【#1】Ô Tô Suv Là Gì? Những Đặc Điểm Nổi Bật Của Xe Suv

Ô tô SUV là gì? Và dòng xe này có những đặc điểm nổi bật nào cũng như ưu điểm và nhược điểm của chúng ra sao? Tất cả sẽ có trong bài viết sau đây.

Chắc hẳn bạn đã từng nghe đến dòng xe ô tô SUV, nhưng vẫn không biết tại sao nó lại được gọi với cái tên như vậy. Thì bài viết sau đây, chúng tôi sẽ cho bạn biết ô tô SUV là gì? Cũng như đặc điểm của dòng xe này như thế nào và những ưu điểm, nhược điểm của dòng xe này ra sao? Mọi thông tin sẽ được cập nhập chính xác và chi tiết nhất!

Xe ô tô SUV là gì?

Xe ô tô SUV là gì? Thì SUV còn được viết tắt là Sport Utility Vehicle, có nghĩa là một dòng xe đa dụng có thiết kế thể thao. Dòng xe này thường có ngoại thất hết sức mạnh mẽ, vuông vắn, phần khung có kết cấu giống như một chiếc xe bán tải. Xe cũng được trang bị động cơ cực kỳ mạnh mẽ, và gầm của xe cũng rất cao để có thể chinh phục nhiều địa hình khác nhau. Nội thất trong xe cũng cực kỳ rộng rãi có thể chứa được từ 5 đến 8 người.

Đặc điểm nhận biết của dòng xe ô tô SUV là gì?

  • Ngoại thất được thiết kế mạnh mẽ, thể thao, vuông vắn.
  • Nội thất thì rộng rãi, thoải mái và có thể chứa được nhiều người và cả hành lý.
  • Khung gầm của xe được thiết kế cao tương tự các loại xe bán tải.
  • Động cơ được trang bị cho xe SUV tương đối mạnh mẽ cộng với đó loại xe này thường dùng hệ thống dẫn động 4 bánh (2 cầu) để tối ưu khả năng vận hành hơn.
  • Nhiên liệu tiêu thụ của dòng xe SUV có thể là xăng, dầu hoặc điện tùy từng loại xe.
  • Trên xe cũng thường được trang bị 2 khoang đó là khoang hành khách và khoang lái, khoang hành khách được thông với khoang hành lý.

Những ưu điểm và nhược điểm của dòng xe ô tô SUV là gì?

Những ưu điểm và nhược điểm của dòng xe ô tô SUV là gì? Một vài ưu nhược điểm được kể đến của dòng xe này bao gồm:

Ưu điểm của dòng xe SUV

Dòng xe SUV có rất nhiều ưu điểm nổi bậc và rất đáng để sở hữu, cụ thể như:

– Gầm xe cao: Đây là một đặc điểm nổi bật mà dòng xe SUV mang lại cho người dùng. Nó giúp người dùng có thể thoải mái quan sát khi di chuyển hay là khi đỗ xe. Giúp mang lại an toàn cho người lái và chiếc xe rất cao. Thêm nữa, khi di chuyển lên hoặc xuống xe thì người sử dụng sẽ công phải cúi người xuống.

– Khoang nội thất lớn: Dòng xe SUV thường cực kỳ phù hợp đối với gia đình có nhiều thành viên. Bởi khoang nội thất của xe cực kỳ lớn và rộng rãi, giúp chứa được nhiều người và nhiều đồ đạc.

– Có thể chinh phục nhiều địa hình khác nhau: Đa số xe SUV đều được trang bị động cơ hết sức mạnh mẽ, cộng với đó là hệ thống dẫn động 4 bánh và gầm xe cũng cao. Thế nên dòng xe này có thể di chuyển trên nhiều địa hình khác nhau một cách khá dễ dàng. Vì vậy, đây là một dòng xe khá phù hợp cho những người thường xuyên phải di chuyển trên những loại địa hình khác nhau, đặc biệt là những loại địa hình khó khăn.

– Phương tiện đi lại cực kỳ an toàn: Nếu như bạn đang muốn tìm một chiếc xe mang lại sự an toàn cho mình khi di chuyển, thì dòng xe SUV là một sự lựa chọn cực kỳ hợp lý. Bởi dòng xe này có kích thước cực kỳ lớn so với các dòng xe ô tô khác, thêm vào đó khả năng chịu va chạm cũng cực kỳ tốt.

Nhược điểm của dòng xe SUV

Bên cạnh những ưu điểm vượt trội, thì dòng xe SUV cũng có những khuyết điểm mà bạn cần phải lưu ý. Những nhược điểm của dòng xe SUV là:

– Ngoại hình cồng kềnh: Đây là nhược điểm chính của dòng ô tô SUV. Với nhược điểm này, thì xe khó di chuyển trong những con đường nhỏ, cũng như rất khó để luồn lách xe khi đang di chuyển.

– Điểm mù phía sau xe lớn: Những chiếc xe thuộc dòng SUV thường sẽ có điểm mù khá rộng phía sau xe, bởi ngoại hình đồ sộ của mình. Điều này sẽ ít nhiều gây khó khăn cho người lái trong việc di chuyển, nhất là lùi xe. Để khắc phục tính trạng này, thì người dùng có thể lắp đặt camera lùi cho xe.

– Dễ lật xe nếu di chuyển ở tốc độ cao: Nếu như bạn là một người có tay lái non, và điều khiển một chiếc SUV trên địa hình xấu với tốc độ cao. Thì có khả năng xe sẽ bị lật. Bởi với ngoại hình cồng kềnh, thì việc xử lý những chiếc xe của dòng SUV thường khó khăn hơn so với những chiếc xe thuộc dòng khác.

【#2】Xe Ô Tô Suv Là Gì? Mua Xe Suv Cũ Nên Hay Không Nên?

Xe ô tô SUV là gì?

Xe ô tô SUV là tên được viết tắt từ Sport Utility Vehicle. Loại xe hơi được người Việt ưa chuộng và gọi với cái tên quen thuộc là xe Súp. Đây là tên gọi chung của dòng xe thể thao đa dụng có mặt trên thị trường xe hơi kể từ năm 1953. Ô tô Suv sở hữu những đặc điểm cơ bản sau đây:

  • Khung xe chất lượng cao, gầm xe cao tương tự như dòng xe tải hoặc bán tải.
  • Ngoại thất xe SUV thiết kế đơn giản, dáng thể thao khỏe khoắn.
  • Nội thất rộng rãi với số ghế từ 5 đến 7 vận chuyển được nhiều người và hành lý.
  • Động cơ xe Suv khỏe khoắn thường sở hữu dẫn động 4 bánh.

Xe ô tô SUV là gì

Một số loại xe SUV được giới yêu xe vô cùng hâm mộ phải kể đến: Toyota Fortuner, Toyota Land Cruiser, Mitsubishi Pajero , Ford Everest, Ford Explorer…

Ưu nhược điểm của xe ô tô SUV

Ưu, nhược điểm của xe ô tô Suv là gì luôn được các tín đồ mê xe tìm hiểu cặn kẽ. Nếu bạn đang tìm một chiếc xế hộp thể thao năng động thì chắc chắn sẽ bị chinh phục bởi dòng xe SUV . Một vài ưu nhược điểm được điểm qua gồm:

Ngoại thất chắc chắn, dáng thể thao mạnh mẽ

Ngoại thất xe SUV gây ấn tượng lớn với giới yêu xe bởi ngoại hình thể thao ấn tượng. Khung xe chắc chắn với khung gầm cao giúp giảm tối đa rung lắc. Đặc biệt khoang lái góc nhìn rộng giúp lái xe tránh được những tình huống va chạm không đáng có.

Khả năng Off-Road cực đỉnh

Dòng xe SUV có khả năng vận hành tốt ở địa hình bằng phẳng mà tại các cung đường hiểm trở, gồ ghề cũng không gây khó khăn. Đây là điều mà không phải bất cứ loại xe sang nào cũng có thể đáp ứng. Khả năng Off Road cực đỉnh của các dòng xe Suv là nhờ thiết kế khung gầm cao và chắc chắn tương tự xe tải hoặc bán tải.

Xe Suv có khả năng vận hành cực đỉnh

Di chuyển tốt ngay cả ở điều kiện ngập nước

Cũng nhờ thiết kế gầm cao nên dòng xe Suv di chuyển tốt trong điều kiện ngập nước. Điều này không có nghĩa là tài xế được phép chủ quan khi đi qua những chỗ ngập lụt. Lái xe rất cần có kỹ năng tốt để di chuyển ở điều kiện khó khăn này.

Động cơ vượt trội của dòng xe SUV

Động cơ xe SUV mạnh mẽ với hệ thống dẫn động 4 bánh. Bên cạnh đó, xe cũng được trang bị các bánh xe đường kính lớn giúp gia tăng vận tốc nhanh chóng và bền bỉ nhất.

Xe ô tô Suv bền bỉ ở mọi cung đường

Siêu tiết kiệm nhiên liệu

Dòng xe SUV ngày càng được khách hàng săn đón nhiệt tình. Đó là lý do các hãng sản xuất luôn dành tâm huyết nghiên cứu, tích hợp công nghệ hiện đại cho cực phẩm của mình. Các dòng xe hiện nay có khả năng tiết kiệm nhiên liệu vô cùng lý tưởng.

Nhược điểm xe ô tô Suv là gì? Sở hữu nhiều ưu điểm là thế, nhưng xe Suv vẫn còn tồn tại một số điểm trừ do ngoại hình.

  • Kiểu dáng khá cồng kềnh, không thích hợp với sự dịu dàng, nữ tính của chủ nhân là phái nữ.
  • Đòi hỏi người lái xe phải vững tay lái.
  • Điểm mù của xe ở phía sau tương đối rộng. Tuy nhiên chủ nhân có thể lắp camera hành trình phía sau để quan sát tốt nhất.

Mua xe ô tô SUV cũ – nên hay không nên?

Các dòng xe SUV mới toanh có giá cao ngất ngưởng từ 1 đến 4 tỷ đồng. Bởi thế mà nhiều gia chủ dù rất yêu thích nhưng tài chính không cho phép để rinh xe SUV mới về nhà. Tuy nhiên, các tín đồ mê xe Suv vẫn có thể thỏa ước mơ với một phiên bản xe cũ chất lượng cao.

Mua ô tô SUV cũ tại Siêu thị ô tô Online

Mua xe ô tô Suv cũ là lựa chọn lý tưởng cho khách hàng có tài chính khiêm tốn. Tuy nhiên, bạn phải chọn được đơn vị cung cấp xe cũ uy tín. Một địa chỉ mà bạn có thể tham khảo là Siêu thị ô tô Online mang tới cho khách hàng đa dạng dòng xe cũ chất lượng cao, chế độ mua hàng tốt nhất thị trường.

Thông tin liên hệ

Website: https://sieuthiotoonline.com.vn/

【#3】Xe Suv Là Gì? Nên Chọn Mua Dòng Xe Suv Nào Tốt Nhất?

Một trong những ưu điểm mạnh của dòng SUV là gầm cao khiến tầm quan sát xung quanh của người lái thoáng, rộng hơn. Góp phần giúp người điều khiển xe an toàn hơn, dễ dàng quan sát chướng ngại vật, mảnh vỡ trên đường hoặc chỗ trống trong bãi đỗ xe.

Khả năng off-road vượt trội

Thiết kế với khung gầm cao, cùng hệ thống dẫn động 4 bánh khỏe khoắn giúp cho chiếc SUV này thực sự trở thành những chiếc xe chuyên gia off-road. Nếu bạn chưa biết off-road là gì thì đây là những cung đường gồ ghề và khó đi, nói chung là không phải đường phẳng.

SUV là dòng xe có khoang nội thất và chứa đồ lớn, hãy tưởng tượng bạn muốn đi du lịch cùng gia đình của mình. Một chiếc sedan không thể nào chở quá 5 người và cốp đựng đồ thì quá nhỏ không thể chở quá 2 chiếc vali. Còn một chiếc SUV thì lại khác, xe có thể chở tới 7 người, khoang hành lý rộng rãi giúp cho bạn có thể mang theo được nhiều đồ đạc.

Bạn sẽ dễ dàng tìm kiếm một chiếc crossover với động cơ I-4, nhưng lại không có đối với một chiếc SUV cỡ lớn. Thay vào đó, nó được trang bị động cơ V6 hoặc V8. Điều này khiến công suất động cơ của những chiếc SUV full-size mạnh mẽ hơn so với crossover cỡ lớn.

Thiết kế gầm xe cao, thân xe nặng là một nhược điểm của dòng xe SUV khi chạy xe ở tốc độ cao, vào cua gấp hay trên địa hình không bằng phẳng. Bởi trọng tâm lớn đồng nghĩa với việc xe dễ bị lật hơn so với các dòng xe sedan hay crossover có gầm thấp hơn.

Trước đây, mức tiêu tốn nhiên liệu lớn của các mẫu xe SUV là một trong những điều mà người dùng băn khoăn khi mua xe. Tuy nhiên những năm gần đây, các nhà sản xuất ô tô đã nghiên cứu nhiều công nghệ tiên tiến để hạn chế tối đa mức tiêu hao nhiên liệu của xe SUV.

Phân biệt xe SUV với các dòng xe khác

Các hãng xe hiện đại đã dùng marketing nhiều hơn trong việc bán hàng và khiến số đông người dùng nhầm lẫn một chiếc xe gầm cao có phải SUV hay không. Từ nhiều năm nay, dòng xe gầm cao khung vỏ liền khối với thuật ngữ Crossover ra đời, một chiếc xe lai giữa Sedan và SUV, có kiểu dáng hầm hố và khoảng sáng gầm lớn, dù vậy, nó chỉ trang bị những tính năng Off-Road cơ bản, dẫn động với chế độ 4 bánh toàn thời gian.

Ngày nay, những chiếc Mini SUV rất hiếm gặp, bởi vì các hãng xe đã tập trung hơn cho các dòng Mini Crossover.

Top mẫu xe SUV đáng mua nhất

Toyota Fortuner hiện có 4 phiên bản lắp ráp trong nước là Fortuner 2.4G 4×2 MT giá 1,033 tỷ đồng, Fortuner 2.4G 4×2 AT giá 1,096 tỷ đồng, phiên bản Fortuner 2.7V 4×2 AT TRD giá 1,199 tỷ đồng và Fortuner 2.8V 4×4 AT giá 1,354 tỷ đồng. 2 phiên bản máy xăng nhập khẩu là Fortuner 2.7V 4×2 AT giá 1,150 tỷ đồng và Fortuner 2.7V 4×4 AT giá 1,236 tỷ đồng.

CR-V thế hệ mới ghi điểm bởi hàng ghế thứ 3 rộng rãi hơn, đủ chỗ cho 2 người lớn. Xe sử dụng động cơ tăng áp VTEC Turbo, công suất tối đa 188 mã lực tại 5.600 vòng/phút, mức tiêu hao nhiên liệu trung bình chỉ khoảng 6,9l/100 km, hiệu quả hơn động cơ 2.4L trước đây.

Hyundai Santa Fe

Santa Fe được TC Group lắp ráp 4 phiên bản với 2 tùy chọn động cơ: động cơ xăng Theta II 2.4 GDI công suất 188 mã lực, mô men xoắn cực đại 241 Nm, hộp số tự động 6 cấp và động cơ diesel R 2.2 e-VGT công suất 202 mã lực, mô men xoắn cực đại 441 Nm, hộp số tự động 8 cấp.

Ford Everest

Ford Everest có 4 phiên bản dùng động cơ diesel 2.0 turbo gồm Everest 4×2 Ambiente 6MT giá 999 triệu đồng, Everest 4×2 Ambiente 10AT giá 1,052 tỷ đồng, Everest 4×2 Trend 10AT giá 1,112 tỷ đồng, Everest 4×2 Titanium 10AT giá 1,177 tỷ đồng và phiên bản cao cấp nhất Everest 4×4 Titanium 10AT động cơ Bi-Turbo giá 1,399 tỷ đồng.

Mazda CX-8 gồm 3 phiên bản sử dụng động cơ xăng 2.5L, hộp số tự động 6 cấp: CX-8 Luxury giá 1,199 tỷ đồng, CX-8 Premium giá 1,349 tỷ đồng và CX-8 Premium AWD giá 1,399 tỷ đồng.

Phân khúc SUV trở nên hấp dẫn hơn, các mẫu xe đều có sự tăng trưởng về doanh số, cho thấy đây vẫn là phân khúc được khách hàng quan tâm.

Hiện nay, với những chính sách kích cầu, phân khúc này có thể càng trở nên hấp dẫn hơn nữa với sự đua tranh của những cái tên luôn “kèn cựa” nhau như CR-V và Santa Fe.

Đặc biệt Ford Everest đang có sựu tăng trưởng mạnh mẽ về doanh số nhờ có cơ chế bán hàng tốt như: giảm giá tiền mặt, tặng bảo hiển nội thất theo xe, hay chương trình hoàn toàn miễn phí các dịch vụ sau:

– Hỗ trợ kích bình ắc quy lưu động – không giới hạn số lần

– Hỗ trợ thay lốp dự phòng (*)

– Hỗ trợ 5 lít nhiên liệu khi xe bạn hết nhiên liệu (**)

– Hỗ trợ kéo xe đến Đại lý Ford gần nhất (***)

Chi tiết giá lăng bánh và các khuyến mại cảu Ford Everest

【#4】Xe Sedan Là Gì? Top 10 Lý Do Nên Chọn Sedan Thay Vì Suv, Hatchback

Bạn từng nghe về một chiếc crossover hoặc hatchback hoặc có thể là SUV hoặc Sedan? Và tự hỏi những khác biệt giữa chúng là gì?

Khi bạn đang tìm mua một chiếc xe mới cho gia đình, sẽ rất có ích nếu bạn biết được sự khác biệt giữa các loại xe này.

Chúng tôi ở đây để giúp làm cho trải nghiệm mua xe của bạn dễ dàng hơn.

