【#1】Marketing Materials Là Gì? Giải Pháp Marketing Materials Hiệu Quả

Khi xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu, các doanh nghiệp đều có những thông tin chính về sản phẩm dịch vụ của mình nhưng lại chưa biết cách sử dụng chúng hiệu quả trong việc ‘mời chào’ người tiêu dùng. Bên cạnh thông tin giải đáp về khái niệm Marketing materials là gì, CTAgency xin gửi đến bạn một số giải pháp marketing materials hiệu quả nhằm cải thiện hoạt động tiếp thị của doanh nghiệp:

Name card (danh thiếp). Hiểu theo cách thông thường thì đây là một tấm thiệp hình chữ nhật hiển thị những thông tin cơ bản của cá nhân hay doanh nghiệp như: tên cá nhân/tên thương hiệu, logo công ty, địa chỉ liên lạc, số điện thoại, địa chỉ email, website…

  • Tên sản phẩm, tên thương hiệu
  • Địa chỉ liên hệ: email, website, số điện thoại, Fanpage Facebook
  • Hướng dẫn cách mua hàng và giao nhận hàng nhanh chóng
  • Chính sách cho khách hàng thân thiết, voucher mua hàng, ưu đãi cho người mua lần đầu
  • Nếu doanh nghiệp chủ quan không thực hiện nghiên cứu thị trường hay nghiên cứu một cách hời hợt, thì việc đưa ra quyết định có thể mang lại rủi ro cao. Điều đó sẽ đi kèm với nhiều hậu quả khác, đó là chiến dịch thất bại hay lãng phí nguồn lực.

    Một số phương pháp nghiên cứu thị trường phổ biến mà các doanh nghiệp có thể áp dụng như:

    Hình thức Marketing materials là gì và giải pháp nghiên cứu thị trường (Nguồn: The verge)

    Giải pháp tiếp theo của Marketing materials là gì, đó không gì khác chính là đẩy mạnh hoạt động digital marketing. Hình thwusc Digital Marketing ngày một phát triển và dần trở thành xu hướng chính của Marketing thời đại mới, đây là 1 trong những hoạt động chính không thể thiếu với bất kì chiến dịch marketing hiệu quả nào. Digital Marketing là vũ khí tối thượng nếu được sử dụng đúng cách sẽ có thể giúp gia tăng doanh số bán hàng, cải thiện độ nhận diện thương hiệu và khiến cho thương hiệu của bạn kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, đưa sản phẩm đến gần hơn đối tượng mục tiêu. Và khi nắm được chìa khóa vận hành, nó sẽ phát huy công dụng tối đa, giúp tăng nhận diện thương hiệu, đẩy mạnh doanh số bán hàng và biến chính người dùng thành những đại sứ thương hiệu cao cấp nhất.

    Một hình thức Marketing materials khác chính là sáng tạo ra các sản phẩm khuyến mại và độc đáo. Đó có thể là:

    • Khảo sát
    • Phỏng vấn trực tiếp
    • Khảo sát bằng thư điện tử (Email Surveys)
    • Khảo sát qua điện thoại (Telephone Surveys)
    • Khảo sát trực tuyến (Online Surveys)
    • Tạo mẫu tờ rơi với từng phân khúc khách hàng của thương hiệu
    • Mở rộng quy mô, các chương trình ưu đãi giảm giá nhằm gia tăng khách hàng truy cập
    • In logo doanh nghiệp lên đồng phục cũng là hình thức Marketing materials tốt
    • Gửi tặng khách hàng thân thiết quà tặng lưu niệm có in logo của công ty để họ nhớ đến thương hiệu nhiều hơn

    Tạm kết

    【#2】Marketing Materials Là Gì? Cách Marketing Tốt Nhất Cho Doanh Nghiệp

    Marketing materials là gì?

    Lý do cần sử dụng marketing materials?

    Content marketing bao gồm tất cả các loại content và marketing materials cũng là content. Khách hàng thường muốn biết và tham khảo những thông tin về sản phẩm mình cần mua. Nhưng khách hàng đang tham khảo và tìm hiểu các thông tin về sản phẩm đó thì trang web đó biến mất khỏi màn hình khi đó khách hàng sẽ bị phân tâm và lãng quên nó. Vậy giải pháp ở đây là sử dụng các sản phẩm tiếp thị được in ra như hồ sơ năng lực, tờ rơi, poster,…chúng vừa được sử dụng lâu dài lại có thể truyền từ người này sang người khác.

    Nếu bạn làm tốt marketing materials sẽ làm cho thương hiệu của bạn nổi bật hơn so với đối thủ cạnh tranh và chúng sẽ làm cho thương hiệu của bạn được biết đến rộng rãi.

    Cách marketing materials hiệu quả

    – Thêm logo và slogan của doanh nghiệp bạn.

