【#1】Ngoại Di Truyền (Epigenetics) Giữa Các Thế Hệ: Chúng Ta Được Di Truyền Không Chỉ Là Gene

Ngoại di truyền (Epigenetics) giữa các thế hệ: chúng ta được di truyền không chỉ là gene

Chúng ta không chỉ là kết quả của sự kết hợp genome từ bố và mẹ. Các cơ chế ngoại di truyền (epigenetic mechanisms) được điều chỉnh và biến đổi bởi các tín hiệu môi trường như chế độ ăn uống, bệnh tật hoặc lối sống đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa “đóng- mở” gene. Từ lâu, các nhà khoa học đã tranh luận, liệu các biến đổi ngoại di truyền tích lũy trong suốt cuộc đời có thể di truyền cho thế hệ con hoặc thậm chí cháu. Gần đây, các nhà nghiên cứu từ Viện Miễn dịch học và Ngoại di truyền Max Planck ở Freiburg, Đức đưa ra bằng chứng hùng hồn rằng không chỉ DNA được di truyền mà các chỉ dẫn ngoại di truyền (epigenetic instructions) cũng góp phần điều hòa sự biểu hiện gene ở thế hệ con cái. Hơn nữa, các nhà khoa học từ phòng thí nghiệm Nicola Iovino lần đầu tiên mô tả các kết quả về mặt sinh học của thông tin ngoại di truyền. Nghiên cứu này chứng minh rằng sự ghi nhớ ngoại di truyền (epigenetic memory) từ người mẹ rất cần thiết cho sự phát triển và sống còn của thế hệ sau.

Cơ thể chúng ta có hơn 250 loại tế bào khác nhau, tất cả chúng đều có bộ DNA giống hệt nhau. Tuy nhiên, các tế bào gan hoặc tế bào thần kinh lại rất khác biệt và có những khả năng (skills) khác nhau. Quá trình tạo ra sự khác biệt này được gọi là ngoại di truyền (epigenetics). Các biến đổi ngoại di truyền phân bố ở các vùng chuyên biệt trên DNA để “thu hút” hoặc “né tránh” các protein kích hoạt gene. Vì vậy, những biến đổi này dần dần tạo ra những khuôn mẫu điển hình cho vùng DNA hoạt động và vùng DNA bất hoạt ở mỗi loại tế bào. Ngoài ra, trái ngược với trình tự “chữ cái” cố định của DNA, những ghi dấu ngoại di truyền (epigenetic marks) có thể thay đổi trong suốt cuộc đời để đáp ứng với môi trường hoặc lối sống của chúng ta. Ví dụ, hút thuốc lá thay đổi dấu ấn ngoại di truyền (epigenetic makeup) của tế bào phổi, thậm chí dẫn đến ung thư. Các kích thích bên ngoài như căng thẳng, bệnh tật hoặc chế độ ăn uống cũng được cho là lưu trữ trong ghi nhớ ngoại di truyền của tế bào.

Ngoại di truyền giữa các thế hệ

Các nhà nghiên cứu của Viện Max Planck đã phát hiện rằng những biến đổi H3K27me3 trên DNA chromatin của tế bào trứng của mẹ vẫn còn hiện diện trong phôi sau khi thụ tinh, mặc dù các ghi dấu ngoại di truyền khác đã bị xoá bỏ. Fides Zenk, tác giả chính của nghiên cứu giải thích: “Điều này cho thấy người mẹ truyền những ghi dấu ngoại di truyền cho con cái của mình, nhưng chúng tôi cũng rất quan tâm rằng liệu những ghi dấu đó có thực hiện điều gì quan trọng trong quá trình phát triển của phôi thai hay không.”

Các dấu ấn ngoại di truyền đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của phôi

Các nhà nghiên cứu đã loại bỏ enzyme methyl hóa histone H3 và phát hiện rằng nếu histone H3 không được đánh dấu (H3K27me3) trong giai đoạn phôi sớm thì phôi không thể phát triển đến giai đoạn cuối. Nicola Iovino nói: “Điều này chỉ ra rằng, trong quá trình sinh sản, thông tin ngoại di truyền không chỉ được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà còn quan trọng cho sự phát triển phôi thai.”

Ý nghĩa của học thuyết di truyền với sức khoẻ con người

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại Viện Max Planck là một bước tiến quan trọng và thể hiện rõ bằng chứng sinh học của thông tin ngoại di truyền được di truyền cho thế hệ sau. Kết quả nghiên cứu không những cung cấp bằng chứng cho thấy yếu tố ngoại di truyền trên ruồi có thể truyền qua các thế hệ sau, mà còn khám phá ra rằng các dấu ấn ngoại di truyền được truyền từ mẹ là một cơ chế tinh chỉnh để kiểm soát sự hoạt hóa gene trong hàng loạt các quá trình phát triển phức tạp của phôi trong giai đoạn phôi sớm.

Nhóm nghiên cứu tại Freiburg tin rằng những phát hiện của họ có ý nghĩa sâu rộng. “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng chúng ta không chỉ thừa hưởng gene từ bố mẹ mà dường như còn thừa hưởng những cơ chế điều hòa gene quan trọng và đã được điều chỉnh chuyên biệt do ảnh hưởng của môi trường và lối sống cá nhân. Những hiểu biết này có thể cung cấp góc nhìn mới rằng ít nhất trong một số trường hợp, sự thích nghi môi trường có thể được truyền tới thế hệ sau” Nicola Iovino giải thích. Hơn nữa, sự hư hỏng của cơ chế ngoại di truyền có thể gây ra các bệnh như ung thư, tiểu đường và những rối loạn tự miễn. Những phát hiện mới này có thể hữu ích cho các nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ con người.

【#2】So Sánh Logistics Và Forwarder? Tại Sao Giữa Chúng Lại Có Điểm Khác Biệt?

I. So sánh tiêu chí giữa Logistics và Forwarder – Tìm hiểu chung về Logistics và Fowarder

1. Logistics là gì? Vai trò của ngành Logistics như thế nào trong nền kinh tế?

Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba.

Logistics giúp các doanh nghiệp giải quyết bào toán đầu vào nguyên vật liệu đến đầu ra sản phẩm một cách hiệu quả nhất. Logisics giúp giảm chi phí vận chuyển, vận hành, tăng khả năng cạnh tranh.

Rất nhiều doanh nghiệp lớn đã hiểu được tầm quan trọng của logistics và bằng cách tập trung xây dựng, phát triển chiến lược hoạt động logistics mà có những thành công lớn.

Bên cạnh đó, cũng có không ít doanh nghiệp phải điêu đứng chỉ vì có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics.

Không chỉ có vậy, logistics còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động Marketing. Bằng cách đưa sản phẩm đến đúng lúc, đúng điểm mà khách hàng đang có nhu cầu nhất, làm thỏa mãn khách hàng.

2. Forwarder là gì? Tại sao lại cần sự xuất hiện của Freight Forwarder?

Forwarder (hay Freight Forwarder) là thuật ngữ chỉ người (hoặc công ty) làm nghề giao nhận vận tải (forwarding).

Về cơ bản, Forwarder là một bên trung gian, nhận dịch vụ vận chuyển hàng của chủ hàng, hoặc gom nhiều lô hàng nhỏ (consolidation) thành những lô hàng lớn hơn, sau đó lại thuê người vận tải (hãng tàu, hãng hàng không) vận chuyển từ điểm xuất phát tới địa điểm đích cuối cùng.

Có thể ngầm hiểu Freight Forwarder như một nhà cung cấp dịch vụ Logistics thuộc bên thứ 3 (Third-party logistics-3PL), họ không vận chuyển hàng hóa mà chỉ đứng ra như một trung gian giúp khách hàng kết nối với đơn vị vận chuyển.

Một freight forwarder quốc tế (International freight forwarders) thường xử lý các lô hàng quốc tế, đoán xét được đường đi của dòng hàng hóa.

Nhiều bạn thắc mắc tại sao người xuất khẩu được khuyên dùng sử dụng Forwarder trong việc vận chuyển hàng hóa trong khi chi phí cho việc vận chuyển hàng hóa qua Fowarder sẽ cao hơn so với việc doanh nghiệp tự thực hiện là bởi vì các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam đa số vẫn còn non trẻ, và chưa có nhiều kinh nghiệm về việc vận chuyển hàng hóa ra ngoài biên giới như các thủ tục và khai báo hải quan, cách thức thông quan, kho bãi,….

Hơn nữa, các doanh nghiệp nhỏ không dễ tiếp cận và mặc cả trực tiếp với hãng vận tải/ hãng tàu dẫn đến việc dễ bị ép giá.