Đầu tiên chúng ta sẽ phải thực sự hiểu rõ xe Sedan là gì?

Sedan là một chiếc xe ô tô chở khách có thiết kế dạng ba hộp riêng biệt cho động cơ, hành khách, và hàng hóa (cốp xe).

Từ Sedan có nghĩa là gì?

Cái tên Sedan (hoặc saloon ở Anh) đến từ một phát minh ở thế kỷ 17 ở Anh của một chiếc kiệu , được gọi là ghế sedan ( Sedan chair), nó có thể chứa một người bên trong một cái hộp với cửa sổ và được khiêng đi bởi nhân viên khuân vác.

Tên của chiếc ghế rất có thể xuất phát từ tiếng địa phương Ý từ tiếng Latin có nghĩa là ngồi.

Đặc điểm của loại xe Sedan

Định nghĩa hiện tại của một chiếc xe hơi Sedan đó là một chiếc xe có thân kín (tức là có mái kim loại cố định) với động cơ, hành khách và hàng hóa trong các khoang riêng biệt. Cụ thể:

  • Một hộp ở giữa có cửa sổ phía trước và phía sau, có mái.
  • Hai hàng ghế.
  • Một hộp chứa động cơ ở phía trước.
  • Một hộp chứa khu vực hàng hóa ở phía sau.
  • Mái của xe ít dốc hơn so với một chiếc xe coupe, tăng khoảng không cho hành khách phía sau và một diện mạo ít thể thao hơn.

Ngoài ra, xe ô tô sedan thường có chiều dài cơ sở dài hơn so với các loại xe khác. Do đó, nó cho phép các kỹ sư tách ba ngăn dễ dàng và làm cho mỗi ngăn phát huy công dụng tối đa nhất.

Nó được thiết kế đặc biệt để vận chuyển hành khách, hình dạng của xe và kích thước của nó được thiết kế cho sự thanh lịch, thoải mái và êm ái khi đi xe.

Từ Sedan lần đầu tiên được sử dụng như tên cho chiếc xe là vào năm 1911, chiếc xe sedan đầu tiên là chiếc , được sản xuất tại Hoa Kỳ.

Đối với hầu hết các trường hợp, mẫu xe sedan êm ái, đầy đủ tiện nghi hành khách và được thiết kế cho hoạt động hàng ngày với sự nhấn mạnh vào sự thoải mái và độ tin cậy thay vì cách lái xe tốc độ đầy phấn khích.

Nhưng có những chiếc xe sedan mang hơi hướng thể thao là Mazda 6, Nissan Maxima, Infiniti G37,… nhưng đây là trường hợp nhỏ của lớp này.

Vì vậy, những chiếc xe sedan thường gắn liền với sự thoải mái: một chuyến đi êm ái, chỗ ngồi được bọc đệm tốt và sức mạnh động cơ vừa đủ để di chuyển chiếc xe mà không cần quá nhiều mã lực.

Ngay cả những chiếc xe nhỏ gọn nhỏ gọn hơn, chẳng hạn như Mazda 3 hay Hyundai Elantra đều đặt sự chú ý của tiện nghi hành khách lên trên hiệu suất tốc độ cao.

Được thiết kế để tối đa hóa tiện ích, những chiếc xe nhỏ gọn này chứa được tới năm người, với cốp xe riêng biệt.

Xe sedan và Hatchback khác nhau như thế nào? Nhìn hình ảnh sau bạn sẽ rõ hơn:

Hoặc bạn xem qua bài viết này để biết thêm thông tin về loại xe Hatchback:

Hatchback Là Gì? Phân biệt với SUV, Sedan và Pickup

Một chiếc xe Sedan được sử dụng ở đâu?

Xe hơi Sedan chủ yếu được sử dụng để vận chuyển hành khách cá nhân trên một khoảng cách dài hơn và việc mang theo hàng hóa có thể bị hạn chế một chút nhưng khoang cốp xe chứa đồ được cố tình tách ra khỏi khoang hành khách, tạo sự riêng tư nhất.

Cái này có một vài nguyên nhân:

Một mặt, nội thất của xe ít bị ảnh hưởng hơn. Do đó, trong xe hơi sẽ giảm tiếng ồn tốt hơn đặc biệt thoải mái cho một chuyến đi dài.

Bằng cách phân tách không gian vận chuyển cồng kềnh, hàng hóa nguy hiểm hoặc khó chịu có thể được vận chuyển để chúng không làm phiền tài xế cũng như hành khách khi lái xe.

Xe ô tô sedan phổ biến trong tất các các lớp xe từ hạng bình dân cho tới hạng sang nên cũng không có nhà sản xuất xe lớn nào mà không có chiếc xe sedan trong sản phẩm của họ.

Xe cũng được cải tạo, nâng cấp để bảo vệ cho các cá nhân. Đặc biệt là những chiếc xe sang trọng cung cấp đủ không gian để lắp đặt giáp trong khoang hành khách.

Các nhà sản xuất chính của xe sedan là ai?

Tất cả các nhà sản xuất xe hơi đều cung cấp ra thị trường một số chiếc xe sedan của riêng họ, có thể kể đến như: Toyota, Peugeot, Citroen, Volkswagen, Mercedes-Benz, BMW, Ford, Opel, Nissan và các hãng khác.

Ưu Điểm Và Nhược Điểm Xe Sedan

Những chiếc xe hơi sedan thường nhẹ hơn SUV nên tăng tốc tốt hơn và ngay cả khi chúng không nhẹ hơn, trọng tâm thấp của xe giúp nó có thể chuyển hướng di chuyển qua các góc cua rất êm.

Những chiếc xe hơi sedan cũng ít bị lật hơn những chiếc SUV, nhưng với sự ra đời của các hệ thống kiểm soát ổn định tiên tiến như công nghệ chống lật xe chủ động, sự khác biệt này đang dần khép lại.

Những chiếc xe sedan cũng thể hiện tốt hơn về khả năng tăng tốc, phanh, tốc độ và tiết kiệm nhiên liệu . Trọng lượng thấp hơn có nghĩa là tăng tốc và dừng tốt hơn; với khối lượng ít hơn, việc di chuyển dễ dàng hơn. Điều này cũng giúp giảm tiêu hao nhiên liệu, vì động cơ không phải gồng lên để vượt qua quán tính nhiều mỗi khi bạn đề ba xe.

Được trang bị công nghệ chất lượng hàng đầu, các tính năng tốt nhất của sedan có xu hướng là những nét hiện đại tiên tiến, như cảm biến đỗ xe, hệ thống giải trí và ghế ngồi tiêu chuẩn cao.

Những chiếc xe sedan là chuẩn mực cho ô tô sang trọng, từ Rolls Royce và Bentley đến Mercedes và Lexus, tiêu chuẩn vàng cho sự sang trọng ở bất kỳ khung nào đều tập trung vào phạm vi dòng sedan.

Tính thực tiễn – khoảng không, chỗ để chân, không gian hành lý, ghế ngồi có thể điều chỉnh, đi xe thoải mái, tầm nhìn rộng, tiết kiệm nhiên liệu.

An toàn – với cấu trúc vững chắc và chú trọng cho các tính năng an toàn mới nhất và tốt nhất, dòng xe sedan chắc chắn là một trong những dòng xe an toàn nhất trên đường. Nếu bảo vệ bản thân và gia đình là một vấn đề quan trọng, đừng tìm đâu xa.

Những chiếc xe Sedan thấp hơn, kiểu dáng đẹp hơn cũng lướt qua không khí dễ dàng hơn so với những chiếc SUV thô, to xác, và hệ số cản gió thấp hơn tương đương tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn và hiệu suất tốt hơn.

Đốt ít nhiên liệu hơn có nghĩa là ít ô nhiễm hơn. Trong khi những chiếc SUV xuất hiện trong sự mạnh mẽ của động cơ thì một chiếc xe sedan có động cơ vừa phải, tốt cho môi trường.

Nhược điểm dòng xe Sedan

Có một vài điều sẽ có thể ngăn bạn chọn một chiếc xe hơi sedan, được tóm tắt bằng bốn từ: giá cả, ngoại hình, chiều cao và không gian.

Kén địa hình có thể là một vấn đề đối với các dòng xe tập trung vào hiệu suất cao hơn, và hầu như sẽ luôn tồi tệ hơn so với SUV. Gầm xe thấp tạo nên mối nguy cơ khi xe đi qua các địa hình nhiều ổ gà hoặc đường ngập nước.

Không gian chở hàng nhỏ hơn là kết quả giữa cách bố trí không linh hoạt của của một chiếc xe hơi, với thiết kế hàng ghế sau cố định, loại có thể gập xuống rất hiếm.

Khoảng không gian trên đầu và dưới chân của hành khách trong xe cũng có thể là một vấn đề, do xu hướng tối ưu cho những chiếc xe có mái thấp, kiểu dáng đẹp.

Chi phí ban đầu – Xe sedan không nhất thiết phải rẻ. Thật không may, sự sang trọng và thoải mái phải được trả bằng tiền. Mua một chiếc xe sedan có thể vượt quá ngân sách cho rất nhiều chủ sở hữu xe trẻ, hoặc những người có chi phí gia đình lớn, đó là lý do tại sao cho thuê một chiếc xe hơi sedan trở thành lựa chọn hoàn hảo cho rất nhiều người.

Chi phí vận hành, bảo hiểm và chi phí bảo dưỡng cho một chiếc xe sedan có thể lớn hơn một chiếc hatchback tương đương do trọng lượng nặng hơn của chiếc xe.

Tính thực dụng – một chiếc xe sedan được thiết kế để trở thành một chiếc xe phục vụ nhu cầu chở khách hoặc ưu tiên cho hoạt động gia đình và cung cấp ít hơn về mặt chở hàng hóa. Không gian cốp xe khá nhỏ, không cho phép chở các vật cồng kềnh như đồ nội thất và không có nhiều chỗ để cấu hình lại không gian bên trong cho bất cứ thứ gì ngoài mục đích ban đầu.

Chọn một chiếc xe hơi đúng cho mục đích sử dụng của bạn là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến trải nghiệm sau này rất nhiều. Do đó, hiểu rõ loại xe sedan là gì và đặc tính của nó sẽ giúp bạn lựa chọn loại xe phù hợp.

【#5】Chỉ Sinh Học Là Gì ? Phân Loại Và Công Dụng

Chỉ sinh học là loại chỉ tự tiêu – một phát minh mới trong y học. Được dùng để hàn gắn các vết thương hở lại với nhau. Các thành phần cấu tạo của chỉ sinh học chủ yếu từ các protein có nguồn gốc từ động vật. Hay polymer tổng hợp làm các men sinh lý trong cơ thể có thể tổng hợp giúp phá vỡ và hấp thụ.

Ưu điểm của loại chỉ sinh học này là có thể phân giải một cách tự nhiên. Sau một khoảng thời gian nhất định khi vết thương đã ổn định. Nhờ vào các enzyme trong tổ chức mô của cơ thể.

Dùng khâu vết thương phẫu thuật

Cũng giống loại chỉ khâu y tế không tiêu, chỉ sinh học tự tiêu cũng được dùng để khâu các loại vết thương. Nhưng nó có ưu điểm vượt trội hơn, vì có thể tự tiêu sau thời gian sử dụng mà không cần phải cắt chỉ. Do đó, nên sẽ được ưu tiên dùng cho các loại vết thương ở mô mềm như: thành bụng, nối các mao mạch, dây thần kinh. Đặc biệt là được dùng để khâu vết thương ở tim.

Dùng trong nha khoa và tiểu phẫu

Để hạn chế gây đau đớn cho các bệnh nhân sau mỗi lần cắt chỉ. Chỉ sinh học còn được dùng trong nha khoa và tiểu phẫu. Trong nha khoa, chỉ sinh học tự tiêu sẽ được sử dụng để khâu các vết mổ sau khi nhổ hoặc cấy ghép răng.

Với những ca tiểu phẫu như cắt bao quy đầu, khâu cắt âm đạo hay tầng sinh môn đều dùng chỉ sinh học tự tiêu. Vì chỉ sinh học sẽ tự tiêu sau khoảng thời gian nhất định không tốn thời gian để quay lại cắt chỉ. Và làm vết thương nhanh lành hơn.

Dùng trong thẩm mỹ

Chỉ sinh học không chỉ được dùng để khép miệng các vết thương y khoa. Nó còn được cải tiến và phát triển để dùng trong thẩm mỹ. Hiện nay, phương pháp làm đẹp từ chỉ sinh học đang rất thịnh hành tại các spa, thẩm mỹ viện. Được nhiều chị em khắp nơi sử dụng để làm đẹp cho bản thân.

Với các phương pháp làm đẹp từ chỉ sinh học như: Làm căng da mặt, nâng cơ chảy xệ, định hình và tạo dáng trái xoan cho gương mặt. Hay giúp nâng và làm thon gọn dáng mũi, xóa quầng thâm mắt, bọng mắt và da chùng quanh mắt. Bên cạnh đó, nó còn giúp làm trẻ hóa làn da giúp làn da trở nên tươi trẻ và mịn màng hơn.

Ngoài ra, chỉ sinh học còn được dùng để chỉnh sửa dáng lưng gồ, chỉnh hình bắp chân thô to. Có thể nói, chỉ sinh học thẩm mỹ được ứng dụng rất nhiều trong việc làm đẹp cho con người. Giúp thay đổi diện mạo cho nhiều chị em muốn thay đổi diện mạo mà ngại đụng đến dao kéo.

Chỉ sinh học thẩm mỹ được chứng nhận có độ thích ứng và an toàn cao khi dùng cho cơ thể con người. Do đó bạn hãy yên tâm nếu có nhu cầu làm đẹp từ chỉ thẩm mỹ tự tiêu. Tuy nhiên, nó chỉ an toàn và chất lượng khi bạn đến những nơi uy tín chất lượng có chứng nhận của Bộ Y tế.

Chỉ sinh học dùng trong y tế

  • Chỉ sinh học Simple catgut: Là loại chỉ có cấu tạo hoàn toàn tự nhiên, từ các chất collagen có trong ruột và huyết thanh của động vật. Thời gian tự tiêu của loại chỉ này thông thường là 10 ngày. Thường được dùng trong phẫu thuật thuật phụ khoa. Nhưng chống chỉ định đối với phẫu thuật cho tim mạch và thần kinh.

  • Chỉ sinh học Polydioxanone: Là loại chỉ đơn sợi được cấu tạo từ các vật liệu tổng hợp nên có độ dai cao. Thời gian tự tiêu cũng lâu hơn so với các loại khác. Loại chỉ cũng được dùng để khâu vết thương. Tuy nhiên, khác với chỉ catgut, chỉ polydioxanone có thể dùng để khâu tim mạch cho các bệnh nhi.

  • Chỉ sinh học polyglycolic acid: Đây cũng là loại chỉ tổng hợp tự tiêu, với thời gian tự tiêu từ 60-90 ngày.

  • Chỉ sinh học Polyglactin: Là loại chỉ khâu tổng hợp, được dùng để khép miệng các vết rách trên tay hoặc ở mặt. Hạn chế gây kích ứng mô và được xem là giữ miệng vết khâu khá tốt.

  • Chỉ sinh học Poliglecaprone: loại chỉ có thành phần cấu tạo từ glycolic acid và caprolactone. Được dùng trong để khâu các mô mềm với thời hồi phục nhanh chóng. Đặc biệt, loại chỉ này còn có khả năng hạn chế nguy cơ nhiễm trùng rất tốt và không gây đau đớn cho người bệnh khi sử dụng.

Chỉ sinh học dùng trong thẩm mỹ

Với đặc tính an toàn và lành tính, có thể tự tiêu được. Nên chỉ sinh học còn được ứng dụng trong thẩm mỹ với nhiều cải tiến mới mẻ.

Chỉ sinh học dùng trong thẩm mỹ hay còn gọi là chỉ thẩm mỹ. Là sự lựa chọn của nhiều chị em phụ nữ. Khi có ý định làm đẹp cho khuôn mặt của mình mà ngại đụng chạm đến dao kéo để phẫu thuật. Bởi khi làm đẹp bằng chỉ thẩm mỹ sẽ không gây đau đớn, không để lại sẹo với độ an toàn cao. Các loại chỉ sinh học thẩm mỹ được dùng nhiều nhất hiện nay:

Là loại chỉ do Giáo sư, Bác sĩ người Hàn Quốc Kwon Han Jin – chủ tịch hiệp hội Thẩm mỹ Y khoa Quốc tế phát minh. Chỉ Ultra V-Lift được dùng trong nâng cơ da mặt, làm căng vùng chảy xệ, tạo đường nét mọi vùng cơ thể. Sự ra đời của Ultra V-Lift đã góp phần đem lại nhiều cách làm đẹp mới mẻ, an toàn cho các chị em phụ nữ. Đặc biệt, đây còn là loại chỉ được nhiều chuyên gia thẩm mỹ đánh giá cao.

Chỉ Ultra V-Lift là loại chỉ tự tiêu có cấu tạo dạng sợi (PDO), với độ an toàn cao gần như tuyệt đối khi sử dụng. Được dùng trong phẫu thuật tim mạch, nối mạch máu. Hơn hết, Ultra V-Lift còn được chứng nhận bởi FDA. Đặc biệt ở Việt Nam đây là loại chỉ sinh học duy nhất được Bộ Y Tế cho phép dùng trong thẩm mỹ làm đẹp.

Ưu điểm của chỉ sinh học thẩm mỹ Ultra V-Lift là trên thân sợi chỉ có các gai nhỏ. Có tác dụng bám chặt vào các mao mạch dưới da. Không cần phải sử dụng đến dao kéo để phẫu thuật. Bên cạnh đó, chỉ Ultra V-Lift còn giúp tăng sinh collagen sau thời gian cấy. Giúp da trông tươi trẻ và căng bóng, mịn màng hơn.

