Stdt: Khoa Học Và Công Nghệ Định Nghĩa Đội

--- Bài mới hơn ---

  • Ưu Nhược Điểm Khi Doanh Nghiệp Áp Dụng Kpi
  • Định Nghĩa Kế Toán Là Gì
  • Phân Biệt Kế Toán Tài Chính Và Kế Toán Quản Trị
  • Chuẩn Mực Kế Toán Số 02 : Hàng Tồn Kho
  • Tìm Hiểu Khái Niệm Kỳ Kế Toán Là Gì?
  • STDT có nghĩa là gì? STDT là viết tắt của Khoa học và công nghệ định nghĩa đội. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Khoa học và công nghệ định nghĩa đội, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Khoa học và công nghệ định nghĩa đội trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của STDT được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài STDT, Khoa học và công nghệ định nghĩa đội có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    STDT = Khoa học và công nghệ định nghĩa đội

    Tìm kiếm định nghĩa chung của STDT? STDT có nghĩa là Khoa học và công nghệ định nghĩa đội. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của STDT trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của STDT bằng tiếng Anh: Khoa học và công nghệ định nghĩa đội. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, STDT được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Khoa học và công nghệ định nghĩa đội. Trang này là tất cả về từ viết tắt của STDT và ý nghĩa của nó là Khoa học và công nghệ định nghĩa đội. Xin lưu ý rằng Khoa học và công nghệ định nghĩa đội không phải là ý nghĩa duy chỉ của STDT. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của STDT, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của STDT từng cái một.

    Ý nghĩa khác của STDT

    Bên cạnh Khoa học và công nghệ định nghĩa đội, STDT có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của STDT, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Khoa học và công nghệ định nghĩa đội bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Khoa học và công nghệ định nghĩa đội bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Ý Tưởng Thiết Kế Máy Bay Như Phim Khoa Học Viễn Tưởng
  • Top 5 Phim Khoa Học Viễn Tưởng Hay Nhất 2021 Do Forbes Công Bố
  • Học Thuyết Về Tội Phạm
  • Vài Nét Về Tội Phạm Học Và Nghiên Cứu Tội Phạm Học Ở Việt Nam
  • Đơn Vị Kilogram Sắp Được Định Nghĩa Lại (Từ Gd
  • Đăng Ký Thuế Đối Với Tổ Chức Khoa Học Và Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Bài Báo Khoa Học Mẫu Nhiều Ngành Học
  • Thế Nào Là Một “bài Báo Khoa Học” ?
  • Các Viết Báo Cáo Một Báo Cáo Khoa Học
  • Khuyến Cáo Khoa Học Mở Của Unesco Sẽ Được Phê Chuẩn Vào Tháng 11/2021
  • Khoa Học Mở: Những Gợi Ý Cho Việt Nam
  • Đăng ký thuế đối với tổ chức khoa học và công nghệ. Căn cứ các quy định của pháp luật về thành lập, đăng ký hoạt động tổ chức khoa học và công nghệ và quy định của pháp luật về đăng ký thuế thì: tổ chức khoa học và công nghệ do doanh nghiệp thành lập được tổ chức dưới các hình thức theo quy định tại Điều 9 Luật Khoa học và công nghệ, các tổ chức này có hoạt động độc lập, có điều lệ tổ chức và hoạt động, có con dấu vốn điều lệ và không thuộc các loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành.

    Sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ phải thực hiện thủ tục đăng ký thuế theo quy định tại Thông tư số 80/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính để được cấp mã số thuế 10 số, chi nhánh, văn phòng đại diện thuộc tổ chức khoa học và công nghệ được cấp mã số thuế 13 số theo mã số thuế 10 số của tổ chức chủ quản và thực hiện các thủ tục, nghĩa vụ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Chương ngân sách nhà nước đối với các tổ chức khoa học và công nghệ do doanh nghiệp thành lập được phân loại theo “chương” của doanh nghiệp chủ quản. Cụ thể:

    Là tổ chức sản xuất kinh doanh không thành lập theo Luật Doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc

    a) Đối với tổ chức sản xuất kinh doanh

    Hồ sơ đăng ký thuế gồm:

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 01-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này và các bảng kê kèm theo tờ khai đăng ký thuế (nếu có);

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Quyết định thành lập.

    Trường hợp tổ chức sản xuất kinh doanh là đơn vị chủ quản có đơn vị trực thuộc thì tổ chức sản xuất kinh doanh phải kê khai các đơn vị trực thuộc vào “Bảng kê các đơn vị trực thuộc”. Cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị chủ quản cấp mã số thuế cho đơn vị chủ quản, đồng thời cấp mã số cho từng đơn vị trực thuộc có trong “Bảng kê các đơn vị trực thuộc” của đơn vị chủ quản, kể cả trường hợp các đơn vị trực thuộc đóng tại các tỉnh khác. Đơn vị chủ quản có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho các đơn vị trực thuộc. Cơ quan thuế quản lý đơn vị chủ quản có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho cơ quan thuế quản lý đơn vị trực thuộc.

    Trường hợp đơn vị chủ quản thành lập thêm đơn vị trực thuộc thì đơn vị chủ quản phải có hồ sơ gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được cấp mã số thuế cho đơn vị trực thuộc mới thành lập thêm, đồng thời bổ sung vào “Bảng kê các đơn vị trực thuộc” của đơn vị chủ quản.

    Hồ sơ đăng ký mã số thuế cho đơn vị trực thuộc thành lập thêm gồm:

    – Thông báo thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh theo mẫu 07-MST ban hành kèm theo Thông tư này;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Quyết định thành lập đơn vị trực thuộc.

    b) Đối với đơn vị trực thuộc

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 02-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này và các bảng kê kèm theo tờ khai đăng ký thuế (nếu có). Trên tờ khai đăng ký thuế phải ghi rõ mã số thuế 13 số đã được đơn vị chủ quản thông báo;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư; hoặc Quyết định thành lập.

    Cơ quan thuế địa phương nơi đơn vị trực thuộc đặt trụ sở căn cứ hồ sơ đăng ký thuế của đơn vị trực thuộc và thông báo mã số thuế (13 số) của cơ quan thuế quản lý đơn vị chủ quản để thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế theo quy định.

    2. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là hộ gia đình, cá nhân kinh doanh

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 03-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (nếu có);

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng minh nhân dân hoặc chứng minh quân đội hoặc hộ chiếu.

    Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm. Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp và thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo quy định Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ.

    3. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế

    a) Đối với nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài trực tiếp ký hợp đồng thầu với chủ đầu tư

    Trường hợp nhà thầu nước ngoài là tổng thầu hoặc nhà thầu chính ký hợp đồng thầu với chủ đầu tư theo quy định của pháp luật, hồ sơ đăng ký thuế gồm:

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 04-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy phép thầu (hoặc giấy tờ tương đương do cơ quan có thẩm quyền cấp);

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy xác nhận đăng ký văn phòng điều hành (hoặc giấy tờ tương đương do cơ quan có thẩm quyền cấp, nếu có);

    – Bảng kê nhà thầu phụ kèm theo hợp đồng nhận thầu (nếu có).

    Cơ quan thuế địa phương căn cứ hồ sơ đăng ký thuế của nhà thầu thực hiện cấp mã số thuế 10 số theo quy định.

    b) Đối với nhà thầu nước ngoài tham gia hợp đồng liên danh tại Việt Nam

    Trường hợp các bên liên danh thành lập ra Ban điều hành liên danh thì Ban điều hành liên danh được cấp mã số thuế 10 số để thực hiện kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế theo quy định.

    Hồ sơ đăng ký thuế gồm:

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 04-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy phép thầu (hoặc giấy tờ tương đương do cơ quan có thẩm quyền cấp);

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy xác nhận đăng ký văn phòng điều hành (hoặc giấy tờ tương đương do cơ quan có thẩm quyền cấp, nếu có);

    – Bảng kê danh sách nhà thầu phụ, các bên tham gia liên danh kèm theo hợp đồng nhận thầu (nếu có).

    Trường hợp các bên tham gia liên danh thực hiện một phần công việc riêng biệt, tự xác định phần doanh thu thu được của mình thì có thể thực hiện đăng ký thuế riêng để kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế theo quy định của pháp luật về thuế hiện hành.

    4. Hồ sơ đăng ký thuế đối với bên Việt Nam nộp thuế thay cho nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài

    Hồ sơ đăng ký thuế gồm:

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu số 04.1-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này;

    5. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí a) Đối với Người điều hành và doanh nghiệp liên doanh

    Hồ sơ đăng ký thuế gồm:

    – Tờ khai đăng ký thuế mẫu 01-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này và các bảng kê kèm theo tờ khai đăng ký thuế (nếu có);

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng nhận đầu tư.

    Người điều hành thực hiện kê khai các nhà thầu, nhà đầu tư dầu khí vào “Bảng kê các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài”. Cơ quan thuế quản lý trực tiếp Người điều hành cấp mã số thuế 10 số cho Người điều hành đồng thời cấp mã số 13 số cho từng nhà thầu, nhà đầu tư có trong “Bảng kê các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài” của Người điều hành. Người điều hành có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho các nhà thầu, nhà đầu tư. Cơ quan thuế quản lý Người điều hành có trách nhiệm thông báo mã số thuế (13 số) cho cơ quan thuế quản lý nhà thầu, nhà đầu tư.

    b) Đối với nhà thầu, nhà đầu tư (bao gồm cả nhà thầu nhận phần lãi được chia)

    Hồ sơ đăng ký thuế gồm:

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 02-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này. Trên tờ khai đăng ký thuế phải ghi rõ mã số thuế 13 số đã được Người điều hành thông báo;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Giấy chứng nhận đầu tư;

    Cơ quan thuế địa phương nơi nhà thầu, nhà đầu tư đặt văn phòng điều hành căn cứ hồ sơ đăng ký thuế của nhà thầu, nhà đầu tư dầu khí và thông báo mã số thuế của cơ quan thuế quản lý trực tiếp Người điều hành để thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký thuế theo quy định.

    6. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là cá nhân thuộc diện nộp thuế thu nhập cá nhân gồm

    – Tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 05-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này;

    – Bản sao không yêu cầu chứng thực Chứng minh nhân dân hoặc chứng minh quân đội hoặc hộ chiếu đối với người nước ngoài.

    7. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam (có hoàn thuế giá trị gia tăng)

    Sử dụng tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 06-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này.

    8. Hồ sơ đăng ký thuế đối với người nộp thuế là tổ chức được ủy quyền thu thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các chủ dự án; tổ chức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân nhưng đơn vị không có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

    Sử dụng tờ khai đăng ký thuế theo mẫu 01-ĐK-TCT ban hành kèm theo Thông tư này (chỉ thực hiện khai các chỉ tiêu: 1, 3, 9, 14).

    9. Đối với một số ngành, nghề đặc biệt do các Bộ, ngành cấp giấy phép hoạt động (như tín dụng, luật sư, công chứng, dầu khí, bảo hiểm, y tế hoặc các lĩnh vực chuyên ngành khác) thì sử dụng giấy phép này thay cho Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định thành lập, giấy chứng nhận đầu tư trong hồ sơ đăng ký thuế.

    10. Đối với người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp là cá nhân, cơ quan thuế tự động cấp mã số thuế khi nhận hồ sơ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của năm đầu tiên.”

    Giải thích cho câu trả lời trên:

    Căn cứ công văn của Tổng cục Thuế số 5521_TCT-KK về đăng ký thuế tổ chức khoa học công nghệ do Tổng cục thuế ban hành

    – Căn cứ vào điều 5 thông tư 80/2012/TT-BTC

    Các dịch vụ nổi bật tại EXPERTIS

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Định Nghĩa Khác Nhau Về Khoa Học
  • Sự Thật Về Tình Yêu Dưới Góc Nhìn Khoa Học
  • Nghiên Cứu Tâm Lý Đưa Ra Định Nghĩa Mới Về Tình Yêu
  • Tác Động Của Khoa Học Hành Vi Đến Các Hoạt Động Của Phòng Nhân Sự
  • Khoa Học Về Hành Vi Con Người
  • Cơ Hội Và Thách Thức Ngành Khoa Học Công Nghệ Thời Kì Toàn Cầu Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 10 : Cách Mạng Khoa Học
  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 3684:1981 Về Thiết Bị Điện
  • Định Nghĩa Khoa Học Về Phạm Trù Vật Chất Được Ai Đưa Ra
  • Khoa Học Về Hành Vi Con Người
  • Tác Động Của Khoa Học Hành Vi Đến Các Hoạt Động Của Phòng Nhân Sự
  • Xu thế phát triển hiện đại đã kéo theo khuynh hướng tiên tiến toàn cầu hóa. Hay nói cách khác, đó là quá trình tăng lên những mối quan hệ có ảnh hưởng tác động, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Và khoa học công nghệ chính là công cụ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa đó. Trong quá trình tranh đua kinh tế gay gắt, quốc gia nào có khoa học và công nghệ đi đầu, quốc gia đó chiến thắng.

    Vậy khoa học công nghệ là gì?

    Thực tế, khoa học và công nghệ là hai khái niệm khác nhau. Nếu như khoa học là tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên và tư duy được thể hiện dưới dạng các lý thuyết, định lý, định luật, và nguyên tắc thì công nghệ lại nghiên cứu những giải pháp kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất và đời sống.

    Khoa học và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Kết hợp hai yếu tố này, con người có thể vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học vào sáng tạo cải tiến các công cụ công nghệ thông tin, tối ưu các phương tiện phục vụ cho sản xuất và phát triển dịch vụ, là bước đi ngắn nhất để hội nhập quá trình toàn cầu hóa thế giới. Học công nghệ thông tin ra làm gì? Câu trả lời đó chính là đòn bẩy nhanh nhất dẫn đến thành tựu của nhân loại.

    Việt Nam đang ở vị trí nào trong bối cảnh toàn cầu hóa công nghệ?

    Sang thế kỉ 20, ngành khoa học kỹ thuật của Việt Nam có bước nhảy vọt khi bắt đầu giai đoạn xúc tiến thương mại. Chúng ta đang trong quá trình đổi mới và chuyển giao công nghệ thông tin. Việt Nam tập trung chú ý vào đổi mới công nghệ, nhập công nghệ mới, nắm bắt và đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải tiến và sáng tạo ra sản phẩm công nghệ mới.

    Ngày nay, sinh viên học công nghệ thông tin ra làm gì không còn là câu hỏi khó của người trẻ. Bối cảnh toàn cầu hóa và tiếp cận công nghệ tân tiến thế giới đã giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn. Nhiều doanh nghiệp, tổ chức tập trung đầu tư và phát triển nghiên cứu khoa học, cải tiến công nghệ để hòa nhập và giao lưu với các nước có kinh tế mạnh. Từ đó đưa giá trị của người Việt, sản phẩm Việt ra sánh vai với bạn bè quốc tế. Vậy đâu là cơ hội và thách thức của chúng ta trong bối cảnh toàn cầu hóa?

    Học công nghệ tân tiến của thế giới là cơ hội lớn giúp kinh tế Việt Nam phát triển

    Xúc tiến thương mại đã tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta. Đặc biệt ở lĩnh vực khoa học và công nghệ, các nước tiên tiến có nền khoa học và công nghệ phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đều đổ dồn sự chú ý vào Việt Nam. Sự hội nhập, giao lưu với nền khoa học công nghệ của thế giới đã giúp Việt Nam tiếp cận với công nghệ hiện đại, từ đó học tập kinh nghiệm, tiếp thu thành tựu và phát huy khả năng sáng tạo, ứng dụng vào thực tiễn.

    Việc chuyển giao các dây chuyền công nghệ tiên tiến của thế giới vào từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam như: công nghệ sản xuất ô tô, công nghệ sản xuất thiết bị di động cầm tay, chip và các sản phẩm viễn thông, công nghệ xây dựng cầu đường và đặc biệt công nghệ thông tin trong các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng đã góp phần đưa các ngành này từng bước tiếp cận và đạt đến trình độ của thế giới.

    Một ví dụ điển hình về sự tiếp thu, học công nghệ hiện đại và phát minh sáng tạo chính là thành tựu khổng lồ sáng chế xe hơi mang thương hiệu VinFast của tập đoàn Vingroup trong thời gian gần đây. Không những là chiếc xe hơi nội địa đầu tiên do người Việt sản xuất dưới sự hỗ trợ từ các chuyên gia ô tô hàng đầu từ ngành công nghiệp ô tô của Mỹ và châu Âu, dựa trên nền tảng công nghệ Đức và thiết kế đậm chất Italia, ô tô của VinFast còn sản phẩm hoàn hảo khiến những nước đi đầu về công nghệ phải nể phục.

    Bên cạnh đó, các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực công nghệ thông tin và nghiên cứu khoa học trình độ cao nhằm tiếp nhận, chuyển giao những thành tựu tiên tiến của thế giới cũng được mở ra. Điều này góp phần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ những người làm khoa học hiện có và phát triển đội ngũ các kỹ sư công nghệ thông tin trẻ để họ kế tục sự nghiệp phát triển nền công nghệ 4.0 hiện đại giúp Việt Nam ngày càng vươn tới đỉnh cao, từng bước chạm tới mốc tiên phong.

    Những khó khăn, thách thức không hề nhỏ với ngành nghiên cứu khoa học nói chung và người học công nghệ thông tin nói riêng

    Trong bối cảnh này, việc cạnh tranh về hàng hóa với Trung Quốc là một ví dụ điển hình. Các mặt hàng tiêu dùng Trung Quốc, nhất là hóa chất và đồ nhựa ồ ạt đổ dồn về nước ta chiếm thị phần, từ đó gây tác động không nhỏ về kinh tế. Nguyên nhân dẫn đến vấn đề này chính là do một phần chúng ta chưa nắm được công nghệ sản xuất như họ, thứ hai là do chúng ta chưa có đủ máy móc, thiết bị tiên tiến dẫn đến các mặt hàng chưa cạnh tranh được về mẫu mã, giá cả cũng như chất lượng. Từ đó gây ra tình trạng doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh yếu kém ngay cả trong nước.

    Bên cạnh đó, sự đầu tư ngân sách nhà nước cho việc học công nghệ tiên tiến và phát triển ngành khoa học kỹ thuật và còn nhỏ giọt và có nhiều vướng mắc. Theo khảo sát, các nước tiên tiến đầu tư rất mạnh (đạt từ 3 – 5% ngân sách) cho việc nghiên cứu và phát triển khoa học, đặc biệt là nghiên cứu các sản phẩm khoa học ứng dụng. Trong khi đó, Việt Nam chỉ đầu tư khoảng 2% tổng chi ngân sách, một con số chênh lệch quá lớn dẫn đến thách thức cho nền kinh tế chung.

    Một yếu điểm lớn nhất chính là đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy môn nghiên cứu khoa học và công nghệ thông tin, đặc biệt là các nhà khoa học đầu ngành còn thiếu nhiều, nhất là khi tình trạng “chảy máu chất xám” vẫn còn chưa giải quyết được. Các trường đại học, trung tâm đào tạo, giảng dạy chuyên sâu về khoa học và công nghệ thông tin chưa hoạt động hiệu quả. Cơ chế quản lý khoa học nhất là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài còn nhiều tiêu cực. Việc đào tạo còn nhiều hạn chế nên sinh viên ngành công nghệ thông tin phần lớn ra trường vẫn chưa tìm được việc làm hoặc không biết phải làm gì để phù hợp với khả năng. Từ đây có thể thấy khó khăn và thách thức của Việt Nam trên con đường hội nhập khoa học còn khá nhiều điều vướng mắc.