Còn về vấn đề chi phí, thực tế việc sử dụng Forwarder sẽ giúp các doanh nghiệp (khách hàng) giảm chi phí, đặc biệt là các doanh nghiệp (khách hàng nhỏ lẻ). Forwarder sẽ tìm tuyến đường vận chuyển tốt nhất, phương thức và hãng vận tải phù hợp nhất cho nhu cầu của chủ hàng.

Hơn nữa các forwarder cũng thu xếp nhiều lô hàng nhỏ để đóng ghép ( consolidate) và vận chuyển tới địa điểm đích, nhờ vậy mà tiết giảm chi phí cho từng chủ hàng riêng lẻ với lượng hàng hóa nhỏ.

II. So sánh sự khác nhau giữa Logistics và Forwarder

Về tổng thể, ta có thể thấy được khái niệm logistics rộng hơn so với forwarder.

Hoạt động của forwarder thường chỉ gói gọn trong việc vận chuyển hàng theo các phương thức vận chuyển khác nhau từ nơi giao hàng đến nơi nhận hàng.

Logistis thì bao quát hơn, trong lĩnh vực logistics có nhiều hoạt động khác nhau, cung cấp được nhiều dịch vụ khác nhau nhằm hỗ trợ quá trình kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa.

Không phải công ty logistics nào cũng phải có đầy đủ các dịch vụ như khái niệm bởi có sự hỗ trợ từ nhiều loại công ty khác nhau tương ứng với mỗi loại dịch vụ.

Kể riêng đối với vai trò của forwarder cũng ăn khớp với nhiều khâu trong logistics như làm thủ tục hải quan, thông quan hàng hóa, giao nhận hàng hóa,… do vậy nhiều đơn vị forwarder vẫn nhận làm như một công ty logistics để tăng độ uy tín khiến nhiều người.

Sự so sánh đầu tiên về dịch vụ cung cấp trong công ty Logistics và Forwarder:

Đơn cử cho hai ví dụ sau:

Chuyển hàng nội địa (Trucking)

Liên hệ hãng tàu để thương lượng giá và đặt chỗ (Booking)

Làm các giấy tờ hải quan để thông quan cho lô hàng

Tiến hành đóng hàng của container A chung với các lô hàng có cùng cảng đến trong kho CFS – điểm thu gom hàng lẻ. (Nếu lô hàng có số lượng lớn thì không cần thu gom hàng lẻ đóng hàng chung mà có thể tiến hành vận chuyển nguyên lô)

Làm thủ tục và đóng phí cước để nhận B/L (Bill of Lading)

Tiến hành mua bảo hiểm hàng hóa nếu có yêu cầu

Xin C/O (Certificate of Origin), tức là Giấy chứng nhận Xuất xứ hàng hóa.

Công ty 1 cũng có thể làm đại diện cho công ty A để thực hiện các thủ tục khác nếu bên A có yêu cầu.

Lưu trữ hàng hóa của bên A, sau đó phân phối chúng theo đơn đặt hàng mà bên A đưa xuống

Phân loại, đóng gói hàng hóa theo yêu cầu của bên A (đảm bảo về số lượng, khối lượng, quy chuẩn đóng gói,,…)

Dãn nhãn hàng hóa, hướng dẫn sử dụng

Thực hiện Booking hãng tàu. Bên B cũng có thể tự đứng ra để cấp HBL cho bên A (House Bill of Lading – Vận đơn đường biển), sau đó thuê tàu chở hàng sang đích yêu cầu.

Làm các thủ tục thông quan cho hàng hóa

Xem xét để thực hiện đóng hàng lẻ (gửi kho CFS) hoặc chuyển nguyên lô

Xin các giấy tờ về kiểm dịch, giám định

Làm thủ tục để đưa hàng lên tàu và đóng cước vận tải

Mua bảo hiểm hàng và xin giấy chứng nhận C/O.

Bàn giao lại chứng từ hồ sơ cho khách hàng khi đã làm xong nhiệm vụ

Nếu có yêu cầu từ bên A, bên B có thể đứng ra làm đại diện để thực hiện các thủ tục khác.

Trong trường hợp này, bên A chỉ cần sản xuất sản phẩm, liên hệ với khách hàng để chốt về số lượng/yêu cầu hàng hóa. Mọi khâu còn lại sẽ do đơn vị cung cấp dịch vụ logistics lên kế hoạch và thực hiện xuyên suốt, tạo nên các giá trị gia tăng cho hàng hóa. Nhằm để chúng được giao đến người nhận trong trạng thái tốt nhất và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu được đưa ra trước đó.

Hi vọng qua bài viết trên, Aramex đã cung cấp cho các bạn những thông tin hữu ích về việc so sánh giữa Logistics và Forwarder. Nếu như cần biết thêm thông tin khác về chuyên ngành xuất-nhập khẩu, Logistics,… hãy liên hệ Aramex để nhận thông tin tốt nhất.

【#3】Rốt Cuộc Thì Anh Với Em, Giữa Chúng Ta Là Mối Quan Hệ Gì?

Anh không muốn thế này nữa, nếu không thể tiến đến thì nên rời xa.

Cô chẳng nói gì, anh cũng không hỏi thêm gì nữa. Anh không nói đùa, sự thật là anh đã rời đi. Cô chỉ thở dài rồi lẳng lặng nhấn chìm mọi cảm xúc về anh vào sâu nơi đáy tim.

Rõ là cô thương anh, thậm chí có thể nhiều hơn cả những người cô từng gặp, nhưng cô không yêu anh được. Ở bên anh, đó không phải cảm giác của tình yêu, không mãnh liệt, không rộn ràng, không lỡ nhịp, cũng chẳng mù quáng.

Thật lòng mà nói, chẳng có hạnh phúc nào đến từ một phía. Cũng chẳng có ai đủ kiên nhẫn để yêu và thương một người bằng tất cả sự cho đi của mình, mà chưa một lần mong mỏi được đáp lại.

Anh là biển, được ngắm nhìn biển mỗi ngày, được hít thở mùi hương của biển, đó là một cảm giác vô cùng trong lành. Anh chính là như vậy, xứng đáng với hai chữ “bình yên”.

Nhưng bởi lẽ, con người ta khi trải qua quá nhiều chuyện đau lòng thì sẽ hiểu bình yên đáng giá như thế nào. Cô không muốn phá hỏng điều đó, càng không muốn đánh mất sự bình yên của riêng mình.

Còn anh thì lại yêu cô, yêu cô đến ngây dại. Anh có thể làm mọi thứ khiến cô vui, nhưng cô lại một mực không cho anh một vị trí trong lòng mình. Anh không hiểu, anh cũng không muốn hiểu, rốt cuộc anh có điểm gì không tốt mà lại khiến cô do dự như vậy? Cho nên anh ra đi, ở bên một người không cần mình chẳng khác nào tự trói buộc bản thân mình với nỗi đau. Huống gì anh là đàn ông, anh nên có sự lạnh lùng phải có của một người đàn ông trong đời.

Có điều, cô không cho anh một danh phận bởi vì cô đã sớm xem anh là cuộc đời của mình, cô do dự là vì cô sợ mất anh. Tình cảm càng sâu đậm bao nhiêu, người ta càng sợ hãi bấy nhiêu. Sợ tình cảm chưa chín muồi đã vội vàng thay đổi, sợ lòng người khi có được sẽ chẳng còn nâng niu, trân trọng như xưa.

Cô để anh đi như vậy, thực lòng cũng rất đỗi buồn khổ. Nhưng với cô thì đó là một phép thử, nếu anh yêu cô nhiều như cô vẫn tưởng, chắc chắn anh sẽ gạt bỏ hết tất cả mọi thứ mà trở về bên cô, cho dù chẳng có lấy một danh phận.

Còn với anh, đó là một sự lựa chọn cuối cùng. Đàn ông khi yêu là vậy, lúc nào cũng rất kiên quyết.

Ngày hôm nay anh ra đi, không biết khi nào mới quay lại. Ngày hôm nay cô ở lại, tiếp tục sống với những vết thương còn chưa khô miệng, nay lại có thêm những vết thương khác, cứ thế, cứ thế, mà tan nát cả cõi lòng…

Hiên – chúng tôi

【#4】Những Status Buồn… Khoảng Cách Giữa Hai Chúng Ta Là Bao Xa ?

Em hỏi khoảng cách giữa chúng ta là bao xa? Vậy tôi sẽ nói cho em biết, ngay từ lúc em và tôi quay lưng lại với nhau, khoảng cách đó chính là nửa vòng trái đất.

Khi yêu nhau, người ta sống bằng trái tim và suy nghĩ của người còn lại nhiều hơn nên khoảng cách địa lý dường như không tồn tại, có chăng chỉ là khoảng cách giữa hai trái tim. Càng mạnh mẽ, bao dung khoảng cách ấy càng ngắn, còn ngược lại đó sẽ là khoảng cách lớn nhất trên trái đất này.

