【#1】Bệnh Parkinson Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Căn Bệnh Nguy Hiểm Này

Những người ở độ tuổi thanh niên đến trung niên hiếm khi mắc bệnh Parkinson. Nó thường xuất hiện vào nửa sau cuộc đời, từ những năm 60 tuổi trở lên, và nguy cơ thì tăng dần theo tuổi tác.

Nguyên nhân gây ra bệnh Parkinson vẫn chưa rõ, tuy nhiên một số tác nhân hàng đầu được xem xét là gen, yếu tố môi trường, tuổi tác, giới tính, …

Bệnh Parkinson là gì?

Bệnh Parkinson là một tình trạng rối loạn hệ thống thần kinh, ảnh hưởng đến khả năng vận động. Các triệu chứng sẽ phát triển dần, đôi khi sẽ chỉ bắt đầu với một bất thường không đáng kể ở một bên tay.

Tình trạng tê liệt hay run tay khá phổ biến với bệnh nhân mắc Parkinson, tuy nhiên chứng rối loạn này còn có thể gây cứng khớp hoặc làm chậm các chuyển động.

Trong giai đoạn đầu mắc bệnh, khuôn mặt của bệnh nhân sẽ ít biểu lộ hoặc không biểu lộ cảm xúc. Các cánh tay sẽ không chuyển động theo cơ thể khi di chuyển. Giọng nói trở nên nhẹ hơn và dễ nói lắp, nói nhịu. Các triệu chứng của Parkinson sẽ phát triển trầm trọng hơn theo thời gian.

Bệnh Parkinson có chữa được không?

Mặc dù bệnh Parkinson không thể chữa được, nhưng việc uống thuốc đều đặn có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng mà bệnh mang lại. Với một vài trường hợp, các bác sĩ sẽ đề nghị phẫu thuật để điều chỉnh các vùng nhất định trong não.

Bệnh Parkinson có nguy hiểm không?

– Gặp vấn đề về nhận thức;

– Trầm cảm hoặc thay đổi về cảm xúc;

– Gặp vấn đề về nhai và nuốt;

– Gặp vấn đề về giấc ngủ, thường là rối loạn giấc ngủ;

– Gặp vấn đề về bàng quang;

– Thay đổi huyết áp đột ngột;

– Rối loạn chức năng khứu giác;

– Hay mệt mỏi;

– Đau đớn thường xuyên;

– Rối loạn khả năng tình dục.

Dấu hiệu bệnh Parkinson

Mỗi bệnh nhân mắc Parkinson sẽ có những dấu hiệu và triệu chứng khác nhau.

Các dấu hiệu xuất hiện sớm sẽ không rõ ràng và không được chú ý. Chúng sẽ bắt đầu ở một bên cơ thể và tập trung phát triển ở bên đó, ngay cả khi các triệu chứng bắt đầu ảnh hưởng đến cả hai bên.

Dấu hiệu và triệu chứng của căn bệnh này thường bao gồm:

– Tê hoặc run rẩy: Thường bắt đầu ở các chi, đa phần là tay hoặc ngón tay. Bạn có thể sẽ cọ xát ngón trỏ và ngón cái, và chúng sẽ tiếp tục run lên cả khi bạn không làm gì.

– Chuyển động chậm: Theo thời gian, bệnh này sẽ làm bạn vận động và chuyển động chậm hơn hẳn, khiến cho những công việc đơn giản trở nên khó khăn và tốn thời gian. Các bước khi đi bộ sẽ ngắn hơn, đứng dậy khỏi ghế sẽ nặng nhọc hơn và chân sẽ bị chững lại khi bắt đầu đi bộ.

– Cứng cơ: Tình trạng này có thể xảy ra ở bất cứ phần nào trên cơ thể bạn. Nó sẽ khiến bạn đau đớn hoặc hạn chế khả năng vận động của bạn.

– Dễ mất cân bằng: Các tư thế thông thường cũng có thể khiến bạn ngã, do bệnh Parkinson đã làm cơ thể mất cân bằng.

– Mất những động tác thông thường: Mỉm cười, vung tay khi đi, nháy mắt, … sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều hoặc biến mất hoàn toàn.

– Thay đổi giọng nói: Bạn sẽ nói nhẹ nhàng hơn, nhanh hơn, nói lắp, nói nhịu, … hoặc khó khăn khi bắt đầu nói chuyện. Những gì bạn nói sẽ trở nên đơn điệu hơn với các cụm từ thông dụng.

– Giảm khả năng viết: Bạn sẽ gặp khó khăn khi viết và chữ viết thường nhỏ lại.

Nguyên nhân bệnh Parkinson

Ở căn bệnh này, một số tế bào thần kinh (neuron thần kinh) trong não dần dần bị phá vỡ hoặc chết. Đa phần các triệu chứng xảy ra do sự thiếu hụt neuron, từ đó tạo ra dopamine trong não. Khi nồng độ dopamine giảm, nó sẽ gây ra các hoạt động bất thường ở não, dẫn đến các triệu chứng của bệnh.

Nguyên nhân của Parkinson vẫn đang được tìm hiểu, nhưng nhiều yếu tố đang được xem xét, bao gồm:

Các nhà nghiên cứu đã xác định các đột biến di truyền cụ thể có thể gây ra Parkinson. Nhưng điều này không phổ biến nhiều, ngoại trừ những gia đình hiếm hoi có nhiều thành viên trong gia đình mắc bệnh.

Tuy nhiên, một số biến thể gen có thể xuất hiện và tăng nguy cơ mắc bệnh này.

Yếu tố môi trường

Tiếp xúc với một số độc tố hoặc các yếu tố khác trong môi trường có thể làm tăng nguy cơ mắc Parkinson, nhưng rủi ro là tương đối nhỏ.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận ra rằng rất nhiều thay đổi xảy ra trong não bệnh nhân Parkinson, dù nguyên nhân thì vẫn không rõ ràng. Chúng bao gồm:

Sự xuất hiện của thể dạng Lewy

Các khối chất cụ thể trong tế bào não là dấu hiệu vi mô của căn bệnh này, được gọi thể dạng Lewy, và các nhà khoa học cho rằng đây là đầu mối quan trọng trong nguyên nhân gây ra bệnh Parkinson.

Alpha-synuclein được tìm thấy trong thể dạng Lewy

Mặc dù nhiều chất được tìm thấy trong thể dạng Lewy, các nhà khoa học tin rằng chất quan trọng nhất và phổ biến nhất là Alpha-synuclein hay còn được gọi là A-synuclein – một loại protein tự nhiên. Nó được tìm thấy trong tất cả các thể dạng Lewy, và các tế bào không thể phá vỡ được.

Các yếu tố tăng khả năng mắc bệnh Parkinson

Các yếu tố tăng nguy cơ mắc căn bệnh này bao gồm:

Những người ở độ tuổi thanh niên đến trung niên hiếm khi mắc Parkinson. Nó thường xuất hiện vào nửa sau cuộc đời, từ những năm 60 tuổi trở lên, và nguy cơ thì tăng dần theo tuổi tác.

Có một người thân gần gũi mắc Parkinson sẽ làm tăng khả năng mắc bệnh cho bạn. Rủi ro này xuất hiện khá ít, và nhiều người trong gia đình mắc bệnh thì bạn mới có khả năng bị di truyền.

Đàn ông có nhiều khả năng phát triển bệnh Parkinson hơn là phụ nữ.

Tiếp xúc với chất độc

Tiếp xúc liên tục với thuốc diệt cả hay thuốc trừ sâu sẽ làm tăng nhẹ nguy cơ mắc Parkinson.

Cách điều trị bệnh Parkinson

Chẩn đoán

Không một xét nghiệm cụ thể nào được dùng để chẩn đoán bệnh Parkinson. Bác sĩ sẽ chẩn đoán bệnh dựa trên tiền sử bệnh và xem xét các dấu hiệu và triệu chứng của bạn, cùng với khám sức khỏe và thể chất.

Bác sĩ cũng có thể đề nghị bạn quét quang điện tử bằng DAT.

Xét nghiệm hình ảnh như MRI, CT, PET hay siêu âm não cũng có thể được sử dụng để loại trừ các rối loạn khác.

Bác sĩ sẽ cung cấp carbidopa-levodopa cho bạn – một loại thuốc trị Parkinson. Nếu sức khỏe bạn cải thiện đáng kể với thuốc này thì bạn sẽ được xác nhận là có mắc Parkinson.

Đôi khi phải mất nhiều thời gian để chẩn đoán bệnh, đó là lí do các bác sĩ thường xuyên hẹn bạn đến tái khám.

Bệnh Parkinson không thể chữa được, nhưng thuốc có thể kiểm soát đáng kể các triệu chứng mà bệnh gây ra.

Đôi khi phẫu thuật cũng được cân nhắc để can thiệp điều trị bệnh.

Bác sĩ sẽ yêu cầu bạn thay đổi lối sống, đặc biệt là tập luyện thể dục thể thao.

Vật lí trị liệu tập trung vào vấn đề cân bằng.

Các nhà nghiên cứu bệnh học ngôn ngữ sẽ giúp cải thiện vấn đề phát âm của bạn.

Các loại thuốc được khuyên dùng

– Carbidopa-levodopa;

– Thuốc chủ vận Dopamine;

– Thuốc ức chế MAO B;

– Thuốc ức chế catechol O-methyltransferase (COMT);

– Anticholinergics;

– Amantadine.

– Kích thích não sâu.

Thay đổi lối sống

– Ăn uống lành mạnh: Bổ sung chất xơ, omega-3 và nước;

– Tập thể dục: Tăng sức mạnh cơ bắp, sự linh hoạt và cân bằng;

– Không di chuyển quá nhanh;

– Thường xuyên mát xa;

– Tập yoga hoặc thiền;

– Liệu pháp thú cưng: Nuôi chó hoặc mèo sẽ tăng khả năng di chuyển đồng thời trị liệu về mặt cảm xúc cho bạn.

Phòng chống bệnh Parkinson được không?

Bởi vì nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa được điều tra rõ ràng, vật nên cách để phòng ngừa căn bệnh này vẫn là một ẩn số.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tập thể dục nhịp điệu thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ mắc Parkison.

Một số nghiên cứu khác lại cho rằng những người hay uống caffein – được tìm thấy trong cà phê, trà và cola – ít mắc bệnh Parkinson hơn. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ liệu caffein có thực sự bảo vệ cơ thể khỏi căn bệnh nguy hiểm này không.

Bệnh Parkinson sống được bao lâu?

Parkinson là một căn bệnh mạn tính và phát triển theo thời gian. Do đó, thời gian sống của bệnh nhân mắc Parkinson phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình điều trị bệnh:

– 5-7 năm: Cho đến giai đoạn kháng thuốc;

-10-15 năm: Cho đến khi chức năng vận động suy giảm.

Hoàng Lan (Dịch từ Web MD) (905)

【#2】Bệnh Parkinson Là Gì? Những Dấu Hiệu Thường Gặp Khi Mắc Bệnh

Bệnh Parkinson đây là một bệnh rối loạn cao cấp đối với hệ thần kinh và có mức độ ảnh hưởng nhất định trong quá trình vận động. Tuy nhiên, bệnh lý này không phát hiện ngay lập tức, khởi phát của bệnh này chỉ là một chấn động không đáng kể ở trên cánh tay.

Đáng chú ý hơn cả đó là tình trạng run là một trong những dấu hiệu phổ biến nhất của bệnh Parkinson. Những rối loạn khác đi kèm có thể như quá trình vận chuyển chậm hay độ cứng.

Những dấu hiệu thường gặp khi mắc bệnh Parkinson

Tùy thuộc vào tình trạng bệnh lý của mỗi người sẽ có những dấu hiệu cũng như những dấu hiệu bệnh khác nhau. Khi tình trạng bệnh Parkinson ở mức độ nhẹ mọi người không để ý bởi không có dấu hiệu gì đáng chú ý. Theo đó những triệu chứng thường xuyên xảy ra ở một bên cơ thể và sẽ tiếp tục nặng hơn ở bên đó, nặng hơn có thể xuất hiện ở cả 2 bên.

Ngoài ra một số dấu hiệu và triệu chứng khác khi mắc bệnh Parkinson mọi người nên biết đến cụ thể:

Tình trạng run: Cơ thể bị run hay có thể lắc thường bắt đầu ở chân tay, nhất là tay/ ngón tay. Theo đó, mọi người có thể cảm nhận được cơn run qua lại giữa các ngón tay cái; trỏ. Đặc biệt dễ có thể nhận biết nhất của bệnh Parkinson là tình trạng run tay khi bị nới lỏng.

Quá trình vận động chậm: Khi mắc phải bệnh lý này các bạn sẽ có khả năng di chuyển/ di chuyển chậm lại rất nhiều. Bên cạnh đó, người bệnh sẽ cảm thấy rất khó khăn khi thực hiện các nhiệm vụ và phải mất nhiều thời gian để thực hiện. Những bước đi trở nên ngắn hơn so với bình thường và cảm thấy khó khăn cho ra khỏi ghế.

Cơ bắp cứng: biểu hiện này xảy ra ở bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể. những cơ bắc có thể sẽ bị giới hạn về phạm vi chuyển động và gây đau đớn hơn.

Tư thế ngồi bị mất cân bằng: những người mắc bệnh Parkinson đồng nghĩa với tư thế ngồi sẽ bị bẻ cong hay có thể gặp vấn đề về mất cân bằng.

Những chuyển động trở nên vô thức: khi mắc bệnh Parkinson bạn sẽ có nguy cơ giảm thiểu về khả năng thực hiện những động tác vô thức như: mỉm cười, chớp mắt hay những lúc đưa cánh tay đi bộ.

