Khái Niệm Chung Về Thuật Toán Nhận Diện Khuôn Mặt Opencv

--- Bài mới hơn ---

  • Bí Thư Đại Từ Bị Tố O Ép Doanh Nghiệp: Ubkt Thái Nguyên Kết Luận Thế Nào?
  • Ông Huỳnh Uy Dũng Tuyên Bố Sẽ Đóng Cửa Khu Du Lịch Đại Nam
  • Thanh Hóa: Doanh Nghiệp Huy Lâm Tiếp Tục Bị Sở Xây Dựng O Ép?
  • Otaku Là Gì? Như Thế Nào Sẽ Được Gọi Là Một Otaku?
  • Định Nghĩa Otaku Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Otaku
  • OpenCV (Open source computer vision) là một thư viện mã nguồn mở, hàng đầu cho thị giác máy tính (computer vision), xử lý ảnh và máy học, và các tính năng tăng tốc GPU trong hoạt động thời gian thực. OpenCV được xây dựng để cung cấp một cơ sở hạ tầng chung cho các ứng dụng thị giác máy tính (đặc biệt là thuật toán nhận diện khuôn mặt OpenCV) và để đẩy nhanh việc sử dụng nhận thức của máy trong các sản phẩm thương mại. Là một sản phẩm được cấp phép BSD, OpenCV giúp các doanh nghiệp dễ dàng sử dụng và sửa đổi mã.

    Thư viện có hơn 2500 thuật toán được tối ưu hóa, bao gồm một bộ toàn diện về cả thuật toán máy tính cổ điển, hiện đại và thuật toán machine learning (Machine learning là một linh vực con của trí tuệ nhân tạo AI). Các thuật toán này có thể được sử dụng để phát hiện và nhận diện khuôn mặt, nhận dạng đối tượng, phân loại hành động của con người trong video, theo dõi chuyển động của camera, theo dõi các vật thể chuyển động, trích xuất mô hình 3D của các vật thể, tạo ra các đám mây điểm 3D từ camera stereo, ghép các hình ảnh lại với nhau để tạo ra độ phân giải cao của toàn bộ cảnh vật, tìm hình ảnh tương tự từ cơ sở dữ liệu hình ảnh, loại bỏ mắt đỏ khỏi hình ảnh được chụp bằng đèn flash, theo dõi chuyển động của mắt, nhận ra cảnh quan và thiết lập các điểm đánh dấu để che phủ nó với các yếu tố thực tế,… Thuật toán nhận diện khuôn mặt OpenCV có hơn 47 nghìn người dùng cộng đồng và số lượng tải xuống ước tính hơn 18 triệu. Thư viện được sử dụng rộng rãi trong các công ty, nhóm nghiên cứu và bởi các cơ quan chính phủ.

    Bên cạnh các công ty đã có thương hiệu lớn như Google, Yahoo, Microsoft, Intel, IBM, Sony, Honda, Toyota đang sử dụng thuật toán nhận diện khuôn mặt Open CV, có rất nhiều công ty khởi nghiệp như Application Minds, VideoSurf và Zeitera sử dụng OpenCV. Thư viện OpenCV được triển khai sử dụng trải rộng phạm vi từ ghép các hình ảnh đường phố với nhau, phát hiện sự xâm nhập trong video giám sát ở Israel, giám sát thiết bị ở Trung Quốc, giúp robot điều hướng và nhặt đồ vật tại Willow Garage, phát hiện tai nạn đuối nước ở bể bơi ở châu Âu, kiểm tra mảnh vỡ trên đường băng ở Thổ Nhĩ Kỳ, kiểm tra nhãn dán trên các sản phẩm trong các nhà máy trên khắp thế giới để phát hiện khuôn mặt nhanh chóng ở Nhật Bản.

    Thuật toán nhận diện khuôn mặt Open CV có giao diện C ++, Python, Java và MATLAB và hỗ trợ Windows, Linux, Android và Mac OS. OpenCV chủ yếu hướng tới các ứng dụng tầm nhìn thời gian thực và tận dụng các hướng dẫn MMX và SSE khi khả dụng. Hiện các nhà lập trình vẫn đang nghiên cứu về một giao diện CUDA và OpenCL đầy đủ tính năng, bao gồm hơn 500 thuật toán và gấp 10 lần số hàm được tạo và hỗ trợ các thuật toán đó. OpenCV được viết nguyên bản bằng C ++ và có giao diện templated hoạt động trơn tru với các thùng chứa STL. OpenCV được tạo ra đã góp phần không nhỏ trong công cuộc cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay.

    Cùng tìm hiểu thêm các chức năng của OpenCV tại bài viết sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Về Opencv Có Thể Bạn Chưa Biết!
  • Opencv Là Gì? Học Computer Vision Không Khó!
  • Xử Lý Ảnh Với Opencv: Lọc Số Trong Ảnh
  • Xử Lý Ảnh Với Opencv Trong C++ Cho Người Mới Bắt Đầu
  • Oxidation & Reduction (Redox Reaction)
  • Hiểu Đúng Về Khái Niệm Khám Tầm Soát Ung Thư Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Nhân Số 0: Khái Niệm Gây Hiểu Lầm Và Định Kiến Cần Loại Bỏ
  • Pec: Khái Niệm Bệnh Nhân Giáo Dục
  • Giáo Dục Bệnh Nhân: Đau Ngực (Khái Niệm Cơ Bản)
  • Xác Định F0, F1, F2, F3… Liên Quan Dịch Covid
  • Bệnh Huyết Trắng Bội Nhiễm Là Gì ?
  • Theo WHO – Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam nằm trong 50 nước thuộc top 2 bản đồ ung thư, những nước có tỷ lệ người mắc ung thư cao nhất. Vì vậy việc khám tầm soát ung thư được Nhà nước khuyến khích và đẩy mạnh.

    1. Tổng quát chung về khám tầm soát ung thư

    1.1. Khái niệm khám tầm soát ung thư

    Khám tầm soát ung thư là áp dụng các thủ thuật, phương pháp y tế vào hỗ trợ phát hiện sớm các tế bào trong cơ thể bị tổn thương, các bệnh lý ác tính dựa trên biểu hiện bệnh. Từ đó, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị phù hợp nhằm kéo dài cuộc sống và giảm tỷ lệ tử vong do phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn.

    Tầm soát ung thư là biện pháp giúp ngăn ngừa và phòng tránh các yếu tố nguy cơ gây nên bệnh ung thư, tiêu diệt mầm mống tổ chức ung thư khi chưa kịp di căn và xâm lấn ra xung quanh các cơ quan khác hoặc chưa có biểu hiện ra bên ngoài. Việc phát hiện sớm và kịp thời loại bỏ các tế bào gây ung thư gia tăng tỷ lệ điều trị khỏi bệnh thành công lên đến 90%, kéo dài tuổi thọ của người mắc bệnh, giảm chi phí điều trị, và không ảnh hưởng đến các chức năng khác.

    Vì vậy, bước khám tầm soát này là việc làm cần thiết và thiết yếu đối với mỗi người dù đang trong trạng thái khỏe mạnh, giảm tỷ lệ mắc bệnh ung thư cao. Theo các chuyên gia y tế và các bác sĩ khuyến cáo, việc kiểm tra và sàng lọc ung thư cần được thực hiện ít nhất 2 năm/lần, theo định kỳ hoặc theo chỉ định của bác sĩ.

    Đối tượng cần tầm soát ung thư: Theo Bộ Y tế, mỗi người dân đều nên có ý thức tự bảo vệ sức khỏe bản thân. Thông thường, khám sàng lọc và tầm soát ung thư nhắm vào đối tượng có triệu chứng của bệnh hoặc dễ mắc ung thư.

      Đối tượng càng lớn tuổi nguy cơ mắc ung thư càng cao, tầm từ 40 – 50 tuổi nên đi khám kiểm soát ung thư.
    • Những đối tượng có người thân trong gia đình từng mắc bệnh ung thư do yếu tố di truyền thường có nguy cơ mắc ung thư cao hơn.
    • Đối với phụ nữ trung niên (30 – 40 tuổi) tỷ lệ mắc ung thư vú rất cao, đặc biệt là phụ nữ thừa cân, thời kỳ mãn kinh.
    • Người trẻ tuổi hiện nay cũng rất dễ mắc ung thư đại tràng, dạ dày do chế độ ăn uống không điều độ, thất thường.

    1.2. Phân biệt khám tầm soát ung thư và khám sức khỏe định kỳ

    Thăm khám định kỳ: là khám tổng thể, khái quát về tình trạng sức khỏe của bản thân, được các bác sĩ tư vấn và sàng lọc kết quả thông qua quá trình thăm khám bệnh, nhằm tìm ra những thương tổn bên trong cơ thể hoặc các bệnh lý, để từ đó đưa ra phương thức điều trị hợp lý, chuẩn xác. Khám sức khỏe định kỳ là bước vô cùng quan trọng nếu muốn bảo vệ sức khỏe và phòng chống các bệnh tật có thể gây biến chứng lâu dài, có nguy cơ trở thành bệnh mãn tính.

    Sàng lọc phát hiện ung thư sớm: là khám chuyên sâu về bệnh lý ung thư, thường nhắm vào đối tượng có biểu hiện của bệnh hoặc dễ mắc bệnh ung thư. Bước sàng lọc ung thư là phát hiện những tổn thương tiền ung thư, có khả năng chuyển biến thành ung thư cao.

    2. Gói khám tầm soát ung thư bao gồm những gì?

    • Xét nghiệm máu và nước tiểu: để cho ra các chỉ số tìm chất chỉ điểm ung thư
    • Chẩn đoán hình ảnh: bằng phương pháp chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính CT, chụp MRI, siêu âm
    • Thăm dò chức năng: Nội soi đường tiêu hóa (gồm thực quản, dạ dày, trực tràng, đại tràng)…
    • Ung thư vú: Phụ nữ trên 40 tuổi có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao, nên đi chụp X-quang tuyến vú định kỳ để kiểm soát và phòng ngừa các tế bào ung thư vú có cơ hội phát triển.
    • Ung thư cổ tử cung: loại ung thư thường xảy ra với phụ nữ ở bất kỳ độ tuổi nào, nên đi tầm soát ung thư 1 năm/lần.
    • Ung thư đại trực tràng: sử dụng phương pháp nội soi để tìm ra các tế bào gây ung thư
    • Ung thư phổi: thường xảy ra đối với những đối tượng hay hút thuốc hoặc thường xuyên tiếp xúc với khói bụi, ô nhiễm, đa phần là ở nam giới.
    • Ung thư tuyến tiền liệt: nam giới từ 40 tuổi trở lên nên đi tầm soát ung thư tuyến tiền liệt.

    3. Vai trò của khám tầm soát ung thư

    3.1. Tầm quan trọng của khám tầm soát ung thư

    Theo thống kê từ Viện nghiên cứu phòng chống ung thư tại Việt Nam, có hơn 68.000 ca mắc ung thư mới vào năm 2000, năm 2010 con số lên đến 126.000 ca và dự kiến 190.000 vào năm 2021. Số người chết vì ung thư tăng lên chóng mặt và nguyên nhân chủ yếu do người bệnh quá chủ quan sức khỏe, phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, dẫn đến việc điều trị trở nên khó khăn. Do đó, tầm soát ung thư là việc làm thiết yếu và cần được khuyến khích đẩy mạnh.