Chỉ Ultra V-Lift có thời gian thực hiện nhanh chóng chỉ tầm 15-30 phút. Không chỉ vậy, sau khi cấy chỉ Ultra V-Lift sẽ không tốn thời gian nghỉ dưỡng. Sau khi thực hiện liệu trình nâng cơ, căng da mặt hay định hình gương mặt. Sẽ giúp gương mặt của bạn trông thật tự nhiên và hài hòa nhất.

Chỉ sinh học Misko

Nếu như chỉ Ultra V-Lift được ứng dụng nhiều trong các phương pháp làm đẹp gương mặt. Thì chỉ sinh học Misko lại được biết đến trong giải pháp làm đẹp cho dáng mũi.

Chỉ Misko có cấu tạo siêu nhỏ, trên thân sợi chỉ sinh học có các ngách lồi hình chữ V. Giúp bám chặt và kéo căng các góc mũi, làm cho dáng mũi cao và thon gọn hơn.

Nâng mũi bằng chỉ Misko không chỉ giúp các chị em không phải sợ khi không đụng đến phẫu thuật. Mà nó còn hạn chế được tình trạng nhiễm trùng sau phẫu thuật.

Đặc biệt sẽ không có các là tình trạng mũi lệch, bóng đỏ, lộ sóng như các phương pháp nâng mũi thông thường. Bên cạnh đó, chỉ Misko cũng giúp tăng sinh collagen khi được cấy vào da. Làm cho da được tươi trẻ và mịn màng hơn.

Ngoài ra, khi nâng mũi bằng chỉ Misko cũng rất ngắn, cũng không cần phải tốn thời gian nghỉ dưỡng quá dài. Độ an toàn khi sử dụng cũng được đánh giá cao.

Chỉ sinh học Bio Lift

Bio Lift – chỉ sinh học tự tiêu của Hoa Kỳ, được dùng để làm căng da mặt và cổ. Giúp làm trẻ hóa những vùng da bị nhão, chảy xệ. Nhờ khả năng kích thích tăng sinh collagen sau khi cấy vào da.

Có cấu trúc đa chiều được thiết kế với những chấu mắt xích độc đáo. Khi được cấy vào mô dưới da sẽ hình thành liên kết như ma trận sinh học. Giúp kéo căng các sợi cơ một cách liền mạch từ vùng miệng, má đến thái dương. Đồng thời các mắt xích sẽ cố định và nâng các vùng cơ chảy xệ.

Loại chỉ này cũng có thời gian thực hiện nhanh và không quá tốn kém thời gian nghỉ dưỡng.

Chỉ sinh học S-soft

S-soft cũng là loại chỉ sinh học tự tiêu dùng trong thẩm mỹ. Có công dụng giúp nâng cơ, xóa mỡ hai bên má, định hình khuôn mặt ngay sau tiến hành cấy chỉ. Nhờ vào cấu trúc 16 chóp kim cương hình nón bám sâu vào da làm cho trở nên săn chắc hơn.

Ngoài ra, chi S-soft cũng giống như các loại chỉ khác, cũng giúp kích thích sản sinh ra collagen. Sẽ có tác dụng bù đắp những thiếu hụt do lão hóa gây ra trên da. Hạn chế nếp nhăn đem lại sự tươi trẻ cho làn da trên gương mặt.

Chỉ sinh học Gold Thread 24K

Ngoài các loại chỉ sinh học thẩm mỹ trên, chỉ sinh học Gold Thread 24K còn được dùng nhiều tại các Spa.

Chỉ sinh học Gold Thread 24K hay còn gọi là chỉ vàng. Đây cũng là loại chỉ tự tiêu có thành phần tổng hợp PDO và các sợi nano vàng nguyên chất. Theo nghiên cứu thì chỉ vàng có độ thích ứng với da người rất cao. Bên cạnh đó, chỉ vàng khi được cấy dưới da sẽ có tác dụng kháng viêm, tăng cường tuần hoàn máu, chống oxy hóa hiệu quả.

Chính vì lý do đó, chỉ vàng 24K ra đời vừa giúp nâng đỡ và căng da mặt. Vừa giúp làm da trẻ hóa, trông trẻ trung và mịn màng hơn.

Trên thị trường hiện nay thì duy nhất có Chỉ Ultra V Lift là được công nhận và cấp phép sử dụng của Bộ Y Tế Việt Nam. Đồng thời chỉ Ultra V Lift đang được sử dụng bởi hàng ngàn bác sĩ trên cả nước tại nhiều Spa và Thẩm Mỹ Viện. Không những vậy Ultra V Lift đã có mặt ở Bệnh viện Da Liễu Hà Nội Và Tp. HCM cùng một số các bệnh viện khác.

Chúc các chị em thành công với sự lựa chọn của mình !

【#6】Lược Sử Về Thuyết Tương Đối Của Einstein

Stephen Hawking: “Vũ trụ trong một vỏ hạt”

Einstein thiết lập hai lý thuyết căn bản của thế kỷ hai mươi:

Lý thuyết tương đối rộng và lý thuyết lượng tử như thế nào?

Albert Einstein năm 1920

Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng sinh ra ở Ulm, Đức vào năm 1879. Một năm sau đó gia đình ông chuyển đến Munich, tại đó cha ông – Herman và cậu ông – Jacob khởi sự kinh doanh về đồ điện nhưng không mấy thành công. Einstein không phải là thần đồng nhưng có người cho rằng ông là một học sinh cá biệt ở phổ thông thì lại là một sự cường điệu. Năm 1894 công việc làm ăn của cha ông bị đổ bể nên gia đình chuyển đến Milan. Gia đình quyết định ông nên ở lại để hoàn thành bậc học phổ thông, nhưng ông không thích chủ nghĩa độc đoán của trường học nên chỉ sau đó mấy tháng ông đoàn tụ với gia đình ở Ý. Sau đó ông tốt nghiệp phổ thông ở Zurich và tốt nghiệp đại học trường Bách khoa liên bang vào năm 1900. Bản tính hay tranh luận và và ác cảm với quyền lực đã không mang cho ông một chân giáo sư ở trường Bách khoa liên bang và không một giáo sư nào của trường mời ông làm trợ giảng, mà thời bấy giờ đó là con đường bình thường để theo đuổi sự nghiệp khoa học. Cuối cùng thì hai năm sau ông cũng xoay sở được một việc ở Văn phòng sáng chế ở Bern. Ông làm việc tại đó trong thời gian ông viết ba bài báo, trong đó hai bài đã đưa ông trở thành nhà khoa học hàng đầu thế giới và bắt đầu hai cuộc cách mạng về tư tưởng làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về không gian, thời gian và bản thân thực tại vào năm 1905.

Gần cuối thế kỷ thứ 19, các nhà khoa học tin rằng họ gần như đã mô tả vũ trụ một cách toàn vẹn. Họ cho rằng không gian được lấp đầy bởi một loại vật chất liên tục gọi là Ê-te (ether). Ánh sáng và các tín hiệu vô tuyến là các sóng lan truyền trong ê-te giống như sóng âm lan truyền trong không khí. Và tất cả các điều cần làm cho một lý thuyết hoàn thiện là phép đo chính xác để xác định tính đàn hồi của ê-te. Thực ra các phép đo như thế đã được xây dựng hoàn chỉnh tại phòng thí nghiệm Jefferson ở trường đại học Harvard mà không dùng đến một cái đinh sắt nào để tránh làm nhiễu các phép đo từ trường yếu. Tuy vậy những người xây dựng hệ đo đã quên rằng các viên gạch nâu đỏ xây nên phòng thí nghiệm và phần lớn các tòa nhà ở Harvard đều chứa một lượng lớn sắt. Ngày nay các tòa nhà đó vẫn được sử dụng, nhưng họ vẫn không chắc là nếu không có các đinh sắt thì sàn thư viện của trường có thể nâng đỡ được sức nặng là bao nhiêu.

Nếu ánh sáng là sóng trong một loại vật chất đàn hồi được gọi là ê-te thì vận tốc của ánh sáng đối với người ở trên tàu vũ trụ chuyển động ngược hướng ánh sáng (a) sẽ nhanh hơn vận tốc của ánh sáng đối với người trong con tàu chuyển động cùng hướng với ánh sáng (b).

Người ta không thấy sự khác biệt về vận tốc ánh sáng theo các hướng trong mặt phẳng quỹ đạo của trái đất và hướng vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo đó.

Và một loạt các thí nghiệm để chứng minh điều đó đã thất bại. Albert Michelson và Edward Morley của trường khoa học ứng dụng ở Cleveland, bang Ohio đã thực hiện các thí nghiệm cẩn thận và chính xác nhất vào năm 1887. Họ so sánh tốc độ ánh sáng của hai chùm sáng vuông góc với nhau. Vì trái đất tự quay quanh mình và quay quanh mặt trời nên dụng cụ thí nghiệm sẽ di chuyển trong ê-te với tốc độ và hướng thay đổi. Nhưng Michelson và Morley cho thấy rằng không có sự khác biệt giữa hai chùm sáng đó. Hình như là ánh sáng truyền với tốc độ như nhau đối với người quan sát, không phụ thuộc vào tốc độ và hướng của người chuyển động.

Dựa trên thí nghiệm Michelson-Morley, một nhà vật lý người Ai-len tên là George Fitzgerald và nhà vật lý người Hà Lan tên là Hendrik Lorentz giả thiết rằng các vật thể chuyển động trong ê-te sẽ co lại và thời gian sẽ bị chậm đi. Sự co và sự chậm lại của đồng hồ làm cho tất cả mọi người sẽ đo được một tốc độ ánh sáng như nhau không phụ thuộc vào việc họ chuyển động như thế nào đối với ê-te (George Fitzgerald và Hendrik Lorentz vẫn coi ê-te là một loại vật chất có thực). Tuy vậy, năm 1905, Einstein đã viết một bài báo chỉ ra rằng nếu người ta không thể biết được người ta chuyển động

Trong giao thoa kế Michenson-Morley, ánh sáng từ nguồn sáng được tách thành hai chùm bằng một gương bán mạ. Hai chùm sáng đi theo hai hướng vuông góc với nhau sau đó lại kết hợp thành một chùm sáng sau khi đập vào gương bán mạ một lần nữa. Sự sai khác về tốc độ ánh sáng của hai chùm sáng đi theo hai hướng có thể làm cho các đỉnh sóng của chùm sáng này trùng với đáy sóng của chùm sáng kia và chúng triệt tiêu nhau.

Bay từ tây sang đông của những hành khách trên phi cơ bay về hướng tây trong không gian hay không thì khái niệm ê-te không còn cần thiết nữa. Thay vào đó, ông bắt đầu bằng một giả thuyết rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất cả những người quan sát chuyển động tự do. Đặc biệt là họ sẽ đo được tốc độ ánh sánh như nhau không phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của họ. Tốc độ của ánh sáng độc lập với chuyển động của người quan sát và như nhau theo tất cả các hướng.

Ý tưởng này đòi hỏi phải từ bỏ ý nghĩ cho rằng tồn tại một đại lượng phổ quát được gọi là thời gian có thể đo được bằng tất cả các đồng hồ. Thay vào đó, mỗi người có một thời gian riêng của họ. Thời gian của hai người sẽ giống nhau nếu hai người đó đứng yên tương đối với nhau, nhưng thời gian sẽ khác nhau nếu hai người đó chuyển động tương đối với nhau.

Giả thuyết này được khẳng định bằng rất nhiều thí nghiệm, trong đó có một thí nghiệm gồm hai đồng hồ chính xác bay theo hướng ngược nhau vòng quanh trái đất và quay lại cho thấy thời gian có sai lệch chút ít. Giả thuyết gợi ý rằng nếu ai đó muốn sống lâu hơn thì người đó nên bay về hướng đông vì như thế thì tốc độ của trái đất sẽ bổ sung vào tốc độ của máy bay. Tuy vậy, các bữa ăn trên máy bay sẽ rút ngắn cuộc sống của bạn gấp nhiều lần một phần nhỏ của giây mà bạn có được.

Trong thuyết tương đối, mỗi người quan sát sẽ đo thời gian khác nhau. Điều này có thể dẫn đến nghịch lý anh em sinh đôi (twin paradox).

Một người trong cặp anh em sinh đôi (a) trong một phi thuyền thám hiểm không gian chuyển động với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng (c) trong khi người anh em của anh ta (b) vẫn trên mặt đất.

Vì thời gian của (a) trong phi thuyền chậm hơn thời gian của (b) trên trái đất. Nên khi người (a) trở về (a2) anh ta sẽ thấy người anh em của anh ta trên trái đất (b2) già hơn anh ta.

Giả thuyết của Einstein cho rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự do là cơ sở của thuyết tương đối. Gọi như vậy vì nó ngụ ý rằng chỉ có chuyển động tương đối là quan trọng. Vẻ đẹp và sự đơn giản của giả thuyết này đã thuyết phục rất nhiều các nhà tư tưởng, tuy nhiên, vẫn có rất nhiều các ý kiến trái ngược. Einstein đã vứt bỏ hai khái niệm tuyệt đối của khoa học thế kỷ 19: đứng yên tuyệt đối – đại diện là ê-te và thời gian tuyệt đối và phổ quát mà tất cả các đồng hồ đo được. Rất nhiều người thấy rằng đây là một khái niệm không bình thường. Họ hỏi, giả thuyết ngụ ý rằng tất cả mọi thứ đều tương đối, rằng không có một tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối? Sự bứt rứt này tiếp diễn trong suốt những năm 20 và 30 của thế kỷ 20. Khi Einstein được trao giải Nobel vào năm 1921 về một công trình kém quan trọng hơn cũng được ông cho ra đời vào năm 1905. Lúc đó, thuyết tương đối không được nhắc đến vì nó vẫn còn gây nhiều tranh cãi (đến bây giờ tôi vẫn nhận được vài ba bức thư hàng tuần nói rằng Einstein đã sai). Tuy vậy, hiện nay, các nhà vật lý hoàn toàn chấp nhận thuyết tương đối, và các tiên đoán của nó đã được kiểm chứng trong vô vàn ứng dụng.

Mặc dù nó có vẻ chống lại cảm nhận chung của chúng ta, rất nhiều thí nghiệm chứng minh rằng trong kịch bản này, người du hành vũ trụ sẽ trẻ hơn người còn lại.

Một phi thuyền đi ngang qua trái đất từ trái sang phải với vận tốc bằng bốn phần năm vận tốc ánh sáng. Một xung ánh sáng phát ra từ cabin và phản xạ lại ở đầu kia (a). Người trên trái đất nhìn ánh sáng trên phi thuyền. Vì phi thuyền chuyển động nên hai ngưới sẽ quan sát khoảng cách mà ánh sáng đã đi được khi phản xạ lại không bằng nhau (b). Và với họ thời gian mà ánh sáng dùng để truyền cũng không bằng nhau, vì theo giả thuyết của Ein-stein, tốc độ ánh sáng là như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự do.

Một hệ quả quan trọng của thuyết tương đối là hệ thức giữa khối lượng và năng lượng. Giả thiết của Einstein về tốc độ của ánh sáng là như nhau đối với tất cả các người quan sát ngụ ý rằng không có gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Nếu ta dùng năng lượng để gia tốc một vật nào đó, dù là một hạt hay một tàu vũ trụ, thì khối lượng của vật đó sẽ gia tăng cùng với tốc độ và do đó sẽ khó có thể gia tốc thêm được nữa. Ta không thể gia tốc một hạt đến tốc độ ánh sáng vì ta cần một năng lượng lớn vô cùng để làm điều đó. Khối lượng và năng lượng là tương đương và điều đó được tổng kết trong một phương trình nổi tiếng E = mc 2. Có lẽ đây là phương trình vật lý duy nhất mà chúng ta có thể nhìn thấy nó được viết trên đường phố. Một trong số các hệ quả của phương trình trên là hạt nhân của nguyên tử Uranium phân rã thành 2 hạt nhân nhỏ hơn có tổng khối lượng nhỏ hơn khối lượng của hạt nhân ban đầu, việc này sẽ giải tỏa một năng lượng vô cùng lớn.

Vào năm 1939, khi mà khả năng một cuộc chiến tranh thế giới nữa đang lờ mờ xuất hiện, một nhóm các nhà khoa học đã nhận ra tầm quan trọng và đã thuyết phục Einstein vượt qua sự lưỡng lự của bản thân để điền tên của ông vào một bức thư gửi Tổng thống Roosevelt nhằm thúc giục Hoa Kỳ khởi động chương trình nghiên cứu hạt nhân Việc này dẫn đến dự án Manhattan và kết quả của nó là 2 quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào năm 1945. Một số người đã đổ tội cho Einstein về bom nguyên tử bởi vì ông đã khám phá ra mối liên hệ giữa khối lượng và năng lượng; nhưng điều này giống như là đổ tội cho Newton đã gây ra các vụ tai nạn máy bay vì đã phát hiện ra định luật hấp dẫn.

Sau các bài báo gây chấn động vào năm 1905, Einstein trở lên nổi tiếng trên thế giới. Nhưng đến tận năm 1909 ông mới được mời vào làm việc tại trường đại học Zurich và do đó, ông có thể từ bỏ công việc ở văn phòng sáng chế Thụy Sỹ. Hai năm sau, ông chuyển sang đại học Đức ở Prague, nhưng ông quay trở lại Zurich vào năm 1912, nhưng lần này ông về trường Bách khoa liên bang. Mặc dù chủ nghĩa bài Do thái (anti-semitism) đang phổ biến ở châu Âu, ngay cả ở trong các trường đại học, nhưng ông vẫn là một tài sản quý của trường đại học. Có nhiều đề nghị làm việc đến từ Vienna và Utrecht, nhưng ông đã chấp nhận một vị trí ở Viện hàn lâm khoa học Prussian ở Berlin vì ở đó ông không phải đảm nhiệm công việc giảng dạy. Ông chuyển đến Berlin vào tháng 4 năm 1914 và sau đó ít lâu vợ và hai con của ông cũng chuyển đến đó với ông. Cuộc hôn nhân của ông gặp nhiều sóng gió, do vậy, vợ và các con ông nhanh chóng trở lại Zurich. Mặc dầu thỉnh thoảng ông vẫn trở lại thăm họ nhưng cuối cùng cuộc hôn nhân của họ cũng tan vỡ. Sau đó Einstein lấy một người em họ tên là Elsa sống ở Berlin. Trong những năm chiến tranh ông đã sống độc thân và không có ràng buộc về gia đình, có lẽ chính vì thế đây là thời kỳ thăng hoa nhất của ông về mặt khoa học.

