【#1】Nêu Các Hệ Cơ Quan Cấu Tạo Nên Cơ Thể Người1.cơ Thể Người Được Cấu Tạo Bởi Những Hệ Cơ Quan Nào?chức Năng Của Các Hệ Cơ Quan Đó? 2.thành Phần Cấu Tạo Và Chức Năng Của Tế Bào? 3.khái Niệm Về Phản Xạ, Cung Phản Xạ? 4.khớp Xương Là Gì?phân Loại Và Nêu Ví Dụ Cho Mỗi Loại Khớp Xương?

1. Cơ thể người được cấu tạo bởi những hệ cơ quan nào? Chức năng của các hệ cơ quan đó? 2.Thành phần cấu tạo và chức năng của tế bào? 3. Khái niệm về phản xạ, cung phản xạ?

– Phản xạ là phản ứng của cơ thể trả lời kích thích môi trường dưới sự điều khiển của hệ thần kinh.

– Cung phản xạ là con đường mà xung thần kinh truyền từ cơ quan thụ cảm (da…) qua trung ương thần kinh đến cơ quan phản ứng (cơ, tuyến,…).

4.Khớp xương là gì? Phân loại và nêu ví dụ cho mỗi loại khớp xương?

– Khớp xương là nơi tiếp giáp giữa các đầu xương.

– Có 3 loại khớp là: khớp bất động, khớp bán đông và khớp động.

– Khớp động: là phần tiếp giáp giữa 2 xương là sụn và bao hoạt dịch (chứa dịch khớp) khớp động có thể cử động dẻ dàng. VD: Các khớp ở tay, chân,…

– Khớp bất động: là phần tiếp giáp giữa 2 xương đã hoá xương. Không cử động được. VD: khớp ở hộp sọ,…

– Khớp bán động: là phần tiếp giáp giữa 2 xương là màng, dây chằng và đĩa dệm. Khớp này có thể cử động ở mức hạn chế. VD: khớp các đốt sống,…

5.Thành phần hóa học của xương, vai trò của mỗi thành phần? – Xương gồm hai thành phần chính là cốt giao và muối khoáng. – Vai trò: + Chất khoáng: Làm cho xương bền chắc. + Cốt giao: Đảm bảo tính mềm dẻo cho xương. 6. Nêu tính chất của cơ, giải thích sự co cơ, ý nghĩa của sự co cơ. – Tính chất:

  • Tính chất cơ bản của cơ là co và giãn.
  • Cơ co khi có sự kích thích từ môi trường ngoài.
  • – Sự co cơ là khi tơ cơ mảnh xuyên sâu vào vùng phân bố của tơ cơ dày làm cho cơ ngắn lại. – Ý nghĩa: Làm cho xương cử động dẫn đến sự vận động của cơ thể.

    7. Các biện pháp vệ sinh hệ vận động.

    Các biện pháp vệ sinh hệ vận động:

    – Lao động vừa sức và thường xuyên luyện tập thể dục thể thao để bảo vệ và tạo điều kiện cho cơ, xương phát triển.

    – Khi mang vác hay học tập cần chú ý chống cong vẹo cột sống.

    8.Thành phần cấu tạo và chức năng của máu.

  • Máu gồm huyết tương (55%) và các tế bào máu (45%). Các tế bào máu gồm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.
  • Huyết tương duy trì máu ở trạng thái lỏng để lưu thông dễ dàng trong mạch ; vận chuyển các chất dinh dưỡng, các chất cần thiết khác và các chất thải.
  • Hồng cầu vận chuyển 02 và C02.
  • 9. Miễn dịch là gì? Các hình thức miễn dịch? Vai trò của bạch cầu trong sự miễn dịch của cơ thể.

    – Miễn dịch là khả năng cơ thể không bị mắc một bệnh nào đó.

    – Các hình thức miễn dịch: miễn dịch tự nhiên (miễn dịch bẩm sinh và miễn dịch tập nhiễm) và miễn dịch nhân tạo.

    – Vai trò: Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu.

    【#3】Sụn Là Gì? Hình Ảnh Mô Sụn, So Sánh Mô Sụn Và Mô Xương

    Sụn ​​là gì?

    Sụn (Cartilage) ​​là một loại mô liên kết được tìm thấy trong cơ thể. Khi phôi đang phát triển, sụn là tiền thân của xương. Một số sụn vẫn còn và được phân tán khắp cơ thể, đặc biệt là để che phủ các khớp. Sụn ​​cũng cấu tạo hầu hết các tai ngoài.

    Sụn ​​là một loại mô độc đáo vì nó không có mạch máu hoặc dây thần kinh. Thay vào đó, các tế bào sụn (nguyên bào sụn) được tìm thấy trong một ma trận ma trận giống như gel cung cấp dinh dưỡng cho các tế bào. Sụn ​​có cấu trúc độc đáo làm cho nó trở thành một mô mạnh mẽ nhưng linh hoạt.

    Các loại sụn

    Ba loại sụn tồn tại trong cơ thể: Hyaline, xơ và sụn đàn hồi. Dưới đây là một lời giải thích của từng.

    Sụn đàn hồi

    Sụn ​​đàn hồi được tìm thấy trong tai và biểu mô (nằm trong cổ họng) cũng như các bộ phận của mũi và khí quản. Sụn ​​này phục vụ để cung cấp sức mạnh và độ đàn hồi cho các cơ quan và cấu trúc cơ thể, chẳng hạn như tai ngoài.

    Sụn xơ hoặc sợi

    Sụn ​​sợi được tìm thấy trong các miếng đệm đặc biệt được gọi là menisci và trong các đĩa đệm giữa xương cột sống của bạn, được gọi là đốt sống. Những miếng đệm này rất quan trọng để giảm ma sát ở khớp, chẳng hạn như đầu gối.

    Các bác sĩ coi nó là mạnh nhất trong ba loại sụn. Nó có các lớp dày sợi collagen mạnh mẽ.

    Sụn Hyaline

    Sụn ​​Hyaline là loại phổ biến nhất trong cơ thể. Loại sụn này được tìm thấy trong thanh quản, mũi, xương sườn và khí quản. Một lớp sụn rất mỏng cũng có mặt trên các bề mặt xương, chẳng hạn như trên khớp, để đệm chúng. Sụn ​​hyaline này được gọi là sụn khớp.

    Thuật ngữ hyaline xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là Hyalos, nghĩa là thủy tinh. Sụn ​​Hyaline xuất hiện hơi trong suốt dưới kính hiển vi. Loại sụn này có nhiều sợi collagen mỏng giúp cung cấp cho nó sức mạnh. Tuy nhiên, sụn hyaline được coi là yếu nhất trong ba loại sụn.

    So sánh mô sụn và mô xương

    Mô xương là một mô liên kết cứng, trong khi sụn là mô liên kết mềm. Xương tạo thành cấu trúc xương của cơ thể, trong khi sụn có trong mũi, tai, xương sườn, thanh quản và các khớp và cũng hoạt động như một chất hấp thụ sốc trong các khớp này.

    Xương bảo vệ chống lại các tác động cơ học và hỗ trợ sự chuyển động của cơ thể, cung cấp hình dạng cho cơ thể. Và vì sụn mềm nên chúng thường được tìm thấy dọc theo đường hô hấp, giữa các khớp và trong các bộ phận linh hoạt khác của cơ thể.