Thay đổi về cách nói: khi mắc bệnh Parkinson nguy cơ gặp phải tình trạng giao tiếp trở nên khó khăn là rất cao. Theo đó, các bạn có thể nói chuyện nhẹ nhàng, nhanh chóng hay ngần ngại trước khi nói chuyện.

– Quá trình viết chữ trở nên khó khăn và chữ viết có xu hướng nhỏ dần.

Khi gặp bất cứ một trong những dấu hiệu bệnh Parkinson trên mọi người cần đến ngay Trung tâm Y tế/ bệnh viện gần nhất để được các bác sĩ hỗ trợ thăm khám. Tuy nhiên, không phải đối tượng nào khi mắc bệnh cũng xuất hiện những triệu chứng trên, tốt nhất mọi người nên thăm khám sức khỏe định kỳ 6 tháng/ lần để được kiểm tra sức khỏe tổng quát, khi phát hiện bệnh Parkinson sẽ có phương pháp điều trị kịp thời.

Giải pháp làm giảm thiểu tình trạng mắc bệnh Parkinson

Theo như lời khuyên của một số giảng viên Cao đẳng Y Dược Nha Trang cũng như ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa về giải pháp giảm thiểu được nguy cơ diễn biến của bệnh như sau;

– Nên lựa chọn những thực phẩm có chứa nhiều chất xơ và cung cấp lượng nước đủ mỗi ngày để ngăn ngừa được tình trạng táo bón. Cân bằng về chế độ dinh dưỡng như: axit béo Omega – 3 cũng rất có lợi đối với những người mắc bệnh Parkinson.

– Thường xuyên đi bộ, chạy bộ với dáng đi bình thường. Luyện tập thể dục thể thao là một trong những giải pháp cân bằng cũng như giảm thiểu được tình trạng bệnh Parkinson.

Những thông tin trên nhằm giúp mọi người hiểu hơn về bệnh Parkinson cũng như những dấu hiệu nhận biết bệnh. Hãy trao đổi với các bác sĩ để tìm được những giải pháp ngăn ngừa bệnh và điều trị bệnh dứt điểm không để lại những biến chứng về sau.

【#3】Bệnh Parkinson Là Bệnh Gì? Triệu Chứng Và Cách Điều Trị Hiệu Quả

Bệnh Parkinson là bệnh gì?

Bệnh Parkinson hay còn gọi là PD, là một rối loạn thoái hóa của hệ thần kinh trung ương gây ảnh hưởng đến tình trạng cử động, thăng bằng và kiểm soát cơ của bệnh nhân.

Triệu chứng bệnh Parkinson

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Parkinson có thể khác nhau tùy vào mỗi người. Những dấu hiệu sớm có thể nhẹ và không được chú ý. Các triệu chứng thường xuyên bắt dầu ở một bên của cơ thể và tiếp tục nặng hơn ở bên đó, ngay cả sau khi các triệu chứng bắt đầu ảnh hưởng đến cả 2 bên.

Triệu chứng phổ biến của căn bệnh Parkinson bao gồm:

Một cơn run hoặc lắc thường bắt đầu ở chân tay, thường là tay hoặc ngón tay. Người bệnh có thể nhận thấy cơn run di chuyển qua lại giữa các ngón tay cái và ngón trỏ. Một đặc trưng của bệnh Parkinson là run tay khi nó được nới lỏng.

Bạn sẽ không có khả năng di chuyển hoặc khả năng di chuyển bị chậm lại. Bạn có thể cảm thấy khá khó khăn để thực hiện nhiệm vụ đơn giản và tốn thời gian. Các bước đi có thể trở nên ngắn hơn khi bạn đi bộ hoặc bạn có thể nhận thấy việc khó khăn khi cố ra khỏi ghế.

Tư thế bị khiếm khuyết và mất cân bằng

Khi mắc bệnh Parkinson, tư thế của bạn có thể bị bẻ cong hoặc bạn có thể có vấn đề về mất cân bằng.

Mất các chuyển động tự động, vô thức

Bạn có thể giảm khả năng thực hiện các động tác vô thức, bao gồm cả chớp mắt, mỉm cười hoặc đung đưa cánh tay khi đi bộ.

Bạn sẽ gặp phải vấn đề về ngôn ngữ khi mắc phải căn bệnh Parkinson này. Có thể là nói chuyện nhẹ nhàng, nhanh chóng hoặc ngần ngại trước khi nói chuyện.

Bạn có thể sẽ gặp khó khăn khi viết chữ và chữ viết có thể nhỏ đi.

Nguyên nhân gây bệnh Parkinson

Parkinson đã được chứng minh là do các tế bào thần kinh nhất định (neuron) trong não dần dần chết gây ra. Và kết quả chính là xuất hiện nhiều triệu chứng do mất tế bào thần kinh sản xuất ra một chất hóa học trong não được gọi là dopamine. Khi nồng độ chất này giảm đi, nó sẽ gây ra những hoạt động bất thường của não, dẫn đến việc biểu hiện các dấu hiệu bệnh Parkinson.

Bệnh Parkinson có nguy hiểm không?

Câu trả lời là có. Bệnh Parkinson sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh. Các biến chứng đó bao gồm:

  • Gặp vấn đề về nhận thức
  • Trầm cảm hoặc thay đổi về cảm xúc
  • Gặp vấn đề về nhai và nuốt
  • Gặp vấn đề về giấc ngủ, thường là rối loạn giấc ngủ
  • Thay đổi huyết áp đột ngột
  • Vấn đề về bàng quang
  • Rối loạn chức năng khứu giác
  • Thường xuyên cảm thấy mệt mỏi
  • Đau đớn thường xuyên
  • Rối loạn khả năng tình dục

Cách điều trị bệnh Parkinson

Việc sử dụng thuốc sẽ giúp kiểm soát đáng kể các triệu chứng mà căn bệnh gây ra cho bạn. Ngoài ra, trong một số trường hợp, bác sĩ có thể chỉ định bạn làm phẫu thuật.

Thuốc điều trị bệnh Parkinson

Các loại thuốc sẽ giúp bạn kiểm soát được các vấn đề đi lại, vận động và run rẩy. Các loại thuốc này sẽ làm tăng hoặc thay thế cho dopamine, một loại hóa chất truyền tín hiệu cụ thể trong não của bạn.

Bác sĩ có thể kê đơn thuốc điều trị bệnh Parkinson bao gồm:

  • Carbidopa-levodopa
  • Thuốc chủ vận Dopamine
  • Thuốc ức chế MAO B
  • Thuốc ức chế catechol O-methyltransferase (COMT)
  • Anticholinergics
  • Amantadine

Trong phẫu thuật kích thích não sâu (DBS), bác sĩ sẽ cấy ghép điện cực vào một phần cụ thể của bộ não. Các điện cực được kết nối với một máy phát điện được cấy vào ngực của bệnh nhân gần xương đòn sẽ gửi các xung điện để não hoạt động và có thể làm giảm các triệu chứng của căn bệnh Parkinson.

Thay đổi chế độ sinh hoạt

  • Ăn nhiều thực phẩm có chất xơ, bổ sung Omega-3 và nước
  • Tập thể dục thường xuyên và đều đặn để tăng sức mạnh cơ bắp, sự linh hoạt và cân bằng
  • Không nên di chuyển quá nhanh
  • Thường xuyên mát xa
  • Tập yoga hoặc ngồi thiền
  • Liệu pháp thú cưng: việc nuôi chó hoặc mèo sẽ giúp tăng khả năng di chuyển, đồng thời trị liệu về mặt cảm xúc cho người bệnh

Bệnh Parkinson có chữa được không?

Mặc dù bệnh Parkinson không thể chữa khỏi hoàn toàn được nhưng việc uống thuốc đều đặn có thể giúp người bệnh cải thiện đáng kể các triệu chứng mà bệnh mang lại.

Bệnh Parkinson sống được bao lâu?

Đây là một căn bệnh mạn tính và phát triển theo thời gian. Chính vì thế, thời gian sống của bệnh nhân mắc bệnh Parkinson sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào quá trình điều trị. Bệnh nhân sẽ sống được khoảng 5 – 7 năm cho đến giai đoạn kháng thuốc và từ 10 – 15 năm cho đến khi chức năng vận động suy giảm.

【#4】Tìm Hiểu Về Bệnh Parkinson Là Gì Và Phương Pháp Điều Trị Parkinson

Bệnh Parkinson là một căn bệnh do thoái hóa hệ thần kinh gây ra, bệnh biểu hiện đặc trưng bằng các cử động bị chậm chạp, cứng đờ, run và rối loạn về thăng bằng. Hầu hết những người mắc bệnh là trên 55 tuổi. Nhưng bệnh cũng xuất hiện ở những người trẻ tuổi.

Mặc dù bệnh Parkinson có thể là một bệnh phức tạp, gây ra nhiều hệ lụy cho cuộc sống của chúng ta, nhưng bệnh vẫn có thể điều trị tốt được, nhờ dùng thuốc đúng đắn, vật lý trị liệu, và các phương pháp trợ giúp khác. Bệnh Parkinson không điều trị khỏi hẳn được, nhưng các bạn có thể chung sống với bệnh trong nhiều năm.

Trong bệnh Parkinson, có một chất ở trong não gọi là Dopamin bị thiếu hụt. Đây là một chất dẫn truyền tín hiệu thần kinh từ tế bào này sang tế bào khác ở bên trong của não, nó giúp cho tế bào não chỉ huy và kiểm soát được các cử động của bắp thịt ở chân tay và ở mặt. Khi bị bệnh Parkinson, những tế bào sản sinh ra chất Dopamin này bị suy thoái và chết dần. Điều này xảy ra ở một phần rất nhỏ của não gọi là chất đen (substantia nigra). Khi thiếu chất Dopamin, não không chỉ huy vận động cơ bắp được như bình thường, gây ra các triệu chứng như ở trên.

Nguyên nhân tại sao các tế bào não sản sinh ra Dopamin lại bị thoái hóa và chết đi, hiện nay khoa học vẫn chưa lý giải được. Người ta nghĩ tới nhiều yếu tố gây bệnh khác nhau như: do lớn tuổi, do di truyền, do các yếu tố môi trường, thậm chí do virus… Tuy nhiên cho tới nay khoa học cũng không giải thích được tại sao chỉ có một số người bị mắc bệnh Parkinson, còn những người khác thì lại không bị.

Nguyên nhân gây bệnh Parkinson là do sự thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh Dopamin

BIỂU HIỆN CỦA BỆNH PARKINSON

Những triệu chứng cơ bản của bệnh Parkinson là: run, cứng đờ, cử động chậm chạp và rối loạn thăng bằng.

– Run: Là triệu chứng rất hay gặp, run có thể cả ở tay lẫn chân. Thường run sẽ rõ hơn khi nghỉ ngơi. Vì vậy, người ta nói run của bệnh Parkinson là run khi nghỉ. Nó trái ngược với chứng run vô căn hoặc run do bệnh tiểu não. Tuy vậy vẫn có gần 15% người bệnh Parkinson trong suốt quá trình điệu trị bệnh của mình không bao giờ có biểu hiện run.

– Chậm vận động: bệnh nhân rất khó khởi động các cử động của mình, mọi việc đều làm rất chậm chạp ví dụ như: cài, mở khuy áo, xỏ giầy dép, cắt gọt trái cây. Chữ viết nhỏ dần và viết chậm.

– Rối loạn giữ thăng bằng: bệnh nhân ngồi vào ghế khó khăn, đứng dậy khỏi ghế khó khăn, xoay trở dễ bị té, khi đi dễ bị té ngã.

– Các triệu chứng khác: giọng nói nhỏ và khó nghe, ít biểu lộ cảm xúc, rối loạn giấc ngủ, trầm cảm và lo âu, đau, mệt mỏi. Về sau có khó nuốt và rối loạn trí nhớ.

Run, cứng đờ, cử động chậm chạp và rối loạn thăng bằng là những biểu hiện của bệnh Parkinson

ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON NHƯ THẾ NÀO?

Cho tới nay, y học hiện đại cũng chưa có cách nào để phòng ngừa và chữa khỏi hẳn được bệnh Parkinson. Tuy nhiên hiện nay thuốc điều trị có thể làm giảm triệu chứng của bệnh rất tốt. Các bác sĩ cũng khuyên nên phối hợp dùng thuốc với các biện pháp khác như vật lý trị liệu, tập luyện thể dục, chế độ ăn thích hợp,… Một số bệnh nhân bị Parkinson có thể được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật, ví dụ như phương pháp kích thích não sâu – tuy nhiên chỉ áp dụng với những bệnh nhân không còn đáp ứng với thuốc điều trị.

KHOA DỊCH VỤ TẬP VẬT LÝ TRỊ LIỆU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TẠI NHÀ – chúng tôi

Với kinh nghiệm lâu năm đã điều trị và phục hồi cho nhiều bệnh nhân khác nhau với các dạng tai biến, tổn thương phức tạp…

( Sức Khoẻ Bệnh Nhân Là Niềm Vui Hạnh Phúc Của Chúng Tôi)

Mọi thông tin Tư Vấn – Thăm Khám vui lòng liên hệ:

☎ : 0987.473.296 – 0906.574.998

【#5】Bệnh Parkinson Là Gì, Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

1. Bệnh Parkinson là gì?

Bệnh Parkinson là một rối loạn thoái hoá của hệ thần kinh trung ương, gây ảnh hưởng đến tình trạng cử động, thăng bằng và kiểm soát cơ của bệnh nhân.

Bệnh Parkinson thuộc nhóm các bệnh rối loạn vận động. Nó có đặc điểm cứng cơ, run, tư thế và dáng đi bất thường, chuyển động chậm chạp và trong trường hợp bệnh nặng người bệnh có thể mất đi một số chức năng vận động vật lý.

