Khái Niệm Và Các Mô Hình Về Phát Triển Bền Vững

--- Bài mới hơn ---

  • Môi Trường Và Sự Phát Triển Bền Vững
  • Quản Lý Sức Khoẻ Môi Trường
  • Kiến Trúc Bền Vững Là Gì? Khái Niệm, Lợi Ích, Tiêu Chí 2021
  • Phí Bảo Vệ Môi Trường
  • Phí Bảo Vệ Môi Trường Đang Được Sử Dụng Như Thế Nào?
  • Khái niệm phát triển bền vững (PTBV) được uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới (Uỷ ban Brundland) nêu ra năm 1987 như sau: “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của,mình, sao cho không phương hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ”.

    Năm 1987, trong cuốn “Tương lai chung của chúng ta” của uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới xuất bản đã đưa thuật ngữ phát triển bển vững, nó được xem như một “báo cáo về thế giới” và nhanh chóng được lưu hành rộng rãi. Thuật ngữ PTBV được báo cáo là: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của họ”. Bốn năm sau, năm 1991, uỷ ban này công bố một tài liệu khác mang tên “Chăm lo cho Trái Đất”, thuật ngữ PTBV và tính bển vững được mở rộng thêm: “Phát triển bền vững là sự phát triển nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của các hệ thống sinh thái. Tính bền vững là một đặc điểm đặc trưng của một quá trình hoặc một trạng thái có thể duy trì mãi mãi”. Tại hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992, Khái niệm PTBV được bổ sung và hoàn chỉnh thêm. Theo đó, phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp nhau của ba hệ thống tương tác lớn của thế giới: hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội.

    Từ đó khái niệm về PTBV tiếp tục được nghiên cứu kỹ lưỡng trong chương trình nghị sự 21, là chương trình hành động về PTBV chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21 đã được thông qua.

    Có nhiều lý thuyết, mô hình mô tả nội dung của phát triển bền vững. Theo Jacobs và Sedler hình 1.2.a, thì phát triển bển vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm; hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của Trái Đất). Trong mô hình hình 1.2.a., sự phát triển bền vững không cho phép vì sự ưu tiên của hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay phát triển bển vững là sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên.

    Hình 1.2. Mô hình PTBV (a. Jacobs và Sadler, 1990; b. Ngân hàng thế giới)

    Theo mô hình của ngân hàng thế giới như hình 1.2.b. phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, công bằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã hội (công bằng dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (báo đảm cân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người).

    Trong mô hình của Hội đồng về Môi trường và phát triển bền vững thế giới (WCED) 1987, thì tập trung trình bày quan niệm phát triển bền vững theo các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội.

    Còn trong mô hình của Villen 1990 thì trình bày các nội dung cụ thể để duy trì sự cân bằng của mối quan hệ kinh tế – sinh thái – xã hội trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia.

    Trong các mô hình trên có thể khác nhau về phương pháp tiếp cận nhưng đều thống nhất các quan niệm chung về phát triển bền vững.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Môi Trường Kinh Tế (Economic Environment) Là Gì?
  • Môi Trường Tự Nhiên Là Gì? 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Hạng Của Một Ma Trận & Ma Trận Nghịch Đảo
  • Imt: Định Lý Ma Trận Khả Nghịch
  • Ma Trận Swot Là Gì? Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết Về Swot Matrix
  • Tìm Hiểu Thêm Về Khái Niệm Tư Duy :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Của Tư Duy. Muốn Phát Triển Tư Duy Thì Cần Phải Làm Gì ?
  • Về Khái Niệm Tư Duy Phản Biện
  • Giáo Dục Toàn Diện Để Tạo Ra Con Người Toàn Diện
  • Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Các Qui Tắc Định Nghĩa Khái Niệm
  • Tư duy là gì? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học và nhiều nhà khoa học nghiên cứu Triết học nghiên cứu tư duy dưới góc độ lý luận nhận thức. Lôgíc học nghiên cứu tư duy ở các quy tắc tư duy đúng. Xã hội học nghiên cứu tư duy ở sự phát triển của quá trình nhận thức trong các chế độ xã hội khác nhau. Sinh lý học nghiên cứu cơ chế hoạt động thần kinh cao cấp với tư cách là nền tảng vật chất của các quá trình tư duy ở con người. Điều khiển học nghiên cứu tư duy để có thể tạo ra “Trí tuệ nhân tạo”. Tâm lý học nghiên cứu diễn biến của quá trình tư duy, mối quan hệ qua lại cụ thể của tư duy với các khía cạnh khác của nhận thức (1). Ngày nay, người ta còn nói tới tư duy của người máy…

    Song, dù là loại tư duy nào thì nó cũng có sự khác biệt căn bản với tư duy con người, ở chỗ: Tư duy của con người mang bản chất xã hội – lịch sử, có tính sáng tạo, có khả năng khái quát và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện. Tư duy con người được quy định bởi các nguyên nhân, các yêu cầu của quá trình phát triển lịch sử – xã hội, chứ không đừng lại ở mức độ tư duy bằng các thao tác chân tay hay bằng một chương trình đã được lập sẵn. Có thể nói một cách khái quát, các nhà tâm lý học Mác – xít, trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chúng, đã khẳng định: Tư duy là sản phẩm cao cấp của một dạng vật chất hữu cơ có tổ chức cao, đó là bộ não của con người. Trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan bằng những khái niệm, phán đoán… tư duy bao giờ cũng có mối liên hệ nhất định với một hình thức hoạt động của vật chất, với sự hoạt động của não người. Trong khi xác đính sự giống nhau giữa tâm lý người và động vật, các nhà tâm lý học Mác – xít cũng chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa tư duy của con người và hoạt động tâm lý động vật. Một trong những khác nhau ấy là tư duy con người sử dụng khái niệm để ghi lại những kết quả trừu tượng hoá, tư duy được ra đời do lao động và trên cơ sở của sự phát triển xã hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, thế giới tự nhiên tác động vào các giác quan tạo ra cảm giác, tri giác và biểu tượng là cơ sở ban đầu của tư duy. Tư duy khái quát những thu nhận của cảm giác bằng những khái niệm và những phạm trù khoa học, mang lại cho chúng ta những quan điểm rộng hơn, sâu hơn những cảm giác trực tiếp. Nhờ trừu tượng hoá mà tư duy đã chỉ ra được những mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ của rất nhiều sự vật, hiện tượng, nêu ra được những khái niệm, những phạm trù, những quy luật phản ánh các mối liên hệ, quan hệ nội tại của các sự vật, hiện tượng đó. Và chỉ có khái quát về lý luận mói cho phép tư duy của con người tìm ra bản chất của các sự vật, hiện tượng và các quy luật phát triển của chúng.

    Như vậy, tư duy trước hết là sự phản ánh ở trình độ cao bằng con đường khái quát hoá, hướng sâu vào nhận thức bản chất, quy luật của đối tượng. Phản ánh ở đây hiểu theo quan niệm của chủ nghĩa Mác là phản ánh biện chứng, “là một quá trình phức tạp và mâu thuẫn của sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa hoạt động tư duy và hoạt động thực tiễn, như là một quá trình trong đó con người không thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, mà tác động tới nó, cải tạo nó và bắt nó phải phục tùng những mục đích của mình”(2). Đó là phản ánh tâm lý, là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính, các mối quan hệ, liên hệ bản chất, quy luật vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong biện thực khách quan(3). Theo V.I. Lê nin, tư duy là sự phản ánh thế giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn, đầy đủ hơn, .đi sâu một cách vô hạn, tiến gần đến chân lý khách quan hơn. “Tư duy của người ta – đi sâu một cách vô hạn, từ giả tưởng tới bản chất, từ bản chất cấp một, nếu có thể như vậy, đến bản chất cấp hai… đến vô hạn”(4).

    Tư duy là quá trình vận dụng các khái niệm, phạm trù theo những quy luật lôgíc chặt chẽ nhằm đạt đến chân lý. Theo M.N. Sacđacôv “Khái niệm” là “sự hiểu biết những dấu hiệu chung và bản chất của sự vật, hiện tượng của hiện thực”(5). L.X.Vưgốtxki lại cho rằng “Khái niệm” xuất hiện khi hàng loạt các dấu hiệu đã được trừu tượng hoá lại được tổng hợp, “sự tổng hợp trừu tượng trở thành hình thúc cơ bản của tư duy nhờ đó người ta đạt được suy nghĩ về hiện thực bao quanh”. Ông còn đi sâu phân biệt hai dạng khái niệm thông thường và khái niệm khoa học. “Khi nói về khái niệm thông thường, chúng ta cho rằng giao tiếp với môi trường xã hội rộng rãi và thiếu hệ thống là chỉ báo cơ bản của điều kiện phát triển nguồn gốc của nó. Các quyết định đối với khái niệm khoa học là chúng được lĩnh hội và phát triển dưới sự chỉ đạo và giúp đỡ cuả giáo viên và tri thức ở đây được cung cấp cho trẻ em trong hệ thống nhất định”(6). Ở đây, sự khác biệt mang tính quyết định của hai dạng khái tuệ không phải trong nội dung khách quan của chúng mà ở phương pháp và con đường tiếp thu nó. Như vậy, việc cung cấp và việc tiếp thu những tri thức những khái niệm khoa học theo một hệ thống, theo những quy luật lôgíc, chặt chẽ không chỉ giúp trẻ mà ngay cả chúng ta, những người lớn phát triển tư duy được tốt hơn.

    Tư duy là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần. Theo C. Mác thì cái tinh thần (ở đây, chúng ta cũng có thể hiểu đó chính là tư duy) chẳng qua là cái vật chất được chuyển vào trong đầu và được cải tạo lại ở trong đó(7). Tư duy còn là quá trình tiến tới cái mới, đề xuất những nhận thức mới, là quá trình không ngừng bổ sung và đổi mới. Quy luật của tư duy thực chất là quy luật của sự phát triển và tìm tòi cái mới. Vấn đề này được Rubinstêin cho rằng: Trong quá trình tư duy, khách thể được tất cả nội dung mới, cứ mỗi lần lật đi, lật lại, nó lại được bộc lộ một khía cạnh mới, tất cả các tính chất mới của nó được làm rõ. Một số tác giả khác lại cho rằng, trong quá trình lập luận, tư duy đạt được những cứ liệu ngày càng mới, vượt ra ngoài phạm vi các điều kiện ban đầu và khi sử dụng các điều kiện này, tư duy đi đến những kết luận ngày càng mới, nhờ chủ đưa các đối tượng ở vị trí ban đầu vào trong các mối liên hệ mới. Mỗi lần như vậy, tư duy tựa như lật ra một khía cạnh mới, phát hiện và rút ra hết được các thuộc tính và quan hệ mới của chúng(8).

    Phân tích dưới góc độ lý luận tính hai mặt của quá trình tư duy thống nhất, tác giả Nguyễn Bá Dương (10) đã đi đến nhận định: Quá trình tìm kiếm, phát minh cái mới trong khoa học cũng giống như quá trình tái tạo lại kinh nghiệm của lịch sử – xã hội loài người diễn ra dưới hình thức giải quyết các tình huống có vấn đề. Bản thân mỗi kinh nghiệm lịch sử – xã hội luôn có tính tổng hợp chứa đựng bên trong nó. Điều đó có nghĩa là, nó chính là sản phẩm có tính tổng hòa của hoạt động sáng tạo của xã hội loài người. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn cơ bản của sự phát triển trí tuệ loài người là ở chỗ “tư duy một mặt là một quá trình tìm kiếm và phát hiện ra cái mới, cái bản chất, mặt khác nó còn là quá trình tái tạo lại những tri thức, những kinh nghiệm lịch sử – xã hội đã được loài người tích luỹ”.

    Sơ đồ quá trình tư duy

    Quá trình tư duy được nhà tâm lý học Xô – viết K.K. Platônôv phân chia thành các giai đoạn hết sức cụ thể, các giai đoạn này được diễn ra một cách hết sức nhanh, thậm chí như sự tự động hoá. Đặc biệt, trong các giai đoạn này, các thao tác tư duy đều được diễn ra một cách tự động. Trên cơ sở sơ đồ quá trình tư duy do một số nhà tâm lý học Việt Nam xây dựng, chúng tôi xây dựng mô hình các giai đoạn của quá trình tư duy như sau:

    (I): Khi giả thuyết bị phủ định, có thể hình thành giả thuyết mới.

    (II): Khi hình thành giả thuyết mới vẫn bị phủ định, lúc này cần phải nhận thức lại vấn đề từ đầu. Quá trình tư duymới .

    (III): Khi có kết quả, cần phải được kiểm tra lại, đối chiếu lại. Khi xét trong các mối quan hệ với khách thể và nhiệm vụ nó giải quyết, tư duy được xem như một hoạt động. Ở khía cạnh này, tư duy không những có tính quy luật của sự diễn biến theo quá trình (như phân tích, tổng hợp, khái quát) mà còn có cả mặt nhân cách, động cơ chung cho tư duy và mọi hoạt động của con người. Cũng từ góc độ xem xét tư duy như một hoạt động cho phép chúng ta hiểu tư duy không chỉ là sản phẩm của hiện thực khách quan, mà còn là sản phẩm của mối quan hệ qua lại giữa con người với hiện thực khách quan. Bới lẽ, chính mối quan hệ này được thể hiện như một hoạt động. Cũng chính thông qua mối quan hệ này mà các đặc điểm của hoạt động bên ngoài, tính phổ quát của các tháo tác lôgíc trong hoạt động bên ngoài chuyển dần sang cái phát sính bên trong của hoạt động đó. Vì vậy, giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong (tức tư duy) có sự đẳng cấu về cấu trúc. Tư duy như một quá trình và tư duy như một hoạt động – đó là hai khía cạnh của cùng một hiện tượng mà thôi. Hoạt động tư duy bao giờ cũng đồng thời là quá trình tư duy và quá trình tư duy về một khía cạnh nào đó chính là bản thân hoạt động ấy hay như một thành phần của nó (11).

    Để định nghĩa tư duy, chúng tôi nhận thấy các nhà tâm lý học trong nước cũng như nước ngoài, mỗi người có một cách hiểu riêng của mình. X.L. Rubinstêin cho rằng: Tư duy là sự “Thâm nhập vào những tầng mới của bản thể, là giành lấy và đưa ra ánh sáng những cái cho đến nay vẫn giấu kín trong cõi sâu bí ẩn: Đặt ra và giải quyết vấn đề của thực tại và cuộc sống, tìm tòi và giải đáp câu hỏi thực ra nó là như thế nào, câu trả lời đó là cần thiết để biết nên sống thế nào, cho đúng và cần làm gì ?”(12). A. Spiếckin lại cho rằng: Tư duy của con người, phản ánh hiện thực, về bản chất là quá trình truyền đạt gồm hai tính chất: Một mặt, con người hướng về vật chất, phản ánh những nét đặc trưng và những mối liên hệ của vật ấy với vật khác, và mặt khác con người hướng về xã hội để truyền đạt những kết quả của tư duy của mình(13). Từ cách tiếp cận mô hình xử lý thông tin, tác giả Đặng Phương Kiệt quan niệm: “Tư duy là một quá trình tâm trí phức tạp, tạo ra một biểu tượng mới bằng cách làm biến đổi thông tin có sẵn”(14).