    Hệ thống xương của cơ thể chúng ta được tạo thành từ xương và sụn. Chúng cung cấp hình dạng phù hợp, độ cứng cho cơ thể. Cả hai đều bảo vệ các cơ quan mỏng manh khỏi lực tác động bên trong và bên ngoài. Chúng cũng chịu trách nhiệm cho sự di chuyển và vận động của cơ thể, cùng với sự linh hoạt. Những khác biệt quan trọng giữa mô sụn và mô xương được tóm tắt trong bảng sau đây:

    Sự khác biệt chính giữa xương và sụn

    • Xương là cấu trúc phức tạp, được tạo thành từ các mô liên kết cứng và hữu ích trong việc cung cấp sự bảo vệ, hình dạng cho cơ thể. Còn sụn là cấu trúc đơn giản, được tạo thành từ mô liên kết mềm, nhưng chúng cũng hữu ích trong việc cung cấp sự linh hoạt cho các khớp cùng với việc cung cấp sự an toàn chống lại các cú sốc bên ngoài và bên trong.
    • Xương là cứng, không linh hoạt và dễ gãy, trong khi sụn là linh hoạt và đàn hồi mềm.
    • Xương phát triển theo cả hai hướng (hai chiều) trong khi sụn phát triển theo một hướng (một chiều).
    • Trong hệ thống mô xương, tủy xương (nó là một loại mô tạo máu mà tất cả các tế bào máu được tạo ra) đều có mặt; Hệ thống mô sụn không có thành phần này.
    • Xương là những thành phần tham gia tích cực của việc cung cấp máu; Sụn ​​không tham gia cung cấp máu, ngoại trừ trong màng bụng .
    • Mô xương bao gồm protein gọi là ossein và có thể là cả hữu cơ và vô cơ. Chúng xảy ra trong lamellae và là mạch máu . Xương có muối canxi phần lớn là canxi photphat. Trong sụn, mô là khối đồng nhất không có lamellae. Sụn không có muối canxi.
    • Tế bào xương còn được gọi là Osteocytes trong khi các tế bào sụn còn được gọi là Chondrocytes.
    • Xương cứng do sự lắng đọng của phốt phát và cacbonat canxi trong mô. Sụn thì mềm, ngoại trừ sụn bị vôi hóa và mô của chúng được tạo thành từ protein và đường.
    • Xương chịu trách nhiệm cho sự hình thành của hệ thống xương, mang lại hình dạng cho cơ thể, trong khi sụn được tìm thấy trong tai, mũi, thanh quản và khí quản.
    • Xương có hai loại – Xương nhỏ gọn và Xương xốp, trong khi sụn có ba loại – Sụn sợi, Sụn đàn hồi, Sụn Hyaline.

    Làm thế nào sụn có thể bị hư hỏng?

    Sụn ​​có thể bị tổn thương sau một chấn thương hoặc do thoái hóa, bị bào mòn theo thời gian. Một số điều kiện phổ biến liên quan đến thoái hóa sụn bao gồm:

    Chondromalacia patellae (đau khớp đầu gối)

    Tình trạng này , còn được gọi là đau đầu gối của người chạy, xảy ra khi sụn khớp trên xương bánh chè bị phá vỡ. Các yếu tố như chấn thương, lạm dụng, liên kết kém hoặc yếu cơ đều có thể dẫn đến tình trạng này. Chondromalacia có thể khiến xương cọ xát với xương, rất đau đớn.

    Viêm khớp

    Tình trạng này xảy ra khi sụn kết nối xương sườn với xương ức bị viêm. Trong khi tình trạng thường là tạm thời, nó có thể trở thành mãn tính. Tình trạng gây đau, khó chịu.

    Thoát vị đĩa đệm

    Khi vật liệu giống như gel bên trong đĩa sụn nhô ra khỏi sụn bên ngoài, nó được gọi là thoát vị đĩa đệm hoặc bị trượt . Tình trạng này thường là do những thay đổi thoái hóa xảy ra như là một tác dụng phụ của lão hóa. Những lần khác, một người có thể bị tai nạn nghiêm trọng hoặc chấn thương lưng có thể gây ra thoát vị đĩa đệm. Tình trạng này gây ra đau dữ dội ở lưng và thường xuống chân.

    Thật không may, sự cố sụn có thể là một phần của quá trình thoái hóa tự nhiên của cơ thể. Các bước như duy trì cân nặng khỏe mạnh, luyện tập sự linh hoạt và các bài tập rèn luyện sức mạnh và tránh tập luyện quá sức có thể giúp giảm tốc độ phá vỡ sụn.

    Sụn ​​có thể tự lành lại không?

    Mặc dù sụn rất có lợi cho cơ thể, nhưng nó có một nhược điểm: nó không tự lành cũng như hầu hết các mô khác. Các tế bào sụn thường không tự sao chép hoặc tự sửa chữa, điều đó có nghĩa là sụn bị hư hỏng hoặc bị tổn thương sẽ không thể chữa lành tốt nếu không có sự can thiệp của y tế.

    Trong nhiều năm, các bác sĩ đã tìm thấy một số phương pháp có thể kích thích sự phát triển sụn mới. Những kỹ thuật này thường được sử dụng cho sụn khớp trên khớp. Những ví dụ bao gồm:

    Độ mài mòn khớp

    Thủ tục này liên quan đến việc sử dụng một dụng cụ tốc độ cao đặc biệt gọi là burr để tạo ra các lỗ nhỏ bên dưới sụn bị hư hỏng để kích thích sửa chữa và phát triển sụn.

    Cấy tế bào sụn tự thân

    Kỹ thuật sửa chữa sụn này đòi hỏi hai bước. Đầu tiên, một bác sĩ sẽ lấy một mảnh sụn khỏe mạnh ra khỏi người và gửi mẫu sụn đến phòng thí nghiệm. Trong phòng thí nghiệm, các tế bào được nuôi cấy thành công và được kích thích để phát triển.

    Người này sau đó đi phẫu thuật trong đó sụn bị hư được lấy ra và thay thế bằng sụn mới phát triển. Một bác sĩ phẫu thuật cũng thực hiện các sửa chữa khác. Bởi vì phương pháp này đòi hỏi nhiều thủ tục phẫu thuật, các bác sĩ thường chỉ thực hiện nó trên những người trẻ tuổi có một vết thương duy nhất là 2 cm trở lên.

    Vi sóng

    Kỹ thuật phẫu thuật này bao gồm loại bỏ sụn bị hư hỏng và sau đó tạo ra các lỗ nhỏ ngay bên dưới sụn trong một khu vực xương được gọi là xương dưới màng cứng. Điều này tạo ra một nguồn cung cấp máu mới sẽ lý tưởng kích thích chữa bệnh.

    Khoan

    Phương pháp khoan tương tự như vi lọc. Nó liên quan đến việc tạo ra các lỗ nhỏ ở vùng dưới màng cứng như một biện pháp kích thích chữa lành và phát triển sụn mới bằng cách tăng cung cấp máu.

    Ghép xương tự thân

    Phương pháp này liên quan đến việc lấy một mảnh sụn khỏe mạnh từ một khu vực không có trọng lượng của cơ thể và áp dụng nó vào một khu vực bị hư hỏng. Loại này thường chỉ được sử dụng trên một khu vực nhỏ thiệt hại vì bác sĩ phẫu thuật có thể lấy quá nhiều mô khỏe mạnh.

    Ghép xương ghép (allograft)

    Không giống như các mô ghép khác, một ghép xương ghép đến từ một người khác (không phải chính người đó). Các allograft thường có thể điều trị các khu vực chấn thương lớn hơn.

    Mặc dù các bác sĩ có thể thực hiện các thủ tục này để thúc đẩy quá trình lành thương, sụn có thể phát triển với tốc độ chậm. Các bác sĩ có thể sẽ đề nghị vật lý trị liệu và các kỹ thuật khác trong thời gian này để thúc đẩy khả năng vận động.

    Triển vọng

    Các nhà nghiên cứu đang khám phá những cách mới để chữa lành và điều trị sụn bị hư hỏng bên cạnh việc tăng cung cấp máu và thực hiện ghép sụn. Các ví dụ bao gồm cố gắng sử dụng tế bào gốc để phát triển thành sụn khỏe mạnh và cố gắng tạo ra một microgel giống như ma trận nuôi dưỡng sụn.

    Tuy nhiên, những phương pháp này vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và sẽ mất thời gian và thử nghiệm trước khi các kỹ thuật mới xuất hiện.

    【#8】Đặc Điểm Giải Phẫu Bệnh Của Đa U Tủy Trên Mô Tủy Xương Sinh Thiết

    ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH CỦA ĐA U TỦY TRÊN MÔ TỦY XƯƠNG SINH THIẾT

    1. Đại cương:

    – Đa u tủy (Multiple myeloma, Kahler) là một bệnh tăng sinh có tính chất ác tính của tương bào (plasmocyte) ở tủy xương và các cơ quan khác, có tỷ lệ khoảng 1% trong các bệnh ác tính và chiếm 13% trong các bệnh lý ác tính về huyết học.