    – Thiết kế hình ảnh độc đáo để khách hàng dễ nhận biết thương hiệu của bạn.

    – Thêm thông tin website, email, số điện thoại vào danh thiếp để khách hàng có thể liên hệ.

    – Thêm các thông tin sản phẩm hoặc dịch vụ phía sau danh thiếp.

    – Đặt danh thiếp ở những nơi công cộng như ngân hàng, thư viện,…

    – Thiết kế tiêu đề thư cho bài thuyết trình bán hàng của bạn nổi bật hơn.

    – Sử dụng tiêu đề thư để in hồ sơ.

    – Tạo thông báo dưới dạng tiêu đề thư để liên lạc nhiều thông tin hơn.

    – Gửi thư ghi chú cá nhân cho khách hàng trên tiêu đề thư.

    – Lựa chọn phong bì phù hợp với tiêu đề thư của bạn.

    – Tham khảo những phong bì của thương hiệu lớn xem có gì đặc biệt.

    – Hướng dẫn cách mua hàng hoặc đặt hàng.

    – Báo giá rõ ràng ở các mức giá khác nhau khách hàng sẽ được gì để lôi kéo khách hàng.

    – Tạo bảng hiệu ngoài trời đơn giản và phải bắt mắt.

    – Lựa chọn những ý tưởng có tính lợi nhuận cao về sản phẩm và dịch vụ của bạn.

    – Viết các trường hợp có thể xảy ra đối với doanh nghiệp và cách giải quyết chúng.

    – Sử dụng từ phổ thông thay vì những từ ngữ chuyên ngành.

    – Nghiên cứu chèn link doanh nghiệp vào nội dung bài viết.

    – Thêm hộp trò chuyện vào trang web

    – Tạo thêm nhiều bài viết, bài đăng trên blog và quảng bá trên nhiều phương tiện truyền thông.

    – Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh.

    – Nên sử dụng bảng và phông chữ gắn liền với thương hiệu của bạn.

    – Nên lựa chọn phông chữ và màu sắc dễ đọc nhất.

    – Tập trung vào thông điệp mà bạn muốn gửi đến khách hàng trong mô tả sản phẩm.

    – Tạo thêm những ưu đãi trên hệ thống để thu hút khách hàng.

    – Thông tin liên lạc, liên kết đến các trang đặt hàng của doanh nghiệp.

    – Tạo thư mục rõ ràng để khách hàng dễ dàng sử dụng.

    – Thêm những thông tin liên lạc, kêu gọi hành động và liên kết đến các trang đích nơi mà khách hàng dễ dàng nhìn thấy.

    – Thay vì sử dụng slide thì nên sử dụng video giới thiệu về doanh nghiệp.

    – Kết hợp video với việc bán hàng của doanh nghiệp bạn.

    – Liên kết trang web đến video

    – Chia sẻ video lên mạng xã hội.

    – Tạo mẫu tờ rơi cho thương hiệu của doanh nghiệp.

    – In trên giấy chất lượng.

    – Tạo tờ rơi cho từng phân khúc khách hàng.

    – Tạo tờ rơi có những ưu đãi đặc biệt.

    – Thêm phiếu giảm giá để lôi kéo được lưu lượng truy cập.

    – Tạo tệp PDF của tờ rơi và gửi qua email cho khách hàng.

    – In logo doanh nghiệp lên đồng phục cũng là cách quảng bá thương hiệu tốt.

    – Tặng khách hàng thân thiết nhưng đồ lưu niệm có in logo của công ty.

    Với những thông tin chúng tôi vừa cung cấp đến các bạn hy vọng sẽ giúp mọi người hiểu marketing materials là gì. Đây là một sản phẩm rất tốt mà rất nhiều doanh nghiệp lại không biết tận dụng nó. Hãy áp dụng marketing materials một cách hiệu quả nhất.

    【#3】Nguyên Liệu Thô (Raw Materials) Là Gì?

    Khái niệm

    Nguyên liệu thô trong tiếng Anh là Raw Materials.

    Nguyên liệu thô là nguyên liệu hoặc những chất được sử dụng trong sản xuất cơ bản hoặc sản xuất hàng hóa. Nguyên liệu thô là hàng hóa được mua và bán trên các sàn giao dịch hàng hóa trên toàn thế giới. Các công ty mua và bán trong nguyên liệu thô trong thị trường nhân tố nguyên liệu thô là cũng là yếu tố sản xuất giống như lao động và vốn.

    Ví dụ về nguyên liệu thô bao gồm: thép, dầu, ngô, ngũ cốc, xăng, gỗ, tài nguyên rừng, nhựa, khí đốt tự nhiên, than đá và khoáng sản.

    Nguyên liệu thô được sử dụng trong vô số sản phẩm. Chúng có thể có nhiều dạng khác nhau. Loại hàng tồn kho nguyên liệu mà một công ty cần sẽ phụ thuộc vào loại hình sản xuất.