Bệnh gây rối loạn vận động và mất khả năng giữ thăng bằng

Do bệnh không có thuốc điều trị dứt điểm nên phác đồ điều trị và các biện pháp vật lý trị liệu, nhằm kiểm soát tốt các triệu chứng của bệnh giúp bạn sống chung với căn bệnh này trong nhiều năm.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra nguyên nhân cụ thể gây bệnh Parkinson. Nhưng họ phát hiện ra rằng, hàm lượng Dopamine trong cơ thể của người bệnh bị giảm đi đáng kể. Đây là một chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng dẫn truyền tín hiệu giữa các sợi thần kinh trong não và giữ vai trò trong việc cử động và phối hợp động tác của cơ thể. Chúng tập trung nhiều ở vùng hạch đáy của não.

Khi các tế bào não bị thoái hóa hoặc mất khả năng sản sinh Dopamine sẽ khiến cơ thể bị thiếu hụt chất này. Vì vậy, người bệnh sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận động.

Ngoài ra, bệnh có thể do một số yếu tố khác gây ra như:

  • Tuổi tác: lượng Dopamine thường có xu hướng giảm ở người già.

  • Môi trường: những người thường xuyên tiếp xúc với thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ thì có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với người bình thường.

  • Chấn thương sọ não: người có tiền sử chấn thương sọ não cũng có nguy cơ mắc bệnh cao.

  • Di truyền: nếu gia đình có người bị bệnh này ngẫu nhiên, thì bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao.

Những người có tiền sử bị chấn thương sọ não thường có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với người bình thường

3. Triệu chứng nhận biết

Ở giai đoạn đầu, bệnh Parkinson chỉ biểu hiện các triệu chứng một bên cơ thể. Giai đoạn này, người bệnh sẽ luôn cảm thấy mệt mỏi, các động tác diễn ra chậm hơn so với bình thường. Khi bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng hơn thì các triệu chứng bắt đầu biểu hiện một cách rõ ràng. Các triệu chứng ban đầu chỉ xuất hiện một bên cơ thể thì lúc này đã xuất hiện ở khắp cơ thể người bệnh:

– Run khi nghỉ:

Cơ tại các vị trí như: tay, chân, môi, lưỡi,… sẽ xuất hiện triệu chứng run khi ở trạng thái nghỉ. Mức độ run sẽ tăng lên nếu người bệnh xúc động hoặc tập trung quá mức. Triệu chứng này chỉ tạm thời mất đi khi người bệnh vận động hoặc lúc đang ngủ, nhưng sẽ tái diễn ngay sau đó.

Run tay là biểu hiện thường gặp khi bị bệnh

– Cơ co cứng:

Cơ bắp và xương bắt đầu cứng dần. Lúc này, tại các vị trí như: cổ, vai, lưng sẽ xuất hiện cảm giác tê cứng. Giọng nói người bệnh có thể bị thay đổi, chảy nước dãi không kiểm soát được. Khi gõ vào gốc mũi, thì xuất hiện hiện tượng mí mắt rung giật. Người bệnh ít chớp mắt và khả năng nháy mắt cũng bị ức chế. Đặc biệt, do các cơ vùng mặt bị co cứng khiến khuôn mặt mất dần vẻ tự nhiên và giảm biểu đạt cảm xúc.

– Giảm vận động:

Do cơ và xương bị co cứng nên người bệnh gặp nhiều khó khăn trong vấn đề vận động. Dáng đi trở nên bất thường và khoảng cách giữa các bước đi ngắn dần. Đồng thời, tốc độ thực hiện các cử động hoặc di chuyển cũng giảm xuống, hoạt động đứng lên ngồi xuống diễn ra khó khăn. Do đó, bệnh Parkinson gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống sinh hoạt. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn có biểu hiện bị đau khớp.

– Tư thế gấp:

Tư thế gấp là hiện tượng các nhóm cơ gấp bị tăng trương lực. Hiện tượng này làm dáng người hơi gấp về phía trước. Do đó, người bệnh dễ bị ngã khi có người đẩy nhẹ từ phía sau.

Ngoài những triệu chứng trên, thì bệnh còn biểu hiện một số triệu chứng phụ như: rối loạn giấc ngủ, suy giảm trí nhớ, hạ huyết áp, đổ mồ hôi quá nhiều, tiểu không tự chủ, táo bón,…

4. Cách điều trị bệnh

Điều trị bằng thuốc:

Để điều trị bệnh Parkinson, bạn có thể sử dụng một số thuốc do bác sĩ chỉ định như:

  • Thuốc đồng vận dopamine: có tác dụng kích thích trực tiếp đến các thụ thể dopamin như: sifrol, trivastal, bromocriptine,…

  • Thuốc thay thế dopamine: là thuốc bổ sung dopamine kịp thời như Madopar, Syndopa, Sinemer,… Trong quá trình sử dụng thuốc không nên kết hợp với vitamin B6.

  • Thuốc ức chế dị hóa dopamin: những loại thuốc thuộc nhóm này thường ít có ở Việt Nam.

  • Thuốc kháng tiết cholin (Artan, Trihex).

Khi mới sử dụng các loại thuốc này, người bệnh chỉ nên dùng với liều thấp, sau đó mới tăng dần và duy trì liều lượng. Nếu muốn đổi sang loại thuốc khác, người bệnh nên thay đổi từ từ, không ngừng thuốc đột ngột. Trong quá trình sử dụng, người bệnh có thể gặp một số tác dụng phụ do thuốc gây ra như: khô miệng, tim đập nhanh, dị ứng, đau bụng, buồn nôn,… nặng hơn có thể gây lú lẫn, ảo giác,…

Điều trị phẫu thuật

Nếu điều trị bằng thuốc không mang lại hiệu quả, người bệnh có thể điều trị bằng các phương pháp phẫu thuật như: phẫu thuật định vị, kích thích điện vùng liềm đen – thể vận và ghép mô thần kinh.

Phục hồi chức năng

Các biện pháp phục hồi chức năng mà người bệnh có thể áp dụng bao gồm:

  • Vật lý trị liệu giúp người bệnh tăng khả năng vận động và giảm rối loạn thăng bằng.

  • Phương pháp trị liệu ngôn ngữ: giúp người bệnh giảm các rối loạn về nói và nuốt.

  • Các bài tập luyện như: yoga, thái cực quyền, dưỡng sinh, rất có ích với người bệnh trong việc cải thiện khả năng vận động.

Tập luyện dưỡng sinh đều đặn sẽ giúp người bệnh cải thiện khả năng vận động

Các biện pháp phục hồi chức năng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người bệnh khắc phục những triệu chứng run rẩy, co cứng cơ,… Vì vậy, người nhà nên ứng dụng các biện pháp này kết hợp với việc dùng thuốc để cải thiện khả năng vận động của người bệnh.

Bệnh Parkinson gây ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt và có thể khiến người bệnh bị tàn phế suốt đời. Khi phát hiện những triệu chứng của bệnh, bạn nên tìm gặp bác sĩ chuyên khoa thần kinh để thăm khám và có biện pháp điều trị kịp thời. Đồng thời, bạn có thể tập vật lý trị liệu hằng ngày theo hướng dẫn của bác sĩ để cải thiện khả năng vận động. Ngoài ra, việc uống nhiều nước và một chế độ ăn giàu chất xơ cũng giúp người bệnh khắc phục triệu chứng của bệnh.

【#6】Parkinson Là Bệnh Gì? Tổng Hợp Thông Tin Về Căn Bệnh Parkinson

Parkinson là bệnh gì?

Parkinson là bệnh gì? Bệnh parkinson là gì? – Parkinson là một loại bệnh thường xuất hiện ở người cao tuổi. Parkinson thuộc nhóm các bệnh rối loạn vận động. Căn bệnh này còn được gọi là bệnh PD – Đây là hiện tượng thoái hóa, giảm sút chức năng của hệ thần kinh. Bệnh ảnh hưởng đến hoạt động, sinh hoạt của con người, khiến việc cử động trở nên chậm chạp, run rẩy, không giữ được thăng bằng.

Cách phân loại bệnh Parkinson

Có rất nhiều các tài liệu khác nhau về bệnh Parkinson là gì đưa ra các cách phân loại khác nhau của bệnh Parkinson. Tuy nhiên, có một số cách phân loại thường được sử dụng như:

Bệnh Parkinson ở người trẻ

Trước đây khi nhắc đến bệnh Parkinson là gì, người ta thường chỉ nghĩ đến những bệnh nhân già trên 60 tuổi. Tuy nhiên hiện nay, nhiều nghiên cứu về bệnh Parkinson là gì chỉ ra rằng bệnh Parkinson có thể xuất hiện ở những người trẻ và có chiều hướng gia tăng.

Bệnh Parkinson ở người già

Nếu bạn tìm hiểu về bệnh Parkinson là gì sẽ nhận ra rằng hầu hết các trường hợp mắc bệnh Parkinson đều ở độ tuổi trên 50 tuổi. Các thống kê về bệnh Parkinson là gì cho thấy có 5 trong số 1000 mắc bệnh Parkinson ở độ tuổi trên 50 và khoảng 40 trong tổng số 1000 người mắc bệnh Parkinson ở độ tuổi 60-80.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh Parkinson ở tuổi già như dùng thuốc, tổn thương não, thoái hoá chất xám, giảm lượng dopamine, có tiền sử chấn thương hoặc tiếp xúc nhiều với các loại hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, thường xuyên phải sử dụng thuốc ngủ cũng là một trong những nguyên nhân gây bệnh Parkinson ở người già. Tuy nhiên, yếu tố di truyền thường không ảnh hưởng đến bệnh Parkinson ở người già.

Các triệu chứng của bệnh Parkinson ở người già bao gồm run tay chân, bước đi loạng choạng, không kiểm soát được hành động, nhất là những hoạt động yêu cầu độ tập trung cao như viết chữ. Bên cạnh đó, bệnh nhân mắc bệnh Parkinson còn có biểu hiện cứng đờ gương mặt, khuôn mặt vô cảm.

Theo các tài liệu về bệnh Parkinson là gì cho thấy có rất nhiều cách phân chia theo giai đoạn của bệnh Parkinson. Ngoài cách phân loại giai đoạn theo Hoehn và Yahr và UDPRS, có thể phân loại bệnh Parkinson như sau:

Bệnh Parkinson giai đoạn đầu

Ở giai đoạn này, bệnh nhân có một số biểu hiện của rối loạn vận động nhẹ nhưng không ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày như run tay chân một bên, hoặc thay đổi tư thế, thay đổi biểu cảm khuôn mặt mà bạn bè hoặc người thân có thể nhận thấy được.

Bệnh Parkinson giai đoạn cuối

Bệnh Parkinson nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời tiến triển ngày càng nặng với các biểu hiện suy giảm nhận thức và giảm các chức năng vận động như bệnh cảm, ảo giác, hoang tưởng và thường xuyên bị ngã, rung lắc toàn thân gây ảnh hưởng nhiều đến vận động, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nặng hơn bệnh nhân có thể không tự đi lại được mà phải dùng đến xe lăn hoặc ngồi 1 chỗ.

Bệnh Parkinson thể cứng

Khi nhắc đến bệnh Parkinson là gì, chúng ta thường nghĩ ngay đến tình trạng run tay chân, sau đó là có cứng các cơ bắp khiến bệnh nhân không thể di chuyển đi lại mà phải ngồi yên một chỗ hoặc di chuyển bằng xe lăn. Tình trạng này là hiểu hiện của bệnh Parkinson thể cứng và gặp ở hầu hết các bệnh nhân mắc bệnh Parkinson.

Bệnh Parkinson mạch máu

Theo các nghiên cứu về bệnh Parkinson là gì chỉ ra rằng tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh Parkinson thể mạch máu là rất hiếm gặp. Những bệnh nhân này thường ít có biểu hiện rung lắc toàn thân và cơ cứng các cơ mà chỉ hạn chế vận động chi dưới. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý ở những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson thể mạch máu đó là nó ảnh hưởng rất nhiều đến trí tuệ và tinh thần của người bệnh. Mặt khác, bệnh Parkinson thể mạch máu rất khó chẩn đoán.

Nguyên nhân gây bệnh Parkinson

Parkinson là bệnh gì? Nguyên nhân chính của bệnh Parkinson là do tuổi tác. Khi cơ thể của con người xuất hiện những dấu hiệu lão hóa, chức năng của Thân và Can huyết suy yếu. Máu trong cơ thể không còn đủ dinh dưỡng để nuôi dưỡng các khớp, mạch máu bình thường. Vì vậy gây nên các hiện tượng co cứng, cơ rút và run giật.

  • Chậm vận động: Khi hoạt động, cơ bắp thường xuất hiện các cơn đau. và đơ cứng. Điều này gây nên những trở ngại lúc hoạt động như:, cắt gọt hoa quả, mở hoặc cài khuy áo …
  • Run: Hiện tượng này thường xảy ra với ngón tay thậm chí là cả bàn tay và cẳng tay. Đặc biệt là lúc người bệnh cảm thấy lo lắng, và mất đi sức tập trung. Tuy nhiên nếu được nghỉ ngơi điều độ thì triệu chứng này sẽ thuyên giảm và trở về trạng thái bình thường.
  • Mặt bất động: Khuôn mặt khó biểu cảm, đơ cứng, mất đi sự linh hoạt.
  • Rối loạn dáng đi: Người bệnh bước đi chậm, lưng khom, cẳng tay, chân hơi gấp. Khi di chuyển họ không đánh tay đều được.
  • Rối loạn giấc ngủ: Thường xuyên cảm thấy lo lắng và mệt mỏi. Ăn không ngon miệng và ngủ không tròn giấc.
  • Rối loạn tiếng nói: Tiếng nói không có lực, nhỏ và khó nghe. Giọng đều đều, không biểu hiện được cảm xúc của người nói.
  • Tăng trương lực cơ: Khi người bệnh co duỗi các khớp xương thường xuất hiện hiện tượng bánh răng cưa.