Mặc dầu thuyết tương đối rất phù hợp với các định luật điện và từ nhưng nó lại không tương hợp với định luật hấp dẫn của Newton. Định luật của Newton nói rằng nếu một lượng vật chất trong một vùng của không gian bị thay đổi thì trường hấp dẫn mà nó tạo ra trong toàn vũ trụ cũng thay đổi ngay lập tức. Điều này có nghĩa là người ta có thể gửi các tín hiệu nhanh hơn ánh sáng (mâu thuẫn với thuyết tương đối); để hiểu tức thời có nghĩa là gì, người ta lại cần đến khái niệm thời gian tuyệt đối và phổ quát, chính điều này lại loại bỏ thời gian cá nhân.

Bức thư tiên đoán của Einstein gửi tổng thống Roos-evelt năm 1939 “Trong thời gian bốn tháng qua, thông qua các công trình của Joliot ở Pháp cũng như Fermi và Szilard ở Hoa Kỳ, chúng ta có thể xây dựng một phản ứng hạt nhân với một khối lượng lớn Urani-um, nhờ đó mà sinh ra một nguồn năng lượng lớn. Bây giờ, chúng ta có thể làm điều này trong một tương lai gần. Mặc dù chưa chắc chắn, nhưng hiện tượng mới này có khả năng dẫn đến việc tạo ra các quả bom có sức công phá cực lớn.”

Nếu phản ứng này tự duy trì thì nó được gọi là “tới hạn” và khối lượng U-235 được gọi là khối lượng tới hạn.

Năm 1907, Einstein nhận ra khó khăn này khi ông còn làm việc ở văn phòng sáng chế ở Bern, nhưng phải đến khi ông ở Prague vào năm 1911 ông mới suy nghĩ về vấn đề này một cách nghiêm túc. Ông nhận ra rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa gia tốc và trường hấp dẫn. Một người nào đó ở trong một cái hộp đóng kín như là trong một cái thang máy chẳng hạn không thể nhận biết được cái hộp đó đang đứng yên trong trường hấp dẫn của trái đất hay đang bị gia tốc bởi một tên lửa trong không gian (tất nhiên lúc này là trước kỷ nguyên của Star Trek, và Einstein nghĩ về những người đứng trong thang máy hơn là về những con tàu vũ trụ). Nhưng người ta không thể gia tốc hoặc rơi tự do lâu được trong cái thang máy trước khi tai nạn xảy ra!

Nhưng khi ông quay lại Zurich vào năm 1912, ông đã có một bước đột phá khi nhận ra rằng sự tương ứng đó là đúng nếu hình dáng của không thời gian bị bẻ cong chứ không thẳng như người ta vẫn nghĩ cho tới thời điểm đấy. Ý tưởng của ông là khối lượng và năng lượng.

Nếu trái đất phẳng thì người ta có thể giải thích bằng một trong hai cách tương đương sau: quả táo rơi xuống đầu Newton do lực hấp dẫn hoặc do Newton gia tốc lên phía trên. Sự tương đương này không còn đúng khi trái đất hình cầu vì những người ở mặt kia của trái đất sẽ rời xa nhau. Einstein đã giải quyết bài toán này bằng việc giả thiết không gian và thời gian bị cong đã làm cong không thời gian theo một cách có thể xác định được. Các vật thể như là quả táo hoặc là hành tinh sẽ cố gắng chuyển động thẳng trong không thời gian, nhưng quỹ đạo của chúng sẽ bị bẻ cong bởi một trường hấp dẫn do không thời gian bị cong.

Lý thuyết mới về sự cong của không thời gian được gọi là thuyết tương đối rộng để phân biệt với lý thuyết ban đầu không có lực hấp dẫn được mọi người biết đến với cái tên là thuyết tương đối hẹp. Lý thuyết này được khẳng định trong một thí nghiệm rất ấn tượng vào năm 1919, trong một cuộc thám hiểm của các nhà khoa học người Anh về phía Tây châu Phi đã quan sát được độ lệch rất nhỏ của ánh sáng đến từ một ngôi sao đi gần mặt trời trong quá trình nhật thực. Đây là một bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng không thời gian bị bẻ cong, và nó đã khích lệ sự thay đổi lớn nhất của con người trong nhận thức của chúng ta về vũ trụ mà chúng ta đang sống từ khi Euclid viết cuốn sách Hình học cơ sở vào khoảng 300 năm trước Công nguyên.

Thuyết tương đối rộng của Einstein đã biến không thời gian từ vai trò là một khung nền thụ động trong đó các hiện tượng xảy ra trở thành một tác nhân chủ động trong chuyển động của vũ trụ. Điều đó dẫn tới một bài toán rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu của vật lý ở thế kỷ 20. Vũ trụ tràn đầy vật chất và vật chất bẻ cong không thời gian theo một cách làm cho các vật thể rơi vào nhau. Einstein thấy rằng các phương trình của ông không có nghiệm mô tả một vũ trũ tĩnh tại và không thay đổi theo thời gian. Thay vì việc từ bỏ một vũ trụ vĩnh cửu mà ông và phần lớn những người khác tin, ông đã thêm vào một số hạng gọi là hằng số vũ trụ một cách khiên cưỡng. Hằng số này làm cong không thời gian theo hướng ngược lại, do đó, các vật thể sẽ chuyển động ra xa nhau. Hiệu ứng đẩy của hằng số vũ trụ có thể cân bằng với hiệu ứng hút của vật chất, cho phép ông thu được một vũ trụ tĩnh tại. Đây là một trong những cơ may bị mất đáng tiếc nhất trong vật lý lý thuyết. Nếu Einstein dừng lại ở các phương trình ban đầu của ông, ông có thể tiên đoán rằng vũ trụ sẽ giãn nở hoặc co lại. Khả năng vũ trụ thay đổi theo thời gian chỉ được xem xét một cách nghiêm túc cho đến khi có được những quan sát thu được từ kính thiên văn 2,5 m đặt trên đỉnh Wilson vào những năm 1920.

Những quan sát này cho thấy rằng các thiên hà ở càng xa nhau thì chuyển động ra xa nhau càng nhanh. Vũ trụ đang giãn nở với khoảng cách giữa 2 thiên hà tăng dần theo thời gian. Phát hiện này đã loại bỏ sự có mặt của hằng số vũ trụ để có được một vũ trụ tĩnh. Sau này Einstein nói rằng hằng số vũ trụ là sai lầm lớn nhất của đời ông. Tuy vậy, ngày nay, người ta thấy rằng hằng số vũ trụ hoàn toàn không phải là một sai lầm: những quan sát gần đây sẽ được mô tả trong chương 3 gợi ý rằng thực ra là có một hằng số vũ trụ có giá trị rất nhỏ.

Thuyết tương đối rộng đã làm thay đổi hoàn toàn việc bàn luận nguồn gốc và số phận của vũ trụ. Một vũ trụ tĩnh tại có thể tồn tại mãi mãi hoặc có thể được tạo ra với hình dạng hiện nay của nó tại một thời điểm trong quá khứ. Tuy vậy, nếu bây giờ các thiên hà đang rời xa nhau, điều đó có nghĩa là trong quá khứ chúng đã từng rất gần nhau. Khoảng 15 tỷ năm trước đây, chúng đã từng chập lại với nhau và mật độ rất lớn. Trạng thái này được một linh mục Công giáo tên là Georges Lemaitre, người đầu tiên nghiên cứu về nguồn gốc của vụ trụ gọi là “nguyên tử nguyên thủy” mà ngày nay chúng ta gọi là vụ nổ lớn.

Thậm chí Einstein còn miễn cưỡng hơn thừa nhận rằng thuyết tương đối rộng tiên đoán thời gian sẽ kết thúc đối với các ngôi sao nặng khi chúng ở giai đoạn cuối của cuộc đời và khi chúng không còn đủ nhiệt lượng để cân bằng với lực hấp dẫn của bản thân chúng. Lực hấp dẫn này đang cố làm chúng nhỏ đi. Einstein nghĩ rằng, các ngôi sao như vậy sẽ kết thúc cuộc đời ở một trạng thái cuối cùng, nhưng ngày nay chúng ta biết rằng sẽ không có trạng thái cuối cùng cho các ngôi sao có khối lượng lớn hơn hai lần khối lượng mặt trời. Các ngôi sao như vậy sẽ tiếp tục co lại cho đến khi chúng trở thành các hố đen, những vùng mà không thời gian bị bẻ cong đến nỗi ánh sáng không thể thoát ra khỏi đó được.

Penrose và tôi cho thấy rằng thuyết tương đối rộng tiên đoán thời gian sẽ kết thúc trong một hố đen, đối với bản thân ngôi sao và đối với một nhà du hành vũ trụ không may bị rơi vào nó. Nhưng cả điểm khởi đầu và kết thúc của thời gian là những nơi mà các phương trình của thuyết tương đối rộng không thể được xác định. Do đó, lý thuyết không tiên đoán được cái gì tham gia vụ nổ lớn. Một số người thấy rằng đây là biểu hiện cho tự do của Chúa sáng tạo thế giới theo bất kỳ cách nào mà ngài muốn, nhưng những người khác (trong đó có tôi) cảm thấy rằng sự khởi đầu của vũ trụ cũng được điều khiển bởi các định luật khoa học mà điều khiển vũ trụ tại các thời điểm sau khi vũ trụ hình thành. Chúng ta đã đạt được một số tiến bộ trong vấn đề này, như sẽ được mô tả trong chương 3, nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu hoàn toàn nguồn gốc của vũ trụ.

Lý do mà thuyết tương đối không còn đúng tại thời điểm vụ nổ lớn là thuyết tương đối không tương hợp được với lý thuyết lượng tử, một cuộc cách mạng khác về tư tưởng vào thời điểm đầu thế kỷ 20. Bước đầu tiến tới thuyết lượng tử được thực hiện vào năm 1900, khi Max Plank ở Berlin khám phá ra rằng bức xạ phát ra từ các vật thể nóng đỏ có thể được giải thích nếu ánh sáng chỉ có thể được phát ra hoặc bị hấp thụ theo những lượng rời rạc được gọi là các lượng tử (quanta). Một trong số các bài báo cách mạng của ông được viết năm 1905, khi ông còn làm việc ở văn phòng sáng chế, Einstein đã chứng minh rằng giả thuyết lượng tử của Plank có thể giải thích một hiệu ứng gọi là hiệu ứng quang điện, trong hiệu ứng này, các kim loại sẽ phát ra các điện tử khi bị ánh sáng chiếu vào. Hiệu ứng là là cơ sở của các đầu thu ánh sáng và vô tuyến, và cũng nhờ công trình này Einstein được trao giải Nobel vật lý.

Einstein tiếp tục nghiên cứu lý thuyết lượng tử cho đến những năm 1920, nhưng ông rất băn khoăn về công trình của Heisenberg ở Copenhagen, Paul Dirac ở Cambridge và Erwin Schrodinger ở Zurich, đó là những người đã phát triển một bức tranh mới về thực tại được gọi là cơ học lượng tử. Những hạt tí hon không còn có vị trí và tốc độ chính xác nữa. Thay vào đó, nếu người ta xác định vị trí của hạt càng chính xác bao nhiêu thì người ta càng khó xác định vận tốc của nó bấy nhiêu và ngược lại. Einstein rất khó chịu về những yếu tố ngẫu nhiên, bất định trong các định luật cơ bản và ông chưa bao giờ chấp nhận hoàn toàn cơ học lượng tử. Suy nghĩ của ông được thể hiện trong câu châm ngôn “Chúa không chơi trò xúc sắc”. Tuy vậy, phần lớn các nhà khoa học chấp nhận tính đúng đắn của lý thuyết lượng tử mới này bởi vì chúng đã giải thích được một loạt các hiện tượng khó hiểu trước đó và rất phù hợp với các quan sát. Các quy luật lượng tử là cơ sở cho sự phát triển của hóa học, sinh học phân tử, và điện tử hiện đại và là cơ sở cho nền công nghệ đã thay đổi thế giới trong 50 năm qua.

  1. Ngôi sao đang đốt cháy nhiên liệu hạt nhân làm cong không thời gian xung quanh nó.

  2. Khi ngôi sao co lại thì độ cong tăng lên

  3. Thời gian sẽ kết thúc trong một hố đen.

Tháng 12 năm 1932, nhận thấy Đức quốc xã và Hitler sắp lên nắm quyền, Einstein rời nước Đức và 4 tháng sau đó ông từ bỏ quyền công dân để giành trọn 20 năm cuộc đời còn lại của mình cho Viện nghiên cứu cấp cao ở Princeton, bang New Jersey.

Ở Đức, đảng Quốc xã đã tiến hành một chiến dịch chống lại “khoa học Do thái” và vì rất nhiều các nhà khoa học Đức là người Do thái, nên đây cũng là một nguyên nhân làm cho người Đức không chế tạo được bom nguyên tử. Einstein và thuyết tương đối của ông là đối tượng chính của chiến dịch này. Khi được hỏi về một cuốn sách được xuất bản với tiêu đề 100 tác giả chống lại Einstein thì ông trả lời: “Tại sao lại một trăm? Nếu tôi sai thì một cũng đủ”. Sau thế chiến hai, ông thúc giục các nước đồng minh thiết lập một tổ chức quốc tế kiểm soát bom nguyên tử. Năm 1948, ông được mời làm tổng thống của nhà nước Israel non trẻ nhưng ông đã từ chối. Một lần ông nói: “Chính trị là nhất thời, chỉ có các phương trình mới là vĩnh cửu”. Các phương trình thuyết tương đối của Einstein là tấm bia ghi nhận công lao của ông. Chúng sẽ tồn tại mãi mãi cùng vũ trụ.

Trong vài trăm năm qua, thế giới đã thay đổi nhiều hơn bất kỳ thế kỷ nào trước đó. Nguyên nhân không phải là các thành tựu về kinh tế hay chính trị mà là sự phát triển vượt bậc về công nghệ được xây dựng trên nền khoa học cơ bản. Vậy thì ai xứng đáng là biểu tượng cho sự tiến bộ đó hơn Einstein?