    Đối với các công ty sản xuất, hàng tồn kho nguyên liệu đòi hỏi phải được lập ngân sách chi tiết và một khuôn khổ đặc biệt để hạch toán trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

    Nguyên liệu thô trực tiếp và gián tiếp

    Trong một số trường hợp, nguyên liệu thô có thể được chia thành hai loại: trực tiếp và gián tiếp. Việc một nguyên liệu thô là trực tiếp hay gián tiếp sẽ ảnh hưởng đến cách chúng được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

    Nguyên liệu thô trực tiếp là nguyên liệu mà các công ty trực tiếp sử dụng trong sản xuất thành phẩm, chẳng hạn như gỗ để làm ghế. Nguyên liệu thô gián tiếp không phải là một phần của sản phẩm cuối cùng mà thay vào đó được sử dụng toàn diện trong quá trình sản xuất.

    Nguyên liệu thô gián tiếp sẽ được ghi nhận là tài sản dài hạn. Đối với nguyên liệu thô gián tiếp, thời gian khấu hao thường sẽ ngắn hơn các tài sản dài hạn khác.

    Nguyên liệu thô trực tiếp được xếp là tài sản lưu động. Nguyên liệu thô trực tiếp trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được ghi nhận trong giá vốn hàng bán. Các công ty sản xuất cũng phải thực hiện nhiều bước bổ sung hơn so với các công ty phi sản xuất để tạo báo cáo chi phí chi tiết hơn về giá vốn hàng bán.

    Nguyên liệu thô trực tiếp thường được coi là chi phí biến đổi do số lượng sử dụng phụ thuộc vào số lượng sản phẩm được sản xuất.

    Ví dụ thực tiễn

    Châu Phi, Trung Đông và Trung Quốc được cho là có nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên lớn nhất thế giới. Theo dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, Cộng hòa Congo, Nam Sudan, Libya và Iraq là các nhà sản xuất tài nguyên thiên nhiên hàng đầu thế giới theo phần trăm tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

    Các nhà sản xuất hàng đầu tính đến năm 2021 theo GDP bao gồm:

    – Cộng hòa Congo 42,7%

    – Nam Sudan 42,4%

    – Mông Cổ 40,5%

    – Libya 38,5%

    – Iraq 38,0%

    – Kuwait 37,1%

    – Suriname 33,2%

    – Congo, Dem. Rep 32,7%

    – Đông Timor 31,5%

    – Guyana 25,3%

    – Liberia 25,2%

    – Equatorial Guinea 24,3%

    – Mauritania 24,1%

    – Saudi Arabia 23,8%

    (Theo investopedia)

    Giang

    【#4】Nguyên Vật Liệu (Materials) Và Cung Ứng Nguyên Vật Liệu (Supply Of Materials) Là Gì?

    Khái niệm

    Nguyên vật liệu trong tiếng Anh được gọi là materials.

    Cung ứng nguyên vật liệu trong tiếng Anh được gọi là supply of materials.

    – Nguyên vật liệu là phạm trù mô tả các loại đối tượng, được con người tác động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm biến đổi nó về mặt tính năng, trạng thái, công dụng để tạo ra các giá trị mới, thường gọi là sản phẩm.

    – Cung ứng nguyên vật liệu là hoạt động đảm bảo đầy đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, ứng với từng thời kì, với số lượng, chất lượng theo yêu cầu.

    Phân loại và đặc điểm nguyên vật liệu

    – Phân loại

    Chung nhất, có thể phân chia nguyên vật liệu ra thành 3 loại:

    + Nguyên liệu

    + Vật liệu

    + Nhiên liệu

    – Đặc điểm

    Mọi loại nguyên vật liệu đều chỉ tham gia một lần vào quá trình sản xuất sản phẩm.

    Khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị toàn bộ của mọi loại nguyên vật liệu không bị mất đi mà kết tinh vào giá trị sản phẩm được tạo ra từ nguyên vật liệu đưa vào sản xuất.

    Các nguyên vật liệu khác nhau tham gia vào quá trình sản xuất ở những thời điểm khác nhau và với số lượng khác nhau.

    Nội dung và vị trí hoạt động cung ứng nguyên vật liệu

    – Nội dung

    Mọi hoạt động cung ứng nguyên vật đều bao gồm 3 nội dung chủ yếu là mua sắm, vận chuyển và bảo quản nguyên vật liệu:

    + Mua sắm: Doanh nghiệp phải mua cái gì? Như thế nào? Ở đâu? Căn cứ để mua?

    + Vận chuyển: Vận chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác

    + Bảo quản: Làm thế nào để đảm bảo nguyên vật liệu về phẩm cấp, chất lượng…

    – Vị trí

    Hoạt động cung ứng là hoạt động không thể thiếu trong bất kì doanh nghiệp nào.