Triệu chứng và biểu hiện của bệnh Parkinson

  • 40% người mắc bệnh có các triệu chứng trầm cảm.
  • 1/ 3 số người bị bệnh có dấu hiệu sa sút về nhận thức và trí tuệ. Điển hình là giảm sút trí nhớ và tính cách thay đổi thất thường.
  • Họ thường không làm chủ được hoạt động của cơ thể, rối loạn hoạt động và phát sinh ảo giác. Lúc này họ luôn cảm thấy lười hoạt động, buồn ngủ và thường xuyên bị tụt huyết áp.

Biến chứng của bệnh Parkinson là gì?

  • Khó nhai và nuốt: Chức năng của cơ thể dần suy giảm. Điều này ảnh hưởng đến khả năng nhai và nuốt của hệ tiêu hóa.
  • Tiết niệu: Parkinson khiến người bệnh mất khả năng tự chủ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của đường tiết niệu, gây khó tiểu tiện.
  • Táo bón: Do hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng nên người bệnh thường bị táo bón. Đây cũng được xem là tác dụng trong quá trình sử dụng thuốc điều trị Parkinson.
  • Ngủ không ngon: Người bệnh mắc chứng Parkinson thường xuyên cảm thấy cơ thể mệt mỏi và ngủ không ngon giấc.
  • Rối loạn tình dục: Người mắc bệnh Parkinson thường suy giảm ham muốn về tinh dục. Đây là do ảnh hưởng của sự thay đổi về các yếu tố về tâm lý, thể chất…

Từ việc nắm được khái niệm Parkinson là bệnh gì, bạn cũng cần ghi nhớ những triệu chứng nguy hiểm của căn bệnh này. Một nghiên cứu về Parkinson là bệnh gì đã chỉ ra rằng:

Bên cạnh đó, nghiên cứu về Parkinson là bệnh gì cũng liệt kê thêm một số biến chứng của căn bệnh này như:

Cách điều trị bệnh Parkinson

  • Thuốc Carbidopa/ Levodopa.
  • Thuốc Sinemet® và Levodopa hoặc Benserazide/ Prolopa®
  • Thuốc Entacapone/ Comtan®. Đối với loại thuốc này chỉ nên dùng loại phối hợp với Levodopa.
  • Thuốc Levodopa/Stalevo®/Carbidopa/Entacapone.
  • Các thuốc Dopamine – Pramipexole. Đối với loại này nên dùng dạng viên có khả năng giải phóng thuốc tức như Mirapex®. Bên cạnh đó bạn cũng có thể sử dụng loại viên như Sifrol ER, Ropinirole, Rotigotine và Apomorphine.
  • Các loại thuốc có khả năng ức chế như MAOB – Rasagiline, Azilect®, Selegiline, Eldepryl®.
  • Thuốc Amantadine/ Symmetrel®
  • Thuốc kháng Cholinergic – Trihexyphenidyl/ Artane® – Benztropine/ Cogentin®.

Parkinson là bệnh gì? Chữa bệnh parkinson như nào và ở đâu? Theo các nghiên cứu về Parkinson là bệnh gì thì cách điều trị hiệu quả nhất là sử dụng thuốc theo đơn của bác sĩ. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp bệnh nặng cần phải sử dụng đến phương pháp phẫu thuật não.

Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc người bệnh cần phối kết hợp cùng các các phương pháp phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, yoga. Điều này giúp nhanh chóng tăng khả năng vận động cũng như làm giảm các triệu chứng rối loạn, ảnh hưởng thăng bằng.

Cách phòng bệnh Parkinson

  • Tắm nắng thường xuyên.
  • Tăng cường luyện tập thể dục thể thao hàng ngày.
  • Ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các thực phẩm chứa nhiều Flavonoid.
  • Hạn chế sử dụng các chất kích thích như rượu, bia, thuốc lá, trà xanh, cafein.
  • Ngủ đủ giấc, luôn giữ tinh thần thoải mái.

Mục tiêu quan trọng sau khi tìm hiểu bệnh Parkinson là gì đó là biết cách phòng bệnh Parkinson.

Để phòng bệnh, bạn cần tuân thủ những điều sau:

Để hiểu rõ hơn bệnh Parkinson là gì cũng như Parkinson là bệnh gì thì điều quan trọng chính là hiểu rõ bản chất và bệnh học của bệnh Parkinson.

Bệnh Parkinson chẩn đoán như nào?

Nếu tìm hiểu về bệnh Parkinson là gì chắc hẳn bạn cũng biết việc chẩn đoán bệnh Parkinson là không hề đơn giản. Để chẩn đoán chính xác một bệnh nhân mắc bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn của Ngân hàng não bệnh Parkinson Anh Quốc cần trải qua nhiều bước.

Bước 1: Chẩn đoán hội chứng Parkinson

Bước 2: Chẩn đoán loại trừ

Để chẩn đoán bệnh Parkinson cần loại trừ tiền sử đột quỵ, chấn thương, viêm não, hay dùng thuốc làm giảm dopamin…

  • Khởi phát 1 bên.
  • Run khi nghỉ.
  • Có tính chất tiến triển.
  • Bất đối xứng kéo dài với bên khởi phát.
  • Đáp ứng với levodopa.
  • Múa giật nặng do levodopa.
  • Đáp ứng với levodopa trong hơn 5 năm.
  • Diễn biến lâm sàng trên 10 năm.

Bước 3: Tiêu chuẩn hỗ trợ

Ít nhất 3 trong số các đặc điểm sau

Bệnh Parkinson có nguy hiểm không?

Trong định nghĩa bệnh Parkinson là gì đã nhắc đến đây là một bệnh khá phổ biến ở người già và nó gây ra một số biến chứng nguy hiểm như khó nuốt, đại tiểu tiện không tự chủ, tụt huyết áp tư thế, rối loạn giấc ngủ, rối loạn vận động, đau đớn, lo lắng và trầm cảm, giảm ham muốn tình dục, sa sút trí tuệ,…gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cũng như đời sống sinh hoạt của người bệnh.

Hơn nữa, bệnh Parkinson không thể chữa khỏi hoàn toàn. Chính vì thế, nếu không được phát hiện và khắc phục kịp thời, bệnh có thể gây nguy hiểm cho người bệnh.

Bệnh Parkinson có chữa được không?

Bên cạnh việc tìm hiểu về bệnh parkinson và cách chữa trị thì rất nhiều người cũng thắc mắc bệnh Parkinson có chữa được không? Tuy nhiên, nếu hiểu về bệnh học Parkinson, chúng ta có thể biết bệnh Parkinson không thể chữa khỏi hoàn toàn.

Mặc dù vậy, nếu người bệnh kiểm soát tốt bằng việc thực hiện chế độ ăn, luyện tập, dùng thuốc và tâm lý ổn định thì có thể cải thiện triệu chứng cũng như làm chậm các biến chứng của bệnh.

  • Nguyên nhân tự phát: Là những bệnh nhân không rõ căn nguyên.
  • Nhóm sơ cấp: Nguyên nhân đã nắm rõ.
  • Nhóm đó di truyền.
  • Nhóm bệnh do thoái hóa nhiều hệ thống.

Bệnh Parkinson có di truyền không?

Bệnh Parkinson có di truyền không là một câu hỏi được rất nhiều người quan tâm bên cạnh băn khoăn bệnh Parkinson là gì? Có 4 nhóm nguyên nhân gây bệnh Parkinson bao gồm:

Các nghiên cứu về bệnh Parkinson là gì chỉ ra rằng nhóm bệnh nhân mắc bệnh Parkinson do di truyền chiếm khoảng 4-5% trong tổng số những bệnh nhân mắc bệnh Parkinson. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy nếu trong gia đình có người mắc bệnh Parkinson thì tỷ lệ bị bệnh của bạn cũng cao hơn so với người bình thường.

Bệnh Parkinson nên ăn gì?

Những thực phẩm tốt cho bệnh nhân Parkinson bao gồm đậu nành, trái cây, rau quả, cá, bột mì. Đây là những thực phẩm chứa rất nhiều vitamin và khoáng chất, các yếu tố vi lượng tốt cho hoạt động của não bộ.

Bệnh Parkinson kiêng ăn gì?

Một trong những nguyên tắc điều trị bệnh Parkinson là tuân thủ chế độ ăn và hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn một số thực phẩm không tốt như rượu, bia, thuốc lá, cafein, cocain, các chất kích thích…

Không nên ăn mặn, thức ăn chứa nhiều chất béo, đồ chiên rán…

Chữa bệnh Parkinson bằng đông y

Để làm được những điều trên, bên cạnh việc sử dụng các bài thuốc cổ phương, gia truyền có chứa câu đằng và thiên ma, người bệnh cần được kết hợp điều trị bằng châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt giúp lưu thông khí huyết, hạn chế tình trạng co cứng cơ.

  1. Bệnh viện Lão khoa Trung ương (Số 1A Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội)
  2. Khoa Thần kinh – Bệnh viện Bạch Mai (Số 78 Giải Phóng, Đống Đa, Hà Nội)
  3. Khoa Nội thần kinh (A4) – Bệnh viện Quân y 103 (Số 261 Phùng Hưng, Hà Đông, Hà Nội)
  4. Bệnh viện Phục hồi chức năng (số 35 Lê Văn Thiêm, Thanh Xuân, Hà Nội)
  5. Trung tâm Phẫu thuật Thần kinh – Bệnh viện Việt Đức (số 40 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội)
  6. Khoa Nội Thần kinh – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Số 1 Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Hà Nội)
  7. Khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng – Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Số 1 Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Hà Nội)
  8. Trung tâm trị liệu Cột sống – Cơ – Xương – Khớp và Phục hồi chức năng Spinemed+ (Số 18 ngõ 178 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội)
  9. Phòng khám Phục hồi chức năng – Giáo sư Cao Minh Châu (số 01 ngách 12, ngõ 120, Trường Chinh, Hà Nội)

Trong bài viết này, Zdungk.com đã gửi tới quý bạn đọc những thông tin về Parkinson là bệnh gì. Hy vọng sau khi đã nắm được kiến thức Parkinson là bệnh gì, bạn sẽ biết cách chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình. Từ khóa gợi ý bài viết: parkinson bệnh học bệnh parkinson giai đoạn cuối bệnh parkinson nên ăn gì bệnh parkinson thể cứng bệnh parkinson ở người trẻ bệnh parkinson co di truyen khong bệnh parkinson có chữa được không bệnh parkinson có nguy hiểm không bệnh Parkinson là gì parkinson là bệnh gì Theo Zdungk.com

Chữa bệnh parkinson ở đâu?