    – Theo tiêu chuẩn chẩn đoán đa u tủy của IMWG 2009, bệnh đa u tủy được xác định khi: Tương bào đơn dòng trong tuỷ xương ≥ 10% hoặc sinh thiết chứng minh có u tương bào, và có tổn thương cơ quan có thể là do rối loạn tăng sinh tương bào như:

    + Thiếu máu: Bính sắc, hồng cầu bình thường với hemoglobin < 2 g/dl dưới mức giới hạn bình thường hoặc hemoglobin < 10 g/dl.

    + Tổn thương xương: Loãng xương, tiêu xương nặng hoặc gãy xương bệnh lý

    – Như vậy việc chẩn đoán giải phẫu bệnh để xác định tỷ lệ cũng như đặc điểm hình thái của tương bào rất quan trọng, góp phần chẩn đoán xác định bệnh cũng như xác định tỷ lệ tương bào sau điều trị. Tuy nhiên, việc chẩn đoán tỷ lệ cũng như hình thái tương bào trong tủy xương đôi khi rất khó xác định do đặc điểm giải phẫu bệnh của đa u tủy rất đa dạng. Chính vì vậy, chúng ta cần phải kết hợp giữa lam H&E cũng như hóa mô miễn dịch ( CD38; CD138; CD19; CD56; Lamda; kappa) để xác định hình thái tổn thương, tỷ lệ và hình thái tương bào, cũng như phân biệt giữa tương bào ác tính hay tương bào hoạt hóa, đơn dòng hay đa dòng.

    2. Định nghĩa:

    Đa u tủy (Multiple myeloma, Kahler) là một bệnh tăng sinh có tính chất ác tính của tương bào ( plasmocyte) ở tủy xương và các cơ quan khác. Tăng sinh tương bào miễn dịch đơn dòng trong máu tạo thành nhiều ổ tiêu xương dẫn đến gãy xương bệnh lý, rối loạn chức năng nhiều cơ quan như suy thận, thiếu máu, tăng canxi máu, các triệu chứng thành kinh. .

    – Biểu hiện ở xương: Đau nhức xương (vùng cột sống, chậu hông, lồng ngực) chiếm 66% trường hợp, Gãy xương bệnh lý (gãy xương đòn, xương sườn, xương ức) chiếm 50% trường hợp, U xương: chiếm 10% trường hợp,

    – Biểu hiện ngoài xương: Triệu chứng toàn thân, thận , thiếu máu (60% trường hợp), xuất huyết. t hần kinh.

    5. Đặc điểm cận lâm sàng gợi ý giúp chẩn đoán giải phẫu bệnh.

    – Tiêu xương hình hốc, hang, một đoạn hay một phần xương dài

    – Loãng xương lan tỏa

    – Thân các đốt sống biến dạng

    – Điện di protein huyết thanh và nước tiểu: tăng gama glubuline đơn dòng (97%)

    – Điện di miễn dịch cố định nhằm xác định các loại kháng thể miễn dịch do tương bào bệnh lý gây ra như: IgG (52%), IgA (20%), IgG (2%, chuổi nhẹ (16%), IgM (<1%), IgE rất hiếm, một số trường hợp không tiết (3%).

    6.1. Huyết đồ

    – Khi đánh giá tỷ lệ tương bào trên lam máu ngoại vi , người ta đếm trên 200 tế bào có nhân.

    – Thiếu máu: số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu có thể giảm

    – Có thể có tương bào ở máu ngoại vi, có hồng cầu chuổi tiền (hình 02)

    – Độ nhớt máu tăng.

    – Đặc điểm của tủy xương có nhiều thay đổi. Số lượng tương bào tăng, khoảng 30 – 60% tế bào tủy.

    – Các tương bào ác tính có hình thái giống tương bào bình thường, nhân lệch một bên, nhiễm sắc chất kết cụm, bộ Golgi điển hình như tương bào bình thường hoặc loạn sinh. Bất thường chung là có sự không đồng bộ giữa nhân và nguyên sinh chất. Bất thường hình thái tế bào như tế bào chất kết cụm, tế bào kích thước lớn, tỉ lệ nhân /nguyên sinh chất cao, đa nhân, nhân chia thùy, thực bào các tế bào u tủy, nhiều phân bào. Đôi khi có những tương bào loạn sinh khổng lồ. ( hình 3 và 4)

    – Sinh thiết tủy xương được chỉ định trong chẩn đoán đa u tủy và đánh giá tồn lưu sau điều trị.

    – Trên mô tủy sinh thiết, hình ảnh tương bào có kích thước nhỏ – trung bình, bào tương rộng, nhân lệch một bên, khoảng sáng quang nhân thường không rõ như trên tủy hút và có thể nhầm lẫn tương bào với hồng cầu nhân, tủy bào (myelocyte) trong một số trường hợp.Trên lam H&E với hình thái tương bào ta khó phân biệt tương bào bình thường với tương bào ác tính như trên tủy hút.

    – Một số nhà giải phẫu bệnh học đánh giá các tương bào tụ thành đám quanh mạch máu là tương bào phản ứng, nhưng một số khác lại cho rằng đó là tế bào ác tính. (Hình 07)

    6.3.1. Hình thái tổn thương trên mô tủy xương sinh thiết của bệnh đa u tủy xương:

    Bệnh đa u tủy xương có thể tồn tại một hoặc nhiều hình thái tổn thương trên cùng một lam sinh thiết như hình thái lan tỏa (Diffuse pattern); hình thái mô kẽ (Interstitial pattern); hình thái nốt (Nodal pattern); hình thái cụm nhỏ (Small cluster pattern); hình thái hỗn hợp (Mixed pattern).

    Hình thái tổn thương lan tỏa và hình thái mô kẽ là 02 hình thái cho kết quả khá tương đương nhất về tỷ lệ % tương bào trên lam tủy hút và lam tủy xương sinh thiết.

    + Hình thái hỗn hợp (Mixed pattern): có thể là lan tỏa – mô kẽ; nốt – mô kẽ; lan tỏa – nốt, tập hợp tương bào tạo nên hình thái của dạng này (lan tỏa,…) ở vị trí này, vừa có đặc điểm của dạng kia ( mô kẽ,…) ở vị trí khác trên cùng một mẫu tủy sinh thiết (hình 13).

    Hình thái nốt, cụm nhỏ và đặc điểm hình thái hỗn hợp cho tỷ lệ tương bào trên mô tủy xương sinh thiết khác biệt với trên tủy hút vì có thể ở tủy hút khi hút tủy có thể không đúng phần mô kẽ mà không đúng phần lan tỏa.

    – Một panel hóa mô miễn dịch dùng để chẩn đoán đa u tủy: Một panel hóa mô miễn dịch dùng để chẩn đoán đa u tủy về xét nghiệm giải phẫu bệnh được đề nghị như sau:

    + CD của tương bào và tế bào lympho B:

    + CD20: CD79a: CD79a dương tính trong hầu hết các trường hợp. CD20 ngược lại, phần lớn CD20 âm tính trong bệnh đa u tủy xương, tỷ lệ CD20 dương tính rất thấp. Vài công trình nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ CD20 dương tính thay đổi từ 17% đến 32%. Tuy nhiên hạn chế của các nghiên cứu trên là số lượng cỡ mẫu còn nhỏ. Khi CD20 dương tính, tiên lượng bệnh rất xấu.

    7. Kết luận:

    Tỷ lệ % trường hợp CD20 dương tính trong bệnh đa u tủy xương.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Cyclin D1: Cyclin D1 dương tính trong u tương bào thường là u tương bào lympho (Lymphoplasmocytic lymphoma) CD20 (+), có tiên lượng tốt.

    – Theo tác giả Irfan Yavasoglu, panel để chẩn đoán bệnh đa u tủy xương tối thiểu bao gồm 08 CD sau: CD38; CD138; CD19; CD56; CD20; CD117; Lamda; Kappa. [6]

    – Chẩn đoán giải phẫu bệnh trong bệnh đa u tủy rất quan trọng, tiêu chuẩn chính trong chẩn đoán bệnh đa u tủy.