    Là điều kiện, tiền đề để đảm bảo hoạt động sản xuất – kinh doanh có hiệu quả

    Thông qua hoạt động cung ứng sẽ tạo ra áp lực buộc doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ để đáp ứng yêu cầu của hoạt động sản xuất.

    Khi kinh doanh càng phát triển, hoạt động cung ứng diễn ra trên môt diện rộng sẽ xuất hiện một phạm trù mới là hậu cần kinh doanh.

    【#5】Chi Phí Nguyên Vật Liệu Trực Tiếp (Direct Materials Cost) Là Gì?

    Khái niệm

    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong tiếng Anh gọi là Direct Materials Cost.

    Tiêu thức thường được lựa chọn để phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là định mức tiêu hao nguyên vật liệu, số lượng sản phẩm hoàn thành.

    Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

    Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” (TK 621) để phản ánh. Tài khoản này trong hệ thống tài khoản hiện hành có kết cấu như sau:

    Bên Nợ: Ghi trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trong kì.

    Bên Có: Ghi nhận

    + Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho.

    + Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm.

    + Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường.

    Trường hợp doanh nghiệp áp dụng quản lí hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên

    – Khi xuất kho nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất chế tạo sản phẩm, kế toán ghi:

    Nợ TK Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621): Giá xuất kho NVL

    Có TK Nguyên liệu vật liệu (TK 152): Giá xuất kho NVL

    – Trường hợp mua nguyên vật liệu chuyển ngay sử dụng cho sản xuất chế tạo sản phẩm, không qua kho, kế toán ghi:

    Nợ TK Chi phí Nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621): Giá mua không có thuế

    Nợ TK Thuế GTGT được khấu trừ (TK 133): Số thuế GTGT đầu vào Có TK Thanh toán thích hợp (TK 111, 112, 141, 331,..): Tổng giá thanh toán

    Trường hợp không có hóa đơn thuế GTGT, hoặc thuế GTGT không được khấu trừ, hoặc doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, số tiền tính vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là tổng giá thanh toán (bao gồm cả thuế GTGT).

    – Cuối kì, khi thực hiện kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm, kế toán chỉ được kết chuyển số chi phí hợp lí (mức bình thường) để tính vào giá thành của sản phẩm, số chi phí nguyên vật liệu vượt mức bình thường không được tính vào giá thành sản phẩm sản xuất mà phải tính vào giá vốn hàng bán, ghi:

    Nợ TK Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang (TK 154): Số chi phí hợp lí

    Nợ TK Giá vốn hàng bán (TK 632): Phần chi phí vượt mức bình thường

    Có TK Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621): Tổng chi phí NVL trong kì

    Trường hợp doanh nghiệp quản lí hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kì

    Trường hợp này, kế toán vẫn sử dụng tài khoản “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” (TK 621) để tập hợp chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp chế tạo sản phẩm. Nhưng tài khoản “Nguyên vật liệu” (TK 152) chỉ dùng để theo dõi giá trị nguyên vật liệu tồn đầu kì và tồn cuối kì.

    Còn giá trị nguyên vật liệu xuất trong kì được theo dõi trên tài khoản “Mua hàng” (TK 611). Cuối kì, căn cứ vào kết quả kiểm kê hàng tồn kho để xác định chi phí nguyên vật liệu xuất trong kì, kế toán ghi sổ:

    Nợ TK chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (TK 621)

    Có TK Mua hàng (TK 611)

    (Tài liệu tham khảo, Giáo trình Kế toán tài chính, Học viện Ngân hàng, NXB Dân Trí)

    Thanh Hoa

    【#6】Định Nghĩa Basic Materials Sector / Khu Vực Nguyên Vật Liệu Cơ Bản Là Gì?

    Khái niệm thuật ngữ

    Một danh mục hàng hóa của các công ty chuyên về phát hiện, phát triển và xử lý nguyên liệu thô. Khu vực nguyên vật liệu cơ bản bao gồm khai thác và tinh chế kim loại, sản xuất hóa chất và sản phẩm lâm sản.

    Giải thích

    Khu vực nguyên vật liệu cơ bản khá nhạy cảm với những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh. Bởi vì khu vực cung cấp nguyên liệu cho xây dựng, nó phụ thuộc vào một nền kinh tế mạnh. Khu vực này cũng nhạy cảm với các biến động cung cầu vì giá của nguyên liệu thô, chẳng hạn như vàng hay các kim loại khác, bị chi phối mạnh bởi nhu cầu.

    【#7】Định Nghĩa Bill Of Materials – Bom / Hóa Đơn Nguyên Vật Liệu Là Gì?