CHIA SẺ BÀI VIẾT

【#7】Chẩn Đoán Và Điều Trị Nmct

Published on

Chẩn đoán và điều trị NMCT

  1. 1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí nhồi máu cơ tim chúng tôi Hoàng Văn Sỹ Đại học Y Dược chúng tôi Khoa Tim Mạch Can Thiệp BVCR
  2. 2. Nội dung  Định nghĩa  Sinh bệnh học  Biểu hiện của nhồi máu cơ tim  Chẩn đoán  Điều trị
  3. 3. Định nghĩa nhồi máu cơ tim Định nghĩa toàn cầu lần thứ 3 về NMCT:  Về mặt bệnh học: sự chết tế bào cơ tim không hồi phục do thiếu máu cục bộ.  Về mặt lâm sàng: là một hội chứng được nhận diện bởi  Một loạt triệu chứng, trong đó đau ngực là triệu chứng nổi bật,  Thay đổi sinh hóa, ECG hay xét nghiệm hình ảnh chứng tỏ có tổn thương và hoại tử cơ tim. Thygesen K, et al. EHJ 2012;33:2551-2567
  4. 4. Định nghĩa nhồi máu cơ tim
  5. 5. Sinh bệnh học nhồi máu cơ tim Sự tiến triển mảng xơ vữa theo thời gian Bọt bào Vệt mỡ Tổn thương trung gian Xơ vữa Mảng sợi Tổn thương biến chứng Phát triển chủ yếu bởi tích tụ lipid Cơ trơn và collagen Huyết khối, tụ máu Rối loạn chức năng nội mạc Stary HC, et al. Circulation 1995;92:1355-1374
  6. 6. Sinh bệnh học nhồi máu cơ tim Phản ứng viêm đóng vai trò quyết định trong hội chứng mạch vành cấp Falk E et al. Circulation 1995;92:657-671. Libby P. Circulation. 1995;91:2844-2850. Lòng mạch Nội mạc Tiểu cầu Lõi giàu lipid Tế bào viêm Bao xơ mỏngBao xơ dày Ổn định Không ổn định
  7. 7. Sinh lý bệnh hội chứng mạch vành cấp  Huyết khối gây tắc không hoàn toàn hoặc hoàn toàn  Tắc nghẽn động học  Viêm hay nhiễm trùng động mạch vành  Tắc nghẽn cơ học Filippo Crea, et al. J Am Coll Cardiol. 2013;61(1):1-11
  8. 8. Mảng xơ vữa và huyết khối ĐM vành Goldstein JA, et al. N Eng J Med. 2000;343:915-922 Sang thương thủ phạm Nhiều mảng xơ vữa Nhiều mảng xơ vữa
  9. 9. Yếu tố nguy cơ xơ vữa huyết khối Adapted from Yusuf S, et al. Circulation. 2001;104:2746-2753. Drouet L. Cerebrovasc Dis. 2002;13(suppl 1):1-6. Lối sống * Thuốc lá * Chế độ ăn * Ít vận động Di truyền * Giống * PlA2 Rối loạn toàn thân * Tuổi * Béo phì Tình trạng toàn thân * THA * Rối loạn lipid máu * ĐTĐ * Tăng đông * Tăng homocystein máu Biểu hiện của xơ vữa huyết khối (NMCT, đột quỵ, tử vong do mạch máu) Viêm * Tăng CRP * CD40 Ligand, IL-6 * Prothrombotic factors (F I and II) * Fibrinogen Yếu tố tại chỗ * Lưu lượng máu tại chỗ * Lực xé * Kích thước mm * Cấu trúc thành mạch * Mức độ hẹp
  10. 10. Yếu tố nguy cơ xơ vữa huyết khối Yusuf S, et al. Lancet. 2004;364:937-52. Nghiên cứu INTERHEART: 52 nước, gồm Châu Phi, Châu Á, Úc, Châu Âu, Trung Đông, Và Nam Và Bắc Mỹ 9 yếu tố nguy cơ: 1. Hút thuốc 2. THA 3. Rối loạn lipid máu 4. ĐTĐ 5. Béo phì 6. Chế độ ăn 7. Hoạt động thể lực 8. Rượu 9. Tâm lý  Chiếm 90% nguy cơ NMCT cấp  Yếu tố có thể điều chỉnh  Tương tự trong hầu hết chủng tộc, giới trên thế giới
  11. 11. Các thể lâm sàng của hội chứng mạch vành cấp Huyết khối xơ vữa: quá trình bệnh lý toàn thân và tiến triển Huyết khối Đau thắt ngực ổn định Hội chứng mạch vành cấp: Đau thắt ngực không ổn định Nhồi máu cơ tim cấp Adapted from Libby P. Circulation 2001;104:365-372. Drouet L. Cerebrovasc Dis 2002;13(Suppl 1):1-6.
  12. 12. Các thể lâm sàng của hội chứng mạch vành cấp Adapted from Michael Davies Nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên Đau thắt ngực không ổn định Nhồi máu cơ tim cấp ST không chênh lên
  13. 14. Tầm quan trọng của nhồi máu cơ tim Nauta ST et al. PLoS One 2011;6:e26917 Prospective study of 3-year outcomes in a consecutive series of STEMI and NSTEMI patients NSTEMI, non-ST-segment elevation myocardial infarction; STEMI, ST-segment elevation myocardial infarction Overall log-rank: P<0.001 100 60 0 70 80 90 1 2 3 Năm TỷlệsốngcòntrênBNSTEMI(%) 87% 75% 73% Overall log-rank: P<0.001 100 60 0 70 80 90 1 2 3 Năm TỷlệsốngcòntrênBNNSTE-ACS(%) 88% 86% 85% 1985-1990 1990-2000 2000-2008
  14. 16. Triệu chứng cơ năng NMCT cấp Levin’s sign Hướng lan điển hình Các vị trí đau ngực New York Heart Associates, nyheart.net
  15. 17. Triệu chứng thực thể NMCT cấp  Nói chung ít giá trị để chẩn đoán xác định nhưng quan trọng giúp chẩn đoán phân biệt với bệnh khác, phát hiện biến chứng, tiên lượng bệnh, theo dõi bệnh.  Triệu chứng hay gặp: nhịp tim nhanh, tiến tim mờ, tiến ngựa phi, huyết áp tăng hay tụt, tiếng thổi mới ở tim, rối loạn nhịp, ran ẩm ở phổi, dấu hiệu suy tim , phù phổi cấp  Sau vài ngày có thể nghe tiếng cọ màng ngoài tim (hội chứng Dressler).
  16. 19. Điện tâm đồ Các tiêu chuẩn của chẩn đoán NMCT cấp trên ĐTĐ:  Bloc nhánh trái hoàn toàn mới xuất hiện. Trường hợp không có ĐTĐ cũ hay là bloc cũ nghĩ tới NMCT khi có ST chênh lên ≥ 1mm đồng hướng với QRS, hoặc ST chênh xuống ≥ 1mm ở V1, V2, V3 hoặc ST chênh lên ≥ 5mm và ngược hướng với QRS.  Trường hợp kèm bloc nhánh phải hoàn toàn: chẩn đoán trên ĐTĐ khó khăn. Nếu NMCT trước bên có thể thấy hình ảnh sóng T chênh đồng hướng với QRS ở V1-V4.  NMCT do tác động mạch mũ: không thấy biến đổi ST ở chuyển đạo thường quy. Cần làm thêm V7,V8,V9.  NMCT thất phải làm thêm V3R đến V6R.
  17. 21. Điện tâm đồ
  18. 22. Điện tâm đồ
  19. 23. Dấu ấn sinh học trong huyết thanh Lịch sử dấu ấn sinh học tim SGOT (AST) LDH CPK CPK isoforms by electrophoresis CK-MB by immunoinhibition Myoglobin Troponin T CK-MB Mass immunoinhibition Troponin I 1954 1955 1960 1972 1975 1985 1989 1992
  20. 24. Dấu ấn sinh học trong huyết thanh Biến động dấu ấn sinh học tim Giới hạn tham khảo trên* Ngày sau khởi phát NMCT cấp Sốlầncủagiờihạntrênthamkhảo Men tim trong NMCT cấp ST chênh lên 0 1 2 5 10 20 50 100 1 2 3 4 5 6 7 80 Troponin tim – không tái tưới máu Troponin tim – tái tưới máu CK-MB – tái tưới máu CK-MB – không tái tưới máu *99th bách phân vị của nhóm chứng tham khảo
  21. 26. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp Theo WHO 1971, chẩn đoán NMCT cấp đòi hỏi ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn sau: 1. Biểu hiện lâm sàng của đau ngực kiểu thiếu máu cục bộ. 2. Biến đổi động học trên ĐTĐ kiểu NMCT. 3. Biến đổi động học của men tim.
  22. 27. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp Định nghĩa toàn cầu về NMCT cấp năm 2012 (WHO/WHF/ESC/AHA/ACC 2012) Tăng và/hoặc giảm điển hình các chất dấu ấn sinh hóa của hoại tử tế bào cơ tim với ít nhất một giá trị trên 99 bách phân vị giới hạn trên và kèm ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau: a. Triệu chứng thiếu máu cục bộ. b. Xuất hiện sóng Q bệnh lý trên ECG. c. Thay đổi trên ECG cho thấy thiếu máu cục bộ điển hình (ST chênh lên hay chênh xuống). d. Có bằng chứng hình ảnh của mất tế bào cơ tim còn sống mới hay rối loạn vận động vùng mới. e. Có bằng chúng huyết khối trong lòng mạch vành qua chụp mạch vành hay giải phẫu tử thi. Thygesen K, et al. EHJ 2012;33:2551-2567
  23. 29. Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp Nhập viện Đau ngực Tiếp cận chẩn đoán Hội chứng mạch vành cấp ECG Men tim Chẩn đoán ST chệnh lên kéo dài Bất thường ST/T ECG bt/không xác định Troponin tăng/giảm Troponin bình thường NMCTCấp ST ↑ NMCT cấp ST không ↑ ĐTN không ổn định
  24. 33. Chẩn đoán phân biệt  Đau thắt ngực không ổn định  Nhồi máu mạch phổi  Tách thành động mạch chủ  Viêm cơ tim cấp  Viêm màng ngoài tim  Bệnh cấp cứu bụng: thủng dạ dày, cơn đau dạ dày cấp, viêm túi mật cấp, viêm tụy cấp,….
  25. 35. Phân tầng nguy cơ: Độ Killip Độ Killip Đặc điểm lâm sàng Tỷ lệ gặp (%) Tỷ lệ tử vong trong 30 ngày (%) I Không có triệu chứng suy tim trái 85 5,1 II Ran ẩm < ½ phổi, TM cổ nổi, có thể có T3 ngựa phi 13 13,6 III Phù phổi cấp 1 32,2 IV Sốc tim 1 57,8 Lee KL, et al. Circulation. 1995 ;91 (6):1659-68.
  26. 38. TIMI Risk Score và tỷ lệ biến cố Điểm TIMI Tỷ lệ biến cố: tử vong, NMCT mới hay tái phát, tái tưới máu mạch vành qua 14 ngày sau phân ngẫu nhiên, % 0-1 4,7 2 8,3 3 13,2 4 19,9 5 26,2 6-7 40,9 Antman EM, et al. JAMA 2000;284:835-42. Anderson JL, et al. J Am Coll Cardiol 2007;50:e1-e157
  27. 39. Thang điểm GRACE Thông số Điểm Tuổi cao 1,7 cho mỗi 10 tuổi Độ Killip 2,0 cho mỗi độ HA tâm thu 1,4 cho mổi 20 mmHg tăng Thay đổi ST 2,4 Có ngừng tuần hoàn 4,3 Mức creatinin 1,2 cho mỗi 1 mg/dL tăng Men tim tăng 1,6 Nhịp tim 1,3 cho mỗi 30 nhịp/ph tăng Eagle KA, et al. JAMA 2004;291:2727-33. Anderson JL, et al. J Am Coll Cardiol 2007;50:e1-e157 GRACE: global registry of acute coronary events
  28. 40. Thang điểm GRACE Eagle KA, et al. JAMA 2004;291:2727-33. Anderson JL, et al. J Am Coll Cardiol 2007;50:e1-e157 GRACE: global registry of acute coronary events
  29. 41. Cách tính thang điểm Risk Score Apps
  30. 42. Dùng thang điểm nào ? Độ chính xác dự báo của các thang điểm C-statistic (30 days) C-statistic (1 year) GRACE 0.672(0.627-0.714) 0.715(0.672-0.756) TIMI 0.551(0.504-0.597) 0.585(0.539-0.631) PURSUIT 0.615(0.569-0.660) 0.630(0.584-0.674) De Araujo Goncalves et al. Eur Heart J. 2005;26:865-72
  31. 43. Điều trị NMCT cấp  Đánh giá tình trạng bệnh nhân và nên chuyển tới cơ sơ có thể điều trị tái tưới máu  Đánh giá biến chứng nguy hiểm  Vận chuyển bằng xe cứu thương có nhân viên y tế đi cùng  Thực hiện biện pháp điều trị ban đầu
  32. 44. Điều trị ban đầu NMCT cấp  Bệnh nhân phải được bất động  Thở oxy: 2-4 lít/phút qua đường mũi  Giảm đau đầy đủ:  Morphin Sulphat: 2-4 mg TM, lập lại sau 5-10 phút nếu còn đau. Theo dõi nhịp thở và nhịp tim. Nếu nhịp chậm cho Atropin 0,5mg TM  Nitroglycerin: 0,4mg NDL, lập lại sau mỗi 5 phút. Cần theo dõi HA. Tiếp sau đó thiết lập đường truyền TM và truyền nitroglycerin với tốc độ 10 mcg/ph. Không cho nitrate nếu NMCT thất phải, có dùng sildenafil trước đó 24 giờ.
  33. 45. Điều trị ban đầu NMCT cấp  Cho ngay 2 thuốc chống ngưng tập tiểu cầu:  Aspirin: cho ngay bằng đường uống dạng hấp thu nhanh (nhai hay tán bột) hay bằng đường TM  Liều nạp: 300-325 mg  Liều duy trì hàng ngày: 75-150 mg  Nhóm ức chế thụ thể P2Y12:  Clopidogrel: liều nạp 300-600 mg, sau đó duy trì 75 mg mỗi ngày, hoặc  Ticagrelor: liều nạo 180 mg, sau đó duy trì 90 mg ngày 2 lần
  34. 46. Điều trị ban đầu NMCT cấp  Thuốc chống đông:  Heparin không phân đoạn: tiêm TM 65-70 đv/kg, sau đó duy trì 15-18 đv/kg.giờ. Chỉnh liều theo aPTT sao cho gấp 1,5 lần chứng (50-76 giây)  Heparin trọng lượng phân tử thấp: enoxaparin 1 mg/kg TDD 2 lần/ngày  Fondaparinux: 2,5 mg TDD ngày một lần (liều đầu tiêm TM)
  35. 47. Điều trị ban đầu NMCT cấp  Thuốc chẹn beta giao cảm: có thể cho sớm trong vòng 24 giờ của NMCT cấp nếu không có CCĐ. Nên chọn nhóm chọn lọc tim (metoprolol succinat, bisoprolol, carvedilol). Chú ý nên khởi đầu liều thấp.  Thuốc UCMC: cho trong 24 giờ đầu đường uống nếu HA không thấp và không có CCĐ. Captopril, lisinopril, enalapril,…  Statin cường độ mạnh: atorvastatin 40-80 mg; rosuvastatin 20- 40 mg mỗi ngày.  Khống chế tốt ĐTĐ: insuline truyền TM trong trường hợp đướng máu tăng nhiều có lợi giảm tử vong.  Thuốc chống loạn nhịp: không sử dụng một cách hệ thống phòng ngừa  Thuốc vận mạch (dobutamine, dopamine, noradrenaline): dùng khi có sốc tim.
  36. 49. Điều trị tái tưới máu NMCT cấp  Mục tiêu: tái tưới máu càng sớm càng tốt.  3 biện pháp điều trị tái tưới máu:  Thuốc tiêu sợi huyết  Can thiệp đặt stent mạch vành  Phẫu thuật bắc cầu mạch vành  Can thiệp đặt stent mạch vành  Phẫu thuật bắc cầu mạch vành NMCT ST chênh lên NMCT ST không chênh lên
  37. 50. Thời điểm tái tưới máu NMCT cấp  Chỉ định tái thông mạch vành trong vòng 12 giờ kể từ khi bắt đầu triệu chứng cho mọi bệnh NMCT cấp ST chênh lên.  Từ sau 12 giờ đến 24 giờ: tái thông nếu bệnh nhân vẫn còn triệu chứng của thiếu máu cơ tim tiến triển trên lâm sàng hay trên ĐTĐ.  Sau 24 giờ: không tái thông thường quy. Tái thông khi có biến chứng, ảnh hưởng huyết động, rối loạn nhịp, sốc tim, phù phổi,…nhóm bệnh nhân này chỉ định tái thông bất kể thời gian.
  38. 51. Lựa chọn biện pháp tái tưới máu nào ? Thuốc tiêu huyết khối hay can thiệp ĐMV thì đầu:  Nếu cơ sở có TMCT: can thiệp mạch vành thì đầu.  Nếu cơ sở không có can thiệp thì đầu:  Vận chuyển đến nơi có can thiệp không quá xa (tốt nhất không quá 120 phút).  Nếu quá xa trung tâm can thiệp: dùng thuốc tiêu huyết khối, nếu không có CCĐ.
  39. 54. Các loại thuốc tiêu sợi huyết O’Gara PT, et al. Circulation. 2013;127:00-00 Các thuốc đặc hiệu với fibrin  Alteplase (rt-PA): tiêm thẳng TM 15 mg, sau đó truyền TM 0,75 mg/kg (cho tới 50 mg) trong vòng 30 phút, tiếp theo 0,5 mg/kg (cho tới 35 mg) truyền TM trong 60 phút tiếp. Liều tối đa 100 mg trong 90 phút.  Reteplase (r-PA): tiêm thẳng TM 10 đơn vị trong 2 phút, sau đó 30 phút tiêm liều như vậy.  Tececteplase (TNK): khá đặc hiệu với fibrin, ít XH nội sọ hơn. Liều từ 30 – 50 mg tiêm thẳng TM. Các thuốc không đặc hiệu với fibrin  Streptokinase (SK): 1,5 triệu đv truyền TM trong vòng 60 phút.  Anistreplase (APSAC): 30 đv tiêm thẳng TM trong 2 phút.  Urokinase (UK): 3 triệu đv truyền TM trong vòng 60 phút. Thuốc tiêu huyết khối loại đặc hiệu: bắt buộc cho heparin trước và sau thuốc THK 4 giờ với liều 1000 đv/giờ trong 48-72 giờ.
  40. 55. Chỉ định can thiệp mạch vành cấp cứu NMCT ST chênh lên O’Gara PT, et al. Circulation. 2013;127:00-00 Tình huống Nhóm khuyến cáo Mức chứng cứ Triệu chứng TMCB <12g I B Triệu chứng TMCB <12g và chống chỉ định thuốc TSH I B Sốc tim hay suy tim cấp nặng bất kể thời gian khởi phát NMCT I B Bằng chứng còn thiếu máu trong 12-24g sau khởi phát IIa B
  41. 58. Lựa chọn biện pháp tái tưới máu nào ? Phẫu thuật cầu nối chủ vành cấp cứu:  Kháng trị hoặc choáng tim mà giải phẩu học của mạch vành không thích hợp cho kỹ thuật can thiệp hoặc can thiệp thất bại.  Có biến chứng cơ học: hở van 2 lá cấp, thủng vách liên thất, vỡ tim, phình vách thất.  Không nên chỉ định phẫu thuật cho NMCT thất phải vì ảnh hưởng tới quá trình chạy tim phổi nhân tạo.
  42. 59. Điều trị tiếp theo Các biện pháp chung:  Chế độ vận động: trong giai đoạn cấp hay chưa ổn định cần bất động tại giường. BN tái tưới máu tốt không còn đau ngực sau 12 giờ cho cử động nhẹ tại giường. Sau 24 giờ vận động nhẹ nhàng, sau 48 giờ đi bộ trong phòng.  Chế độ dinh dưỡng: trong giai đoạn cỏn đau nhiều có thể cho ăn qua đường TM. Chế độ an đủ năng lượng, ít cholesterol và muối. Tránh táo bón và nên cho thêm thuốc nhuận tràng.  An thần: hạn chế thăm hỏi. Lo lắng quá cho thuốc an thần.
  43. 60. Điều trị tiếp theo Các thuốc:  Kháng tiểu cầu kép: kéo dài ít nhất 12 tháng  Aspirin 75-150 mg/ngày và dùng lâu dài.  Thuốc kháng thụ thể P2Y12: clopidogrel 75 mg; ticagrelor 90 mg 2 lần; prasugrel 10 mg mỗi ngày.  Kháng vitamin K uống: khi có rung nhĩ hay huyết khối buồng tim  Nitrates: khi còn đau ngực  Chên beta giao cảm: tiếp tụ.c kéo dài sau NMCT. BN suy chức năng thất trái là bắt buộc; BN chức năng thất trái bảo tồn có thể dừng sau 3 năm.  UCMC: cho sớm trong 24 giờ đầu, khởi đầu liều thấp.  Điều trị tích cực yếu tố nguy cơ tim mạch.
  44. 61. Phục hồi chức năng sau NMCT Giai đoạn ở bệnh viện:  BN ổn định cần sớm phục hồi chức năng. N3 có thể đi lại nhẹ nhàng trong phòng. Giáo dục BN chế độ luyện tập, loại bỏ yếu tố nguy cơ, chế độ ăn uống, thuốc men hàng ngày. Giai đoạn ở nhà:  Đi bộ sớm tối thiểu 2-3 lần mỗi ngày, lần 20-30 phút và duy trì nhịp tim tăng không quá 20 nhịp so với lúc nghỉ.  Làm nghiệm pháp gắng sức.  Giáo dục BN về chế độ sinh hoạt và thuốc men.
  45. 62. Xin cám ơn quí đồng nghiệp đã lắng nghe

【#8】Tính Từ Trong Tiếng Anh: Phân Loại Và Cách Dùng

Định nghĩa, phân loại, ví trí và cách sử dụng tính từ sở hữu, tính từ miêu tả, tính từ chỉ thị….trong tiếng anh cũng như các giới từ đi kèm với tính từ đầy đủ nhất.