    Khám sàng lọc ung thư giúp phát hiện chất chỉ điểm gây ung thư sớm, từ đó người bệnh sẽ chủ động trong việc điều trị, diệt tận gốc bệnh, tránh nguy cơ di căn nặng và giúp tiết kiệm chi phí chữa trị. Đồng thời, người bệnh cũng có tâm lý thoải mái hơn khi khám chữa bệnh.

    • Nên nhịn ăn và không uống nước ngọt, cà phê, rượu bia, các chất có gas, chất kích thích…trong vòng 12 tiếng trước khi thực hiện xét nghiệm máu và siêu âm.
    • Không nội soi khi đang trong thời kỳ kinh nguyệt (đối với nữ)
    • Không quan hệ tình dục trước khi thăm khám được diễn ra (đối với nữ)
    • Trước khi tiến hành siêu âm, nên uống nhiều nước và nhịn tiểu

    3.2. Một số thông tin lưu ý khi khám tầm soát ung thư tại bệnh viện

    Với những thông tin mà chúng tôi cung cấp, hy vọng các bạn đã nắm rõ toàn bộ thông tin về bước khám tầm soát ung thư và chuẩn bị sẵn sàng tâm lý để bảo vệ sức khỏe cho bản thân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Về Bệnh Viện, Phòng Khám, Hệ Thống Bảo Lãnh
  • Cơ Chế Bảo Vệ Tự Nhiên Của Cơ Thể Với Mầm Bệnh (Vi Khuẩn, Virus, Nấm,..)
  • Các Nguyên Nhân Gây Bệnh Cho Vật Nuôi
  • Pathogen (Mầm Bệnh) Là Gì?
  • Định Nghĩa Toàn Quyền Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Toàn Quyền
  • Khái Niệm Chung Về Thực Tập Sư Phạm Mầm Non

    --- Bài mới hơn ---

  • Năng Lực Trách Nhiệm Hình Sự Của Cá Nhân
  • Luận Án: Phát Triển Năng Lực Cá Nhân Con Người Việt Nam, Hay
  • Nghị Luận Xã Hội Về Ý Chí Nghị Lực Phi Thường Của Con Người Trong Cuộc Sống Hiện Nay
  • Luận Văn Bồi Dưỡng Năng Lực Tư Duy Sáng Tạo Cho Học Sinh Giỏi Trung Học Phổ Thông Thông Qua Dạy Học Chủ Đề Chuẩn Độ
  • Những Điều Cơ Bản Cần Biết Về Sự Sáng Tạo
  • Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC TẬP SƯ PHẠM

    I. Khái niệm chung về thực tập sư phạm

    Thực tập sư phạm là hoạt động giáo dục đặc thù của các trường sư phạm mầm non nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cần thiết của nhà giáo cho giáo sinh theo mục tiêu đào tạo đã đề ra.

    Nhà giáo là người làm nhiệm vụ dạy học và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đã quy định trong Luật giáo dục 1998, sinh viên trong các trường sư phạm được đào tạo không chỉ về kiến thức chuyên môn thuộc các lĩnh vực khoa học – công nghệ mà còn cả về nghiệp vụ sư phạm. Lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ trong các trường sư phạm có nhiệm vụ hình thành những kiến thức về dạy học, bồi dưỡng lý tưởng đạo đức và rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, nghệ thuật sư phạm cho giáo sinh. Lĩnh vực đào tạo sư phạm học bao gồm các bộ môn giáo dục học, tâm lý học, lý luận dạy học, giáo học pháp bộ môn và thực tập phạm.

    Vấn đề thực tập sư phạm được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

    Thực tập sư phạm “là hoạt động thực tiễn của giáo sinh tại các trường phổ thông sau phần học lý thuyết về nghề sư phạm nhằm mục đích củng cố và nâng cao nhận thức và lòng yêu nghề dạy học, áp dụng các kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kỹ năng dạy học, công tác chủ nhiệm. Nội dung thực tập sư phạm đòi hỏi vận dụng tổng hợp các kiến thức, nghiệp vụ được trang bị vào hoạt động cụ thể theo từng loại hình công tác giáo dục và giảng dạy”. Theo quan niệm trên, thực tập sư phạm là hoạt động thực hành của giáo sinh các trường sư phạm và được tiến hành ở các cơ sở thực tập sư phạm.

    Thực tập sư phạm được coi là công đoạn quan trọng trong quá trình đào tạo người giáo viên với thời gian mà giáo sinh được tiếp xúc trực tiếp với thế giới sinh động của hoạt động nghề nghiệp nhằm giúp cho các em có thể củng cố, nâng cao, mở rộng các kiến thức, kỹ năng đã học ở trường sư phạm. Thực tập sư phạm được coi là giai đoạn kiểm tra sự chuẩn bị về mặt lý luận cũng như thực hành của giáo sinh đối với việc độc lập công tác của họ và hình thành những khả năng rộng lớn trong việc sáng tạo giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáo dưỡng của người giáo viên tương lai. Như vậy, thực tập sư phạm đã thực sự trở thành hoạt động thực hành nhằm vận dụng kiến thức, kỹ năng, hình thành khả năng giải quyết công việc của giáo sinh. Ở góc độ quản lý, thông qua thực tập sư phạm mà nhà trường có thể xác định được mức độ chuẩn bị về lý luận và thực hành của giáo sinh cho công việc tương lai của họ sau này.

    Thực tập sư phạm là khâu hết sức quan trọng trong việc đào tạo năng lực sư phạm cho người giáo viên trong tương lai. “Tất cả sinh viên các trường đại học sư phạm trong quá trình học tập đều phải tham gia thực tập sư phạm từ năm thứ I (từ đầu học kỳ II). Đó là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp – sư phạm, hình thành nhân cách của người giáo viên”. Theo quan niệm trên thì thực tập sư phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm cũng như ở các cơ sở thực tập sư phạm.

    Thực tập sư phạm đã trở thành một khâu trong chương trình đào tạo người giáo viên tương lai khi xem xét nó như một quá trình dạy học để thực hiện những nhiệm vụ dạy học cơ bản như rèn luyện kỹ năng, kiểm tra và đánh giá kết quả tổng hợp của cả khoá học của giáo sinh sư phạm. Với quan niệm trên, thực tập sư phạm được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp dạy học.

    Thực tập sư phạm được coi là một bước trong quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm để giáo sinh tiến hành rèn luyện kỹ năng sư phạm bằng việc thực hiện một cách tương đối độc lập nhiệm vụ dạy học và giáo dục. Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng sư phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên và thực tập sư phạm là giai đoạn luyện tập nâng cao ở trên đối tượng thực.

    Thực tập sư phạm lại được coi là hoạt động thực hành của giáo sinh trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố khác của quá trình sư phạm. Khi giáo sinh thực hiện nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ mới như môi trường mới, thầy mới, trò mới, công việc mới và vị thế mới. Trong các mối quan hệ mới đó, để thích nghi, họ phải huy động tất cả những gì đã được chuẩn bị và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo tri thức sư phạm vào tình huống không quen thuộc. Quan niệm trên nhấn mạnh dạy học và giáo dục là hoạt động đa dạng vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật, dạy học không phải bắt hoạt động học thích ứng với hoạt động dạy mà dạy phải thích ứng với hoạt động học. Thực tập sư phạm là quá trình thích ứng của giáo sinh với các nhiệm vụ của người giáo viên. Sự thích ứng này chỉ có được khi giáo sinh được chuẩn bị tốt, có điều kiện để rèn luyện kỹ năng sư phạm.

    Từ những phân tích trên có thể hiểu thực tập sư phạm kỹ thuật là hoạt động thực hành về nghiệp vụ sư phạm của giáo sinh sư phạm kỹ thuật nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cơ bản để tổ chức tốt hoạt động dạy học cũng như giáo dục, hình thành và phát triển những phẩm chất cơ bản của người giáo viên dạy nghề.

      Đặc điểm TTSP của giáo sinh SPKT

    Thực tập sư phạm là nội dung thuộc chương trình đào tạo sư phạm kỹ thuật cho giáo viên dạy nghề ở các trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật. Việc tiến hành nhiệm vụ TTSP của giáo sinh cũng có những nét đặc trưng nhất định của nó.

    Mục tiêu TTSP của giáo sinh SPKT là hình thành, rèn luyện và phát triển năng lực dạy học kỹ thuật – nghề nghiệp, năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục ở các trường dạy nghề.

    Đối tượng thực tập sư phạm là các lớp dạy nghề có trình độ bán lành nghề cũng như lành nghề. Học sinh học nghề ngắn hạn cũng như dài hạn có sự đa dạng về trình độ nhận thức, đặc điểm tâm – sinh lý nhưng đều có mục tiêu chung là học nghề để sau này tham gia vào cuộc sống lao động nghề nghiệp. Vì vậy, học sinh rất tích cực và linh hoạt trong quá trình học lý thuyết cũng như thực hành nghề. Tuy nhiên, học sinh học nghề đến từ nhiều vùng khác nhau nên có những khác biệt trong phong cách học tập cũng như cách ứng xử. Học sinh về cơ bản là tự lập, sống xa gia đình. Do lưu lượng học sinh học nghề phát triển nhanh trong những năm vừa qua nên ký túc xá không đủ đáp ứng nhu cầu ở làm cho công tác quản lý, giáo dục học sinh gặp nhiều khó khăn khi tiến hành hoạt động giáo dục của giáo sinh.

    Người hướng dẫn thực tập sư phạm ở các trường dạy nghề hầu hết học từ các trường kỹ thuật được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm ở Bậc I, II. Theo số liệu thống kê của Tổng cục dạy nghề thì số GVDN chính qui là 6300, trong đó, trình độ trên ĐH 2%, trình độ ĐH, CĐ 69%, trình độ THKT và trung học SPKT 15%, công nhân kỹ thuật 14%. GV thực hành có tay nghề bậc 3 là 35,6%; bậc 4: 23%; bậc 5: 24,4%; bậc 6 và 7: 17%. Chính vì vậy nên một số người có quan niệm về TTSP chưa đúng, phương pháp sư phạm của một số giáo viên thực hành còn mang tính chất truyền nghề nên sự định hướng cho giáo sinh cũng có những hạn chế nhất định.

      Vai trò của TTSP: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Giáo viên dạy nghề là người làm công tác dạy học và giáo dục trong các cơ sở dạy nghề. Giáo viên dạy nghề phải có phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm.

    Ở GVDN có những nét khác biệt so với giáo viên của các bộ phận khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.

    Việc đào tạo nghề có nhiều cấp độ khác nhau, nhiều nghề khác nhau, các ngành nghề luôn biến động theo sự thay đổi của khoa học, kỹ thuật công nghệ trong sản xuất và yêu cầu thị trường lao động.Vì vậy, GVDN cần có sự thích ứng nhanh với sự phát triển của khoa học và công nghệ.

    Đội ngũ GVDN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều trình độ khác nhau. Có 50% GVDN là người tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ, THCN; 30% tốt nghiệp các trường SPKT; số còn lại là thợ bậc cao và kỹ thuật viên trung học đã qua sản xuất.

    Năng lực nghề nghiệp của GVDN là điều kiện cần thiết để hoạt động nghề có hiệu quả. Trong cấu trúc năng lực nghề nghiệp của giáo viên dạy nghề có các thành tố như tri thức và kỹ năng chuyên môn khoa học- công nghệ, năng lực sư phạm kỹ thuật. Năng lực nghề nghiệp được hình thành thông qua đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, trong đó, thông qua đào tạo là quan trọng.