    – Chẩn đoán giải phẫu bệnh của đa u tủy trên mô tủy sinh thiết rất khó và phức tạp vì tổn thương rất đa dạng, đòi hỏi phải có đầy đủ lam máu, lam lăn, lam sinh thiết tốt, có đủ maker hóa mô miễn dịch để chẩn đoán xác định hình thái tổn thương và hình thái tương bào, tỷ lệ tương bào trong tủy xương cũng như xác định tương bào ác tính hay hoạt hóa.

    1. I.O.M Khair, (2015) – Haematological Features and serum protein pattern on Electrophoresis of multiple myeloma in sudanese patients – Pyrex journal of clinical pathology and forensic medicine vol 1 ( 2) pp. 009-016 november, 2021.

    2. Dita Gratzinger et al (2010) – Plasma Cell Myeloma- Stanford University School of Medicine – Initial posting and updates: 9/1/07, 2/23/08, 4/14/10 .

    3. G. Grigoriadis, et al (2012) Is CD20 positive plasma cell myeloma a unique clinicopathological entity? A study of 40 cases and review of the literature Pathology, 44 (6) (2012), pp. 552-556

    4. Huỳnh văn mẫn (2015) – Bệnh đa u tủy xương ( kahler) – bài giảng huyết học lâm sàng – nhà xuất bản y học – 2021.

    5. Ilene B Bayer-Garner et al ( 2001) – Syndecan-1 (CD138) Immunoreactivity in Bone Marrow Biopsies of Multiple Myeloma: Shed Syndecan-1 Accumulates in Fibrotic Regions – Mod Pathol 2001;14(10):1052-1058

    6. Irfan Yavasoglu (2015)- Immunohistochemical evaluation of CD20 expssion in patients with multiple myeloma- Rev Bras Hematol Hemoter. 2021 Jan-Feb;37(1):34-7. doi: 10.1016/j.bjhh.2014.11.013. Epub 2014 Nov 26.

    7. J. Quinn,(2010) CD20-positive multiple myeloma- differential expssion of cyclins D1 and D2 suggests a heterogeneous disease- Br J Haematol, 149 (1) (2010), pp. 156-159

    8. N. Robillard, et al (2003) CD20 is associated with a small mature plasma cell morphology and t(11;14) in multiple myeloma- Blood, 102 (3) (2003), pp. 1070-1071

    9. N.T. Ngo, et al (2009). The significance of tumour cell immunophenotype in myeloma and its impact on clinical outcome- J Clin Pathol, 62 (11) (2009), pp. 1009-1015

    LÊ THANH TÚ

    10. Omnia Abd – Alfattah (2013) – Lack of CD45 and CD56 expssion implies bad prognosis in multiple myeloma patients – Life Science Journal 2013; 10 (4).

    11. p kaur (2014)- multiple myeloma: a clinical and pathological profile – G J O. Issue 16.2014.

    12. Shaji Kumar, M.D (2010) – Immunophenotyping in multiple myeloma and related plasma cell disorders- Best Pract Res Clin Haematol. 2010 Sep; 23(3): 433-451.

    13. Terpstra WE (1992) – Comparison of plasma cell infiltration in bone marrow biopsies and aspirates in patients with multiple myeloma – Br J Haematol. 1992 Sep; 82(1):46-9.

    LÊ THANH TÚ

    【#9】Đa U Tủy Xương (Bệnh Kahler)

    Tên khác: bệnh Kahler, u tương bào đa ổ của xương, bệnh u tủy xương tương bào, đa u tương bào ở xương.

    Bệnh có những đặc điểm sau: sinh sản ác tính dòng tương bào ngay ở trong tủy xương, với biểu hiện lâm sàng là có nhiều ổ khu trú trong tủy xương, gây ra đau và gãy xương bệnh lý.

    Tỷ lệ mắc bệnh

    5 trường hợp mới mắc hàng năm trong số 10.000 dân.

    Không biết. Sự tổng hợp bình thường những immunoglobulin bị cản trở, khi những tương bào bất thường (bệnh lý, ác tính) tổng hợp quá mức một typ (lớp) thuần nhất immunoglobulin (đơn clôn, hoặc đơn dòng), thường là typ IgG (55% số trường hợp), IgA (20% số trường hợp), hiếm gặp các typ IgD và IgE. Sự tổng hợp những chuỗi nặng và chuỗi nhẹ của những immunoglobin này * không còn cân bằng nữa. Những chuỗi nhẹ (kappa, lambda) được tổng hợp quá mức và được bài tiết ra nước tiểu tạo thành chứng protein niệu Bence-Jones.

    Triệu chứng

    Bệnh thường xuất hiện sau tuổi 40 và nam giới mắc bệnh nhiều gấp hai lần so với nữ giới.

    ĐAU XƯƠNG: đau thường xuyên, thường khu trú ở xương sườn, xương ức, cột sống, xương đòn, xương sọ, và các xương chi.

    GÃY XƯƠNG BỆNH LÝ: do tiêu xương gây ra, đặc biệt là lún hoặc gãy vỡ đốt sống, đôi khi gây chèn ép tủy sống hoặc gãy xương sườn.

    NHIỄM KHUẨN MẮC ĐI MAC LẠI

    TỔN THƯƠNG THẬN: do các chuỗi nhẹ của immunoglobulin kết tủa ở pH 5. Diễn biến tới suy thận (xem: viêm tiểu cầu thận do đa u tủy xương).

    U TƯƠNG BÀO: Hình thành các khối u cấu tạo bởi tương bào.

    NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÁC: có thể thấy các khối u ngoài tủy xương, nhất là ở da, vùng miệng- họng, hoặc khối u chèn ép vào các

    dây thần kinh ngoại vi (bệnh thần kinh ngoại vi). Lách và gan không to. Đôi khi, có hội chứng Raynaud.

    BIẾN CHỨNG: thiếu máu tan máu, suy tủy xương với giảm bạch cầu hạt trung tính, giảm tiểu cầu và hội chứng chảy máu. Thoái hoá dạng tinh bột. Tăng độ nhớt của máu có thể gây ra suy nhược, nhức đầu, rối loạn thị giác, bệnh võng mạc, và bệnh não.

    Xét nghiệm cận lâm sàng

    • Huyết đồ: thiếu máu hồng cầu bình thường, đẳng sắc vừa phải, hồng cầu hình “trục lăn” (làm cho đếm hồng cầu trở nên khó khăn).
    • Protein huyết tương: tăng protein huyết. Điện di cho thấy trong huyết tương có immunoglobulin đơn clôn (đơn dòng) IgG, IgA và hiếm khi là IgD hoặc IgE. Hàm lượng IgG cao hơn 30 g/1 và hàm lượng IgA vượt trên 20 g/1. Miễn dịch điện di cho phép xác định những loại chuỗi nhẹ khác nhau.
    • Nước tiểu:protein niệu Bence- Jones thấy trong một nửa số trường hợp bệnh đa u tủy xương (và macroglobulin huyết Waldenstrom). Thực chất đây là những trùng phân của những chuỗi nhẹ kappa, những chất này được bài tiết ra nước tiểu quá 1 g/24 giờ. Những protein này nhạy cảm với nhiệt: chúng kết tủa ở 60°c và lại hoà tan ở 90°c.
    • Tủy đồ: tăng tương bào trong tủy xương tối hơn 30% (đặc hiệu) hoặc ở giữa 10% và 30%. Các tương bào bình thường về hình thái.
    • Sinh thiết tủy xương: xét nghiệm mô học cho thấy thâm nhiễm tương bào ở các giai đoạn biệt hoá khác nhau, với thể hiện bất đồng bộ nhân-bào tương (nhân và bào tương của tế bào không ở cùng giai đoạn biệt hoá như nhau). Bệnh tác động đến tủy xương từng phần.
    • Tăng độ nhớt của máu: do tăng protein huyết.
    • Tăng calci huyết, tăng acid uric huyết và hay thấy những dấu hiệu hoá sinh của suy thận.

    Những xét nghiệm bổ sung: xét nghiệm X quang bộ xương có thể thấy loãng xương tràn lan hoặc những vùng tiêu xương điển hình, những lỗ hổng mất mảnh xương ở sọ, ở xương chậu, và ở những xương dài, hoặc thấy loãng xương lan rộng.