    Khái niệm thuật ngữ

    Đây là một danh sách đầy đủ các nguyên liệu thô, các thành phần và lắp ráp cần thiết để xây dựng hoặc sản xuất một sản phẩm. Một hóa đơn vật liệu (BOM) thường ở định dạng phân cấp, với cấp cao nhất hiển thị sản phẩm cuối cùng và cấp dưới hiển thị các thành phần và vật liệu riêng lẻ.

    Giải thích

    Hóa đơn vật liệu có nhiều loại khác nhau dành riêng cho ngành kỹ thuật (được sử dụng trong quy trình thiết kế), sản xuất (được sử dụng trong quy trình sản xuất), v.v. Một hóa đơn vật liệu sản xuất có tầm quan trọng sống còn trong quy trình lập kế hoạch yêu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP).

    Một BOM “bùng nổ” hiển thị một tổ hợp hoặc lắp ráp phụ được chia thành các phần và bộ phận riêng lẻ của nó, trong khi BOM “bùng nổ” hiển thị mối liên kết của các bộ phận riêng lẻ với một bộ phận.

    【#8】Định Luật Moore Sắp Đạt Tới Giới Hạn

    Trong phòng nghiên cứu của Micron Technology người ta thấy những miếng silicon được phủ bằng những hình chữ nhật nhỏ có kích thước bằng hạt gạo. Mỗi hình chữ nhật đó được gọi là một tế bào chip nhớ. Mỗi tế bào chứa vòng mạch kín có kích thước 50-nanometers – tương đương với kích thước 1/2.000 sợi tóc.

    Đạt được thành quả này là nhờ các nhà sản xuất chip đã liên tục nghiên cứu giảm kích thước vòng mạch và kích cỡ chip nhớ, giúp cho chúng có thể lưu trữ được nhiều dữ liệu số hơn. Nhưng các nhà sản xuất chip thế giới hiện lại đang lo ngại về một ngày không xa nữa công nghệ sản xuất chip nhớ silicon đạt đến giới hạn quy luật vật lý của nó và không thể tiếp tục tuân thủ đúng theo định luật Moore nữa. Điều này đồng nghĩa với việc chip nhớ không thể thu nhỏ hơn được nữa.

    “Chúng ta cần phải có một kiến trúc mới cho dòng bộ nhớ không biến đổi khi kích thước vòng mạch đạt tới cỡ 25-nanometers,” Mike Splinter – Giám đốc hãng cung cấp công cụ sản xuất chip nhớ hàng đầu thế giới Applied Materials – nhận định. “Giờ đây tôi đã thực sự cảm thấy lo lắng về vấn đề này bởi giới hạn 25-nanometers không còn xa nữa. Tuy nhiên, đó còn lả cả một thách thức nếu chúng ta muốn thay đổi quy trình công nghệ sản xuất chip nhớ”.

    Tình trạng này sẽ khiến quá trình phát triển của các dòng thiết bị như máy nghe nhạc số cầm tay hay camera kỹ thuật số sẽ bị chậm lại trong một vài năm.

    Định luật Moore

    Hiện tiến trình giảm kích thước chip nhớ và chip vi xử lý vẫn tuân thủ theo đúng định luật Moore đã được người sáng lập ra Intel Gordon Moore xác lập năm 1965. Theo đó, Moore khẳng định số lượng transistor có thể gắn lên một bề mặt silicon nhất định sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 2 năm. Về sau này trước sự phát triển của công nghệ sản xuất chip Moore quyết định rút khoảng thời gian đó xuống còn 18 tháng.

    Có vẻ như giới hạn định luật Moore đến với lĩnh vực sản xuất chip nhớ nhanh hơn với lĩnh vực sản xuất chip vi xử lý cho PC. Nguyên nhân là bởi hai dòng chip này khác nhau về phương thức vận hành. Chip vi xử lý sử dụng vòng mạch để làm đường dẫn cho các dòng electron. Trong khi đó, chip nhớ sử dụng các electron có chứa điện tích để lưu trữ dữ liệu. Nếu kích thước vùng chứa electrons đó nhỏ đi thì con chip sẽ rất khó đọc được dữ liệu.

    Đối với vị giám đốc phụ trách marketing sản phẩm Tom Trill của Samsung Electronics thì lo ngại nói trên đã không còn quá xa vời nữa. “Đó là một câu hỏi và chúng ta cũng đã có câu trả lời. Nhưng dường như mọi người đã quá bi quan trong thời gian trở lại đây”.

    Các hãng sản xuất chip đã phải đổ hàng trăm triệu USD để nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ sản xuất mới. Giải pháp thay thế ở đây nghe có vẻ rất viễn tưởng gồm M-RAM, P-RAM, bộ nhớ mô-đun và carbon nanotubes. “Tương lai gần chúng ta cần phải có thêm những công nghệ mới,” Mark Durcan – Giám đốc điều hành Micron Technology – khẳng định.