    3.1. TTSP là môi trường thực hành sư phạm: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Bất cứ một hoạt động nào cũng diễn ra trong một môi trường nhất định, hoạt động sư phạm không có ngoại lệ. Môi trường có hai mối quan hệ ràng buộc là ảnh hưởng và thích nghi, vì thế nhiệm vụ của nhà sư phạm là phải tiến hành khai thác những ảnh hưởng tốt, hạn chế những ảnh hưởng xấu cũng như tìm kiếm phương thức thích nghi ở mức cao nhất để hoạt động thực hành sư phạm của giáo sinh đạt kết quả.

    Khi giáo sinh tiến hành giải quyết các nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ mới với môi trường mới, thầy mới, trò mới, công việc mới và vị thế mới mà những cái này họ đã chưa được làm quen hoặc làm quen dưới dạng giả định trong khi học ở trường sư phạm. Trong các mối quan hệ mới đó để thích nghi, họ phải huy động tất cả những gì đã được trường sư phạm chuẩn bị trước và dịch chuyển độc lập, linh hoạt, sáng tạo vào tình huống không quen thuộc, qua đó, có được những hiểu biết mới – có thể là những kiến thức khoa học, có thể chưa đạt, thậm chí không đạt đến tri thức khoa học. Điều đó không quan trọng, bởi giá trị của những hiểu biết mà giáo sinh có được khi thực hành sư phạm độc lập trong môi trường mới là sự nuôi dưỡng lòng khát khao tìm kiếm, khám phá, niềm say mê với hoạt động thực tiễn sư phạm và ý thức, thói quen làm việc độc lập, sáng tạo ở họ. Với ý nghĩa trên, chúng ta cần chuẩn bị được môi trường thực tập sư phạm hợp lý về các điều kiện, phương tiện và thái độ.

    Chuẩn bị về thái độ có nghĩa là giúp giáo sinh nhận thức rõ vị trí, vai trò và ý nghĩa của thực tập sư phạm trong quy trình đào tạo người giáo viên cũng như việc chuẩn bị hành trang bước vào nghề dạy học. Việc làm này được tiến hành khi giới thiệu chương trình đào tạo của trường sư phạm, qua đó, làm rõ vị trí của các môn học, các hoạt động giáo dục nhất là những môn học và các hoạt động mang tính nghiệp vụ như học tập các môn Tâm lý học, Giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn, kiến tập và thực tập sư phạm .v.v…

    Để thể hiện hứng thú và niềm say mê với hoạt động thực tập sư phạm không chỉ cần giáo sinh có nhận thức rõ về ý nghĩa của hoạt động thực tập sư phạm với dự án học đường, dự án nghề nghiệp mà họ còn phải có những điều kiện nhất định để thực hiện có kết quả hoạt động đó. Những điều kiện đó là tâm – sinh lý cá nhân, tâm lý – xã hội và nền kinh tế – văn hóa – xã hội.

    Chính những thành công nhỏ mà mỗi giáo sinh đạt được trong từng công việc của đợt thực tập sư phạm không chỉ có ý nghĩa đào tạo đối với mỗi người, mà còn nuôi dưỡng, phát triển tình yêu đối với nghề dạy học nói chung và công tác thực tập sư phạm nói riêng.

    Việc tổ chức cho giáo viên mầm non sinh tham gia thực tập “tại địa phương” một cách thuận lợi, tạo điều kiện cho họ biết cách phát huy hết tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong công tác thực hành sẽ giữ vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực tập sư phạm của sinh viên.

    Việc tiến hành tổng kết, đánh giá được kết quả thực tập sư phạm một cách khách quan, công bằng và công khai bằng những thang đánh giá rõ ràng, phù hợp với tính chất từng hoạt động, với yêu cầu thực hành bộ môn, thực hành nghề sẽ tạo ra niềm tin, sự phấn khởi ở giáo sinh về công tác thực hành sư phạm.

    Tránh những biểu hiện như sự chuẩn bị chưa chu đáo, tổ chức thực hành không mang tính khoa học, thiếu sự phối hợp ăn ý giữa trường sư phạm với các “trường địa phương”, tổng kết đánh giá không tương xứng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả rèn luyện kỹ năng sư phạm nói riêng, kết quả đào tạo nói chung và thái độ đối với nghề của giáo sinh sư phạm.

    3.2. TTSP là phương pháp rèn luyện năng lực sư phạm: Khái niệm chung về thực tập sư phạm mầm non

    Thực tập sư phạm được thực hiện nhằm hình thành và phát triển năng lực sư phạm kỹ thuật cho người giáo viên dạy nghề. “Trường sư phạm là một trường đào tạo nghề” thể hiện rõ tính chuyên nghiệp trong toàn bộ hoạt động đào tạo thông qua việc hình thành và phát triển các kỹ năng nghề nghiệp gắn bó với thực tiễn sinh động của các trường dạy nghề. Năng lực sư phạm có cấu trúc phù hợp với hoạt động sư phạm, được hình thành và phát triển trong quá trình rèn luyện của người giáo viên tương lai, tạo nên sự trưởng thành trong nghề nghiệp. Quá trình đào tạo phải hình thành được các kỹ năng nghề nghiệp cơ bản, cần thiết và khả dụng. Những năng lực sư phạm được tiếp tục hình thành và phát triển trong quá trình thực tập sư phạm.

    Năng lực dạy các bài học lý thuyết và thực hành nghề. Năng lực này được biểu hiện qua các kỹ năng sư phạm.

    • Kỹ năng phân tích chương trình đào tạo. Kỹ năng phân tích chương trình đào tạo ngành, nghề mà mình sẽ tiến hành dạy học; chương trình môn học, từ phân tích chương trình các môn học mà có kỹ năng xác định nội dung dạy học cho một bài học.
    • Kỹ năng nghiên cứu tài liệu giảng dạy các môn học. Giáo sinh biết nghiên cứu giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo xác định các nội dung dạy học cho mỗi chương, mỗi phần, mục… và được cụ thể hoá ở mỗi bài học, tiết học.

    3) Kỹ năng soạn bài và chuẩn bị cho lên lớp. Giáo sinh thực hiện quy trình soạn giáo án lý thuyết cũng như thực hành nghề. Với sự hướng dẫn nhất định của giáo viên, giáo sinh soạn giáo án theo mẫu viết đề cương bài giảng và chuẩn bị phương tiện, thiết bị cùng các điều kiện khác cho quá trình lên lớp. Trong quá trình thực tập sư phạm, giáo sinh sẽ nhận thấy rằng bài soạn không phải là giáo trình, sách giáo khoa mà bài soạn phải xác định được từng hoạt động, thao tác mà người dạy cũng như học cần thực hiện để khám phá, lĩnh hội khái niệm. Bài soạn với những nội dung khoa học về chuyên môn đã được xử lý về mặt sư phạm để dựa theo đó, giáo viên tiến hành tổ chức quá trình dạy học.

    4) Kỹ năng viết, vẽ trên bảng. Đây là kỹ năng mà giáo sinh dành nhiều thời gian luyện tập để giáo án bảng được trình bày một cách khoa học và thể hiện rõ nội dung cơ bản của bài dạy. Những hạn chế của giáo sinh sư phạm kỹ thuật là viết chữ xấu trong đó có việc viết bảng rất khó đọc nhất là với các công thức, ký hiệu. Trong quá trình thực tập sư phạm, kỹ năng này được luyện tập và tiến triển có tốt hơn.

    5) Kỹ năng thể hiện thao tác đi – đứng, ra vào lớp, đi lại trong lớp học. Giáo viên có kỹ năng thể hiện thao tác đi – đứng ra vào lớp, đi lại trong lớp học cho phù hợp, tránh những động tác thừa trong giờ dạy. Trong dạy học thực hành, giáo sinh có điều kiện vận dụng những hiểu biết để biết tổ chức dạy một bài thực hành cơ bản cũng như nâng cao, đảm bảo an toàn cho học sinh khi thao tác trên các thiết bị.

    6) Kỹ năng chuẩn bị, sử dụng được các phương tiện, thiết bị dạy học. Kỹ năng sử dụng được các phương tiện dạy học phổ biến như dùng các mô hình, bản vẽ, phim và máy chiếu Overhead, máy chiếu đa năng, máy tính và các thiết bị kết nối máy tính. Giáo sinh phải biết cách rèn luyện những cách thức khác nhau để sử dụng được phương tiện dạy học hiện đại sao cho trở nên thiết thực, đảm bảo tính sáng tạo. Đối với các bài dạy thực hành, giáo sinh có cơ hội thử nghiệm kỹ năng nghề với vị thế là người dạy nghề cho người khác. Qua theo dõi thực tập sư phạm, chúng tôi nhận thấy một số giáo sinh lúc ban đầu dạy thực hành nghề rất lúng túng trong thao tác mẫu cũng như quan sát, uốn nắn học sinh thao tác nhưng cùng với thời gian luyện tập, kỹ năng của họ đã vững vàng hơn.

    7) Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết. Dù phương tiện thiết bị dạy học có hiện đại và hợp lý đến đâu thì giáo viên vẫn phải sử dụng ngôn ngữ trong việc tổ chức, thiết kế và thi công bài học. Trong thực tập sư phạm, giáo sinh rèn luyện để biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ và tình cảm của mình bằng ngôn ngữ chính xác, trong sáng, giàu hình ảnh và dễ hiểu, biết trình bày một nội dung sâu sắc bằng những hình thức giản dị, rõ ràng.

    8) Kỹ năng dự giờ, rút kinh nghiệm. Biết nhận xét đánh giá bài dạy để tự hoàn thiện bản thân đồng thời trao đổi, học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp. Qua dự giờ, giáo sinh cũng rèn luyện khả năng quan sát học sinh, theo dõi mọi diễn biến trong nhận thức và tình cảm.

    9) Việc phối hợp kỹ năng dạy học để thể hiện trọn vẹn nội dung bài dạy. Để rèn luyện kỹ năng thể hiện trọn vẹn các bài dạy được giao, giáo sinh phải biết phối hợp được các kỹ năng viết, nói, điệu bộ, khả năng bao quát học sinh khi giảng bài, làm chủ được mọi tình huống phát sinh trong quá trình lên lớp, vận dụng được các phương pháp dạy học. Giáo sinh tổ chức được từng bước lên lớp, tiến tới thành thục và chủ động trong quá trình thực hiện các bước lên lớp.

    10) Kỹ năng kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả bài học. Qua soạn các bài kiểm tra, tổ chức và đánh giá kết quả kiểm tra mà giáo sinh sẽ rèn luyện được kỹ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Cũng thông qua công việc này, giáo sinh biết nhìn nhận lại chính bản thân mình để có cố gắng nhiều hơn.

    • Kỹ năng hiểu học sinh trong quá trình giáo dục như hiểu được đặc điểm nhận thức, tình cảm cũng như các đặc điểm tâm lý khác của học sinh.
    • Kỹ năng xây dựng kế hoạch cho các hoạt động sư phạm. Biết tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục, đưa ra kế hoạch để đảm bảo sự thống nhất của các tác động tới học sinh.
    • Kỹ năng hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục. Kỹ năng hình dung được hiệu quả của các tác động giáo dục để tổ chức và biến tập thể học sinh vững mạnh, xây dựng tập thể học sinh thành môi trường và phương tiện quan trọng để giáo dục học sinh.
    • Các kỹ năng làm công tác chủ nhiệm. Biết cách phối hợp hoạt động với giáo viên bộ môn để tiến hành các hoạt động giảng dạy. Biết cách theo dõi thường xuyên quá trình học tập của tập thể và của từng cá nhân để uốn nắn các sai lệch của các em trong quá trình học tập. Bằng thực tiễn công tác chủ nhiệm cũng như tổ chức các hoạt động, giáo sinh sẽ chọn được cách vận dụng lý luận giáo dục như nội dung, các hình thức, phương pháp và nguyên tắc giáo dục để không những hoàn thành công việc được giao mà còn củng cố, bổ sung những tri thức đã lĩnh hội ở giảng đường trường sư phạm.
    • Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện. Kỹ năng tổ chức các hoạt động phong phú, đa dạng cho tập thể học sinh bằng các cuộc thi đua học tập và tu dưỡng, bằng các buổi sinh hoạt văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, tham quan du lịch để đưa học sinh vào guồng máy tích cực.

    Trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ thực tập sư phạm, chúng ta sẽ làm phát triển được năng lực quản lý quá trình đào tạo nghề nghiệp cho giáo sinh như biết lấy thông tin, kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo – chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá.

    • Năng lực lập kế hoạch. Biết lập các kế hoạch cho hoạt động dạy học cũng như giáo dục. Biết xây dựng được lịch trình dạy học cũng như các loại kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp và kế hoạch chủ nhiệm lớp.
    • Năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục – đào tạo như biết phân phối và tổ chức các nguồn lực tiền, của, con người để thực hiện các hoạt động sư phạm.
    • Năng lực chỉ đạo, điều hành. Giáo sinh tập làm quen với việc điều hành công việc trong nhóm thực tập, trong hoạt động của tập thể học sinh.
    • Năng lực kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Và Bản Chất Quyền Lực (Power) Trong Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm Về Nguồn Lực Và Quản Lý Nguồn Nhân Lực Của Dự Án (P2)
  • Hoàn Thiện Công Tác Tuyển Mộ Và Tuyển Chọn Nhân Lực Của Tổ Chức Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Phần 3: Cơ Lý Thuyết Momen
  • Ngẫu Lực Là Gì? Công Thức Tính Momen Của Ngẫu Lực Và Bài Tập Vận Dụng
  • Tổ Chức Dạy Học Khái Niệm Toán Học Thuộc Chủ Đề Vectơ Trong Mặt Phẳng Ở Lớp 10 Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Sử Dụng Ngôn Ngữ Toán Học Và Năng Lực Vận Dụng Toán Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Soi Điểm Chọn Trường, Điểm Chuẩn Tuyển Sinh, Điểm Chuẩn Vào Lớp 10: Đề Tài Skkn Hóa 8: Giảng Dạy Hình Thành Các Khái Niệm Về Chất Ở Chương Trình Hóa Học Lớp 8 Như Thế Nào
  • Một Số Kinh Nghiệm Hình Thành Khái Niệm Về Chất Ở Môn Hóa Học Lớp 8 Theo Phương Pháp Mới (Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học)
  • Giải Bài Tập Sgk Công Nghệ Lớp 8 Bài 24: Khái Niệm Về Chi Tiết Máy Và Lắp Ghép
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Hình Thành Khái Niệm Về Chất Ở Môn Hóa Học Lớp 8 Theo Phương Pháp Mới( Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học)
  • Đề Tài Một Số Kinh Nghiệm Hình Thành Khái Niệm Về Chất Ở Môn Hóa Học Lớp 8 Theo Phương Pháp Mới( Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học)
  • TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA TOÁN

    ======

    NGUYỄN THỊ THỦY

    TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁI NIỆM TOÁN HỌC

    THUỘC CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT PHẲNG

    Ở LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TOÁN HỌC

    VÀ NĂNG LỰC VẬN DỤNG TOÁN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

    Hà Nội – 2021

    Hà Nội – 2021

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

    KHOA TOÁN

    ======

    NGUYỄN THỊ THỦY

    TỔ CHỨC DẠY HỌC KHÁI NIỆM TOÁN HỌC

    THUỘC CHỦ ĐỀ VECTƠ TRONG MẶT PHẲNG

    Ở LỚP 10 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

    NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TOÁN HỌC

    VÀ NĂNG LỰC VẬN DỤNG TOÁN HỌC

    KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

    Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Toán

    Người hướng dẫn khoa học

    Ths. Nguyễn Văn Hà

    Hà Nội – 2021

    LỜI CẢM ƠN

    Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, em đã nhận được

    sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học và các

    bạn sinh viên trong khoa. Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các

    thầy, cô trong tổ phương pháp dạy học và đặc biệt là thầy giáo Nguyễn Văn

    Hà-người đã định hướng, chọn đề tài và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn

    thiện khóa luận tốt nghiệp này.

    Do thời gian và kiến thức có hạn, khóa luận không tránh khỏi có những

    hạn chế và thiếu sót nhất định. Em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến

    của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn thiện

    hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    Hà Nội, tháng 5 năm 2021

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thủy

    LỜI CAM ĐOAN

    Tên em là: Nguyễn Thị Thủy

    Sinh viên lớp: K39A-Sư phạm Toán

    Trường ĐHSP Hà Nội 2

    Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng em dưới sự

    chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn. Và nó không trùng với kết quả của bất cứ

    tác giả nào khác.

    Hà Nội, tháng 5 năm 2021

    Sinh viên

    Nguyễn Thị Thủy

    MỤC LỤC

    MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………..1

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……………………….4

    1.1. Năng lực và năng lực Toán học……………………………………………4

    1.1.1 Năng lực …………………………………………………………………………4

    1.1.2 Năng lực Toán học của học sinh ………………………………………..6

    1.2. Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán học …7

    1.2.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh ……………..7

    1.2.2 Năng lực vận dụng Toán học …………………………………………….7

    1.2.3 Phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng

    Toán học trong dạy học khái niệm hình học ………………………………..9

    1.3. Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông ………………….10

    1.3.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm ………………………………….10

    1.3.2 Vị trí khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm …………………..13

    1.3.3 Một số hình thức định nghĩa khái niệm ở phổ thông …………14

    1.3.4 Các quy tắc định nghĩa khái niệm …………………………………….15

    1.3.5 Những con đường tiếp cận khái niệm. ………………………………16

    1.3.6 Hoạt động củng cố khái niệm. ………………………………………….19

    1.3.7 Dạy học phân chia khái niệm. ………………………………………….21

    Tiểu kết chương 1: ………………………………………………………………….22

    Chương 2: ỨNG DỤNG THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

    KHÁI NIỆM HÌNH HỌC CỦA CHỦ ĐỀ VECTƠ THEO ĐỊNH

    HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ

    TOÁN HỌC VÀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC ……………………………..24

    1

    Nghiên cứu về lí luận:

    – Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lưc cho

    học sinh.

    – Dạy học khái niệm Toán học và nội dung dạy học khái niệm

    “Vectơ” ở lớp 10 THPT.

     Thiết kế và xây dựng kế hoạch dạy học các khái niệm Toán học

    phần “Vectơ” ở lớp 10 THPT.

    4. Đối tượng nghiên cứu.

    Các khái niệm Toán học phần “Vectơ” ở lớp 10 THPT.

    2

    3

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

    1.1. Năng lực và năng lực Toán học

    1.1.1 Năng lực

    Theo quan điểm của những nhà tâm lý học Năng lực là tổng hợp các

    đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu, đặc trưng của

    một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.

    Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân

    mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do

    tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.

    Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực

    chung và năng lực chuyên môn.

    + Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác

    nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực

    luyện tập, năng lực tưởng tưởng.

    + Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định

    của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội

    hoạ, năng lực toán học…

    Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với

    nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát

    triển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn. Ngược lại sự phát triển

    của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng

    đối với sự phát triển của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có kết

    quả và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở

    trình độ cần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực

    công việc của mình.

    4

    5

    vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó. Kỹ xảo là những kỹ năng

    được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục cho phép con người không

    phải tập trung nhiều ý thức vào việc mình đang làm. Còn năng lực là một tổ

    hợp phầm chất tương đối ổn đinh, cơ bản của cá nhân, cho phép nó thực hiện

    có kết quả một hoạt động. Như vậy năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các

    kiến thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.

    1.1.2 Năng lực Toán học của học sinh

    Theo V.A.Krutetxki thì khái niệm năng lực toán học được hiểu dưới hai

    bình diện sau:

    Năng lực nghiên cứu toán học là năng lực sáng tạo, các năng lực hoạt

    động toán học tạo ra được các kết quả, thành tựu mới, khách quan và quý giá.

    Năng lực toán học của học sinh là năng lực học tập giáo trình phổ

    thông, lĩnh hội nhanh chóng và có kết quả cao các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

    tương ứng.

    – Năng lực toán học của học sinh:

    Từ khái niệm về năng lực ta có thể đi đến khái niệm về năng lực toán

    học của học sinh: “Năng lực toán học là những đặc điểm tâm lí đáp ứng được

    yêu cầu hoạt động học toán và tạo điều kiện lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng

    trong lĩnh vực toán học tương đối nhanh chóng, dễ dàng, sâu sắc trong những

    điều kiện như nhau”

    – Cấu trúc về năng lực toán học của học sinh:

    + Năng lực tính toán, giải toán

    + Năng lực tư duy toán học

    + Năng lực giao tiếp toán học (Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học)

    + Năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn

    + Năng lực giải quyết vấn đề

    + Năng lực sáng tạo toán học

    6

    1.2. Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán học

    1.2.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học của học sinh

    -Tư duy là một qúa trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất,

    những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng

    trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

    – Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên

    lạc hay giao tiếpvới nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả

    năng sử dụng một hệ thống như vậy.

    – Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ:

    Ngôn ngữ cố định lại kết quả của tư duy, là phương tiện biểu đạt kết

    quả tư duy, do đó có thể khách quan hóa kết quả tư duy cho người khác và

    cho bản thân chủ thể tư duy.

    Nhờ có ngôn ngữ mà con người sử dụng các kết quả nhận thức (quy

    tắc, khái niệm, công thức, quy luật…) và kinh nghiệm của bản thân vào quá

    trình tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát…) để nhận thức được cái

    bên trong, bản chất của sự vật hiện tượng.

    Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những chuỗi âm

    thanh vô nghĩa. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là tư duy mà chỉ là phương

    tiện của tư duy.

    Như vậy, trong quá trình dạy học toán việc phát triển năng lực sử dụng

    ngôn ngữ Toán học gắn liền với phát triển tư duy Toán học.

    1.2.2 Năng lực vận dụng Toán học

    Hiện nay, các nhà giáo dục và các nhà sư phạm đều thống nhất về việc

    đánh giá theo cấp độ nhận thức tri thức từ thấp tới cao của học sinh trong học

    tập như sau:

    7

    – Nhận biết:

    Nhớ lại, tái hiện được nội dung tri thức, liệt kệ, thuật lại, nhận dạng tri

    thức.

    Yêu cầu của nhận biết là nhớ lại, tái hiện lại được khái niệm và nhận

    dạng được khái niệm. Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh

    vực nhận thức

    – Thông hiểu:

    Nắm được ý nghĩa của thông tin, chuyển đổi được từ dạng này sang

    dạng khác, so sánh, sắp xếp, dự đoán, mở rộng,,,

    Yêu cầu của thông hiểu là biểu thị, minh họa, giải thích được ý nghĩa

    khái niệm và có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách

    tương tự như đã biết trên lớp học.