Em cứ tự hỏi mình, khoảng cách nào là xa nhất nhỉ? Có phải là khoảng cách giữa hai chúng mình bây giờ không? Khoảng cách giữa một đại dương. Khoảng cách của hai giờ ô tô, ba giờ máy bay và một giờ tàu điện? Ừ, có lẽ khoảng cách đó là xa lắm…

    Status buồn viết cho anh – mùa đông qua em vẫn đi tìm

Nhưng cũng khoảng cách đó thôi, sao cách đây một năm em không thấy xa? Cũng khoảng cách đó thôi, nhưng ngày trước chúng mình thường bảo, có là gì với thời buổi hiện tại? Internet, điện thoại… vẫn nhìn thấy nhau hàng ngày, vẫn nghe thấy giọng nói của nhau?

Vậy mà, sao bây giờ em lại thấy nó thật xa? Không phải vì anh không bên cạnh. Vẫn khoảng cách đó, ngày trước chúng mình có thể khép nó lại cho vừa vặn. Nhưng, vẫn khoảng cách đó, bây giờ có cố gắng cách mấy cũng chẳng thế ráp nối lại với nhau…

Đôi lúc em tự hỏi mình: Tại sao chúng ta lại lấy nhau? Nếu cứ mãi mãi như thời còn yêu có phải tốt hơn không nhỉ? Mãi như thời còn yêu, để giữa chúng mình vẫn còn những bí mật. Vẫn cố gắng hàng ngày, để đẹp lên trong mắt người kia…

Lấy nhau để làm gì, có phải để có ngày ba bữa chung mâm? Có phải để đêm nằm có người vòng tay ôm mình cho thật ấm? Có phải để khi mỏi mệt, có một bờ vai bên cạnh? Có phải, để khi em buồn, có người lau nước mắt cho em? Có phải, để có những đứa con xinh xắn được sinh ra? Có phải, để níu kéo tình yêu bằng sợi dây trách nhiệm? Có phải, để tuổi già, có người bầu bạn?

Ngày còn yêu, em những mong chúng mình có thể ở bên nhau. Nên mới quyết tâm đến bên anh, để khoảng cách 200 km giữa chúng mình gần lại. Nên mới quyết tâm lấy nhau, để đạt được những ước mong về gia đình và những đứa trẻ. Em những mong, có một tình yêu đến cuối cuộc đời không hề hối hận. Nhưng đến cuối cùng, cũng chỉ là những ảo vọng xa xôi.

Khoảng cách có khi thật gần nhưng lại thật xa. Đó là khi anh nằm bên em, nhưng hồn lại lang thang đến một chân trời nào khác. Là khi nằm chung giường, chung chăn đắp. Nhưng mỗi người trong chúng mình là một thế giới riêng… Khoảng cách cũng là khi, em nằm trong vòng tay anh. Nhưng cô đơn vẫn theo về giăng kín lối. Đó là khi, em ước ao một chút bối rối. Một chút được là một phần quan trọng của ai kia…

Khoảng cách khi thật xa, nhưng hóa ra vẫn cứ là gần. Đó là những ngày, chúng mình còn yêu, cách nhau 200km nhưng thấy ngày vẫn là quá ngắn. Điện thoại hàng ngày kéo nỗi nhớ xa lại thành gần…

Khoảng cách cũng đôi lúc thấy thật gần. Đó là khi chúng mình ngồi trước màn hình vi tính. Vẫn nhìn thấy rõ người bên kia đang làm gì và nói gì đó. Nhìn thấy cuộc sống của chồng mình hay vợ mình, dù cách nhau mấy nghìn cây số, nhưng hóa ra vẫn đâu đây…

    Những status buồn giữa anh và em có phải duyên phận ?

Nhưng khoảng cách giữa chúng mình bây giờ là gì anh nhỉ? Đôi lúc rất gần, nhưng đa phần lại rất xa. Khoảng cách mà em có cố níu kéo, cũng không thể khiến chúng mình gần lại. Khoảng cách mà anh có cố với tay, cũng chẳng thể giữ nổi tình yêu đã cạn kiệt trong em. Khoảng cách mà tiếng con trẻ bi bô, nhưng không thể khiến tình yêu hàn gắn. Chỉ có sợi dây trách nhiệm của hôn nhân bây giờ là níu giữ chúng ta…

Anh lúc nào cũng mong em hạnh phúc. Nhưng anh biết không? hạnh phúc là gì? em không thể cảm nhận nó được nữa rồi vì bản thân em có nhiều suy nghĩ mơ hồ. Em phải làm gì để có hạnh phúc và anh an tâm về em đây. Hạnh phúc là điều xa xỉ đối với em lúc này, hạnh phúc mà em mong là có ai đó luôn bên em, cho em niềm vui, chia sẻ em nỗi buồn và cả bờ vai, vòng tay nhưng…? Anh thì muốn đẩy em ra xa…

Giữa bộn bề cuộc sống, em là gì trong trái tim anh? Cũng giống như câu hỏi “anh có yêu em không? Em không muốn nghĩ đến và cũng không muốn đặt ra câu hỏi cho anh. Vì trước khi nói ra điều gì thì bản thân mình cần phải suy nghĩ thật kĩ. Nếu hỏi anh câu hỏi ấy, chứng tỏ em không tin vào tình cảm của anh và nếu không hỏi thì người con gái nào khi yêu cũng hoang mang, lo sợ. Bởi vì đó là tình yêu mơ hồ.

“Giữa chúng ta có rất nhiều khoảng cách, anh sợ sao này em sẽ tổn thương và anh quên cách để anh yêu một người” đó là lời biện luận của anh hay là lời nói từ chối mối tình không rõ ràng này. Em còn biết nói gì đây, khi em đang cố gắng nói ra những gì có thể cho anh hiểu nhưng em biết nó vô ích rồi.

Lời kết: Và khoảng cách có phải đã trở nên quá dài – Thời gian có phải cũng đã khiến anh đổi thay. Dường như khi yêu thương anh, em đã chấp nhận – Chọn về một nỗi đau, cho riêng mình em.

【#5】Tâm Sự Tình Yêu Buồn: Mối Quan Hệ Giữa Chúng Ta Là Gì?

Bài viết những dòng tâm sự tình yêu buồn đầy cảm xúc về mối quan hệ lứa đôi đang còn dang dở. Lời tâm sự buồn và giọt nước mắt của sự hoài niệm, nuối tiếc. Hãy đọc và cảm nhận!

Tâm sự tình yêu buồn: Mối quan hệ giữa chúng ta là gì?

“Người ta nói ngày buồn nhất trời sẽ đổ cơn mưa”

Những ngày mưa râm ran cứ rơi, làm tim tôi nặng trĩu lại, khó mà thoát ra khỏi cảm giác này. Tôi lại chợt nhớ về một người, một mối quan hệ không rõ ràng, không là người yêu cũng chẳng là bạn.

Năm thứ hai, cậu nói thích tôi, tôi vẫn từ chối

Năm thứ ba, cậu không nói thích tôi nữa. Nhưng vẫn âm thầm bên cạnh mình. Tôi không quan tâm.

Năm thứ tư, cậu quan tâm tôi, tìm hiểu, thu nhận thông tin từ bạn tôi. Tôi rung động

Năm thứ năm, cậu không thích tôi nữa… Tôi lại nhớ cậu mất rồi.

Trong năm tháng người ấy thích tôi, bản thân mình cũng đã trải qua một số mối tình, nhưng rồi lại tan vỡ, đến cuối cùng cậu không thích tôi nữa, tôi nhận ra cậu là người tốt nhất mà tôi từng gặp. Nhưng cái gì cũng là đã từng, làm gì có ai mãi thích một người được cơ chứ.

Cậu đã từng khóc vì tôi, từng buồn từng trách tôi. Nhưng do cái tính ngang hướng, nên chả quan tâm bao giờ. Giờ nghĩ lại, cậu không thích tôi nữa cũng do bản thân đã làm tổn thương người ấy quá nhiều. “Có không giữ, mất đừng tìm” chính là câu nói làm tôi sực tỉnh. Thời gian không tôn trọng, không quan tâm cậu, đến khi bản thân đã quá cô đơn, tim đã quá đau thì lại nhớ người ta, có phải ích kỷ quá không cơ chứ. Mỗi khi cậu nhắc tới cô gái cậu thích, tôi lại có chút chạnh lòng, ghen tị, nhưng rồi nghĩ lại, mình đối xử với người ta không tốt thì cũng nên để người ta rời đi mà thôi…

“Cậu rời xa tôi, khi ấy bản thân thực sự nhớ cậu!”