    Có thể nói hiện nay hầu hết các hãng sản xuất chip đều rót tiền vào nghiên cứu công nghệ mới. Trong đó phải kể đến những tên tuổi hàng đầu như Intel, Hynix Semiconductor, Infineon, Toshiba, Hitachi và Fujitsu. Một trong những công nghệ mới được kỳ vọng nhất là P-RAM hay còn gọi là bộ nhớ thay đổi trạng thái. Vật liệu lưu trữ dữ liệu sẽ thay đổi trạng thái khi lưu dữ liệu thay vì thay đổi lượng điện tích như công nghệ hiện nay. Hình thức lưu trữ này tương tự như kiểu lưu trữ dữ liệu trên đĩa quang CD hiện nay.

    Đèn xanh

    Tháng 12/2006, IBM ra mắt cộng đồng một mẫu thử nghiệm chip nhớ mới có khả năng vận hành nhanh hơn tới 500 lần trong khi đó chỉ tiêu thụ một lượng điện năng bằng nửa chip nhớ flash hiện nay. Đây chính là mẫu thử nghiệm chip nhớ P-RAM. Quan trọng hơn là các nhà nghiên cứu của IBM chứng minh công nghệ chip nhớ trên có thể giúp giảm kích thước vòng mạch xuống 20-nanometer. “Đó chính là tín hiệu đèn xanh đối với ngành công nghiệp chip nhớ toàn cầu. Chúng ta nên tiếp tục đầu tư nghiên cứu thêm về công nghệ này,” ông Spike Narayan – Giám đốc quản lý nghiên cứu khoa học nano của IBM – nhận định.

    Một công nghệ cũng đầy hứa hẹn khác là công nghệ lưu trữ từ tính. Chủng loại bộ nhớ này sử dụng từ tính thay vì các hạt điện tích. Ngoài ra còn có công nghệ khác như công nghệ lưu trữ mô-đun hay công nghệ carbon nanotubes. Thách thức với những công nghệ này là chi phí sản xuất của nó quá đắt.

    Nhưng có lẽ sẽ có một công nghệ mới tìm được chỗ đứng của nó trên thị trường trong tương lai. Công nghệ mới phải đáp ứng một vài yêu cầu quan trọng như có thể lưu trữ lượng dữ liệu lớn, đọc và ghi dữ liệu nhanh và có thể giữ được dữ liệu ngay cả khi nguồn điện bị ngắt.

    Yếu tố quan trong nhất là công nghệ đó có thể được sản xuất trên nền tảng kỹ thuật hiện có hoặc phải đủ hấp dẫn để các hãng đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất hoàn toàn mới.

    “Cứ sau hai năm lại có một người xuất hiện và tuyên bố phát hiện được một công nghệ chip nhớ hoàn toàn mới. Nhưng những công nghệ đó vẫn phải đối mặt với một số giới hạn kỹ thuật,” chuyên gia phân tích In-Stat Jim McGregor cho biết. “Những công nghệ đó đầy hứa hẹn nhưng vấn đề lớn là liệu nó đi vào thực tế thế nào”.

    (theo VNN)

    【#9】Lãnh Đạo (Leadership) Là Gì ?

    Lãnh đạo là một quá trình tương tác mà qua đó một cá nhân ảnh hưởng đến một nhóm nhiều cá nhân khác để đạt mục tiêu chung. Kỹ năng lãnh đạo là kỹ năng mềm và có thể học được.

    Định nghĩa về lãnh đạo là một quá trình có nghĩa là lãnh đạo không phải là phẩm chất cá nhân của một người mà là quá trình tương tương tác giữa người lãnh đạo và các thành viên khác trong đội ngũ. Trong quá trình tương tác người lãnh đạo sẽ ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi những thành viên khác. Đó là một quá trình tương tác hai chiều. Nếu không có ảnh hưởng thì sẽ không có lãnh đạo. Lãnh đạo chỉ xảy ra trong một nhóm gồm những cá nhân có cùng mục tiêu. Trên thực tế có nhiều chương trình đào tạo về lãnh đạo bản thân, khái niệm này không được bao gồm trong định nghĩa này.

    Lãnh đạo thể hiện tầm nhìn về mục tiêu chung. Người lãnh đạo sẽ hướng nguồn năng lượng về các cá nhân, những người sẽ hợp tác với nhau để đạt mục tiêu chung. Việc hướng về mục tiêu chung sẽ tạo ra giới hạn đạo đức cho người lãnh đạo vì nó nhấn mạnh rằng người lãnh đạo tạo ảnh hưởng đến cả nhóm để đạt mục tiêu chung trong khuôn khổ đạo đức cho phép mà không phải theo cách ép buộc, phi đạo đức.