    Với cách tiếp cận này, tác giả cho rằng, các quá trình tư duy của con người được diễn ra ở đoạn trên cùng của trình tự xử lý thông tin và điều gì sẽ diễn ra khi đạt tới giai đoạn này của quá trình xử lý thông tin thì được gọi là tư duy. Dựa trên cơ sở những mối liên hệ, quan hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan và lý thuyết phản ánh, tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng “Tư duy là quá trình tâm lý phản ánh những mối liên hệ và quan hệ giữa các đối tượng hay các hiện tượng của hiện thực khách quan”(15). Tác giả cho rằng, tư duy khác hẳn với tri giác ở chỗ tư duy không chỉ thực hiện được những bước như đã xảy ra ở tri giác, là tách các phần riêng lẻ của sự vật, mà còn cố gắng hiểu các phần đó có quan hệ với nhau như thế nào. Tư duy phản ánh bản chất của sự vật, và do đó là hình thức phản ánh hiện thực cao nhất. Với việc xem tư duy như là quá trình phân tích, tổng hợp… Nguyễn Đình Trãi cho rằng: Tư duy là quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát những tài liệu đã thu được qua nhận thức cảm tính, nhận thức kinh nghiệm để rút ra cái chung, cái bản chất của sự vật(16).

    Với tư cách là quá trình nhận thức, tập thể tác giả: Trần Minh Đức, Nguyễn Quang Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Mộc Lan, coi “Tư duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính của bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” (17).

    Phân tích một số quan niệm về tư duy như trên để có thể hiểu sâu thêm định nghĩa của tư duy: Tư duy là quá trình tân lý phản ánh hiện thực khách quan một cánh gián tiếp là khái quát, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà ta chưa từng biết.

    Chú thích

    1 X L. Rubinstêin, Cơ sở tâm lý học đại cương,, NXB Giáo dục, Mátxcơva, 1989, tập 1.

    2. Từ điển Triết học, NXB Mátxcơva, 1975, tr. 430.

    3. Đại học Quốc gia Hà Nội, Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, 1996, tr.17.

    4. V.I. Lê nin, Bút ký triết học, NXB Sự thật, Hà Nội, 1977.

    5. M.N. Sacđacôv, Tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr.43.

    6. M.N. Sacđacôv, tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr.43.

    7. V.V. Đavưđôv, Các dạng khái quát hoá trong dạy học, NXB ĐHQG, H.,2000, tr.234, 244.

    8. C. Mác, Tư bản, NXB Sự thật, H., 1971 , tập 1 , tr.33.

    9. Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến bộ, M., 1978, tr. 282, 275.

    10. Nguyễn Bá Dương, Quan niệm tâm lý học về dạy học nêu vấn đề trong tâm lý học Xô – viết, Luận án PTS, 1983.

    11. Tâm lý học Liên Xô, NXB Tiến bộ, M., 1978, tr. 277.

    12. M.N. Sacđacôv, Tư duy của học sinh, NXB Giáo dục, H., 1970, tr. 9-10.

    13. A. Spiếckin, Sự hình thành tư duy trừu tượng trong những giai đoạn phát triển đầu tiên của loài người, NXB Sự thật, H., 1960, tr.28.

    14. Đặng Phương Kiệt, Cơ sở tâm lý học ứng dụng, NXB ĐHQG, Hà Nội, 2000, tr.292.

    15. Mai Hữu Khuê, Những khía cánh tâm lý của quản lý, NXB Lao động,, H.,1985, tr.153.

    16. Nguyễn Đình Trãi, Năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luan Mác – Lênin ở các trường chính trị tỉnh, Luận án tiến sỹ triết học , 2001 , tr.19.

    17. Đại học Quốc gia Hà Nội, Tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, 1996, tr.107.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Duy Và Ứng Dụng Các Đặc Điểm Của Tư Duy Trong Cuộc Sống Và Học Tập
  • Đại Cương Về Dòng Điện Xoay Chiều, Trắc Nghiệm Vật Lý Lớp 12
  • Bài 2: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Ứng Dụng Của Dòng Điện Xoay Chiều
  • Giải Đáp: Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì ? Công Thức Tính Ra Sao
  • Dòng Điện Xoay Chiều Là Gì?
  • Cách Nhìn Mới Về Tiến Trình Dạy Học Khái Niệm Toán Học Cach Nhin Moi Ve Tien Trinh Day Hoc Khai Niem Toan Hoc Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Marketing Là Gì? Bản Chất Của Marketing
  • Bài Tập Môn Logic Học Có Đáp Án
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Vấn Đề Chân Lý :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com
  • Ý Nghĩa Của Các Nhà Khoa Học Xã Hội Trong Khái Niệm Chân Lý Và Đạo Đức Là Gì
  • Cập nhật 12:36, 25/4/2010, bởi Nguyễn Thế Phúc

    Các khái niệm cơ sở

    Cơ chế hoạt động của một khái niệm

    Cơ chế công cụ

    Một khái niệm (KN) hoạt động dưới dạng công cụ (hay cơ chế công cụ) nếu nó được sử dụng như là một phương tiện để giải quyết một vấn đề nào đó.

      Khái niệm có cơ chế “công cụ ngầm ẩn”, khi nó được sử dụng một cách không ý thức bởi chủ thể, chủ thể không thể trình bày hay giải thích được về việc dùng khái niệm.
      Ngược lại, nếu chủ thể ý thức được về việc sử dụng khái niệm và có thể trình bày hay giải thích nó, thì ta nói đến cơ chế “công cụ tường minh”.

    Ví dụ: Tại Cộng hòa Pháp, trong một tình huống bàn về diện tích của một hình vuông ở lớp 7, trước câu hỏi: “Có hay không một hình vuông diện tích là 12?”, một học sinh trả lời: “Nếu cạnh là 3 cm thì diện tích là 9, còn nếu cạnh là 4 cm thì diện tích là 16. Do đó, khi cạnh thay đổi từ 3 đến 4, phải có một thời điểm mà diện tích là 12”.

    Ở đây, học sinh đã dùng một cách ngầm ẩn khái niệm “hàm số liên tục trên một khoảng” và tính chất của nó, nhưng không ý thức về việc vận dụng này.

    Cơ chế đối tượng

    Khái niệm có cơ chế “đối tượng”, khi mà nó là đối tượng nghiên cứu được định nghĩa, được khai thác các tính chất,…

    Hình thức thể hiện của khái niệm

    Y.Chevallard (1991) phân biệt ba kiểu khái niệm khác nhau:

    • Khái niệm “protomathématique” (tạm dịch là “tiền toán học”): đó là các khái niệm có tên, không có định nghĩa. Chúng chỉ hiện diện một cách ngầm ẩn (khái niệm hàm số liên tục ở ví dụ trên).
    • Khái niệm “paramathématique” (tạm dịch là “gần toán học”): có tên nhưng không có định nghĩa. Chúng là công cụ của toán học, nhưng không phải là đối tượng nghiên cứu (khái niệm “tham số”,…).
    • Khái niệm “mathématique” (tạm dịch là toán học”): có tên và có định nghĩa. Chúng vừa là đối tượng vừa là công cụ của hoạt động toán học.

    Việc phân biệt các kiểu khái niệm như trên chỉ là tương đối, vì nó phụ thuộc vào cấp độ, thời gian, phạm vi toán học, vào chủ thể của hoạt động,…

    Các tiến trình dạy học khái niệm

    Ta phân biệt hai tiến trình chủ yếu trong dạy học các khái niệm toán học:

    • “Đối tượng Công cụ”
    • “Công cụ Đối tượng Công cụ”

    Tiến trình Đối tượng Công cụ

    Trong tiến trình này, khái niệm xuất hiện trước hết như đối tượng nghiên cứu, sau đó mới được sử dụng như là công cụ tường minh để giải quyết các vấn đề.

    Cần phân biệt hai con đường khác nhau của tiến trình này.

    Sơ đồ hóa tiến trình dạy học khái niệm theo con đường suy diễn.

    Con đường suy diễn

    Giáo viên đưa ra các ví dụ, phản ví dụ, các bài tập củng cố, các vấn đề trong đó khái niệm được sử dụng như là công cụ giải quyết hay thực hiện nghiên cứu các tính chất khác của khái niệm,…

    Theo con đường này, ngay từ đầu khái niệm đã xuất hiện với cơ chế đối tượng và dưới hình thức khái niệm “mathématique”.

    Con đường quy nạp

    Mục đích của bước này là hình thành (hay điều chỉnh) biểu tượng về khái niệm; khám phá thuộc tính đặc trưng của khái niệm và phác thảo định nghĩa của khái niệm.

    Sơ đồ hóa tiến trình dạy học khái niệm theo con đường quy nạp.

    Cụ thể hơn, giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc trên các đối tượng (mô hình, hình vẽ, đồ thị, các ví dụ hay phản ví dụ, các bài toán,…), trong đó khái niệm xuất hiện dưới hình thức “paramathématique”. Học sinh, với sự hướng dẫn của giáo viên, sẽ khám phá dần các thuộc tính bản chất của khái niệm thể hiện trong các trường hợp cụ thể đã cho, nhờ vào các thao tác tư duy phân tích, so sánh và tổng hợp. Từ đó, bằng thao tác khái quát hóa, trừu tượng hóa, học sinh trình bày phác thảo ban đầu về định nghĩa của khái niệm.

    Như vậy, học sinh được tiếp xúc với khái niệm trước khi định nghĩa nó. Qua quan sát, phân tích các trường hợp cụ thể mà hình thành (hay điều chỉnh) biểu tượng về khái niệm.

    Tên của khái niệm thường do giáo viên thông báo vào một thời điểm thích hợp ngay từ đầu, hoặc sau khi nghiên cứu các trường hợp cụ thể đã cho,…

    Như vậy, trong bước này, khái niệm chuyển dần từ hình thức “paramathématique” đến hình thức “mathématique”.

    Tương tự bước 2 của con đường suy diễn (từ bước này trở đi, nhận được một khái niệm “mathématique”).

    Theo con đường này khái niệm chủ yếu xuất hiện với cơ chế đối tượng.

    Tiến trình Công cụ Đối tượng Công cụ

    Tiến trình này đặt cơ sở trên hai quan niệm có nguồn gốc khoa học luận:

      Trong lịch sử nảy sinh và phát triển của các đối tượng toán học, hầu hết các khái niệm đều xuất hiện trước hết trong cơ chế công cụ ngầm ẩn sau đó mới hoạt động với cơ chế đối tượng. Khi đã có vị trí chính thức của một khái niệm, nó lại đóng vai trò công cụ tường minh.
      Trong toán học, vấn đề (cần giải quyết), ý tưởng và công cụ hình thành nên ba phần chủ yếu của hoạt động toán học. Trong đó vấn đề là động cơ của nghiên cứu, công cụ là phương tiện để giải quyết vấn đề, ý tưởng là cấu nối trung gian giữa vấn đề và công cụ. Trong mối quan hệ này, vấn đề đóng vai trò mấu chốt, công cụ chính là mầm mống nảy sinh đối tượng tri thức mới.

    Sơ đồ tiến trình dạy học khái niệm theo con đường: Công cụ → Đối tượng → Công cụ

    Các bước chủ yếu của tiến trình:

    Vấn đề là phát hiện và trình bày các bài toán cần giải quyết, khám phá ý tưởng và công cụ giải, sau đó tiến hành giải.

    Khái niệm sẽ xuất hiện dưới hình thức “protomathématique” với vai trò công cụ ngầm ẩn để giải quyết các bài toán.

    Thoạt nhìn, cấu trúc của con đường quy nạp trong tiến trình “Đối tượng Công cụ” và cấu trúc của tiến trình “Công cụ Đối tượng Công cụ” có vẻ giống nhau. Tuy nhiên, sự khác biệt rất cơ bản. Mặc dù, đều xuất phát từ “Giải các bài toán”, nhưng trong pha này của con đường quy nạp, khái niệm có cơ chế đối tượng và hiện diện trước hết như là một khái niệm “paramathématique”, sau đó mới chuyển dần sang hình thức “mathématique”. Ngược lại, ở pha này của tiến trình thứ hai, khái niệm hoạt động với cơ chế “công cụ ngầm ẩn” và dưới hình thức “protomathématique”.

    Ví dụ minh họa

    Có nhiều ví dụ minh họa cho các tiến trình đã nêu. Ở đây, chỉ trình bày các ý tưởng cơ bản nhất của hai bước đầu trong tiến trình dạy học khái niệm đạo hàm (phần nào đã định hướng trong Sách giáo khoa: Giải tích 12, Nhà xuất bản Giáo dục, 2001).

    Vận tốc trung bình

    Nêu (nhắc lại) bài toán vật lí tương ứng và nhấn mạnh rằng biểu thị độ nhanh chậm của chuyển động trong khoảng thời gian giữa t 0 và t .

    Câu hỏi gợi vấn đề: Đại lượng nào biểu thị độ nhanh hay chậm của chuyển động tại chính thời điểm t 0 ?

    Bài toán vận tốc tức thời

    Bài toán: Một chất điểm chuyển động thẳng trên trục OS theo phương trình S = f(t). Tìm đại lượng biểu thị độ nhanh chậm của chuyển động tại chính thời điểm t 0 .

    Ý tưởng: nhận xét rằng nếu khoảng thời gian giữa t và t 0 càng bé thì V TB càng biểu thị trung thực hơn độ nhanh chậm của chuyển động tại thời điểm t 0 . Điều này làm nảy sinh ý tưởng “Chuyển qua giới hạn” biểu thức xác định V TB .

    Như vậy, giới hạn (1) , nếu có, chính là đại lượng biểu thị chính xác nhất độ nhanh chậm của chuyển động tại thời điểm t 0 .

    Công cụ: giới hạn (1) trở thành công cụ cho phép xác định độ nhanh chậm của chuyển động tại thời điểm t 0 và được gọi là “Vận tốc tức thời” của chuyển động tại t 0 (từ đó, nêu định nghĩa của khái niệm vận tốc tức thời và giải các bài toán vận dụng).

    Câu hỏi mới: Có thể sử dụng giới hạn dạng trên để giải các bài toán nào khác?

    Bài toán tiếp tuyến của đường cong

    Giải quyết tương tự như trường hợp bài toán trên để đi tới khẳng định giới hạn (*) là công cụ cho phép xác định tiếp tuyến (bằng cách xác định hệ số góc của nó).

    Trong việc giải hai bài toán đã cho, đạo hàm đã hiện diện ngầm ẩn qua giới hạn dạng (*). Tuy nhiên bản thân thuật ngữ “Đạo hàm” và định nghĩa của nó chưa được nêu lên.

    Giáo viên nhấn mạnh vai trò “công cụ” của giới hạn dạng (*) trong việc giải quyết các bài toán không chỉ trong toán học, mà cả trong vật lí, trong hóa học,… Từ đó nêu tên “Đạo hàm” và tổ chức cho học sinh phát biểu định nghĩa.

    Như vậy, khái niệm đạo hàm đã nảy sinh nhờ vào thao tác khái quát hóa các giới hạn đã được vận dụng như công cụ trong các tình huống cụ thể trước.

    Trong bước “củng cố và vận dụng” của các tiến trình đã nêu, các pha trong đó khái niệm hoạt động với cơ chế “đối tượng” và các pha trong đó khái niệm có cơ chế “công cụ”, không phải luôn luôn được đề cập một cách liên tục và tuyến tính. Chúng có thể xuất hiện xen kẽ nhau, hay được đề cập ở những thời điểm và cấp độ khác nhau. Hơn nữa, “vận dụng” cũng có chức năng củng cố-ở đây chỉ mới nói đến củng cố bước đầu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Định Nghĩa Lại Thất Bại
  • Nếu Bạn Sợ Thất Bại, Hãy Định Nghĩa Nó Theo Cách Khác
  • Thất Bại Là Gì? Tại Sao Tôi Thất Bại? Khái Niệm Của Kẻ Thất Bại
  • Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Quan Hệ Pháp Luật Lao Động
  • Khái Niệm Tư Tưởng Hồ Chí Minh Được Định Nghĩa Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Wifi Là Gì? Nguyên Lý Wifi Hoạt Động Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Nào Là Sự Xa Xỉ Đích Thực? 8 Đặc Tính Không Thể Thiếu Trên Xa Xỉ Phẩm
  • Hành Trình Định Nghĩa Lại Khái Niệm Nghỉ Dưỡng Xa Xỉ Tại Việt Nam
  • Những Yếu Tố Định Nghĩa Sự Xa Xỉ Của Maserati
  • Tư Duy Tài Chính Thế Hệ Mới Và Sự Chuyển Mình Của Thế Giới Mỹ Phẩm Xa Xỉ
  • Trải Nghiệm Xa Xỉ Từ Các Chuyên Gia
  • Wifi được đánh giá là một chuẩn kết nối phổ biến, do đó việc tìm hiểu rõ ràng hơn các thông tin về Wifi sẽ giúp người dùng tiếp cận gần hơn đến những ứng dụng mà sử dụng chuẩn kết nối này. Bên cạnh đó bạn cũng có thể tự mình đổi mật khẩu Wifi mà mình đang sử dụng với những nguyên tắc bảo mật phức tạp hơn, với mỗi một modem thì lại có cách đổi mật khẩu khác nhau, quan trọng là bạn cần phải biết rõ cách sử dụng để hạn chế tối đa việc thiết lập sai đường truyền.