Tính từ trong tiếng anh là gì?

Tính từ (Adjective) là từ bổ trợ cho danh từhoặc đại từ, nó giúp miêu tả các đặc tính của sự vật, hiện tượng mà danh từ đó đại diện. Tính từ là những từ chỉ màu sắc, trạng thái, tính chất… Các tính từ này thường đứng trước danh từ để bổ nghĩa cho danh từ, làm cho ta hiểu thêm về danh từ.

Tính từ cũng thường đi sau một vài động từ như động từ “to be” hay “look”, “seem”, “appear”, “turn”…

VD: – We can’t go out because of the heavy rain.

– He is kind to us.

Một tính từ có thể đứng trước hoặc đứng sau danh từ hay đại từ mà nó mô tả.

Nhiều tính từ có thể được dùng để mô tả cho cùng một danh từ (khi có nhiều tính từ đứng trước và miêu tả về cùng 1 danh từ thì các tính từ sẽ sắp xếp theo trật tự là: opinion – size – shape – age – color – origin – material: quan điểm nhận xét về đối tượng danh từ – kích thước – hình dáng – tuổi tác – màu sắc – xuất xứ – chất liệu danh từ).

Nếu có nhiều tính từ miêu tả thì tính từ ngắn đứng trước tính từ dài, tính từ chỉ tinh thần trước tính từ chỉ vật chất.

Thứ tự sắp xếp của tính từ trong tiếng anh

Trật từ của tính từ trong tiếng anh được sắp xếp theo các vị trí như sau:

( be và các động từ như seem, look, feel..) She is tired. Jack is hungry. John is very tall.

* Sau danh từ: Tính từ có thể đi sau danh từ nó bổ trợ trong các trường hợp sau đây:

    Khi tính từ được dùng để phẩm chất/tính chất các đại từ bất định:

There is nothing interesting.

    Khi hai hay nhiều tính từ được nối với nhau bằng “and” hoặc “but”, ý tưởng diễn tả bởi tính từ được nhấn mạnh:

The writer is both clever and wise. The old man, poor but proud, refused my offer.

    Khi tính từ được dùng trong các cụm từ diễn tả sự đo lường:

The road is 5 kms long A building is ten storeys high

    Khi tính từ ở dạng so sánh:

They have a house bigger than yours The boys easiest to teach were in the classroom

    Khi các quá khứ phân từ là thành phần của mệnh đề được rút gọn:

The glass broken yesterday was very expensive

    Một số quá khứ phân từ (P2) như: involved, mentioned, indicated:

The court asked the people involved Look at the notes mentioned/indicated hereafter

* Hậu tố (đuôi) của tính từ trong tiếng anh

Thông thường các hậu tố thường gặp ở tính từ là: -able, -ible, -al, -tial, -ic, -y, -ful, -ous, -ive, -less, -ish, -ent, -ary VD: honorable, possible, national, economic, funny, useful, dangerous, expensive, colorless, childish, independent, necessary… Tính từ kết thúc là -ing và -ed:

    Loại tính từ này thường được cấu tạo từ động từ và sau đó thêm -ing và -ed

VD: surprise (v) à surprising (adj) – surprised (adj)

    Tuy nhiên có sự khác nhau giữa adj -ing và adj -ed

– ing adj: thường mang nghĩa chủ động (tác động tới cái gì đó, ai đó, có ảnh hưởng này), chỉ tính chất, bản chất, dùng để miêu tả nơi chốn, sự vật, sự việc, hành động. VD: She has an interesting film. – ed adj: thường mang nghĩa bị động (bị cái gì đó tác động lên, bị ảnh hưởng theo cách này), thường dùng để chỉ cảm xúc. VD: I feel bored when I listen to classical music.

Phân loại và cách sử dụng các loại tính từ trong tiếng anh

Tính từ trong ngữ pháp tiếng anh thường được phân thành 2 loại, tính từ theo chức năng và tính từ theo vị trí.

Phân loại và cách dùng tính từ theo chức năng

* Tính từ riêng: xuất phát từ một danh từ riêng

VD: Vietnam à Vietnamese France à French England à English Japan à Japanese

Lưu ý: những tính từ riêng phải viết hoa

* Tính từ miêu tả: những từ miêu tả hoặc định phẩm một danh từ Phần lớn tính từ đều thuộc loại này

VD: – a tall boy: một đứa trẻ cao

– a round ball: một quả bóng tròn

– a ptty girl: một em bé xinh

Các tính từ miêu tả thường được sắp xếp như sau: sự miêu tả tổng quát (bao gồm những tính từ chỉ cá tính và sự xúc cảm) – kích thước – hình dáng – màu sắc – nguồn gốc – chất liệu – mục đích (những từ này là danh động từ được dùng để hình thành danh từ kép: fishing rod (cần câu cá), sleeping bag (túi ngủ)…)

VD: – a small round bath: một cái chậu tắm tròn nhỏ

– a long sharp knife: một con dao sắc dài

– blue velvet curtains: những tấm màn nhung xanh

* Tính từ sở hữu: dùng để chỉ danh từ đó thuộc về ai

VD: – my house: ngôi nhà của tôi

– our garden: khu vườn của chúng tôi

– their grandparents: ông bà của họ

Lưu ý: khi chủ sở hữu là một đại từ bất định: one à hình thức sở hữu tính từ là one’s Chủ sở hữu là những từ như “everyone” hay những danh từ tập hợp thì tính từ sở hữu ở hình thức ngôi thứ ba số nhiều “their”

* Tính từ số mục: từ chỉ số đếm hoặc số thứ tự

VD:- one, two, three…: một, hai, ba

– first, second, third…: thứ nhất, thứ hai, thứ ba

– I am the second daughter in the family.

* Tính từ phân phối: từ không chỉ rõ các vật

VD:

– all: tất cả

– every: mọi – some: một vài, ít nhiều

– many, much: nhiều

– Each và every: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Every chỉ một tập thể, Each chỉ cá thể.

VD: – Each student must try his best.

– Every man knows what to do.

– Both: cả hai, dùng với động từ ở số nhiều.

VD: – Both the children play in the garden.

– Both his legs were broken.

– Either và Neither: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Either nghĩa là cái này hoặc cái kia trong số hai. Neither nghĩa là không cái này cũng không cái kia trong số hai.

VD: – Hedges ran on either side. (hàng rào chạy dài ở mỗi một bên đường.)

– Other, another : khác

– Neither answer is correct. (cả hai câu trả lời đều không đúng.)

VD: – You have to learn many other things. – Another boy has taken my

*Tính từ chỉ thị: từ đi với danh từ để chỉ cái này, cái kia Đây là loại tính từ duy nhất thay đối theo số của danh từ. This, That thay đổi thành These, Those khi đi trước danh từ số nhiều. This, vàThese được dùng cho các đối tượng, vật và người ở gần trong khi That và Those dùng cho các đối tượng ở xa hơn.

VD:

– this chair: cái ghế này;

– these chairs: những cái ghế này

– that child: đứa trẻ đó; those children: những đứa trẻ đó

* Tính từ liên hệ: từ có hình thức như đại từ liên hệ

VD: whichever, whatever

* Tính từ nghi vấn: từ dùng để hỏi

Tính từ nghi vấn chỉ có hai hình thức:

– In what place were you born?

    What (gì, nào) (nói chung) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật, ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

VD: – What boy beats you? (đứa trẻ nào đánh bạn?) – What books have you read? (những cuốn sách nào bạn đã đọc?)

    Which (gì, nào) (ngụ ý lựa chọn) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

VD: – Which book do you like best? (cuốn sách nào bạn thích nhất?) – Which friend do you pfer? (người bạn nào anh ưa hơn?)

Cách sử dụng và phân loại tính từ theo cách thành lập

* Tính từ phát sinh

* Tính từ đơn: long, blue, good, bad

– Thêm tiền tố: unhappy, inexpensive, impatient, irregular, asleep, illegal…

– Thêm hậu tố: thường cấu tạo từ một danh từ thêm các đuôi như y, ly, ful, less, en, like, able, al, an, ian, ical, ish, some, một động từ thêm đuôi ing, ed

VD: rainy, friendly, careful, wooden, musical, atomic, republican, honorable, troublesome, weekly, dreamlike, fairylike, quarrelsome, Southern, Northern, lovely, amazed, amazing…

* Tính từ ghép Tính từ ghép là sự kết hợp của hai hay nhiều từ lại với nhau và được dùng như một tính từ duy nhất. Khi các từ được kết hợp lại với nhau để tạo thành tính từ ghép, chúng có thể được viết:

VD: – life + long = lifelong – car + sick = carsick

    thành hai từ có dấu “-” ở giữa

VD: – world + famous = world-famous

Tính từ ghép thành lập theo những thể thức sau:

Cách viết tính từ ghép được phân loại như trên chỉ có tính tương đối.

VD: – dark-blue: xanh thẫm, xanh đậm

– wordly-wise: từng trải

VD: – coal-black: đen như than

– snow-white: trắng như tuyết

VD: – dark-eyed: có mắt huyền

– round-faced: có khuôn mặt tròn

VD: – snow-covered: có tuyết phủ

– handmade: làm bằng tay

VD: – newly-born: sơ sinh

– white-washed: quét vôi trắng

VD: – good-looking: trông đẹp mắt, ưa nhìn

– heart-breaking: làm tan nát cõi lòng

Ngoài ra còn có nhiều tính từ ghép được thành lập không theo một thể thức nào nhất định

VD:

– a heart-to-heart talk: một cuộc nói chuyện tâm sự

– a never-can-be-finished task: một việc không bao giờ làm xong

– a need-to-do list: một danh sách những việc cần làm

Các giới từ đi kèm với tính từ trong tiếng anh

Đi kèm theo cấu trúc: S + be + adj + giới từ + N / Ving (doing something)

VD: I am excited about the film. We are interested in learning English. Tùy từng tính từ sẽ có giới từ đi kèm cụ thể. Một số ví dụ về tính từ đi kèm với giới từ:

Afraid ofAware of Bad at / to Capable of Confident of Fit for Fond of Frightened at / of Good at / to Interested in Keen on Pleased with Prepared for Proud of Ready for Responsible for / to Sorry for / about Successful in Tired of

e ngại, lấy làm tiếcý thức được tồi, dở về / không tốt với có khả năng về tin chắc về thích hợp với thích khiếp đảm về giỏi về / tốt với quan tâm đến mê thích về hài lòng với sửa soạn cho tự hào về sẵn sàng để có trách nhiệm về/ với xin lỗi vì thành công về chán nản, mệt mỏi về

  • Cách dùng tính từ trong tiếng anh
  • danh sách tính từ trong tiếng anh
  • tính từ trong tiếng anh là gì
  • bài tập về trật tự tính từ trong tiếng anh
  • vị trí của tính từ trong tiếng anh
  • phân loại tính từ trong tiếng anh
  • trật từ tính từ trong tiếng anh
  • cách sắp xếp thứ tự tính từ trong tiếng anh

【#9】Thì Quá Khứ Đơn (Simple Past Tense)

Trong bài này,chúng ta sẽ tìm hiểu những kiến thức cơ bản về thì quá khứ đơn như cấu trúc, cách sử dụng,quy tắc khi thêm đuôi “ed” sau động từ cũng như các dấu hiệu nhận biết của thì này.

THÌ QUÁ KHỨ ĐƠN

I- THÌ QUÁ KHỨ ĐƠN VỚI ĐỘNG TỪ “TO BE”

Động từ “to be” ở thì quá khứ đơn có hai dạng là “was” và “were”.

S + was/ were

Trong đó: S (subject): chủ ngữ

S = I/ He/ She/ It (số ít) + was

S = We/ You/ They (số nhiều) + were

S + was/were + not

Đối với câu phủ định ta chỉ cần thêm “not” vào sau động từ “to be”.

– was not = wasn’t

– were not = weren’t

Were/ Was + S ?

Trả lời: Yes, I/ he/ she/ it + was. – No, I/ he/ she/ it + wasn’t.

Yes, we/ you/ they + were. – No, we/ you/ they + weren’t.

Câu hỏi ta chỉ cần đảo động từ “to be” lên trước chủ ngữ.

Yes, she was./ No, she wasn’t. ( Có, cô ấy có./ Không, cô ấy không.)

Yes, they were./ No, they weren’t. ( Có, họ có./ Không, họ không.)

II- CÔNG THỨC THÌ QUÁ KHỨ ĐƠN VỚI ĐỘNG TỪ THƯỜNG S + V-ed

Trong đó: S: Chủ ngữ

V-ed: Động từ chia thì quá khứ đơn (theo qui tắc hoặc bất qui tắc)

S + did not + V (nguyên thể)

Trong thì quá khứ đơn câu phủ định ta mượn trợ động từ “did + not” (viết tắt là “didn’t), động từ theo sau ở dạng nguyên thể.)

Did + S + V(nguyên thể)?

Trong thì quá khứ đơn với câu hỏi ta mượn trợ động từ “did” đảo lên trước chủ ngữ, động từ theo sau ở dạng nguyên thể.

– you Ho Chi Minh Museum with your class last weekend? ( Bạn có đi thăm bảo tàng Hồ Chí Minh với lớp của bạn cuối tuần trước hay không?)

Yes, I did./ No, I didn’t. ( Có, mình có./ Không, mình không.)

– he the train yesterday? ( Cậu ta có lỡ chuyến tàu ngày hôm qua hay không?)

Yes, he did./ No, he didn’t. ( Có, cậu ta có./ Không, cậu ta không.)

III- CÁCH SỬ DỤNG CỦA THÌ QUÁ KHỨ ĐƠN

Ta thấy “tối hôm qua” là một mốc thời gian trong quá khứ. Hành động “tới nhà hát” đã xảy ra tối hôm qua và kết thúc rồi nên ta sử dụng thì quá khứ đơn.

Ta thấy “cách đây 2 giờ” là thời gian trong quá khứ và việc “máy bay cất cánh” đã xảy ra nên ta sử dụng thì quá khứ đơn.

IV- DẤU HIỆU NHẬN BIẾT THÌ QUÁ KHỨ ĐƠN.

Trong câu có các trạng từ chỉ thời gian trong quá khứ:

– last night/ last week/ last month/ last year: tối qua/ tuần trước/ tháng trước/ năm ngoái

– ago: Cách đây. (two hours ago: cách đây 2 giờ/ two weeks ago: cách đây 2 ngày …)

V- CÁCH CHIA ĐỘNG TỪ Ở QUÁ KHỨ

– Thông thường ta thêm “ed” vào sau động từ.

– Ví du: watch – watched turn – turned want – wanted

* Chú ý khi thêm đuôi “-ed” vào sau động từ.

Ví dụ: type – typed smile – smiled agree – agreed

Ví dụ: stop – stopped shop – shopped tap – tapped

NGOẠI LỆ: commit – committed travel – travelled pfer – pferred

+ Động từ tận cùng là “y”:

– Nếu trước “y” là MỘT nguyên âm (a,e,i,o,u) ta cộng thêm “ed”.

Ví dụ: play – played stay – stayed

– Nếu trước “y” là phụ âm (còn lại ) ta đổi “y” thành “i + ed”.

Ví dụ: study – studied cry – cried

Có một số động từ khi sử dụng ở thì quá khứ không theo qui tắc thêm “ed”. Những động từ này ta cần học thuộc.

(Xem tại: http://tienganh247.info/bang-dong-tu-bat-quy-tac-irregular-verbs-a184.html)

Ví dụ: go – went get – got see – saw buy – bought

VI- BÀI LUYỆN TẬP CÓ LỜI GIẢI CHI TIẾT

1. My sister (get) married last month.

2. Daisy (come) to her grandparents’ house 3 days ago.

3. My computer (be ) broken yesterday.

4. He (buy) me a big teddy bear on my birthday last week.

5. My friend (give) me a bar of chocolate when I (be) at school yesterday.

6. My children (not do) their homework last night.

7. You (live) here five years ago?

8. They (watch) TV late at night yesterday.

9. Your friend (be) at your house last weekend?

10. They (not be) excited about the film last night.

A. don’t catch B. weren’t catch C. didn’t catch D. not catch

A. comes B. come C. came D. was come

A. was – got B. is – get C. was – getted D. were – got

A. do – do B. did – did C. do – did D. did – do

A. do – go B. does – go C. did – go D. did – went

VII- ĐÁP ÁN CÓ LỜI GIẢI CHI TIẾT

1. My sister (get) married last month. ( Em gái tôi đã kết hôn vào tháng trước.)

2. Daisy (come) to her grandparents’ house 3 days ago. ( Daisy đã đến nhà ông bà của cô ấy cách đây 3 ngày.)

3. My computer (be ) broken yesterday. ( Máy tính của tôi đã bị hỏng ngày hôm qua.)

4. He (buy) me a big teddy bear on my birthday last week. ( Cậu ấy đã mua cho tôi một con gấu bong rất to vào ngày sinh nhật của tôi tuần trước.)