    • Bệnh nhân yếu ớt, gầy, thiếu máu, nhiễm khuẩn mắc đi mắc lại.
    • Đau ở xương thường xuyên, đau tăng khi vận động.
    • Tốc độ máu lắng tăng, tăng globulin huyết.
    • Tăng tương bào trong tủy xương và có immunoglobulin đơn clôn.

    Chẩn đoán căn cứ vào

    Chẩn đoán phân biệt: với các bệnh: bệnh gammaglobulin đơn clôn lành tính, di căn ung thư vào tủy xương, bệnh macroglobulin-huyết Waldens­trom, bệnh xương Paget, u lympho nốt (cục) ác tính với khu trú xương, tăng tương bào do phản ứng (trong bệnh nhiễm khuẩn, trong bệnh dị ứng, bệnh lupus ban đỏ). Trong những bệnh này không thấy xuất hiện đồng thời tăng tương bào ở tủy xương với immunoglobulin đơn clôn, là đặc tính riêng của bệnh đa u tủy xương.

    Bảng 3.23. Đa u tủy xương

    Thiếu máu

    Suy tủy xương, loãng máu, thời gian sống của hồng cầu giảm, suy thận.

    Tiêu xương

    Tăng tiêu xương huỷ cốt bào

    Bệnh thận

    Kết tủa chuỗi nhẹ ở pH 5

    Nhiễm khuẩn

    Suy giảm tổng hợp những ¡mmunoglobulin bình thương.

    Giảm chức năng kháng khuẩn của những bạch cầu hạt và bạch cầu đơn nhân, nhiễm khuẩn càng năng thêm do giảm bạch cầu hạt trung tính từ hậu quả suy tủy xương.

    Tăng độ nhởt của máu

    do tăng protein huyết

    Những tiêu chuẩn chính để chẩn đoán

    SINH THIẾT: Quan sát mô học cho thấy một khối u tương bào ngoài tủy xương TỦY Đổ: Tăng tương bào trong tủy xương cao hơn 30%

    MÁU: điện di huyết thanh có đỉnh đơn clôn trong vùng alpha 2, bêta, hoặc gamma.

    Những tiêu chuẩn phụ dế chẩn đoán:

    TỦY Đổ: tăng tương bào trong tủy xương ở giữa 10% và 30%

    MÁU: giảm immunoglobulin huyết thanh

    Những dấu hiệu không dặc hiệu: thiếu máu, tăng calci huyết, tăng nitơ huyết, giảm albumin huyết, xương mất muối khoáng, và gãy xương tự phát.

    Giai đoạn I CÓ TẤT CẢ CÁC TIÊU CHUẨN DƯỚI ĐÂY:

    • Calci huyết bình thường.
    • Không có bất kỳ tổn thương tiêu xương nào hoăc chỉ có một tổn thương đơn độc
    • Immunoglobulin đơn clôn huyết thanh: IgG < 5 g% và IgA < 3 g%.
    • Nước tiểu: protein Bence-Jones dưới 4 g/24 giờ.

    (Khối lượng u – Hemoglobin cao hơn 10 g % thấp)

    Giai đoạn II KHÔNG CÓ NHỮNG TIÊU CHUẨN CỦA GIAI ĐOẠN I VÀ CỦA GIAI ĐOẠN III

    Giai đoạn III CÓ MỘT HOẶC NHIỂU NHỮNG TIÊU CHUẨN DƯỚI ĐÂY:

    • Calci-huyết cao hơn 12 mg%.
    • Có các tổn thương tiêu xương rải rác.
    • Nước tiểu: protein Bence-Jones cao hơn 12 g/24 giờ.

    (khối lượng u cao) – Hemoglobin thấp hơn 8,5 g%.

    • Các biện pháp toàn thân: đảm bảo cơ thể đủ nước để tránh protein kết tủa ở ống thận. Động viên bệnh nhân hoạt động vừa phải để cân bằng âm về calci không bị nặng thêm (tránh để bệnh nhân nằm kéo dài).
    • Liệu pháp hoá chất: không có liệu pháp đa hoá chất nào tỏ ra hơn so với điều trị bằng một chất akyl-hoá đơn thuần (melphalan, cyclophosphamid), tuỳ tình hình có thể kết hợp thêm với liệu pháp corticoid cách quãng. Trong trường hợp kháng thuốc, đôi khi người ta phối hợp với vincristin và doxorubicin (adriamycin). Liệu pháp hoá chất có cải thiện chất lượng của thời gian sống thêm nhưng không kéo dài thời gian này thêm được nhiều.
    • Liệu pháp bức xạ: có ích để làm giảm đau ở xương cho bệnh nhân, và có ích đối với những thể khu trú nhưng không phẫu thuật được.
    • Phẫu thuật: cắt mảnh đốt sống trong trường hợp chèn ép tủy sống. Đôi khi cắt bỏ khối u tương bào nếu có thể.
    • Thay huyết tương: có thể có ích trong trường hợp tăng độ nhớt của máu.
    • Ghép tự thân tế bào nguồn tạo huyết: có thể được xem xét ở những đối tượng dưới 60 tuổi, sau đó cho interferon alfa.

    Thời gian sống thêm trung bình của những bệnh nhân được điều trị là 3 đến 4 năm. Tiên lượng tốt hơn đối với những thể khu trú mà biện pháp điều trị triệt để có thể áp dụng được.

    Bài viết chưa có từ khóa.

    【#10】Chăm Sóc Người Bệnh Gãy Xương

    Chăm sóc người bệnh gãy xương

    BỆNH HỌC

    GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG HỆ XƯƠNG

    Giải phẫu

    Bộ xương người có 206 xương, bao gồm các xương trục: xương sọ, xương mặt, cột sống, xương sườn, xương ức; và các xương phụ: xương chi trên, xương chi dưới.

    Chức năng của xương là nâng đỡ, bảo vệ, vận động, tạo máu và trao đổi chất.

    Sự tăng trưởng của hệ xương bao gồm:

    Sự cốt hoá

    Là quá trình biến đổi mô liên kết thường thành mô liên kết rắn đặc ngấm đầy muối calci và mô xương.

    Có hai hình thức cốt hóa:

    Cốt hoá trực tiếp (cốt hoá màng): chất căn bản của mô liên kết ngấm calci và biến thành xương. Các xương được hình thành bằng cách này gọi là xương màng.

    Cốt hoá sụn: chất căn bản của mô liên kết ngấm cartilagen thành sụn, sau đó sụn này biến thành xương.

    Sự tăng trưởng

    Tăng trưởng theo chiều dài: nhờ sụn đầu xương nối giữa đầu và thân xương. Khoảng 25 tuổi thì ngừng tăng trưởng. Tăng trưởng theo chiều dày là do sự phát triển của cốt mạc.

    Sự tái tạo xương

    Khi xương gãy, giữa nơi gãy sẽ hình thành tổ chức liên kết; tổ chức này sẽ ngấm calci, biến thành xương và làm lành xương.

    ĐỊNH NGHĨA

    Gãy xương là sự mất liên tục của xương, là sự phá hủy đột ngột các cấu trúc bên trong của xương do nguyên nhân cơ học dẫn đến gián đoạn truyền lực qua xương.

    NGUYÊN NHÂN

    Là sự mất liên tục của xương do chấn thương té ngã, do bệnh lý về xương. Lực gãy xương phụ thuộc vào độ cứng của xương, cường độ lực tác động, tuổi thường gặp ở gãy xương là trẻ em hay người già.

    Gãy xương chấn thương

    Là gãy xương do lực bên ngoài tác động lên xương lành mạnh. Lực gây chấn thương tạo ra gãy xương trực tiếp và gãy xương gián tiếp.

    Gãy xương bệnh lý

    Là gãy xương nếu xương có bệnh từ trước như bệnh lý u xương, loãng xương, viêm xương… chỉ cần chấn thương nhẹ cũng có thể gãy xương. Gọi là gãy xương bệnh lý do xương không đủ chất dinh dưỡng.

    Gãy xương do mỏi

    Là trạng thái của xương lành mạnh nhưng không bị gãy do chấn thương gây ra nhưng do giảm sức chịu đựng, do stress liên tục nên dù có những chấn thương nhẹ nhưng được nhắc đi nhắc lại lâu dần gây gãy xương.