Hôm nay Đà Lạt lại mưa, tôi nhớ cậu, cậu nhắn tin đã có người yêu, trời mưa càng ngày càng lớn. Tim tôi vỡ tan thật sự, không thể khóc chỉ nhắn câu chúc mừng cậu đã tìm được người mình yêu, nước mắt tôi không thể rơi nữa rồi, chính những giọt mưa đà lạt hôm ấy đã nói thay lòng tôi.

Tôi còn nhớ những khi cậu đi ngang qua, cả hai vẫy tay chào nhau rất vui. Giờ ngang qua nhau lại như người lạ chưa từng quen. Còn có những lúc cả hai nhắn tin nói về chuyện tương lai, cậu nói tương lai cậu sẽ cố gắng có tôi, sẽ nấu ăn cho tôi mỗi ngày,… Nhưng có phải cậu đã quá thay đổi, hay chính chúng ta đã cảm thấy ngại ngùng khi mối quan hệ này không rõ ràng. Mỗi khi đăng story trên facebook, tôi chỉ mong cậu xem được và biết tôi đang sống như thể nào, nhưng dần ngày qua ngày, việc cậu xem tin của tôi dần ít đi, thậm chí là đến giờ không còn nữa, càng ngày cậu biến mất khỏi cuộc đời tôi, nhưng vẫn để lại một trái tim đầy thương tổn cho bản thân người cậu đã từng thích.

Lời tâm sự buồn về tình yêu…

Hãy tôn trọng nhau khi còn ở bên…

Cậu quên tôi rồi, nên thôi tôi cũng phải dần từ bỏ. Nhưng đau đớn nhất không phải là bị ai đó từ bỏ, mà là buộc phải từ bỏ một người mà trong lòng vẫn còn thương. Cậu chính là thanh xuân tươi đẹp của cuộc đời tôi. Cảm ơn cậu đã từng thích cô gái vô tâm này. Cảm ơn cậu đã rời xa tôi trong thời gian qua, tôi chưa thể quên được cậu nhưng tôi sẽ cố gắng. Chúng ta của sau này cái gì cũng có,chỉ là sau này chúng ta không có nhau, hai người ở hai nơi sẽ chẳng có duyên gặp lại nữa.

Những dòng Stt và lời tâm sự buồn về tình yêu (ngắn)

Những lời nói tâm sự về một tình yêu buồn.

1. “Tình yêu không có lỗi. Lỗi là do hai người yêu nhau mà không biết đến hai chữ: Vì nhau!”

2. “Nhiều người nói, yêu xa là khổ, ai chấp nhận yêu xa là khờ, cố gắng vì yêu xa là vô ích. Thỉnh thoảng trên phố bắt gặp những cặp đôi đi sát bên nhau, cùng cười, cùng nói, cùng nắm tay bỗng nhiên cảm thấy lòng mình lạc lõng vì nhớ tới ai kia đến đau lòng.”

3. “Lúc trước, tôi đợi…người tôi yêu..Bây giờ… tôi đợi cho trái tim tôi..hết yêu người..”

4. “Người ta khóc thường không phải vì họ yếu đuối mà bởi vì họ không thể mạnh mẽ trong thời gian quá dài”

5. “Phải có cái gì đó mất đi, con người ta mới nhận ra những ngày bình thường là hạnh phúc”

6. “Cuộc đời, đáng buồn nhất là khi bạn gặp được một người rất đặc biệt, nhưng lại hiểu rằng không thể nào mãi mãi ở bên người ấy. Không sớm thì muộn, bạn cũng buộc phải buông tay.!”

7. “Bạn sẽ phải tìm đến ai khi người duy nhất có thể khiến bạn ngừng rơi lệ lại là người khiến bạn khóc?”

8. “Nhiều lúc em sợ chuyện tình cảm, sợ những tan vỡ lại đến, lại đổ lên đầu em. Không phải em không cố gắng, mà những cố gắng của em dường như chỉ được đáp lại bằng những thất vọng, đau thương. Em phải làm sao?”

9. “Rồi một ngày anh sẽ nhận ra, không phải ánh nắng nào cũng đẹp, cơn mưa nào cũng nhẹ, ngọn gió nào cũng mát. Và không phải người con gái nào cũng yêu anh như em đã yêu anh.”

10. “Đau nhất là khi bạn nhận ra sự tồn tại của bạn đổi với ai đó là có cũng được mà không cũng chẳng sao”

12. “Bạn không yêu người phụ nữ vì nàng đẹp, nhưng nàng đẹp vì bạn yêu nàng..”

13. “Hãy tập ăn cay đi để rồi quen với đắng cay. Cuộc đời đâu phẳng lặng. Sao cứ thích ngọt ngào. Hãy tập ăn chua đi để rồi quen với dần với chát. Cuộc đời đâu có đầy đủ sao cứ thích đậm đà.”

14.” Nhiều lúc Em tỏ ra vô tình…Rồi nhận ra mình đang khóc…! Nhiều lúc Em tỏ ra thật nhẫn tâm… Để rồi nhận ra…Mình đang đau…! Nhiều lúc Em tỏ ra thật cứng cỏi… Để rồi nhận ra… Mình thật yếu đuối.”

15. “Một ngày anh sẽ yêu em như em yêu anh, một ngày anh sẽ nghĩ về em như em nghĩ về anh, một ngày anh sẽ khóc vì em như em khóc vì anh, một ngày anh sẽ muốn em… nhưng em sẽ không cần anh nữa.”

16. “Có những người khóc bằng nước mắt

Có những người khóc bằng sự im lặng

Có những người khóc bằng tiếng gào thét

Còn tôi khóc bằng nụ cười.”

17. “Sự phản bội mà ta nhận được hôm nay không phải do ta ngu ngốc hay không tốt mà là vì ta đã quá tốt với những thứ chẳng xứng đáng với mình.”

18. “Thầm yêu một người, vừa đáng mừng nhưng cũng vừa đáng buồn, đáng mừng là vì sẽ mãi mãi không bị từ chối, đáng buồn là vì cũng sẽ không bao giờ được chấp nhận.”

19. “Cái gọi là “tình yêu”, là khi nhìn thấy đối phương, điều đầu tiên bạn muốn không phải là cùng họ lên giường, chỉ đơn giản là cánh tay mở rộng, tâm tư cũng mở ra, muốn ôm lấy họ, dung chứa họ vào lòng.”

20. “Em không còn là cô gái mang hài đỏ bỏ cả thế giới nhỏ để yêu anh. Em bây giờ là cô gái mang hài xanh, tuy mỏng manh nhưng không còn xem anh là tất cả.”

21. “…Em vẫn cứ lặng lẽ…đợi chờ một bóng hình mà em đã đánh rơi.

chúng tôi vẫn cứ lặng lẽ…dõi theo một bóng hình mà em cố lãng quên.

chúng tôi vẫn cứ lặng lẽ…mang yêu thương đặt vào con tim ấy.

chúng tôi vẫn cứ lặng lẽ…đợi chờ một ngày kia ai đó quay trở về bên em.

chúng tôi đó quan trọng đối với em lắm! Và em tin… Yêu thương rồi sẽ trở về…”

(Bài thơ về tình yêu buồn)

22. “Nước vô tình, ngàn năm trôi mãi

Mây vô tình, mây mãi vẫn bay

Trăng vô tình, trăng đùa với gió

Người vô tình, sao hiểu thấu lòng tôi…”

23. “Em nhớ anh khi điều gì đó thật sự tốt đẹp xảy ra, bởi anh là người em muốn chia sẻ. Em nhớ anh khi điều gì đó làm em sầu não, bởi anh là người rất hiểu em. Em nhớ anh khi em cười và khóc, bởi em biết anh có thể giúp em nhân lên nụ cười vào lau đi nước mắt. Lúc nào em cũng nhớ anh, nhưng em nhớ anh nhất khi em thao thức trong đêm, nghĩ về tất cả những khoảng thời gian tuyệt vời mà chúng ta ở bên nhau.”

24. “Hãy hứa với em, đó là tất cả những gì em muốn. Hãy nói với em rằng em đã thay đổi anh theo một cách nào đó. Hãy nói với em rằng em có ảnh hưởng lên cuộc đời anh. Hãy hứa với em rằng anh sẽ luôn nhớ về em. Mất anh đã đủ khó khăn, nhưng em không muốn sống và nghĩ rằng em chẳng có chút ý nghĩa nào đối với anh.”

25. “Tình yêu giống như không khí mà chúng ta không nhìn thấy những chúng ta luôn biết nó rất cần thiết! Điều đó cũng giống hệt như anh, em sẽ không bao giờ nhìn thấy anh những anh luôn luôn ở cạnh em và em sẽ biết anh mãi luôn yêu em.”