    Học công nghệ thông tin ra làm gì? Câu hỏi lớn của những người học các ngành này trong bối cảnh toàn cầu hóa

    Công nghệ thông tin là một ngành rất hot ở thời điểm hiện tại, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang tiếp xúc đến gần hơn với nhiều thành tựu khoa học công nghệ. Trong thời kỳ hội nhập, công nghệ thông tin là ngành mũi nhọn mang đến những phát minh vượt bậc cho khoa học kỹ thuật. Theo định hướng quy hoạch quốc gia đến năm 2021 Việt Nam cần khoảng 1.000.000 lao động thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin. Chính vì thế nhiều sinh viên tìm học công nghệ thông tin như một thước đo về tri thức và sự bảo đảm cho nghề nghiệp tương lai.

    Hiện nay, ngành công nghệ thông tin được phân chia thành 5 chuyên ngành phổ biến, gồm: khoa học máy tính, kỹ thuật máy tính, hệ thống thông tin, mạng máy tính truyền thông, kỹ thuật phần mềm. Tất cả những lĩnh vực này đều hướng tới một mục tiêu chung là phát triển việc nghiên cứu và thực nghiệm khoa học, mang kỹ thuật vào ứng dụng mọi mặt đời sống bằng cách sáng tạo và phát triển các ứng dụng, các sản phẩm tiện ích, cao cấp nhất.

    Đối với sinh viên học công nghệ thông tin, các bạn ra trường có thể làm các công việc như lập trình viên, kỹ sư phát triển web, chuyên gia sáng tạo phần mềm, ứng dụng, chuyên gia phát triển robot, máy móc… Ngoài ra, công nghệ thông tin có mặt trong tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống xã hội hiện nay và vì vậy sinh viên công nghệ thông tin ra trường sẽ không phải lo lắng quá nhiều về vấn đề việc làm như đối với các ngành học khác.

    Nắm rõ bối cảnh và lợi ích của ngành khoa học công nghệ, các bạn trẻ cần có đam mê và niềm yêu thích đối với công nghệ thông tin sẽ có thể tự tin hơn với con đường mình lựa chọn. Đối với các bạn yêu thích môn khoa học tự nhiên, có tư duy logic, thích tìm tòi sáng tạo, làm nên cái mới sẽ là ứng viên vô cùng phù hợp với ngành học này. Đừng bỏ lỡ cơ hội học ngành công nghệ thông tin nếu bạn còn trẻ bởi bạn sẽ chẳng bao giờ phải lo thất nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Khoa Học Môi Trường
  • Khoa Học Môi Trường Là Gì?
  • Trải Nghiệm Khách Hàng Là Gì?
  • Bạn Hiểu Thế Nào Về Trải Nghiệm Khách Hàng ?
  • Những Khái Niệm Cơ Bản Về Trải Nghiệm Khách Hàng
  • Bài Tập Môn Logic Học Có Đáp Án

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Vấn Đề Chân Lý :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Ý Nghĩa Của Các Nhà Khoa Học Xã Hội Trong Khái Niệm Chân Lý Và Đạo Đức Là Gì
  • Tài Liệu Trắc Nghiệm Logic Học
  • Đề Thi Trắc Nghiệm Logic Học Đại Cương
  • Câu 1: Phân tích và minh họa các lỗi Logic mắc phải khi vi phạm các quy tắc của phép định nghĩa khái niệm.

    Khi định nghĩa khái niệm ta phải tuân theo 4 quy tắc và với mỗi quy tắc có cá lỗi Logic sau:

    Quy tắc 1: Định nghĩa phải cân đối.

    Nếu vi phạm quy tắc này thì ta có thể phạm phải sai làm là phân chia thừa hoặc thiếu thành phần.

    Ví dụ: Khi phân chia “Học lực” của học sinh mà chỉ có học sinh giỏi và học sinh yếu là sự phân chia thiếu thành phần.

    Quy tắc 2:Định nghĩa phải được tường minh.

    Trong quy tắc này thường mắc lỗi phát biểu kô rõ ràng, nói ví von dẫn đến không hòan thành nhiệm vụ thứ nhất của phép định nghĩa là xác định nội hàm của khái nhiệm cần định nghĩa:

    Ví dụ: Sinh viên là người đầy hy vọng.

    Quy tắc 3: Định nghĩa không được vòng quanh.

    Lỗi mắc phải thường là định nghĩa khái niệm bằng chính khái niêm đỏ chỉ bằng cách nói khác.

    Ví dụ: Logic học là khoa học về tư duy đúng đắn

    Quy tắc 4: Hạn chế dùng hình thức phủ định

    Lỗi mắc phải khi dùng hình thức phủ định sẽ khiến làm khó xác định nội hàm của khái niệm dẫn đến người đoc,người nghe kô hiểu rõ ý hoặc hiểu sai ý.

    Ví dụ: Học sinh kô được uống rượu,không được hút thuốc.

    Câu 2: Tại sao chủ từ logic luôn chu diên trong các phán đóan tòan thể và vị từ logic luôn chu diên trong các phấn đoán phủ định.

    Qua bảng thống kê trên ta có thể nhận xét : chủ từ logic luôn chu diên trong các phán đóan tòan thể và vị từ logic luôn chu diên trong các phấn đoán phủ định.

    Câu 3: Tại sao trong mọi phép suy luân diễn dịch phải tuân thủ quy tắc chung ” Danh từ nào kô chu diên ở tiền đề cũng không được chu diên ở câu kết luận

    Suy luận diễn dịch có đặc điểm là đối tượng đề cập trong kết luận không vượt quá đối tượng đề cập ở tiền đề vị con đường diễn dịch là đi từ cái chung đến cái riêng, vì vậy mới có quy tắc “danh từ nào kô chu diên ở tiền đề cũng không được chu diên ở câu kết luân”,qui tắc này chi phối cả danh từ S và danh từ P. Vì vậy nếu vi phạm sẽ làm cho giá trị logic của suy luận bị sai.

    Câu 4: Tại sao từ tiền đề là phán đoán đơn Osp thì sẽ không thể rút được câu kết luận bằng phép đổi chỗ? Giải thích bằng 2 cách khác nhau.

    Osp nếu đổi chỗ thì sẽ vi phạm qui tắc “danh từ nào không chu diên ở tiền đề thì không được chu diên trong câu kết luận”. S ở tiền đề làm chủ từ – không chu diên, khi đổi chỗ thì trong kết luận S lại chuyển vị tri-làm vị từ, mà vị từ của phán đoán phủ đinh lại chu diên

    Câu 5: Xác định những định nghĩa sau đâu thuộc kiểu định nghĩa nào? Đúng, sai? Tại sao?

    1. Logic học la một bộ môn khoa học về logic.
    2. Thấu kính là một loại dụng cụ quang học được giới hạn bởi một mặt phẳng và một mặt cong lồi.
    3. Sản phẩm BCVT là hiểu quả có ích của hoạt động truyền đưa tin tức.
    4. Lợi nhuận là hiệu số giữa giá trị hàng hóa bán được với chi phí để sản xuất ra hàng hóa đó.
    1. trong câu này ta thấy có 2 khái niệm là “Logic” và “bộn môn khoa học về logic” vậy đây thuộc kiểu 2 định nghĩa qua quan hệ.Và định nghĩa này Sai.Vì đã vi phạm quy tắc “định nghĩa không được vòng quanh”.
    2. Trong câu này ta dễ dàng thấy khái niệm “thấu kính” = khái niệm”dụng cụ quang hoc” +” giới hạn bởi một mặt phẳng và một mặt cong lồi ” vậy nó thuộc kiểu 1 định nghĩa thông qua loại và khác biệt về chủng loại. Và định nghĩa này Sai.Vì đã vi phạm quy tắc “định nghĩa phải cân đối”.Theo cách định nghĩa trên thì đã làm thiếu thành phần của khái niệm “Thấu kính”.
    3. Trong câu này đã chỉ ra cách hình thành “sản phầm BCVT”= “là hoạt động truyền đưa tin tức” và “hiệu quả có ích”. vậy nó thuộc kiểu định nghĩa phát sinh.Và định nghĩa này Sai.Vì đã vi phạm quy tắc “định nghĩa phải tường mình” và vi phạm quy tắc “định nghĩa phải cân đôi”.
    4. Trong câu này đã chỉ ra cách hình thành khái niệm “lợi nhuận” vậy nó thuộc kiểu định nghĩa phát sinh và là địn nghĩa Đúng.Vì đã chỉ ra được nội hàm trong định nghĩa.

    {– Xem đầy đủ nội dung tại Xem online hoặc Tải về–}

    --- Bài cũ hơn ---

  • Marketing Là Gì? Bản Chất Của Marketing
  • Cách Nhìn Mới Về Tiến Trình Dạy Học Khái Niệm Toán Học Cach Nhin Moi Ve Tien Trinh Day Hoc Khai Niem Toan Hoc Doc
  • Định Nghĩa Lại Thất Bại
  • Nếu Bạn Sợ Thất Bại, Hãy Định Nghĩa Nó Theo Cách Khác
  • Thất Bại Là Gì? Tại Sao Tôi Thất Bại? Khái Niệm Của Kẻ Thất Bại
  • ? Học Tập © ❓ Học Tập Là Gì ? ❓ Học Tập Để Làm Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Hình Học 12 Chuẩn: Bài Tập Khôí Đa Diện Lồi Và Khối Đa Diện Đều
  • Tổng Hợp Kiến Thức Cần Nhớ Về 5 Khối Đa Diện Đều, Khối Tứ Diện Đều, Khối Lập Phương. Khối Bát Diện Đều, Khối 12 Mặt Đều, Khối 20 Mặt Đều
  • Chương I. §3. Phép Vị Tự Và Sự Đồng Dạng Của Các Khối Đa Diện.các Khối Đa Diện Đều
  • Khái Niệm Đa Diện Lồi
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?
  • 🍀 Ông trời không sinh ra người đứng trên người,

    🍀 Ông trời không sinh ra người đứng dưới người,

    🍀 ​Tất cả do sự học mà ra.

    Fukuzawa Yukichi

    🎓 Học

    ❓ Học tập là gì ?

    🍍 “Gốc của sự học là học làm người”

    Rabindranath Tagore

    📗 Khả năng học hỏi là sở hữu của loài người, một số động vật và một số loại máy móc nhất định.

    📗 Tiến bộ theo thời gian có xu hướng tiệm cận theo đường cong học tập.

    📗 Học tập cũng như việc học tập bài bản không bắt buộc, tùy theo hoàn cảnh và có thể học dưới nhiều hình thức khác nhau.

    📗 Nó không xảy ra cùng một lúc, nhưng xây dựng dựa trên và được định hình bởi những gì chúng ta đã biết.

    📗 Học tập có thể được xem như một quá trình, chứ không phải là một tập hợp các kiến ​​thức thực tế và các hủ tục giáo điều.

    📗 Việc học tập của con người có thể xảy ra như là một phần của giáo dục, đào tạo phát triển cá nhân.

    📗 Chơi đùa đã được tiếp cận dưới một số nhà lý luận xem như là hình thức đầu tiên của việc học.

    📗 Trẻ em thử nghiệm với thế giới, tìm hiểu các quy tắc, và học cách tương tác thông qua chơi đùa.

    👓 Càng đọc nhiều, bạn càng biết nhiều

    👓 Càng học nhiều, bạn càng tới được nhiều nơi.

    Dr. Seuss

    📘 Giải thích nghĩa của các từ: học tập, học hành, học tủ, học vẹt, học kì, học lỏm

    🍀 Học tập:

    🌼 Là học và luyện tập để có kĩ năng, kiến thức

    🍀 Học hành:

    🌼 Vừa học kiến thức lí thuyết vừa thực hành để củng cố kiến thức lí thuyết

    🍀 Học tủ:

    🌼 Vựa chọn ra một số câu hoặc một số phần để học

    🍀 Học vẹt:

    🌼 Học thuộc lòng nhưng không hiểu gì

    🍀 Học kì:

    🌼 Pần của năm học

    🍀 Học lỏm (Học lóm ):

    Học bằng cách nghe hoặc xem người khác làm rồi tự học, tự làm theo chứ không có ai trực tiếp chỉ bảo

    1. Học tập: học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng, có tri thức kết quả học tập siêng năng học tập làm theo gương tốt học tập lẫn nhau

    2. Học tập là: nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi và khám phá những cái mới làm cho cuộc sống của mình và xã hội ngày càng phong phú hơn.

    3. Học tập là quá trình tích luỹ kiến thức của nhân loại trong nhà trường và ngoài xã hội.

    4. Học hay còn gọi là học tập, học hành, học hỏi quá trình tiếp thu cái mới hoặc bổ sung, trau dồi các kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, giá trị, nhận thức

    5. Học tập là quá trình tích luỹ kiến thức của nhân loại trong nhà trường và ngoài xã hội.

    6. Học tập là để có hiểu biết, có trí óc và có hiểu biết rộng

    7. Học tập là một quá trình tôi luyện về tri thức, tiếp thu mọi điều có sẳn trong thực tế, nhà trường và ngoài xã hội.

    8. Học tập là giúp ta hiểu sâu hiểu rông hơi mà vấn đề ta muỗn biết giúp ta trao đôi kiến thức, tich luỹ kinh nghiệm, và cùng nhằm tăng sự sáng tạo và trí tuệ, để chúng ta áp dụng và đời sống và xã hội

    9. Học tập giúp ta thu nạp, hiểu biết và bổ sung thêm những kiến thức mà ta chưa biết. Còn giúp ta hiểu biết rộng, tích lũy kiến thức của nhân loại trong nhà trường, sách vở và ngoài xã hội

    10. Học tập là thu nhận kiến thức khoa học, nâng cao hiểu biết

    11. Học tập là con đuờng duy nhất phát triển cho tương lai

    12. 1. Học và luyện tập cho biết, cho quen: Học tập quân sự rất chăm chỉ. 2. Noi gương: Học tập các liệt sĩ cách mạng.

    13. Học tập là học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng có trí thức

    14. Học tập là quá trinh tiếp thu kiến thức từ sách vở, thầy cô, xã hội . Học giúp ta hiểu những vấn đề ta chưa biết

    15. Học tập là quá trình khám phá và tiếp thu những tinh hoa kiến thức của nhân loại. 16. Học tập để tiếp thu những gì chúng ta còn chưa biết, học không bao giờ là muộn.

    17. Học tập là con đường đẫn đến thành công của mỗi con người. Đó là yếu tố quan trọng quyết định tương lai của chúng ta.học tập sẽ cho ta những hiểu biết, những kiến thức mà ta chưa từng được biết. Kiến thức là vô cùng rộng lớn và bao la như biển trời, vì vậy chúng ta nên học tập thật tốt để có nhiều dự định hơn trong tương lai sau này.

    18. Học là nơi mà chúng ta lĩnh hộ kiến thức 19. Học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát)

    20. Học tập là phải có đủ các yếu tố sau: học tập, học hành và học hỏi Học tập nghĩa là phải biết tìm hiểu những gì mình chưa biết ở mọi nơi và mọi người. Học hành nghĩa là học phải đi đôi với hành, áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Học hỏi nghĩa là khi học mà không hiểu thì ta phải hỏi những người xung quanh thấy có bạn bè để có kết quả tốt.

    21. Học tập có ý nghĩa là tích trữ các thông tin về mọi thứ và những kiến thức ngoài xã hội

    22. Học tập là tiếp thu những tri thức của nhân loại

    23. Học tập là để trang bị cho mình những kiến thức mới, học tập để tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội, học tập để giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

    24. Học tập là để mở rông trí thông minh trong đầu của mỗi con người.

    ❓ Học để làm gì ?

    🌴 Ý kiến thứ 1

    🌿 Đối với bản thân:có kiến thức, hiểu biết được phát triển toàn diện. Rèn luyện trí não, dễ tiếp thu những cái mới của thời đại

    🌿 Đối với gia đình và xã hội: góp phần xây dựng quê hương đất nước, trở thành người lao động có đầy đủ phẩm chất.

    🌴 Ý kiến thứ 2

    🌿 Học để làm người

    🌿 Học để nâng giá trị bản thân

    🌿 Học để tự lập, thành công

    🌿 Học để báo hiếu

    🌴 Ý kiến thứ 3

    🌿 Học để có tương lai rộng mở.

    🌿 Học để có sự kính trọng từ xã hội.

    🌿 Học để cứu sống bản thân

    🌿 Học để làm người

    🌿 Học để có nghề nghiệp.

    🌿 Học để báo hiếu thân sinh.

    🌿 Học để giỏi, làm tấm gương cho mọi người.

    🌿 Học để nâng giá trị bản thân.

    🌿 Học giỏi để cha mẹ tự hào.

    🌿 Học để tự lập, thành công trong cuộc sống.

    🎈 Phương pháp học tập là gì ?

    💧 Phương pháp học tập là những cách thức hay đường lối học hành mà khi chúng ta đầu tư vào học tập với những khoảng thời gian hợp lí và mang lại hiệu quả cao.

    💧 Giúp người học hiểu rõ và nắm bắt được nội dung của bài học thì được gọi là phương pháp học tập.

    📚 Hét khản giọng dạy con không bằng làm gương cho con học tập

    📚 Lúc này không học bao giờ mới học

    📚 Một người không có tri thức, thì anh ta có cái gì?

    📚 Học, học nữa, học mãi – Leninh

    📚 Ấu nhi học, tráng nhi hành – Luận ngữ

    📚 Học thầy không tày học bạn

    📚 Đi một ngày đàng học một sàng khôn

    📚 Ngọc không mài không thành ngọc quý/Người không học không biết đạo lý

    📚 Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người

    📚 Học không hiểu, học không hành là học như vẹt

    📚 Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học

    📚 Người không học như ngọc không mài

    📚 Học ăn, học nói, học gói, học mở

    📚 Dốt đến đâu học lâu cũng biết

    📚 Không thầy đố mày làm nên

    ✅ Benjamin Franklin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 11. Định Luật Jun
  • Kỷ Yếu Là Gì? Hướng Dẫn Những Cách Làm Kỷ Yếu Độc Đáo Nhất
  • Kỷ Yếu Là Gì? Những Xu Hướng Kỷ Yếu Hiện Nay Là Gì?
  • Chụp Ảnh Kỷ Yếu Là Gì
  • Kỷ Yếu Là Gì? Quy Trình In Kỷ Yếu Là Gì?
  • 5 Phương Pháp Tự Học Tiếng Anh Giao Tiếp Thành Công

    --- Bài mới hơn ---

  • 111 Từ Vựng Tiếng Anh Thương Mại (Business English) Thông Dụng
  • Động Từ Tiếng Anh Là Gì : Định Nghĩa, Phân Loại, Cách Sử Dụng
  • Định Nghĩa Về Câu Trong Tiếng Anh
  • Tất Tần Tật Về Từ Vựng Tiếng Anh Không Phải Ai Cũng Biết!
  • Định Nghĩa Phân Loại Động Từ Trong Tiếng Anh
  • Bạn không có tiếng Anh, tất nhiên bạn vẫn có 1 công việc yêu thích. Nhưng bạn có tiếng Anh, cơ hội nghề nghiệp của bạn cao hơn ít nhất 30% . Bởi 98% nhà tuyển dụng quyết định chọn ứng viên giỏi tiếng Anh giữa hai ứng viên có cùng trình độ; 95% sẵn sàng trả lương cao hơn đến 30% cho ứng viên biết tiếng Anh.

