bất Cập Lớn Trong Hệ Thống Giáo Dục Quốc Dân
  • Đạikaonlylove

    Tổng số bài gửi : 45

    Join date : 06/12/2011

    Age : 28

    Đến từ : thế giới bên kia

    Tiêu đề: Câu 1: Khái niệm đặc điểm bản chất của quá trình giáo dục ? 12/12/2012, 5:24 pm

    Câu 1: Khái niệm đặc điểm bản chất của quá trình giáo dục ?

    Khái niệm: Quá trình giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng với những nội dung, hình thức, pp giáo dục phù hợp để hình thành cho học sinh những phẩm chaatscuar người công dân theo yêu cầu của xã hội, của thời đại.

    Bản chất:

    + GD là quá trình 2 mặt được thực hiện bới hoạt động của nhà gd và hs thông qua hoạt động sống hàng ngày của hs.

    + Quá trình giáo dục là quá trình tác động biện chứng giữa hoạt động của gia đinh và ng đc gd.

    + Kết quả là những chuyển biến, tiến bộ của cuộc sống đc thể hiện trong ý thức, trong thái độ hành vi có văn hóa của hs.

    + Vì vậy thực chất của quá trình gd là một quá trình chuyển hóa những chuẩn mực xh thành hành vi, thói quen, thành phẩm chất nhân cách của hs.

    + Bản chất của quá trình giáo dục là việc tổ chức hợp lý hoạt động giao lưu 1 cách hợp lý cho thế hệ trẻ bằng những tác động có mục đích, có hẹ thống giúp cho thế hệ trẻ tự định hướng giá trị, chuyển đối ý thức thái động, hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội.

    – Đặc điểm của quá trình gd:

    + giáo dục là quá trình có tính mục đích

    _Hoạt động giáo dục luôn có mục đích rõ ràng đó là việc định hướng các giá trị xã hội cho HS.

    _ Mục đích giáo dục trong các nhà trường nhằm đào tạo thế hệ trẻ, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội theo yêu cầu của đất nước.

    + Giáo dục là một quá trình biện chứng

    _ GD là 1 quá trình lâu dài, liên tục, diễn ra suốt cuộc đời của con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong đó yếu tố chủ đạo, lực lượng chính là nhà giáo dục và GD trong nhà trường.

    _ Toàn bộ quá trình GD luôn có sự tác động biện chứng giữa đối tượng GD (HS) đối với các hoạt động khác. Nổi bật là mối quan hệ tác động bản chất giữa GV và HS.

    + Sản phẩm giáo dục là thành quả chung của các lực lượng giáo dục

    _Quá trình GD chịu sự tác động phức hợp của nhiều nhân tố, nhiều lực lượng, được thực hiện trong toàn bộ đời sống hàng ngày của HS. Vì vậy sản phẩm của quá trình GD (các sản phẩm nhân cách) là sản phẩm chung của nhiều lực lượng, của toàn xã hội trong đó GD nhà trường đóng vai trò nòng cốt. Điều này đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa các lực lượng giáo dục trong xã hội.

    +GD là 1 quá trình tuân theo quy luật số đông nhưng đồng thời cũng bị chi phối bởi những đặc điểm cá thể.

    _ GD được tiến hành trong một tập thể lớp, GV lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp với hầu hết học sinh trong lớp (hướng đến cái chung, ưu tiên cái chung).

    _ tuy nhiên trong những tình huống cụ thể hđgd và kết quả giáo dục lại phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân. Vì vậy trong quá trình giáo dục nhà gd cần phải nắm bắt được các đặc điểm cá nhân để có thể dự kiến và thực hiện các biện pháp gd mang tính cá biệt.

    + trong nhà trường quá trình giáo dục có quan hệ mật thiết với quá trình dạy học.

    _ Quá trình dạy học và quá trình giáo dục đều hướng đến giáo dục nhân cách cho hs. Vì vậy nó thống nhất với nhau cùng giáo dục con người theo yêu cầu xã hội.

    _ Mặt khác 2 quá trình này luôn tác động, hỗ trợ thúc đẩy nhau. dạy học (dạy chữ) là cơ sở, là điều kiện để dạy người. Ngược lại quá trình dạy học (dạy người) lại tạo điều kiện thúc đẩy quá trình dạy học.

    + Quá trình dạy học đc thực hiên trong cs hàng ngày thoongqua các hoạt động sống và giao lưu của trẻ.

    _ QTGD khác với dạy học ở chỗ nó không chỉ thực hiện trong các giờ trong nhà trường mà nó đc thực hiện trong toàn bộ cuộc sống hàng ngày, trong và ngoài nhà trường.

    _ Vì vậy toàn bộ hoạt động sống, giao tiếp, học tập, lao động của trẻ đều có thể diễn ra quá trình giáo dục đạt các mục đích giáo dục. Nhà gdục phải tận dụng điều này để phối hợp tiến hành hoạt động với các lực lượng giáo dục khác.