    Theo định nghĩa như trên, thì người đóng vai trò chủ đạo trong quy trình tạo ảnh hưởng gọi là người lãnh đạo, những người bị ảnh hưởng gọi là những người đi theo. Cả người lãnh đạo và người đi theo đều tham gia trực tiếp vào quy trình lãnh đạo. Người lãnh đạo cần người đi theo và người đi theo cần người lãnh đạo. Mặc dù vậy người lãnh đạo vẫn giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ, tạo ra và duy trì sự kết nối, giao tiếp trong đội ngũ.

    Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp chúng ta cũng thường nghe rằng “anh ta sinh ra để làm lãnh đạo”. Quan điểm này thể hiện lãnh đạo ở góc nhìn về phẩm chất cá nhân. Theo cách nhìn nhận này thì những cá nhân có những phẩm chất đặc biệt cho việc lãnh đạo sẽ trở thành nhà lãnh đạo. Những người khác không thể trở thành nhà lãnh đạo bởi vì họ không có những phẩm chất cá nhân đặc biệt đó. Cách nhìn nhận này cũng hợp lý, tuy nhiên vẫn chưa phản ánh hết mọi khía cạnh về lãnh đạo.

    Một số người trở thành nhà lãnh đạo bởi vì họ nắm giữ ví trí chức vụ có quyền hạn cao trong một tổ chức nào đó. Thực ra lãnh đạo thuộc dạng này chưa hẳn trở thành người lãnh đạo thực sự trong nhiều tình huống cụ thể. Vì những thành viên khác trong nhóm họ tuân thủ vì quyền lực áp đặt chứ nhiều khi không thực sự bị ảnh hưởng. Một khi quyền lực bị phế bỏ thì lập tức sự lãnh đạo cũng mất đi. Quá trình lãnh đạo chỉ bền vững khi người lãnh đạo được thừa nhận bởi những người đi theo không phải vì chức vụ hay quyền lực ép buộc mà họ tự nguyện chịu sự ảnh hưởng và thay đổi để đạt mục tiêu chung.

    Khi một cá nhân trở thành người lãnh đạo thì người đó phải có quyền lực ảnh hưởng tới người khác. Quyền lực là năng lực tác động và làm thay đổi suy nghĩ, thái độ và hành vi của các thành viên khác. Thường trong một tổ chức thì có hai loại quyền lực, đó là quyền lực từ chức vụ và quyền lực cá nhân. Như đã đề cập ở trên một cá nhân khi được phân cấp cao hơn trong thang bậc quản lý thì người đó sẽ có quyền lực để ảnh hưởng đến những thành viên khác trong nhóm có thứ bậc thấp hơn. Như vậy có nghĩa là một người đảm nhiệm vị trí quản lý như trưởng nhóm, trưởng phòng, hay giám đốc, thì mặc nhiên người đó cũng là một người lãnh đạo. Đó là quyền lực từ chức vụ. Nhưng một người lãnh đạo thành công thì không thể thiếu quyền lực cá nhân. Quyền lực cá nhân đến từ nhân cách, phẩm chất, và năng lực của người lãnh đạo. Quyền lực cá nhân thể hiện mức độ sẵn sàng chịu ảnh hưởng và thay đổi dưới sự ảnh hưởng của những thành viên khác với người lãnh đạo.

    Nhiều người cố gắng phân biệt rõ giữa quản lý và lãnh đạo, quản lý có vai trò như thế nào còn lãnh đạo có vai trò như thế nào? Giữa lãnh đạo và quản lý có gì khác nhau ? Trên thực tế cuộc sống và công việc thì hai khái niệm này không thể tách rời nhau. Lãnh đạo là một chức năng không thể thiếu của quản lý. Vai trò của người quản lý phải thực hiện bốn chức năng gồm có hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. Bốn chức năng trên được thực hiện để quản lý các nguồn lực gồm: Machines (gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, …), Materials (vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm…), Man (nhân lực) và Methods (thời gian, phương pháp, quy trình, công nghệ, …). Trong bốn nguồn lực trên thì nguồn lực con người là khó quản lý nhất. Để quản lý tốt nguồn lực con người người quản lý cần phải có kỹ năng lãnh đạo (leadership). Như vậy có thể nói lãnh đạo là một kỹ năng mềm và hoàn toàn có thể học được.

    Trong thực tế cuộc sống và công việc, người lãnh đạo hiệu quả cần phải có những kỹ năng sau đây:

    【#10】Chất Lượng Sản Phẩm Là Gì? Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Chất Lượng

    “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn” (ISO 8402) (thực thể trong định nghĩa trên được hiểu là sản phẩm theo nghĩa rộng).

    Định nghĩa về chất lượng sản phẩm có thể khá rộng vì đây là một khái niệm mơ hồ. Nó có thể được coi là giá trị tổng thể hoặc cụ thể của sự hài lòng về các chức năng và đặc điểm của sản phẩm. Chất lượng của một sản phẩm thường là tương đối. Không có biện pháp tiêu chuẩn mặc dù các quy tắc được đưa ra để đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu được tuân thủ bởi các nhà sản xuất.