    1. Khái niệm Wifi là gì?

    Wifi là chữ viết tắt của từ Wireless Fidelity, là mạng kết nối Internet không dây, có khả năng sử dụng sóng vô tuyến để truyền tín hiệu. Loại sóng này tương tự như sóng điện thoại, sóng truyền hình hay sóng radio và hầu hết các thiết bị điện tử thông minh hiện nay đều có thể kết nối được Wifi.

    Wifi chủ yếu hoạt động trên băng tần 54 Mbps, dựa trên chuẩn kết nối IEEE 802.11 và có thể đạt tín hiệu mạnh nhất trong khoảng cách gần 31 mét theo lý thuyết. Còn trong thực tế thì do có nhiều vật cản trên đường truyền sóng Wifi nên khoảng cách đạt tín hiệu mạnh sẽ bị thu hẹp lại.

    2. Wifi hoạt động thế nào?

    Có thể bạn không biết là ban đầu Wifi đã được phát triển như là một phương án để thay thể cáp Ethernet và tính đến thời điểm hiện tại sóng Wifi đã được trải rộng khắp mọi nơi, từ thành thị cho đến nông thôn và trở thành công nghệ phổ biến nhất giúp cung cấp kết nối giữa các thiết bị với nhau. Theo số liệu thống kê thì Wifi hiện vận chuyển tới hơn 60% lưu lượng internet trên toàn thế giới, gần như thay thế hoàn toàn cho cáp âm thanh, cáp USB và cáp video.

    Để có thể bắt được sóng Wifi thì chúng ta bắt buộc cần có bộ phát Wifi, đó là các thiết bị modem, router mà chúng ta vẫn thường nghe thấy hàng ngày. Đầu vào của sóng Wifi được cung cấp bởi các đơn vị ISP như FPT, VNPT, Viettel,… Sau đó thiết bị modem, router lấy tín hiệu qua kết nối hữu tuyến và chuyển thành tín hiệu vô tuyến cho các thiết bị như máy tính, điện thoại smartphone,… có thể truy cập được.

    Quá trình này được gọi là quá trình nhận tín hiệu không dây hay còn gọi là adapter, nghĩa là card Wifi trên thiết bị như laptop, điện thoại,… chuyển hóa thành tín hiệu internet và nó cũng có thể được thực hiện ngược lại, lúc này thì các router, modem sẽ nhận tín hiệu vô tuyến từ adapter, sau đó giải mã chúng và gửi qua Internet.

    Hiện nay Wifi có thể phát sóng trên cả hai tần số là 2,4 GHz và 5 GHz. Về cơ bản thì các tần số giống như các đài phát thanh khác nhau, tần số thấp hơn có khả năng truyền đi xa hơn nên Wifi, 2.4 GHz có tần số thấp hơn do đó nó có thể tiếp cận tới các máy tính ở khoảng cách xa hơn so với Wifi có tần số 5 GHz.

    Tuy nhiên Wifi 5 GHz lại có thể truyền được nhiều hơn, độ bao phủ rộng hơn với tốc độ nhanh hơn. Trong suy nghĩ của nhiều người thì họ không coi trọng vấn đề khoảng cách bằng vấn đề tốc độ Wifi. Đa phần các router đều có thể tự động dò tìm kênh tốt nhất để sử dụng và tất nhiên là Wifi 5 GHz có nhiều kênh hơn là Wifi 2.4 GHz.

    Wifi cũng có các tính năng bảo mật, do đó để có thể truy cập mạng thì người dùng bắt buộc phải có mật khẩu WPA2 (hay còn gọi là WPA). Bên cạnh đó còn có một tính năng bảo mật khác là Advanced Encryption Standard (hay còn gọi là AES) để đảm bảo sự an toàn cho dữ liệu vì nó truyền từ một thiết bị khác.

    3. Một số chuẩn kết nối Wifi phổ biến

    Sóng Wifi sử dụng chuẩn kết nối 802.11 trong thư viện IEEE, chuẩn này gồm có 4 chuẩn nhỏ hơn là a/b/g/n như ký hiệu các bạn thường thấy ở trên modem, router. Trong đó:

    • Chuẩn 802.11b là chuẩn yếu nhất hiện nay, hoạt động ở tần số 2.4GHz và có khả năng xử lý đến 11 megabit/giây.
    • Chuẩn 802.11g cao hơn so với chuẩn b, mặc dù chuẩn này cũng hoạt động ở tần số 2.4GHz nhưng lại có thể xử lý đến 54 megabit/giây.
    • Chuẩn 802.11a hoạt động ở tần số cao hơn là 5GHz và có tốc độ xử lý đạt 54 megabit/giây.
    • Chuẩn 802.11n hoạt động ở tần số 2.4GHz, tuy nhiên tốc độ xử lý lại lên đến 300 megabit/giây.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Wifi Cách Hoạt Động Của Wifi
  • Wg: Hội Thảo Về Các Khái Niệm Lý Thuyết Đồ Thị Trong Khoa Học Máy Tính
  • Workshop Là Gì? Vai Trò Của Các Đối Tượng Tham Dự Workshop
  • Workshop Là Gì? Bật Mí Các Bước Tiến Hành Workshop Thành Công!
  • Pdw: Dự Án Định Nghĩa Hội Thảo
  • 【Organic Traffic】Là Gì: Khái Niệm, Cách Xem Và Cách Tăng Ùn Ùn

    --- Bài mới hơn ---

  • What Is Organic Food ? ( Thực Phẩm Hữu Cơ Là Gì ? )
  • Funds From Operations (Ffo) Là Gì? Định Nghĩa, Ví Dụ, Giải Thích
  • Outdoor Là Gì? Hiking Là Gì?
  • The Global Issue Of Poverty Free Essay Example
  • Tìm Hiểu Về Hệ Pal Và Ntsc Trong Camera Giám Sát
  • Organic Traffic là gì? Định nghĩa khái niệm

    Hiểu một cách đơn giản, Organic Traffic chính là nguồn truy cập miễn phí của người dùng được gửi đến từ những thanh công cụ tìm kiếm thường xuyên nhờ các thuật toán xếp hạng để nâng cao nội dung mà trang web đang nói đến. Như thế, nghĩa là lưu lượng truy cập có thể có được một cách tự nhiên mà không cần trả bất cứ chi phía nào để tăng lượng truy cập.

    Mỗi truy cập tìm kiếm tự nhiên này sẽ được trang Google Analytics xác nhận chỉ khi người dùng truy cập vào từng kết quả tìm kiếm tự nhiên trên thanh công cụ tìm kiếm.

    Và thường những trang web nào có thứ hạng từ khóa cao trên SERP thì lượng Organic Traffic sẽ càng tăng. Nhưng trong những trường hợp đặc biệt, dù website có thứ hạng cao nhưng lượng Organic Traffic lại thấp hơn các trang web có thứ hạng thấp hơn.

    Vai trò của Organic Traffic đối với Marketing

    Organic Traffic là gì? Organic Traffic ngày nay đóng vai trò vô cùng quan trọng trong từng hoạt động Digital Marketing, nhất là Seo. Đây là một chỉ số cần thiết với trang web vì lượng truy cập tự nhiên sẽ giúp tăng Traffic cho website và thúc đẩy thứ hạng từ khóa cực kỳ hiệu quả.

    Khi chỉ số truy cập lớn thì website sẽ càng có cơ hội tăng thứ hạng trên các thanh công cụ tìm kiếm và gia tăng sự tương tác của người dùng cũng như tăng thêm độ uy tín của trang web.

    Organic Traffic là gì? Nó còn là chỉ số để đánh giá hiệu quả của một quá trình Seo cho doanh nghiệp. Chỉ khi website của bạn có thứ hạng cao thì mới thu hút sự chú ý của khách hàng và tăng lượng truy cập.

    Có thể thấy được Organic Traffic là một nguồn để người dùng truy cập miễn phí từ những thanh công cụ tìm kiếm và nhờ hỗ trợ của thuật toán sẽ sắp xếp lại thứ hạng của trang web theo nội dung khi người dùng tìm kiếm.

    Vậy nên việc quan tâm đến việc thúc đẩy Organic Traffic tăng trưởng là điều mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải quan tâm chú trọng.

    XEM THÊM:

    Làm sao để kiểm tra Organic Traffic?

    Sử dụng Google Analytics

    Muốn kiểm tra lượng truy cập, bạn có thể sử dụng Google Analytics với những thao tác đơn giản.

    Chỉ cần tạo cho mình một tài khoản trên công cụ này, sau khi đăng nhập và thực hiện các bước sau:

    • Kênh: Tùy chọn này chia lượng truy cập theo từng nguồn truy cập khác nhau như: Referral Traffic, Direct Traffic, Social Traffic, Organic Search Traffic.
    • Biểu đồ dạng cây: Cũng tương tự như “kênh” nhưng được chuyển hóa thành dạng biểu đồ.
    • Nguồn/Phương tiện: Mục này sẽ phân tích tất cả trang mà người dùng truy cập trước khi tới website chính.
    • Giới thiệu: Cũng giống như “Nguồn/Phương tiện” nhưng ở đây chúng chỉ tập trung phân tích Referral Tracffic.

    Bạn có thể nhận thấy Organic Traffic luôn có tỷ lệ truy cập cao hơn so với những loại Traffic khác trên website. Tuy nhiên, con số này sẽ thay đổi tùy vào từng chiến lược Seo cụ thể của doanh nghiệp.

    Sử dụng Google Search Console

    Google Search Console là một dịch vụ miễn phí được Google cung cấp để giúp bạn theo dõi và duy trì sự hiện diện của trang web của bạn trong kết quả tìm kiếm của Google.

    Search Console cung cấp dữ liệu về lưu lượng truy cập từ Google Tìm kiếm đến trang web của bạn: tần suất trang web của bạn xuất hiện trong Google Tìm kiếm, cụm từ tìm kiếm nào làm trang web của bạn hiển thị, tần suất người tìm kiếm nhấp vào trang đối với các cụm từ đó, v.v.

    Sử dụng Ahrefs kiểm tra Organic Traffic

    Ahrefs là bộ công cụ phân tích Website theo Organic Keywords và Organic Traffic, kiểm tra Backlink tốt nhất và cũng thuộc hàng đắt đỏ nhất hiện nay. Công cụ này có hàng trăm tính năng khác nhau dành cho các Web Master theo dõi trang của mình và cả đối thủ. Trong đó có tính năng theo dõi Organic Traffic.

    Mặc dù chỉ số Organic Traffic của Ahrefs không chính xác nhưng nó phản ánh quá trình phát triển của website và rất cần thiết khi tiến hành chiến dịch SEO tổng thể.

    Vì sao nên chú trọng vào Organic Traffic?

    Ngoài những vai trò đã được chúng tôi nói tới ở trên, Organic Traffic còn đem lại nhiều lợi ích khác mà ít người biết đó là:

    Đây là nguồn Traffic miễn phí

    Khác với các hình thức tìm kiếm mà chúng ta thường thấy, Organic Traffic sẽ giúp bạn có thêm nhiều lượng truy cập không trả phí trên các công cụ tìm kiếm. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm khá nhiều chi phí trong từng chiến dịch SEO. Và nguồn Content SEO chất lượng sẽ chi phối rất lớn đến lượng Traffic vào Website kèm theo những thao tác của người dùng trên web.

    Hành vi tìm kiếm được tối ưu hóa

    Hiện các công cụ tìm kiếm luôn lấy người dùng làm trọng tâm, nên khi kết quả trả về có vị trí cao trên thanh công cụ tìm kiếm sẽ chính là những điều mong muốn của người dùng. Chúng cho thấy kết quả đó là phù hợp tại thời điểm đó với hành vi của người dùng.

    Thương hiệu tăng khả năng nhận diện

    Hiểu được Organic Traffic là gì? Bạn sẽ biết được khi Organic Traffic càng lớn sẽ càng làm từ khóa của trang web chính tăng dần lên. Chúng sẽ khiến tần suất xuất hiện của thương hiệu tăng lên và khách hàng biết đến thương hiệu doanh nghiệp nhiều hơn.

    Tiếp cận đúng mục tiêu đối tượng

    Organic Traffic giúp chúng ta tiếp cận đúng đối tượng mục tiêu và làm tốt hơn so với những hình thức khác. Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm lượng khách hàng tiềm năng với Organic Traffic, đồng thời hiểu rõ hơn khác hàng đang ở vị trí nào trong quá trình mua hàng và có thực hiện hành vi mua sắm không.

    Nguyên nhân nào làm giảm lượng Organic Traffic?

    Lượng truy cập Organic Traffic của trang web bạn đang giảm dần có thể đến từ những nguyên nhân sau:

    Sự thay đổi thuật toán của Google

    Nguyên nhân đầu tiên bạn cần biết khi lượng truy cập Organic Traffic của website giảm chính là sự thay đổi thuật toán của Google. Google sẽ thay đổi liên tục và những gì mà bạn có thể nhìn thấy chỉ là một phần nhỏ của sự thay đổi này.

    Việc thay đổi thuật toán sẽ khiến doanh nghiệp càng gặp khó khăn khi muốn tăng thứ hạng của website trên các kết quả tìm kiếm. Yêu cầu phải luôn đổi mới cách làm trong từng kế hoạch Seo.

    Google giảm lượng Traffic của website

    Bị lấn át bởi những thông tin khác

    Gia tăng xu hướng Social Search

    Không ai có thể phủ nhận Google là trang tìm kiếm đem lại hiệu quả cao với người dùng. Nhưng hiện nay, lượng người dùng công cụ này không còn nhiều, họ bắt đầu chuyển sang các công cụ khác có tính chuyên môn cao hơn.

    Ví dụ khi muốn tìm một bài hát mới, thay vì dùng Google như trước đây, bạn sẽ vào các trang chuyên dụng như Youtube, Nhaccuatui hay Zing…Hoặc khi muốn đặt mua một sản phẩm nào đó, người dùng sẽ vào những trang như eBay, Lazada, chúng tôi vì sử dụng Google.

    Vậy nên có thể thấy rõ ràng rằng nhu cầu sử Google của người dùng khi tìm kiếm thông tin ngày càng giảm. Từ đó sẽ khiến lượng tìm kiếm của từ khóa giảm theo và lượng Traffic tự nhiên cũng vì thế mà thấp hơn.

    Traffic thay đổi từ Desktop sang Mobile

    Khi mạng lưới internet ngày một phát triển, nhu cầu sử dụng thiết bị di động thông minh ngày càng tăng, cũng đồng nghĩa với việc tìm kiếm thông tin của người dùng càng cao. Trong lúc đó khả năng tìm thông tin trên Smartphone của Google vẫn còn nhiều hạn chế.

    Muốn sử dụng Google trên điện thoại, người dùng buộc phải thực hiện một số thao tác như khởi động trình duyệt, truy cập trang rồi mới gõ từ khóa cần tìm, xem từng lượt kết quả, bấm vào và mở ra một trình duyệt khác mới xem được thông tin. Đó là chưa kể đến thông tin không phù hợp, người dùng phải thực hiện lại các bước trên một lần nữa.