    JobStreet Kuala Lumpur cũng đã tiến hành một cuộc khảo sát về vấn đề tại sao những người mới tốt nghiệp không thể tìm được việc làm. Tầm quan trọng của tiếng Anh được thể hiện rõ rệt với kết quả 91% nhà tuyển dụng xem tiếng Anh như một ngôn ngữ bắt buộc dùng để giao tiếp trong kinh doanh. Riêng trong môi trường doanh nghiệp, kết quả 95% nhà tuyển dụng cho rằng trình độ tiếng Anh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, hiệu quả làm việc. Khả năng tự học tiếng anh giao tiếp cũng thể hiện trình độ tiếp thu của ứng viên. Họ sẵn sàng loại hồ sơ của ứng viên vì khả năng giao tiếp và sử dụng tiếng Anh của ứng viên đó không tốt.

    Chắc hẳn rất nhiều bạn trẻ rơi vào tình huống được du khách nước ngoài hỏi đường, nhờ giúp đỡ điều gì đó. Tuy nhiên đáng buồn là nhiều người sẽ chọn cách lắc đầu, cảm thấy ngại ngùng và không thể truyền đạt được suy nghĩ của của họ. Đối với trường hợp số người còn lại, họ có thể sẵn sàng trao đổi, phiên dịch và luôn có thái độ tự tin khi trò chuyện với người nước ngoài do tự học tiếng Anh giao tiếp. Đây cũng là một trong những cách giao tiếp tiếng Anh tốt và cực hiệu quả để cải thiện kĩ năng của bản thân.

    Đối với những khu du lịch nổi tiếng, có rất nhiều khách du lịch đến khám phá. Nếu bạn là một người bán hàng, mong muốn có lượng bán cao, việc đầu tiên bạn phải làm tốt đó chính là nói tiếng Anh, có cách giao tiếp tiếng Anh tốt để thuyết phục khách hàng phải không? Không khó để nhìn ra những nước phát triển sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai nhưng lại có phương thức hoạt động du lịch được đánh mạnh vào sự hài lòng của khách hàng. Nếu bạn có cơ hội đi đến những tiệm làm chocolate, sản phẩm truyền thống được đưa vào doanh nghiệp hóa như ở các nước Singapore, người hướng dẫn giới thiệu sản phẩm thường có một khả năng nói tiếng Anh rất tốt, thậm chí họ còn học cả Tiếng Việt, Tiếng Thái để phục vụ cho các nước khác.

    Ngày nay, việc đi du học của học sinh rất phổ biến bởi các gia đình đều đã có điều kiện hơn, tư tưởng cũng “Tây hóa”. Để đi du học, ngôn ngữ quyết định thành công chính là tiếng Anh. Không những nó là ngôn ngữ giao tiếp khi sang nước khác, mà còn là bài thi điều kiện để học sinh phải tìm hiểu, tham dự thi để chứng minh khả năng du học của mình.

    Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ thông, hầu như mỗi quốc gia đều coi nó là ngôn ngữ thứ nhất hoặc thứ hai, vậy nên khi giao tiếp với họ, chúng ta đều phải sử dụng tiếng Anh. Một lần nữa phải khẳng định tính thiết thực, có thể áp dụng vào thực tiễn như thế nào khi có một kỹ năng nói tiếng Anh trôi chảy. Khi đến một đất nước khác, nói tiếng Anh giúp bạn thích nghi với môi trường, cuộc sống nhanh hơn, tìm hiểu về những thông tin về khách sạn, địa điểm du lịch, mua bán hàng hóa,… dễ dàng hơn rất nhiều.

    Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu mà Việt Nam chưa được tiếp cận hay tiếp xúc đến, vậy nên khi biết ngôn ngữ này chính là đòn bẩy lớn cho mỗi người để mở mang kiến thức.

    Tự học tiếng Anh giao tiếp phục vụ nhu cầu du lịch, học tập

    Khi có tiếng Anh giao tiếp tốt, chúng ta có thể kết bạn với nhiều quốc gia trên thế giới nhờ các phần mềm, mạng xã hội, công cụ học tập hay tham gia những buổi gặp mặt với bạn nước khác. Việc có thêm những người bạn này giúp cho mỗi người hiểu biết hơn về văn hóa, kiến thức mà trước đây ta

    Rất nhiều nghiên cứu, giáo trình hay những cuộc hội thảo đều được sử dụng bằng ngôn ngữ toàn cầu này. Vậy nên, khi có nền tảng vững chắc trong giao tiếp, chúng ra có thêm nhiều cơ hội để làm việc, trao đổi với những người khác cùng lĩnh vực và chia sẻ ý kiến cá nhân cũng như những đổi mới. Đó là việc mà không chỉ những người học tiếng Anh có thể nhìn ra.

    Vào những năm gần đây, tiếng Anh dần phổ biến hơn ở Việt Nam. Từ đó, trong đời sống hàng ngày đều có sự thay đổi nhỏ mà chưa chắc bạn đã nhận ra. Việc thay đổi này có thể hình thành vì mong muốn tốt lên ở ngôn ngữ này của cá nhân hoặc nó được hình thành ngẫu nhiên của tầm ảnh hưởng tiếng Anh mang lại.

    Đi trên đường, trong trung tâm thương mại, nhà hàng, khách sạn đều có những dòng chỉ dẫn bằng tiếng Anh. Hay một số điện thoại, laptop đều được cài đặt mặc định chỉ sử dụng bằng tiếng Anh hay nhiều người dùng nó như một công cụ ví dụ như Siri để đặt báo thức, tìm kiếm thông tin bằng giọng nói của mình.

    Hướng dẫn cách học tiếng Anh thực dụng, dễ dàng cho người không có năng khiếu và mất gốc. Hơn 205.350 học viên đã áp dụng thành công với lộ trình học thông minh này.

    Học giao tiếp tiếng Anh sẽ chẳng phải là việc chạy 100m rồi xong mà đó là quá trình chuẩn bị cho 1 cuộc thi marathon đường dài. Bởi để có thể học tiếng Anh giao tiếp cơ bản, bạn sẽ cần chuẩn bị những nền tảng ban đầu: phát âm, từ vựng, ngữ pháp,…sau đó là đến phản xạ khi giao tiếp, kỹ năng giao tiếp của từng cá nhân. Chứ bạn không thể nào học từ đơn lẻ “How are you?’ rồi áp dụng trong tất cả các trường hợp giao tiếp bởi khi giao tiếp phải có sự tương tác giữa 2 chủ thể tham gia cuộc hội thoại. Một số tips để bạn có thể tự tìm cho mình các học tiếng Anh giao tiếp tại nhà hiệu quả như:

    Tôi cần bao nhiêu từ vựng để có thể giao tiếp tiếng Anh tốt?

    Một trong những bước quan trọng để có thể có cách học tiếng Anh giao tiếp hiệu quả đó chính là bạn cần được trang bị nền tảng từ vựng cơ bản qua việc nghe và đọc, rồi mới có thể giao tiếp được, nhưng bao nhiêu thì mới đủ? Tiếng Anh có khoảng trên 1.000.000 từ vựng các loại. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 2500 – 3000 từ vựng phổ biến nhất, được sử dụng thường xuyên trong giao tiếp, kể cả khi trò chuyện, điện thoại, thuyết trình hay đàm phán,…

    Vậy thì việc bạn cần làm là tập trung vào những từ này, sau đó mở rộng nâng cao dần. Nhưng phải học như thế nào lại là một vấn đề khác. Phần lớn người học đã quen với việc dịch từ tiếng Anh sang tiếng mẹ đẻ hay ngược lại, nên khi giao tiếp họ cũng dịch. Nhưng vấn đề là việc dịch sẽ mất thời gian, làm bạn không thể nào theo kịp tốc độ nói của đối phương, bạn hiểu được câu này nhưng lại không nghe được câu tiếp theo, người nghe cũng sẽ rất khó chịu và không đủ kiên nhẫn để đợi bạn dịch xong mới trả lời. Giao tiếp tiếng Anh đòi hỏi phản xạ nhanh và sự tương tác tốt. Vì vậy, khi học từ vựng, hãy học và áp dụng trong từng ngữ cảnh cụ thể.

    Cần vượt qua tâm lý sợ hãi để tự học tiếng Anh giao tiếp thành công

    Tìm hiểu ngay phương pháp học từ vựng nhanh chóng và hiệu quả chỉ với 30 ngày. Việc học từ vựng nhằm mục đích giao tiếp cơ bản chưa bao giờ là khó nếu như có tài liệu và phương pháp phù hợp. Step Up đã có 1 bài viết chi tiết về cách học từ vựng hiệu quả, phân tích tại sao bạn không thể ghi nhớ từ vựng cũng như ứng dụng trong thực tế.

    3. Dừng việc học ngữ pháp theo cách truyền thống

    Khi học giao tiếp tiếng Anh cơ bản, phần lớn chúng ta sẽ ngập ngừng vì thắc mắc:

    “Liệu mình nói câu này có đúng ngữ pháp không?”

    “Câu này mình nói thì quá khứ đúng chưa nhỉ? Câu này nên dùng động từ nào?”

    Bởi hầu hết chúng ta đang được học ngữ pháp bằng cách ghi nhớ các công thức hay cấu trúc theo cách truyền thống. Chính điều này lại là một trong những rào cản lớn để giao tiếp tiếng Anh trôi chảy. Bởi theo thói quen, khi bạn muốn nói một điều gì đó, bạn phải nghĩ xem cần phải dùng cấu trúc ngữ pháp nào, cách dùng như thế nào, dùng có đúng hay không….điều đó làm phản xạ của bạn rất chậm và không thể nói tự nhiên. Vì vậy hãy quên mấy công thức ngữ pháp đi.

    Nếu không học cấu trúc ngữ pháp thì làm sao nói thành câu được?

    Việc nói tiếng Việt của chúng ta đâu có cần ngữ pháp đúng không? Chúng ta bập bẹ, tập nói khi chúng ta nghe nhiều, tiếp xúc nhiều. Người bản xứ học cũng vậy. Vì thế thay vì nhớ các cấu trúc, hãy nhớ những mẫu câu, ví dụ đơn giản cụ thể nào đó. Một trong số đó là HỌC CÁC MẪU CÂU GIAO TIẾP TIẾNG ANH THEO CHỦ ĐỀ. Đọc thật nhiều là cách có thể giúp bạn giỏi ngữ pháp mà không cần học công thức.

    Khi giao tiếp tiếng Anh, chúng ta luôn muốn khi nói vừa phải giống với người bản xứ vừa phải nói lưu loát. Do đó, não bộ phải xử lý 2 việc cùng một lúc:

    Vậy nên khi bắt đầu mới với cách học tiếng Anh giao tiếp, đặc biệt là tự học tại nhà thì càng khó cho hầu hết người đọc. Để luyện nói được phải được hình thành từ nhiều yếu tố, một trong số đó chính là LUYỆN NGHE TIẾNG ANH.

    Bởi luyện nghe ai cũng có làm được, còn luyện nói là cả một quá trình. Hãy luyện nói rõ hơn là nói hay. Nói hay, những người năng khiếu họ sẽ làm rất nhanh nhưng nói rõ, nói chuẩn thì ai cũng làm được. Bạn có thể chia ra làm 3 quá trình luyện tập:

    Đừng hỏi tại sao bạn không thể nghe người bản xứ nói gì hay bạn nói lưu loát thế mà không ai hiểu? Bởi bạn cần xem lại bạn phát âm chuẩn chưa, liệu bạn có biết 44 âm tiết trong bảng IPA? Hãy luyện tập phần phát âm chuẩn trước khi bạn có thể nói một cách hay ho và này nọ.

    1. Lựa chọn sắp xếp từ ngữ phù hợp thật nhanh và chính xác

    Bước 2: Luyện nói lưu loát

    2. Điều khiển các cơ miệng, lưỡi, môi để phát âm cho chuẩn.

    Bạn có thắc mắc tại sao mình nghe 1 câu nói, 1 câu hát không hiểu gì nhưng khi nhìn phụ đề thì đều là các từ bạn biết?

    Bởi trong giao tiếp tiếng Anh cơ bản, những quy tắc sẽ được thêm bớt, lược bỏ theo ngôn ngữ của người bản xứ. Để luyện nói lưu loát, bạn cũng cần phải nắm rõ nó như: nối âm, ngữ điệu, lược âm,…Bạn phải thực hành các mẫu câu giao tiếp thường xuyên, tạo sự nhạy bén thì mới có thể nói một cách lưu loát

    Bước 3: Kết hợp phát âm chuẩn và nói lưu loát

    Sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu bạn nói lưu loát mà phát âm sai lung tung hay phát âm chuẩn nhưng bạn cứ chậm rãi nói từng từ khiến người nghe đôi khi mệt mỏi. Vậy nên, hãy kết hợp phát âm chuẩn và luyện nói lưu loát để việc học tiếng Anh giao tiếp cơ bản mỗi ngày trở nên dễ dàng hơn.

    Trước khi có thể giao tiếp thành thạo với 1 ai đó thì bạn cần tự chuẩn bị cho quá trình đó. Giống như việc luyện tập trước khi lên võ đài, bạn cần thành thục các động tác, tư thế. Hãy tự luyện nói trước gương, ghi âm lại lời nói của mình sau đó nghe bản gốc so sánh và sửa chữa. Tự luyện nói sẽ vô cùng thoải mái, bạn không bị sức ép từ đối tượng giao tiếp. Hãy luyện tập suy nghĩ bằng tiếng Anh, từ bỏ thói quen dịch word by word. Dần dần bạn sẽ thấy mình tiến bộ lên đáng kể. Sau khi luyện tập 1 mình thì tạo cho mình môi trường giao tiếp như thế nào?

    Rất đơn giản bởi Internet sẽ có mọi thứ bạn cần, ít nhất là với việc luyện nói tiếng Anh. Hãy tìm những người bạn cùng học tiếng Anh, tạo lập group để thực hành mỗi ngày hoặc một cách đơn giản và hiệu quả mà ai cũng có thể áp dụng: KẾT BẠN VỚI NGƯỜI BẢN XỨ. Đó có thể là đi đến các CLB tiếng Anh, những nơi có khách du lịch và chủ động làm quen bắt chuyện với họ. Còn kết bạn online ư? Rất nhiều trang web để bạn có thể giao lưu kết bạn và học tiếng Anh giao tiếp cơ bản như:

    Tự học tiếng Anh giao tiếp cơ bản Tôi không ở nước ngoài thì làm sao giao tiếp bằng tiếng Anh được! Tôi phải tìm giáo viên nước ngoài để luyện tập cùng để được sửa lỗi!

    Hãy tìm những người bạn có cùng trình độ để rèn luyện với nhau và duy trì việc luyện nói, tự học giao tiếp tiếng Anh hằng ngày.

    Vậy cụ thể chúng ta sẽ rèn luyện phản xạ tiếng Anh như thế nào?

    Độ căn bản nhất của phản xạ tiếng Anh là dịch ngược. Tức là mỗi câu bạn nói ra sẽ thường mất trên 10 giây để chuẩn bị ngữ pháp và dịch ngược các từ khóa trong đầu. Mức độ thứ hai là suy nghĩ bằng tiếng Anh, tức là bạn nói mà gần như không phải suy nghĩ tìm từ vựng và ghép câu.

    Speaking24h.com

    Để đạt được mức hai nhanh chóng, bạn nên làm theo các bước sau:

    Hinative

    Ví dụ, bạn muốn mô tả từ “cathedral” (nhà thờ). Đây là một từ khó nhớ và khó phát âm. Thay vì đăm chiêu tìm được từ đó, bạn có thể mô tả nó một cách đơn giản là “a place to come and pray to Jesus” (một nơi người ta đến cầu nguyện với Chúa Giê-Xu). Không cần phải chính xác 100% nhưng người nghe đủ hiểu đó là “cathedral”.

    3. Sách tự học tiếng Anh giao tiếp cho người mới bắt đầu

    Tự học tiếng Anh giao tiếp thì nên dùng các tài liệu, giáo trình nào? Liệu có phải đơn giản là chỉ cần tìm người rồi thực hành không? Step Up giới thiệu với bạn cách học tiếng Anh giao tiếp thông qua những cuốn sách dành cho người mới bắt đầu. Đây là những sách có kèm theo file nghe để bạn rèn luyện 2 kỹ năng phối hợp: Nghe và Nói. Bạn có thể tự tìm hiểu trên mạng và download các tài liệu này một cách dễ dàng.

    Sách đi kèm audio tích hợp trong App Hack Não, đồng thời là bộ 1200 video bài giảng hướng dẫn chi tiết cách phát âm, sửa lỗi người Việt hay mắc phải khi học tiếng Anh, các bài tập thực hành ngay sau khi học sẽ là cách để bạn ghi nhớ từ lâu nhất.

    Hack Não 1500 chính là cuốn sách hot nhất dành cho những người mới học tiếng Anh kể từ khi ra mắt đầu năm 2021, luôn nằm trong top sách ngoại ngữ bán chạy nhất là minh chứng cho sự hiệu quả của cuốn sách này!

    Không giống các sách học tiếng Anh giao tiếp đầy tính học thuật, Speak English Like an American với 25 mẩu truyện có video kèm theo kể về câu chuyện xoay quanh thăng trầm của 1 gia đình muốn khởi nghiệp bán bánh Cookie với nhân vật chính là cậu bé Bob. Như hững tình huống giao tiếp tiếng Anh hằng ngày của Bob và mọi người xung quanh, sách đã khéo léo lồng những thành ngữ và từ lóng rất độc đáo mà người Mỹ thường dùng trong giao tiếp.

    Ngoài ra, sách có kèm theo audio đầy đủ các đoạn hội thoại trong sách, bạn có thể vừa đọc transcript trong sách, vừa nghe audio nếu kỹ năng nghe còn chưa tốt. Kèm theo đó là các bài tập để bạn kiểm tra kiến thức với hơn 300 thành ngữ, từ lóng được đưa ra trong sách.

    Mỗi cuốn sách đều có đi kèm để bạn vừa đọc sách, vừa kết hợp nghe audio, từ đó cải thiện khả năng phát âm và giao tiếp. Sách dành cho người mới bắt đầu và người học tiếng Anh đã được một thời gian nhưng vẫn phát âm sai. Sách bao gồm các ví dụ, đoạn hội thoại và hình vẽ trực quan minh họa giúp người học có thể hiểu và tiếp thu một cách dễ dàng nhất

    4. Sách tự học tiếng Anh giao tiếp: Tactics for English

    Mỗi cuốn bao gồm 3 file: 1 file student book (sách giáo khoa), 1 file audio (bản ghi âm), 1 file transcript (lời) của audio. Bạn có thể dùng file này để check đáp án nghe của file ghi âm.