    DỊCH TỄ

    Gãy xương xảy ra ở mọi giới nam và nữ, mọi nhóm tuổi nhưng thường gặp nhất ở người trẻ từ 15 – 20 tuổi và người già trên 60 tuổi nhất là ở phụ nữ. Gãy xương do stress đối với vận động viên thường xảy ra ở giới nữ do giảm mức độ estrogen, do kinh nguyệt không đều, do stress thường xuyên nên rất có nguy cơ loãng xương.

    PHÂN LOẠI

    Gãy xương kín

    Gãy xương kín độ 0: gãy xương không tổn thương mô mềm, thường là gãy xương gián tiếp không di lệch hoặc di lệch ít.

    Gãy xương kín độ 1: có xây xát da nông. Gãy xương mức độ đơn giản hay trung bình.

    Gãy xương kín độ 2: gãy xương do chấn thương trực tiếp mức độ trung bình hay nặng. Gãy xương có xây xát da sâu và tổn thương cơ khu trú do chấn thương. Nếu có chèn ép khoang cũng xếp vào giai đoạn này.

    Gãy xương kín độ 3: gãy xương do chấn thương trực tiếp mức độ trung bình hay nặng. Gãy xương có chạm thương da rộng, giập nát cơ, có hội chứng chèn ép khoang thực sự hay đứt mạch máu chính.

    Gãy xương hở

    Gãy xương hở độ 1: da bị thủng do đoạn xương gãy chọc thủng từ trong ra. Xương gãy đơn giản ít bị nhiễm trùng.

    Gãy xương hở độ 2: rách da, chạm thương da khu trú do chính chấn thương trực tiếp gây ra, nguy cơ nhiễm trùng mức độ trung bình.

    Gãy xương hở độ 3: rách da, tổn thương phần mềm rộng lớn, kèm theo tổn thương thần kinh, mạch máu.

    Gãy xương có kèm theo tổn thương động mạch chính có nguy cơ nhiễm trùng lớn.

    Gãy xương hở độ 4: đứt lìa chi hay gần lìa chi. Tình trạng nạn nhân rất trầm trọng do mất máu.

    ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH VÀ TUỔI TÁC ĐẾN LOẠI GÃY XƯƠNG

    Ở trẻ em, bộ xương đang tăng trưởng, màng xương dày nên gặp các loại gãy cành tươi, gãy xương cong tạo hình.

    Ở người già có loãng xương nên có một số xương xốp, yếu dễ bị gãy lún đốt sống, gãy cổ xương đùi. Ở

    giới nữ từ sau tuổi mãn kinh thì gãy xương do loãng xương xuất hiện sớm hơn.

    TÁC ĐỘNG CỦA GÃY XƯƠNG Ở TOÀN THÂN VÀ TẠI CHỖ

    Choáng chấn thương sau gãy xương

    Hai yếu tố gây choáng trong gãy xương là mất máu và đau. Để tiên lượng nạn nhân có nguy cơ choáng sẽ dựa vào mức độ trầm trọng của xương gãy như gãy xương lớn, gãy nhiều xương, tổn thương nhiều mô mềm, đa chấn thương và các dấu hiệu trước choáng như mạch nhanh, chỉ số choáng là mạch trên huyết áp tâm thu lớn hơn 1 (bình thường là 0,5), dấu hiệu móng tay hồng trở lại muộn trên 2 giây sau khi bấm.

    Mạch

    Huyết áp tâm thu

    Chảy máu

    Dẫn đến tình trạng choáng do mất máu nhất là gãy xương đùi, xương chậu. Chảy máu gây ra máu tụ dẫn

    đến chèn ép khoang. Gãy xương có đứt mạch máu kèm theo giập tủy cũng gây nguy cơ tắc mạch máu do mỡ.

    Đau đớn

    Đau đớn cũng làm người bệnh rơi vào tình trạng choáng. Để giảm đau sau gãy xương điều cần thiết phải làm là bất động tốt xương gãy và tránh xử trí thô bạo khi thăm khám xương gãy. Thực hiện công tác tư tưởng để nạn nhân an tâm.

    Tắc mạch máu do mỡ

    Gãy xương có giập nát tủy có nguy cơ cao về khả năng mỡ trong tủy xương tràn vào trong mạch máu gây tắc mạch do mỡ là nguyên nhân gây tử vong.

    Chèn ép khoang cấp tính

    Nếu máu tụ vùng xương gãy lớn sẽ gây cản trở máu gây hội chứng chèn ép khoang.

    Rối loạn dinh dưỡng

    Chảy máu sau gãy xương gây ra khối máu tụ trung bình cũng góp phần gây hội chứng rối loạn dinh dưỡng.

    Co rút các cơ tại vùng gãy

    Các cơ xung quanh vùng xương gãy tổn thương, phù nề làm cản trở máu lưu thông dẫn đến thiếu máu ở cơ, cơ bị co rút. Mặt khác, xương gãy có di lệch làm xương ngắn đi và cơ co lại, sau đó tự ngắn đi. Bất kỳ kích thích nào như đau xương chưa bất động cũng làm cơ co lại.

    Chèn ép thần kinh ngoại biên

    Tổn thương trực tiếp thần kinh bị rách hay đứt. Nếu do chèn ép cục bộ cũng gây rối loạn về thần kinh.

    Nhiễm trùng

    Bất kỳ gãy xương nào có tổn thương da, gãy xương hở đều có nguy cơ nhiễm trùng rất cao.

    ĐIỀU TRỊ

    Mục đích

    Mục đích là làm liền xương gãy theo đúng hình dạng ban đầu và phục hồi tốt chức năng vận động cho người bệnh.

    Nguyên tắc

    Nắn các di lệch, bất động tốt và liên tục đủ thời gian, tập vận động chủ động sớm.

    Phương pháp

    Điều trị bảo tồn kinh điển: bó bột.

    Bảo tồn cải tiến: sự bất động có tính tương đối (ví dụ: đặt nẹp, mang đai vải…).

    Cố định ngoài: dùng khung cố định bên ngoài để cố định xương gãy.

    Phẫu thuật: mổ kết hợp xương, đóng đinh nội tủy, bắt nẹp, cắt lọc trong gãy xương hở.

    Kéo tạ: chỉ là giai đoạn đầu áp dụng cho một số gãy xương không vững trước khi bó bột hay khi mổ kết hợp xương.

    SINH LÝ VÀ BỆNH HỌC GÃY XƯƠNG

    Gãy xương do lực tác động trực tiếp tới xương do chấn thương, co rút rất mạnh của cơ bất thình lình làm bẻ cong xương tới một điểm gãy và tiếp tục truyền lực vào xương, hay nguyên nhân sinh bệnh học do giảm chất khoáng hoá ở xương. Sự mất khoáng chất xương xảy ra ở người bệnh nằm lâu, giảm sức chịu nặng của xương, quá trình lão hoá thì nguy cơ gãy xương càng cao với những stress nhỏ hay chấn thương. Có rất nhiều loại gãy xương, có vài loại gãy xương phổ biến. Gãy xương kín thì xương gãy nhưng không có vết thương bên ngoài hay có vết thương nhưng không thông thương với vùng xương gãy. Gãy xương kín ít đe dọa đến tính mạng nhưng nếu gãy xương không ổn định thì rất nguy hiểm đến sự sống ở cơ quan, mạch máu, như chảy máu bên trong, choáng. Gãy xương hở tổn thương trầm trọng đến mô cơ, mất máu nhiều, nhiễm trùng cao, đe dọa tính mạng người bệnh nặng nề.

    BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

    Các dấu hiệu lâm sàng chính được phân thành hai nhóm chính:

    Các dấu hiệu chắc chắn gãy xương: biến dạng, cử động bất thường, tiếng lạo xạo của xương gãy. Sau một chấn thương nếu thấy một hoặc nhiều trong các dấu hiệu kể trên thì chắc chắn có gãy xương.

    Các dấu hiệu không chắc chắn của gãy xương: đau, sưng, bầm tím, mất cơ năng. Các trường hợp gãy xương đều có các dấu hiệu trên nhưng trong bong gân, trật khớp… cũng có nên khó khẳng định là có gãy xương hay không.