….

Những lời viết tâm sự đầy cảm xúc về tình yêu buồn ở trên là tiếng lòng khó nói có thể xuất hiện với bất cứ ai trong cuộc sống này. Con người là một loài sinh vật kỳ lạ với những mối quan hệ thật phức tạp về tình cảm. Tình yêu là thứ mà có đôi khi ta hờ hững với nó khi nó đang ở ngay bên cạnh, có đôi khi ta cảm thấy nhớ nhung, tiếc nuối khi chợt nhận ra bản thân đã vô tình đánh rơi…

【#6】Mối Quan Hệ Giữa Thất Nghiệp Và Gdp

III. Đo lường thất nghiệp

2.Mối quan hệ giữa thất nghiệp và GDP

Giữa thất nghiệp và GDP có mối quan hệ thế nào?

Chúng ta thấy khi kinh tế tăng trưởng, GDP thực tế tăng. Trong quá trình đó các doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê thêm lao động nên việc làm nhiều hơn và thất nghiệp giảm.

Ngược lại, khi lao động bị thất nghiệp làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp kèm theo sự giảm sút GDP thực tế. Mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa thất nghiệp và GDP gọi là định luật Okun (1929-1979), người đầu tiên phát hiện ra.

Năm 1960, bằng công trình nghiên cứu thực nghiệm của mình, nhà kinh tế học người Mỹ Anthur Okun đã tiến hành khảo sát dựa trên dữ liệu về GDP và tỉ lệ thất nghiệp của Mỹ thống kê được trong suốt một thời gian dài. Mối quan hệ định lượng giữa thất nghiệp và sản lượng đã được ông tìm ra và phát triển thành định luật nổi tiếng mang tên ông.

Định luật Okun ra đời nhằm khảo sát sự biến động của chu kì kinh tế, sự giao động của mức sản lượng thực tế quanh sản lượng tiềm năng và mối quan hệ giữa chúng, trên cơ sở đó, dự báo mức tỉ lệ thất nghiệp kì vọng trong sự ràng buộc với hai biến số nêu trên.

Định luật này cho rằng: Khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tự nhiên 2% thì thất nghiệp thực tế tăng thêm 1%.

Ví dụ, mức thất nghiệp năm 2004 là 6%, từ 2004 tới 2006 sản lượng thực tế tăng hơn sản lượng tự nhiên 2%, do vậy tỉ lệ thất nghiệp giảm đi 1% từ 6% xuống còn 5%.

Yt: sản lượng thực tế (GDP thực)

Yp: sản lượng tiềm năng (GDP tiềm năng)

Ut: tỉ lệ thất nghiệp thực tế

Un: tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên

y: tỉ lệ gia tăng GDP thực tế

p: tỉ lệ gia tăng GDP tiềm năng

Mà: *100%

Yp Yp

Thay biểu thức x% trên vào công thức tính tỉ lệ thất nghiệp Ut:

Ut = Un + x/2% = Un + [(Yp – Yt)]*50%

Bảng dữ liệu GDP của Mỹ giai đoạn 2002-2004

(Nguồn: sách Macroeconomics, Robert J.Gorden, tái bản lần thứ 10, năm 2005)

Ta áp dụng định luật Okun trong việc dự báo tỉ lệ thất nghiệp Ut của Mỹ năm 2003 dựa trên bảng số liệu ở trên:

Ut = Un + x/2% = 5% + (10533.89 – 10381.33)*50% = 5.72%

Ta có thể thấy, con số về tỉ lệ thất nghiệp thực tế ước tính được theo định luật Okun xấp xỉ với tỉ lệ thất nghiệp ghi nhận được vào năm 2003

Ý nghĩa và ứng dụng của định luật Okun:

Định luật Okun là một công cụ khảo sát quan trọng trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa sản lượng và tỉ lệ thất nghiệp nói riêng và trong kinh tế học vĩ mô nói chung, nó là một công cụ quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách dự báo mức tỉ lệ thất nghiệp kỳ vọng tương ứng với mức sản lượng mục tiêu. Hay ngược lại, với mức sản lượng mục tiêu được tính toán trước thì ứng với đó là một tỉ lệ thất nghiệp được kỳ vọng là bao nhiêu. Từ đó làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách và chính phủ đề ra các quyết định chính xác trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô, tạo thế chủ động trong công tác dự báo kinh tế cũng như thiết kế một hệ thống an sinh xã hội phù hợp đảm bảo giải quyết hài hòa những hệ lụy mà tình trạng thất nghiệp, lạm phát có thể gây ra, ngăn chặn mọi ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội.

Biểu đồ tỉ lệ thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (1989-2008)

– Từ năm 1989 đến năm 1990:

+ Tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4.9 %

+ Tỉ lệ thất nghiệp cao, lên đến 13% năm 1989 và 10% năm 1990, năm 1991 là 9%

+ Tốc độ tăng GDP bình quân 8.2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao nhất trong chu kì là 9.5% năm 1995.

+ Thất nghiệp giảm chỉ còn 5.8%

+ Năm 1998-1999: tốc độ tăng trưởng giảm xuống dưới mức 6%, mức thấp nhất là 4.8% vào năm 1998

+ Tỉ lệ thất nghiệp là 7%, tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn đạt mức rất cao 28.9%

+ Tăng trưởng GDP ổn định ở mức trên 7% mỗi năm, cao nhất đạt 8.5% năm 2007.

+ Tỉ lệ thất nghiệp nằm trong khoảng 4% – 5%, thấp nhất đạt mức 4.2% năm 2007.

+ Tăng trưởng GDP giảm xuống chỉ còn 6.2%

+ Thất nghiệp tăng lên 4.6%

【#7】Mối Liên Hệ Giữa Nhãn Hiệu Trong Pháp Luật Việt Nam (P2)

Những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí thường mang tính chất mô tả về nguồn gốc địa lí. Chính vì thế mà pháp luật nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới thường không chấp nhận bảo hộ cho những nhãn hiệu chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa. Điểm đ Khoản 2 Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 liệt kê các nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt:

“Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định của Luật này.”

Trong đó, quy định này có trường hợp ngoại lệ cho việc đăng kí nhãn hiệu có chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí nếu “dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng kí dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định của Luật này”. Như vậy, theo điểm đ khoản 2 theo Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí có thể được chấp nhận bảo hộ là nhãn hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

(1) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu.

Mặc dù những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa bị coi là không có khả năng phân biệt nhưng trên thực tế, nhiều nhãn hiệu có chứa thành phần mô tả nguồn gốc địa lí vẫn được chấp nhận đăng kí bảo hộ tại Việt Nam. Về nguyên tắc, sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa có thể là bất kì dấu hiệu nào nhìn thấy được và có khả năng phân biệt. Những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa, dịch vụ được xếp vào loại những dấu hiệu mang tính chất mô tả/chỉ dẫn thương mại là những dấu hiệu đã mất đi khả năng phân biệt. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, nhà sản xuất vẫn có xu hướng lựa chọn gắn vào nhãn hiệu những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí, dù việc được chấp nhận bảo hộ là rất khó khăn. Khi sử dụng những dấu hiệu có chứa chỉ dẫn nguồn gốc địa lí của hàng hóa/dịch vụ, nhà sản xuất muốn người tiêu dùng có sự liên tưởng giữa sản phẩm đó và khu vực địa lí trên nhãn hiệu mà việc sử dụng có thể khiến cho khách hàng có sự tin cậy về danh tiếng hay chất lượng của sản phẩm. Hành vi sử dụng đó có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội và các cá nhân, tổ chức khác trên khu vực địa lý đó và vì vậy, việc đăng kí nhãn hiệu là dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc bị loại trừ. Tuy nhiên, Luật sở hữu trí tuệ cũng dành ra trường hợp biệt lệ, khi dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa, dịch vụ đã được người nộp đơn sử dụng và được biết đến một cách rộng rãi trong khoảng thời gian nhất định. Trong trường hợp này, do dấu hiệu đã trở nên quen thuộc và phổ biến với người tiêu dùng nên khi dấu hiệu được sử dụng trên hàng hóa, người tiêu dùng có thể không có lí do để nghĩ hay liên tưởng rằng dấu hiệu đó chỉ ra nơi sản xuất hay nguồn gốc sản phẩm mà chỉ đơn giản xem nó như một dấu hiệu để phân biệt hàng hóa trên thị trường.

(2) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận.

Ở nhiều quốc gia không bảo hộ riêng cho chỉ dẫn địa lí thì các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của sản phẩm vẫn được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận. Tại Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ định nghĩa:

“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên tổ chức là chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuđó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”.“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệucho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”.

Nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận có chức năng chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa, dịch vụ đăng ký nhãn hiệu và tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu. So sánh với chỉ dẫn địa lí, nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận có nhiều điểm tương đồng: Thứ nhất, giống như chỉ dẫn địa lí, nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận là loại tài sản có thể cho phép nhiều đối tượng sử dụng để gắn trên hàng hóa/dịch vụ của mình. Chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận là tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp. Sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận cũng giống sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí là phải thoả mãn một tiêu chuẩn chung nhất định.Nhãn hiệu chứng nhận có thể bao gồm chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý nhưng không bắt buộc sự xuất hiện của dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý. Thứ hai, rất nhiều chủ thể có thể được quyền sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tập thể/nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý nếu đáp ứng các điều kiện và tuân theo các quy chế d quy định về xuất xứ địa lí, nguyên vật liệu, phương thức sản xuất, chất lượng… mà nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận/chỉ dẫn địa lý đó đặt ra; các tổ chức/cá nhân đều chịu sự kiểm soát về việc sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa/chỉ dẫn địa lý cũng như kiểm soát về chất lượng sản phẩm được gắn nhãn hiệu/chỉ dẫn địa lý đó. Chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuchứng nhận có thẩm quyền kiểm định và xác nhận sản phẩm, dịch vụ đạt tiêu chuẩn. Khác với nhãn hiệu tập thể, chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuchứng nhận và chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý (Nhà nước) không sử dụng, khai thác nhãn hiệu đó mà cấp phép sử dụng cho những chủ thể kinh doanh có sản phẩm, dịch vụ đạt tiêu chuẩn. Tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí cũng không trực tiếp sử dụng, khai thác chỉ dẫn địa lí mà chỉ quản lí việc sử dụng của các thành viên. Đối với nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý, không xác định được cụ thể về những người được sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, vì sau khi nhãn hiệu đăng kí, việc cấp phép sử dụng thuộc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu. Đối với chỉ dẫn địa lí, việc đăng bạ chỉ dẫn địa lí chỉ xác định tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí chứ không xác định cụ thể những người sử dụng.

Tuy nhiên, nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận vẫn có một số điểm khác biệt với chỉ dẫn địa lí.

Thứ nhất, nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của các thành viên hiệp hội với sản phẩm, dịch vụ của các cơ sở không phải thành viên. Dấu hiệu này chỉ dẫn về nguồn gốc thương mại của sản phẩm, dịch vụ, nó cho biết xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ là từ một hiệp hội. Vì vậy, nhãn hiệu tập thể có thể là bất kì dấu hiệu nào để phân biệt sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của hiệp hội đó với hàng hóa, dịch vụ của những người khác không phải là thành viên. Ví dụ: “Vinataba” là một nhãn hiệu tập thể sử dụng bởi các công ti sản xuất thuốc lá thuộc Tổng công ti thuốc lá Việt Nam(1) hay VNPT là nhãn hiệu tập thể của Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam. Còn đối với nhãn hiệu chứng nhận, chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuthực hiện việc chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu chứng nhận.

Thứ hai, thành viên của tổ chức tập thể sở hữu nhãn hiệu tập thể thường là những người cùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm, tuân thủ theo quy chế sử dụng, có thể là các doanh nghiệp, nhà sản xuất ở những địa phương khác nhau. Tổ chức tập thể là chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệutập thể có thể là hiệp hội, liên hiệp các hợp tác xã, tổng công ti… với phạm vi hoạt động không bị giới hạn trong một địa phương nhất định. Đối với nhãn hiệu chứng nhận, thì người được phép sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chứng nhận là tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện trong quy chế sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chứng nhận. Như vậy, chủ thể có quyền sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tập thể/nhãn hiệu chứng nhận thường không bắt buộc phải thuộc một khu vực địa lý nhất định. Còn đối với chủ thể sử dụng chỉ dẫn địa lí thi phải là những cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm tại địa phương gắn với chỉ dẫn địa lý đó. Ví dụ: đối với chỉ dẫn địa lý “Nước nắm Phú Quốc” thì chỉ có những cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm tại huyện đảo Phú Quốc mới có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý này trên sản phẩm của mình.

Thứ ba, trong khi sản phẩm gắn nhãn hiệu tập thể không bắt buộc phải có những tính chất, chất lượng đặc thù, khác biệt so với các sản phẩm khác cùng loại; còn nhãn hiệu chứng nhận quy định các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; thì sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí phải có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lí của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn đó quyết định.

Khi nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệusẽ bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

Ngoài ra, khi xem xét “hành vi sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ” bị coi là xâm phạm quyền, Khoản 5 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ cũng có quy định sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa là việc thực hiện các hành vi sau đây:

(1) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; hoặc

(3) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

HÃY LIÊN HỆ ĐỂ CHÚNG TÔI ĐƯỢC TƯ VẤN CHO BẠN

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH HCM

Địa chỉ: 15 Nguyễn Văn Thủ, P.Đa Kao, Quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 0839100102 Hotline: 0916771088

Website http://hcmlawfirm.vn/ Email: [email protected]

【#8】Doanh Thu Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Doanh Thu Và Doanh Thu Thuần

Kiến thức doanh nghiệp, Kiến Thức Kinh Doanh, báo cáo doanh thu là gì, cơ cấu doanh thu là gì, doanh số là gì, doanh thu bán hàng là gì, doanh thu là gì theo thông tư 200, doanh thu là gì ví dụ, dòng doanh thu là gì, thống kê doanh thu là gì Kiến Thức Quản Trị Công Việc, Kiến Thức Tài Chính / By / 08/02/2020 /

Trong kinh doanh có rất nhiều các loại doanh thu khác nhau như: Doanh thu trước thuế, sau thuế, doanh thu thuần …Hôm nay chúng tôi gửi đến các bạn doanh thu là gì ? câu hỏi mà rất nhiều người đang tìm hiểu và muốn biết.

Doanh thu là giá trị của tất tần tật doanh số buôn bán hóa và dịch vụ được doanh nghiệp công nhận trong một giai đoạn. doanh thu (còn được gọi là Thu nhập) tạo thành sự bắt đầu của Báo cáo doanh thu của doanh nghiệp. Các chi phí được khấu trừ từ thu nhập của công ty để đạt đến tiền lời hoặc doanh thu ròng.

Tài chính cá nhân: Tài chính công: Tài chính doanh nghiệp: Phi lợi nhuận:

Ba chuyên môn chính thường tạo nên nghề tài chính là tài chính công, thu nhập cá nhân và tài chính doanh nghiệp. Và chúng tôi đã chứng minh ở trên, các nguồn thu tiền khác nhau trong mỗi loại rất có thể khá khác nhau. Mặc dù các danh sách trên không đầy đủ, nhưng chúng cung cấp ý thức chung về các loại thu nhập phổ biến nhất mà bạn sẽ gặp.

Tổng hợp định nghĩa về doanh thu thuần

  • Thu nhập thuần là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản giảm trừ doanh thu, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuất nhập khẩu.
  • Thu nhập thuần là là thu nhập trước thuế( trước khi đóng thuế cho nhà nước).
  • Doanh thu thuần là thu nhập từ làm việc kinh doanh, cung cấp sản phẩm dịch vụ đơn thuần.

Công thức tính thu nhập thuần

Doanh thu thuần = doanh thu cục bộ – % hoa hồng buôn bán – Hàng bán bị trả lại – áp dụng chính sách ưu đãi giảm giá hàng bán – Thuế gián thu

Doanh thu thuần không phải là doanh thu ở đầu cuối doanh thu mang về tiền lời, tìm thu nhập thuần để giúp công ty tính được lãi đã trừ vốn.

  • Lợi nhuân trước thuế = doanh thu thuần – Chi phí buôn bán
  • Lời so với vốn sau thuế = lời so với vốn trước thuế – thuế phải nộp cho nhà nước.

Cách nhận biết công ty buôn bán lời hay lỗ .

  • Nếu lợi nhuận sau thuế < 0 thì công ty lỗ.

Như đã nói, doanh thu thuần chưa phải là lời so với vốn của công ty sau các hoạt động bán hàng. Vì thế cần phải phân biệt sự khác nhau giữa doanh thu thuần, thu nhập và lãi đã trừ vốn. Cụ thể:

có thể hiểu là thu nhập kinh doanh hay cung cấp dịch vụ. Đây là tổng chất lượng của các sản phẩm và dịch vụ bán ra có ý nghĩa là sự tiêu thụ nhân với đơn giá sản phẩm, cộng thêm các khoản phụ thu khác.

Doanh thu = Tổng giá trị sản phẩm/ dịch vụ bán ra x Đơn giá sản phẩm/Dịch vụ + các khoản phụ thu khác.