5. My friend (give) me a bar of chocolate when I (be) at school yesterday.

6. My children (not do) their homework last night. ( Bọn trẻ đã không làm bài tập tối hôm qua.)

– 7. You (live) here five years ago? ( didn’t do ( Giải thích: Ta thấy “last night” là dấu hiệu của thì quá khứ đơn. Đây là câu phủ định nên ta mượn trợ động từ “did + not” (didn’t). Động từ “do” theo sau ở dạng nguyên thể.) Bạn đã sống ở đây cách đây 5 năm có phải không?)

8. They (watch) TV late at night yesterday. (Họ đã xem ti vi rất muộn đêm hôm qua.)

9. Your friend (be) at your house last weekend? ( Bạn của bạn đã ở nhà bạn cuối tuần trước đúng không?)

10. They (not be) excited about the film last night. ( Họ không hào hứng với bộ phim tối hôm qua.)

A. don’t catch B. weren’t catch C. didn’t catch D. not catch

C là đáp án đúng vì “yesterday” là dấu hiệu của thì quá khứ đơn, câu phủ định của thì quá khứ đơn: didn’t + V(nguyên thể).

A. comes B. come C. came D. was come

C là đáp án đúng vì “last night” là dấu hiệu thì quá khứ đơn. “Come” là động từ bất quy tắc “come – came”.

A. was – got B. is – get C. was – getted D. were – got

A. do – do B. did – did C. do – did D. did – do

D là đáp án đúng. “two days ago” là dấu hiệu của thì quá khứ đơn. Đây là câu hỏi nên mượn trợ động từ “did” đứng trước chủ ngữ. Động từ theo sau phải ở dạng nguyên thể là “do”.

A. do – go B. does – go C. did – go D. did – went

C là đáp án đúng. “last year” là dấu hiệu của thì quá khứ đơn. Câu hỏi ta mượn trợ động từ “did” đảo lên trước chủ ngữ. Động từ “go” theo sau phải ở dạng nguyên thể.

【#10】Các Thuật Ngữ Chuyên Ngành Ô Tô, Xe Tải

Thuật ngữ dành cho xe đua.

DNF

passive restraint

Nỉtogen Gas Khí nitơ

accelerometer Gia tốc kế???

solid propellant thuốc nổ đặc???

bursts Bung ra

deflating Làm xẹp đi

igniter Bugi hay là bộ phận kích hoạt???

Filter Bộ lọc

powdery substance Chất bột trong túi khí, thường được làm từ bột ngô, dùng để có thể xếp túi khí dễ dàng trong volang mà không làm các cạnh của túi khí bị dính vào nhau.

compssed gas khí nén

door-mounted air bags Túi khí cạnh nẹp trong cửa

Inflatable Tubular Structure (ITS) Kiến trúc Ống Phồng được???

air bag túi khí

sensor Bộ cảm ứng, dùng để chỉ định khi nào túi khí phồng lên. Túi khí hoạt động khi có một lực va chạm tương đương một chiếc xe đâm vào một bước tường ở vận tốc 16-24km/giờ.

inflator Hệ thống bơm, dùng bơm khí nitơ vào túi khí khi được kích hoạt, vận tốc để bơm kích hoạt là 322 km/giờ

2. Độ rộng mâm (Wheel Width). Đây là độ rộng của mâm, chính là khoảng cách giữa hai mép ngoài của mâm. Kích thước này thường tăng lên theo từng 1/2″ (tức là 7.5″, 8″).

3. Đường chính giữa mâm (Wheel Center). Đây là đường chính giữa của mâm tính theo độ rộng.

4. Offset. Là khoảng cách từ đường chính giữa mâm đến bề mặt tiếp xúc của mâm với trục bánh xe.

4.1 Offset bằng 0 (Zero Offset). Cho thấy bề mặt tiếp xúc này nằm trên đường chính giữa mâm.

4.3 Offset dương (Positive Offset). Cho thấy bề mặt tiếp xúc ở phía trước (hay ở bên ngoài) đường chính giữa mâm. Thường thấy loại này trên các xe chuyển động cầu trước. Mâm Tacoma là loại offset dương.

5. Backspacing. Khoảng cách từ bề mặt tiếp xúc đến mép phía trong của mâm. Con số này có quan hệ chặt chẽ với offset (không cần đo cũng có thể tính gần đúng chỉ số backspacing với công thức + [khoảng 1/4″]).

6. Centerbore. Centerbore của mâm là kích thước lỗ trống phía sau của mâm giúp đặt mâm ngay ngắn vào trục bánh xe. Lỗ trống này được tiện chính xác để vừa khít vào trục bánh xe giúp bánh ngay ngắn, giảm thiểu nguy cơ rung lắc. Con số này khá quan trọng đối với việc clear the hubs của xe 4WD.

7. Vòng bulông (Bolt Circle). Còn được gọi là PCD (Pattern Circle Diameter). Vòng bulông thể hiện đường kính của vòng tròn tưởng tượng đi qua điểm chính giữa của các lỗ lắp bulông. Vòng bulông Tacoma 4×2: 5 trấu trên một PCD 4.5″; Vòng bulông Tacoma 4×4/Prerunner: 6 trấu trên một PCD 5.5″.

Bead Bundle

Wheel rim vành bánh

Body

polyester cord

steel-belted radial

Radial tire

Diagonal bias tire

Belts

Cap Plies

Sidewall

body plies

Tread Talông

traction

polyester cord

green tire

curing machine

vulcanizing lưu hóa để xử lý cao su

Tire Type Loại lốp

P (passenger vehicle tire) cho xe du lịch

LT (light truck) cho xe tải nhẹ

T (temporary, spare tire) lốp dự phòng

Tire Width Độ rộng, chiều rộng (235 là chiều rộng tính theo millimet (mm) đo từ mép lốp bên này tới mép bên kia

Aspect Ratio Tỷ lệ tương ứng cho biết chiều cao của lốp tính từ mép trong tới talông so với chiều rộng của lốp. Ví dụ nếu tỷ lệ này là 75% chiều rộng lốp 235 tương đương với 176.25 mm = 0.75 x 235 = 6.94 in.

Tire Construction cấu trúc lốp

R = radial construction bố xuyên tâm, loại phổ thông nhất

D = diagonal bias

B = bias belted

Rim Diameter

uniform tire quality grading (UTQG) system

Tread Wear

Temperature (A, B, C) Khả năng làm nguội lốp đo theo nhiệt độ, chia thành 3 mức

Load Rating Chỉ số tải trọng. Tính tải trọng chịu được tùy theo độ căng của lốp. Ví dụ 105 tương đương tải trọng 2039 pounds = 924.87 kg

Speed Rating Chỉ số tốc độ. Tốc độ nhanh nhất của lốp khi được thiết kế sẽ đo bằng chỉ số này.

Ví dụ: Tính đường kính của lốp xe khi không có tải.

Tire height = 235 x 75 percent = 176.25 mm (6.94 in)

Đường kính lốp xe = 2 x chiều cao + đường kính larang (15in)

2 x 6.94 in + 15 inches = 28.9 in (733.8 mm)

Severe Snow Use

Mud and Snow Designation: MS, M+S, M/S hoặc M&S

contact patch vùng mặt lốp tiếp xúc với mặt đường

Underinflation/underinflated non hơi

Overinflation quá căng hơi

overloaded quá tải

Severe Snow Use Dùng trong điều kiện tuyết quá nhiều

coefficient of rolling friction (CRF) Hệ số ma sát lăn

elastic đàn hồi

friction ma sát

coefficient of rolling friction (CRF)

Misalignment Mất cân bằng

Hydroplaning Hiện tượng trơn trượt gây ra bởi một lớp nước mỏng giữa lốp xe và mặt đường

NUMBER

2V – Two (Venturi) Valve (two barrel carburetor) – 2 Van

2WS – Two Wheel Steer – Điều khiển được 2 bánh

3GR – Third Gear – Số thứ 3

4GR – Fourth Gear – Số thứ 4

4EAT – Four speed Electronic Automatic Transmission – Hộp số tự động bốn tốc độ

4R70W – Four speed, Rear wheel drive, (up to) 700 lb/ft torque rated, Wide ratio – Bốn tốc độ, Truyền động cầu sau, (đạt tới) mô-men xoắn 700 Pao/feet, tỷ số tryền lớn

4R100 – Four speed, Rear wheel drive, (up to) 1000 lb/ft torque rated – Bốn tốc độ, Truyền động cầu sau, (đạt tới) mô-men xoắn 1000 Pao/feet

4V – Four (Venturi) Valve (four barrel carburetor) – Bốn Van

4WAL – Four Wheel Antilock – Chống hãm cứng bốn bánh

4WAS – Four Wheel Air Suspension – Hệ thống treo đệm khí bốn bánh

4WD – Four Wheel Drive – Truyền động bốn bánh

4WS – Four Wheel Steer – Điều khiển được bốn bánh

5R55W – Five speed, Rear wheel drive, (up to) 550 lb/ft torque rated, Wide ratio – Năm tốc độ, Truyền động cầu sau, (đạt tới) mô-men xoắn 550 Pao/feet

Từ điển viết tắt

A

Abrasive wear: mòn do mài mòn – Tổn hại bề mặt do tiếp xúc trượt với các mảnh cứng của các chất lạ

Adhesive wear: mòn do chất dính – Tổn hại bề mặt do tiếp xúc chà xát kim loại với kim loại. Những đặc điểm không đều cực nhỏ của bề mặt gắn lại với nhau, rồi tách ra do trầy hay xước ở một hay cả hai bề mặt khi tiếp xúc.

Anti-fraction bearings: đệm kháng ma sát – Các thiết bị giảm ma sát dùng các thành phần tiếp xúc lăn giữa các bề mặt đánh cặp như bi hay trục lăn.

A – Amperes – Am-pe

A-6 – Axial 6 cylinder A/C compssor

AALA – American Automobile Labelling Act – Điều luật dán nhãn xe hơi của Hoa kỳ

AAT – Ambient Air Temperature – Nhiệt độ môi trường

ABARS – Automobile Backward Automatic Ranging System – Hệ thống xếp loại tự động cho xe hơi theo thứ tự giảm dần

ABC – Active Body Control – Kiểm soát thân xe chủ động

ABS – Anti-lock Brake System – Hệ thống chống bó cứng phanh/thắng

AC – Alternating Current – Dòng điện xoay chiều

A/C – Air Conditioning – Điều hòa nhiệt độ/máy lạnh

ACC – Adaptive Cruise Control – Kiểm soát hành trình

ACC – Air Conditioning Clutch

ACC – Automatic Climate Control – Tự động điều chỉnh nhiệt độ

ACCEL – Acceleration – Gia tốc

ACCS – Air Conditioning Cyclic Switch – Phím điều khiển toần hoàn điều hòa/máy lạnh

ACCUM – Accumulator – Ắc-qui

ACCY – Accessory – Phụ kiện/đồ chơi

ACD – Air Conditioning Demand

ACE – Active Cornering Enhancement – Nâng cao chủ động khi vào cua/rẽ

ACL – Air cleaner – Máy hút bụi

ACM – Airbag Control Module – Mô-đun điều khiển túi khí

ACM – Audio Control Module – Mô-đun điều khiển hệ thống âm thanh

ACR4 – Air Conditioning Refrigerant, Recovery, Recycling, Recharging – Đông lạnh, phục hồi, tái chế, nạp lại điều hoà/máy lạnh

ACON – Air Conditioning On – Bật/mở điều hoà/máy lạnh

ACP – Air Conditioning Pressure – Áp suất điều hoà/máy lạnh

ACT – Actual – thực tế

ACT – Air Charge Temperature – Nhiệt độ khí nạp

ACTV – Activate – Kích hoạt

ACV – (thermactor) Air Control Valve – Van điều áp khí

A/D – Analog to Digital – (chuyển từ) Lý học sang Số học

AD – Accommodated Device – Thiết bị điều tiết

ADAPT – Adaptive – tính nắn dòng

ADAPTS – Adapters – Nắn dòng

ADAS – Advanced Driver Assistance System – Hệ thống trợ giúp người lái tiên tiến

ADBV – Anti Drainback Valve – Van chống chảy ngược

ADC – Automatic Distance Control – Kiểm soát khoảng cách tự động

ADG – Accommodated Device Gateway

ADJ – Adjust – Điều chỉnh

ADL – Automatic Door Lock – Khoá cửa tự động

ADS – Auxiliary Discriminating Sensor – Cảm biến nhận dạng phụ

ADU – Analog-Digital Unit – Thiết bị chuyển từ cơ học sang số học

AECM – Airbag Electronic Control Module – Mô-đun điều khiển điện tử cho túi khí

A/F – Air Fuel Ratio (see also AFR) – Tỷ lệ không khí & nhiên liệu

AFC – Air Flow Control – Kiểm soát dòng khí

AFC – Air Fuel Control – Kiểm soát tỷ lệ không khí – nhiên liệu

AFCD – Advanced Frontal Crash Dummy – Hình nhân thử va chạm tân tiến

AFCM – Alternate Fuel Control Module – Mô-đun điều khiển nhiên liệu thay thế

AFECM – Alternate Fuel Engine Control Module – Mô-đun điều khiển động

cơ dùng nhiên liệu thay thế

AFL (adaptive forward lighting) Đèn pha mở dải chiếu sáng theo góc lái.

AFO – Alternate Fuel Operation – Vận hành bằng nhiên liệu thay thế

AFR – Air Fuel Ratio (see also A/F) – Tỷ lệ không khí & nhiên liệu

AFT – After – Sau

AGSP – Auxiliary Gauge Switch Pack

AGVS – Automated Guided Vehicle System – Hệ thống điều khiển xe tự động

AHLD – Automatic Headlamp Leveling Device – Thiết bị điều chỉnh độ chúc của đèn pha tự động

AHR – Active Head Restraint – Tựa đầu

ahrs – Amp Hours – Am-pe Giờ

AHS – Active Handling System – Hệ thống xử lý chủ động

AIM – Automotive Interior Material – Vật liệu nội thất xe hơi

AIR – Air Injection Reaction (Secondary air injection) – Phản ứng phun khí (phun khí phụ)

AIRB – Secondary Air Injection Bypass – Lỗ phun hơi đốt phụ

AIRD – Secondary Air Injection Diverter – Chuyển hướng phun hơi đốt phụ

AIS – Automatic Idle Speed – Tốc độ không tải tự động

ALC – Automatic Lamp Control – Điều khiển đèn tự động

ALC – Automatic Level Control – Điều khiển mức độ tự động

ALCL – Assembly Line Communications Link (replaced with DLC) – Liên kết giao tiếp dây chuyền sản xuất

ALDL – Assembly Line Data Link (replaced with DLC) – Liên kết dữ liệu dây chuyền sản xuất

ALM – Adaptive Learn Matrix – Ma trận học thích ứng

ALR – Automatic Locking Retractor – Tự động khóa

Alt – Alternative – Luân phiên

ALT – Alternator (replaced with GEN) – Máy phát điện

AM – Amplitude Modulation – Điều biến biên độ

AMB – Ambient – Môi trường xung quanh

AMP – Amplifier – Âm ly/Máy khuyếch đại

AMPS – Amperes or Amperage – Am-pe hoặc viết tắt của am-pe

AMS – Automatic Music Search – Dò nhạc tự động

AMT – Automated Manual Transmission – Hộp số cơ khí bán tự động

AOD – Automatic Overdrive – Ép tăng tốc tự động

AODE – Automatic Overdrive Electronic (transmission) – Ép tăng tốc điện tử tự động (hộp số)

AODE-W – Automatic Overdrive Electronic – Wide ratio (transmission) – Ép tăng tốc điện tử tự động – tỷ số lớn (hộp số)

AOS – Automatic Occupant Sensing – Cảm biến ngồi ghế tự động

AP – Accelerator Pedal – Chân ga

APP – Accelerator Pedal Position – Vị trí chân ga

APADS – Air Conditioning Protection and Diagnostic System – Hệ thống bảo vệ & chẩn đoán điều hoà/máy lạnh

APECS – Advanced Proportional Engine Control System

API – American Petroleum Institute – Học viện Hoá dầu Hoa kỳ

APT – Adjustable part Throttle – Van bướm điều chỉnh đựoc

ARC – Active Roll Control – Kiểm soát chủ động độ lắc

ARC – Automatic Ride Control – Kiểm soát lái tự động

ARS – Adaptive Receptive System

ARS – Automatic Restraint System – Hệ thống giữ tự động

ARTS (adaptive restraint technology system) Hệ thống điện tử kích hoạt gối hơi theo những thông số cần thiết tại thời điểm xảy ra va chạm.