    XEM THÊM BÀI VIẾT KIẾN THỨC SEO:

    Cách làm tăng lượng Organic Traffic cho website

    Tăng lượng từ khóa sử dụng

    Từ khóa chính là chìa khóa của khách hàng để mở cánh cửa vào cửa hàng của bạn. Vì vậy càng sử dụng nhiều từ khóa thì trang web của bạn sẽ càng tăng thêm lượng truy cập tự nhiên và tăng thứ hạng website trên thanh công cụ tìm kiếm.

    Muốn chọn lọc từ khóa phù hợp, bạn có thể thực hiện theo các cách sau:

    Nhiều người lầm tưởng rằng cứ sử dụng từ khóa ngắn mới tốt, nhưng lại không biết răng sử dụng từ khóa dài khi Seo mới là cách tăng lượng truy cập nhanh nhất.

    XEM NGAY: Dịch vụ SEO Intent tại TPHCM

    Từ khóa có lượng tìm kiếm tự nhiên cao

    Muốn biết từ khóa có lượng tìm kiếm tự nhiên cao, hãy sử dụng một số công cụ như Google Trend, Keyword Planner…Từng ngành nghề, lĩnh vực sẽ có những từ khóa khác nhau. Nhưng bạn cần lựa chọn và nghiên cứu những từ khóa phù hợp để giúp tăng lượng Traffic như mong muốn.

    Thường xuyên cập nhật mới nội dung

    Một trong những cách tăng lượng Organic Traffic cho website hiệu quả nhất đó là việc làm mới nội dung thường xuyên. Bởi vì sự thay đổi thuật toán của Google hiện này đều dựa vào người dùng và muốn tăng sự uy tín của trang web thì nội dung trên đó đóng vai trò vô cùng quan trọng. Hãy làm SEO Onpage thật chăm chỉ và hướng theo Search Intent thì website của bạn chắc chắn sẽ phát triển bền vững.

    BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI SEO SIÊU CHUẨN

    Thế nên bạn cần bổ sung thêm nhiều nội dung mới, kèm với đó là đảm bảo chất lượng bài viết luôn cung cấp đầy đủ thông tin mà người dùng cần. Như thế mới khiến lượng truy cập vào website của bạn tăng lên một cách đáng kể.

    Tăng backlink chất lượng

    Google luôn ưu tiên các website có nhiều Backlink chất lượng. Vậy nên nếu bạn muốn tăng lượng truy cập Organic Traffic đối với trang web thì nên tăng lượng baclink chất lượng. Hình thức tăng lượng backlink có thể thực hiện bằng cách trao đổi backlink, mua bài viết PR trên báo, textlink…

    Rất nhiều anh chị em vẫn nghĩ rằng Backlink là những liên kết đến từ website khác. Đó là sai lầm cực kỳ tai hại. Bạn có thể xây dựng Backlink ngay trên chính website của mình, đó gọi là những Internal Link

    Dùng dịch vụ quản trị Website của Ma Ngoáy

    XEM NGAY: Dịch vụ quản trị website trọn gói

    --- Bài cũ hơn ---

  • Organic Traffic Là Gì? Và Vai Trò Của Nó Là Gì?
  • Thuật Ngữ Organic Traffic Là Gì?
  • Con Đường Giải Thoát Khổ
  • Offer Là Gì? Các Khái Niệm Thường Gặp Khi Dùng Offer
  • Offer Là Gì? Những Khái Niệm Cơ Bản Thường Gặp Khi Làm Offer
  • Nhà Nước Kiến Tạo Phát Triển: Khái Niệm Và Thực Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • ‘chính Phủ Kiến Tạo’ Là Gì?
  • “chính Phủ Kiến Tạo” Tại Việt Nam Qua Định Nghĩa Của Thủ Tướng
  • Tuyết Như The Face: “thanh Hằng Loại Tôi Vì Đại Cuộc Thì Điều Đó Vẫn Chưa Đủ”
  • An Nguy: ‘định Nghĩa ‘sao’ Là Như Thế Nào Cơ?’
  • Một Khái Niệm Ngôn Ngữ Hay Bị Nhầm Trên Truyền Thông
  • Vai trò của nhà nước cũng thay đổi, từ chỗ đơn thuần là công cụ thống trị giai cấp chuyển sang làm chức năng cơ quan công quyền, quản lý xã hội, phục vụ, cung cấp dịch vụ công – Nhà nước kiến tạo phát triển.

    Từ lý thuyết đến thực tiễn nhà nước kiến tạo phát triển được thể hiện ở các mô hình Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Pháp, Mỹ và ở các nước Scanđinavia đã thể hiện nội hàm, bảnchất của nó.

    Đó là một mô hình quản lý nhà nước, trong đó nhà nước đề ra các chính sách mang tính định hướng phát triển,tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và và hội nhập quốc tế; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

    Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 – 2021, được xác định là: “Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển (NNKTPT)”. Tại phiên họp thường kỳ tháng 4/2016 của Chính phủ, Thủ tướng khẳng định: Chính phủ đẩy mạnh việc chuyển phương thức chỉ đạo điều hành từ mệnh lệnh hành chính sang Chính phủ kiến tạo và phục vụ.

    Khái niệm “Nhà nước kiến tạo phát triển” được bàn khá rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và diễn đàn khoa học, với những cách lý giải khác nhau về nội hàm, đặc điểm và những điều kiện xây dựng NNKTPT ở Việt Nam. Ở đây, trao đổi về nguồn gốc khái niệm và sự phát triển mô hình nhà nước ấy trong thực tế. Trên cơ sở đó, gợi ý cho việc xây dựng NNKTPT ở Việt Nam.

    Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, thế giới đã có những đổi thay nhanh chóng và đứng trước hàng loạt vấn đề mang tính toàn cầu cần phải giải quyết như: Sự phát triển bùng nổ của khoa học – công nghệ, lực lượng sản xuất phát triển nhanh chưa từng thấy. Mạng Internet đã kết nối quá trình sản xuất, sinh hoạt và tư duy của con người…

    Làm xuất hiện nền kinh tế tri thức, hoạt động chủ yếu của nền kinh tế ấy là sử dụng và sản xuất tri thức đã làm thay đổi sự tương tác giữa con người và con người trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng và trong mọi quan hệ xã hội khác, kể cả quan hệ giữa nhà nước và công dân, giữa các chủ thể lãnh đạo, quản lý và đối tượng lãnh đạo, quản lý.

    Khuynh hướng phát triển của thế giới những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đặt ra yêu cầu phải có tư duy mới về phát triển, xác định lại vai trò của các chủ thể phát triển trong một thế giới toàn cầu hóa, liên kết lẫn nhau, tùy thuộc lẫn nhau.

    Trước những thay đổi đó, vai trò của nhà nước cũng thay đổi mạnh mẽ, xuất hiện sự đánh giá lại và xác định lại vai trò của nhà nước trong phát triển. Nhà nước từ chỗ đơn thuần chỉ được coi là công cụ thống trị giai cấp, bộ máy cai trị, đã chuyển sang làm chức năng của cơ quan công quyền, quản lý xã hội, bộ máy phục vụ, cung cấp dịch vụ công… Người ta bắt đầu nói đến NNKTPT.

    Ở Việt Nam, người đầu tiên đưa khái niệm này vào một văn kiện nhà nước là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại thông điệp đầu năm 2014. Gần đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nhiều lần nhắc đến vai trò một nhà nước kiến tạo ở Việt Nam.

    Trên các phương tiện truyền thông và diễn đàn khoa học “Nhà nước kiến tạo phát triển” cũng đã bắt đầu được nói tới với hàm ý, rằng Việt Nam cần phải xây dựng mô hình NNKTPT, chìa khóa để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới – kỳ vọng sẽ rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.

    Nguồn gốc khái niệm

    Khi xem xét sự phát triển kinh tế của Nhật Bản từ năm 1925 đến 1975, và đặc biệt khi so sánh với nền kinh tế Mỹ và Anh, Johnson trong cuốn sách MITI and the Japanese Miracle (1982) đã chỉ ra vai trò rất khác biệt của Chính phủ Nhật, mà nổi bật là MITI, trong việc đảm bảo một tốc độ tăng trưởng rất cao từ sau Thế chiến II. Sự khác biệt quan trọng nhất, không phải là sự can thiệp của nhà nước, mà cách thức mà nhà nước can thiệpvào nền kinh tế.

    Có 2 cách thức nổi bật được nghiên cứu so sánh trong thời gian dài của cuộc chiến tranh lạnh đó là cách thức “nhà nước chỉ huy” như của Liên Xô và các nước XHCN thời đó (nhấn mạnh kế hoạch tập trung) và “nhà nước điều chỉnh” như các nước Anh, Mỹ và nhiều nước TBCN khác.

    Nhưng Johnson chỉ ra, Nhật Bản mặc dù về cơ bản cũng đi theo mô hình TBCN và dân chủ phương Tây, lại thể hiện sự khác biệt là: dù “nhà nước không phải đóng vai trò thống soái như trong các nước XHCN, nhưng cũng không chỉ đóng vai trò thụ động “điều chỉnh” như ở các nước Anh, Mỹ mà có một vai trò lớn hơn nhiều, đặc biệt trong việc định hướng và tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực kinh tế trọng tâm một cách nhất quán và trong thời gian dài. Ông dùng khái niệm “Nhà nước [kiến tạo] phát triển” (Developmental state) để chỉ sự khác biệt đó.

    Như vậy, NNKTPT (DS) là nhà nước TBCN nên khác với nhà nước XHCN, dù gần gũi về tính chất chỉ huy, định hướng kế hoạch phát triển. Mặt khác, nó cũng khác với “nhà nước điều chỉnh” (Regulatory state) cho dù đều coi trọng thị trường và sở hữu tư nhân.

    Trong những năm 1980 – 2000, với sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nước NIC Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, Xinhgapo v.v.. khái niệm NNKTPT và sự ưu việt của nó được quan tâm và tranh luận rộng rãi, thậm chí còn được coi là “phát triển quan trọng nhất” của khoa học chính trị trong những năm cuối thế kỷ XX. Khái niệm NNKTPT dù có nguồn gốc từ “Mô hình Nhật Bản”, sau này được phát triển và áp dụng cho một loạt nước, đặc biệt là các NIC Đông Á.

    Ở tầm khái quát nhất, NNKTPT có thể được định nghĩa là nhà nước với vai trò chủ động và tích cựctrong phát triển kinh tế. “Sự chủ động và tích cực” có hàm ý là ngược với sự thụ độngcủa nhà nước đi theo quan điểm thị trường tự do (laissez-faire capitalism). Nếu nhìn nhận rộng như vậy, có thể thấy NNKTPT đã từng tồn tại từ lâu và ở nhiều nước rất khác nhau, cả về điều kiện tự nhiên và xã hội.

    Bagchi (2003) đã khảo sát vai trò của các nhà nước và chỉ ra các NNKTPT đã từng tồn tại trong lịch sử ở một loạt nước phát triển ngày nay như Hà Lan, Đức, Anh v.v. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, ông cũng liệt cả Liên Xô và Trung Quốc thời kỳ trước 1980 vào các nước có NNKTPT.

    Vấn đề NNKTPT có thể được nhìn nhận hẹp hơn trong điều kiện hiện nay, khi mà phần lớn các nước đều chấp nhận sở hữu tư nhân và nền kinh tế thị trường cạnh tranh như là cách thức chính trong tổ chức hoạt động kinh tế.

    Sâu xa hơn, khái niệm này phản ánh một quan điểm khác trong cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa “Nhà nước và thị trường” trong chính trị học và kinh tế học. Câu hỏi chính yếu ở đây là: Nhà nước nên chủ động dẫn dắt, kiến tạohay nên để cho các tín hiệu (cung – cầu) thị trường dẫn dắt, và do vậy chỉ nên làm các chức năng mang tính điều chỉnh, điều tiết ?

    Sự thành công của Nhà nước Nhật Bản cũng như các NIC ở Đông Á, đặc biệt trong các thập kỷ 1980 và 1990 là các gợi ý cho các mô hình, chính sách phát triển khác.

    Vấn đề nghiên cứu, tranh luận không phải là mô hình nào là tốt nhất cho sự phát triển, mà là liệu mô hình NNKTPT có phải là mô hình tốt hơnso với mô hình nhà nước tự do Âu – Mỹ đối với các nước đang phát triển? trong điều kiện hiện tại, Johnson và nhiều tác giả khác tin tưởng rằng, mô hình NNKTPT đúng là tốt hơn với các điều kiện nhất định mà nổi bật là về các thể chế chính trị của nhà nước đó.

    NNKTPT với tư cách là một nhà nước đóng vai trò chủ đạo dẫn dắt sự phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường, theo đó, khác với nhà nước điều chỉnh ở phương thức điều hành (tính “chủ đạo”) và khác với nhà nước chỉ huy ở đối tượng dẫn dắt (kinh tế thị trường chứ không phải nền kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp). Nói cách khác, nó nằm giữa 2 thái cực: nền kinh tế chỉ huy tập trung và nền kinh tế thị trường tự do.

    2. Nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tế

    Như trên đã đề cập, Nhật Bản là trường hợp được nghiên cứu đầu tiên bởi Johnson và là cơ sở chính cho sự hình thành ban đầu của khái niệm “Nhà nước kiến tạo phát triển”. Johnson, mặc dù dùng thuật ngữ “Mô hình Nhật Bản”, cũng đã cảnh báo về sự khái quát quá mức nếu chỉ dựa vào nghiên cứu Nhật Bản.

    Nói cách khác, việc gọi cách thức mà Chính phủ Nhật định hướng và dẫn dắt phát triển kinh tế là một “mô hình” cần phải được dùng một cách thận trọng vì tính khái quát lý thuyết còn rất thấp và do vậy tiếp tục nghiên cứu các trường hợp tương tự ở các nước NIC Đông Á cũng như tại chính nước Nhật.

    Các đặc điểm của mô hình NNKTPT Nhật Bản sau này cũng được đối chiếu và phân tích trong các trường hợp khác, đặc biệt là tại các nước NIC Đông Á.

    Tuy nhiên, nhìn nhận rộng hơn (và ít bị sức ép về “xây dựng mô hình” hơn), trong tổng kết của mình, Chang cho rằng, nếu dùng định nghĩa chung nhất về NNKTPT (tức nhà nước có sự can thiệp chủ động để đẩy mạnh phát triển kinh tế) sẽ có thể thấy 3 kiểu nhà nước kiến tạo phát triển đã từng có trong các giai đoạn lịch sử khác nhau: Đông Á (và Pháp), Scandinavia, Mỹ.

    Mô hình nhà nước kiến tạo của Đông Á

    Đây được coi là mô hình “kinh điển”, nhất là Nhật Bản trong thời kỳ 1950 – 1980. Tuy nhiên, trong mô hình Đông Á cũng có các khác biệt nhất định.

    Hàn Quốc chẳng hạn, mặc dù hiện nay đã chuyển theo hướng Tân Tự do và mang tính “nhà nước điều tiết”, nhưng trong thời kỳ 1960 – 1980 cũng đã thể hiện sự chủ động dẫn dắt sự phát triển, thông qua các chính sách đột phá (lựa chọn 1 vài ngành công nghiệp mũi nhọn), cơ quan điều phối siêu bộ (EPB – Ủy ban Kế hoạch Kinh tế) và sở hữu nhà nước trong toàn bộ khối ngân hàng. Đây là các đặc điểm mà Nhật Bản không có.

    So với Nhật Bản và Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) không có sự chủ động và mạnh mẽ định hướng như vậy, một phần là vì khu vực kinh tế tư nhân ở Đài Loan còn nhỏ, không có các đại công ty tư nhân như ở hai nước trên. Tính chủ động dẫn dắt được thể hiện chủ yếu ở vai trò thúc đẩy R&D và các doanh nghiệp nhà nước.