    CÁC DẤU HIỆU GÃY XƯƠNG BẰNG HÌNH ẢNH

    X quang thông thường: chụp tối thiểu 2 bình diện (mặt và bên), chụp lấy đủ 2 khớp của 1 thân xương dài và ở các tư thế khác.

    CT scan đối với các gãy xương phức tạp.

    Phim X quang cho phép xác định những chi tiết gãy xương như sau: vị trí gãy, đường gãy, các di lệch, các đặc điểm hình ảnh mô mềm (mức độ phù nề).

    TIẾN TRIỂN CỦA GÃY XƯƠNG

    Sự phục hồi lưu thông máu ở vùng gãy xương

    Những điều cần làm:

    Yêu cầu đám đông tách ra.

    Xem xét nạn nhân theo thứ tự cấp cứu: nghẹt thở, chảy máu mạch máu lớn, gãy xương, vết thương.

    Chống choáng:

    Nhận định đường thở, kiểu thở, tuần hoàn, dấu hiệu chảy máu.

    Băng ép nơi chảy máu bằng băng vô khuẩn.

    Trấn an, cho nạn nhân uống nước ấm, ủ ấm, nghỉ ngơi.

    Không di chuyển nạn nhân khi chưa giảm đau và chưa bất động chi gãy.

    Bất động xương gãy:

    Bất động chi gãy trên và dưới 2 khớp.

    Kiểm tra mạch trước và sau khi nẹp chi.

    Không cố gắng kéo thẳng chi gãy hay nơi trật khớp.

    Không sờ nắn vào nơi xương nhô ra.

    Dội rửa sạch xương hở bằng nước vô khuẩn, băng kín giữ ẩm và sạch.

    Nâng đỡ chi cao lên.

    Đặt túi nước đá nơi vùng tổn thương.

    Bảng 34.1. Cấp cứu nạn nhân gãy xương chi

    Ở xương lành các hệ thống mạch máu trong ống tủy xương đảm bảo nuôi dưỡng 2/3 thân xương cứng, chỉ 1/3 thân xương cứng được hệ thống các mạch máu dưới màng từ các mạch máu mô mềm xung quanh cung cấp. Gãy xương làm đứt đoạn hệ thống mạch máu dẫn đến tình trạng thiếu máu, thiếu oxy vùng xương gãy làm cản trở quá trình liền xương.

    Yếu tố bất động đối với liền xương

    Xương gãy gây đau và co mạch vì thế gây ra tình trạng thiếu máu nuôi tại vùng gãy làm ảnh hưởng đến quá trình liền xương. Bất động để giảm đau, bất động giúp 2 mặt xương gãy áp sát vào nhau, tạo điều kiện để xương tái tạo kết nối các đoạn gãy.

    QUY TRÌNH CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH GÃY XƯƠNG

    NHẬN ĐỊNH TÌNH TRẠNG NGƯỜI BỆNH

    Sau khi bất động tốt người bệnh, điều dưỡng cần thẩm định lại dấu hiệu đau, sưng, da mất màu, chi không thẳng trục.

    Tìm dấu hiệu chảy máu, kiểm tra dấu hiệu chèn ép thần kinh, tắc mạch như sờ mạch gần và xa vùng chi gãy, da chi ấm, giảm cảm giác.

    Nhận định dấu chứng sinh tồn: phát hiện dấu hiệu choáng do mất máu như mạch nhanh, nhỏ, yếu, huyết áp giảm, gia tăng nhịp thở.

    Nhận định dấu hiệu chèn ép: hỏi nạn nhân về dấu hiệu tê, kiến bò ở chi. Sau khi nạn nhân đã được điều trị, điều dưỡng vẫn tiếp tục nhận định lại dấu hiệu chèn ép thần kinh, tìm kiếm dấu hiệu thiếu tưới máu do bất động bởi bó bột, kéo tạ hay do sự phù nề của chấn thương.

    Nhận định lại tâm lý người bệnh như mức độ lo âu, xác định mức độ hiểu biết về sự gãy xương, sự lành xương, thời gian điều trị.

    Nhận định lại mức độ thích nghi của người bệnh với gãy xương và sự tự chăm sóc chính người bệnh.

    Nhận định về dinh dưỡng người bệnh: đau ăn không ngon, do bất động… Phát hiện sớm tình trạng choáng do đau, mất máu.

    CHẨN ĐOÁN VÀ CAN THIỆP ĐIỀU DƯỠNG

    Nhận định chung quanh vùng xương gãy, mô mềm như dấu hiệu bầm, sưng nề, vết thương rách da, mô giập nát, tình trạng vết thương…

    Giữ nhẹ nhàng mô tổn thương bằng sự cố định vững khớp trên và dưới vùng gãy, tránh tổn thương thêm và đau gia tăng. Luôn luôn nhớ rằng trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được nắn sửa xương khi chưa giảm đau hay gây tê cho nạn nhân.

    Đắp đá lạnh để giảm phù nề làm ngưng chảy máu cho nạn nhân. Sau gãy xương do chảy máu sẽ gây máu tụ, chèn ép kèm theo tổn thương cơ nên chi phù nề nhiều. Điều dưỡng nâng đỡ chi cao lên bằng cách kê gối giúp máu tĩnh mạch hồi lưu, giảm sưng. Nên đặt gối chêm lót dọc theo chiều dài chi, tránh đặt gối ngay các khớp vì dễ gây chèn ép chi.

    Kiểm tra dấu hiệu chèn ép thần kinh, mạch máu mỗi giờ nhất là vùng gãy xương lớn. Nhận định dấu hiệu tổn thương mô mềm như chảy máu, phù nề, tình trạng vùng da chung quanh vết thương.

    Giúp người bệnh duy trì được tư thế chức năng tối đa mà không gây đau đớn cho người bệnh, chêm lót tốt những vùng cố định, thường xuyên thăm hỏi người bệnh. Trợ giúp người bệnh thay đổi tư thế 2 giờ/1 lần. Nhận định toàn bộ về bó bột, kéo tạ, vết thương trong 1 – 2 giờ đầu và sau đó là 4 giờ/1 lần, ghi chú mức độ vận động, đo vòng chi để so sánh sự phù nề chi. Hướng dẫn người bệnh tập vận động cơ liên tục, các cơ tứ đầu đùi, cơ tam đầu, mông, tập 4 giờ/1 lần.

    Cho người bệnh nghỉ ngơi, giúp người bệnh giảm căng thẳng, giúp phục hồi cơ thể sau chấn thương, giải thích cho người bệnh ích lợi của sự nghỉ ngơi.

    Nhận định mức độ, tính chất, thời gian của cơn đau. Các chèn ép cấp tính thường biểu hiện bằng dấu hiệu điển hình của rối loạn cảm giác và vận động. Ví dụ như đau ở ống trụ, khi ấn vào rãnh trụ đau nhói và lan truyền theo đường đi xuống cẳng tay của thần kinh trụ.

    Giúp người bệnh thực hiện tư thế giảm đau mà không ảnh hưởng đến tổn thương. Thay đổi tư thế 2 giờ/1 lần giúp cơ không bị mệt. Thực hiện thuốc giảm đau theo y lệnh.

    Áp lực trong khoang bình thường là 0 – 5mmHg, khi gồng cơ chủ động áp lực tăng lên 50mmHg nhưng sau khi hết gồng cơ thì áp lực tụt xuống trị số bình thường sau 5 phút. Chèn ép khoang là sự tăng áp lực trong một hay nhiều khoang làm giảm lưu thông máu qua khoang dẫn đến thiếu máu cục bộ. Nếu chèn ép kéo dài gây tổn thương cơ và rối loạn thần kinh. Điều dưỡng cần nhận định dấu hiệu đe dọa của chèn ép khoang là đau dữ dội ngày càng tăng, đau kéo dài khi sờ lên mặt da cứng và căng bóng. Đau là dấu hiệu được phát hiện sớm nhất của chèn ép khoang. Đây là dấu hiệu sớm giúp điều dưỡng can thiệp ngay để tránh dẫn đến chèn ép khoang. Những dấu hiệu chèn ép rõ rệt là đau có kèm các biểu hiện thần kinh như cảm giác tê bì như kiến bò, giảm cảm giác, rối loạn vận động (cơ yếu đi). Điều dưỡng cần theo dõi thường xuyên và phát hiện sớm dấu hiệu chèn ép khoang vì thời gian chèn ép khoang 6 giờ được coi là trị số ngưỡng. Nếu dưới 6 sẽ giờ có hy vọng điều trị bảo tồn, nhưng trên 6 giờ thì có chỉ định phẫu thuật. Mốc thời gian cụ thể như sau:

    6 giờ: giới hạn điều trị bảo tồn.