    4. Các mẫu câu giao tiếp tiếng Anh thường gặp

    Chủ đề: Vui mừng- Hạnh phúc

    Chủ đề: Tại siêu thị mua sắm

    Sách tự học tiếng Anh giao tiếp: Tactics for English

    Chủ đề: Tại rạp chiếu phim

    • A: Hi. What seems to be the matter?- Xin chào. Trông anh có vẻ không khỏe?
    • B: I feel dizzy and tired- Tôi thấy chóng mặt và mệt mỏi.
      My wedding will be held next month: Lễ cưới của tôi sẽ được tổ chức vào tháng tới.

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảy Nguyên Tắc Giúp Bạn Giao Tiếp Tiếng Anh Như Người Bản Ngữ Nhanh Và Hiệu Quả
  • Định Nghĩa Các Loại Động Từ Trong Tiếng Anh
  • Tại Sao Kỹ Năng Nghe Lại Quan Trọng Trong Giao Tiếp Tiếng Anh
  • Y Đức Và Nghĩa Vụ Nghề Nghiệp Của Người Điều Dưỡng
  • Chân Gà Làm Món Gì Ngon Nhất Vào Ngày Rảnh Rỗi Cho Hội Ăn Vặt?
  • Ergonomics Là Gì! Cách Đạt Điểm 10 Cho Công Việc Với Công Thái Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Ergonomic Là Gì? Tìm Hiểu Chi Tiết Về Ergonomic
  • Ergonomic Là Gì? Nguyên Tắc Áp Dụng Ergonomic Trong Thiết Kế Nội Thất
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Ecgônômi
  • Khái Niệm Trẻ Em Được Hiểu Như Thế Nào? Khái Niệm Trẻ Em Là Gì ?
  • #1 Event Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Event Trong Marketing
  • 1. Bạn đã hiểu Ergonomics là gì chưa?

    Ergonomics là tên tiếng Anh của bộ môn khoa mang tên công thái học – bộ môn chuyên nghiên cứu về mối liên hệ của con người và môi trường làm việc với mục đích cuối cùng là bố trí cảnh quan, thiết kế không gian làm việc, thiết bị sao cho người làm việc cảm thấy thoải mái, giảm đi sự mệt mỏi và nâng cao hiệu quả công việc. Ergonomics trình làng thế giới lần đầu tiên vào năm 1999 trong nghiên cứu của nhà khoa học học Ba Lan tên là Wojciech Jastrzębowsk. Thuật ngữ ngay tiếp tục được phổ rộng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực thể hiện bởi cách bày trí, trang bị những công cụ, thiết bị hỗ trợ và trong lĩnh vực thiết kế, sản xuất trong nghiên cứu nhà tâm lý học người Anh mang tên Hywel Murrel nhằm phục vụ cho giữ sức, giảm mệt mỏi, giữ chinh chiến của người lính trong chiến tranh thế giới thứ hai.

    Là môn khoa học về nghiên cứu môi quan hệ của con người và môi trường xung quanh, nhưng ứng dụng lớn nhất của nó được thể hiện trong việc tìm ra một kích thước, hình dạng vừa vặn nhất của thiết bị, công cụ để làm sao hỗ trợ con người một cách tốt nhất và đạt được hiệu quả công việc cao nhất.

    Một ví dụ rõ ràng nhất cho tác dụng thần thánh trong những nghiên cứu của Ergonomics, đó chính là con chuột và bàn phím các nhân viên văn phòng sử dụng mỗi ngày. Nếu không phải dân thiết kế, chịu trách nhiệm phác họa bản vẽ kỹ thuật của sản phẩm chắc chắn, chẳng bao giờ chúng ta quan tâm đến những điều trả lời cho câu hỏi tại sao con chuột lại có một kích cỡ vừa vặn nằm trong lòng bàn tay như vậy? Tại sao con chuột lại được thiết kế bằng hình dáng như thế.

    Nhưng trên thực tế, để cho ra những sản phẩm hữu ích và thực sự phù hợp với từng mục đích của công việc và dễ dàng trong quá trình sử dụng buộc các nhà thiết kế khi vạch ra ý tưởng về sản phẩm phải nghiên cứu rất nhiều. Những sự cân nhắc, xem xét này không phải “đang yên đang lành”mà có, mà xuất phát từ những nghiên cứu trong mối tương tác qua lại giữa con người và môi trường làm việc – nền tảng của môn khoa học Ergonomics.

    2. Bạn đã hiểu được vai trò của Ergonomics là gì?

    Theo khảo sát mới nhất của tổ chức Safe work Australia, tổng nguồn ngân sách chi trả cho những chứng bệnh hành chính văn phòng dưới tác động của môi trường làm việc và những trang thiết bị không phù hợp,ví dụ như bệnh mệt mỏi, đau lưng đã cán mốc con số trên 60 tỷ đô la. Đây dường như chỉ là con số ban đầu và dự báo cho một tương lai u ám cho bức tranh việc làm văn phòng vì nguồn nhân lực mới của ngành này cho mọi vị trí đang không ngừng tăng lên, nếu lực lượng quản trị không tìm ra một phương án cải thiện môi trường làm việc phù hơn.

    Vấn đề cốt lõi của Ergonomics chính là sự tác động của môi trường và các vấn đề về sức khỏe, thể lực, cảm xúc làm việc của con người…cho nên, việc am hiểu về công thái học một cách sâu sắc để những nhà thiết kế có thể tạo ra những sản phẩm có lợi nhất với người sử dụng. Nếu như ví sức khỏe, cảm xúc, tinh thần trong quá trình làm việc của chúng ta là một ngôi nhà mới đang sắp sửa được xây lên thì Ergonomics chính là nền tảng giúp ngôi nhà đó có được phong thủy tốt, mát mẻ và người ở cảm thấy sảng khoái, dễ chịu.

    Những tác động tích cực này có tác dụng nâng cao hiệu quả tính tốc độ, cải thiện những kỹ năng, trưng bày kỹ năng của người làm việc. Ergonomics đóng vai trò đắc lực trong việc cải thiện môi trường, không gian để nâng cao chất lượng sống và làm việc. Chất lượng này trong những nghiên cứu của Ergonomics được thể hiện qua việc sử dụng số đo các bộ đo cơ thể người hay còn gọi là các dữ liệu của nhân trắc học.

    Các dữ liệu này cung cấp cho những người chịu trách nhiệm thiết kế những số đo chuẩn của các bộ phận trên cơ thể con người theo những nhóm tuổi khác nhau, giới tính khác để tạo ra những sản phẩm thực sự phù hợp. Sự khác biệt về cấu tạo, thiết kế xe máy của nam và nữ, những chiếc Piano dành cho các bạn nhỏ và người lớn và các trang phục được thiết kế theo từng độ tuổi…ít nhiều đều dựa trên những ứng dụng của Ergonomics.

    Đặc biệt, Ergonomics cũng được áp dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực xây dựng và kiến trúc thiết kế với mục đích tạo ra những không gian lý tưởng trong những công trình lưu trú như khách sạn, khu nghỉ dưỡng hay giao thông để tạo cảm giác dễ chịu. Với những vai trò quan trọng, Ergonomics ngày càng được người dùng quan tâm và áp dụng trên nhiều lĩnh vực khác nhau trên đời sống.

    3. Khám phá hoạt động của Ergonomics

    Người đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển cho bộ môn khoa học này đã xây dựng những lợi ích của Ergonomics dựa trên nguyên lí “Human Factor”. Nghĩa là làm cho máy móc phù hợp với con người, chứ không ép buộc người làm phải dần thích nghi với máy móc và môi trường. Sự phù hợp về dựa trên nguyên tắc cơ bản này được xây dựng, tổng hợp và ứng dụng trên nhiều bộ môn khoa học khác nhau, tiêu biểu nhất là : tâm lý, kỹ thuật và sinh học.

    4. Ergonomics gồm những thể loại nào?

    Khoảng 60% những nguồn tin tức tổng hợp trên mạng xã hội và nhiều trang web đều định nghĩa Ergonomics thiên về công thái học vật lý. Nhưng thực chất đây chỉ là một trong ba nhánh nhỏ của công thái học. Trong loại Ergonomics sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu về những đặc điểm về giải phẫu cơ thể con người, các hoạt động thể chất, cơ chế sinh học, cơ học, nhân trắc học Trong công thái học vật lý sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu về các tư thế làm việc của con người, các hoạt động lặp đi, lặp lại, những điều kiện từ môi trường tác động đến sức khỏe cơ xương…của con người ra sao để từ đó bố trí môi trường làm việc sao cho hợp lý.

    Trong Ergonomics chuyên về tâm lý, các nhà thái công học sẽ chủ trì nghiên cứu về các quá trình tâm lý, tinh thần của con người và mối quan hệ của chúng với công việc. Một số thành tố quan trọng cấu thành công thái học tâm lý có thể bao gồm khối lượng công việc, động lực, văn hóa làm việc, tính tương tác giữa con người với máy tính như thế nào, độ tin cậy của con người ra sao. Công thái học tâm lý quyết định đến 80% độ tin tưởng của sếp được đặt đúng người, đúng thời điểm khi họ phân công công việc…đồng thời cũng phản ánh được năng suất làm việc của những người phụ thuộc vào yếu tố tâm lý…Ergonomics tâm lý cũng là nhân tố khơi mào cho nghệ thuật giữ chân nhân tài của lãnh đạo, văn hóa ứng xử của tổ chức và để một doanh nghiệp có thể tự tạo ra cho mình những giá trị cốt lõi – đặc điểm giúp khách hàng của họ có thể khu biệt được thương hiệu của doanh nghiệp này với một doanh nghiệp khác.

    Không đi sâu về khám phá mối quan hệ giữa môi trường với các hoạt động con người hay tâm lý con người và hiệu quả làm việc, công thái học tổ chức, giúp các chuyên gia tối ưu được cấu trúc của tổ chức, các quy trình kỹ thuật của xã hội hay cách chính sách. Các nội dung trong công thái học tổ chức mà chúng ta vẫn bắt gặp nhiều trong công việc, đời sống bao gồm: quản lý nguồn nhân lực, quản trị tổ chức, quản trị chất lượng, quản lý văn hóa doanh nghiệp, quản lý tài nguyên.

    5. Bật mí những lợi ích vượt trội nếu ứng dụng Ergonomics tại nơi làm việc!

    Bạn sẽ không thể hiểu được cảm giác mất tập trung, buồn ngủ của những content writer bị gây ra bởi môi trường làm việc thiếu ánh sáng và ngột ngạt khó chịu như thế nào nếu bạn chưa bao giờ trải nghiệm chúng. Bạn cũng sẽ không thể hiểu được cảm giác của một người thợ sửa xe khi liên tục phải sử dụng một chiếc cờ lê “ngoại cỡ”cho việc vặn lại những chiếc ốc vít bé nhỏ khó chịu ra sao…nếu chưa thử và nghe họ trải lòng. Thế nhưng, những điều khó chịu này có thể bị xóa sổ nếu như những người thiết kế ứng dụng Ergonomics trong quá trình sản xuất ý tưởng cho sản phẩm. Nếu được ứng dụng con người dễ dàng nâng cao hiệu quả công việc bằng những trang thiết bị và máy móc vừa mặt. chúng tôi đã tổng hợp đầy đủ những tài liệu hữu ích và đưa ra cho bạn những lợi ích của quy trình sử dụng Ergonomics tại môi trường làm việc cho bạn sau đây:

    5.1. Ergonomics giúp cải thiện chất lượng làm việc

    Bạn có đồng ý rằng, những chiếc bàn phím quá to sẽ khiến bạn rất dễ mỏi tay trong quá trình làm việc tại văn phòng? Bạn có cảm nhận được sự mệt mỏi và mất tập trung xảy ra khi ngồi trong một văn phòng chật hẹp và ồn ào…Những cải thiện trong không gian làm việc để gia tăng sự tập trung, những chính sách về khen thưởng để kích thích tinh thần làm việc, những chia sẻ để tạo động lực cho nhân viên làm việc. Đó chính là hiệu quả đã được kiểm chứng trong việc nâng cao chất lượng công việc của Ergonomics.

    5.2. Ergonomics tạo ra văn hóa ăn toàn trong doanh nghiệp

    Dĩ nhiên, hiệu quả của doanh nghiệp có thể đong đếm bằng công suất làm việc của nhân viên. Lẽ vì thế, các vị lãnh đạo có xu hướng chuộng những ai có khả năng làm việc với công suất cao và tạo ra được nhiều lợi nhuận cho họ. Tuy nhiên, để có thể duy trì được điều đó và kích thích được tinh thần làm việc của nhân viên, đặc biệt là những “ma mới” trong tổ chức, doanh nghiệp nên là bên đầu tiên xây dựng nên một văn hóa làm việc an toàn. Đó là sự quan tâm đến thể chất, tinh thần cho nhân viên, đó là các chính sách động viên, sẻ chia..

    Và quan trọng hơn, nó không nên có sự phân biệt đối xử giữa những nhân viên cũ và mới. Bởi lẽ, đã nói đến văn hóa của tổ chức, nó hướng đến tính bình đẳng cho cả số đông. Dĩ nhiên, có những trường hợp doanh nghiệp vẫn có thể phát triển tốt ở thời điểm hiện tại với những mục tiêu lợi nhuận mà không màng đến độ công bằng trong văn hóa an toàn của nhân viên. Song, về cả lý thuyết và thực tế mà nói, sự phát triển này sẽ không được lâu dài.

    5.3. Ergonomics cải thiện năng suất công việc và giảm chi phí

    Bạn sẽ cảm thấy hồ hởi làm việc và làm hiệu quả hơn nếu không bị làm phiền bởi tư thế ngồi sai, ít phải chuyển động và khối lượng công việc vừa vặn với mình đúng không? Thực ra quá trình hoạt động năng suất này, chính là những hiệu quả đã được nghiên cứu và chứng minh bởi tác động của công thái học. Ngoài ra, bản thân của những người làm việc sẽ không phải chịu những chi phí “tai bay vạ gió” thường xuyên vì mệt mỏi, đau lưng, trầm cảm vì áp lực công việc quá cao nữa…Dĩ nhiên, chi phí mà người lao động phải chi trả ước tính lên đến trên 60 tỷ đô la vì chứng đau lưng sẽ được giảm xuống tối đa nếu Ergonomics được áp dụng đúng cách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Về Ergonomic (Công Thái Học)
  • Định Nghĩa Các Thuật Ngữ Cơ Bản, Thường Dùng Trong Kỹ Thuật
  • Ecu Là Gì ? Vai Trò Của Ecu Trong Xe Ô Tô
  • Ecu Là Gì? Tầm Quan Trọng Của Ecu Trong Ngành Công Nghiệp Xe Hơi
  • Ecu: Khái Niệm Kỹ Thuật Không Giới Hạn, Inc
  • “liêm Chính Học Thuật”: Lý Luận, Thực Tiễn Và Những Yêu Cầu Đặt Ra Trên Thế Giới Và Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Định Nghĩa Và Vai Trò Của Luận Điểm Trong Văn Viết Học Thuật ” Anh Ngữ Zim
  • Tìm Hiểu Về Khái Niệm, Vai Trò, Đặc Điểm Của Giáo Viên Tiểu Học
  • Khái Niệm, Vai Trò Và Mục Tiêu Của Giáo Dục Tiểu Học Là Gì?
  • Quy Định Chung Về Trường Tiểu Học
  • Chuẩn Nghề Nghiệp Giáo Viên Tiểu Học Là Gì?
  • Tóm tắt: Nội dung cốt lõi của “liêm chính học thuật” là sự trung thực, ngay thẳng, trong sáng và trách nhiệm trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các cơ sở học thuật, đặc biệt là các trường đại học. Bảo đảm tính liêm chính là yêu cầu sống còn với sự tồn tại, phát triển của cộng đồng học thuật. Mặc dù vậy, các quốc gia trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đều đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm liêm chính học thuật, mà những biểu hiện phổ biến bao gồm đạo văn, gian lận và bịa đặt trong nghiên cứu khoa học. Bài viết phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn và những biện pháp để bảo đảm liêm chính học thuật ở trên thế giới và Việt Nam.

    Từ khoá: liêm chính học thuật, đạo văn, gian lận, bịa đặt, trích dẫn, Việt Nam

    Summary: The key contents of academic integrity are honesty, truthfulness, transparency and accountability in the research activities, teaching activities and studying activities in the academic institutions, especially in the universities. Academic integrityassurance is a vital requirement for the existence and development of the academic community. However, all countries in the world, including Vietnam, are facing problems of the academic dishonesty, which manifests in plagiarism, fraudulency and fabrication in conducting scientific research. This article provides analysis of theoretical and practical issues and measures to ensuring academic integrity the world and Vietnam.

    Keywords: academic integrity, plagiarism, fraudulency, fabrication, citation, Vietnam

      Lịch sử, khái niệm và nội dung của liêm chính học thuật

    Về mặt ngôn ngữ học, liêm chính học thuật là một từ ghép, bao gồm liêm chính (integrity) và học thuật (academic). Khái niệm học thuật thường được hiểu là những hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục, đặc biệt là các trường đại học. Về nguồn gốc, integrity xuất phát từ thuật ngữ La-tinh là integer, có nghĩa là toàn bộ, toàn thể. Còn theo Ann Nichols-Casebolts, liêm chính trong nghiên cứu nghĩa là cam kết cá nhân (của nhà nghiên cứu) hướng đến các tiêu chuẩn thật thà về kiến thức và trách nhiệm cá nhân hàm chứa các tiêu chuẩn về tính tin cậy và hợp pháp.

    Ở Việt Nam, quy định về liêm chính học thuật của Trường Đại học Hoa Sen định nghĩa gian lận trong học thuật là “hành vi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng các hình thức gian dối, ngụy tạo, và/hoặc thể hiện, trình bày, khai báo không đúng sự thật về hoạt động học thuật của mình”. Các hành vi cụ thể được coi là gian lận bao gồm: “Sử dụng sách, tài liệu, ghi chú, những thiết bị điện tử hay bất kỳ nguồn trợ giúp nào khác; trao đổi, nói chuyện trong thời gian làm bài thi/kiểm tra hay những hoạt động học thuật khác mà không được phép; làm chung với người khác bài tập giao về nhà, bài báo cáo, lập trình hay bất kỳ một hoạt động học tập được giao nào mà không có sự cho phép của giảng viên; có hành vi lấy cắp đề thi hay đáp án trước khi kỳ thi diễn ra; có hành vi giả mạo hồ sơ, sử dụng các hồ sơ không hợp pháp”.