Thu nhập thuần là thu nhập kinh doanh và đáp ứng dịch vụ hay gọi chung là doanh thu bên trên đã trừ thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Xuất nhập khẩu… Để bạn dễ hiểu hơn điểm nhấn này, hãy xem công thức sau:

Thu nhập thuần = doanh thu – các khoản giảm trừ doanh thu

Cụ thể lợi nhuận sẽ được tính theo cách sau:

  • Tiền lời trước thuế sẽ bằng doanh thu thuần trừ đi những khoản giá vốn hàng bán và chi phí doanh nghiệp…
  • Lợi nhuận sau thuế được tính là hiệu của lợi nhuận trước thuế và trừ đi số thuế doanh thu mà công ty sẽ phải nộp cho ngân sách của nhà nước trong kỳ hạn nhất định.
  • Nếu tiền lời trước thuế cao hơn 0 thì công ty sẽ lãi, nếu nhỏ hơn 0 thì doanh nghiệp bị lỗ.

Doanh thu bán hàng: Là tổng chất lượng các ích lợi kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các làm việc sản xuất, kinh doanh thông thường của công ty, góp phần làm phát triển vốn chủ sở hữu.

Chúng ta có thể hiểu đơn giản thu nhập kinh doanh là gì như sau: thu nhập bán hàng là tổng số tiền thu được do bán sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong kỳ kế toán, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu cho công ty.

Tổng doanh thu = Sản lượng * Giá bán

Trong đó, các khoản giảm trừ bao gồm:

% chiết khấu thương mại dịch vụ : Là khoản giảm ngay so với giá bán niêm yết của doanh nghiệp để cho các quý khách hàng mua hàng số lượng khủng.

– Ư u đãi giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ so với giá bán niêm yết của doanh nghiệp để cho người mua do hàng hóa sai quy cách, kém chất lượng hay lạc hậu…

– G iá trị sản phẩm bị trả lại: Là chất lượng lượng hàng bán đã được xác định là tiêu thụ nhưng bị quý khách hàng từ chối chi trả và trả lại.

Công ty cần phải xác định tổng doanh thu và doanh thu thuần qua các cách tính doanh thu bán hàng để kiểm soát và quản trị lượng sản phẩm bán ra và tính toán các khoản khấu trừ, chi phí phát sinh.

Từ doanh thu kinh doanh thu được qua các năm, các kỳ kế toán, ta có thể định hướng được tốc độ phát triển, mức độ hoàn thành kế hoạch. Vậy buôn bán ra sao các độc giả rất có thể theo dõi 2 cách tính tiếp sau đây.

Tốc độ phát triển là mức chênh lệch của thu nhập trong năm n so với năm n-1

Tốc độ phát triển năm n = (Doanh thu năm n-Doanh thu năm n-1) / (Doanh thu năm n-1) * 100%

Trong tình trạng thu nhập năm sau giảm so với năm trước thì số % sẽ là số âm, tức là thay vì tăng thì sẽ là giảm bằng đó đơn vị phần trăm.

Ví dụ sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về cách tính tốc độ tăng trưởng thông qua doanh thu:

doanh nghiệp ABC có thu nhập năm 2021 là 115 tỷ đồng. thu nhập toàn thể năm 2021 là 132 tỷ đồng. Vậy mức đơn vị phần trăm tăng trưởng doanh thu của năm 2021 là bao nhiêu đơn vị phần trăm.

Ứng dụng công thức trên, ta có:

Phần trăm tăng trưởng 2021 = (Doanh thu 2021 – thu nhập 2021)/Doanh thu 2021 * 100 = (132-115)/115 = 14.78 (%)

Tổng kết, năm 2021 doanh nghiệp ABC có mức phát triển gần 15% so với năm 2021.

Mức độ hoàn thành bản kế hoạch

Mức độ hoàn thành dự án = (Doanh thu thực tế / doanh thu kế hoạch) * 100%

Ví dụ: công ty ABC đặt ra mục đích doanh thu cho năm 2021 là 150 tỷ việt nam đồng. mặc dù vậy tính tới quý 3 năm 2021 tổng mức thu nhập của doanh nghiệp đã đạt được 145 tỷ VNĐ thì đơn vị phần trăm đã đạt được so với mục đích đề ra là bao nhiêu?

Ta có: Số phần trăm đã đạt được = 145/150 * 100 = 96.66 (%)

Như vậy chỉ sau 3 quý thu nhập đã đạt được 96.66 đơn vị phần trăm mục đích đề ra, gần hoàn thành tham vọng đã đề ra.

Trong tình trạng mức độ hoàn thành dự án đạt trên 100% thì tức là doanh nghiệp đã hoàn thành và vượt tham vọng đề ra.

Thu nhập hòa vốn = Sản lượng hòa vốn * Giá bán

= [Chi phí cố định / ( Giá bán – Chi phí biến đổi)] * Giá bán

= Chi phí cố định / (1- Chi phí biến đổi/Giá bán)

Có không ít bạn thường nhầm lẫn và không phân biệt chính xác giữa doanh số và thu nhập.

Doanh số là tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ mà công ty bán được đến người tiêu dùng của chính bản thân mình trong một giờ giấc nhất định. Còn doanh thu là tổng lượng tiền mà công ty thu được ứng với lượng hàng hóa và dịch vụ đã cung ứng trong một thời gian nhất định và được ghi trong sổ sách, bao gồm cả các khoản ghi nợ.

Bạn cũng rất có thể hiểu doanh số là tổng thu nhập, là toàn thể số tiền thu được từ số lượng và giá bán của hàng hóa bao gồm các khoản giảm trừ như % chiết khấu thương mại dịch vụ, tiết kiệm chi phí với chính sách giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Còn thu nhập sẽ là số tiền công ty thu được sau khi lấy doanh số trừ đi các khoản giảm từ, chi phí phát sinh trong quá trình buôn bán.

Việc phân biệt doanh số và thu nhập rất cần thiết trong quá trình kinh doanh của công ty, góp phần có được các phương án, chiến lược nhằm thúc đẩy tăng doanh số kinh doanh và thu nhập đem về cho công ty.

Thời điểm ghi nhận thu nhập

Là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng sản phẩm cho người mua.

Là thời điểm hoàn thành việc đáp ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn đáp ứng dịch vụ

Làm việc vận tải hàng không

Là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ vận chuyển cho người mua

Theo quy định của pháp luật.

Cách xác định thu nhập để tính doanh thu chịu thuế

Sản phẩm, dịch vụ bán theo phương thức trả dần, trả chậm

Hàng hóa, dịch vụ tận dụng để trao đổi; tiêu dùng nội bộ

Hàng hóa của các đơn vị giao đại lý, ký gửi và nhận đại lý, ký gửi theo hợp đồng đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng

Được xác định như sau:

Làm việc cho thuê tài sản

Tình trạng công ty đang trong quỹ thời gian hưởng ưu đãi thuế doanh thu doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định thu nhập để tính thu nhập chịu thuế là toàn cục số tiền thuê bên thuê trả trước cho nhiều năm thì việc định hướng số thuế thu nhập công ty từng ưu đãi thuế căn cứ vào tổng số thuế doanh thu công ty của số năm trả tiền trước chia (:) số năm bên thuê trả tiền trước.

Là tiền bán thẻ hội viên, bán vé chơi gôn và các khoản thu khác trong kỳ tính thuế.

Được định hướng như sau:

Hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Hoạt động cung cấp điện, nước sạch

Ngành nghề buôn bán bảo hiểm

Hoàn cảnh có thực hiện các nghiệp vụ thu hộ giữa các công ty trực thuộc hoặc giữa doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc với trụ sở chính của doanh nghiệp bảo hiểm thì doanh thu để tính doanh thu chịu thuế không bao gồm phần doanh thu thu hộ.

Nguồn: Tổng hợp

【#9】So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Doanh Nghiệp Nhỏ, Vừa Và Doanh Nghiệp Lớn!

Có thể bạn chưa biết, số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động do ngành Thống kê điều tra, cập nhật lần cuối vào thời điểm 31/12/2017 là 561.064 doanh nghiệp trên phạm vi cả nước, và tổng kết 2 tháng đầu năm 2021 đã có 18.703 doanh nghiệp thành lập mới.

Trong đó, đa phần các doanh nghiệp đều có quy mô vừa, nhỏ cho đến siêu nhỏ, còn các doanh nghiệp lớn chỉ chiếm phần thiểu số. Tuy vậy, rất ít ai trong chúng ta có thể phân biệt được sự khác nhau giữa các quy mô doanh nghiệp này và đặc điểm riêng của mỗi quy mô.

1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ

* Vốn ≤ 100 tỷ đồng

* Lao động ≤ 300 người

Dựa trên quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) và số lượng lao động ( tiêu chí về tổng nguồn vốn được ưu tiên hơn).