    Xinhgapo cũng là mô hình NNKTPT khác biệt, với kết hợp cả thương mại và đầu tư tự do với khu vực doanh nghiệp nhà nước lớn.

    Theo Chang, điều thú vị là mô hình Đông Á không chỉ có ở Đông Á mà Pháp cũng đã từng sử dụng chiến lược phát triển tương tự: nhà nước thông qua Ủy ban Kế hoạch (Commissariat Général du Plan) để chủ động định hướng và dẫn dắt các đầu tư và cũng sử dụng sức mạnh của các doanh nghiệp nhà nước là đầu tàu.

    Mô hình nhà nước kiến tạo ở các nước Scandinavia

    Ngoại trừ Phần Lan, các nước Scandinavia, cho đến những năm 1970, đều đã có các đặc điểm của NNKTPT với các điểm chính là:

    – Các nước Scandinavia cũng có các định hướng chủ động trong các chính sách phát triển các ngành công nghiệp, cho dù không ở phạm vi rộng như các nước Đông Á.

    Nhà nước Thụy Điển đã từng tập trung đột phá vào các ngành như luyện kim (giữa thế kỷ XVIII), đường sắt (1850), thủy điện (1890) v.v.. thông qua sự hợp tác và chủ động dẫn dắt khối doanh nghiệp tư nhân. Những năm đầu thế kỷ XX, Nhà nước Thụy Điển cũng thông qua các chính sách bảo vệ các ngành công nghiệp nặng (Chang, 2002, p. 39).

    Nhà nước Đan Mạch cũng đã từng can thiệp và các chính sách ưu tiên định hướng cho sự phát triển xuất khẩu nông sản, và là động lực tăng trưởng chính trong những năm 1930.

    – Các nước Scandinavia có sự chủ động trong đầu tư cho các hướng nghiên cứu phát triển, làm nền tảng cho các ngành công nghiệp được lựa chọn và ưu tiên. Cho đến nay, các viện, trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn ở các nước này phần lớn là của nhà nước.

    – Các chính sách phúc lợi được quan tâm, trong đó góp phần định hướng thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu kinh tế; do vậy làm giảm sức ép chính trị đối với các lần tái cơ cấu kinh tế do nhà nước chủ động dẫn dắt.

    Mô hình của các nước Scandinavia cho thấy, có thể có nhiều cách thức khác nhau mà không nhất thiết phải quá nhấn mạnh vai trò thống trị của nhà nước một cách thái quá như ở các mô hình Đông Á, và nhà nước kiến tạo có thể được thực hiện thông qua nhiều công cụ khác nhau, như chính sách phúc lợi, R&D… tùy thuộc vào bối cảnh chính trị – xã hội và điều kiện phát triển.

    Mô hình nhà nước kiến tạo ở Mỹ

    Mỹ, mặc dù được xem là “đối cực” của nhà nước kiến tạo hiện nay, cũng đã là nơi phát kiến các ý tưởng và thực hiện các chính sách của nhà nước kiến tạo. Một trong các ý tưởng cốt lõi của nhà nước kiến tạo là việc bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ (Infantry industry) chính là xuất phát từ Bộ trưởng Tài chính đầu tiên (Treasury Secretary), Alexander Hamilton, năm 1791.

    Từ những năm 1830 cho đến Chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ là nước có chính sách bảo hộ mậu dịch mạnh mẽ nhất. Sự bảo hộ đó không phải là bảo vệ chung chung mà có định hướng của nhà nước đối với đường sắt, nông nghiệp, giao thông thủy v.v. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng chủ động ưu tiên khu vực R&D.

    Ngay cả sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi đã nắm giữ các địa vị thống trị, và bắt đầu kêu gọi “tự do hóa thương mại và đầu tư”, Mỹ vẫn ẩn giấu các đặc điểm của NNKTPT theo cách đặc biệt, đó là sự chủ động tạo lập mạng lưới giữa các chuyên gia trong và ngoài nhà nước, để áp dụng các thành tựu khoa học – công nghệ mới vào kinh tế một cách nhanh và có lợi nhất.

    Block gọi đây là kiểu “Nhà nước mạng lưới phát triển” (Developmantal network state), khác biệt với “Nhà nước hành chính phát triển” (Developmental bureaucratic state) của các nước Đông Á.

    Dù có thể còn nhiều tranh cãi, nhưng thực tế là rất nhiều ngành công nghiệp của Mỹ có được lợi thế cạnh tranh do chính các định hướng, các đơn đặt hàng và đầu tư của nhà nước mà các ví dụ nổi bật là công nghiệp máy tính điện tử, dược phẩm, công nghệ gen v.v..

    Như vậy, NNKTPT từ lý thuyết đến thực tiễn đã thể hiện nội hàm, bản chất của nó. Đó là một mô hình quản lý nhà nước, trong đó nhà nước đề ra các chính sách mang tính định hướng phát triển, tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

    Vậy, mô hình nhà nước đó có những đặc trưng gì? Các chính sách chủ động như thế nào? lãnh đạo chính trị đã làm gì để thúc đẩy chúng: về tổ chức, thể chế, về tập trung nguồn lực để đột phá.v.v. và các hành động cụ thể khác? Việt Nam có nên đi theo mô hình nhà nước kiến tạo phát triển này không? Trả lời những câu hỏi đó cần sự nghiên cứu của các nhà khoa học và những người quan tâm.

    1. BagchiA. K: The Developmental State in History and in the Twentieth Century, Regency Publications, New Delhi, 2003. 2. Chang, Ha Joon: Globalisation, Economic

    Development and the Role of the State, London: Zed Books, 2003. 3. Chang, Ha Joon: “How to ‘do’ a developmental state: Political, 2010. Organizational, and Human Resource Requirements for the Developmental State”, trong O. Edigheji (ed.), Constructing a Democratic Developmental State in South Africa – Potentials and Challenges (Human Science Research Council Press, Cape Town, 2010. 4. Johnson, Chalmers: MITI and the Japanese Miracle. Stanford, CA: Stanford University Press. 1982. 5. Johnson, Chalmers (1985). “Political Institutionsand Economic Performance: The Government ,Business Relationsin Japan, SouthKorea, and Taiwan, in Asian Economic Development: Present and Future, eds. Robert Scalapino, Seizaburo Sato, and Jusuf Wanandi (Berkeley: University of California Press, 1985). 6. Johnson, Chalmers: “The Nonsocialist NICs: East Asia,” in International Organization, Số 40:2, 1986, tr.557-65. 7. Acemoglu D. và Robinson J: The Origin of Power, Prosperity, and Poverty: Why Nations Fails (Nguồn gốc của quyền lực, thịnh vượng và nghèo khó: Tại sao các quốc gia thất bại), Randon House, 2012.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Đất Đai: ‘sự Khôn Lỏi Của Nhà Nước’
  • Thói Hư Tật Xấu Người Việt: Khôn Lỏi
  • Thói Khôn Lỏi Trong Cuộc Sống Tưởng Là Lợi Nhưng Rất Có Hại
  • Định Nghĩa Sự Khôn Ngoan Tổng Giá Trị Của Khái Niệm Này. Đây Là Gì Sự Khôn Ngoan
  • Có Phải Cứ Người Giàu, Địa Vị Cao Là Trở Nên Khôn Ngoan Hơn? Đáp Án Này Sẽ Khiến Bạn Thực Sự Bất Ngờ
  • Khái Niệm Chuỗi Giá Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Term Định Nghĩa Chuỗi Giá Trị
  • Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu (Global Value Chain) Là Gì? Tầm Quan Trọng Đối Với Xã Hội
  • Giải Phương Trình Chứa Dấu Giá Trị Tuyệt Đối
  • Vùng Chọn Trong Photoshop (Phần 4)
  • Không Có Người Vô Dụng, Ghi Nhớ 3 Điều Sau Đây Sẽ Giúp Vực Dậy Sự Tự Tin Của Bạn
  • Khái niệm chuỗi

    Khái niệm về chuỗi đầu tiên được đề cập trong lý thuyết về phương pháp chuỗi (filière). Phương pháp này gồm các trường phái tư duy nghiên cứu khác nhau và sử dụng nhiều lý thuyết như phân tích hệ thống, tổ chức ngành, kinh tế ngành, khoa học quản lý và kinh tế chính trị Mac xít. Khởi đầu, phương pháp này được các học giả của Pháp sử dụng để phân tích hệ thống nông nghiệp của Mỹ những năm 1960s, từ đó đưa ra những gợi ý đối với việc phân tích hệ thống nông nghiệp của Pháp và sự hội nhập theo chiều dọc của các tổ chức trong hệ thống nước này. Chính sách nông nghiệp của Pháp sử dụng phương pháp này như là công cụ để tổ chức sản xuất các mặt hàng xuất khẩu đặc biệt đối với những mặt hàng như cao su, bông, cà phê và dừa. Cho đến những năm 1980s, phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Trong thời gian này, khung filière không chỉ tập trung vào hệ thống sản xuất nông nghiệp mà còn chú trọng đặc biệt đến mối liên kết giữa hệ thống này với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng . Khái niệm về giá trị gia tăng trong khuôn khổ chuỗi giá trị được coi như là yếu tố để tạo nên và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững của một tổ chức trong kinh doanh ở thế kỷ 21. Theo Micheal Porter, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng nhằm giúp các doanh nghiệp có thể tìm ra các lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình. Ông cho rằng, một công ty có thể cung cấp cho khách hàng một sản phẩm hay một dịch vụ có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình với chi phí thấp hơn hoặc chi phí cao hơn nhưng có những đặc tính mà khách hàng mong muốn. Porter đã lập luận rằng, nếu nhìn vào một doanh nghiệp như là một tổng thể những hoạt động, những quá trình thì khó, thậm chí là không thể, tìm ra được một cách chính xác lợi thế cạnh tranh của họ là gì. Nhưng điều này có thể thực hiện được dễ dàng khi phân tách thành những hoạt động bên trong. Theo cách đó, Porter phân biệt rõ giữa các hoạt động cơ bản hay những hoạt động chính, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặc dịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến giá trị cuối cùng của sản phẩm.

    Hình 1.1- Mô hình chuỗi giá trị của Porter

    Trong đó, những hoạt động cơ bản bao gồm:

    – Hậu cần bên trong: hoạt động tiếp nhận, quản lý dự trữ các nguyên vật liệu và phân phối những nguyên vật liệu này đến những nơi trong doanh nghiệp theo yêu cầu của kế hoạch sản xuất.

    – Hoạt động tác nghiệp: quá trình chuyển đổi những đầu vào thành sản phẩm và dịch vụ cuối cùng.

    – Hậu cần bên ngoài: việc quản lý dự trữ và phân phối sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp.

    – Marketing và bán hàng: xác định nhu cầu của khách hàng và bán hàng.

    – Dịch vụ: hoạt động hỗ trợ sau khi sản phẩm và dịch vụ đã được chuyển cho khách hàng như là lắp đặt, hậu mãi, giải quyết khiếu nại, đào tạo,…

    Những hoạt động hỗ trợ bao gồm:

    – Cơ sở vật chất của doanh nghiệp: bao gồm những yếu tố như là cơ cấu tổ chức, hệ thống kiểm soát, văn hóa công ty,…

    – Quản lý nguồn nhân lực: tuyển dụng lao động, thuê lao động, đào tạo, phát triển và thù lao lao động.

    – Phát triển công nghệ: các công nghệ hỗ trợ cho các hoạt động tạo ra giá trị gia tăng.

    – Mua hàng: mua các yếu tố đầu vào như là nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị, và các dịch vụ đầu vào khác…

    Lợi nhuận của một doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào việc doanh nghiệp thực hiện các hoạt động hiệu quả như thế nào. Nếu doanh nghiệp biết cách tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm và khách hàng sẵn sàng trả cho giá trị này thì doanh nghiệp đã tạo ra được thặng dư về giá trị. Micheal Porter đề xuất một doanh nghiệp có thể có được lợi thế cạnh tranh của mình nhờ tập trung vào chiến lược

    giá thấp hoặc tạo ra sự khác biệt của sản phẩm hay dịch vụ, hay là kết hợp cả hai cách thức này.

    Khái niệm chuỗi giá trị theo Micheal Porter trong tác phẩm này chỉ đề cập đến qui mô ở doanh nghiệp. Mô hình chuỗi giá trị ông đưa ra đã được coi như một công cụ lợi hại để phân tích lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc trả lời câu hỏi: “ở hoạt động nào thực sự là doanh nghiệp có lợi thế hơn những đối thủ cạnh tranh khác?” và “doanh nghiệp sẽ cạnh tranh dựa vào chi phí thấp, sự khác biệt của sản phẩm hay dịch vụ hay là kết hợp của cả hai yếu tố trên?”.

    Phương pháp tiếp cận toàn cầu Kaplinsky và Morri năm 2001

    Nếu như khái niệm chuỗi giá trị của Micheal Porter đề cập đến ở trên chỉ tập trung nghiên cứu ở qui mô của doanh nghiệp, thì Kaplinsky và Morri trong cuốn “Value Chain Handbook” lại mở rộng ở phạm vi của chuỗi giá trị. Theo các tác giả này, chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động bao gồm sản phẩm từ khi mới chỉ là ý tưởng, qua các giai đoạn sản xuất khác nhau, phân phối đến người tiêu dùng và cuối cùng là vứt bỏ sau khi sử dụng [65, tr. 4].

    Hình 1.2- Các mối quan hệ trong một chuỗi giá trị đơn giản

    Hai tác giả này có đưa ra hai khái niệm về chuỗi giá trị: chuỗi giá trị đơn giản và chuỗi giá trị mở rộng. Theo họ thì chuỗi giá trị đơn giản (được minh họa trong hình 1.2) bao gồm bốn hoạt động cơ bản trong một vòng đời sản phẩm là thiết kế và phát triển sản phẩm, sản xuất, marketing và cuối cùng là tiêu thụ và tái sử dụng. Quan niệm về chuỗi giá trị này được áp dụng để phân tích toàn cầu hóa, cụ thể là nó được sử dụng để tìm hiểu cách thức mà các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu.

    Hình 1.3- Chuỗi giá trị mở rộng của ngành nội thất gỗ

    Chuỗi giá trị mở rộng đề xuất một mô hình phức tạp hơn mô hình giản đơn rất nhiều bởi nó tính đến cả liên kết thượng nguồn và liên kết hạ nguồn của doanh nghiệp, nghĩa là tính đến liên kết ngành dọc trong quá trình từ khi các yếu tố đầu vào được tạo thành cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng (hình 1.3).

    Hình 1.3 mô tả mối quan hệ trong chuỗi giá trị mở rộng của sản phẩm nội thất gỗ. Theo Kaplinsky và Morris thì khi xem xét sản phẩm nội thất gỗ cần phải lưu ý từ quá trình tạo ra sản phẩm của ngành trồng rừng (nghĩa là quan tâm đến vấn đề giống cây, nước, máy móc, hóa chất và các dịch vụ khác) và sau đó là ngành chế biến gỗ. Tương tự như vậy, sau khi đã hoàn thành xong sản phẩm nội

    thất gỗ thì cần phải lưu ý đến quá trình phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng.

    Khái niệm chuỗi giá trị

    Admin Mr.Luân

    Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP.

    Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : [email protected] ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Giá Trị Doanh Nghiệp Trong Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Xác Định Giá Trị Tài Sản Thuần Trong Cổ Phần Hóa Doanh Nghiệp Nhà Nước Và Vấn Đề Đặt Ra
  • Giá Trị Lợi Thế Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp Cổ Phần Hóa Được Xác Định Như Thế Nào?
  • Giải Toán 7 Bài 2. Bảng “tần Số” Các Giá Trị Của Dấu Hiệu
  • Bảng Tần Số Các Giá Trị Của Dấu Hiệu
  • Các Khái Niệm Cơ Bản Dự Án Phần Mềm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhập Môn Công Nghệ Phần Mềm
  • Quản Lý Dự Án Phần Mềm: Mô Hình, Quy Trình Và Báo Cáo Chi Tiết
  • Đất Nền Là Gì? 4 Kiểu Đất Nền Nhà Đầu Tư Nên Tránh
  • Đất Nền Dự Án Là Gì
  • Nên Mua Đất Nền Dự Án Hay Đất Thổ Cư?
  • Published on

    các khái niệm cơ bản của dự án phần mề

    1. 1. 1 BÀI 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN PHẦN MỀM ThS. Thạc Bình Cường
    2. 2. 2 TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP * Chi tiêu cho Công nghệ thông tin (CNTT) thế giới tiếp tục tăng, và Forrester Research dự đoán rằng chi tiêu cho CNTT của Mỹ sẽ tăng 5.7% trong năm 2005, lên đến $795 tỷ. * Trong năm 2003, trung bình quản trị dự án cấp cao ở Mỹ thu nhập khoảng $90,000 một năm, và Giám đốc Trung tâm Quản trị dự án (PMO) kiếm nhiều hơn Trưởng phòng Công nghệ (CIO) ($118,633 so với $103,925). * Quản trị dự án CNTT giống như một công trường. Mọi việc đều rất ngổn ngang bừa bãi cần một nhà quản lý để đưa vào trật tự.  Vai trò của quản trị dự án trong việc phát triển một dự án CNTT?
    3. 3. 3 MỤC TIÊU Trình bày được các khái niệm về các vấn đề dự án và quản trị dự án. Trình bày được các bước quá trình phát triển dự án CNTT. Liệt kê được các kỹ thuật và mô hình kinh tế, nền kinh tế khi áp dụng các mô hình quản trị dự án.
    4. 4. 4 NỘI DUNG 1 Phát triển phần mềm truyền thống2 Sự tiến hóa nền kinh tế phần mềm3 Cải tiến kinh tế phần mềm4 Giới thiệu chung về dự án
    5. 5. 5 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DỰ ÁN * Dự án là gì? * Quản lý dự án là gì? * Nói về người quản lý dự án.
    6. 6. 6 * Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể, nhằm đạt được một kết quả dự kiến, trong một thời gian dự kiến, với một kinh phí dự kiến.  Phải dự kiến nguồn nhân lực;  Phải có ngày bắt đầu, ngày kết thúc;  Phải có kinh phí thực hiện công việc;  Phải mô tả được rõ ràng kết quả (output) của công việc. * Dự án kết thúc khi:  Hoàn thành mục tiêu đề ra và nghiệm thu kết quả (kết thúc tốt đẹp) trước thời hạn;  Hết kinh phí trước thời hạn (kết thúc thất bại);  Đến ngày cuối cùng (nếu tiếp tục nữa cũng không còn ý nghĩa). * Dự án thất bại khi:  Không đáp ứng các mục tiêu ban đầu;  Không đáp ứng được thời hạn;  Vượt quá ngân sách cho phép (20 – 30%). 1.1. DỰ ÁN LÀ GÌ?
    7. 7. 7 Không rõ mục tiêu: 18% Không quen thuộc với Phạm vi và sự phức Của dự án: 17% Thiếu thông tin: 21% Quản lý dự án không tốt: 32% Lý do khác: 12% Tại sao dự án thất bại? * Để tránh việc thất bại dự án 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 % Respondents Cải tổ việc quản lý dự án Nghiên cứu khả thi Tăng số các thành viên tham gia Tăng các phương sách từ bên ngoài Không phải những lý do trên 1.1. DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    8. 8. 8 * Quản lý dự án (QLDA) là việc áp dụng các công cụ, kiến thức và kỹ thuật nhằm định nghĩa, lập kế hoạch, tiến hành triển khai, tổ chức, kiểm soát và kết thúc dự án. * Một dự án được quản lý tốt, tức là khi kết thúc phải thoả mãn được chủ đầu tư về các mặt: thời hạn, chi phí và chất lượng kết quả. * Các nguyên lý chung của phương pháp luận QLDA:  Linh hoạt;  Hướng kết quả, không hướng nhiệm vụ (nhằm thoả mãn các thượng đế – khách hàng);  Huy động sự tham gia của mọi người (tính chất dân chủ);  Làm rõ trách nhiệm (chữ ký);  Phân cấp có mức độ (không nên chia thành quá nhiều mức);  Tài liệu cô đọng và có chất lượng (quá nhiều tài liệu tức là có quá ít thông tin);  Kết quả quan trọng hơn công cụ hay kĩ thuật (thực dụng);  Tạo ra các độ đo tốt (để có đánh giá đúng);  Suy nghĩ một cách nhìn xa trông rộng;  Cải tiến liên tục (kế hoạch không xơ cứng). 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ?
    9. 9. 9 Thực hiện dự án Nguồn Các đầu vào khác Các yêu cầu Các kết quả bàn giao của dự án Các đầu ra khác Quản lý dự án Những yêu cầu của người quản lý * Quản lý và thực hiện dự án: 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    10. 11. 11 * Lập kế hoạch quản lý bao gồm:  Xác định ranh giới của dự án: Đội lập kế hoạch, văn bản/thông tin hiện có;  Xây dựng các lựa chọn tiếp cận của dự án: Chiến lược thực hiện và các phương pháp luận tổ chức dự án;  Xây dựng các ước tính ban đầu;  Xây dựng cơ sở hạ tầng nguồn: Môi trường làm việc, MOC;  Xây dựng cơ sở hạ tầng của dự án: Quản lý cấu hình, chất lượng, rủi ro, sự kiện, sự thay đổi, kiểm soát dự án, lập báo cáo và lập kế hoạch;  Lập thành văn bản về kế hoạch quản lý. * Các phong cách QLDA:  Sau khi vạch kế hoạch rồi, phó mặc cho người khác thực hiện, không quan tâm theo dõi. Khi có chuyện gì xảy ra mới nghĩ cách đối phó;  Một đề tài nghiên cứu khoa học: Không có sáng kiến mới, cứ quanh quẩn với các phương pháp cũ, công nghệ cũ;  Thiết lập hướng làm việc chung;  Không lo lắng đến thời hạn giao nộp sản phẩm, đến khi dự án sắp hết hạn thì mới lo huy động thật đông người làm cho xong;  Quản lý chủ động, tích cực. Suốt quá trình thực hiện dự án không bị động về kinh phí, nhân lực và tiến độ đảm bảo (lý tưởng). 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    11. 12. 12 * QLDA thụ động có những đặc tính:  QLDA luôn đứng sau các mục tiêu của dự án;  Hấp tấp, bị kích động, tương lai ngắn hạn;  Khi làm quyết định, chỉ nghĩ đến các khó khăn trở ngại tạm thời, trước mắt, không nghĩ đến liệu rằng đó có phải là một bước đi đúng hay không;  Không kiểm soát được tình thế, nhiều khi phải thay đổi kế hoạch và tổ chức. * Hậu quả của QLDA thụ động:  Kết quả thu được không ổn định;  Tinh thần làm việc không cởi mở, hợp tác;  Năng suất thấp, công việc không chạy;  Rối loạn trong điều hành;  Không sử dụng hiệu quả tài nguyên;  Người quản lý dự án bị dự án quản lý;  Hồ sơ dự án kém chất lượng;  Chậm tiến độ, tiêu vượt quá kinh phí;  Chất lượng dự án không đảm bảo. 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    12. 13. 13 * Các thuộc tính của dự án IT:  Kết quả bàn giao có thể là ít hữu hình;  Phạm vi có thể khó kiểm soát;  Kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ và kỳ vọng trái ngược nhau;  Có thể bất đồng về mục tiêu kinh doanh;  Thay đổi quan trọng về tổ chức;  Các yêu cầu, phạm vi, và lợi nhuận chính xác có thể rất khó xác định;  Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ. * Lưu ý:  Quản lý dự án thành công chính là vấn đề về con người;  Khám phá các nguồn hỗ trợ và ngăn trở;  Nhìn bản chất, không tin hiện tượng;  Người khác có cách nhìn khác nhau;  Thiết lập kế hoạch chỉnh sửa dễ dàng;  Dám đối mặt với sự kiện;  Sử dụng quản trị để hỗ trợ cho các mục đích của dự án;  Thời gian mục tiêu đối với từng nhiệm vụ không được giống như đã nêu trong kế hoạch;  Đọc lại phạm vi và các mục tiêu của dự án mỗi tuần một lần;  Không ngạc nhiên. 1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN LÀ GÌ? (tiếp theo)
    13. 16. 16 * Trách nhiệm của QLDA: Trách nhiệm chính Chi tiết Nêu ra những điểm bao quát chung Về công việc, cấu trúc phân việc, lịch biểu và ngân sách Trao đổi với các đồng nghiệp Bao gồm các báo cáo, biểu mẫu, bản tin, hội họp và thủ tục làm việc. Ý tưởng là trao đổi cởi mở và trung thực trên cơ sở đều đặn Động viên, khuấy động tinh thần làm việc Bao gồm khích lệ, phân việc, mời tham gia và ủy quyền Định hướng công việc Bao gồm điều phối, theo dõi, thu thập hiện trạng và đánh giá hiện trạng Hỗ trợ cho mọi người 1.3. NÓI VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ DỰ ÁN (tiếp theo)
    14. 18. 18 * Xây dựng tập thể vững mạnh:  Bổ nhiệm người phụ trách;  Phân bổ trách nhiệm;  Khuyến khích tinh thần đồng đội;  Làm phát sinh lòng nhiệt tình;  Thành lập sự thống nhất chỉ huy;  Quản lý trách nhiệm;  Cung cấp môi trường làm việc tốt;  Trao đổi với đồng nghiệp. * Sức ép với QLDA: Kinh tế, marketing, các chuẩn về công nghệ, mục tiêu, uy tín danh dự, nguồn nhân lực, nhân sự, thủ tục hành chính, quan hệ với người đặt hàng, môi trường kinh doanh. * Phẩm chất QLDA: Trung thực, toàn tâm toàn ý, khả năng diễn đạt, khả năng chia sẻ thông cảm với người khác, nhất quán, kiên nhẫn, tính kiên quyết, khách quan, tầm nhìn xa trông rộng, … 1.3. NÓI VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ DỰ ÁN (tiếp theo)
    15. 19. 19 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG * Sơ lược về quá trình – dự án truyền thống: Dạng Văn bản không theo thể thức Sơ đồ luồng Chương trình nguồn Vạch ranh giới cấu hình Hoạt động Yêu cầu phân tích Thiết kế chương trình Lập trình và kiểm thử Tích hợp theo tỷ lệ mở rộng và kiểm sửa Sản phẩm Tài liệu Tài liệu Chương trình Vạch ranh giới yếu ớt Các hoạt động kế tiếp: Yêu cầu – thiết kế – lập trình – tích hợp – kiểm sửa Bắt đầu tích hợp Điểm gián đoạn thiết kế chậm Ngày đạt mục tiêu gốc Lịch trình dự án Tiếnđộpháttriển (%lậptrình) 100%
    16. 20. 20 * Các kinh nghiệm của quá trình phát triển phần mềm:  Quá trình phát triển là không dự đoán được rất cao. Chỉ có 10% dự án là đúng hạn và ngân sách;  Các nguyên tắc quản lý là khó phân biệt được thành công hay thất bại như các tiến bộ công nghệ;  Các mức vụn vặt và làm lại phần mềm là xác định trong tiến trình tăng trưởng. * Hai bước cơ bản để xây một chương trình: Phân tích và lập trình sẽ bao gồm các công việc sáng tạo mà nó đóng góp trực tiếp tới tính hữu dụng của sản phẩm. Phân tích Lập trình 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    17. 21. 21 Yêu cầu hệ thống Yêu cầu phần mềm Phân tích Thiết kế chương Lập trình Kiểm sửa Thực hiện * Mô hình thác nước cổ điển: 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    18. 22. 22 * Chi phí: STT Hoạt động Chi phí (%) 1 Quản lý 5 2 Xác định yêu cầu 5 3 Thiết kế 10 4 Mã hóa và kiểm sửa 30 5 Tích hợp và kiểm sửa 40 6 Triển khai 5 7 Môi trường 5 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    19. 23. 23 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo) * Sơ lược rủi ro: Kiểm sửaSơ lược rủi roSơ lược rủi roYêu cầu Chiềuhướngrủirocủadựán Thấp Cao Định hướng tập trung chu kỳ giải trình rủi ro Điều khiển chu kỳ quản lý rủi ro Chu kỳ khai thác rủi ro Chu kỳ chi tiết hóa rủi ro Vòng đời dự án
    20. 24. 24 * Lập tài liệu và điều khiển dự án:  Nhà dự thầu (contractor) chuẩn bị một tài liệu hợp đồng để phân phát cho khách hàng duyệt mà nó bảo đảm nắm bắt được các mẫu phát triển qua các bước trung gian;  Khách hàng có góp ý trở lại (trong vòng 15 đến 30 ngày);  Nhà thầu sau khi xem xét lại các ý kiến của khách hàng và nộp lại bản cuối cùng để duyệt (cũng trong vòng 15 tới 30 ngày). * Các kinh nghiệm cụ thể: Các kinh nghiệm ban đầu thường thấy thông qua thiết kế trên giấy và qua đó thường rất tóm tắt.  Vi phạm về sự mã hoá muộn trong vòng đời dự án;  Việc tích hợp hệ thống gây ra ác mộng về các vấn đề thể hiện không nhìn thấy trước và sự nhập nhằng về các giao diện giữa chúng;  Thờì gian và tài chính là các áp lực cho hệ thống làm việc;  Một sản phẩm không tối ưu nhưng đã chót làm và không có thời gian thiết kế lại;  Một sản phẩm rất yếu ớt, khó bảo trì và phân phối rất muộn mằn. 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    21. 25. 25 * Tóm tắt các vấn đề về thực tiễn:  Việc tích hợp kéo dài và phá vỡ thiết kế sau này;  Sự giải quyết rủi ro quá muộn;  Có yêu cầu phân rã theo chức năng;  Mối quan hệ giữa các cổ đông đối nghịch nhau;  Chỉ tập trung vào tài liệu và các cuộc họp rà soát lại. * Năm cải tiến cần thiết đối với mô hình thác nước:  Hoàn thiện thiết kế chương trình trước khi bắt đầu phân tích và mã hóa (xây dựng) chương trình;  Bảo trì hiện hành và hoàn thiện tài liệu;  Làm các nhiệm vụ hai lần nếu có thế;  Lập kế hoạch, điều khiển và theo dõi kiểm tra;  Trao đổi sâu sát và thu hút khách hàng. 2. PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM TRUYỀN THỐNG (tiếp theo)
    22. 27. 27 * Nền kinh tế phần mềm; * Sự ước lượng chi phí phần mềm thực tế. 3. SỰ TIẾN HÓA NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM
    23. 28. 28 * Mô hình chi phí phần mềm bao gồm 5 tham số:  Kích cỡ của sản phẩm cuối thông thường số dòng chương trình nguồn.  Tiến trình xử lý để đưa ra sản phẩm cuối.  Khả năng của nhân sự.  Môi trường – Các công cụ và kỹ thuật.  Chất lượng yêu cầu của sản phẩm cuối. * Công thức lượng giá chi phí: Chi phí = (Nhân sự)(Môi trường)(Chất lượng)(Kích thướctiến trình). * Ba giai đoạn phát triển phần mềm được thể hiện ở hình vẽ sau: 3.1. NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM
    24. 29. 29 3.1. NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM (tiếp theo) – 1960s-1970s – Mô hình thác nước – Thiết kế chức năng – Tỷ lệ phi kinh tế – 1980s-1990s – Cải tiến tiến trình – Dựa vào bao bọc – Tỷ lệ phi kinh tế – 2000 và sau đó – Sự phát triển lặp đi lặp lại – Thành phần – Kết quả đầu tư ROI phần mềm Môi trường/Công cụ Tập quán Môi trường/Công cụ Không lỗi thời, riêng rẽ Môi trường/Công cụ Không lỗi thời, tích hợp Kích thước: 100% tập quán Kích thước: 30% dựa vào thành phần cơ bản 70% tập quán Kích thước: 70% dựa vào thành phần cơ bản 30% tập quán Tiến trình: Theo trường hợp đặc biệt Tiến trình: Có thể lặp lại Tiến trình: Quản lý/phân phối Kích thước phần mềm Sự phù hợp môi trường, kích thước và các công nghệ tiến trình Hiệu năng của dự án điển hình Khả năng dự đoán tồi Luôn luôn: Vượt quá ngân sách Vượt quá lịch trình Không có khả năng dự đoán Không thường xuyên: Đúng ngân sách Đúng lịch trình Có khả năng dự đoán Thường xuyên: Đúng ngân sách Đúng lịch trình Chiphí
    25. 30. 30 * Đánh giá các điểm chức năng:  Sự biến đổi chương trình nguồn làm cơ sở cho việc đánh giá;  Sử dụng các điểm chức năng “Function Points” để đánh giá chi phí:  Các dữ liệu đầu vào của người sử dụng  Các dữ liệu đầu ra  Nhóm các dữ liệu cục bộ  Giao diện dữ liệu ngoài  Các dạng câu hỏi ngoài * Độ chính xác: Toàn bộ độ chính xác của việc đánh giá chi phí phần mềm hiện tại được mô tả như là “… 20 % sự chính xác , 70 % về thời gian…” * Tiến trình chi phí nổi bật được mô tả như sau: Nhà quản lý phần mềm, nhà quản lý kiến trúc phần mềm, nhà quản lý phát triển phần mềm, nhà quản lý định giá phần mềm Mô hình chi phí Chi phí ước lượng “Đây là sự biện hộ nào đó về giá trị đó” Các rủi ro, sự lựa chọn, trả giá, thay thế “Dự án này phải có giá trị là $X để chiến thắng trong nền thương mại này” 3.2. SỰ ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ PHẦN MỀM THỰC TẾ
    26. 31. 31 * Các thuộc tính của đánh giá tốt:  Việc đánh giá phải được nhận thức và hỗ trợ bởi mọi các thành viên tham gia dự án;  Cán bộ quản lý dự án, đội kiến trúc, đội phát triển và đội kiểm thử trong từng công việc của họ;  Việc đánh giá phải được chấp nhận bởi tham vọng của toàn bộ các cổ đông nhưng cần hiện thực;  Việc đánh giá dựa vào mô hình xác định chuẩn với nền tảng tin cậy;  Việc đánh giá dựa trên các kinh nghiệm của các dự án trước;  Việc đánh giá được chi tiết cụ thể và đặc biệt quan tâm hiểu biết tới lĩnh vực rủi ro. 3.2. SỰ ƯỚC LƯỢNG CHI PHÍ PHẦN MỀM THỰC TẾ (tiếp theo)
    27. 32. 32 * Năm tiêu chí cải tiến nền kinh tế phần mềm:  Giảm kích cỡ của phần mềm;  Cải tiến tiến trình phát triển phần mềm;  Sử dụng các nhân sự có kỹ năng và nhóm đội tốt hơn;  Sử dụng môi trường, công cụ phát triển phần mềm tốt hơn;  Thoả hiệp, cân nhắc, hoặc thúc đẩy các mặt còn yếu dựa vào ngưỡng chất lượng. * Giảm kích thước phần mềm:  Lựa chọn ngôn ngữ lập trình;  Áp dụng các phương pháp hướng đối tượng và mô hình hoá trực quan;  Sử dụng lại phần mềm;  Các thành phần phần mềm thương mại hoá. * So sánh các điểm chức năng qua ví dụ ngôn ngữ:  1,000,000 dòng lệnh – ngôn ngữ Assembly;  400,000 dòng lệnh – ngôn ngữ C;  220,000 dòng lệnh – ngôn ngữ Ada 83;  175,000 dòng lệnh – ngôn ngữ Ada 95 hoặc C++. 4. CẢI TIẾN NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM
    28. 33. 33 * Phương pháp hướng đối tượng và mô hình trực quan:  Việc nắm bắt tính trừu tượng hoá của phần mềm dẫn đến giao tiếp và làm việc theo đội nhóm tốt hơn;  Việc tích hợp liên tục thường xuyên dẫn đến nhận biết các rủi ro sớm và hạn chế chi phí chỉnh sửa;  Kiến trúc hướng đối tượng đảm bảo phân tách các thành phần của hệ thống và tạo bức tường ngăn cản các sự cố lan truyền nhằm giảm chi phí;  Mô hình hướng đối tượng và trực quan tạo ra kiến trúc vững chắc nhằm tạo ra sản phẩm sạch và giảm chi phí. * Sử dụng lại phầm mềm:  Kiến trúc phần mềm chung;  Môi trường phát triển;  Các hệ điều hành;  Hệ thống quản trị CSDL;  Các sản phẩm trên mạng;  Các ứng dụng văn phòng. 4. CẢI TIẾN NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM (tiếp theo)
    29. 34. 34 * Chi phí sử dụng lại và lập lịch: 1 giải pháp dự án: $N và M tháng 2 giải pháp dự án: trên 50% chi phí và 100% thời gian 5 giải pháp dự án: trên 125% chi phí và trên 150% thời gian Giải pháp nhiều dự án: Thao tác với giá trị cao tên đơn vị đầu tư, các sản phẩm thương mại điển hình Số dự án sử dụng thành phần có thể tái sử dụng được Pháttriểnchiphívàlậplịchtàinguyên 4. CẢI TIẾN NỀN KINH TẾ PHẦN MỀM (tiếp theo)
    30. 35. 35 CÂU HỎI THẢO LUẬN Xu hướng nền kinh tế phần mềm trong những năm gần đây như thế nào?
    31. 36. 36 TÓM LƯỢC CUỐI BÀI * Phát triển phần mềm thông thường ngày nay không đáng tin cậy và lạc hậu. * Mô hình thác nước cần cải tiến để làm việc thỏa đáng. Thực tiễn thông thường đảm bảo các tiêu chuẩn cho việc cải tiến trong tương lai và thay đổi các phương pháp phát triển phần mềm. * Đánh giá phần mềm phải dựa vào việc phân tích cụ thể và được hỗ trợ bởi các thành viên. * Cải tiến nền kinh tế phần mềm phải dựa vào việc giảm kích thước, sử dụng các thành viên có kỹ năng và cân đối các chỉ tiêu phần mềm tương lai.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Dự Án Phần Mềm Là Gì?
  • Kế Hoạch Quản Lý Môi Trường
  • Khái Niệm Và Một Số Đặc Trưng Cơ Bản Của Dự Án Đầu Tư
  • Hợp Đồng Thực Hiện Đầu Tư Dự Án
  • Hãy Phân Tích Định Nghĩa Của Dự Án Thông Qua Một Dự Án Công Trình Xây Dựng Cụ Thể
  • Khái Niệm, Đối Tượng Điều Chỉnh Và Chủ Thể Của Luật Du Lịch Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Tưởng Khởi Nghiệp Kinh Doanh Khu Du Lịch Sinh Thái
  • Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch
  • Nét Hấp Dẫn Của Ẩm Thực Đường Phố
  • Đề Tài: Phát Triển Sản Phầm Du Lịch Đặc Thù Tại Tp Hải Phòng, 9Đ
  • Phát Triển Sản Phẩm Du Lịch Đặc Thù Vùng Đồng Bằng Sông Hồng
  • 56118