    Như vậy, qua các định nghĩa trên, có thể thấy, hành vi bịa đặt trong học thuật có thể là người học (học sinh, sinh viên, học viên) và cả người làm công tác nghiên cứu. Trên thực tế, hành vi này đã từng được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu có uy tín, ví dụ như vụ bịa đặt trong nghiên cứu tế bào gốc của một nhà khoa học nổi tiếng Hàn Quốc là tiến sĩ Hwang Woo-suk vào năm 2005, hoặc “cố ý giúp đỡ hoặc chuẩn bị giúp đỡ người khác thực hiện một hành vi vi phạm liêm chính học thuật”, trong đó bao gồm: “Thi hộ hoặc thuê người khác thi hộ; làm báo cáo hoặc báo cáo hộ người khác; cho người khác sao chép bài làm của mình trong kỳ thi hay trong kiểm tra hoặc trong các hoạt động học thuật khác”. Đây thực chất là một hành động gian lận tập thể trong học thuật.

    Hối lộ hay đe dọa (Bribes, Threats): Biểu hiện của hành động này là việc hối lộ hoặc đe dọa người khác để có điểm hoặc có nhận xét tốt về kết quả học tập hay kết quả hoạt động chuyên môn, còn theo một học giả thì “Tính trung thực là nền tảng căn bản của niềm tin công chúng vào toàn bộ hệ thống nghiên cứu học thuật, …là cơ sở để tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu, cũng như để sử dụng các kết quả nghiên cứu trong việc ra quyết định”. Trước đó, công trình nghiên cứu quy mô và chuyên sâu đầu tiên về vấn đề này do cố giáo sư Donald McCabe cùng đồng sự thực hiện và công bố năm 2001 cũng kết luận rằng tình trạng gian lận học thuật ở Mỹ diễn ra một cách phổ biến và một số dạng thức gian lận đã gia tăng một cách đột ngột (dramatically) trong vòng 30 năm gần đây.

    Tuy nhiên, cần thấy rằng, còn có nhiều nguyên nhân khác góp phần vào sự suy giảm của liêm chính học thuật trên thế giới trong những thập kỷ gần đây, trong đó bao gồm: (1) Sự phát triển của Internet làm cho việc tìm kiếm, chia sẻ và sao chép các tài liệu nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết trong lịch sử học thuật; (2) Sự bùng nổ của giáo dục bậc cao khiến cho các trường đại học được mở ra khắp nơi, đào tạo số lượng sinh viên lớn, dẫn tới việc phải sử dụng cả nguồn giảng viên có năng lực chuyên môn và liêm chính kém, cũng như làm quá tải hệ thống quản trị đại học; (3) Sự bùng nổ và tính chất thương mại hoá, cạnh tranh ngày càng cao của ngành xuất bản, trong đó có xuất bản học thuật (tạp chí, sách chuyên khảo…) dẫn đến sự cắt giảm các tiêu chuẩn và quy trình rà soát, kiểm tra tính liêm chính của các công trình nghiên cứu được đăng tải; (4) Sự tôn sùng thái quá, dẫn tới sự chiều chuộng, thờ ơ với những cố tật của giới học thuật trong một số xã hội… Tất cả những yếu tố này đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự suy giảm tính liêm chính của cộng đồng học thuật trên thế giới những năm gần đây.

    Trước tình thế nêu trên, nhiều trường đại học trên thế giới đã tìm cách “tự cứu mình” bằng việc xây dựng, củng cố bộ quy tắc liêm chính học thuật nhằm hạn chế và xoá bỏ những hành vi gian lận, thiếu trung thực trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập, qua đó giữ gìn niềm tin của xã hội. Đây có thể coi là biện pháp phổ biến và hiệu quả nhất để đối phó với tình trạng suy giảm về liêm chính học thuật hiện nay. Tuy có tên gọi và nội dung ít nhiều khác nhau, các bộ quy tắc về liêm chính học thuật của các trường đại học trên thế giới đều có những điểm chung là: đều khẳng định sự cần thiết, tầm quan trọng của liêm chính học thuật; đều xác định những hành vi bị xem là vi phạm liêm chính học thuật bị cấm; đều đề cập đến những biện pháp xử lý vi phạm liêm chính học thuật.

    Ở góc độ nhà nước, mặc dù liêm chính học thuật thường được xem là thuộc phạm trù đạo đức, là vấn đề riêng của cộng đồng học thuật, mà cụ thể là các trường đại học, nên chủ yếu được điều chỉnh bằng quy chế của nhà trường, song các nhà nước cũng có những trách nhiệm nhất định. Vì vậy, Chính phủ của một số nước, mà cụ thể là cơ quan chủ quản về giáo dục cũng thắt chặt các quy định chung, mang tính chất nguyên tắc về bảo đảm liêm chính học thuật trong giáo dục, bằng cách lồng vào các văn bản pháp luật chuyên ngành về giáo dục, hoặc tách ra thành những văn bản hướng dẫn riêng. Thêm vào đó, ở một số quốc gia, Nhà nước còn can thiệp vào vấn đề này bằng cách ban hành những quy định cấm và xử lý những hành vi thương mại hoá, bao gồm cung cấp dịch vụ viết luận văn, luận án, bài tập cho sinh viên, học viên. Mặc dù vậy, những nỗ lực đó chưa mang tính phổ biến.

    Ở góc độ quốc tế, trong Hội nghị thế giới lần thứ hai về Liêm chính trong hoạt động nghiên cứu (the 2nd World Conference on Research Integrity):

    (1) Tính trung thực: Nhà khoa học có trách nhiệm về tính tin cậy trong nghiên cứu.

    (3) Phương pháp nghiên cứu: Nhà khoa học phải sử dụng phương pháp nghiên cứu hợp lý, dựa trên các kết luận có chứng cứ khoa học, và báo cáo về những phát hiện và giải thích một cách đầy đủ, khách quan.

    (4) Hồ sơ nghiên cứu: Nhà khoa học có nghĩa vụ lưu đầy đủ, chi tiết, rõ ràng, và chính xác các kết quả mà họ đạt được trong quá trình nghiên cứu để những người khác có thể thẩm định hay lặp lại công việc đã thực hiện.

    (5) Phát hiện của nghiên cứu: Nhà khoa học phải chia sẻ công khai và kịp thời dữ liệu và phát hiện ngay sau khi họ có cơ hội để thiết lập quyền ưu tiên và quyền sở hữu.

    (8) Chuyên gia đánh giá: Nhà khoa học cần cung cấp các đánh giá một cách công bằng, kịp thời và nghiêm ngặt, và đảm bảo tính bí mật khi bình duyệt công việc của người khác.

    (11) Báo cáo về nghiên cứu thiếu trách nhiệm: Nhà khoa học phải báo cáo cho cơ quan thẩm quyền khi có nghi ngờ về hành vi sai trái trong nghiên cứu, bao gồm giả mạo, đạo văn và thực hiện nghiên cứu thiếu tinh thần trách nhiệm khác làm giảm sự tin cậy trong nghiên cứu, chẳng hạn như bất cẩn, liệt kê sai danh sách tác giả, không báo cáo dữ liệu mâu thuẫn, hoặc việc sử dụng các phương pháp phân tích sai lệch.

    (12) Đối phó với việc thực hiện nghiên cứu thiếu trách nhiệm: Các viện nghiên cứu cũng như các tạp chí, các tổ chức và các cơ quan thực hiện nghiên cứu cần phải có các thủ tục để đối phó với những cáo buộc về hành vi sai trái và thiếu trách nhiệm trong công tác nghiên cứu, đồng thời bảo vệ những người đứng ra tố cáo các hành vi như vậy. Một khi hành vi sai trái hoặc việc thực hiện nghiên cứu thiếu trách nhiệm được xác nhận, các biện pháp thích hợp phải được thực thi kịp thời, kể cả việc sửa chữa các hồ sơ nghiên cứu.

    (13) Môi trường nghiên cứu: Tổ chức nghiên cứu phải tạo ra và duy trì môi trường đề cao tính trung thực thông qua giáo dục, chính sách cụ thể, và các chuẩn mực khách quan nhằm xây dựng môi trường làm việc đảm bảo tính trung thực trong nghiên cứu.

    (14) Trách nhiệm với xã hội: Các nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu cần có đạo đức trách nhiệm để đem lại lợi ích nhiều nhất cho xã hội trước những rủi ro vốn có trong công việc của họ.

    · Xử lý văn bản nhanh (không giới hạn từ).

    · Giao diện dễ sử dụng.

    · Đưa báo cáo chi tiết về bài viết

    · Có dịch vụ hỗ trợ viết để tránh đạo văn: thu phí

    · Không hỗ trợ tiếng Việt.

    · Xử lý kể cả nội dung của toàn bộ trang web.

    · Hỗ trợ nhiều dạng tệp ở bất kỳ ngôn ngữ nào.

    · Phải đăng ký tài khoản.

    · Sẽ sớm công bố phiên bản trả tiền.

    · Cho phép tải ứng dụng về miễn phí với máy hệ Windows để kiểm tra đạo văn.

    · Hỗ trợ hơn 190 ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt

    · Chỉ báo đạo văn nếu phát hiện chính xác tuyệt đối 100% câu.

    · Công cụ hỗ trợ viết lại có thể vô tình tiếp tay cho việc đạo văn.

    · Kể cả đã có tài khoản cũng chỉ được kiểm tra 3 bài/ ngày.

    · Dễ sử dụng.

    · Xử lý đến 5.000 từ/ lần.

    · Bản miễn phí hạn chế tính năng (ví dụ: chỉ tải tập tin lên được để kiểm tra khi đã trả tiền).

    · Giao diện dễ sử dụng.

    · Không giới hạn tính năng.

    · Chỉ kiểm tra từng đoạn được.

      Liêm chính học thuật ở Việt Nam: Thực trạng và những yêu cầu đặt ra

    Một số cuộc khảo sát ở quy mô nhỏ cho thấy mức độ gian lận trong học tập của sinh viên đại học ở Việt Nam rất cao. Ví dụ, khảo sát gần đây của Trường Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) với sinh viên mới nhập học (sử dụng câu hỏi: “Bạn từng sao chép nguyên bản bài viết của các tác giả trên mạng, sách tham khảo, giáo trình… mà không trích dẫn chưa?”) cho thấy kết quả chỉ có 16% số sinh viên được hỏi trả lời chưa.

    Đối với giới nghiên cứu nước ta, tình trạng thiếu liêm chính cũng diễn ra rất phổ biến, một cách vô tình hoặc hữu ý. Việc sao chép trong các công trình nghiên cứu, kể cả các đề tài cấp độ cao (cấp nhà nước, cấp bộ…) trở thành “chấp nhận được” miễn là không quá lộ liễu. Hành động tạo dựng, bóp méo số liệu, dữ liệu đầu vào cũng có thể thấy trong nhiều công trình nghiên cứu lớn, nhỏ.

    Tình trạng thiếu liêm chính học thuật đang tàn phá niềm tin của xã hội vào hệ thống giáo dục nói chung, vào giới khoa học nói riêng. Uy tín của các nhà khoa học bị suy giảm, giá trị của bằng cấp bị hạ thấp. Thiếu liêm chính học thuật cũng là một nguyên nhân dẫn đến chất lượng và khả năng ứng dụng của các công trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội, rất thấp – gây nên sự lãng phí lớn về tài sản và ngân sách trong bối cảnh nguồn lực cho nghiên cứu khoa học ở nước ta còn thiếu thốn. Cuối cùng, tình trạng này còn dẫn đến việc các nhà khoa học Việt Nam khó khăn trong việc hội nhập vào đời sống học thuật quốc tế – vốn đòi hỏi các tiêu chuẩn liêm chính học thuật rất cao.

    – Liêm chính học thuật chưa được pháp điển hoá và phổ biến đầy đủ: Hầu như các chủ thể có trách nhiệm chính trong vấn đề này ở nước ta đều chưa nhận thấy tầm quan trọng và có những nỗ lực hiệu quả để thúc đẩy liêm chính học thuật. Nhà nước, mà cụ thể là Bộ Giáo dục và Đào tạo – cơ quan chủ quản trong lĩnh vực này – chưa ban hành văn bản pháp luật nào cụ thể về liêm chính học thuật. Vấn đề liêm chính học thuật mới chỉ được đề cập một cách sơ sài trong 1, 2 điều khoản của các quy chế đào tạo thạc sĩ của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở các trường đại học. Khảo sát những tài liệu công bố trên trang web của các trường đại học cho thấy, hầu hết mới chỉ đề cập đến liêm chính học thuật trong một vài điều khoản của quy chế đào tạo của trường – mà cơ bản là nhắc lại quy chế chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong thực tế, mới chỉ có một số trường đại học, tiêu biểu như Trường Đại học Hoa Sen, đã ban hành bộ quy tắc riêng về liêm chính học thuật, trong đó không chỉ bao gồm các quy tắc về trích dẫn mà cả những quy tắc để ngăn ngừa những hình thức vi phạm liêm chính học thuật khác.

    Ở các trường đại học, việc phổ biến các quy tắc về liêm chính học thuật thường được lồng ghép vào môn phương pháp nghiên cứu khoa học. Môn này thường chỉ bắt buộc giảng dạy ở các cấp thạc sĩ và tiến sĩ, không được giảng ở cấp cử nhân. Việc giảng dạy môn này thường mang tính hình thức, nặng về lý thuyết, ít bài tập thực hành.

    Những hạn chế, bất cập trong việc pháp điển hoá và giảng dạy như đã nêu trên dẫn đến hậu quả là hầu hết sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên đại học, nghiên cứu viên ở các cơ sở nghiên cứu của Việt Nam hiện nay chưa hiểu biết đầy đủ và chính xác các yêu cầu và nguyên tắc của liêm chính học thuật, kể cả những yêu cầu cơ bản như việc trích dẫn nguồn tài liệu tham khảo. Việc thiếu các quy định cụ thể về liêm chính học thuật cũng gây khó khăn cho việc ngăn ngừa, xử lý sai phạm. Đây có thể xem là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới tình trạng gian lận và thiếu trung thực phổ biến trong đời sống học thuật ở nước ta hiện nay Melissa S.Anderson et al, ‘Research Integrity and Misconduct in the Academic Profession’, trong Michael B. Paulsen (ed), Higher Education: Handbook of Theory and Research (Vol 28, Springer 2013), tr. 217. Dẫn theo Trần Kiên – Vũ Công Giao, “Trung thực trong nghiên cứu khoa học”, đăng trong cuốn Phương pháp nghiên cứu viết luận văn, luận án ngành luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021.

    tại https://www.psident.umd.edu/sites/psident.umd.edu/files/documents/policies/III-100A.pdf, truy cập ngày 2/12/2017.

    tại http://www.ox.ac.uk/sites/files/oxford/field/field_document/Academic%20good%20practice%20a%20practical%20guide.pdf, truy cập ngày 2/12/2017.

    American University, Academic Integrity Code, Mục II khoản 6,

    tại https://www.american.edu/academics/integrity/code.cfm, truy cập ngày 3/12/2017.

    tại https://www.tienphong.vn/cong-nghe-khoa-hoc/giao-su-han-quocnbspgia-nghien-cuu-te-bao-goc-32138.tpo, truy cập ngày 3/12/2017.

    American University, Academic Integrity Code, tlđd. Mục II khoản 6.

    Hội nghị lần thứ hai tổ chức tại Trường Đại học Hàng hải (Hải Phòng) ngày 09/09/2016.

    Tác giả: Vũ Công Giao, chúng tôi Viện Chính sách công và Pháp luật. Bài viết được đăng trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp, Số 6 (358) Kỳ 2 Tháng 3/2018Trích dẫn nguyên văn từ: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/201cliem-chinh-hoc-thuat201d-ly-luan-thuc-tien-va-nhung-yeu-cau-111at-ra-tren-the-gioi-va-o-viet-nam-1

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tự Do Học Thuật Và Những Giới Hạn Còn Ít Người Biết
  • Phụ Lục I: Khái Niệm, Trường Phái, Học Thuyết
  • Học Thuyết Khoa Học Là Gì ? ” Blog Kinh Nghiệm
  • Để Xây Dựng “trường Học Hạnh Phúc”
  • Mục Đích Của Trường Học Là Gì?
  • Luận Văn: Hứng Thú Học Tập Môn Giáo Dục Công Dân Của Học Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Khuyến Học, Khuyến Tài Trong Sự Nghiệp “trồng Người”
  • Khuyến Học, Khuyến Tài Là Đạo Lý Của Dân Tộc!
  • Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Của Hội Khuyến Học Tỉnh Kiên Giang Hiện Nay
  • Lớp Học Thông Minh Là Gì
  • Flipped Classroom (Lớp Học Đảo Ngược) Là Gì?
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành tâm lí học với đề tài: Hứng thú học tập môn giáo dục công dân của học sinh một số trường trung học phổ thông tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh

    1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH  Phạm Lê Thanh Thảo HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
    2. 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH  Phạm Lê Thanh Thảo HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CỦA HỌC SINH MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Tâm lý học Mã số: 60 31 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ QUỐC MINH Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
    3. 4. 1.3.3. Sự hình thành hoạt động học tập……………………………………………….34 1.4. Đặc điểm hứng thú học tập của học sinh THPT………………………………38 1.4.1. Học sinh và một số đặc điểm tâm lý cơ bản ……………………………….38 1.4.2. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THPT ………………………..44 1.4.3. Những biểu hiện hứng thú học tập môn GDCD của học sinh THPT45 1.4.4. Vài nét về nội dung chương trình môn GDCD của học sinh THPT.46 CHƯƠNG 2……………………………………………………………………………………….49 THỰC TRẠNG HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…………………………………………………………………………49 2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng……………………………………49 2.1.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng ……………………………………………….49 2.1.2. Phương pháp nghiên cứu thực trạng………………………………………….49 2.1.3. Vài nét về khách thể nghiên cứu……………………………………………….51 2.2. Thực trạng hứng thú học tập môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông……………………………………………………………………………………..54 2.2.1. Nhận thức của học sinh và giáo viên về vai trò của môn học GDCD 54 2.2.2. Hứng thú học tập môn GDCD được biểu hiện qua nhận thức của học sinh 57 2.2.3. Hứng thú học tập môn GDCD được biểu hiện qua thái độ của học sinh 62 2.2.4. Hứng thú học tập môn GDCD biểu hiện qua hành động trong học tập của học sinh………………………………………………………………………………………..67
    4. 5. 2.2.5. Hứng thú học tập môn GDCD biểu hiện qua kết quả học tập của học sinh 71 2.2.6. Các nguyên nhân gây ảnh hưởng không tốt đến sự hứng thú học tập của học sinh đối với môn học GDCD…………………………………………………….73 2.3. Các biện pháp nâng cao sự hứng thú học tập của học sinh đối với môn học GDCD………………………………………………………………………………………….80 2.3.1. Thực trạng một số biện pháp về phía giáo viên nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDCD cho học sinh …………………………………………………….80 2.3.2. Thực trạng một số biện pháp về phía cấp quản lý nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDCD cho học sinh…………………………………………….81 2.3.3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hứng thú học tập của học sinh đối với môn GDCD …………………………………………………………………………………..83 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………………………………….87 TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………………….91 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………………….94
    5. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hội nghị lần thứ sáu BCHTW Đảng khóa IX đã khẳng định: giáo dục là nền tảng, là động lực của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện được điều đó, ngành giáo dục phải sớm hoàn thành những mục tiêu quan trọng: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục tiêu này đã đặt ra trách nhiệm hết sức lớn lao cho ngành. Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho thế hệ trẻ. Đó sẽ là những công dân tương lai, những người lao động mới phát triển hài hòa trên các mặt đức, trí, thể, mĩ, lao động, những người sẽ xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh. Để thực hiện được mục tiêu trên, nhà trường phổ thông phải có chương trình giáo dục phù hợp. Có đổi mới cơ bản và toàn diện: nội dung chương trình, sách giáo khoa… Mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ chức, định hướng của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập sáng tạo góp phần hình thành năng lực và phương pháp tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập. Điều này nói lên vị trí quan trọng của môn giáo dục công dân trong nhà trường trung học phổ thông. Cùng với các môn khoa học khác trong hệ thống các môn học của bậc phổ thông, môn giáo dục công dân nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về thế giới quan; các giá trị và chuẩn mực đạo đức; các quy định cơ bản của pháp luật; truyền thống, lối sống, cách ứng xử của người Việt Nam; trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng, Tổ Quốc; kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn phù hợp với khả năng, lứa tuổi, lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội;
    6. 7. 2 biết trân trọng cái tốt, đẹp, biết bảo vệ cái đúng; biết lên án phê phán cái xấu, ác trong cuộc sống. Nó góp phần đào tạo những người lao động mới vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức, vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, vừa có phẩm chất chính trị vừa có ý thức trách nhiệm với cộng đồng với gia đình và với chính bản thân mình. Không thể đào tạo những con người mới phát triển toàn diện khi chỉ chú ý đến việc giáo dục trí dục, bỏ qua hoặc coi thường giáo dục các mặt khác. Tuy nhiên một thực tế đặt ra hiện nay là hầu hết các em học sinh và các bậc phụ huynh đều cho rằng môn giáo dục công dân chỉ là môn học bổ trợ, môn phụ không quan trọng lắm. Một bộ phận học sinh vẫn còn thờ ơ với môn học, có tư tưởng học lệch, học đối phó cho đủ điểm lên lớp. Các em chỉ tập trung các môn thi tốt nghiệp và đại học. Vấn đề bạo lực học đường, ma túy học đường, thanh thiếu niên phạm pháp… gia tăng trong xã hội đặt ra câu hỏi vì sao đạo đức học sinh lại xuống cấp trong khi môn giáo dục công dân vẫn được dạy liên tục từ tiểu học cho đến các bậc học cao hơn. Vậy chúng ta phải xem xét lại cách giáo dục đạo đức trong nhà trường, đặc biệt là môn giáo dục công dân. Thực trạng việc giảng dạy và học tập môn giáo dục công dân trong nhà trường phổ thông hiện nay như thế nào? Học sinh có hứng thú học tập môn này không? Trong quá trình công tác của bản thân, tôi nhận thấy đa số học sinh chưa thực sự nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của môn giáo dục công dân.Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả học tập môn giáo dục công dân của học sinh ở địa bàn quận 8 tôi quyết định chọn đề tài: “Hứng thú học tập môn giáo dục công dân của học sinh một số trường trung học phổ thông tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh”.
    7. 10. 5 nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa và được sử dụng trong đề tài như một thư mục tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn thu thập các số liệu dựa trên báo cáo về tình hình học tập thực tế của học sinh các trường ở quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. 7.1.4. Phương pháp thống kê toán học Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các số liệu thống kê. 8. Đóng góp của đề tài Đề tài mô tả thực trạng việc học tập và giảng dạy môn GDCD ở một số trường THPT ở quận 8 chúng tôi hiện nay. Đề tài cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn GDCD cho các trường THPT ở quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. 9. Cấu trúc luận văn Phần mở đầu Phần nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng hứng thú học tập môn GDCD của học sinh một số trường THPT tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Kết luận và kiến nghị Phụ lục Tài liệu tham khảo
    8. 11. 6 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỨNG THÚ, HỨNG THÚ HỌC TẬP 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1. Những công trình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về hứng thú là một trong những nghiên cứu rất phong phú của tâm lý học. Những công trình nghiên cứu về hứng thú xuất hiện rất sớm và ngày càng phát triển. Herbart (1776 – 1841) nhà tâm lí học, nhà giáo dục học, nhà triết học người Đức đã sáng lập ra trường phái giáo dục hiện đại ở Đức thế kỉ XIX. Ông đã đưa ra 4 mức độ của dạy học đó là tính sáng tỏ, tính liên tưởng, tính hệ thống, tính phong phú và đặc biệt hứng thú là yếu tố quyết định kết quả học tập của người học. Ovide Decroly (1871 – 1932) bác sĩ và là nhà tâm lí học người Bỉ khi nghiên cứu về khả năng tập đọc, tập làm tính của trẻ đã xây dựng học thuyết về những trung tâm hứng thú và về lao động tích cực. I.K.Strong đã nghiên cứu “sự thay đổi hứng thú cùng với lứa tuổi”. Từ những năm 1931 ông đã đưa ra quan điểm và phương pháp nghiên cứu hứng thú bằng bảng hỏi. Năm 1938, Ch.Buher đã nghiên cứu công trình “phát triển hứng thú ở trẻ em”. Từ những năm 1940 của thế kỉ XX một số nhà tâm lí học Nga như S.L.Rubinstein, N.G.Morodov, A.F.Beliep,…đã có những công trình nghiên cứu về hứng thú, con đường hình thành hứng thú. Từ những năm 1940 của thế kỉ XX, A.F.Bêliep đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về “tâm lý học hứng thú”. Các nhà tâm lý học như S.L.Rubinsten, N.G.Morodov… đã quan tâm nghiên cứu khái niệm hứng thú,
    9. 12. 7 con đường hình thành hứng thú và cho rằng hứng thú là biểu hiện của ý chí, tình cảm. Năm 1946, E.Clapade với vấn đề “Tâm lí trẻ em và thực nghiệm sư phạm” đã đưa ra khái niệm hứng thú dựa trên bản chất sinh học. Clapade đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hứng thú trong hoạt động của con người và cho rằng quy luật của hứng thú là cái trục duy nhất mà tất cả hệ thống phải xoay quanh nó. Jonh Dewey (1859 – 1952) nhà giáo dục, tâm lý học người Mĩ. Năm 1896 sáng lập ra trường thực nghiệm, ưu tiên hứng thú của học sinh và nhu cầu của học sinh trong từng lứa tuổi. Hứng thú thực sự xuất hiện khi cái tôi đồng nhất với một ý tưởng hoặc một vật thể, đồng thời, tìm thấy ở chúng phương tiện biểu lộ. Năm 1955, A.P.Ackhadop có công trình nghiên cứu về sự phụ thuộc của tri thức học viên với hứng thú học tập. Kết quả cho thấy tri thức của học viên có mối quan hệ khăng khít với hứng thú học tập, trong đó sự hiểu biết nhất định về môn học được xem là một tiền đề cho sự hình thành hứng thú đối với môn học. Năm 1966, N.I.Gianbio với luận án tiến sĩ “Vận dụng tính hứng thú trong giảng dạy tiếng Nga”, tác giả cho rằng hứng thú học tập là một phương tiện để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Nga trong nhà trường. Năm 1972, G.I.Sukina với công trình nghiên cứu “Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục” đã đưa ra khái niệm về hứng thú cùng với biểu hiện của nó. Đồng thời, tác giả còn nêu lên nguồn gốc cơ bản của hứng thú nhận thức là nội dung tài liệu và hoạt động của người học. Năm 1967, A.K.Maracôva đã nghiên cứu vấn đề “tác dụng của việc giảng dạy, nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của sinh viên”. Dạy học nêu vấn đề là một trong những biện pháp quan trọng góp phần nâng cao hứng thú
    10. 13. 8 học tập của học sinh trong quá trình học tập. Năm 1976, tác giả đưa ra cấu trúc tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của học sinh. Trong công trình nghiên cứu của mình, L.I.Bôzôvitch đã nêu lên quan hệ giữa hứng thú với tính tích cực học tập của học sinh. J.Piaget (1896 – 1996), nhà tâm lí học người Thụy Sĩ đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em và giáo dục. Ông rất chú trọng đến hứng thú của học sinh, ông cho rằng “nhà trường kiểu mới đòi hỏi phải hoạt động thực sự, phải làm việc một cách chủ động dựa trên nhu cầu và hứng thú cá nhân”. Ông nhấn mạnh: cũng giống như người lớn, trẻ em là một thực thể mà hoạt động cũng bị chi phối bởi quy luật hứng thú hoặc nhu cầu. Nó sẽ không đem lại hiệu suất đầy đủ nếu người ta không khêu gợi những động cơ nội tại của hoạt động đó. Ông cho rằng mọi việc làm của trí thông minh đều dựa trên hứng thú, hứng thú chẳng qua chỉ là một trạng thái chức năng động của sự đồng hóa. Langevin (1971) nghiên cứu trên trẻ trong độ tuổi đến trường, đo lường trí thông minh và tính ham hiểu biết bằng bảng hỏi tự trả lời và bằng hành vi biểu hiện, kết hợp với việc giáo viên đánh giá tính ham hiểu biết của từng học sinh. Ông gợi ý phân biệt độ rộng và độ sâu của hứng thú, chỉ ra cách phân tích yếu tố độ rộng để thấy được những sự đo lường khác nhau về tính ham hiểu biết có tương quan với nhau như thế nào. Ainley (1998) định nghĩa chiều sâu của hứng thú là “khuynh hướng muốn khám phá và tìm hiểu những đối tượng, sự kiện, ý tưởng mới nhằm hiểu được chúng”, và độ rộng của hứng thú là ” khuynh hướng mong muốn tìm ra những kinh nghiệm thay đổi và khác biệt để nghiệm ra chúng giống cái gì”.
    11. 14. 9 Như vậy, từ những công trình nghiên cứu trên ta có thể khái quát lịch sử nghiên cứu hứng thú theo ba xu hướng: thứ nhất là xu hướng giải thích bản chất tâm lí của hứng thú, người đại diện cho xu hướng này là A.F.Bêliep với luận án “Tâm lí học hứng thú”. Thứ hai là xu hướng xem xét hứng thú trong mối quan hệ với sự phát triển nhân cách nói chung và vốn tri thức của cá nhân nói riêng, đại diện là L.L.Bôgiôvich, Lukin, Lêvitôp, B.N.Mione,… Thứ ba là xu hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển hứng thú theo các giai đoạn lứa tuổi, đại diện là G.I.Sukina, N.G.Marôzôva,… 1.1.2. Những công trình nghiên cứu trong nước Do nền tâm lý học Việt Nam còn non trẻ nên những công trình nghiên cứu về hứng thú mãi đến những năm 1960, 1970 mới có những công trình nghiên cứu như “Hứng thú bộ môn của học sinh cấp III” của Trương Anh Tuấn, Phạm Huy Thụ, Đặng Trường Thanh. Từ đó đến nay, vấn đề hứng thú ở Việt Nam được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có rất nhiều nghiên cứu về hứng thú. Năm 1969, Lê Ngọc Lan với đề tài “Tìm hiểu hứng thú học tập môn Toán của học sinh cấp II”. Thông qua đề tài tác giả đã đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Toán cho học sinh. Năm 1970, Phạm Huy Thụ với đề tài “Hiện trạng hứng thú học tập các môn học của học sinh cấp II”. Năm 1973, Phạm Tất Dong với luận án phó tiến sĩ ” Một số đặc điểm hứng thú nghề của học sinh lớn và nhiệm vụ hướng nghiệp”. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự khác biệt về hứng thú học tập giữa nam và nữ, hứng thú nghề nghiệp không thống nhất với xu hướng phát triển nghề của xã hội, công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông không được thực hiện nên các em học sinh chịu nhiều thiệt thòi. Hứng thú học tập các bộ môn của học sinh là cơ sở đễ đề ra nhiệm vụ hướng nghiệp một cách khoa học.
    12. 15. 10 Năm 1977, Phạm Ngọc Quỳnh với đề tài “Hứng thú với môn Văn của học sinh cấp II”. Phạm Huy Thụ với luận án “Hiện trạng hứng thú học tập các môn của học sinh cấp II”. Tổ nghiên cứu khoa học tâm lí giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội I với đề tài “Hứng thú học tập của học sinh cấp II đối với môn học cụ thể”. Kết quả cho thấy hứng thú học tập các môn của học sinh cấp II là không đồng đều. Năm 1980, Dương Diệu Hoa với “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học tập môn Tâm lí học đại cương của sinh viên khoa tâm lí học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội”. Lê Bá Chương với luận văn thạc sĩ “Bước đầu tìm hiểu về dạy học môn tâm lí học để xây dựng hứng thú học tập bộ môn cho giáo sinh trường sư phạm 10 +3”. Năm 1981, Nguyễn Thị Tuyết với đề tài luận văn “bước đầu tìm hiểu hứng thú học văn học lớp 10 ở một số trường phổ thông trung học tại Thành phố Hồ Chí Minh”. Năm 1982, Đinh Thị Chiến với nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu hứng thú với nghề sư phạm của giáo sinh Cao Đẳng Sư phạm Nghĩa Bình”. Tác giả đưa ra nhiều biện pháp để cải thiện hứng thú với nghề sư phạm cho giáo sinh. Trong đó, nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của dư luận xã hội. Năm 1984, Trần Thị Thanh Hương đã “thực nghiệm nâng cao hứng thú học toán của học sinh qua việc điều khiển hoạt động tự học ở nhà của học sinh”. Năm 1987, Nguyễn Khắc Mai với đề tài “Bước đầu tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên tại trường của sinh viên khoa tâm lí giáo dục”. Tác giả đưa ra những nguyên nhân gây hứng thú là do ý nghĩa của môn học, trình độ của sinh viên, phương pháp giảng dạy của giảng viên.
    13. 16. 11 Năm 1988, Vũ Thị Nho với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với năng lực học văn của học sinh lớp 6″. Năm 1994, Hoàng Hồng Liên có đề tài ” Bước đầu nghiên cứu những con đường nâng cao hứng thú cho học sinh phổ thông”. Tác giả kết luận dạy học trực quan là biện pháp tốt nhất để tác động đến hứng thú của học sinh. Năm 1997, Đặng Mai Khanh với luận văn thạc sĩ tâm lý học “Tìm hiểu thực trạng hứng thú đối với môn tâm lý học của sinh viên trường đại học Cần Thơ”. Tác giả khảo sát thực trạng hứng thú học tâm lý học của sinh viên và thử nghiệm bằng cách cải tiến, sử dụng hệ thống bài tập thực hành trong chương trình tâm lý học nhằm nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên sư phạm. Năm 1998, Đặng Minh Thư với đề tài “Tìm hiểu hứng thú với môn tâm lý học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Đồng Nai”. Năm 1999, Nguyễn Hoài Thu với đề tài “Bước đầu tìm hiểu hứng thú học môn ngoại ngữ của học sinh lớp 10 PTTH Hà Nội”. Lê Thị Thu Hằng với đề tài “Thực trạng hứng thú học tập các môn lí luận của sinh viên trường Đại học Thể dục thể thao I”, tác giả rút ra kết luận: phương pháp, năng lực chuyên môn của giảng viên là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hứng thú học tập của sinh viên. Nguyễn Thị Nhượng “Nghiên cứu thực trạng hứng thú học môn tâm lý học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Phú Yên”. Tác giả nêu những nguyên nhân gây nên thực trạng trên , bước đầu thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học cho sinh viên sư phạm. Năm 2000, Trần Công Khanh đã đi sâu nghiên cứu “Tìm hiểu thực trạng hứng thú học môn toán của học sinh trung học cơ sở thị xả Tân An”. Kết quả cho thấy đa số học sinh trong diện điều tra chưa có hứng thú học toán.
    14. 17. 12 Năm 2001, Phạm Thị Ngạn nghiên cứu “Hứng thú học tâm lý học của sinh viên trường cao đẳng sư phạm Cần Thơ”. Tác giả đã tiến hành thử nghiệm biện pháp nâng cao hứng thứ học tập môn tâm lý học của sinh viên: cải tiến nội dung và cách sử dụng các bài tập thực hành, tăng tỉ lệ các giờ thực hành. Mai Trung Dũng trong nghiên cứu về “Thực trạng hứng thú học tập môn Giáo dục học của sinh viên sự phạm hệ cao đẳng trường ĐH Tây bắc ” đã đưa ra một số biên pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên: Phải làm cho sinh viên nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa và tác dụng của môn giáo dục học đối với cuộc sống, đối với nghề nghiệp tương lai; Trong giảng dạy, cần kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Đặc biệt chú ý từng bước áp dụng quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm để kích thích sinh viên tham gia giải quyết các tình huống, chủ động lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm; Cần kết hợp và vận dụng linh hoạt giữa lý thuyết và thực tiễn thông qua các ví dụ minh họa chính xác, phù hợp với nội dung bài giảng; Tích cực khai thác triệt để mối quan hệ giữa môn giáo dục học với các bộ môn khoa học khác làm cho nội dung bài giảng giáo dục học hấp dẫn; Để áp dụng phương pháp dạy học mới, nhà trường cần tạo điều kiện hơn nữa về giảng đường, hệ thống loa đài, đặc biệt là phương tiện, tài liệu học tập cho sinh viên… không nên bố trí lớp học quá đông sinh viên làm hạn chế việc áp dụng phương pháp dạy học mới, ảnh hưởng đến kết quả học tập của sinh viên; Cần tổ chức nhiều hơn nữa các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ để kích thích sự say mê của các em đối với lĩnh vực giáo dục học. Qua đó, giúp sinh viên hiểu rõ hơn ý nghĩa của môn học, sự cần thiết của môn học đối với cuộc sống, nghề nghiệp sau này. Năm 2002, Lê Thị Phương Thảo tìm hiểu “Hứng thú học tập tâm lý học và biện pháp nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên cao đẳng sư phạm Huế”. Đặng Quốc Thành nghiên cứu “Hứng thú học môn tâm lý học quân sự
    15. 19. 14 học tập: có động cơ học tập đúng đắn; khơi dậy ở sinh viên nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập; tạo điều kiện học tập thuận lợi; giáo viên cần trau dồi kĩ năng, phẩm chất đạo đức, nghề nghiệp, cải tiến phương pháp giảng dạy. Năm 2009, trong bài viết của ThS. Ngô Văn Hoàn và ThS. Vương Huy Thọ in trên Tạp chí Giáo dục số 213 (kì 1 – 5/2009) về “Nâng cao hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học môn Công nghệ 12” đã nêu ra một số biện pháp nhằm nâng cao hứng thú học tập môn Công nghệ là: Nâng cao tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nghề, mến trẻ; rèn luyện tay nghề sư phạm (các kĩ năng dạy học); đổi mới PPDH, kiểm tra, đánh giá; chuẩn bị tốt thiết bị dạy học (lí thuyết và thực hành); cấu trúc lại thời gian thực hiện chương trình để kết hợp lí thuyết với thực hành trong một nội dung kiến thức. Đây cũng là biện pháp mang tính đặc thù của môn Công nghệ 12. Năm 2010, Lê Văn Bích với luận văn Thạc sĩ “Hứng thú học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên hệ chính quy trường Đại học Luật chúng tôi đã nêu ra một số kết luận: Để nâng cao hứng thú học tập cho sinh viên nhà trường cần tổ chức lại lớp với số lượng thích hợp, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, chuẩn hóa trình độ lý luận chính trị cho giảng viên, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo trình. Giáo viên cần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của sinh viên, nâng cao kiến thức về chủ trường đường lối của Đảng và Nhà nước, tích cực tham gia nghiên cứu khoa học. Về phía sinh viên, cần xác định rõ mục tiêu học tập, tích cực học tập nghiên cứu phát huy tính độc lập sáng tạo, không phân biệt môn chính môn phụ. Nguyễn Thị Bích Thủy với luận văn thạc sĩ “Hứng thú học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Văn Hiến TPHCM”.
    16. 20. 15 Năm 2011, Nguyễn Kim Vui với đề tài luận văn thạc sĩ: “Thực trạng hứng thú học tập các môn tâm lí học của sinh viên trường Đại học Tài chính Marketing tại thành phố Hồ Chí Minh”. Nguyễn Thị Ái với đề tài “Hứng thú học tập môn giáo dục công dân của học sinh một số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh”. Như vậy, các công trình nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú học tập trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã được nghiên cứu rất đa dạng, phong phú. Chính từ những công trình này, cơ sở lý luận về hứng thú ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, với mỗi công trình nghiên cứu khác nhau, khách thể nghiên cứu cũng có nhiều sự khác biệt. Tính cho đến thời điểm tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ” Hứng thú học tập môn GDCD của học sinh một số trường trung học phổ thông tại quận 8, thành phố Hồ Chí Minh”, mặc dù có rất nhiều các công trình nghiên cứu về hứng thú học tập của sinh viên, hứng thú học tập các môn học cụ thể của học sinh THPT nhưng hứng thú học tập môn GDCD của học sinh THPT ở địa bàn quận 8 thành phố Hồ Chí Minh chưa được ai nghiên cứu. 1.2. Hứng thú và hứng thú học tập 1.2.1. Hứng thú 1.2.1.1. Khái niệm Quan điểm hứng thú của các nhà tâm lý học trên thế giới: Khái niệm hứng thú đã được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học quan tâm nghiên cứu. Nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy khái niệm “hứng thú” được sử dụng khá rộng rãi, được hiểu với nhiều khía cạnh khác nhau nên có nhiều cách giải thích khác nhau. Quan điểm của một số nhà Tâm lí học, giáo dục học phương Tây coi hứng thú như một thuộc tính bẩm sinh của con người (I.Ph.Shecbac); hứng thú không những chỉ toàn bộ những hành động khác nhau mà nó còn thể hiện
    17. 21. 16 cấu trúc bao gồm các nhu cầu , là dấu hiệu của nhu cầu bản năng cần được thỏa mãn (Charlette Buhler, Sbinle), hứng thú có nguồn gốc sinh vật (V.Giêm – Xơ, S.Klaparet). Theo E.K.Strong và W.James, hứng thú là một trường hợp riêng của thiên hướng, được biểu hiện trong xu thế hoạt động của con người muốn học được một số đối tượng nhất định, yêu thích một vài loại hoạt động và định hướng tính tích cực nhất định vào những hoạt động đó. Nhìn chung, các nhà Tâm lí học phương Tây đều thống nhất ở quan điểm coi hứng thú là một hiện tượng đặc biệt, có ý nghĩa to lớn đối với mỗi cá nhân. Hứng thú là một hiện tượng gắn liền và có quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng tâm lí khác. Hứng thú là sự kết hợp đặc biệt và sự tác động qua lại của nhiều quá trình tâm lí với nhau Quan điểm của một số nhà tâm lí học Mácxít xem xét hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại của các cá nhân. Thái độ đó xuất hiện do kết quả của sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa điều kiện sống và hoạt động sống của con người. P.A. Rudich coi “hứng thú biểu hiện một xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướng tương đối cố định của con người đối với các loại hoạt động nhất định.” . Ông coi hứng thú là sự định hướng của cá nhân vào một đối tượng nhất định. A.N.lêonchiep cho rằng hứng thú là một thái độ nhận thức đặc biệt đối với hiện tượng hoặc hiện tượng thực tế khách quan , hứng thú biểu hiện một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố gắng thực hiện. Theo quan điểm của các nhà tâm lí học Việt Nam, Nguyễn Hữu Nghĩa coi “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống vừa có khả năng đem lại cho cá nhân một sự hấp dẫn về tình cảm” . Theo Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thủy: khi ta có hứng thú về một cái gì đó thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận đi sâu vào nó . Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân.
    18. 24. 19 Hứng thú biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướng tương đối cố định của con người đối với các loại hoạt động nhất định. Trong hoạt động học tập và nghiên cứu thì sự xuất hiện hứng thú là đặc biệt quan trọng. Trong các trường hợp đó, hứng thú được xác định như một xu hướng nhận thức của cá nhân có kèm theo những cảm xúc tốt trong quá trình thỏa mãn nhu cầu đối với một thông tin mới, trước hết và chủ yếu là nhờ các cảm giác trí tuệ như ngạc nhiên, tính rõ ràng, lòng tin tưởng…Đặc điểm tiêu biểu của hứng thú là sự chú ý không có ý thức xuất hiện nhanh chóng và sự chú ý có ý thức được duy trì một cách dễ dàng. Thái độ xúc cảm với đối tượng là một dấu hiệu không thể thiếu được của hứng thú, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa thái độ nhận thức và thái độ xúc cảm của chủ thể đối với đối tượng mới có thể có hứng thú. Tuy nhiên, không phải thái độ cảm xúc nào cũng gây nên hứng thú, niềm vui nhất thời diễn ra trong chốc lát chưa phải là biểu hiện của hứng thú. Chỉ có những biểu hiện cảm xúc tích cực, bền vững của cá nhân đối với đối tượng mới có thể trở thành một dấu hiệu không thể thiếu được, một mặt của hứng thú . Ý nghĩa được tầm quan trọng và sự hấp dẫn của đối tượng, của hoạt động mỗi đối tượng có thể gây ra những rung
    19. 27. 22 Dựa theo nội dung và ý nghĩa xã hội của hứng thú, có hai loại hứng thú hoạt động và hứng thú không hoạt động: Hứng thú hoạt động: là loại hứng thú đòi hỏi phải có sự tham gia hoạt động của con người vào lĩnh vực tác động của hứng thú người đó. Chẳng hạn, một người thực sự ham thích sân khấu, thể thao…thì sẽ đi xem kịch, đọc những bài phê bình vở kịch đó trên báo chí, phân tích tài kịch nghệ của các nghệ sĩ, nghe và xem các buổi truyền hình thể thao qua đài phát thanh truyền hình, tự mình tập luyện thể thao. Hứng thú không hoạt động: con người thể hiện hứng thú đối với một cái gì đó nhưng chỉ quan sát một cách thụ động và tự thỏa mãn với biểu hiện bên ngoài của hứng thú. Dựa trên bản thân và kết quả của quá trình hoạt động thì người ta phân biệt hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp: Hứng thú trực tiếp: mục đích của tính tích cực do hứng thú gây nên sẽ được chứa đựng ngay trong bản thân đối tượng của hứng thú, con người sẽ bị chi phối bởi bản thân đối tượng mà mình tác động lên, bởi bản thân các sự kiện hay quá trình mà mình theo đuổi. Nói cách khác hứng thú trực tiếp là hứng thú trong quá trình hoạt động với đối tượng, ít chú ý tới kết quả của hoạt động. Loại hứng thú này có ý nghĩa là dẫn đến sự nhận thức sâu sắc hơn đối tượng của sự hứng thú. Hứng thú gián tiếp: mục đích của tính tích cực do hứng thú gây nên được chuyển từ đối tượng sang kết quả của nó là cái cần thiết cho những mục đích quan trọng hơn trong một hình thức hoạt động khác. Con người bị lôi cuốn bởi kết quả tác động với đối tượng, bởi kết cục của các sự kiện hay quá trình chứ không phải bởi bản thân các sự kiện hay quá trình ấy. Trong trường hợp này có lúc người ta nói là hứng thú thực tế của con người đối với một cái gì đó. Nói cách khác hứng thú gián tiếp là hứng thú với kết quả hoạt động chứ
    20. 28. 23 không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động đó. Loại hứng thú này có ý nghĩa là phương tiện tiếp thu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để hoạt động có kết quả Chỉ có kết hợp được cả hai loại hứng thú trực tiếp và hứng thú gián tiếp mới tạo ra được hứng thứ bền vững và sâu sắc. Căn cứ vào nội dung và chiều hướng của hứng thú, có: hứng thú vật chất, hứng thú chính trị xã hội, hứng thú lao động, hứng thú nghề nghiệp, hứng thú nhận thức, hứng thú đọc sách, hứng thú thể dục thể thao…Mỗi loại hứng thú kể trên được chia thành các nhóm hứng thú khác nhau, ví dụ hứng thú nhận thức có thể chia thành: hứng thú học tập, hứng thú toán học… Hứng thú vật chất: là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng, ước muốn như ước muốn có chỗ ở đầy đủ các phương tiện vật chất, được ăn ngon, mặc đẹp, có cuộc sống sung sướng… Hứng thú chính trị xã hội: là những hứng thú nhất định trong công tác xã hội, thích hoạt động xã hội, quan tâm đến các lĩnh vực chính trị xã hội. Hứng thú lao động – nghề nghiệp: yêu thích lao động, kỹ thuật, nông nghiệp. Hứng thú nhận thức: hứng thú học tập được xem là một biểu hiện của hứng thú nhận thức, hứng thú khoa học có tính chất chuyên môn như hứng thú toán học, hứng thú văn học nghệ thuật… Căn cứ vào mức độ hiệu lực của hứng thú: hứng thú tích cực, hứng thú chủ động và thụ động. Một cá nhân có hứng thú thụ động khi hoạt động của người ta chỉ giới hạn ở việc tri giác, chiêm ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú mà không thể hiện tính tích cực nhằm nhận thức sâu sắc đối tượng, làm chủ được đối tượng đó.
    21. 29. 24 Hứng thú chủ động (hứng thú tích cực): Con người không chỉ quan sát mà còn hành động nhằm chiếm lĩnh đối tượng gây nên hứng thú và thậm chí còn có nhiều sáng tạo trong lĩnh vực mà bản thân cảm thấy thích thú. Hứng thú tích cực là một trong những nhân tố quan trọng kích thích sự phát triển nhân cách của cá nhân. Căn cứ vào khối lượng của hứng thú: hứng thú rộng và hứng thú hẹp Khối lượng hứng thú có thể nói lên sự phong phú về tinh thần và tính toàn diện trong sự phát triển cá nhân, song cần phải có hứng thú trung tâm hoặc hứng thú chủ đạo trong các hình thức hoạt động của cá nhân đó. Căn cứ vào chiều sâu của hứng thú: hứng thú sâu sắc và hứng thú hời hợt. Những người có hứng thú sâu sắc thường có thái độ thận trọng và có trách nhiệm cao trong công việc, họ muốn hiểu bản chất của đối tượng nhận thức một cách sâu sắc, nắm vững hoạt động một cách hoàn hảo. Những người có hứng thú hời hợt thường qua loa, đại khái trong nhận thức cũng như trong hoạt động. * Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú: hứng thú bền vững và hứng thú không bền vững. Hứng thú bền vững thường tồn tại trong thời gian dài, thường xuyên thức tỉnh sự chú ý và ý nghĩ của cá nhân. Các hứng thú hoạt động, mạnh mẽ thường cũng trở thành hứng thú bền vững, gộp chung lại chúng nói lên ý nghĩa to lớn của hoạt động, của sự lựa chọn hoạt động đúng đắn của con người. Hứng thú bền vững thường gắn liền với năng lực của cá nhân trong lĩnh vực mà cá nhân đó cảm thấy hứng thú và sự nhận thức sâu sắc của cá nhân về nghĩa vụ và thiên hướng của bản thân. Hứng thú không bền vững: hứng thú luôn thay đổi, có nghĩa là nhân cách của cá nhân đó chưa xác định, chưa ổn định.
    22. 30. 25 1.2.1.4. Vai trò của hứng thú Theo Nguyễn Hữu Nghĩa . Như vậy, muốn có hứng thú học tập phải có ít nhất hai điều kiện: Người học phải ý thức được ý nghĩa của môn học đối với thực tế cuộc sống; Nội dung môn học phải gây được tình cảm đặc biệt đối với người học. Hứng thú học tập tạo nên ở người học một khát vọng tiếp cận và đi sâu vào tìm hiểu nắm bắt đối tượng của hoạt động học. Khát vọng này được biểu hiện ở chỗ cá nhân có sự tập trung chú ý cao độ vào nội dung môn học, tự điều chỉnh hoạt động của bản thân cho phù hợp với hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh được nội dung môn học. Chính vì vậy, khi người học hứng thú với nội dung môn học thì người học cảm thấy thoải mái khi học và sẽ đạt kết quả cao trong học tập. Hứng thú biểu hiện trong giờ học là người học tích cực suy nghĩ, tập trung nghe giáo viên giảng bài, không làm việc riêng… Có thể nói rằng sự tập trung chú ý không chủ định là một biểu hiện của hứng thú vì chứng tỏ người học tập trung vào đối tượng một cách đầy hứng thú. Khi hứng thú người học tập trung tư tưởng, chăm chú tri giác tài liệu, mong muốn tìm hiểu đối tượng càng lâu càng tốt, không vắng mặt hoặc nghỉ học. Khi theo dõi bài giảng, người học tích cực tham gia đóng góp ý kiến, trả lời phát vấn, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng bài, chăm chú nghe câu trả lời của người khác và bổ sung hay sửa chữa câu trả lời của bạn, đặt câu hỏi thắc mắc về những điều mà bản thân chưa hiểu để giáo viên giải thích thêm. Ngoài ra, hứng thú trong quá trình học tập còn thể hiện trong xúc cảm của người học. Xúc cảm này được thể hiện đó là phản ứng của người học khi trao đổi ý kiến trong giờ học, những phản ứng đó xuất hiện khi có một yếu tố bất ngờ làm cho người học ngạc nhiên hoặc khi người học thấy một cái gì đó
    23. 38. 33 Vậy hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới; những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị… 1.3.2. Bản chất của hoạt động học Đối tượng của hoạt động học chính là tri thức và những kỹ năng kỹ xảo tương ứng với nó. Cái đích mà hoạt động học hướng tới chính là chiếm lĩnh tri thức kỹ năng kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo của cá nhân. Việc tái tạo này sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu những tri thức chỉ được truyền cho người học theo cơ chế “máy phát – máy nhận”. Muốn học có kết quả người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí ruệ của bản thân mình. Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính mình, thông thường các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể, trong khi đó hoạt động học lại làm cho chính chủ thể hoạt động học này thay đổi và phát triển. Tri thức mà loài người tích lũy được là đối tượng của hoạt động học. Nội dung của đối tượng này không thay đổi sau khi nó bị chủ thể của hoạt động học chiếm lĩnh. Chính nhờ có sự chiếm lĩnh này mà tâm lý của chủ thể mới được thay đổi và phát triển. Người học càng được giác ngộ sâu sắc mục đích này bao nhiêu thì sức mạnh vật chất và tinh thần của họ ngày càng được huy động bấy nhiêu trong học tập và như vậy sự thay đổi và phát triển tâm lý của chính họ càng lớn lao và mạnh mẽ. Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Hoạt động học trước hết là hoạt động tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cả về nội dung và hình thức. Sự tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động học là sự tiếp thu có tính tự giác cao, đối tượng tiếp thu đã trở thành mục đích của hoạt động học. Những tri thức đó đã
    24. 39. 34 đươc chọn lọc tinh tế và tổ chức lại thành một hệ thống nhất định, vạch ra cái bản chất, phát hiện ra những mối liên hệ mang tính quy luật quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng. Hoạt động học không chỉ hướng vào việc tiếp thu tri thức, kỹ năng kỹ xảo mới mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu được cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức. Muốn cho hoạt động học đạt kết quả cao, người ta phải biết cách học, nghĩa là phải có những tri thức về bản thân hoạt động học. Sự tiếp thu này không thể diễn ra một cách độc lập với việc tiếp thu tri thức kỹ năng kỹ xảo. Do đó trong khi tổ chức hoạt động học cho học sinh, người dạy cần phải ý thức được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nào cần được hình thành ở học sinh, vừa phải có một quan niệm rõ ràng thông qua tổ chức sự tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó thì học sinh sẽ lĩnh hội được cách học gì, con đường chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó như thế nào. 1.3.3. Sự hình thành hoạt động học tập 1.3.3.1. Hình thành động cơ học tập Động cơ học tập của học sinh được hiện thân trong đối tượng của hoạt động học, đó chính là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, giá trị, chuẩn mực mà giáo dục sẽ đưa lại cho họ. Có hai loại động cơ đó là động cơ hoàn thiện tri thức và những động cơ quan hệ xã hội. Động cơ hoàn thiện tri thức là học sinh có lòng khát khao mở rộng tri thức, mong muốn có nhiều hiểu biết… Tất cả những biểu hiện này đều do sự hấp dẫn, lôi cuốn của bản thân tri thức cũng như phương pháp chiếm lĩnh tri thức. Mỗi lần chiếm lĩnh được cái mới thì các em cảm thấy nguyện vọng hoàn thiện tri thức của mình được thỏa mãn. Hoạt động học tập được thúc đẩy bởi động cơ hoàn thiện tri thức thường không chứa đựng xung đột bên trong. Nó cũng có thể xuất hiện những sự khắc phục khó khăn trong tiến trình học
    25. 40. 35 tập và đòi hỏi phải có những nỗ lực ý chí. Nhưng đó là những nỗ lực hướng vào việc khắc phục những trở ngại bên ngoài để đạt được nguyện vọng đã nảy sinh chứ không phải vào việc đấu tranh với chính bản thân mình. Do đó chủ thể của hoạt động học thường không có những căng thẳng tâm lý. Động cơ quan hệ xã hội là học sinh say sưa học tập nhưng sự say sưa đó là sư hấp dẫn, lôi cuốn ở bên ngoài mục đích trực tiếp của việc học tập. Chẳng hạn như thưởng và phạt, đe dọa và yêu cầu, thi đua và áp lực, khêu gơi lòng hiếu danh, mong đợi hạnh phúc và lợi ích tương lai, sự hài lòng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè…Hoạt động động học tập được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội mang tính chất cưỡng bách và có lúc xuất hiện như là một vật cản cần khắc phục trên con đường đi tới mục đích cơ bản. Thông thường cả hai loại động cơ học tập này cũng được hình thành ở học sinh, chúng làm thành một hệ thống được sắp xếp theo thứ bậc. Vấn đề là ở chỗ, trong những điều kiện hoàn cảnh nào đó của dạy và học thì loại động cơ học tập nào được hình thành mạnh mẽ hơn, nổi lên hàng đầu và chiếm địa vị ưu thế trong sự sắp xếp theo thứ bậc của hệ thống các động cơ. Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt mà phải hình thành dần trong chính quá trình học sinh đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên. Nếu trong dạy học giáo viên luôn tổ chức cho học sinh tự phát hiện ra những điều mới lạ, tự giải quyết nhiệm vụ học tập, giáo viên tạo ra được ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần sẽ làm nảy sinh nhu cầu của các em đối với tri thức khoa học. Học tập sẽ trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với các em. Muốn làm được điều này phải làm sao cho những nhu cầu gắn liền với một trong những mặt của hoạt động học tập (mục đích, kết quả….) Khi đó những mặt này của việc học tập sẽ biến thành các động cơ và bắt đầu thúc đẩy hoạt động học tập tương ứng, nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy các em vượt qua mọi khó khăn
    26. 41. 36 để giành lấy tri thức. Như vậy, muốn phát động động cơ học tập của các em, trước hết cần khơi dậy mạnh mẽ ở các em nhu cầu nhận thức, nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng học tập, vì nhu cầu chính là nơi khơi nguồn của tính tự giác, tính tích cực hoạt động. 1.3.3.2. Hình thành mục đích học tập Mục đích hành động cũng được hình thành dần trong quá trình diễn ra hành động. Hoạt động học tập là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động học. Mục đích của hoạt động học chỉ bắt đầu hình thành khi chủ thể bắt tay vào thực hiện hành động học tập, lúc đó chủ thể bắt đầu xâm nhập vào đối tượng, nội dung của mục đích ngày càng được hiện hình, lại càng định hướng cho hành động và nhờ đó chủ thể chiếm lĩnh được tri thức mới, năng lực mới. Trên đường chiếm lĩnh đối tượng học tập luôn diễn ra sự chuyển hóa giữa mục đích và phương tiện. Mục đích bộ phận được thực hiện đầy đủ, nó lập tức trở thành phương tiện cho sự hình thành mục đích bộ phận tiếp theo. Chính vì lẽ đó mà mục đích cuối cùng sẽ được hình thành một cách tất yếu trong quá trình thực hiện một hệ thống các hành động học tập. 1.3.3.3. Hình thành các hành động học tập V.V.Đavưđốp cho rằng muốn hình thành tư duy lý luận cho học sinh phải thông qua hình thành hệ thống khái niệm theo nguyên lý phát triển, ông xem các hành động phân tích, mô hình hóa, cụ thể hóa là những hành động học tập quan trọng nhất. Trong dạy học, trước hết những hành động đó phải được xem như đối tượng lĩnh hội, sau khi được hình thành trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức. Hành động phân tích nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát của khái niệm cũng như cấu tạo logic của nó. Nó là phương tiện quan trọng nhất để đi sâu vào đối tượng. Trình độ phát triển của hành động phân tích gắn liền với
    27. 42. 37 trình độ nắm vững tri thức trước đó. Việc hình thành khái niệm trước đó chắc chắn bao nhiêu thì bây giờ hành động phân tích được diễn ra thuận lợi bấy nhiêu. Do đó, có thể nói tri thức cũ đã hình thành là phương tiện quan trọng để tiến hành phân tích, đi sâu vào khái niệm mới. Hành động mô hình hóa giúp con người diễn đạt logic khái niệm một cách trực quan, qua mô hình các mối quan hệ của khái niệm được chuyển vào trong. Trong dạy học, thường dùng những loại mô hình: mô hình gần giống vật thật, mô hình tượng trưng, mô hình mã hóa. Trong thực tiễn dạy học, việc dạy cho học sinh có khả năng mô hình hóa các mối quan hệ đã phát hiện, cũng như có khả năng sử dụng mô hình đó để tiếp tục phân tích đối tượng là việc làm cần thiết để phát triển trí tuệ của học sinh. Hành động cụ thể hóa giúp học sinh vận dụng phương thức hành động chung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong cùng một lĩnh vực. Sự phát triển của tri thức không chỉ dừng lại ở mức độ tổng quát, trừu tượng mà còn phải đạt tới cái cụ thể mới và hành động để đạt tới cái cụ thể mới ấy là hành động cụ thể hóa. Chính nó giúp thực hiện sự triển khai khái niệm từ quan hệ tổng quát, trừu tượng đến các trường hợp cụ thể, đa dạng khác. Và trong trường hợp đó, các mối quan hệ trừu tượng, tổng quát được sử dụng như những công cụ, phương tiện đắc lực để làm sáng tỏ những hiện tượng khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng có cùng bản chất, đó là việc làm của hành động cụ thể hóa. Trong dạy học, ba hành động nêu trên được hình thành và phát triển trong qua trình hình thành khái niệm. Ban đầu, những hành động học tập này chính là đối tượng lĩnh hội, sau khi hình thành, nó trở thành công cụ, phương tiện học tập và cũng chính chúng góp phần quyết định chất lượng học tập. Do đó, ta có thể nói quá trình hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo nhất thiết
    28. 43. 38 phải thông qua quá trình hình thành các hành động học tập, phải lấy hành động học tập làm cơ sở. 1.4. Đặc điểm hứng thú học tập của học sinh THPT 1.4.1. Học sinh và một số đặc điểm tâm lý cơ bản 1.4.1.1. Đặc điểm sự phát triển nhận thức trí tuệ Do sự hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của hệ thần kinh trung ương và các giác quan, do sự tích lũy tri thức và kinh nghiệm sống, do yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập và lao động mà nhận thức cảm tính của học sinh THPT có những nét mới. Cảm giác, tri giác đạt tới độ tinh nhạy của người lớn, tri giác có mục đích đã tới mức rất cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn. Do sự nhạy cảm của óc quan sát, học sinh dễ phát hiện ra những đặc điểm của sự vật, hiện tượng. Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đống thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Các em biết tìm các phương pháp, các thuật ngữ để ghi nhớ, xác định rõ cái gì cần hiểu, cái gì phải nhớ nguyên văn, cái gì nhớ ý nghĩa và cái gì không cần nhớ. Năng lực chú ý có chủ định cũng phát triển, đặc biệt học sinh biết phân phối chú ý, các em có thể vừa nghe giảng vừa ghi chép vừa theo dõi câu trả lời của bạn. Tính có lựa chọn của chú ý cũng phát triển cao hơn hẳn so với học sinh lớp dưới. Đây là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện năng lực trí tuệ. Theo J.Piaget ở tuổi này các em đạt được các thao tác trí tuệ bậc cao như người lớn, đó là tư duy hình thức và tư duy logic. Cấu trúc hoạt động trí tuệ của học sinh THPT phức tạp và có tính phân hóa rõ rệt, thường quan sát thấy các em trai học giỏi các môn khoa học chính xác, khoa học tự nhiên còn các em gái thì học tốt các môn khoa học xã hội. Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học hoặc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học
  • Sự Biến Đổi Chất, Hiện Tượng Vật Lý, Hiện Tượng Hóa Học
  • Phân Biệt Hiện Tượng Vật Lý Và Hiện Tượng Hóa Học (Có Bài Tập Vận Dụng)
  • Chương 2: Hệ Thống Thông Tin
  • Lý Thuyết: Giới Thiệu Về Máy Tính Trang 19 Sgk Tin Học 10
  • Bàn Về Khái Niệm Công Nghệ Và Chuyển Giao Công Nghệ Trong Luật Chuyển Giao Công Nghệ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Công Là Gì? Cùng Xem 12 Định Nghĩa Về Thành Công Của Những Người Thành Đạt Nhất Trên Thế Giới!
  • 20 Định Nghĩa Về Thành Công Giúp Bạn Kiến Tạo Ý Nghĩa Cho Cuộc Đời Mình
  • Với Bạn, Thành Công Là Gì?
  • Nợ Công Là Gì? Bàn Về Bản Chất Kinh Tế Của Nợ Công
  • Nợ Công Là Gì? Hiểu Đúng Bản Chất Của Nợ Công?
  • Tóm tắt: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam số 22 năm 2014 đăng tải bài viết: “Luật chuyển giao công nghệ và những vướng mắc cần sửa đổi” của tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc – Bộ KH&CN, nêu lên những bất cập của Luật chuyển giao công nghệ (CGCN) và hướng sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới. Nội dung bài viết sau đây tiếp tục đề cập đến những điểm chưa phù hợp, trong đó tập trung chủ yếu về khái niệm công nghệ, chuyển giao công nghệ được quy định trong Luật CGCN và hướng sửa đổi để bạn đọc cùng bàn bạc, trao đổi nhằm góp phần hoàn thiện Luật CGCN trong thời gian tới. 1. Khái niệm công nghệ