【#7】Sa Sút Trí Tuệ Và Bệnh Alzheimer

Published on

  1. 1. SA SÚT TRÍ TUỆ và BỆNH ALZHEIMER TS Trần Công Thắng BM Thần Kinh- ĐHYD TP.HCM
  2. 2. Mục tiêu Trình bày được định nghĩa, nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng, tiêu chuẩn chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt của sa sút trí tuệ. Trình bày được đặc điểm sinh lý bệnh, các yếu tố giúp chẩn đoán sớm bệnh Alzheimer và điều trị bệnh Alzheimer hiện nay.
  3. 4. Định nghĩa SSTT là một hội chứng mắc phải với biểu hiện mất chức năng nhận thức, thay đổi về hành vi và mất các chức năng xã hội. Chẩn đoán chuẩn của SSTT (theo DSM- IV) đòi hỏi phải có sự giảm sút về trí nhớ và các chức năng nhận thức khác đủ nặng để ảnh hưởng đến sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày
  4. 5. Nguyên nhân Là hậu quả của mất tế bào thần kinh và/ mất sự liên kết giữa các tế bào thần kinh Có nhiều cách phân chia nguyên nhân: theo vị trí, theo nguyên phát/thứ phát, theo thời gian,…
  5. 7. Tỉ lệ các nguyên nhân Major Dementia Subtypes Fratiglioni L et al. Neurology. 2000;54 S10-5 Alzheimer’s disease 60-70% Vascular dementia 15-20% Other dementias, eg, Lewy body disease Parkinson’s disease 10-25%
  6. 8. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG Các thay đổi nhận thức: Quên (mới xuất hiện), khó hiểu trong giao tiếp bằng lời nói và chữ viết, khó khăn trong việc tìm từ để dùng, rối loạn định hướng, không biết các sự kiện phổ biến. Các triệu chứng tâm thần: Chứng tự kỷ hoặc lãnh đạm, trầm cảm, nghi ngờ, lo âu, mất ngủ, chứng sợ, hoang tưởng, ảo giác hoặc kích động. Thay đổi nhân cách: Các mối quan hệ không thích hợp, bàng quan, tránh các sinh hoạt xã hội, bởn cợt tán tỉnh quá mức, dễ thất vọng, có các cơn giận dữ. Có vấn đề về hành vi: Đi lang thang, kích động, làm ồn, đứng ngồi không yên. Thay đổi các hoạt động hàng ngày: Khó khăn trong chạy xe, bị lạc đường, quên công thức nấu ăn, thờ ơ chăm sóc bản thân, gia đình, khó khăn trong quản lý tiền bạc, sai lầm trong công việc.
  7. 9. KHÁM LÂM SÀNG Hoûi beänh söû Khaùm toång quaùt Khaùm thaàn kinh Laøm caùc baøi ñaùnh giaù trí nhôù vaø chöùc naêng nhaän thöùc.
  8. 10. TRẮC NGHIỆM THẦN KINH TÂM LÝ Tầm soát: MMSE Đánh giá chuyên biệt – Chú ý tập trung – Trí nhớ – Ngôn ngữ – Kiến trúc thị giác – Chức năng điều hành – Thức hành động tác Đánh giá hành vi tâm thần: trầm cảm (GDS), rối loạn tâm thần (NPI) Hoạt động sống hàng ngày (ADL, IADL)
  9. 11. Taàm soaùt baèng MMSE MMSE – Định hướng thời gian, không gian (10đ) – Nhớ 3 từ (3 đ) – Chú ý và tính toán (5đ) – Nhớ lại từ (3đ) – Ngôn ngữ (8đ) – Vẽ hình (1đ) Điểm cắt : 24** – 18-24: nhẹ – trung bình – 10-17: nặng – <10: rất nặng Từ 25-27: khả năng MCI
  10. 12. CHẨN ĐOÁN SSTT THEO DSM-IV A. Khiếm khuyết nhận thức trong 2 nhóm sau: 1. Suy giảm trí nhớ (giảm khả năng học các thông tin mới hoặc nhớ lại các thông tin đã học trước đây) 2. Rối loạn trong một (hoặc nhiều) nhận thức sau: a. Rối loạn ngôn ngữ (Aphasia) b. Giảm khả năng thức hiện các động tác vận động dù chức năng cảm giác còn nguyên vẹn (Apraxia) c. Không nhận biết hoặc xác định được đồ vật dù chức năng cảm giác còn nguyên vẹn (Agnosia) d. Rối loạn chức năng thực hiện các hoạt động kết hợp (như lên kế hoạch, tổ chức, phân công theo trình tự, tóm tắt) B. Các khiếm khuyết nhận thức trong tiêu chuẩn A1 và A2 gây ra sự suy giảm đáng quan tâm về chức năng xã hội hoặc công việc khi so với khả năng bình thường trước đây. C. Bệnh nhân không đang bị sảng (delirium). D. Các rối loạn không phải là biểu hiện của trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt.
  11. 13. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN Bênh Alzheimer VaD DLB FTD
  12. 14. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN (tt) Bệnh Huntington Thoái hóa vỏ não-hạch nền Creutzfeldt-Jakob disease (CJD) HIV-associated Dementia (HAD)
  13. 15. CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN (tt)
  14. 16. BỆNH ALZHEIMER
  15. 17. GIỚI THIỆU Ca bệnh Alzheimer đầu tiên được mô tả vào năm 1906. Từ đó đến nay, số lượng bệnh Alzheimer được báo cáo ngày càng gia tăng, đặc biệt khi tuổi thọ của con người ngày càng gia tăng.
  16. 18. The Incidence of AD in the USA is Increasing Dramatically… 0 50 100 150 200 250 300 350 2000 2010 2021 2030 Age 65-74 Age 75-84 Age 85+  5% of people over 65 have5% of people over 65 have dementiadementia  This increases to 10% afterThis increases to 10% after 75 years of age75 years of age  After 85 years of age, 40%After 85 years of age, 40%– 50% of the population are at50% of the population are at least in the early stages of ADleast in the early stages of AD Hebert LE et al. Alzheimer Dis Assoc Disord. 2001;15:169-73; Cummings et al. JAMA. 2002;287:2335-8. AnnualNumberofIncidentCases intheUnitedStates(in1000s) Year TỈ LỆ MẮC BỆNH ALZHEIMER Tăng dần theo tuổi
  17. 19. Tiêu chuẩn NINCDS-ADRDA trong chẩn đoán bệnh Alzheimer Definite AD Tiêu chuẩn chẩn đoán của probable AD. Mô bệnh học phù hợp với bệnh Alzheimer. Probable AD Bệnh sử và test tâm thần kinh phù hợp với sa sút trí tuệ Giảm sút tăng dần về trí nhớ và một loại nhận thức. Không có rối loạn ý thức. Khởi phát giữa 40-90 tuổi Không có bệnh lý hệ thống hoặc bệnh lý não gây sa sút trí tuệ. Possible AD Sa sút trí tuệ với khởi phát và diễn tiến khác Có sự hiện diện bệnh lý hệ thống hoặc bệnh lý não khác. Giảm sút tăng dần một chức năng nhận thức.
  18. 20. GP bệnh học Alzheimer – Mảng amyloid – Đám rối sợi TK
  19. 21. Sinh bệnh học Alzheimer (1) Sự tạo thành amyloid -42
  20. 22. Sinh bệnh học Alzheimer (2) Sự tạo thành đám rối sợi thần kinh từ Tau- protein
  21. 23. MRI trong chẩn đoán AD
  22. 24. MRI trong chẩn đoán AD ??? Phân biệt teo não trong AD hay tuổi già
  23. 25. MRI trong chẩn đoán AD Jack CR Jr, Petersen RC, Xu YC, et al. Neurology 1997; 49:786-794. Phân biệt Alzheimer với nhóm chứng đạt độ nhạy 82% và độ đặc hiệu 80%.
  24. 26. Vai trò của PET scan Jeffrey RP, Coleman RE, Doraiswamy PM. Radiology 2003; 226:315-336 FDG PET: đo lường việc sử dụng glucose trên não BN AD FDDNP, PIB gắn vào mảng A và NFT giúp phân biệt AD và bình thường
  25. 27. Tiêu chuẩn chẩn đoán Alzheimer 2007 1. Dubois B, Feldman HH, Jacova C, et al. Lancet Neurol 2007; 6: 734-46.
  26. 28. Tiêu chuẩn chẩn đoán Alzheimer 2007 Tiêu chuẩn chẩn đoán Probable AD: Tiêu chuẩn A cộng với một hoặc nhiều đặc điểm hổ trợ B, C, D hoặc E Tiêu chuẩn chẩn đoán chính A. Giảm trí nhớ xuất hiện sớm và có các đặc điểm sau: 1. Giảm từ từ và tăng dần trong hơn 6 tháng, được ghi nhận bởi bệnh nhân hoặc người thân. 2. Có bằng chứng khách quan về giảm trí nhớ trong các test đánh giá: thường bao gồm khiếm khuyết sự nhớ lại sau khi quá trình mã hóa đã được kiểm soát. 3. Giảm trí nhớ có thể biểu hiện độc lập hoặc đi kèm với giảm các chức năng nhận thức khác lúc khởi bệnh hoặc trong quá trình tiến triển bệnh Alzheimer
  27. 30. Tiêu chuẩn NIA-AA (2011) Probable AD dementia: Core clinical criteria Thỏa chẩn đoán SSTT: – Giảm nhận thức/rối loạn hành vi ảnh hưởng đến hoạt động sống hàng ngày – Giảm so với trước đây – Không do sảng hoặc rối loạn tâm thần gây ra – SGNT được phát hiện và chẩn đoán qua việc kết hợp hỏi bệnh sử người thân và khám trạng thái tâm thần kinh. Test đánh giá được sử dụng khi bệnh sử và khám không cung cấp một chẩn đoán tin cậy – SGNT hoặc hành vi ảnh hưởng ít nhất 2 nhóm sau: (1) Giảm trí nhớ; (2) Giảm chức năng điều hành; (3) Giảm CN thị giác không gian; (4) Giảm CN ngôn ngữ; (5) Thay đổi cá tính, hành vi.
  28. 31. Tiêu chuẩn NIA-AA (2011) Probable AD dementia: Core clinical criteria Thỏa chẩn đoán SSTT, kèm thêm đặc tính sau: – Khởi phát từ từ – Có sự ghi nhận suy giảm nhận thức trong bệnh sử do người thân cung cấp – Triệu chứng khởi đầu và nổi bật trong quá trình bệnh: Giảm trí nhớ, hoặc Giảm chức năng khác giảm trí nhớ (ngôn ngữ, thị giác không gian, điều hành) – Không có bằng chứng lâm sàng và CLS của bệnh lý khác như bệnh mạch máu não (tiền sử đột quỵ, hình ảnh nhồi máu, XHN, WML nặng), DLB, FTD, …
  29. 32. Tiêu chuẩn NIA-AA (2011) Probable AD dementia: Core clinical criteria Mức độ chắc chắn của chẩn đoán tăng thêm khi: – Có bằng chứng suy giảm nhận thức và/ hành vi trên các test đánh giá theo dõi định kỳ – Có bằng chứng của các đột biến gien gây bệnh Alzheimer (APP, PS1, PS2)
  30. 34. Tiến bộ điều trị AD theo thời gian 1906 Ca AD đầu tiên 1980s Giả thuyết Cholinergic 1988 1993 1997, 1998, 2001 2004 Memantine
  31. 35. Tiến bộ điều trị AD theo thời gian 1906 Ca AD đầu tiên 1980s Giả thuyết Cholinergic 1993 Tacrine, ChEI đầu tiên 1997, 1998, 2001 Donepezil, Rivastigmin, Galantamine ChEIs là thuốc được đề nghị sử dụng hàng đầu khi có chẩn đoán Alzheimer giai đoạn nhẹ đến trung bình
  32. 36. Tiến bộ điều trị AD theo thời gian 1906 Ca AD đầu tiên 1980s Giả thuyết Cholinergic 1988 Giả thuyết Glutamic 1997, 1998, 2001 2004
  33. 37. Tiến bộ điều trị AD theo thời gian 1906 Ca AD đầu tiên 1980s Giả thuyết Cholinergic 1988 Giả thuyết Glutamic 2004 Memantine *Alzheimer giai đoạn từ trung bình đến nặng *Có thể dùng một mình hoặc phối hợp với nhóm ChEIs 1989 2002 FDA công nhận
  34. 38. Phương pháp phòng ngừa Cần làm gì để tăng khả năng chịu đựng của não chống lại các tổn thương do hậu quả lắng đọng amyloid gây ra? Một câu trả lời không được vui nhưng khá rõ ràng: hãy sống cẩn thận. Điều này có nghĩa là: – Hãy tránh hoặc điều trị các yếu tố nguy cơ mạch máu, – Ăn uống đúng mực, – Tạo tinh thần sảng khoái – Giữ cơ thể gọn gàng.

【#8】Vài Khái Niệm Về Một Số Bệnh Tâm Thần Thường Gặp

Hiện nay theo Bảng Phân Loại Bệnh Quốc Tế lần thứ 10 về Các Rối Loạn Tâm Thần và Hành Vi do Tổ chức y tế thế giới xuất bản năm 1992 hiện có đến hơn 300 loại rối loạn tâm thần và hành vi như sa sút tâm thần; rối loạn tâm thần sau chấn thương sọ não hay viêm não; các rối loạn tâm thần do sử dụng rượu và ma túy; tâm thần phân liệt; rối loạn hoang tưởng; các loại rối loạn khí sắc như trầm cảm, hưng cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực…; các loại rối loạn lo âu; các rối loạn ăn uống như chứng chán ăn tâm thần, chứng ăn vô độ hoặc là các rối loạn giấc ngủ như chứng mất ngủ, ngủ nhiều, ác mộng, mộng du … Đa số các loại rối loạn này sẽ khỏi hay ổn định nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, chỉ có một tỷ lệ rất thấp ( khoảng 1 -2% ) là diễn tiến ngày càng nặng dần và không đáp ứng với điều trị.

2 – Tỷ lệ hiện nay của các loại bệnh tâm thần ?

Theo thống kê gần đây của Viện sức khoẻ tâm thần trung ương thì tỷ lệ người Việt Nam có khả năng bị bệnh tâm thần một lần trong đời là 15 – 20% dân số ( đa số đã chữa khỏi hay ổn định ). Qua một số công trình nghiên cứu dịch tể về một số bệnh tâm thần thường gặp trong dân số chung tại TP. HCM được thực hiện trong những năm từ 2000 đến 2003 do Bệnh Viện Tâm Thần thực hiện chúng tôi sơ bộ đã thu được một số tỷ lệ sau :sa sút tâm thần ( ở nhóm người lớn hơn hoặc bằng 65 tuổi ) 7,8 – 9,7%; trầm cảm 9,4%; các rối loạn lo âu 6,1%; tâm thần phân liệt 1%; chậm phát triển tâm thần 0,9%; động kinh 0,5% …

Một số yếu tố về mặt kinh tế xã hội sau đây có thể góp phần vào việc làm tăng tỷ lệ mắc bệnh tâm thần :

  • Các tệ nạn xã hội như nghiện ma túy, rượu ……có thể gây các rối loạn tâm thần do rượu hay ma túy…
  • Tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng cao hơn ( năm 1979 có 3,9% người ³ 65 tuổi thì năm1999 tỷ lệ này là 5,2% ) do vậy càng dễ bộc lộ các rối loạn tâm thần ở người già hơn như sa sút tâm thần Alzheimer, rối loạn tâm thần do bệnh Parkinson …
  • Ngoài ra còn các vấn đề khác như di chứng tâm thần do tai nạn giao thông , chiến tranh và ô nhiểm môi trường gây ra.

3 – Nguyên nhân của bệnh tâm thần

Các nguyên nhân thường gặp là :

3.1 – Nguyên nhân thực thể:

  • Do tổn thương trực tiếp đến não :
      Nhiễm trùng thần kinh : viêm não, viêm màng não, giang mai não …
  • Nhiễm độc thần kinh : do rượu, thuốc ngủ …
  • Chấn thương sọ não
  • Các bệnh khác ở não : u não, áp xe não, tai biến mạch máu não …
  • Do các bệnh cơ thể ảnh hưởng đến hoạt động não : suy thận mãn, cường giáp, nhược giáp …

3.2 – Nguyên nhân tâm lý

Góp phần gây ra các rối loạn như các rối loạn ám sợ, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, rối loạn lo âu lan toả, phản ứng cấp với stress, rối loạn stress sau chấn thương …

3.3 – Do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm thần bệnh lý

Góp phần gây ra các rối loạnnhư chậm phát triển tâm thần và các rối loạn nhân cách .