    1. Luật du lịch quốc tế là gì?

    2. Đối tượng điều chỉnh của luật du lịch quốc tế

    – Mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong lĩnh vực hợp tác đầu tư, xúc tiến phát triển về du lịch;

    – Mối quan hệ giữa các tổ chức du lịch quốc tế (bao gồm các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ), tổ chức kinh doanh du lịch du lịch quốc tế, khách du lịch quốc tế với quốc gia nước sở tại trong hoạt động du lịch;

    – Mối quan hệ giữa các tổ chức, cá nhân ở các quốc gia khác nhau trong mối quan hệ hợp tác về du lịch. Về phạm vi điều chỉnh, luật du lịch quốc tế được xem xét trong cả lĩnh vực công pháp và tư pháp quốc tế.

    3. Chủ thể của luật du lịch quốc tế

    – Quan niệm về quốc gia

    Theo Điều 1 của công ước Motevideo năm 1933 về quyền và nghĩa vụ quốc gia: (1), Dân cư thường xuyên; (2), Lãnh thổ được xác đinh; (3), Chính phủ; (4), Năng lực tham gia vào các quan hệ với các thực thể quốc tế khác.

    – Chủ quyền quốc gia

    + Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ chủa mình;

    + Và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế.

    – Quyền và nghĩa vụ của quốc gia trong luật quốc tế

    + Quyền bình đẳng về chủ quyền và quyền lợi;

    + Quyền được tự vệ cá nhân hay tự vệ tập thể;

    + Quyền được tồn tại trong hòa bình và độc lập;

    + Quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ;

    + Quyền được tham gia vào việc xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế;

    + Quyền được tự do quan hệ với các chủ thể khác của luật quốc tế;

    + Quyền được trở thành thanh viên của các tổ chức quốc tế phổ biến.

    + Tôn trọng chủ quyền của các quốc gia;

    + Tôn trọng bất khả xâm phạm lãnh thổ của các quốc gia khác;

    + Không áp dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực;

    + Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

    + Hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia nhằm duy trì nền hòa bình và an ninh quốc tế;

    + Tôn trọng nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ quốc tế;

    + Tôn trọng những cam kết và tập quán quốc tế;

    + Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình

    – Vai trò của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Sự hợp tác quốc tế của quốc gia tạo ra sự liên kết và là động lực thúc đẩy ngành du lịch quốc tế phát triển;

    + Môi trường pháp lý mỗi quốc gia là tiền đề của hoạt động du lịch quốc tế.

    – Hoạt động pháp lý của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Xây dưng, tham gia các Điều ước quốc tế về du lịch;

    + Xây dựng các chuẩn mức pháp lý của quốc gia về yếu tố nước ngoài trong ngành du lịch quốc gia mình;

    + Giải quyết, tham gia giải quyết tranh chấp quốc tế về du lịch.

    – Hoạt động khác của quốc gia trong du lịch quốc tế

    + Tham gia và tạo điều kiện cho các chủ thể khác tham gia vào các tổ chức du lịch quốc tế;

    + Thực hiện các hoạt động xúc tiến, đầu tư về du lịch;

    + Đảm bảo sự an toàn và an ninh cho hoạt động du lịch quốc tế diễn ra tại lãnh thổ quốc gia mình.

    b) Các loại tổ chức quốc tế về du lịch

    Có 02 loại tổ chức quốc tế về du lịch đó là: tổ chức quốc tế liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ (NGOs).

    – Vai trò của tổ chức du lịch quốc tế

    + Là cầu nối liên kết các ngành du lịch trên thế giới;

    + Thúc đẩy phát triển tiềm năng du lịch ở vùng, khu vực trên thế giới;

    + Bảo hộ các thành viên trong hoạt động du lịch.

    – Một số tổ chức du lịch quốc tế điển hình

    + Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization)

    + Ủy hội du lịch Châu Âu (European Travel Commission – ETC)

    + Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương ( PATA: Pacific Asia Travel Association)

    + Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC: World travel anh tourism Council);

    + Trung tâm Quốc tế APEC về Du lịch bền vững (AICST: Apec international Centre for Sustainable Tourism)

    + Hiệp hội du lịch ASEAN …

    * Tổ chức du lịch thế giới (WTO) + Tiền thân của Tổ chức Du lịch Thế giới là Đại hội quốc tế Hiệp hội các Cơ quan Vận chuyển Du lịch, được thành lập vào năm 1925 ở Hague.+ Sau Chiến tranh Thế giới II, tổ chức này đổi tên là Liên hiệp Quốc tế Tổ chức các Cơ quan Lữ hành (IUOTO) và được chuyển tới Geneva.+ Trên cơ sở nghị quyết của Hội nghị trù bị về thành lập Tổchức Du lịch thế giới (WTO), họp ngày 27/9/1970. Tổ chức WTO đã được chính thức thành lập ngày 2/1/1975.+ Hàng năm, ngày 27/9 được coi là ngày Du lịch thế giới.Đại Hội đồng LHQ khoá 58 đã thông qua nghị quyết số 58/232 công nhận WTO là tổ chức chuyên môn trong hệ thống LHQ.– Phát triển: Đến năm 2005, danh sách thành viên của WTO đã bao gồm 145 quốc gia, 7 vùng lãnh thổ và khoảng 350 thành viên chi nhánh, đại diện cho khu vực tư nhân, các tổ chức giáo dục, hiệp hội du lịch và các cơ quan du lịch địa phương– Thành viên: + Thành viên chính thức (các quốc gia có chủ quyền) đến Đại hội lần thứ 14 WTO có 138 nước thành viên.+ Thành viên liên kết là những vùng lãnh thổ, hiện nay có 6 thành viên là Aruba, Macao, Madeire, Hồng kông, Frémish và quần đảo Antilles.+ Thành viên chi nhánh: là những công ty du lịch, hãng du lịch,… hiện nay có 350 thành viên.+ Ngân sách: Do các nước thành viên chính thức đóng góp, được chia thành 15 bậc và đóng theo sự phát triển của khách lữ hành quốc tế vào nước đó.+ Tôn chỉ Mục đích: WTO hoạt động nhằm đẩy mạnh và phát triển du lịch nhằm góp phần vào sự phát triển kinh tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia vì hòa bình, thịnh vượng, tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng nhân quyền và tự do cơ bản, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ và tôn giáo.Đại hội đồng WTO :– Họp thường kỳ hai năm họp một lần, có nhiệm vụ thông qua chủ trương, chính sách du lịch, định hướng phát triển du lịch phục vụ sự phát triển kinh tế thé giới; bầu các chức vụ quan trọng của WTO như Tổng thư ký, các nước trong Hội đồng chấp hành WTO , kết nạp thành viên mới và đình chỉ nước thành viên khi nợ ngân sách quá 2 năm liền.Chia thành 3 loại :Hội đồng chấp hành (HĐCH):+ HĐCH gồm 27 nước thành viên được bầu theo khu vực địa lý. nhiệm kỳ là 2 năm và được tái cử.+ HĐCH do 1 Chủ tịch và 3 Phó Chủ tịch lãnh đạo.+ HĐCH là cơ quan điều hành giúp WTO triển khai các chủ trương chính sách đã được ĐHĐ thông qua giữa hai kỳ ĐHĐ.+ HĐCH họp 2 kỳ 1 năm và có các cuộc họp bất thường theo đề nghị của Tổng Thư ký hay của 2/3 số thành viên HĐCH.+ Đứng đầu là Tổng Thư ký và 2 phó Tổng thư ký, nhiệm kỳ 4 năm.+ 6 tiểu ban khu vực: Châu Phi; Châu Mỹ; Đông Á – Thái Bình dương; Nam Á; Châu Âu; Trung Đông.

    – Ngoài Đại hội đồng thường kỳ, WTO cũng có thể triệu tập cuộc họp bất thường theo yêu cầu của Hội đồng chấp hành hoặc do 2/3 số thành viên chính thức yêu cầu.

    Cơ cấu tổ chức:

    – Các tổ chức du lịch quốc tế khác

    + Ủy hội du lịch Châu Âu (European Travel Commission – ETC)

    Ủy hội du lịch Châu Âu tập hợp các tổ chức du lịch quốc gia châu Âu nhằm gia tăng mức độ du lịch từ những phần đất khác trên thế giới đến Châu Âu như là kết quả của những hoạt động tiếp thị.

    + Hiệp hội du lịch Châu Á- Thái Bình Dương ( PATA):

    PATA là một tổ chức du lịch bao gồm các hội viên thuộc khu vực tư, đặc biệt là các công ty du lịch lớn, cũng như các tổ chức du lịch quốc gia.