Theo nghị định 56/2009/NĐ-CP cụ thể như sau:

Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định, doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.

1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.

Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.

2. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.

Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.

3. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định.

Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định.

Những thông tin thú vị về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm phần lớn

– Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Theo báo cáo mới nhất vào tháng 1/2014 của Tradeup về tình hình tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Mỹ, nhóm doanh nghiệp này chiếm tới 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng trên 50% tổng số lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho 65% lượng lao động ở khu vực tư nhân. Tại Việt Nam, theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2011), Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội.

– Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nguồn vốn nhỏ, họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng.

Chịu sự cạnh tranh khốc liệt từ các “ông lớn”

Doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau. Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh.

Chủ yếu đầu tư vào các mặt hàng tiêu dùng

2. Doanh nghiệp lớn

Những thông tin thú vị về các doanh nghiệp lớn

Đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế của Quốc gia

– Dù chỉ chiếm 5% trong tổng số các doanh nghiệp được đăng ký hiện nay. Tuy nhiên các doanh nghiệp lớn lại đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Tạo ra một khối lượng việc làm lớn và chịu trách nhiệm trong việc thúc đẩy nền kinh tế.

– Các doanh nghiệp lớn đóng vai trò ổn định nền kinh tế trong những vấn đề khủng hoảng thì các doanh nghiệp lớn luôn là người “đứng mũi chịu sào” là đầu tàu vững chắc trong nền kinh tế quốc gia.

– Tạo nên sự ổn định cho nền kinh tế: các công ty và doanh nghiệp lớn luôn tạo nên sự phát triển kinh tế đồng đều và lâu dài giúp cho nên kinh tế luôn được ổn định và giảm bớt các biến động.

– Tạo nên các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng: hiện nay các doanh nghiệp lớn đều hoạt động trong những ngành nghề chủ đạo trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam đó là các doanh nghiệp như tập đoàn dầu khí, tập đoàn điện lực, tập đoàn than và khoáng sản.

– Đóng góp một lượng lớn GDP trong kinh tế của quốc gia.

– Các doanh nghiệp lớn có nguồn vốn rất lớn và tiềm lực kinh tế mạnh nên có thể nhanh chóng thay đổi và tiếp xúc với sự tiên tiến của khoa học kỹ thuật trên thế giới.

– Doanh nghiệp lớn có sức cạnh tranh mạnh về vốn, nhân lực và thương hiệu tốt hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

– Các doanh nghiệp lớn cân bằng giữa việc sản xuất và kinh doanh cho một nền kinh tế thay vì chỉ hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh và thương mại.

【#10】Giấc Mơ Bình Yên Giữa Dòng Đời Vạn Biến

Chắc hẳn, nhiều hơn một lần trong khoảng thời gian gần đây, bạn đã nghĩ đến chuyện mình muốn được bình yên? Và dĩ nhiên, hơn một lần trong những lần nghĩ suy đó, bạn không biết làm sao để có được nó, hay giữ nó thế nào?

Có thể rằng, giấc mơ bình yên rất khó định nghĩa. Nó mang ý nghĩa riêng của từng cá thể, từng con tim, từng hoàn cảnh, từng ngôi nhà… nhưng nó đều mang một điểm chung là khó hiểu và đôi khi là cả vô lý.

Không biết bạn có như tôi không nữa. Tôi nhìn thấy bình yên ở mọi ngõ nghách mình đi qua. Có thể tôi là một con người nhạy cảm, có thể hay suy nghĩ, hay đôi khi dễ dãi khiến bình yên của tôi đơn giản tới thế. Tôi thấy bình yên đơn giản, nào có phức tạp gì đâu?

Bình yên là… khi bạn cảm thấy mình cô đơn nhìn về một phía nào đó , không có ai cả, nhưng bạn biết rằng rồi sẽ có một người nào đó của riêng bạn, đặc biệt đang đứng chờ bạn ở đó. Bình yên là… ngủ một giấc dài, để khi tỉnh dậy cảm thấy thật nhẹ nhàng, rồi bỗng nhiên quên đi tất cả những gì vừa diễn ra, quên không phải vì nó là những chuyện khó chịu, mà quên là vì mình cần xóa bộ nhớ mỗi ngày, để chừa trống một khoảng không chờ bình yên tìm đến. Bình yên là… lúc làm được một điều tốt cho một người không quen biết, để thấy mình vẫn còn có ích với cuộc sống. Hay đơn giản chỉ là mình dừng xe lại, tấp vào lề đường mua cho bà cụ bán hàng đã già lắm, mắt đã mờ rồi vẫn không ngơi nghỉ để lo cho đứa cháu. Bình yên là… lúc nhận sự quan tâm, chăm sóc của một ai đó, cảm giác như mình to lớn đến nhường nào dù chỉ là lúc để sẵn kem đánh răng trên bàn chải và nấu cho họ một bữa cơm trứng chiên giản dị. Bình yên là… lúc khẽ mở cửa sổ, để gió cuốn đi, sau đó đóng cửa sổ lại vì bụi dữ quá, ho sặc sụa. Bình yên là… khi không gian vắng lặng, chẳng tiếng còi xe, chỉ có giọng người đàn ông vang lên giữa đêm Đông rét buốt: “Bánh bao đây!!”. Bình yên là… khi nằm dài giữa bãi biển, ngắm trời đêm thoáng đãng, nghe sóng vỗ ào ạt, chẳng ngâm mình xuống làn nước ấy đâu, chỉ cần hơi thở được hòa vào mùi biển, để cuộc sống thêm mặn mà.

Với tôi, bình yên có thể đến từ việc ta cho đi không mong nhận lại như khi ta tham gia những hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những số phận kém may mắn hơn mình. Có thể là nhận lại, được người khác giúp đỡ khi ta gặp khó khăn. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là tự bản thân ta đem lại sự bình yên cho chính mình.

Bạn để ý thử xem, khi bạn buồn nhất, thất vọng nhất , đó chính là lúc bạn cảm thấy mình ít bình yên nhất có đúng không? Bạn biết tại sao không? Tại vì chính những lo toan khiến bạn buồn, thất vọng, mệt mỏi, khổ đau, cầu toàn… làm bình yên trong mỗi con tim bị hạn hẹp… Khoảng trống của tâm hồn rất nhỏ, chỗ nào nữa để chứa đựng bình yên?! Cho nên khi bạn thấy thất vọng và buồn bã với mọi thứ đó, bạn dẹp bỏ nó đi, thế là bình yên vui mừng lắm vì được quay trở về với bạn. Dù không gian có chật hẹp, dù cái tôi trong mỗi người có to bằng cái bánh xe bò thì ở giữa sự vô hạn và hữu hạn, bạn sẽ nhìn thấy chính mình.

Tôi đã bảo mà, bình yên chỉ có chung một điểm là khó hiểu. Có thể bình yên sẽ trở về lúc cô đơn, buồn phiền, hạnh phúc…

Dòng đời vạn biến, cuộc sống khó khăn, ấy là điều không thay đổi được. Nhưng tâm thức là bất biến, thứ duy nhất ta có thể rèn luyện được đó vẫn là chính mình. Đó là lý do tại sao tôi hay trò chuyện với những bác bảo vệ, những cô lao công đáng mến, họ kể với tôi rằng muốn cố gắng tích cóp để cho con bé lớn ở nhà năm sau học một ngôi trường đẹp đẽ nơi tôi học tập, làm việc. Hay cho những cô thu mua sắt vụn những thứ tôi không còn cần nữa để có thể giúp những đứa bé ở nhà của cô có thêm chút quà bánh. Nghe những câu chuyện của những con người lao động thật thà, bình dị, tôi mỉm cười vì cuộc sống ngoài kia đâu có khó khăn như tôi nghĩ. Vẫn có những người không giàu sang, không chức quyền vẫn sống một cuộc đời hạnh phúc, đầy bình yên đấy thôi.

Đừng nhìn lại sau lưng với một đôi mắt buồn. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ , chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc, bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn đâu, bạn thân yêu ạ!

Một trong những cách để bạn không hoang mang, lo lắng tất tả chạy đi vội vã tìm kiếm bình yên đó là dành một góc nhỏ mỗi ngày để ngồi yên lặng; hoặc chỉ để nhìn mông lung; hoặc chỉ để theo dõi một chú kiến đang bò; hoặc chỉ để nhìn dòng sông lặng sóng… Tất cả những lúc nhỏ nhặt đó sẽ là lối dẫn đường cho bình yên về lại với mình.

Bạn thấy đấy, cuộc sống này như một ly nước, đầy hay vơi chỉ là do chúng ta quyết định.

Bài: Nam Hie – Ảnh: Sưu tầm