3.4 – Các bệnh tâm thần nội sinh ( nguyên nhân chưa rõ ràng )

Thí dụ như tâm thần phân liệt, các rối loạn khí sắc …

4 – Khái niệm về một số bệnh tâm thần thường gặp

4.1 – Tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một loại bệnh tâm thần nặng . Cứ trong 100 người dân thì có 1 người mắc bệnh này.

Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần và về lâu dài có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân .

Các triệu chứng chính của bệnh là hoang tưởng, ảo thanh, rối loạn khả năng suy nghĩ, mất đi ý muốn làm việc, giảm sự biểu lộ tình cảm và cách ly xã hội.

Bệnh thường bắt đầu ở tuổi trẻ và thường kéo dài suốt cả cuộc đời .

Bệnh thường khởi phát nhanh với các triệu chứng cấp tính xuất hiện trong vài tuần hay có thể khởi phát chậm dần dần trong nhiều tháng , nhiều năm .

Trong thời gian bệnh , bệnh nhân thường trở nên xa lánh những người khác , ít nói chuyện với người thân , trở nên trầm tư , lo âu hoặc hay sợ hãi .

4.2 – Rối loạn trầm cảm

Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp bao gồm nhiều triệu chứng nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã một cách sâu sắc . Ngưòi bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi , mất hy vọng . Không có gì có thể làm cho người bệnh thích thú được . Ngưòi bệnh cảm thấy thế giới chung quanh dường như lúc nào cũng u ám. Các triệu chứng khác bao gồm sụt cân, khó ngủ, bồn chồn , dễ tức giận, cảm thấy bản thân vô giá trị hoặc bị một tội lỗi gì ghê gớm, gặp khó khăn khi muốn suy nghĩ , muốn tập trung chú ý hay khi phải ra một quyết định nào đó và thường xuyên nghĩ đến cái chết hay có hành động chuẩn bị tự tử ( đây là lý do quan trọng khiến bệnh này nên được điều trị sớm ).

Rối loạn này có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào nhưng thường gặp nhất ở lứa tuổi từ 24 đến 44 . 25% nữ giới và 10% nam giới có thể sẽ bị trầm cảm vào một lúc nào đó trong cuộc sống .

4.3 – Rối loạn lưỡng cực

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một rối loạn trong đó cảm xúc của bệnh nhân thường thay đổi từ giai đoạn trầm cảm sang hưng cảm hoặc ngược lại. Tuy nhiên cũng có những giai đoạn khí sắc bình thường nhưng nếu cứ để tiếp tục không điều trị thì chẳng bao lâu tình trạng cảm xúc này sẽ chuyển từ cực này sang cực đối nghịch .

Các triệu chứng của giai đoạn trầm cảm giống như đã mô tả trong phần rối loạn trầm cảm. Các triệu chứng của giai đoạn hưng cảm bao gồm vui vẻ quá mức, hoang tưởng tự cao, cảm giác mình là vô địch, tăng hoạt động, có những hành vi bao hàm nguy cơ cao (thí dụ như lái xe không cẩn thận , tiêu xài hoang phí… ), không kiểm soát được nhịp độ suy nghĩ hay nói chuyện, ngủ ít và dễ nổi cơn giận dữ bất ngờ.

Khoảng 1 người trong mỗi 100 người có thể sẽ bị rối loạn này vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.

4.4 – Bệnh Alzheimer

Bệnh Alzheimer là một loại bệnh tiến triển ngày càng nặng dần với đặc điểm là sự hủy diệt từ từ các tế bào thần kinh trong não.

Bệnh ít khi xuất hiện trước tuổi 65 và tuổi càng cao thì khả năng bị mắc bệnh ngày càng tăng. Hiện nay tại Mỹ cứ trong mỗi 20 người ở lứa tuổi 65 thì có 1 người bị bệnh này, còn ở lứa tuổi bằng hoặc trên 85 thì có 3 đến 5 người bị bệnh.

Bệnh thường khởi phát rất chậm và dần dần theo thời gian sẽ trở nên nặng hơn. Các triệu chứng xuất hiện đầu tiên thường là thay đổi tính tình và giảm trí nhớ. Người bệnh trở nên dễ mệt mỏi, tức giận hoặc lo âu. Thường hay quên đồ dùng mình để chỗ nào nên hay mất thời gian tìm kiếm. Ui quần áo hoặc vặn nước thường quên tắt sau khi làm xong. Đi đến những nơi quen thuộc thì dễ dàng nhưng nếu đến những nơi lạ thì dễ lạc đường. Sự suy giảm trí nhớ bệnh lý này khác với sự giảm trí nhớ nhẹ có thể gặp ở người già bình thường. Dần dần trí nhớ người bệnh ngày càng giảm sút hơn. Họ thường quên tên của món đồ mà họ muốn gọi, quên tên các bạn thân, không hiểu các con số trên hóa đơn tính tiền, không hiểu những gì mình đọc trong sách báo, không thể viết và không thể lập được kế hoạch làm việc hằng ngày. Lúc này người bệnh bắt đầu khó hoà nhập vào môi trường xả hội chung quanh, thường dễ nổi giận vô cớ, hay la lối, ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh.

Cuối cùng người bệnh trở nên lú lẫn, không biết ngày tháng năm, không nói được tên địa danh nơi họ đang sống, nếu đi ra khỏi nhà thì thường hay đi lang thang và không tìm được đường về, đêm khó ngủ, không thể nói chuyện mạch lạc với người chung quanh, quên tên và không nhận ra con cái, không thể tự làm những việc cơ bản hằng ngày như tắm rửa, ăn uống, làm vệ sinh cá nhân. Lúc này người thân sẽ phải chăm sóc bệnh nhân về mọi mặt và trong mọi lúc.

Khoảng 30% bệnh nhân có ảo giác và 30% bệnh nhân có hoang tưởng. 40 – 50% bệnh nhân có các triệu chứng trầm cảm và lo âu.

Diễn tiến bệnh sẽ trở nên nặng hơn một cách từ từ . Thời gian sống trung bình của người bệnh từ lúc phát bệnh đến lúc chết thường là từ 8 – 10 năm. Bệnh nhân thường chết vì suy kiệt hoặc do các bệnh lý phối hợp như viêm phổi, bệnh tim mạch …

4.5 – Chứng chán ăn tâm thần

Chán ăn tâm thần là một loại rối loạn tâm thần được thể hiện dưới dạng rối loạn ăn uống . Bệnh có đặc điểm là bệnh nhân từ chối duy trì một trọng lượng cơ thể bình thường tối thiểu , rất sợ tăng cân và có nhận thức sai lầm về trọng lượng hay hình dáng cơ thể bản thân .

Cứ khoảng 100 thanh thiếu niên nữ thì có 1 người bị bệnh này và tỷ lệ nữ cao hơn nam gấp 10 đến 20 lần .

85% trường hợp có khởi phát bệnh xảy ra trong khoảng thời gian từ 13 đến 20 tuổi.

Bệnh này dường như xuất hiện nhiều hơn ở các quốc gia công nghiệp hoá và tỷ lệ bệnh thường rất cao trong những nghề nghiệp cần đến sự thon mảnh như nghề người mẫu , diễn viên múa .

Thưòng gặp các triệu chứng sau : bệnh nhân từ chối duy trì trọng lượng cơ thể bình thường tối thiểu so với tuổi và chiều cao, rất sợ tăng cân ( dù đang ở tình trạng trọng lượng cơ thể rất thấp ), nhận thức sai lầm về hình dạng hay trọng lượng cơ thể mình ( thí dụ luôn cảm thấy mập , cảm thấy cơ thể bị biến dạng hay phủ nhận sự quá gầy ốm của mình ) và các rối loạn cơ thể kèm theo sự giảm cân quá mức có thể xuất hiện như suy kiệt ( teo các bắp cơ, không còn lớp mỡ duới da , dễ bị lạnh ), tim mạch ( nhịp tim chậm , huyết áp thấp ) , tiêu hoá ( cảm giác đầy bụng , táo bón , đau bụng) , nội tiết ( mất kinh nguyệt ) , hệ xương ( loãng xương ) , tóc khô và dễ gãy , da khô và nhuốm màu vàng , thiếu máu …

4.6 – Rối loạn ám ảnh cưỡng chế

Đây là một loại rối loạn lo âu có thể xuất hiện ở bất kỳ tuổi nào nhưng thường bắt đầu trong thời kỳ thơ ấu. Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống gia đình, xã hội và công việc hay vấn đề học tập của bệnh nhân.

Tùy theo trường hợp mà bệnh nhân có thể chỉ có các triệu chứng ám ảnh hoặc triệu chứng xung động nhưng thường thì trong 75% trường hợp họ có cả 2 loại triệu chứng cùng một lúc.

Ám ảnh là các ý nghĩ xuất hiện ngoài ý muốn, lập đi lập lại và xâm chiếm toàn bộ suy nghĩ của bệnh nhân và điều này làm cho họ luôn cảm thấy lo âu hoặc bực bội. Thí dụ như bệnh nhân có thể có ý nghĩ là tất cả các vi sinh vật, bụi trong không khí có thể gây bệnh cho họ do đó họ rất sợ hãi và lo lắng khi phải đi ra khỏi nhà hoặc là bệnh nhân luôn nghi ngờ không biết mình đã đóng các cửa sổ và khoá các cửa cái chưa khi đi ra ngoài dù trước đó đã kiểm tra rất cẩn thận .

Rửa tay, tắm hay giặt đồ liên tục do sợ dơ hay nhiễm vi trùng. Dần dần toàn bộ thời gian của họ chỉ dành cho việc rửa tay, tắm, giặt đồ, thậm chí tay họ có thể có biểu hiện bong da do tiếp xúc với nước quá lâu và thường xuyên. Lập đi lập lại tên người thân nhiều lần trong ngày để giúp người thân họ tránh được tai hoạ. Đã ra khỏi nhà nhưng vẫn phải quay về nhiều lần để kiểm traxem có đóng và khoá cửa kỹ hay chưa hoặc khi đi bộ trên đường luôn chú ý tránh né không dẫm lên các vết nứt trên đường, nếu chẳng may dẫm lên thì dù gần đến sở làm cũng phải chạy về nhà đi bộ lại từ đầu thì mới yên tâm…

Dù là ám ảnh hay xung động cũng đều có nét chung là bệnh nhân hiểu rất rõ những điều đó là vô lý và thái quá, họ cũng rất muốn chống lại nhưng cuối cùng lại không thể làm khác đi được. Họ luôn cảm thấy xấu hổ và muốn giấu tất cả mọi người chung quanh về các triệu chứng trên cho đến khi bệnh quá nặng ai cũng nhận thấy và khuyên họ đi điều trị.

4.7 – Rối loạn ám sợ

Ám sợ đưọc định nghĩa là toàn bộ các phản ứng tâm lý và cơ thể do một đối tượng hay hoàn cảnh gây sợ gây ra. Đối tượng gây sợ có thể là một con vật cụ thể như nhện, rắn, côn trùng … hoặc là một hoàn cảnh xã hội như trong thang máy,khi đi máy bay hay trong xe bus, khi phải nói chuyện trước đám đông …

Bệnh này gây ra hậu quả làm giảm hiệu suất trong công việc và các mối quan hệ xã hội ( do bệnh nhân sợ hãi và tránh né các hoàn cảnh có thể gây ra phản ứng sợ hãi như không dám đi máy bay hay xe bus , không dám bước vào thang máy … ) .

Các đặc điểm của ám sợ là bất thình lình cảm thấy một nỗi sợ hãi, khiếp đảm khi đang ở trong một tình huống thực sự vô hại; hoàn toàn nhận thức rằng nỗi sợ hãi này là quá mức và vô lý; phản ứng sợ xuất hiện hoàn toàn tự động, không thể kiểm soát được và xâm chiếm toàn bộ con người bệnh nhân và kèm theo sự sợ hãi cực độ là các phản ứng cơ thể như : nhịp tim nhanh, thở hụt hơi hoặc cảm giác nghẹt thở, run rẩy, toát mồ hôi , buồn nôn, cảm giác khó chịu trong bụng, chóng mặt … và bệnh nhân chỉ có một mong muốn duy nhất là thoát khỏi tình huống này. Sau khi thoát khỏi đối tượng hay tình huống gây sợ bệnh nhân sẽ tìm cách tránh né chúng . Khi sự tránh né này gây ảnh hưởng đến hiệu suất công việc hoặc các mối quan hệ xã hội thì bệnh nhân cần phải được khám tâm thần và điều trị .

4.8 – Rối loạn lo âu lan toả

Đặc điểm của rối loạn này là bệnh nhân luôn cảm thấy lo âu và căng thẳng quá mức hoặc không thực tế về mọi vấn đề của cuộc sống thí dụ họ luôn sợ hết tiền dù họ vẫn còn nhiều tiền trong ngân hàng hoặc họ thường lo sợ mình hoặc ngưòi thân sắp bị bệnh, bị tai nạn hay gặp chuyện không may mặc dù không có dấu hiệu gì đáng để lo lắng về việc đó. Họ luôn cảm thấy bồn chồn, bất an, căng thẳng, run, nhức đầu, dễ mệt mỏi, khó tập trung chú ý, khó ngủ …

50 – 90% trường hợp thường kết hợp với các rối loạn tâm thần khác. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao hơn nam gấp 2 lần. Thường chỉ có 1/3 trường hợp đi khám chuyên khoa tâm thần, số còn lại điều trị ở các bác sĩ đa khoa, tim mạch …

4.9 – Rối loạn tâm thần do rượu hay ma túy

Là hậu quả của việc lạm dụng rượu hay chất gây nghiện và ngày nay đang là vấn đề nổi bậc và khó giải quyết của hầu hết các nước trên thế giới bất kể giàu nghèo. Những người nghiện rượu hay chất gây nghiện là những người không thể kiểm soát việc sử dụng các chất này, họ cần phải dùng liện tục mỗi ngày với liều lượng ngày càng tăng. Họ cũng cố gắng tự bỏ nhiều lần nhưng ít khi thành công. Nếu không có các chất này thì họ sẽ không thể làm việc bình thường và sẽ xuất hiện các triệu chứng rất khó chịu như là đổ mồ hôi, mạch nhanh, run tay, mất ngủ, ói mửa, kích động , lo âu, co giật … ( nếu là nghiện rượu ) hoặc nôn, đau nhức bắp thịt, chảy nước mắt nước mũi, giãn đồng tử, dựng lông, toát mồ hôi, tiêu chảy, ngáp, mất ngủ …( nếu là nghiện thuốc phiện hay heroin ). Nếu cho họ sử dụng trở lại rượu hay các chất gây nghiện thì các triệu chứng này sẽ biến mất. Về lâu dài họ có thể bị thêm nhiều loại rối loạn tâm thần khác như sa sút tâm thần, rối loạn trí nhớ, loạn thần, rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ … Các đối tượng này cần được điều trị tại cơ sở chuyên khoa. Cần chú ý rằng việc điều trị cắt cơn tương đối dễ nhưng việc điều trị phòng ngừa chống tái phát là một quá trình rất khó khăn.