ASA – Air Signal Attenuator – Tín hiệu suy giảm không khí

ASARC – Air Suspension Automatic Ride Control – Kiểm soát lái tự động cho hệ thống nhún khí

ASC – Anti Stall Control – Kiểm soát chống chết máy

ASD – Automatic Shutdown – Tự động ngừng hoạt động

ASF – Audi Space Frame – Khung không gian Audi

ASG – Automatic-Shift Gearbox – Hộp chuyển số tự động

ASM – Acceleration Simulation Mode – Chế độ kích thích tăng tốc

ASM – Air Solenoid Module – Mô-đun solenoid khí

ASM – Alarm Siren Module – Mô-đun cảnh báo tăng cấp

asm – Assembly – Lắp ráp

ASR – Acceleration Slip Regulation – Trượt khi tăng tốc

ASSYST – Active Service System – Hệ thống bảo trì chủ động

ASTC – Automatic Stability and Traction Control

ASTM – American Society for Testing and Materials – Tổ chức Vật liệu & Thử nghiệm Hoa kỳ

A/T – Automatic Transmission/Transaxle – Hộp số tự động

ATC – Automatic Temperature Control – Điều chỉnh nhiệt độ tự động

ATDC – After Top Dead Center

ATF – Active Transfer Case – Bộ chuyển đổi

ATF – Automatic Transfer Case – Bộ chuyển đổi tự động

ATF – Automatic Transmission Fluid – Dầu/nhớt hộp số tự động

ATM – Actuator Test Mode – Chế độ khởi động máy kiểm tra

ATTS – Advanced Torque Transfer System – Hệ thống chuyển đổi mô-men xoắn tân tiến

ATX – Automatic Transaxle – Truyền lực tự động

AWD – All Wheel Drive – Điều khiển mọi bánh

AWG – American Wire Gage

AYC – Active Yaw Control – Kiểm soát sự trệch đường chủ động

AXOD – Automatic Overdrive Transaxle – Ép truyền lực tự động

AXOD-E – Automatic Overdrive Transaxle – Electronically Controlled – Ép truyền lực tự động – kiểm soát điện tử

B

Backlash: khe hở – chỗ hở, hay “xộc xệch” giữa hai bánh răng khi cài vào nhau.

Banded V-Belts: các đai chữ V kết dải – nhiều đai chữ V luôn được lưu hóa với dải buộc.

Bearings: đệm – xem anti-fraction bearings và journal bearings.

Bearing plates: các tấm đệm – thành phần trong truyền động thủy tĩnh hay bơm thuỷ lực.

Bore: nòng – bề mặt trong của lỗ xylanh.

Brinelling: chai cứng – tác động của một miếng kim loại bị ép vào miếng khác làm suy giảm thành lớp trên một hay hai bề mặt tiếp xúc.

BA (brake assist) Hệ thống hỗ trợ phanh gấp.

C

Camshaft: trục cam/ trục phân phối – trục chứa cam để điều hành các van máy.

Carbon deposits: các chất lắng cacbon- những chất lắng đóng cứng trên các bề mặt hình thành trên các bộ phận của máy do sự đốt cháy khí.

Carburization: cabon hóa – thêm cacbon vào bề mặt các bộ phận bằng thép, do xử lý bằng nhiệt, để tăng độ cứng giúp tăng cường sự đề kháng hao mòn và độ bền. Một dạng làm cứng vỏ thường được ứng dụng cho các bánh răng chịu tải cao.

Case crushing: ép vỏ – ép bề mặt ngoài (vỏ) của bánh răng để làm cứng vỏ nhờ xử lý bằng nhiệt.

Cavitation damage: tổn hại do sùi – rỗ bề mặt kim loại.

Chains: xích – chuỗi linh hoạt các mắt xích kim loại, hay các vòng phù hợp với nhau.

Chemical corrosion: mòn do hóa chất – tổn hại bề mặt do tiếp xúc với hóa chất hay khí – như sự gỉ sét của thép khi tiếp xúc với không khí ẩm hay nước.

Cold flow: dòng lạnh – sự chuyển động của kim loại dưới áp lực cao trong nhiệt độ bình thường.

Contamination: sự dơ – chất lạ có thể làm hư bộ phận.

Corrosion: sự ăn mòn – xem chemical corrosion.

Crankshaft: trục quay – trục truyền động chính của máy làm biến đổi chuyển động qua lại thành chuyển động quay bằng các tay quay.

Crush: sự ép – điều kiện trong các đệm ngõng trục. Mỗi nửa của đệm gài vào phải trải ra một tổng rất nhỏ bên kia các cạnh rẽ của thanh kéo và chỏm thanh kéo. Khi các vít nắp hay các bu lông thanh kéo được xiết chặt, các nửa đệm được ép vào nòng cho thật vừa vặn.

Cylinder block: vỏ xy lanh – vỏ của máy, bơm thuỷ lực hay động cơ thuỷ lực chứa các nòng xylanh cùng các thành phần chức năng khác.

Cylinder bore: nòng xy lanh – mặt bên trong của đường trong vỏ xylanh để pittông di chuyển trong đó.

Cylinder bore bushing: ống lót nòng xy lanh – ống bọc ngoài hay ống giữa pittông và vỏ xy lanh trong chuyển động thủy tĩnh.

Cylinder head: đầu xy lanh – phần của máy được chốt vào vỏ xy lanh làm thành đầu đóng của buồng cháy. Nó chứa các van và các đường dẫn nhiên liệu, không khí, khí thoát và nước làm mát.

Cylinder liner: lớp lót xy lanh – ống bọc ngoài có thể thay thế ống được cài vào vỏ xy lanh để làm nòng xy lanh trong máy mới lại.

Cabriolet: Kiểu xe coupe mui xếp.

CATS (computer active technology suspension): Hệ thống treo điện tử tự động điều chỉnh độ cứng theo điều kiện vận hành.

Conceptcar: Một chiếc xe hơi hoàn chỉnh nhưng chỉ là thiết kế mẫu hoặc để trưng bày, chưa được đưa vào dây chuyền sản xuất.

Coupe: Kiểu xe thể thao giống sedan nhưng chỉ có 2 cửa.

CVT (continuously vriable transmission): Cơ cấu truyền động bằng đai thang tự động biến tốc vô cấp.

D

Detonation: sự nổ – sự cháy không kiểm soát được được đi kèm bởi sự mất lực và tiêu hao năng lượng.

Drive belt: đai truyền động -đai được dùng để truyền lực giữa puli truyền động và puli được truyền động

Dạng động cơ I4, I6 Gồm 4 hoặc 6 xi-lanh xếp thành 1 hàng thẳng.

Dạng động cơ V6, V8 Gồm 6 hoặc 8 xi-lanh, xếp thành 2 hàng nghiêng, mặt cắt cụm máy hình chữ V.

DOHC (double overhead camshafts): 2 trục cam phía trên xi-lanh.

DSG (direct shift gearbox): Hộp điều tốc luân phiên.

E

Electrical pits: lỗ do điện – dùng điện cắt bỏ/khoét một phần nhỏ của các bề mặt tiếp xúc.

Erosion: sự ăn mòn – mòn bề mặt do cà vào những mảnh làm trầy có trong khí hay chất lỏng.

EBD (electronic brake-force distribution): Hệ thống phân bổ lực phanh điện tử.

EDC (electronic damper control): Hệ thống điều chỉnh giảm xóc điện tử.

EFI (electronic fuel Injection): Hệ thống phun xăng điện tử.

ESP (electronic stability program): Hệ thống tự động cân bằng điện tử.

F

Fatigue: mỏi/giảm sức chịu đựng của kim loại – do phải chịu mãi những sức căng gây hư hỏng ở phần sử dụng.

Fit rust: gỉ do sít quá – hậu quả của sự chạy ngoài của bạc kháng ma sát quá sít với vỏ của nó. Một dạng mòn.

Flaking: mảnh vụn – các lớp mỏng rời ra từ bề mặt của bộ phận bằng kim loại.

H

Hatchback: Kiểu sedan có khoang hành lý thu gọn vào trong ca-bin, cửa lật phía sau vát thẳng từ đèn hậu lên nóc ca-bin với bản lề mở lên phía trên.

Hard-top: Kiểu xe mui kim loại cứng không có khung đứng giữa 2 cửa trước và sau.

Hybrid: Kiểu xe có phần động lực được thiết kế kết hợp từ 2 dạng máy trở lên. Ví dụ: xe ôtô xăng-điện, xe đạp máy…

I

iDrive: Hệ thống điều khiển điện tử trung tâm.

IOE (intake over exhaust): Van nạp nằm phía trên van xả.

Minivan: Kiểu hatchback có ca-bin kéo dài trùm ca-pô, có từ 6 đến 8 chỗ.

OHV (overhead valves): Trục cam nằm dưới và tác động vào van qua các tay đòn.

Pikup: Kiểu xe hơi 4 chỗ có thùng chở hàng rời phía sau ca-bin (xe bán tải)

Sedan: Loại xe hòm kính 4 cửa, ca-pô và khoang hành lý thấp hơn ca-bin.

SOHC (single overhead camshafts): Trục cam đơn trên đầu xi-lanh.

SUV (sport utility vehicle): Kiểu xe thể thao đa chức năng, hầu hết được thiết kế chủ

động 4 bánh và có thể vượt những địa hình xấu.

SV (side valves): Sơ đồ thiết kế van nghiêng bên sườn.

Turbo: Thiết kế tăng áp của động cơ.

Turbodiesel: Động cơ diesel có thiết kế tăng áp.

Universal: Kiểu sedan có ca-bin kéo dài liền với khoang hành lý.

V

Van: Xe hòm chở hàng.

VSC (vehicle skid control): Hệ thống kiểm soát tình trạng trượt bánh xe.

VVT-i (variable valve timing with intelligence): Hệ thống điều khiển van nạp nhiên liệu biến thiên thông minh.

Idle and fast idle : Cầm chừng và cầm chừng nhanh (khi máy nguội!)

Fast idle unloader : Cầm chừng nhanh không tải ( không điều hoà!)

Idle Control System : hệ thống hồi tiếp Cầm chừng (chỉ có ở những CHK hồi tiếp điện tử!)

Early Fuel Evaporation (EFE) : Xông nóng hoà khí nạp ( CHo Nhiên liệu kịp hoá hơi trước khi nạp vào buồng đốt !)

Exhaust Gas Recirculation (EGR) Hệ thống Tuần hoàn KHí thải

Anti Afterburn Hệ thống chống hiện tượng “nổ Lép” tức hoà khí cháy ở ống xả….!

Main – Mạch chính – cung cấp nhiên liệu với tỉ lệ tối ưu khi chạy đường trường

Idle – Mạch cầm chừng (ga răng ti) – khi động cơ không tải

Acceleration – Mạch tăng tốc – cung cấp thêm nhiên liệu khi người lái chớm đạp ga để xe “vọt” hơn

Load- Mạch tải nặng – cung cấp nhiên liệu giàu xăng hơn khi xe lên dốc cao hoặc kéo rờ mọoc

Accu : ắc-quy ; bình điện

Bielle : thanh chuyền,tay biên,biên ; tay dên,dên

Bille : bi ; “đạn”

Bougie : bu-gi

Calandre : ca-lăng ; mặt nạ trước mũi xe hơi

Camion : xe cam-nhông, xe tải bự = truck,lorry

Camionnette : xe tải nhỏ = xe pick up

Capot : nắp ca-pô

Cardan : khớp cạc-đăng

Caravane : đoàn lữ hành

Ceinture : dây đai an toàn (seat-belt)

Chaine : dây xích ; dây sên

Chambre à air : buồng chứa không khí = cái săm ; cái ruột bánh xe.

Charger : nạp vào (điện-xăng-đạn…) ; sạc điện vô

Coffre : cốp sau đuôi xe du lịch 4 cửa – 2 cửa ; cái cốp đựng găng tay trước mặt phụ xế

Code : đèn cốt ( pha – cốt )

Courroire : dây cu-roa

Culass : nắp quy-lát ; nắp cu-lát

Cylindre : nòng, cái xy-lanh

Cylindree : dung tích xy-lanh

Démarreur : cái đề khởi động máy

Dérailleur : cái đề rai dơ sang líp xe đạp

Dynamo : đi-na-mô

Embrayge : cái ly hợp ; am-b-rai-da

Enveloppe : cái bao,cái bọc = cái lốp xe ; cái vỏ bánh xe

Fourche : cái phuộc xe 2 bánh để gắn bánh trước (không hiểu sao VN lại gọi ống nhún cũng là phuộc ?! )

Frein : cái phanh ; cái thắng

Garde boue : cái chắn bùn ; cái vè xe

Garde chaine : cái đậy xích ; cái cạc-te che dây sên

Gazole , gazoline (chú ý chữ z ) : dầu diesel (D.O)

Guidon : ghi-đông,tay lái xe 2 bánh

Marche en arrierre : đi thụt lui ; de xe

Phare : hải đăng ; đèn pha xe (pha-cốt)

Piston : pít-tông

Point mort : điểm chết , số mo ,vị trí N

Pointu : cái poăng-tu = cây kim xăng trong bình xăng con (bộ chế hòa khí,carburateur)

Pot d’échappment : Cái ống bô , ống xả khí thải

Porte bagage : cái póoc-ba-ga ; bọt-ba-ga

Ressort : lò xo xoắn

Signal : làm dấu , ra hiệu ; đèn xi-nhan

Soupape : xú-páp ; xú-bắp

Tableau de bord : bảng đồng hồ táp-lô trước mặt tài xế

Tambour : cái trống thắng, cái tam-bua

Frein à tambour : thắng xài tam-bua

Frein à disque : thắng dĩa

Automobile : xe hơi

Bac : chiếc phà (bắc Vàm cống = phà Vàm cống)

Bobine : cái bô bin biến điện, có dây cắm vô nắp Delco

Boulon : con bù-loong

Deux chevaux = 2 CV = 2 mã lực , thường đề chỉ xe Citroen 2 CV

Cas : trường hợp,vấn đề,cảnh ngộ (một ca vượt đèn đỏ v.v…)

Cabine : ca-bin

Câble : sợi dây cáp

Cabriolet : xe hơi mui trần,thường là 2 cửa 4 chỗ

Carte de visite : cạc vi-sít

Clé hoặc clef : chìa khóa ; cái cờ-lê

Contact : cái công tắc

Décapotable : xe có mui có thề hạ xuống được

Départ : đề-pa

Doubler : xe qua mặt xe khác vượt lên trước

Essence : xăng

Fil : sợi dây kim loại, thường để chỉ mấy sợi dây từ nắp Delco ra từng bu-gi (xe xưa)

Flic : 1 anh cớm ( cảnh sát )

Garage : xưởng sửa chữa xe hơi ; nhà để xe,thường ở trong khuôn viên nhà chủ xe. (nhưng VN hay dùng từ này để chỉ xưởng sửa chữa xe hơi )

Joint : miếng đệm, gioăng máy

Kebab : cục thịt cừu hay thịt bò nướng bằng xiên,Pháp cũng như Anh,hi hi…

Litre : lít

Mètre : mét

Molette : cái mỏ lết

Pédale : cái pê đan

Pompe : ống bơm (danh từ)

Pomper : bơm (động tử)

Remorque : cái rờ-mọoc

Retour : sự trở về điểm xuất phát : 1 rờ-tua SG-Cần Thơ = khứ hồi SG-CThơ-SG

Secours : dự phòng = bánh xơ-cua

Tapis : tấm thảm lót sán xe , tấm ta-pi

Tour : đường vòng , làm 1 tua = đi 1 vòng

Tournevis : cái tuột-nơ-vít

Traction avant : xe chạy cầu trước (chữ này đã có trong bài Lịch Sử Citroen, mục xe cổ)

Traction arriere : xe chạy cầu sau (trong bóng đá, a-de = hậu vệ )

Volant : cái vô-lăng ; bánh trớn,bánh đà

Vis : con đinh vít

Ví sans fin : vít vô tận,hay dùng ở hệ thống lái

Abre à came : trục cam

Abre du Delco : trục Delco

As ; mặt số 1 của con súc sắc, con ách trong bộ bài Tây, ngưới tài giỏi = con át chủ bài

Bendix : cái ben-đích trong đề-ma-rơ

Boite : cái hộp ; hộp tay lái = bốt tay lái

(Noire : màu đen ; Boite noire = hộp đen của máy bay)

Boite de vitesse = hộp tốc độ = hộp số

Caoutchouc : cao-su

Carter : vỏ sắt bao bộ phận máy móc = cái cạc-te

Chapeau : nón rộng vành bằng nỉ ; Chapeau du distributeur : nắp phân phối = nắp Delco có gắn nhiều dây fil ra các bu-gi

Châssi : sát-xi xe

Chemin : con đường

(Fer : sắt) Chemin de fer : đường sắt, xe lừa,tàu hỏa

Chemise : áo sơ-mi ; cái sơ-mi xy-lanh ; đóng sơ-mi = đóng nòng xy-lanh

Circuit secondaire : dòng điện thứ cấp

Clavette : chốt cla-vét

Clapet : nắp van,nắp chặn,cái lắp-pê

Collier : vòng cổ ; cái cổ-dê

Coupelle : cái cúp (ly) nhỏ ; cái cúp-pen,cúp-ben trong các “con heo” thắng (heo mẹ + các heo con )

Enquête : cuộc diều tra (sau khi xảy ra tai nạn, Công An làm ăn-kết )

Les États-Unis d’Amérique : The United States of America

Étau : cái ê-tô

Feutre : cái phốt nhớt

Fusible : cầu chì

Filtre à air : cái lược gió

Gicleur : gích-lơ

Injecteur : kim phun diesel = béc dầu (bec = mỏ chim)

Masse : dây mát,cọc âm (điện)

Moteur : động cơ ( VN hay dùng từ mô-tơ để chỉ máy chạy bằng điện = mô-tơ điện)

Moteur en linge : máy thẳng hàng ; Moteur en V : máy chữ V

Panne : hỏng máy,ban máy

Pétrol : dầu mỏ,dầu thô ; dầu lửa,dầu hôi (in British English : Petrol thì lại là xăng. Các bác nhầm là chít ! )

Pile : cục pin

Pipe : ống nước ; tẩu hút thuốc, ống píp

Plaque : các tấm lắc trong bình điện

Pont arrière : xe chạy cầu sau

Porte-avion : hàng không mẫu hạm,tàu sân bay

Poulie : cái bu-li

Raccord : chỗ nối,rắc-co

Rail : đường rầy xe lửa

Robinet : rô-bi-nê

Rodage : xe chạy rô-đa

Rondell : một khoanh xúc xích ; miếng rông-đền,long-đền

Rouleau : ru-lô (English = roller)

Roulement à billes : vòng bi,bạc đạn

Roulement à rouleau conique : vòng bi,bạc đạn hình nón,hình côn

Segment : xéc-măng

Taquet : con tắc-kê bánh xe