    – Vận dụng:

    Khả năng sử dụng kiến thức đã học vào hoàn cảnh cụ thể mới; vận

    dụng nhận biết, hiểu biết thông tin vấn đề đặt ra

    Yêu cầu vận dụng là sử dụng được các quy tắc, phương pháp, khái

    niệm, … để giải quyết vấn đề trong học tập hoặc trong cuộc sống

    + Vận dụng cấp độ thấp:

    Tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản và có thể sử

    dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm, lý thuyết đã học trong

    các tình huống khác

    + Vận dụng cấp độ cao (sáng tạo):

    Phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, những bộ phận

    cấu thành

    Yêu cầu là sử dụng khái niệm đã học để giải quyết các vấn đề mới,

    không giống với những điều đó được học hoặc trình bày trong sách giáo khoa

    8

    nhưng phù hợp khi được giải quyết với kỹ năng và kiến thức được giảng dạy

    ở mức độ nhận thức này.

    Như vậy, năng lực vận dụng là cấp độ tư duy cao nhất trong lĩnh vực

    nhận thức các tri thức của học sinh trong học tập

    1.2.3 Phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Toán học và vận dụng Toán

    học trong dạy học khái niệm hình học

    a) Định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học

    Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực chủ trương

    giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông

    qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các

    tình huống do cuộc sống đặt ra.

    Do đó, định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học kiến thức

    mới là “Tăng cường cho học sinh được trải nghiệm qua các hoạt động tư duy

    trong quá trình hình thành, kiến tạo tri thức; đồng thời chú trọng các hoạt

    động vận dụng tri thức để giải quyết được vấn đề đặt ra trong các tình huống

    của thực tiễn”

    ,

    để phát triển năng lực vận dụng Toán học đòi hỏi tổ chức cho học sinh được

    trải nghiệm qua các hoạt động củng cố trong dạy học:

    – Liên hệ, sử dụng các kiến thức vừa học vào thực tế đời sống xung

    quanh học sinh.

    – Tăng cường áp dụng các kiến thức vừa học (Các quy tắc, phương

    pháp, khái niệm, …) để giải quyết vấn đề trong học tập hoặc trong cuộc sống

    1.3. Dạy học khái niệm toán học ở trường phổ thông

    1.3.1 Đại cương về định nghĩa khái niệm

    Khái niệm

    Khái niệm là một hình thức tư duy phản ánh tư tưởng chung, đặc trưng

    bản chất của lớp đối tượng hoặc quan hệ giữa các đối tượng.

    10

    Như vậy có hai loại khái niệm:

    – Khái niệm về lớp đối tượng: Chẳng hạn như khái niệm: “Hình chóp”,

    “Hình chóp đều”, …..

    + Hình chóp: “Trong mặt phẳng (P) cho đa giác chúng tôi và điểm S

    không thuộc mặt phẳng (P). Hình tạo bởi n miền tam giác chúng tôi gọi

    là hình chóp SA1A2A3…An”.

    + Hình chóp đều: Một hình chóp được gọi là hình chóp đều nếu đáy của

    nó là một đa giác đều và các cạnh bên bằng nhau.

    – Khái niệm về quan hệ đối tượng: Chẳng hạn như khái niệm: “Phương

    trình tương đương”,…

    + Phương trình tương đương: Hai phương trình cùng ẩn được gọi là

    tương đương nếu chúng có cùng tập nghiệm.

     Nội hàm và ngoại diên của khái niệm.

    Ngoại diên của khái niệm: Tập hợp các đối tượng hoặc lớp đối tượng

    phản ánh trong định nghĩa khái niệm.

    Nội hàm của khái niệm: Tập hợp các thuộc tính chung của lớp đối

    tượng tương đương hoặc quan hệ đối tượng.

    Ví dụ 1: Xét khái niệm “Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh kề

    bằng nhau”.

    Ta thấy rằng ngoại diên của khái niệm trên là tập hợp tất cả các hình

    vuông, nội hàm của khái niệm trên là “hai cạnh kề bằng nhau”.

    Giữa nội hàm và ngoại diên có mối quan hệ mang tính quy luật, nội

    hàm càng được mở rộng thì ngoại diên càng bị thu hẹp và ngược lại. Thật vậy

    nếu ta mở rộng nội hàm của khái niệm hình bình hành, chẳng hạn bổ sung

    thêm đặc điểm “có một góc vuông” thì ta sẽ được lớp các hình chữ nhật là

    một bộ phận thực sự của lớp các hình bình hành.

    11

     Định nghĩa khái niệm.

    Định nghĩa một khái niệm là một thao tác logic nhằm phân biệt lớp đối

    tượng xác định khái niệm này với các đối tượng khác, thường bằng cách vạch

    ra nội hàm của khái niệm đó.

    Các định nghĩa thường có cấu trúc sau:

    Từ mới (biểu thị khái

    niệm mới)

    (Những) từ chỉ miền đối Tân từ (diễn tả khác biệt

    tượng đã biết (loại)

    về chúng)

    Ví dụ: “Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh liên tiếp bằng nhau”.

    Trong định nghĩa trên, từ mới là “hình vuông”, loại hay miền đối tượng

    là “hình chữ nhật”, sự khác biệt về chúng là “hai cạnh liên tiếp bằng nhau”.

    Miền đối tượng (loại) và các thuộc tính về chúng tạo thành đặc trưng

    của khái niệm. Đặc trưng của khái niệm là điều kiện cần và đủ để xác định

    khái niệm đó. Nói chung, có nhiều cách nêu đặc trưng của cùng một khái

    niệm, tức là có thể định nghĩa cùng một khái niệm theo nhiều cách khác nhau.

    Chẳng hạn, hình vuông ngoài định nghĩa nêu trong ví dụ trên, còn có thể định

    nghĩa theo một cách khác như “Hình vuông là hình thoi có một góc vuông”.

    Khi xét một đối tượng xem có thuộc một ngoại diên của một khái niệm

    nào đó hay không, người ta thường quan tâm những thuộc tính của đối tượng

    đó: Những thuộc tính nào nằm trong nội hàm của khái niệm đang xét thì được

    coi là thuộc tính bản chất, còn những thuộc tính nào không thuộc nội hàm của

    khái niệm đó thì được gọi là thuộc tính không bản chất đối với khái niệm

    đang xét.

     Khái niệm không định nghĩa

    Định nghĩa khái niệm mới thường dựa vào một hay nhiều khái niệm đã

    biết. Ví dụ về định nghĩa khái niệm hình vuông ta cần định nghĩa hình chữ

    nhật, để định nghĩa hình chữ nhật ta cần định nghĩa hình bình hành, để định

    12

    nghĩa hình bình hành ta cần định nghĩa tứ giác,… Tuy nhiên, quá trình này

    không thể kéo dài vô hạn, tức là phải có khái niệm được thừa nhận làm điểm

    xuất phát, gọi là những hái niệm nguyên thủy trong Toán học.

    Ở trường phổ thông, chúng ta thấy có một số khái niệm cũng không

    được định nghĩa vì lí do sư phạm, mặc dù chúng có thể được định nghĩa trong

    Toán học.

    Đối với những khái niệm không định nghĩa ở trường phổ thông, cần mô

    tả giải thích thông qua những ví dụ cụ thể để học sinh hình dung được những

    khái niệm này, hiểu được chúng một cách trực giác.

    1.3.2 Vị trí khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm

    a) Vị trí dạy học khái niệm.

    Trong vệc dạy học toán, cũng như việc dạy học bất cứ một khoa học

    nào ở trường phổ thông, điều quan trọng bậc nhất là hình thành một cach

    vững chắc cho học sinh một hệ thống khái niệ. Việc hình thành một hệ thống

    khái niệm Toán học là nền tảng của toàn bộ kiến thức Toán, là tiền đề hình

    thành khả năng vận dụng hiệu quả các kiến thức đã học, có tác dụng lớn đến

    việc phát triển trí tuệ, đồng thời góp phần giáo dục thế giới quan cho học sinh

    qua việc nhận thức đúng đắn quá trình phát sinh và phát triển của các khái

    niệm Toán học.

    b) Yêu cầu của dạy học khái niệm.

    Nắm vững các đặc trưng cho một khái niệm.

    Biết nhận dạng khái niệm, tức là biết phát hiện xem một đối tượng cho

    trước có thuộc phạm vi một khái niệm nào đó hay không, đồng thời biết thể

    hiện khái niệm.

    Biết phát biểu rõ ràng, chính xác định nghĩa của một khái niệm.

    Biết vận dụng khái niệm trong những tình huống cụ thể trong hoạt động

    giải toán và ứng dụng vào thực tiễn.

    13

    Biết phân loại khái niệm và nắm được mối quan hệ của một khái niệm

    với những khái niệm khác trong một hệ thống khái niệm.

    1.3.3 Một số hình thức định nghĩa khái niệm ở phổ thông

    a) Định nghĩa theo phương pháp loại- chủng.

    – Nội dung: Định nghĩa theo phương pháp loại – chủng là một hình thức

    định nghĩa nêu lên khái niệm loại và đặc tính của chúng. (Vạch rõ nội dung

    của khái niệm, nêu rõ dấu hiệu đặc trưng của đối tượng được phản ánh vào

    trong khái niệm).

    – Cấu trúc: Khái niệm được định nghĩa = Khái niệm loại + Dấu hiệu đặc

    trưng của chúng.

    – Ví dụ: Hình vuông là hình chữ nhật có hai cạnh kề bằng nhau.

    Trong đó: Hình vuông: Là khái niệm được định nghĩa.

    Hình chữ nhật: Là khái niệm loại.

    Hai cạnh kề bằng nhau: Dấu hiệu đặc trưng của chúng.

    b) Định nghĩa bằng quy ước.

    – Nội dung: Định nghĩa bằng quy ước là hình thức định nghĩa gán cho

    đối tượng cần định nghĩa một tên gọi hay một đối tượng nào đó đã biết.

    – Ví dụ: a0 = 1 (a  0)

    c) Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề.

    – Nội dung: Định nghĩa bằng phương pháp tiên đề là hình thức định

    nghĩa gián tiếp các khái niệm cơ bản thông qua các tiên đề.

    – Ví dụ: ABC = A’B’C’ nếu:

    ,

    ,

    , AB= A’B’,

    AC= A’C’, BC= B’C’.

    d) Định nghĩa bằng mô tả:

    – Nội dung: Định nghĩa bằng mô tả là phương pháp định nghĩa nêu cách

    tạo ra đối tượng hoặc mô tả những đối tượng ít nhiều gần giống nó.

    14

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Thực Trạng Công Tác Quản Trị Nhân Lực Tại City View Hotel, 9 Điểm!
  • Tìm Hiểu Về Quản Trị Nhân Sự Trong Khách Sạn
  • Vườn Trí Tuệ Lyceum Trong Rise Of Kingdoms (Updated 22/01/2021) . Câu Hỏi Và Đáp Án Rok
  • Dạy Toán Theo Năng Lực Người Học
  • Hậu Quả Khi Cha Mẹ Tạo Áp Lực Học Tập Cho Con
  • Khái Niệm Và Đặc Trưng Về Năng Lực Cạnh Tranh Của Ngân Hàng Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Triển Năng Lực Tư Duy
  • Đánh Giá Năng Lực Viết Của Học Sinh Cuối Cấp Tiểu Học
  • Phát Huy Nhân Tố Nguồn Lực Con Người Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Làm Kế Toán: Khái Niệm Về Nguồn Lực Tài Chính
  • Lý Luận Về Tuyển Dụng Nguồn Nhân Lực Trong Doanh Nghiệp
  • I. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.

    Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.

    Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực hay lợi thế cạnh tranh song cho đến nay, khó có thể đưa ra một định nghĩa chuẩn về khái niệm năng lực cạnh tranh đúng cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, đối với từng đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu vẫn cần phải đưa ra được một định nghĩa về năng lực cạnh tranh (bao gồm cả vị thế cạnh tranh hiện tại lẫn khả năng duy trì và phát triển vị thế đó trong tương lai) của một quốc gia, một ngành hay một doanh nghiệp một cách chính xác làm căn cứ khoa học cho việc đưa ra những chính sách, những giải pháp hợp lý và hiệu quả.