4.10 – Chậm phát triển trí tuệ

Là một tình trạng bệnh lý có đặc điểm là khả năng trí tuệ chung thấp hơn bình thường một cách rõ rệt kèm theo suy giảm đáng kể khả năng thích nghi ( khả năng tự lập và thực hiện các trách nhiệm của xã hội tương ứng với tuổi ) và khởi phát bệnh trước tuổi 18. Khả năng trí tuệ chung được xác định bằng các thang đo lường trí tuệ cho ra kết quả là thương số thông minh ( IQ ) có giá trị trung bình là 100. Nếu chỉ số IQ nhỏ hơn 70 thì có thể xem như chậm phát triển trí tuệ. Chậm phát triển trí tuệ được chia ra thành 4 mức độ chính là nhe ( IQ từ 50 – 69, chiếm 85% các trường hợp ), trung bình ( IQ từ 35 – 49, chiếm 10% các trường hợp ), nặng ( IQ từ 20 – 34, chiếm 3 – 4% các trường hợp ) và nghiêm trọng (IQ thấp hơn 20, chiếm 1 -2% các trường hợp ). Tình trạng này diễn tiến mãn tính, không có giai đoạn thuyên giảm. Tuy nhiên khả năng thích nghi của trẻ có thể được cải thiện nếu cho trẻ đi học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ và điều trị tốt các tình trạng bệnh lý kèm theo thí dụ như động kinh …

Nguyên nhân của tình trạng chậm phát triển trí tuệ rất đa dạng như di truyền ( hội chứng Down ); mẹ bị nhiễm trùng hoặc suy dinh dưỡng khi mang thai; sanh non, sanh hút hoặc trẻ bị ngạt lúc sanh; viêm não, viêm màng não hay sốt cao co giật nhiều lần khi trẻ còn bé …

5 – Nguyên tắc chung trong việc điều trị bệnh tâm thần.

Nguyên tắc chung trong điều trị các loại bệnh tâm thần là phối hợp giữa thuốc và tâm lý liệu pháp. Từ năm 1950 đến nay đã có rất nhiều tiến bộ trong việc điều chế ra các loại thuốc mới điều trị bệnh tâm thần ngày càng hiệu quả hơn như các loại thuốc chống loạn thần điều trị các triệu chứng hoang tưởng , ảo giác …, các loại thuốc chống trầm cảm điều trị các rối loạn trầm cảm, các loại thuốc điều hoà khí sắc nhằm điều trị rối loạn lưỡng cực, các loại thuốc an thần nhẹ điều trị các rối loạn lo âu và giấc ngủ, các loại thuốc chữa bệnh giảm trí nhớ Alzheimer … Còn về liệu pháp tâm lý thì hiện nay cũng có rất nhiều phương pháp điều trị bệnh tâm thần như các liệu pháp phân tâm, các liệu pháp nhận thức hành vi, ám thị và thư giãn, các liệu pháp tâm lý nâng đỡ…

6 – Những dấu hiệu cảnh báo bệnh tâm thần

Nếu đương sự có một hay nhiều các triệu chứng cảnh báo sau đây thì nên đến khám bác sĩ tâm thần càng sớm càng tốt :

  • Thay đổi tánh tình rõ rệt .
  • Không có khả năng đối phó với các vấn đề trong cuộc sống hằng ngày .
  • Có các ý tưởng tự cao hay xa lạ .
  • Lo âu quá mức và kéo dài.
  • Buồn bã kéo dài.
  • Thay đổi rõ rệt trong cách ngủ và ăn uống .
  • Nghĩ đến hay nói về vấn đề tự tử .
  • Cảm xúc thay đổi quá nhanh từ hưng phấn sang buồn nản và ngược lại
  • Nghiện rượu hay ma túy .
  • Giận dữ quá mức , thù địch hay hành vi bạo lực .

Đừng e ngại hay xấu hổ khi đi khám bệnh mà ngược lại việc đi khám bệnh nói lên sự mạnh mẽ trong ý chí của bạn và sự sáng suốt trong khả năng giải quyết các vấn đề cá nhân ./.

BS . LÊ QUỐC NAM

【#9】Tế Bào Gốc Là Gì? Có Thực Sự “thần Kỳ” Đến Vậy?

Tế bào gốc là những viên gạch đặt nền móng cho các cơ quan trong cơ thể. Chúng có khả năng tự tạo mới và tiềm năng biệt hóa. Tức là tế bào gốc có khả năng phân chia để tạo ra nhiều tế bào khác hoặc tạo thành nhiều loại tế bào gốc chức năng khác như tế bào tóc, tế bào da, tế bào xương…

Tế bào gốc liên tục thay thế tế bào bị tổn thương, tế bào già trong cơ thể. Quá trình này giúp cơ thể luôn tươi mới, khỏe mạnh và làm chậm quá trình lão hóa. Chính vì thế vai trò của chúng trong cơ thể vô cùng quan trọng.

Ứng dụng tế bào gốc

Tế bào gốc có khả năng làm mới, phục hồi và thay thế các mô bị hư tổn và già cỗi. Tế bào gốc hứa hẹn nhiều tiềm năng trong y học.

Sau khi tìm được câu trả lời cho câu hỏi tế bào gốc là gì? Thì ta đã biết được rằng công nghệ tế bào gốc ra đời cùng với một chuyên ngành y khoa mới – Y học tái tạo. Công nghệ tế bào gốc giúp tái tạo mô tạng, làm lành các tổn thương, chữa khỏi bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Ứng dụng tế bào gốc trong y học

Tế bào gốc có ứng dụng gì trong y học?

Hỗ trợ điều trị ung thư, các bệnh hiểm nghèo

Trên cơ sở kết quả của các nghiên cứu khoa học đã chứng minh tế bào gốc giúp hỗ trợ điều trị ung thư, các bệnh hiểm nghèo rất hiệu quả, nhà nghiên cứu khoa học Szabó László và các cộng sự tìm ra hỗn hợp các chất có nguồn gốc từ thiên nhiên giúp kích thích tủy xương giải phóng nhiều hơn tế bào gốc vào máu, từ đó các tế bào gốc sẽ đi đến các bộ phận trong cơ thể để thay thế các tế bào bị tổn thương hoặc lão hóa. Đặc biệt hỗn hợp chất này có khả năng giúp tái tạo các tế bào bị tiêu diệt từ quá trình xạ trị và hóa trị. Bắt nguồn từ việc cha của Ông Szabó László bị lâm bệnh nặng gần như mọi liệu pháp không giúp được cha ông khỏe lại. Chính điều này đã thúc đẩy Ông tìm kiếm các phương pháp từ tự nhiên và đây là công trình nghiên cứu khoa học nổi tiếng toàn thế giới. Cùng tìm hiểu thêm thông tin

Bệnh tiểu đường

Với các tế bào gốc hỗ trợ điều trị bệnh nhân bệnh tiểu đường, y học hiện đại đã ứng dụng liệu pháp cấy tế bào gốc nhằm giúp cơ thể tái tạo các tế bào beta sản sinh insulin, giúp các bệnh nhân ổn định mức đường huyết. Hiện nay, có một giải pháp an toàn và đơn giản hơn, đó là sử dụng sản phẩm tăng sinh tế bào gốc nội sinh theo đường uống có tác dụng hỗ trợ kích hoạt các tế bào gốc trong tủy xương và giải phóng nhiều hơn các tế bào gốc vào máu, từ đó quá trình tái tạo các tế bào beta và sản sinh insulin được diễn ra liên tục, duy trì ổn định mức đường huyết cho người bệnh.

Đối với Bệnh tim mạch

Olimpiq SXC 250% giúp tủy xương giải phóng nhiều các tế bào gốc hơn vào máu, từ đó chúng giúp cải thiện tình trạng xơ vữa mạch, giúp thành mạch chắc khỏe, tăng cường độ đàn hồi, từ đó giúp ổn định huyết áp và chống xơ vữa mạch.

Đối với Bệnh nhồi máu máu cơ tim

Phương pháp tăng sinh tế bào gốc nội sinh được thử nghiệm cho thấy đối với các bệnh nhân nhồi máu cơ tim, Olimpiq giúp cải thiện đáng kể trong việc giảm thời gian điều trị.

Sau một thời gian sử dụng Olimpiq, độ cứng cơ của một số bệnh nhân giảm đáng kể, các động tác được cải thiện nhiều, các cơn đau cơ giảm, phối hợp vận động tốt hơn, có những người chỉ dùng xe lăn nhưng sau 3 tháng họ có thể đi lại với khung tập đi.

Đối với Bệnh não

Dưới tác dụng của Olimpiq, số lượng tế bào não tăng lên, các kết nối giữa các tế bào thần kinh trở nên mạnh mẽ hơn, sự phối hợp vận động được cải thiện, sự phát triển của trí tuệ tăng, các rối loạn tâm thần được cải thiện, chứng động kinh giảm.

Đối với bệnh Parkinson

Với phương pháp tăng sinh tế bào gốc nội sinh, các tế bào gốc giúp tái tạo các tế bào thần kinh sản xuất ra dopamine, cải thiện chứng rung đối với người mắc phải bệnh Parkinson.

Đối với bệnh gan

Gan là cơ quan tái tạo tốt nhất trong cơ thể, cả tế bào gan và các tế bào gốc đều đóng vai trò quan trọng. Việc sử dụng giải pháp tăng sinh tế bào gốc khi bị bệnh gan đều rất hiệu quả. Dưới tác dụng của sản phẩm Olimpiq SXC 250% SL, tế bào gốc được sinh ra để thay thế các tế bào gan bị tổn thương. Từ đó, cải thiện tình trạng của bệnh gan thể hiện qua các kết quả xét nghiệm.

Hỗ trợ các bệnh nhân bỏng

Olimpiq rất hiệu quả trong quá trình hỗ trợ điều trị các vết thương do bỏng gây nên. Qua lưu thông máu, các tế bào gốc kịp thời đến vết thương để thay thế cho các tế bào đã bị hủy hoại. Việc chữa bỏng hơi nước sử dụng sản phẩm kịp thời trong nhiều trường hợp có thể thay thế cho việc cấy ghép da.

Ứng dụng tế bào gốc trong chống lão hóa

Tế bào gốc có khả năng phục hồi, làm mới và thay thế các mô bị hư tổn và già cỗi. Nhưng theo quy luật tự nhiên, tế bào gốc cũng sẽ giảm số lượng nhanh chóng theo thời gian và độ tuổi. Khi mới sinh con người có 100% lượng tế bào gốc, khi 18 tuổi còn khoảng 45% và khi 30 tuổi chỉ còn khoảng 25%. Đây chính là quá trình lão hóa. Vậy ứng dụng trong việc đẩy lùi lão hóa của tế bào gốc là gì? Tế bào gốc có khả năng kích thích sự hoạt động các tế bào gốc dự trữ tại các cơ quan để chúng thay thế các tế bào bị già cỗi và làm trẻ hóa các cơ quan Quá trình này cũng giúp làm chậm các quá trình oxy hóa, cải thiện làn da, giúp tóc chắc khỏe…

Tế bào gốc trong chống lão hóa có tác dụng như thế nào?

Một số giáo sư, chuyên gia hàng đầu của Hungary đã công bố nghiên cứu thành công hỗn hợp chất giúp kích thích tủy xương giải phóng nhiều hơn tế bào gốc vào trong máu. Hỗn hợp chất này giúp làm tăng sinh số lượng tế bào gốc trong máu một cách tự nhiên và an toàn. Hỗn hợp chất này có trong sản phẩm Olimpiq SXC 250% SL. Olimpiq SXC 250% SL được sản xuất dưới dạng viên nang tại Hungary, được nhập khẩu và phân phối độc quyền tại Việt Nam bởi Tổng công ty Dược Việt Nam – CTCP (VINAPHARM).

Làm sao để tăng sinh tế bào gốc nội sinh trong cơ thể?

Những năm gần đây, liệu pháp cấy ghép tế bào gốc ngoại sinh trong một số trường hợp mắc bệnh nan y đã có thành công lớn. Chính vì vậy công nghệ tế bào gốc nói chung rất được quan tâm. Do đó, giải pháp tăng sinh tế bào gốc nội sinh cũng được nhiều người tìm hiểu vì các ưu điểm nổi bật như dễ thực hiện, giá thành hợp lý, hiệu quả cao, không có tác dụng phụ cả trong phòng bệnh cũng như trong điều trị bệnh.

Viên uống tăng sinh tế bào gốc nội sinh Olimpiq SXC 250% SL Capsules A+B là thực phẩm bảo vệ sức khỏe giúp tăng số lượng tế bào gốc nội sinh an toàn và hiệu quả. Hộp sản phẩm gồm 2 lọ: Lọ A và Lọ B.