    Chất lượng sản phẩm có thể được xem xét theo ba quan điểm khác nhau:

    • Khách hàng: Chất lượng sản phẩm cho người mua sẽ đề cập đến sự hấp dẫn, chức năng, độ bền và độ tin cậy của sản phẩm.
    • Nhà sản xuất: Chất lượng sẽ được xem là kỹ thuật, loại nguyên liệu thô được sử dụng và thực hành đóng gói được sử dụng trong sản xuất hàng hóa cụ thể.
    • Sản phẩm: Đây là một thử nghiệm khách quan về độ bền và độ tin cậy của sản phẩm.

    Chất lượng sản phẩm rất quan trọng đối với công ty. Bảo trì các sản phẩm chất lượng cao đảm bảo nhu cầu của người dùng trong khi các sản phẩm chất lượng kém ảnh hưởng đến niềm tin, uy tín và doanh số của công ty.

    2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm là gì?

    2.1. Nhóm các yếu tố bên ngoài

    Nhu cầu của nền kinh tế

    Chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế.

    Thay đổi theo từng loại thị trường, các đối tượng sử dụng, sự biến đổi của thị trường. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nhạy cảm với thị trường để tạo nguồn sinh lực cho quá trình hình thành và phát triển các loại sản phẩm. Điều cần chú ý là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hóa nhu cầu của thị trường để có các chiến lược và sách lược đúng đắn.

    Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thỏa mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

    Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật

    Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất.

    Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Các hướng chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là: Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế.

    Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế

    Chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội như:

    Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, đó là:

    Con người (Men)

    Đây là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nhất. Con người bao gồm lãnh đạo, nhân viên trong doanh nghiệp và người khách hàng. Yếu tố cơ bản con người rất quan trọng vì: mọi quá trình đều do con người thực hiện, các yêu cầu đều do con người đưa ra và phục vụ con người.

    Vì vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm là trách nhiệm và vinh dự của mỗi thành viên trong xã hội. Đối với nhà sản xuất, sản phẩm được sản xuất ra phải phù hợp với nhu cầu xã hội.

    Máy móc, thiết bị (Machines)

    Khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp. Kỹ thuật, công nghệ, thiết bị có tầm quan trọng đặc biệt và có tác dụng quyết định việc hình thành chất lượng sản phẩm. Kỹ thuật, công nghệ, thiết bị có mối tương hỗ khá chặt chẽ góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng.

    Nguyên vật liệu (Materials)

    Vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên vật liệu của doanh nghiệp. Đây là yếu tố cơ bản của đầu vào có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm.

    Muốn có sản phẩm đạt chất lượng, điều trước tiên nguyên liệu để chế tạo sản phẩm phải đạt những yêu cầu về chất lượng (đúng số lượng, đúng chủng loại, đúng mức chất lượng, đúng kỳ hạn) thì doanh nghiệp mới chủ động ổn định quá trình sản xuất và thực hiện đúng kế hoạch sản xuất. Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất.

    3. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm

    Chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm là gì? Các sản phẩm được sản xuất ra và được tiêu dùng đều phải đạt mức yêu cầu nào đó về chất lượng. Mức độ yêu cầu này phụ thuộc vào: Thứ nhất là yêu cầu của khách hàng, sau nữa là các quy định về chất lượng sản phẩm của Nhà nước, tiếp đó là trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật hay trình độ sản xuất và trình độ nhận thức của dân cư.

    Người tiêu dùng luôn có nhu cầu hiện tại và nhu cầu tương lai. Nhu cầu hiện tại và tương lai đều phụ thuộc vào cả khả năng sản xuất của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Theo sự tác động hai chiều mà sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn.

    • Tính năng hoạt động (Performance): Là các đặc điểm vận hành cơ bản của sản phẩm.
    • Đặc tính (Features): Là những đặc điểm khác lôi cuốn người sử dụng.
    • Độ tin cậy (Reliability): Là xác suất một sản phẩm không bị trục trặc trong một khoảng thời gian xác định.
    • Phù hợp (Conformance): Là mức độ chính xác đáp ứng các tiêu chuẩn đã được xác lập của một sản phẩm.
    • Độ bền (Durability): Là tuổi thọ của sản phẩm.
    • Khả năng dịch vụ (Servicebility): Là tốc độ một sản phẩm có thể hoạt động lại bình thường sau khi có trục trặc cũng như sự thành thục và hành vi của nhân viên phục vụ.
    • Chất lượng được cảm nhận (Perceived quality): Là các thước đo gián tiếp như uy tín, cảnh quan nơi làm việc…