    Kim Hoàng – SP Lý KTCN K37 – CĐSP Nha Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Chương Trình Giáo Dục
  • Định Nghĩa 7 Thành Tố Của Quá Trình Giáo Dục
  • Luận Văn: Quản Lý Về Giáo Dục Pháp Luật Cho Học Sinh Phổ Thông, Hot
  • Luận Văn: Pháp Luật Về Đầu Tư Trong Giáo Dục Đại Học Ở Việt Nam, Hay
  • Giáo Dục Pháp Luật Cho Học Sinh Phổ Thông
  • Bài Tập Trắc Nghiệm Có Đáp Án Về Khái Niệm, Đồng Phân, Danh Pháp Và Tính Chất Vật Lý Của Este

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Nội Dung Chính Của Hiệp Định Evfta Và Evipa
  • Những Nội Dung Chính Trong Hiệp Định Evfta
  • Tìm Hiểu Về Hiệp Định Thương Mại Tự Do Evfta?
  • Bài 14: Enzim Và Vai Trò Của Enzim Trong Quá Trình Chuyển Hóa Vật Chất
  • Lý Thuyết Sinh Học 10 Bài 14
  • BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM CÓ ĐÁP ÁN VỀ KHÁI NIỆM – ĐỒNG PHÂN – DANH PHÁP VÀ TÍNH CHẤT VẬT LÍ CỦA ESTE.

    Câu 1: Hợp chất nào sau đây là este ?

    A. HCOOC 6H 5. B. HCOOCH 3. C. D. CH 3COOCH 3.

    Câu 3: Chất nào sau đây không phải là este ?

    Câu 4: Cho các chất có công thức cấu tạo sau đây :

    Những chất thuộc loại este là:

    A. (1), (2), (3), (4), (5), (6). B. (1), (2), (3), (5), (7).

    C. (1), (2), (4), (6), (7). D. (1), (2), (3), (6), (7).

    Câu 5: Công thức tổng quát của este tạo bởi axit đơn chức (RCOOH) và ancol đơn chức (R’OH) là:

    A. RCOOR’ B. R’OCOR C. R’OOCR Cả A, B, C

    Câu 6: Este no, đơn chức, mạch hở có công thức tổng quát là :

    Câu 7: Este no, 2 chức, mạch hở có công thức tổng quát là :

    Câu 8: Công thức tổng quát của este tạo bởi axit X đơn chức và ancol Y đa chức là:

    Câu 9: Công thức tổng quát của este tạo bởi axit X đa chức và ancol Y đơn chức là:

    Câu 10: Công thức tổng quát của este tạo thành từ axit đa chức (n chức) và ancol đa chức (m chức) là:

    Câu 11: Có các nhận định sau :

    (1) Este là sản phẩm của phản ứng giữa axit cacboxylic và ancol ;

    (2) Este là hợp chất hữu cơ trong phân tử có nhóm -COO- ;

    (3) Este no, đơn chức, mạch hở có công thức phân tử C nH 2nO 2, với n ≥ 2 ;

    (4) Hợp chất CH 3COOC 2H 5 thuộc loại este.

    Các nhận định đúng là :

    A. (1), (2), (3), (4). B. (1), (3), (4). C. (1), (2), (4). (2), (3), (4).

    4 đồng phân B. 3 đồng phân C. 5 đồng phân D. 6 đồng phân

    2 đồng phân B. 3 đồng phân C. 4 đồng phân D. 5 đồng phân

    A. 5 đồng phân B. 7 đồng phân 9 đồng phân D. 10 đồng phân

    A. 4. B. 5. C. 6. D. 3.

    Câu 16: Số đồng phân hợp chất hữu cơ đơn chức, mạch hở ứng với công thức phân tử C 4H 8O 2

    A. 8. 6. C. 4. D. 2.

    Câu 17: Số hợp chất hữu cơ đơn chức có CTPT là C 4H 8O 2 phản ứng với dung dịch AgNO 3/NH 3 sinh ra Ag là?

    A. 4. B. 2. C. 1. D. 3.

    A. 8. B. 5. C. 4. D. 6.

    A. etyl axetat. B. metyl propionat. C. metyl axetat. D. propyl axetat.

    Câu 21: Este etyl fomat có công thức là :

    A. CH 3COOCH. B. C. HCOOCH=CH 2. D. HCOOCH 3.

    Câu 22: Este vinyl axetat có công thức là :

    Câu 23: Este metyl acrylat có công thức là :

    A. Metyl acrylat. B. Metyl metacrylat. Metyl metacrylic. D. Metyl acrylic.

    Câu 25: benzyl axetat có CTCT là:

    Chúc các em đạt điểm số thật cao trong kì thi sắp đến!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Hóa Lớp 12
  • Giáo Án Hóa Học 12 Tiết 2: Chương I : Este
  • Giáo Án Môn Hóa Học Lớp 12 Năm Học 2021
  • Lý Thuyết Và Bttn 12 Ôn Thi Tn
  • Khái Niệm Nào Đúng Nhất Về Văn Thuyết Minh
  • Tin tức online tv