    Đối với lĩnh vực ngân hàng, tài chính, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại có thể hiểu như sau:

    • Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là sự tổng hợp tất cả các khả năng của ngân hàng đáp ứng được nhu cầu khách hàng về việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng có chất lượng cao, đa dạng và phong phú, tiện ích và thuận lợi, có tính độc đáo so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường, tạo ra được lợi thế cạnh tranh, làm tăng lợi nhuận hàng năm của các ngân hàng, tạo được uy tín, thương hiệu và vị thế cao trên thị trường.
    • Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM chính là nâng cao sự tổng hợp các khả năng

    Nhìn chung năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại đều được xem xét thông qua khả năng tạo và duy trì lợi nhuận thị phần nhất định trên thị trường. Mỗi ngân hàng thương mại phải duy trì được các lợi thế cạnh tranh của mình với các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nhằm thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của khách hàng và giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh.

    Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại thể hiện thành các lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh khác nhưng các lợi thế đó không phải là bất biến. Điều đó phụ thuộc vào mỗi ngân hàng trong việc thường xuyên duy trì và tăng cường năng lực cạnh tranh. Có những ngân hàng thương mại gần như không có lợi thế hoặc lợi thế chỉ ở dạng tiềm năng, tuy nhiên do biết cách khai thác và sử dụng một cách hợp lý hiệu quả các lợi thế tiềm năng đó đã nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thương trường.

    Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng bao hàm cả việc ngân hàng phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình. Nói cách khác, ngân hàng phải liên tục duy trì lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường. Việc hạ thấp giá thành dịch vụ để nâng cao năng lực cạnh tranh theo quan niệm mang tính dài hạn không bao gồm việc hạ giá thành bằng những biện pháp tiêu cực như cắt giảm lương nhân viên, cắt giảm các chi phí phúc lợi, giảm chi phí môi trường… năng lực cạnh tranh ở đây phải gắn liền với khái niệm phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội.

    II. Những đặc trưng về năng lực cạnh tranh của NHTM

      Đặc trưng về năng lực cạnh tranh của NHTM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Lực Là Gì? Bởi Nguyễn Hưng Quốc
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 8366:2010 Về Bình Chịu Áp Lực
  • Thiết Bị Áp Lực Là Gì? Theo Tcvn Những Thiết Bị Áp Lực Nào Cần Phải Được Kiểm Định?
  • Khóa Học Đào Tạo Vận Hành An Toàn Đối Với Thiết Bị Nâng,nồi Hơi,hệ Thống Lạnh Tại Hà Nội,hồ Chí Minh
  • Diễn Đàn Rao Vặt Kiếm Bạc Mua Bán Quảng Cáo Rao Vặt
  • Khái Niệm Về Văn Thuyết Minh, Văn Bản Thuyết Minh Là Kiểu Văn Bản Thông Dụng Trong Mọi Lĩnh Vực Đời

    --- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Bài Giảng Văn Bản Văn Học
  • Bài Tập Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học (Có Đáp Án).
  • Thuật Ngữ Văn Bản Hành Chính
  • Khái Quát Về Mạng Không Dây
  • – Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới thiệu.

    – Thuyết minh còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng.

    (Từ điển từ Hán Việt – Phan Văn Các)

    2. Văn thuyết minh là gì?

    – Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, trong xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

    Ví dụ:

    – Giới thiệu một nhân vật lịch sử.

    – Giới thiệu một miền quê, một vùng địa lí…

    – Ciới thiệu một đặc sản, một món ăn.

    – Giới thiệu một vị thuốc.

    – Giới thiệu một loài hoa, loài chim, loài thú, v.v…

    – v.v…

    3.Tính chất của văn thuyết minh

    Các văn bản thuyết minh tốt là một văn bản trình bày rõ ràng, hấp dẫn đặc điểm cơ bản của đối tượng đang được nói tới. Sự xác thực là tiêu chí hàng đầu của thuyết minh.

    Ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản thuyết minh phải chính xác, chặt chẽ, cô

    đọng và sinh động. Cách viết màu mè, dài dòng sẽ gây cho người đọc sự nghi ngờ, khó chịu, cần hết sức tránh.

    Ví dụ:

    a, Đền Ngọc Sơn

    Ở Hà Nội có cảnh đẹp là cảnh đền Ngọc Sơn ở giữa hồ Hoàn Kiếm. Đền này làm từ đời nhà Hậu Lê, trên một cái gò nổi lên ở giữa Hồ. Người đi lại phải qua một cái cầu bằng gỗ. Ở ngoài dường đi vào, về bên trái, có một cái núi đá, người ta đắp lên, và có xây một cái tháp vuông, ở trên ngọn có cái ngòi bút đề là “Búp Tháp”.

    Vào đến gần cầu, ở trên cái cửa tò vò có cái nghiên đá, đề là “Nghiễn Đài”. Vì đền Ngọc Sơn thờ Văn Xương Đế Quân là một vị thần coi về việc văn học, cho nên mới xây những nghiên bút như thế.

    Trước cửa đền có cái nhà thuỷ tạ gọi là ‘Trấn Ba Đình”, giữa có dựng cái bia đá để ghi sự tích cái đền ấy. Đến mùa nóng nực, người ta hay ra đấy hóng mát và ngắm phong cảnh, thật là có bề thanh thú lắm”.

    (Theo Quốc Văn giáo khoa thư)

    b, Ca Huế

    Fes-ti-van Huế đã để lại bao ấn tượng tuyệt đẹp cho du khách gần xa. Không gian Huế (cảnh sắc thiên nhiên núi sông, các công trình kiến trúc như lăng tẩm. chùa chiền, phong cảnh làng vườn…), ẩm thực Huế, thiếu nữ Huế, con người Huế, đặc biệt là những đêm ca Huế trên sông Hương đã để lại những cảm tình nồng hậu đối với những ai đã một lần đến thăm Huế.

    Chỉ nói riêng về ca Huế, đã tuyệt vời. Cảnh trăng nước Hương Giang. Chiếc thuyền rồng nhẹ trôi êm đềm. Hình ảnh các ca công, những nam thanh nữ tú điệu nghệ, tài hoa, duyên dáng trong sắc phục Huế. Tiếng đàn tranh réo rắt, huyền diệu. Giọng ca trầm bổng du dương, lai láng tình non nước, tình trai hiền gái lịch, tình người vấn vương…

    “Thương thì xin đó đừng phai

    Ấy ai tình tự, tạc dạ chớ phai

    Chớ phai, hỡi người tình tự!”.

    Về nguồn gốc, ca Huế có hai loại: điệu Bắc và điệu Nam. Các điệu Nam. giọng réo rắt, man mác, thương cảm.., chịu ảnh hưởng của ca khúc Chiêm Thành ngày xưa. Các điệu Bắc có lẽ phỏng theo từ khúc của Trung Quốc mà ra, có giọng du dương, sôi nổi.

    Ca Huế rất phong phú về làn điệu với gần một trăm ca khúc thanh nhạc và khí nhạc. Các điệu ca Huế như cổ bản, Kim tiền, Tứ đại cảnh, Lưu thuỷ, Hành vân. Nam ai, Nam thương, Nam bình, Vọng phu, v.v… đã thấm sâu vào hồn người mấy trăm năm qua.

    Hãy đến với Huế, nghe tiếng chuông chùa Thiên Mụ trong mờ sương, ngắm tà áo dài tím Huế và chiếc nón bài thơ của thiếu nữ Huế, nhìn dòng sông Hương thơ mộng những đêm trăng và thưởng thức ca Huế.

    Hãy đến với Fes-ti-van Huế và nền văn hoá Huế…

    “Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ

    Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt”…

    c. Trường đại học Harvard (Ha-vơt)

    Tốt nghiệp Harvard (Ha-vơt) là một danh dự ở Mĩ vì trường đại học này có những truyền thống lâu đời. Trường ở thành phố Cambrige (Cambritgiơ) thuộc ngoại vi Boston. Cambrige nguyên là tên một thành phố đại học của Anh.

    Trường Harvard được thành lập năm 1636 bởi Công ty Anh Massachusetts Bay Company. Trường mang tên Harvard, một mục sư trẻ để lại cho trường một nửa tài sản (780 bảng) và thư viện (320 cuốn) của mình. Lúc đầu chỉ có 12 học sinh và một thầy giáo, do giáo phái Thanh giáo xây dựng, với mục đích đào tạo mục sư cho các thuộc địa mới của Anh. Trường lấy tên Cambrige trước khi đổi tên là tnrờng Trung học và sau là trường Đại học Harvard.

    Việc tổ chức chế độ nội trú và chế độ trợ lí học tập là sáng kiến đầu tiên của hiệu trưởng A.L.Powell (Pauơl). Ông còn sửa đổi “chế độ lựa chọn”, vì ông cho rằng “một người có học phải am tường một vài môn và có hiểu biết chung về các môn khác”. Nhờ các khoản tiền giúp qua nhiều thập kỉ, trường đã xây được 10 khu nội trú cho thầy, trò và các trợ lí.

    Sau đó, hiệu trưởng J.B. Conant (Câunơnt) đã thực hiện chương trình giáo dục tổng hợp vào năm 1949, quy định mỗi sinh viên bắt buộc phải học các môn thuộc 3 lĩnh vực – khoa học nhân văn, khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Ông đặt ra chế độ học bổng giúp các thanh niên ưu tú có điều kiện học tập.

    Hiện nay trường Đại học Harvard là một tổ chức học đường có quyền tự hào với 100 thư viện lưu giữ trên 10 triệu cuốn sách, 8 viện bảo tàng, và đầy đủ nhữngĐến năm 1953, hiệu trưởng N.M. Pusey (Piuzi) tổ chức các trung tâm nghiên cứu Đông Á, Trung Đông và Liên Xô. Ngoài ra trường còn ra báo hàng ngày cho sinh viên H Harvard, tờ “The Crimson Eye” là cơ quan phát triển các nhân tài báo chí Mĩ như: Donald Graham, chủ bút báo “Washington Post”, Peter Kann, trợ lí chủ bút báo “Wall Street Journal”,Anthony Lewis, nhà báo chuyên giữ một mục của tờ “New York Times’. Cần kể thêm những nhà báo lớn của Mĩ, như: Walter Lippman, các nhà văn có hạng như: T. s. Eliot, Robert Frost và Wallace Stevens…

    phương tiện học tập và nghiên cứu độc nhất ở nước Mĩ. Năm 1965, trường sát nhập với một trường Đại học nữa là Radcliffe Colege.

    Trong 353 năm tồn tại, trường Harvard đã đào tạo nhiều chính khách và nhiều nhà khoa học, trong số đó có 6 tổng thống, 29 nhà khoa học và hoạt động xã hội được giải thưởng Nobel, và 27 người được giải thưởng Pulizer. Trường Harvard đã cho ra mắt thế giới chiếc máy tính dùng số đầu tiên, chiếc phổi bằng sắt đầu tiên, chiếc đồng hồ chính xác nhất và một loạt các phát minh và phát kiến, kể cả lí thuyết di truyền về hành vi của con người.

    Học sinh mới vào trường được chào đón bằng câu châm ngôn nổi bật trên tường: “Vào đây để lớn lên trong sự thông thái, ra đi để phục vụ tốt hơn đất nước và đồng loại của bạn”.