Sản phẩm Olimpiq SXC 250% SL gồm 2 lọ: Lọ A và Lọ B.

Viên A giúp bảo vệ tế bào gốc mạnh khỏe. Thành phần trong viên A gồm các chất giàu falavonoid giúp chống oxy hoá, giảm số lượng các gốc tự do, kháng khuẩn, giảm nguy cơ ung thư.

Viên B giúp kích hoạt các tế bào gốc trong tủy xương khiến số lượng tế bào gốc trong máu tăng lên một cách tự nhiên. Nhờ đó cơ thể có khả năng sửa chữa các lỗi ở các cơ quan do bệnh tật, tai nạn gây ra hay đơn giản do chính quá trình lão hóa.

(Bài viết tham khảo thông tin từ VINAPHARM, suckhoedoisong, vietnamnet, dantri, medical news today)

【#10】Đặc Điểm Lâm Sàng Về Chức Năng Vận Động Của Bệnh Parkinson Và Phân Độ Chẩn Đoán Theo Hoehn Yahr: Một Khảo Sát Tiền Cứu 32 Trường Hợp

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 13 * Phụ bản của Số 1 * 2009

Nghiên cứu Y học

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VỀ CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG

CỦA BỆNH PARKINSON VÀ PHÂN ĐỘ CHẨN ĐOÁN THEO HOEHN-YAHR:

MỘT KHẢO SÁT TIỀN CỨU 32 TRƯỜNG HỢP

Lê Minh*, Trần Ngọc Tài**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Bệnh Parkinson là một bệnh thoái hóa của hệ thần kinh trung ương thường gặp ở người lớn

tuổi và có thể gây tàn phế và làm giảm chất lượng cuộc sống. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng

được cải thiện do đó bệnh Parkinson cũng trở thành một vấn đề sức khỏe đáng được lưu ý nhiều hơn.

Mục tiêu của nghiên cứu: Các mục tiêu của nghiên cứu này gồm có (1) sự phân tích đặc điểm của các triệu

chứng vận động của bệnh Parkinson, (2) sụ phân loại độ nặng của bệnh theo thang điểm đánh giá đã cải biên của

Hoehn và Yahr, và (3) khảo sát về năng lực chẩn đoán bệnh Parkinson của các bác sĩ ở các tuyến trước.

Bệnh nhân và phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu mở tiền cứu và mô tả các trường hợp được

chẩn đoán bệnh Parkinson theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Parkinson của Hội về Bệnh Parkinson của Anh Quốc.

Việc thăm khám bệnh nhân và làm hồ sơ bệnh án được thực hiện bởi hai bác sĩ chuyên khoa thần kinh theo một

qui trình và các tiêu chuẩn thống nhất. Các đặc điểm dân số học và triệu chứng vận động được phân tích, từ đó

phân độ theo thang điểm đánh giá độ nặng đã cải biên của Hoehn và Yahr.

Kết quả: Có 32 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Parkinson với tỉ lệ nam:nữ = 1:1. Tuổi trung bình khởi

phát triệu chứng là 57,5. Lý do khiến bệnh nhân đi khám bệnh hay gặp nhất là run (56,3%). Khởi phát triệu

chứng thường ở một bên (84,4%). Biểu hiện các triệu chứng kinh điển của bệnh Parkinson gồm có cử động chậm

(100%), run khi nghỉ (71,9%), đơ cứng (93,8%), mất ổn định tư thế (40,6%). Kết quả của phân độ theo thang

điểm đánh giá độ nặng đã cải biên của Hoehn và Yahr có điểm trung bình bằng 2,28 ± 1,05. Tỉ lệ chẩn đoán sai

của tuyến trước là 43,8%.

Kết luận: Bệnh Parkinson có biểu hiện lâm sàng khá đa dạng, thường được gặp ở bệnh nhân lớn tuổi nhưng

bệnh chưa được chẩn đoán và điều trị đúng mức. Cần có những nghiên cứu trong tương lai về các đặc điểm lâm

sàng vận động và không vận động của bệnh, về tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ và tỷ lệ mới mắc bệnh trong cộng đồng.

Việc đào tạo, huấn luyện cho các bác sĩ mới tốt nghiệp có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để chẩn đoán và xử trí

bệnh cũng là cần thiết.

ABSTRACT

CLINICAL MOTOR PHENOMENOLOGY OF PARKINSON’S DISEASE AND CLINICAL

ASSESSMENT BASED UPON THE THE MODIFIED HOEHN AND YAHR STAGING: A

PROSPECTIVE STUDY ON 32 CASES

Le Minh and Tran Ngoc Tai * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 – Supplement of No 1 – 2009: 364 – 369

Department of Neurology, University Medical Center, 215 Hong Bang Street, District 5, Ho Chi Minh

City; Department of Neurology, The University of Medicine and Pharmacy, 217 Hong Bang Street, Ho Chi

Minh City – Viet Nam.

Department of Neurology, University Medical Center, 215 Hong Bang Street, District 5, Ho Chi Minh City

– Viet Nam.

* Phân Khoa Thần Kinh, Bệnh Viện Đại Học Y Dược; Bộ Môn Thần Kinh, Đại Học Y Dược Tp HCM

**Phân Khoa Thần Kinh, Bệnh Viện Đại Học Y Dươc

Chuyên Đề Nội Khoa

363

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 13 * Phụ bản của Số 1 * 2009

Nghiên cứu Y học

Background: Parkinson’s disease is a common central nervous system degenerative disease of the elderly.

Compared to the past, the life expectancy in Viet Nam is continuously improving and Parkinson’s disease is

consequently becoming an important health problem of the country.

Aim: The objectives of this pliminary study include three objectives: (1) to analyze the characteristics of the

motor phenomenon of Parkinson’s disease; (2) to assess the disease according to the modified Hoehn and Yahr

staging; (3) to evaluate the diagnostic skill concerning Parkinson’s disease of the Vietnamese physicians.

Patients and Method: This is an open, descriptive and prospective study carried out by two neurologist of

the University Medical Center Neurology Department. The diagnosis and differential diagnosis of Parkinson’s

disease are based upon the United Kingdom Parkinson’s Disease Society Brain Bank Clinical Diagnostic Criteria.

The analysis of the data involves the demographic aspect, the characteristics of motor symptoms and signs, the

scoring according to modified Hoehn and Yahr staging, and the assessment of the misdiagnoses that have been

done beforehand. Statistical analysis is done with the software SPSS 11.5 for window.

Results: There are 32 patients affected by Parkinson’s disease with the male:female ratio of 1:1. the mean age

of onset is 57,5 years. The chief reason for consulting a doctor is tremor (56,3% of the cases). 84,4% of the patients

remember that the symptoms were unilateral at the onset of the disorder. The classical symptoms and signs of

Parkinson’s disease include bradykinesia (100% of the cases), resting tremor (71,9% of the cases), rigidity (93,8%

of the cases), and postural imbalance (40,6%). The mean score of the modified Hoehn and Yahr staging in this

population is 2,28 ± 1,05. 43,8% of the patients have been misdiagnosed beforehand.

Conclusion: Parkinson’s disease is a common disorder of the elderly and can be simpy diagnosed on relying

on the classical clinical findings. Insufficient diagnostic skill among the Vietnamese physicians is still a problem to

be improved. Future study and assessment on the pvalence, incidence, and the whole aspects of the clinical

phenomenology (non-motor symptoms included) of the disease are necessary. Essential knowledges, diagnostic

skill and management skill of this disease should be a priority in the training of future Vietnamese medical

doctors.

364

Chuyên Đề Nội Khoa

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 13 * Phụ bản của Số 1 * 2009

Nghiên cứu Y học

Mục tiêu nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với những mục tiêu sau:

Phân tích lâm sàng các triệu chứng vận động của Bệnh Parkinson

Phân loại độ nặng bệnh Parkinson theo thang điểm Hoehn và Yahr biến đổi.

Nhận định về năng lực chẩn đoán bệnh Parkinson ở tuyến trước

ĐỐI TƯỢNG- PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CƯU

Dân số

Tất cả bệnh nhân có hội chứng Parkinson vào khám và điều trị tại Bệnh viện Đại Học Y

Dược và tại một phòng khám ngoại giờ của một thành viên của nhóm nghiên cứu từ

01/7/2008 đến 31/10/2008 (04 tháng) có đủ tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ bệnh. Các bệnh

nhân được phát hiện tại phòng khám ngoài giờ đều được chuyển về để xác định thêm chẩn

đoán và điều trị theo dõi tại Phân Khoa Thần Kinh của Bệnh viện ĐHYD.

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Việc chẩn đoán lâm sàng bệnh Parkinson được thực hiện dựa theo các tiêu chuẩn của

United Kingdom Parkinson’s Disease Society Brain Bank Clinical Diagnostic Criteria:6

– có sự hiện diện của cử động chậm

– và có sự hiện diện kèm theo của ít nhất là một trong các triệu chứng sau đây: đơ cứng,

run lúc nghỉ và rối loạn phản xạ tư thế.

Chuyên Đề Nội Khoa

365

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 13 * Phụ bản của Số 1 * 2009

Nghiên cứu Y học

Tiêu chuẩn loại trừ

Có bằng chứng lâm sàng (tiền sử về các bệnh nội khoa và chấn thương có thể gây ra hội

chứng Parkinson thứ phát, các dấu hiệu lâm sàng không điển hình, sự không đáp ứng đối

với levodopa) và/hoặc bằng cớ hình ảnh học gợi ý đến các hội chứng Parkinson khác của

viêm não, bệnh mạch máu não, bệnh tràn dịch não thất hay bệnh sa sút trí tuệ.

Việc thăm khám mỗi bệnh nhân đều được thực hiện bởi cả hai nghiên cứu viên thực hiện

khảo sát này, trên cơ sở đã có sự thống nhất về các tiêu chuẩn chần đoán và tiêu chuẩn loại

trừ, các nội dung cần hỏi trong tiền sử và bệnh sử của bệnh nhân, các thao tác thăm khám

từng loại triệu chứng một.

Đây là nghiên cứu mở, tiền cứu và mô tả.

Tất cả bệnh nhân sẽ được thu thập theo bảng thu thập có sẵn và sẽ được xử lý thống kê

theo phần mềm SPSS 11.5 for window.

KẾT QUẢ

Từ 01/7/2008 đến 31/10/2008 chúng tôi ghi nhận có tất cả 44 bệnh nhân có hội chứng

Parkinson, trong đó 32 bệnh nhân hội đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Parkinson (72,7%).

Số bệnh nhân nam và nữ chiếm tỉ lệ như nhau (50%). Tuổi trung bình khởi phát triệu

chứng là 57,5, tuổi trẻ nhất là 33 và lớn nhất là 86. Có tất cả 04 bệnh nhân < 40 tuổi, chiếm

12,5%.

Bảng 1: Đặc điểm dân số học

Đặc điểm

Tuổi

Nam : Nữ

Thời gian mắc bệnh

Về lý do khiến bệnh nhân phải đi khám bệnh thì đứng đầu, nhiều nhất là run (56,3%),

kế đến là cử động chậm (21,9%), đi không vững, dễ ngã (12,5%) và một số lý do khác như

đau, mệt mỏi, yếu…(9,4%).

LÍ DO ĐẾN KHÁM

60

50

40

Run

Cử động Đi dễ ngã

chậm

Khác

Triệu chứng

Hình 1: Triệu chứng khiến bệnh nhân đi khám bệnh

Triệu chứng khởi đầu thường xuất hiện ở chi trên (71,9%) với cử động chậm (62,5%),

run khi nghỉ (37,5%).

366

Chuyên Đề Nội Khoa

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 13 * Phụ bản của Số 1 * 2009

Nghiên cứu Y học

VÙNG CƠ THỂ KHỞI PHÁT TRIỆU CHỨNG

Tỉ lệ %

Chi trên

Chi dưới

Cả chi trên

và dưới

Vị trí

Hình 2: Vùng cơ thể có triệu chứng khởi phát bệnh

Khởi phát triệu chứng thường ở một bên (84,4%) với bên phải và trái tương đương

nhau. Ở 15,6% trường hợp có ghi nhận triệu chứng khởi đầu ở cả hai bên, nhưng khi khám

tất cả những trường hợp triệu chứng hai bên đều không đối xứng.

Bảng2: Tỉ lệ các triệu chứng vận động trong bệnh Parkinson

Triệu chứng vận động

Tỉ lệ bất thường

Vẻ mặt vô cảm

Giọng nói

Cử động chậm ở chi

Chậm toàn cơ thể

Run khi nghỉ

Run tư thế

Đơ cứng

Đứng lên từ ghế

Mất ổn định tư thế

Tư thế gập

Dáng đi bất thường

Chỉ 56,2% các trường hợp được chẩn đoán đúng bệnh Parkinson trước khi đến khám

chúng tôi. 43,8% trường hợp còn lại được các bác sĩ tuyến trước chẩn đoán cơn thoáng thiếu

máu não, tai biến mạch máu não, suy van tĩnh mạch chi dưới, thoái hóa cột sống cổ do lớn

tuổi…

Phân giai đoạn theo Hoehn và Yahr trung bình 2,28 ± 1,05. Nhóm bệnh nhân nghiên cứu

rải rác khắp các giai đoạn từ chậm cử động, run nhẹ một chi (giai đọan I) đến nằm tại

giường không đi lại được (giai đoạn V).

PHÂN GIAI ĐOẠN THEO

HOEHN VÀ YAHR BIẾN ĐỔI

31,3

25

25

Tỉ lệ %

10

9,4

I.5

II

II.5

III

IV

V

Giai đoạn

Hình 3. Giai đoạn bệnh theo phân loại của Hoehn và Yahr

Chuyên Đề Nội Khoa

367