    6 – 15 giờ phẫu thuật có thể giữ được chi.

    trên 15 giờ đoạn chi để cứu sống nạn nhân.

    Biến dạng cơ thể hay sự mất tạm thời chức năng độc lập của cơ thể

    Nhận định sự nhận thức và mức độ độc lập của từng người bệnh. Giúp người bệnh có khoảng riêng tư, giúp người bệnh tự vệ sinh cá nhân, tự chăm sóc mình ở mức độ cho phép. Giúp người bệnh tự nâng người lên thay tã, xoay trở, vệ sinh… Giúp người bệnh ăn uống tốt tránh sụt cân, duy trì sức khỏe, tránh ảnh hưởng đến hình dạng cơ thể. Tự tập những cơ không tổn thương, hướng dẫn hay hỗ trợ tập những cơ tổn thương. Khuyến khích những thành viên trong gia đình duy trì quan hệ tốt, tôn trọng người bệnh. Nhờ thế người bệnh cảm thấy họ không phải là người tàn phế, giúp người bệnh tự tin và cố gắng tập luyện.

    Giảm tưới máu mô do chấn thương

    Nhận định tình trạng mô tổn thương: mức độ tổn thương, dấu hiệu chảy máu, mô hạt trên vết thương, mô hoại tử, mạch chi.

    Kiểm tra màu sắc, nhiệt độ, mạch ngoại biên, phù, đau, chức năng vận động, đổ đầy máu ngoại biên, so sánh vùng tổn thương với chung quanh. Chăm sóc vết thương với phương pháp vô trùng, nâng cao chi phù nề giúp máu hồi lưu tốt, vận động thụ động, gồng cơ giúp máu luân lưu và cung cấp máu tốt. Theo dõi tình trạng phù nề vì phù nề cũng là nguy cơ trong giảm tưới máu cho mô. Giảm tưới máu cho mô cũng gây chậm lành vết thương.

    Tổn thương da do bất động, do bó bột, kéo tạ

    Nhận định bề mặt của da với các dấu hiệu chèn ép như: đỏ, đau, tình trạng vết thương. Xoay trở 2 giờ/1 lần, massage lưng, mông tránh bị chèn ép, loét, gồng cơ chi gãy giúp máu lưu thông tốt. Cho người bệnh phơi nắng giúp da chuyển hoá vitamin D trong quá trình lành xương. Theo dõi dấu hiệu tắc mạch do bất động. Về dinh dưỡng cho người bệnh ăn đầy đủ chất và uống nhiều nước. Hướng dẫn cho người bệnh tập vận động chi lành và qua chi lành người bệnh tập cho chi đau.

    Nguy cơ nhiễm trùng do vết thương, do gãy xương hở, do xuyên đinh, do dẫn lưu, do môi trường bệnh viện

    Nhận định dấu hiệu nhiễm trùng: sưng, nóng, đỏ, đau. Dấu hiệu toàn thân là sốt. Để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn điều dưỡng luôn áp dụng kỹ thuật vô khuẩn khi chăm sóc vết thương, che chở vùng xương lộ ra, cắt lọc mô cơ hoại tử, chăm sóc dẫn lưu. Thực hiện kháng sinh theo kháng sinh đồ, theo dõi nhiệt độ, đánh giá mức độ đau nhức. Ngoài ra, cần hướng dẫn người bệnh cách vệ sinh thân thể sạch sẽ, cách bảo vệ môi trường xung quanh an toàn sạch sẽ.

    Chăm sóc gãy xương trẻ em

    Trẻ em xương lành nhanh và cơ chế tự điều chỉnh biến dạng tốt hơn người lớn cho nên thường được chỉ định điều trị bảo tồn. Nếu người bệnh kéo tạ, điều dưỡng chăm sóc trẻ kéo tạ qua da, thường trọng lượng tạ không quá 3 kg. Điều dưỡng theo dõi sự liền xương mỗi ngày như đo chi, theo dõi phim X quang.

    Chăm sóc da sạch sẽ, luôn theo dõi sát tình trạng da của trẻ. Xử trí ngay khi thấy trẻ có tổn thương trên da. Nếu trẻ được bó bột, điều dưỡng chăm sóc trẻ bó bột, phát hiện sớm chèn ép, rối loạn tuần hoàn, giúp trẻ thoải mái, dễ chịu. Hướng dẫn người nhà của trẻ cách chăm sóc bột. Cung cấp cho trẻ đồ chơi, tạo không khí vui chơi để giúp trẻ bớt khó chịu, bứt rứt, cho bé tự chăm sóc theo mức độ cho phép. Cần hướng dẫn trẻ cẩn thận với những động tác nào cần tự làm và những động tác nào không nên làm. Tạo cho trẻ sự tự tin và không lo sợ.

    Vật lý trị liệu: không xoa bóp dù là nhẹ nhàng nhất ở vùng khớp vì dễ gây cứng khớp vĩnh viễn. Đơ khớp sau bó bột chỉ là tạm thời, không cần can thiệp.

    GIÁO DỤC NGƯỜI BỆNH

    Khuyên không cho người bệnh mang nặng trên chi tổn thương. Tránh động tác gắng sức, tránh cố gắng đi trên chi bị thương. Người bệnh phải biết tự đánh giá cơn đau và cách giảm đau. Hướng dẫn người bệnh lấy lại sức cơ bằng dinh dưỡng và luyện tập. Hỗ trợ người bệnh xoay trở và hướng dẫn người bệnh cách xoay trở, vận động, khuyến khích người bệnh phơi nắng, hướng dẫn cách đi nạng. Sau gãy xương tình trạng dinh dưỡng vùng da cũng giảm do bất động sau kéo tạ, sau bó bột, do máu nuôi kém. Cần hướng dẫn người bệnh cách chăm sóc da, vệ sinh da, xoa bóp da thoa chất làm mềm da. Vệ sinh cá nhân, phòng ngừa loét da… Táikhám đúng hẹn. Hướng dẫn người bệnh các dấu hiệu viêm xương như chảy dịch quanh vết thương, sốt, đau không giảm.

    LƯỢNG GIÁ

    Tình trạng chi gãy liền tốt. Người bệnh đi lại được không thấy dấu hiệu di lệch. Người bệnh không bị viêm xương.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Caroll Miller. Musculoskeletal. Knowledge base for Patient with Dysfunction, in Medical Surgical Nursing Foundations for Clinical Practice, 2nd Edition,WB Saunders company, 1998, 837 – 945.

    Susan Ruda, Musculoskeletal Problem, Nursing Role in Management Musculoskeletal Proplems, in Medical Surgical Nursing, fourth Edition, Lewis Collier Heitkemper/ MOSBY, 1992, 1839 – 1892.

    Musculoskeletal system, chapter 4, Mosby’s Manual of Clinical Nursing, second Edition, the C, V, Mosby Company, 1986, 375 – 474.

    Nguyễn Quang Long, Đại cương về gãy xương, Bài giảng bệnh học ngoại khoa, tập 5, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Bộ môn ngoại tổng quát, 1988, 46.

    Chăm sóc ngoại khoa (tài liệu thí điểm giảng dạy Điều dưỡng Trung học) 03 – SIDA Hà Nội, 1994, 110 – 112.

    Nguyễn Quang Long, Đại cương về gãy xương, Bài giảng bệnh học chấn thương chỉnh hình và Phục hồi chức năng, lưu hành nội bộ, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 9.

    Chỉnh hình và chấn thương học, tổ chức Y tế Thế giới, đề án đào tạo 03 – SIDA, Hà Nội, 1993.

    Nguyễn Văn Quang, Nguyên tắc chấn thương chỉnh hình, Hội Y Dược học thành phố Hồ Chí Minh, 1987, 104.