    Theo Luật CGCN: ” Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” (Điều 3.2, Luật CGCN). Khái niệm công nghệ của Luật CGCN, cũng trùng với khái niệm công nghệ, nêu tại Điều 3.2, Luật KH&CN năm 2013. Trong đó, khái niệm “Bí quyết kỹ thuật” được Luật CGCN diễn giải: “Bí quyết kỹ thuật là thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ” (Điều 3.1, Luật CGCN). Từ khái niệm này của Luật CGCN, chúng ta liên hệ đến khái niệm “Bí mật kinh doanh”, một đối tượng được bảo hộ độc quyền trong Luật Sở hữu trí tuệ: ” Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” (Điều 4.23, Luật Sở hữu trí tuệ). “Bí quyết kỹ thuật” thuộc tập hợp “Bí mật kinh doanh”, vì đều là thông tin thu được từ hoạt động kinh doanh, kết tinh của lao động bằng trí tuệ, có khả năng sử dụng được trong kinh doanh và các lĩnh vực khác. Mặc dù “Bí quyết” và “Bí mật” cũng mang hàm nghĩa tương đồng, là những thông tin được giấu kín. Tuy nhiên, nội hàm của “Bí quyết kỹ thuật” hẹp hơn “Bí mật kinh doanh”. Vì “Bí mật kinh doanh” ngoài “Bí quyết kỹ thuật” tương ứng với các giải pháp kỹ thuật, còn những bí quyết khác không phải kỹ thuật gắn với hoạt động trong quá trình tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, bên cạnh các đối tượng được bảo hộ buộc phải bộc lộ thông tin thì “Bí mật kinh doanh” là hình thức bảo hộ theo cơ chế đặc biệt, do chủ sở hữu tự bảo vệ che giấu thông tin.