    Ngày nay, để được tiếp nhận vào trường Đại học Harvard, mỗi thí sinh phải hoàn thành các thủ tục nhập học khá chặt chẽ và phải đóng 60.000 đô la cho 4 năm học. Mỗi năm, trường tiếp nhận đơn xin học của khoảng 14.000 sinh viên, không riêng của Mĩ mà của cả các nước trên khắp thế giới, nhưng chỉ có khoáng 16% đủ tiêu chuẩn vào học. Trường có khoảng 36.000 sinh viên.

    Hữu Ngọc

    * Hi vọng trong tương lai, có một số học sinh là độc giả cuốn sách này, trở thành sinh viên trường Đại học Harvard, sẽ đem tài năng phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 11. Tìm Hiểu Chung Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh
  • Giáo Án Tin Học 10 Tiết 37
  • Thế Nào Là Đoạn Văn ?
  • Nghị Luận Xã Hội Về Khái Niệm Tình Thương Và Trình Bày Những Biểu Hiện Ý Nghĩa Và Tác Dụng Của Tình Thương Trong Cuộc Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Yêu Và Thương Khác Nhau Như Nào?
  • Yêu Là Cả Một Bầu Trời, Còn Thương Chỉ Là Một Đám Mây
  • Đôi Điều Về Sự Khác Biệt Giữa Thích, Thương Và Yêu
  • Những Stt Phân Định Đừng Nhầm Lẫn Giữa Thích Và Yêu !
  • Giáo Trình Tâm Lý Y Học
  • Tình yêu thương chính là một trong những điều không thể nào thiếu được trong cuộc sống. Thực sự thì tình yêu thương giúp con người trở nên hạnh phúc, và cũng có được sự vui vẻ. Thật không sai chút nào khi người ta nói rằng một con người biết yêu thương chính là người có nhân cách đẹp, và luôn hướng đến những thứ tốt đẹp, hoàn mỹ hơn.

    Đầu tiên chúng ta phải hiểu được tình yêu thương là gì? Tình yêu thương được hiểu đó chính là sự sẻ chia mà mỗi người dành cho nhau, một thứ tình cảm thiêng liêng xuất phát từ nơi con tim. Tình yêu thương định nghĩa dễ nhất đó cũng chính là sự đồng cảm và như cũng chất chứa được tinh thần nhân loại mà con người dành cho con người. Thực sự trong cuộc sống này thì chính tình yêu thương có vô vàn hình trạng, nó như một viên đá ngũ sắc lung linh và đẹp đến mê mẩn. Những điều này dường như tuy nó vô hình nhưng lại hữu hình, đồng thời tình thương cũng như lại luôn luôn xuất hiện vào cuộc sống hằng ngày.

    Ta như nhận thấy được rằng, chắc chính mỗi người chúng ta có thể dễ dàng nhận ra hay không thể nhận ra bởi tình yêu thương nó vô cùng đơn giản, và gần gũi biết bao nhiêu. Ta dường như cũng lại nhận thấy được cũng chính là người thân yêu mẹ bạn yêu bạn, anh chị người thân bạn chăm sóc cho bạn, bạn bè bạn lo lắng cho bạn…. Tình yêu thương cũng được hiểu đó chính là tình thân, tình nghĩa. Mỗi con người chúng ta đều sinh ra may mắn được sống trong tình yêu của cha của mẹ, chúng ta được gắn kết bởi tình yêu nồng nàn từ cha mẹ thân yêu của chúng ta. Thế rồi ta như cũng nhận thấy được cũng chính từ những người mang chung dòng máu với ta. Và mỗi khi chúng ta như lại chập chững vào lớp học, chúng ta biết đến tình yêu thương mới đó chính là tình bạn.

    Tình yêu thương thực sự nó được ví như thật giống như một chiếc túi khổng lồ mà nhân loại không định nghĩa sao cho tường tận được. Ta như nhận thấy được tình yêu thương thực sự trìu tượng đến mức khó hiểu. Tình yêu thương đơn giản đó cũng chính là khi chúng ta mà nhìn đứa trẻ mồ côi như đang lặng lẽ nằm ở hàng ghế đá, nhìn cụ già đang mon men đi xin ăn. Và làm sao ta có thể không động lòng khi chúng ta nhìn người dân miền trung đang chịu những cơn bão, người thì bị chết, gia đình li tán và của cải bị mất mát. Ta như nhận thấy được cũng chính vì tình yêu thương chính là sự lo lắng cho người với người, dù chưa từng gặp mặt, dù chị là sự lướt qua nhanh chóng. Còn có những người luôn cố gắng cho đi mà không bao giờ nghĩ nhận lại cho riêng mình cả.

    Có ai đó đã từng nói rằng “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc Cực, mà nơi lạnh nhất là nơi thiếu tình thương”. Thực sự đây là một câu nói rất ý nghĩa. Tình thương như có thể giúp cho con người chúng ta xua đi mọi những u tối trong cuộc đời. Thay vào đó cũng chính là những tia sáng ấm áp của tình thương.

    Thật tuyệt vời biết bao nhiêu vì trên thế giới con người luôn xuất hiện tình yêu thương. Mỗi ngày trong mỗi chúng ta hãy nuôi dưỡng trong trái tim mình những viên đá ngũ sắc yêu thương để tô vẻ cho cuộc sống của chính mình. Cuộc sống sẽ thật đẹp biết bao nhiêu khi có tình thương.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Định Nghĩa Đẹp Về Tình Yêu
  • Định Nghĩa Yêu Và Thương
  • Giữa Ranh Giới Yêu, Thích Và Thương, Cảm Giác Nào Mới Đúng Là Hương Vị Của Tình Yêu?
  • 3 Khái Niệm Thích Thương Và Yêu
  • Vài Lời Với Những Người Tiếm Danh ‘nhân Sĩ, Trí Thức’
  • Thương Hiệu Là Gì? Hiểu Đúng Về Thương Hiệu Và Các Khái Niệm Liên Quan

    --- Bài mới hơn ---

  • Thương Hiệu (Brand) Là Gì? Định Nghĩa Dễ Hiểu Nhất
  • Vài Nét Tìm Hiểu Về Vai Trò Của Yếu Tố Kì Ảo Trong Truyền Thuyết, Truyện Cổ Tích Và Truyền Kì
  • Yếu Tố Kì Ảo Trong Tiểu Thuyết Về Chiến Tranh Sau 1975, Hay
  • Em Hãy Chỉ Ra Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Những Yếu Tố Kì Ảo Trong Truyền Thuyết “thánh Gióng”.
  • Yếu Tố Kì Ảo Trong Truyện Ngắn Nguyễn Huy Thiệp
  • Các định nghĩa về thương hiệu nổi tiếng trên thế giới

    Thương hiệu (Brand) là một trong những khái niệm còn mới mẻ nhưng nhận được nhiều sự quan tâm trong nền marketing hiện đại. Có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm này. Mỗi cách định nghĩa với một hướng tiếp cận khác nhau đã khai thác bản chất nhiều mặt của thương hiệu

    Hiệp hội Marketing Mỹ

    Theo Hiệp hội Marketing Mỹ, “Thương hiệu (brand) là tên gọi, biểu tượng, dấu hiệu, kiểu dáng hoặc sự phối hợp tất cả các yếu tố này để có thể nhận biết hàng hoá hoặc dịch vụ của một người bán cũng như phân biệt nó với hàng hoá hay dịch vụ của những người bán khác”.

    Simon Anholt

    Simon Anholt là vị diễn giả, cố vấn chính sách độc lập hàng đầu thế giới hiện nay đã có một định nghĩa rất đúng về thương hiệu. Theo ông,

    Thương hiệu là một sản phẩm, dịch vụ hay tổ chức, có tên gọi, nhận diện và uy tín đã được công nhận.”

    Trong số nhiều quan điểm khác nhau về thương hiệu, có những quan điểm thiên về hình ảnh thương hiệu và cũng có những quan điểm chú trọng đến chất lượng sản phẩm. Với Simon Anholt ông đánh giá cao vai trò của chất lượng sản phẩm. Với ông, thương hiệu là một hình thức mới sản phẩm, đỉnh cao của sản phẩm chính là thương hiệu

    Tuy nhiên cũng có những quan điểm thiên về hình ảnh thương hiệu như quan điểm của người được mệnh danh là ông tổ của marketing hiện đại Philip Kotler “Thương hiệu (Brand) có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng, hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để xác nhận sản phẩm của người bán và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”.

    Jeff Bezos

    CEO của Amazon – Jeff Bezos cũng đưa ra một định nghĩa về brand: “Thương hiệu của bạn sẽ là những gì người ta nói về khi bạn không ở đó.”

    Điều này có nghĩa Jeff Bezos cho rằng thương hiệu chính là danh tiếng. Sản phẩm là hữu hạn, thương hiệu là vô hạn. Doanh nghiệp có thể mất đi nhưng tiếng thơm thì còn mãi với sự trân trọng của người đời.

    Vậy bản chất thương hiệu là gì?

    Phần đa mọi người khi nhắc đến thương hiệu thường có sự liên tưởng đến một khái niệm gần giống với nó là nhãn hiệu. Tuy nhiên vấn đề phân biệt chính xác giữa thương hiệu với nhãn hiệu vẫn còn là cuộc tranh biện lớn trong giới chuyên môn và cộng đồng marketing trên thế giới. Những khái niệm về thương hiệu đưa ra hiện nay dù tiếp cận theo hướng thương mại, sở hữu trí tuệ hay ứng dụng marketing đều có chung những đặc điểm sau:

    • Thương hiệu là một hợp các dấu hiệu nhận biết cảm tính lẫn lý tính với đầy đủ các khía cạnh như mô tả nhận diện, thuộc tính, cá tính, giá trị…mà khách hàng nhận được khi tiếp xúc với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

    • Thương hiệu là thứ tài sản vô hình như giá trị của thương hiệu. Nó nắm giữ sợi dây sinh mệnh của một doanh nghiệp, khẳng định những giá trị bền vững đang có ở hiện tại và tạo ra những giá trị mới trong tương lai.

    • Thương hiệu ràng buộc mối quan hệ với người tiêu dùng, thương hiệu là thứ đọng lại sau cùng trong tâm trí người tiêu dùng giống như khi bạn đi qua bông hoa mà hương thơm vẫn còn vương vít trên vai áo.

    • Chiến lược thương hiệu

      Chiến lược thương hiệu theo đó được hiểu là một bản kế hoạch dài hạn gồm tập hợp nguyên tắc và định hướng được nghiên cứu và lập ra nhằm dẫn dắt các hoạt động của doanh nghiệp để xây dựng và phát triển thương hiệu mạnh trên thị trường.

    • Tầm nhìn thương hiệu

      Tầm nhìn của một thương hiệu là một thông điệp mô tả tương lai mà thương hiệu của bạn cuối cùng sẽ hướng tới.

    • Bản sắc thương hiệu

      Bản sắc thương hiệu là một tập hợp những yếu tố thuộc về thương hiệu bao gồm các yếu tố lý tính và cảm tính, yếu tố hàm súc bên trong và thể hiện ra bên ngoài.

    • Câu chuyện thương hiệu

      Câu chuyện thương hiệu được hiểu đơn giản là những câu chuyện riêng về thương hiệu trong cả một quá trình gây dựng tên tuổi với những dấu mốc đặc biệt, đáng nhớ và đáng tự hào.