    Trước đây, khi đề cập đến công nghệ, thông thường chúng ta bàn đến lĩnh vực kỹ thuật. Nhưng nay, công nghệ còn bao hàm trong lĩnh vực dịch vụ (có thể gắn với kỹ thuật hoặc không phải kỹ thuật), vì giải pháp trong lĩnh vực dịch vụ cũng biến đổi nguồn lực thành sản phẩm (sản phẩm dịch vụ). Ví dụ, công nghệ trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, ngân hàng, trong đó có những cách thức, biện pháp huy động vốn, sử dụng vốn, nâng cao số lượng vòng quay của vốn một cách hiệu quả. Đồng thời, công nghệ không chỉ dừng lại trong lĩnh vực kỹ thuật, hay lĩnh vực kinh doanh. Về tổng thể, công nghệ có thể xuất hiện trong mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực quân sự, an ninh quốc phòng đến các hoạt động vui chơi, giải trí,… Câu chuyện truyền thuyết lịch sử “Chiếc nỏ thần” của An Dương Vương, phải chăng đó chính là bí quyết – công nghệ trong lĩnh vực quân sự trong những thời kỳ đầu dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc. Do vậy, nên chăng chúng ta nên dùng thuật ngữ “Bí quyết” nói chung thay thế cho thuật ngữ “Bí quyết kỹ thuật”. Việc sử dụng thuật ngữ “Bí quyết” sẽ bao quát hơn, phù hợp hơn với xu thế thời đại. Đặc biệt nó sẽ bao hàm cả công nghệ trong các ngành dịch vụ đang đóng góp 60% – 70% GDP của thế giới khi bàn về CGCN. WIPO cho rằng: ” Li – xăng công nghệ (CGCN) chỉ diễn ra khi một trong các bên sở hữu những tài sản vô hình có giá trị, đó là tài sản trí tuệ, và do đó, chủ sở hữu có quyền pháp lý ngăn cấm người khác sử dụng các tài sản đó. Li- xăng thể hiện sự đồng ý của chủ sở hữu cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để nhận lấy một khoản tiền hoặc tài sản khác. Việc Li – xăng công nghệ không thể xảy ra nếu không có tài sản trí tuệ” ;

    – Trần Tịnh, một học giả Trung Quốc , đưa ra khái niệm: ” CGCN có thể được hiểu như sự di chuyển công nghệ từ đơn vị này đến đơn vị kia, việc chuyển giao thành công là khi đơn vị nhận công nghệ có được những hiểu biểu rõ ràng và có thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả. Ngược lại, nếu người nhận không nắm vững được công nghệ nhận được và không thể sử dụng được nó một cách hiệu quả thì việc chuyển giao coi như chưa thực hiện được “;

    – Tài liệu tập huấn đổi mới công nghệ và quản lý đổi mới công nghệ (tài liệu quản lý công nghệ)

    – Điều lệ sáng kiến, được ban hành kèm theo Nghị định 13 khi đề cập đến chuyển giao sáng kiến, quy định: ” Chuyển giao sáng kiến là việc truyền đạt toàn bộ kiến thức, thông tin về sáng kiến để người được chuyển giao có thể áp dụng sáng kiến ” (Điều 2.2, Điều lệ sáng kiến, Nghị định 13).

    Tạm thời, tóm tắt các quan điểm về khái niệm CGCN qua 6 điểm chính cơ bản như sau:

    – CGCN là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ;

    – CGCN là ứng dụng công nghệ hiện có;

    – CGCN là chuyển giao kiến thức có hệ thống về chế tạo một sản phẩm nào đó, ứng dụng một quy trình công nghệ nào đó hoặc cung cấp một dịch vụ nào đó;

    – CGCN là tập hợp các hoạt động về kỹ thuật, thương mại, pháp lý nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được năng lực công nghệ như bên giao công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.

    – CGCN là sự dịch chuyển công nghệ qua biên giới quốc gia;

    Từ nội dung đề cập trên, thấy rằng: khái niệm về CGCN rất đa dạng, phong phú. Các khái niệm này không đối nghịch nhau mà có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Tùy từng bối cảnh, điều kiện cụ thể, mà các khái niệm CGCN được đề cập phù hợp. Khái niệm CGCN trong Luật CGCN Việt Nam, hay khái niệm CGCN của WIPO chỉ là một quan điểm về CGCN. Quan điểm này được xem xét đứng trên quan điểm của bên CGCN, nó chưa khái quát, đầy đủ và phù hợp với đặc thù của một quốc gia thường xuyên phải tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài, với khát khao có được công nghệ mới để phát triển bền vững như Việt Nam. Vì vậy, việc các ý kiến cho rằng: “điểm mâu thuẫn không thể chấp nhận được của pháp luật CGCN Việt Nam so với quan điểm về CGCN của thế giới”, nếu có chỉ ở góc độ đơn thuần về yếu tố pháp lý, về quyền chuyển giao các đối tượng sở hữu trí tuệ.

    Dưới góc độ quản lý nhà nước ở cấp vĩ mô, người ta thường quan tâm và coi sự dịch chuyển công nghệ là CGCN. Bởi mối quan tâm thường được đặt ra ở cấp vĩ mô là thu hút các công nghệ mới, tiên tiến có tác dụng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hiện đại, kích thích sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giải quyết công ăn việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước; cấm hoặc hạn chế các công nghệ có tác động không tốt ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội, môi trường. Tác giả bài báo này hoàn toàn đồng ý với quan điểm “cần quy định quản lý hoạt động CGCN đối với từng luồng CGCN: CGCN từ Việt Nam ra nước ngoài, CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam và CGCN trong nước” . Nếu coi chuyển dịch công nghệ không phải là CGCN thì lấy cơ sở nào để quản lý các công nghệ được chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam thông qua các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các hợp đồng nhượng quyền thương mại (có gắn với công nghệ) trong Luật Thương mại. Trong khi bên cạnh những thành tựu của việc CGCN từ các kênh này mang lại, chúng ta phải đối diện với nhiều nguy cơ, thảm họa (nếu buông lỏng quản lý nhà nước) của việc CGCN từ các kênh này, như vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề chuyển giá làm thất thu thuế cho ngân sách nhà nước.

    Đối với việc CGCN tiếp cận từ “chuyển giao giữa các khâu của vận động công nghệ”, nói cách khác là việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu từ quá trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D), Luật CGCN đề cập dưới góc độ chuyển giao quyền như sau: “Nhà nước giao quyền chủ sở hữu công nghệ đối với kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” (Điều 40.1, Luật CGCN). Luật KH&CN năm 2013 giành hẳn 1 mục (mục 5, chương IV) quyền sở hữu, quyền tác giả đối với kết quả R&D. Luật KH&CN quy định “Tổ chức, cá nhân đầu tư tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật cho việc thực hiện nhiệm vụ KH&CN là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác trong hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” (Điều 41.1 Luật KH&CN năm 2013). Tuy nhiên, tại Điều 41, Luật KH&CN năm 2013 cũng quy định: ” Đại diện chủ sở hữu nhà nước quy định tại khoản 2 Điều này có quyền xét giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ cho tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN.” (Điều 41.3, Luật KH&CN năm 2013). Đồng thời, để chi tiết hóa việc CGCN được hình thành từ kết quả R&D, được quy định bởi Luật KH&CN năm 2013 và Nghị định số 08/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ KH&CN đã ban hành Thông tư số 15/2014/TT-BKHCN ngày 13/6/20142quy định trình tự, thủ tục giao quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách. Từ đó, cho thấy quan điểm về chuyển giao kết quả R&D giữa Luật CGCN và Luật KH&CN năm 2013 không hề có mâu thuẫn. Do vậy, theo quan điểm tác giả bài viết, không cần thiết quy định lại vấn đề này trong Luật CGCN sửa đổi, bổ sung. Việc bổ sung nếu có, là xây dựng thêm cơ chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý để các công nghệ hình thành từ kết quả R&D nhanh chóng đi vào cuộc sống. Đó cũng là con đường để thu hút các công nghệ mới, công nghệ nguồn từ nước ngoài vào Việt Nam mà lâu nay chúng ta bỏ ngỏ làm hạn chế đưa các công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh theo các luồng CGCN trong nước cũng như CGCN từ nước ngoài vào trong nước Ngành dịch vụ hiện đóng góp 60% GDP của thế giới. Ở các nước OECD, tỷ trọng này lên tới 70%. GDP lĩnh vực dịch vụ chiếm tới 90% GDP của Hồng Kông, 80% GDP của Mỹ, 74% của Nhật Bản, 73% GDP của Pháp, 73% GDP ở Anh, 71% GDP của Canada Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới.

    giống định nghĩa của quốc tế hơn là quan điểm của quốc tế – đang trích dẫn nguyên văn theo tài liệu

    [u2] dấu (*) và (**) ở đây có nghĩa gì? Có thể thay thế bằng (1) và (2) được không

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Nông Nghiệp Công Nghệ Cao Là Gì?
  • Thiếu Việc Làm Là Gì? Giải Pháp Cho Tình Trạng Thiếu Việc Làm
  • Về Bản Chất Và Ý Nghĩa Của Văn Chương
  • Khái Niệm Và Nguyên Nhân Ra Đời Của Tham Nhũng
  • Trong Khái Niệm Của Luật, Không Có Tham Nhũng Vặt
  • Tin tức online tv