    • Giá trị thương hiệu

      Định nghĩa về giá trị thương hiệu, giáo sư Aaker đến từ Đại Học Berkeley (Mỹ) cho rằng, giá trị thương hiệu là một tập hợp các tài sản và khoản nợ (assets and liabilities) gắn liền với một thương hiệu mà nó cộng thêm vào hoặc trừ bớt ra từ giá trị được cung cấp bởi một sản phẩm hoặc một dịch vụ cho công ty và cho khách hàng của công ty đó

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thương Hiệu Là Gì? Những Khái Niệm Về Thương Hiệu?
  • Thương Hiệu Là Gì? 6 Yếu Tố Giúp Tạo Nên 1 Thương Hiệu Hoàn Hảo
  • Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sinh Trưởng Và Phát Triển Ở Động Vật
  • Yếu Tố Sản Xuất (Factors Of Production) Là Gì?
  • Chương 6. Thị Trường Yếu Tố Sản Xuất
  • Thương Hiệu Là Gì? Những Khái Niệm Về Thương Hiệu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thương Hiệu Là Gì? Hiểu Đúng Về Thương Hiệu Và Các Khái Niệm Liên Quan
  • Thương Hiệu (Brand) Là Gì? Định Nghĩa Dễ Hiểu Nhất
  • Vài Nét Tìm Hiểu Về Vai Trò Của Yếu Tố Kì Ảo Trong Truyền Thuyết, Truyện Cổ Tích Và Truyền Kì
  • Yếu Tố Kì Ảo Trong Tiểu Thuyết Về Chiến Tranh Sau 1975, Hay
  • Em Hãy Chỉ Ra Và Phân Tích Ý Nghĩa Của Những Yếu Tố Kì Ảo Trong Truyền Thuyết “thánh Gióng”.
  • Thương hiệu là gì?

    Thương hiệu là cảm nghĩ từ phía khách hàng về phía một công ty, một sản phẩm hay một khía cạnh đầy đủ.

    Về mặt nhận dạng thương hiệu là cái tên giúp nhận dạng một sản phẩm. Một thương hiệu tốt sẽ có chỗ đứng trên thị trường bền vững như: Apple, Samsung, Gucci, Cocacola…. là những thương hiệu điển hình hiện nay về sản phẩm.

    Thương hiệu là yếu tố tạo ra tên tuổi của sản phẩm, thương hiệu giúp khách hàng dễ phân biệt hơn, giúp khách hàng tìm đến sản uy tín. Thương hiệu sẽ tạo ra sự an toàn giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định lựa chọn sản phẩm.

    Yếu tố để xây dựng nên một thương hiệu là gì.

    Như định nghĩa ở trên, thương hiệu là đánh giá của khách hàng, đánh giá ấy sẽ hình thành qua thời gian mà khách hàng trải nghiệm. Khách hàng từ đó sẽ hình thành một thương hiệu thông qua tương tác sau đây:

    Bạn đã biết b2b là gì

    Trải nghiệm về sản phẩm dịch vụ.

    Trải nghiệm về sản phẩm dịch vụ là khi khách hàng sử dụng sản phẩm. Khách hàng sẽ có những cảm nhận về sản phẩm. Nếu sản phẩm tốt khách hàng sẽ tiếp tục tin dùng thương hiệu đó

    Tương tác của nhân viên.

    Cái nhìn về sản phẩm cũng phụ thuộc khá nhiều về những lần tương tác cùng nhân viên có chuyên nghiệp hay không. Người đại diện cho thương hiệu quảng bá về sản phẩm của thương hiệu đó.

    Phương pháp hoạt động truyền thông Marketing.

    Là sự chủ động của thương hiệu tiếp cận đến với khách hàng sử dụng sản phẩm. Giúp khách hàng có ấn tượng và cái nhìn tốt về sản phẩm. Có rất nhiều cách quảng bá thương hiệu đến khách hàng ví dụ như: website, facebook instagram…

    Có khá nhiều những nghiên cứu cho thấy 4 thương hiệu thành công phải đạt được 4 tiêu chí sau:

    – Có ấn tượng tốt.

    – Có độ tin tưởng.

    – Đem lại niềm vui.

    – Có sự quấn hút.

    Xây dựng thương hiệu thành công cần phải làm khách hàng nhớ đến sản phẩm của thương hiệu, và những giá trị của sản phẩm thương hiệu đem lại.

    Cách tạo ra tính năng lợi ích của sản phẩm mang lại.

    Thương hiệu sẽ xuất phát từ chất lượng vượt trội. Lấy ví dụ như chiếc điện thoại thiết kế của nó phải bắt mắt, chất lượng của chiếc điện thoại phải làm hài lòng người tiêu dùng, ngay cả khi người không dùng cũng cảm thấy điều này.

    Bạn quan tâm Malware là gì

    Cách tạo ra giá trị vô hình.

    Bên cạnh giá trị hữu hình, thì bên cạnh đó giá trị vô hình khá là quan trọng với thương hiệu ( thương hiệu là gì ), cần phải tạo cho khách hàng ấn tượng tốt về sản phẩm của thương hiệu, khi đã có ấn tượng tốt thì khách hàng sẽ tin dùng sản phẩm bền lâu hơn.

    Cách tạo ra hệ thống nhận dạng đặc trưng

    Hệ thống nhận diện đặc trưng sẽ có: nhãn hiệu, tông màu, mẫu bao bì, thiết kế cửa hiệu…. Nếu làm tốt khâu hệ thống nhận dạng đặc trưng sẽ góp phần tôn giá trị vô hình hoặc hữu hình của sản phẩm. Từ đó khách hàng sẽ dễ dàng nhận dạng sản phẩm của thương hiệu hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thương Hiệu Là Gì? 6 Yếu Tố Giúp Tạo Nên 1 Thương Hiệu Hoàn Hảo
  • Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sinh Trưởng Và Phát Triển Ở Động Vật
  • Yếu Tố Sản Xuất (Factors Of Production) Là Gì?
  • Chương 6. Thị Trường Yếu Tố Sản Xuất
  • Lý Thuyết Môi Trường Sống Và Các Nhân Tố Sinh Thái Sinh 12
  • Cùng Iicci Tìm Hiểu Rõ Hơn Về Khái Niệm Xúc Tiến Thương Mại Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Để Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Xúc Tiến Đầu Tư
  • Hệ Thống Marketing Và Nghiên Cứu Marketing
  • Ảnh Hưởng Của Xúc Tiến Thương Mại Quốc Tế Đến Doanh Nghiệp
  • Chính Sách Xúc Tiến(Kỹ Thuật Yểm Trợ Marketing)
  • Bản Chất Của Xúc Tiến
  • Định nghĩa xúc tiến thương mại là gì?

    Xúc tiến thương mại có tên tiếng Anh là Trade promotion.

    Về tính chất

    Đây là một hoạt động thương mại quốc tế nhưng khác với các hoạt động thương mại khác. Ở đây nó có ý nghĩa thúc đẩy và hỗ trợ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Cũng như các hoạt động thương mại có mục đích sinh lời khác,…

    Về chủ thể

    Các chủ thể chủ yếu là thương nhân, và phải có tư cách pháp lý độc lập. Tại Việt Nam, Pháp luật không cho phép văn phòng đại diện của thương nhân tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại. Chỉ có các chi nhánh của thương nhân mới được tham gia một số hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi cho phép.

    Về mục đích

    Xúc tiến thương mại hỗ trợ thúc đẩy các doanh nghiệp có cơ hội mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ nhằm kiếm thêm lợi nhuận.

    Về cách thức

    Các hoạt động xúc tiến thương mại bị cấm thực hiện là gì?

    – Xúc tiến thương mại với các sản phẩm kinh doanh bị pháp luật cấm cũng như hạn chế kinh doanh. Ngoài ra còn có các loại hàng hóa cấm lưu thông, hạn chế lưu thông. Các dịch vụ chưa được phép cung ứng trên thị trường.

    – Xúc tiến thương mại gây phương hại đến an ninh quốc gia. Ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, môi trường…Nói chung dễ hiểu đó chính là các lợi ích của cộng đồng.

    – Xúc tiến thương mại tạo sự cạnh tranh không lành mạnh trong môi trường các doanh nghiệp.

    – Ngoài ra còn có các trường hợp khác mà pháp luật cấm. (cụ thể với từng hoạt động đều có điều luật quy định).

    (Theo Philip Kotler)

    Khuyến mại

    Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa.Các hoạt động cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.

    Hội chợ triển lãm

    Hội chợ triển lãm là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ. Nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ.

    Cần phân biệt hội chợ và triển lãm thương mại

    – Ngoài mục đích quảng bá còn chú trọng đến mục đích bán hàng

    – Mang tính chất quảng bá về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

    – Hàng hóa phong phú, đa dạng thuộc nhiều ngành, nhiều lĩnh vực.

    – Hàng hóa thường có tính chuyên ngành.

    Trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ

    Trưng bày giới thiệu hàng hóa, dịch vụ là một hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân. Lúc này họ sẽ dùng hàng hóa, dịch vụ và tài liệu về hàng hóa, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ đó.

    Quan hệ công chúng

    Quan hệ công chúng (PR) là việc quản lý truyền thông nhằm xây dựng, duy trì mối quan hệ tốt đẹp. Cũng như sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức, một cá nhân với công chúng của họ. Từ đó tạo dựng hình ảnh tốt đẹp, củng cố uy tín, tạo dựng niềm tin, thái độ của công chúng với tổ chức và cá nhân theo hướng có lợi nhất.

    Cũng có thể hiểu một cách đơn giản: Quan hệ công chúng là việc một cơ quan tổ chức hay doanh nghiệp chủ động quản lý các quan hệ giao tiếp cộng đồng để tạo dựng và giữ gìn một hình ảnh tích cực của mình.

    Xúc tiến thương mại là gì? Các phương thức xúc tiến thương mại

    Các phương thức xúc tiến thương mại phổ biến hiện nay bao gồm:

    – Xúc tiến thương mại thường xuyên, liên tục

    – Xúc tiến thương mại định kỳ

    – Xúc tiến thương mại đột xuất: Áp dụng khi có sự thay đổi về địa điểm bán hàng, tính chất sản phẩm…

    – Xúc tiến thương mại theo chiến dịch: Được tiến hành rầm rộ bằng nhiều phương tiện khác nhau. Khi doanh nghiệp có ngày lễ kỉ niệm, doanh nghiệp tung ra sản phẩm mới.

    IICCI VietNam – Xúc tiến thương mại Việt Ấn

    Tầm Quan Trọng Của Việc Xúc Tiến Thương Mại Là Gì?

    Cơ Hội Của Thị Trường Việt Nam Khi Hợp Tác Với Công Ty Xúc Tiến Thương Mại Việt Ấn

    Những Ảnh Hưởng Của Xúc Tiến Thương Mại Quốc Tế Đến Doanh Nghiệp Của Bạn

    IICCI VietNam

    Lầu 1, tòa nhà Trường Phúc, 42/5 Nguyễn Văn Trỗi, phường 15, quận Phú Nhuận

    Mon – Fri: 9.30 AM – 5.30 PM

    SAT: 8.00 AM – 12.00 AM

    0931310639 – 0919130931

    [email protected][email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xúc Tiến Bán Hàng (Sales Promotion) Là Gì? Thực Hiện Xúc Tiến Bán Hàng
  • Xúc Tiến Bán Hàng Là Gì? Xây Dựng Chiến Lược Xúc Tiến Bán Hàng Hiệu Quả
  • Sinh Học 12 Chương Tiến Hóa: Lý Thuyết Trọng Tâm Và Bài Tập
  • Khái Niệm “tiến Hóa” Trong Triết Học
  • Chủ Nghĩa Tiến Hóa Xã Hội: Xã Hội Hiện Đại Phát Triển Như Thế Nào?
  • Tin tức online tv