    PATA tổ chức nghiên cứu thị trường tập thể, dành sự hổ trợ kỷ thuật cho sự phát triển du lịch, chủ yếu thông qua những sự nghiệp dành cho các quốc gia riêng lẽ hoặc trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

    + Hiệp hội du lịch Asean Các tổ chức du lịch quốc tế khác

    + Hiệp hội du lịch Asean: Bao gồm các nước thành viên Asean, thể hiện mối quan hệ cấp bộ trưởng về lĩnh vực du lịch trong khu vực, có vai trò gắn kết và phát triển vùng du lịch chung và tiềm năng phát triển du lịch của từng quốc gia

    c) Tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế

    – Khái niệm tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    Tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế là tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế.

    – Đặc điểm của tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    + Là pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật một quốc gia nhất định;

    + Hoạt động nhằm mục tiêu lợi nhuận;

    – Vai trò của tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế:

    + Thoả mãn nhu cầu du lịch của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

    + Thúc đẩy kinh tế phát triển;

    + Khai thác và giới thiệu tài nguyên du lịch hấp dẫn của quốc gia đến các nước khác

    + Tạo ra nguồn thu nhập quốc gia;

    + Tạo việc làm cho người lao động;

    – Khái niệm khách du lịch quốc tế:

    Khách du lịch quốc tế là người đi du lịch bên ngoài lãnh thổ quốc gia mà mình thường trú.

    – Vai trò của lhách du lịch quốc tế:

    + Là đối tượng trung tâm của các hoạt động du lịch quốc tế của từng quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới;

    + Là động lực phát triển kinh tế ;

    + Mang lại nguồn thu nhập, việc làm cho quốc gia nước sở tại;

    1. QUAN HỆ Việt Nam VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ASEAN

    Quan hệ hợp tác quốc tế du lịch giữa Việt Nam và các nước

    – ASEAN là tổ chức liên chính phủ

    – Số lượng thành viên: 10 quốc gia

    – Ngày gia nhập của Việt Nam: 27/71995;

    – Là tổ chức thể hiện sự hợp tác toàn diện của các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có lĩnh vực du lịch

    1.1 Lịch sử hợp tác về du lịch của ASEAN

    + Tuyên bố Manila ngày 15 tháng 12 năm 1987;

    + Thỏa thuận cấp Bộ trưởng về Hợp tác Du lịch ASEAN, ký ngày 10 tháng 01 năm 1998, tại Cebu, Philippines;

    + Hiệp định Khung ASEAN về Dịch vụ, ký tại Bangkok, ngày 15 tháng 12 năm 1995 Hiệp định du lịch ASEAN được ký tại Phnôm Pênh, Campuchia, ngày 04 tháng 11 năm 2002;

    + Nghị định thư Hội nhập ngành du lịch ASEAN tại Viên Chăn, Lào ngày 29/11/2004

    1.2 Nội dung hợp tác cơ bản

    – Tạo điều kiện thuận lợi trong du lịch ASEAN và quốc tế;

    – Về dịch vụ vận tải du lịch;

    – Tiếp cận thị trường;

    – Du lịch có chất lượng;

    – An toàn và an ninh du lịch;

    – Phối hợp xúc tiến và tiếp thị;

    – Phát triển nguồn nhân lực.

    – Tạo điều kiện thuận lợi trong du lịch ASEAN và quốc tế;

    + Đưa ra các ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư, nhất là khu vực tư nhân vào ASEAN;

    + Xây dựng và triển khai các dự án du lịch sinh thái nhằm khuyến khích đầu tư vào du lịch

    – Về dịch vụ vận tải du lịch;

    + Miễn thị thực cho du lịch nội khối ASEAN của các công dân ASEAN (từ năm 2005);

    – Tiếp cận thị trường;

    + Đẩy nhanh tự do hoá thương mại dịch vụ trước năm 2021;

    + Xúc tiến các chương trình hợp tác và đầu tư chung, bao gồm thị trường các nước thứ ba;

    + Loại bỏ các hạn chế về tiếp cận thị trường và đối xử quốc gia nhằm đạt được tự do hoá thương mại trong ngành du lịch.

    – Du lịch có chất lượng;

    Bước đầu xây dựng các tiêu chuẩn về cấp độ của các khách sạn, tập trung vào hệ thống cấp chứng nhận quản lý môi trường của khách sạn.

    – An toàn và an ninh du lịch;

    + Ổn định chính trị;

    + Thực hiện tốt các biện pháp chống khủng bố;

    + Đảm bảo an toàn cho khách du lịch trước các tội phạm .

    – Phối hợp xúc tiến và tiếp thị;

    + Tăng cường các nỗ lực xúc tiến chung trong và ngoài khối ASEAN thường xuyên thu hút du lịch và đầu từ du lịch từ thị trường ngoài ASEAN;

    + Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào các chương trình xúc tiến và marketing chung đối với các hoạt động du lịch ASEAN ;

    + Tiếp thị bằng logo chung, tổ chức một khu du lịch chung trong hội chợ triển lãm du lịch …..;

    – Phát triển nguồn nhân lực.

    + Chương trình đào tạo chung;

    + Xây dựng các tiêu chuẩn phù hợp tối thiểu trong ASEAN đối với các cơ quan du lịch chuyên nghiệp

    + Xây dựng một Mạng lưới Phát triển và Quản lý Nguồn lực Du lịch;

    2. VIỆT NAM – APEC

    + Chương trình trao đổi, các hoạt động đào tạo chéo và chứng nhận chéo;

    – Diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương hiện nay có 21 thành viên. Diễn đàn này hợp tác trên nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực du lịch.

    – Về hoạt động hợp tác trong lĩnh vực du lịch, các quốc gia thành viên Apec đã có những văn kiện hợp tác quan trọng, trong đó nổi bậc nhất là Hiến chương du lịch Apec và Tuyên bố Hội An

    2.1 Hiến chương Du lịch APEC

    Tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ nhất tại Hàn Quốc năm 2000, Hiến chương Du lịch APEC đã được thông qua với 4 mục tiêu chính:

    + Loại bỏ những trở ngại đối với kinh doanh và đầu tư du lịch;

    + Thúc đẩy dòng khách du lịch và nhu cầu tiêu dùng sản phẩm;

    + Quản lý bền vững tài nguyên du lịch và hạn chế tác động tiêu cực;

    + Tăng cường nhận thức và hiểu biết du lịch, coi đó là phương tiện phát triển kinh tế, xã hội.

    2.2 TUYẾN BỐ HỘI AN

    Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4, tổ chức tại Hội An, Quảng Nam, Việt Nam từ ngày 15 – 17/10/2006 trong khuôn khổ Năm APEC Việt Nam 2006:

    + Khuyến khích tổ chức Hội chợ Du lịch APEC

    + Tăng cường thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch;

    3. QUAN HỆ VIỆT NAM – TỔ CHỨC DU LỊCH THẾ GIỚI (WTO):

    + Khuyến khích áp dụng các biện pháp tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho khách du lịch, nghiên cứu khả năng kết nối tour và mở đường bay trực tiếp giữa các di sản văn hóa ;

    + Tổ chức các hoạt động giao lưu thanh niên và giao lưu giữa các thành phố kết nghĩa.

    – Gia nhập:

    Ngày 26 tháng 9 năm 1979, CHXHCN Việt Nam gửi đơn xin gia nhập WTO .

    – Quan hệ hợp tác:

    4. QUAN HỆ VIỆT NAM – TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ DU LỊCH

    Với sự trợ về tài chính của UNDP, Việt Nam và chuyên gia cao cấp của WTO đã hoàn thành dự án phát triển du lịch Việt nam từ nay dến 2010

    CAM KẾT CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VỀ DU LỊCH

    – Dịch vụ du lịch theo định nghĩa trong WTO, gồm:

    + Dịch vụ khách sạn và nhà hàng (CPC 641 – 643);

    + Dịch vụ lữ hành và điều hành tour du lịch (CPC 7471);

    + Dịch vụ hướng dẫn viên du lịch (CPC 7472);

    + Dịch vụ khác.

    – Cơ sở đưa ra cam kết:

    Căn cứ vào pháp luật của Việt Nam; thực tiễn của ngành du lịch; cam kết quốc tế trước đó của Việt Nam; cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ.

    Nội dung cam kết

    – Diện cam kết: Việt Nam chỉ cam kết dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch. Không cam kết dịch vụ hướng dẫn viên du lịch.

    – Đối với dịch vụ đại lý lữ hành và điều hành tour du lịch:

    + Chỉ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam, không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh.

    + Hướng dẫn viên du lịch trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là người Việt Nam;

    + Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ đưa khách vào du lịch Việt Nam.

    Một số lưu ý:

    + Không cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (phù hợp với Điều 51 Luật Du lịch);

    + Không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh (Luật Du lịch Việt Nam – 2005 chưa có);

    + Chưa cam kết cho phép thành lập chi nhánh (Điều 42 Luật Du lịch);

    + Không hạn chế đối tác Việt Nam trong liên doanh (Điều 51 Luật Du lịch).

    CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỦA VIỆT NAM VỀ DU LỊCH SAU KHI GIA NHẬP WTO 2007-2012

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài: Mức Độ Hài Lòng Của Du Khách Đối Với Du Lịch Phú Quốc, Hot
  • Một Số Định Nghĩa Về Các Loại Hình Lưu Trú
  • Các Loại Hình Du Lịch Ở Việt Nam
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Mạo Hiểm Tại Lâm Đồng
  • Khách Du Lịch Là Gì Và Cách Phân Loại Khách Du Lịch
  • Khái Niệm Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp, Vai Trò Đối Với Kinh Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Thức Cơ Bản Về Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Vai Trò Của Thuế Tndn Trong Nền Kinh Tế Thị Trường
  • Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp Là Gì? Cách Tính, Đối Tượng Đóng 2021
  • Khái Quát Chung Về Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ
  • Bài 7. Dòng Điện Không Đổi. Nguồn Điện
  • Để hiểu rõ thuế thu nhập trước hết cần tìm hiểu về thu nhập: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nào đó nhận được trong nền kinh tế xã hội thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ lao động, tài sản hay đầu tư…

    Thuế thu nhập là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các cá nhân hoặc các pháp nhân nhưng không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tượng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu nhập sau khi đã được miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ. Thuế thu nhập đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu Ngân sách cho Nhà nước và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

    Thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế không thể thiếu và là công cụ để nhà nƣớc quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế -xã hội. Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò khuyến khích, hạn chế hoặc ổn định kinh tế.

    Thuế thu nhập cá nhân đã đƣợc áp dụng từ rất lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Cho đến nay, trên thế giới đã có khoảng trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế thu nhập cá nhân là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và góp phần điều tiết nền kinh tế.

    Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của thuế thu nhập cá nhân do 2 nguyên nhân cơ bản:

    Thứ nhất, thuế thu nhập cá nhân ra đời bắt nguồn từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập. Điều này là thật sự cần thiết trong nền kinh tế thị trường bởi sự tồn tại phổ biến của sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Mặt khác, việc áp dụng thuế gián thu mới chỉ đảm bảo sự công bằng theo chiều ngang. Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, thuế đánh trực tiếp vào thu nhập của ngƣời nộp thuế và điều tiết thu nhập của ngƣời nộp thuế theo khả năng của họ. Vì thế, thuế thu nhập cá nhân còn đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc. Hơn thế nữa, một trong những lý thuyết của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân sẽ giúp làm tăng phúc lợi xã hội bằng cách điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao và phân phối lại cho những người có thu nhập thấp hơn.

    Thứ hai, thuế thu nhập cá nhân ra đời còn bắt nguồn từ nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng của nhà nƣớc cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội ngày càng gia tăng của mỗi quốc gia. Trƣớc xu thế toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, sự giảm dần hàng rào thuế quan do yêu cầu của tự do hóa thƣơng mại là một tất yếu, ảnh hƣởng và làm giảm đáng kể nguồn thu ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu tích lũy từ trong nước tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước. Vì vậy, nguồn thu chủ yếu cho ngân sách quốc gia là từ thuế hàng hóa, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập cá nhân. Trong đó, thuế thu nhập cá nhân là nguồn tài chính lớn, góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

    2. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

    Bản chất của thuế thu nhập cá nhân được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của nó. Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua các giai đoạn phát triển. Nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân, người ta nhận thấy thuế thu nhập cá nhân có những đặc trưng riêng để phân biệt với các sắc thuế và các công cụ tài chính khác như sau:

    2.1. Thuế thu nhập cá nhân thường mang tính lũy tiến

    Đặc điểm đầu tiên của thuế thu nhập cá nhân là mang tính lũy tiến: Thu nhiều phần trăm hơn vào thu nhập của ngƣời có thu nhập cao và ít phần trăm vào thu nhập của ngƣời có thu nhập thấp.

    Tính lũy tiến của thuế thu nhập cá nhân dựa trên hai cơ sở:

    – Cơ sở lý thuyết: độ hữu dụng biên của thu nhập giảm dần

    – Cơ sở thực tiễn: Người thu nhập cao có nhiều khả năng trả thuế hơn người thu nhập thấp

    Tính lũy tiến thể hiện ở số thuế phải tỉ lệ gia tăng so với thu nhập. Như vậy thu nhập cao thì nộp nhiều, thu nhập thấp thì nộp ít và thu nhập chưa vượt qua ngưỡng thì tạm thời chưa nộp. Đây chính là lý thuyết về sự hy sinh độ hữu dụng.

    Ý tưởng chính của lý thuyết nằm ở chỗ xây dựng mức thu thuế dựa trên nền tảng mức hy sinh độ hữu dụng biên (MUY) sinh ra từ thu nhập của cá nhân. Sử dụng nguyên tắc này trong thực tiễn, chính phủ buộc người có thu nhập càng cao càng phải hy sinh mức hữu dụng từ thu nhập theo một tỷ lệ nhiều hơn.

    Có ba loại hy sinh hữu dụng:

    Loại thứ nhất là hy sinh mức hữu dụng tuyệt đối bằng nhau, mức giảm tuyệt đối về độ hữu dụng của mọi cá nhân là như nhau nghĩa là chính phủ đánh thuế sao cho mỗi cá nhân mất đi một hữu dụng tuyệt đối bằng nhau.

    Loại thứ hai là hy sinh tỷ lệ hữu dụng bằng nhau, mức giảm tương đối về độ hữu dụng của mọi cá nhân là như nhau nghĩa là chính phủ đánh thuế sao cho mỗi cá nhân mất đi một tỷ lệ hữu dụng bằng nhau.

    Loại thứ ba là hy sinh hữu dụng biên bằng nhau, nộp thuế sao cho cân bằng MUY sau thuế.

    2.2. Thuế thu nhập cá nhân đánh theo nơi cư trú và nguồn thu nhập

    Theo thông lệ quốc tế , thuế thu nhập cá nhân thuộc loại thuế trực thu nên người chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế thu nhập cá nhân, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”.

    Theo tiêu thức “nơi cư trú”, một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó.

    Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó.

    Rõ ràng, sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào. Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định nghĩa sao cho phù hợp với tình hình của mình.

    Việc xác định đối tượng nộp thuế căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế các khoản thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú. Có rất ít nước áp dụng duy nhất tiêu thức này khi xác định đối tượng nộp thuế. Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc và đầu tư, còn công dân nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài.

    Điển hình, Hàn Quốc quy định đối tượng nộp thuế là toàn bộ các cá nhân là người cư trú hoặc không ở Hàn Quốc. Trong đó, người không cư trú ở Hàn Quốc là người có thời hạn ở Hàn Quốc dưới 1 năm và chỉ phải nộp thuế thu nhập với thu nhập phát sinh ở Hàn Quốc.

    Hồng Kông, mọi cá nhân không phân biệt ” cư trú” hay “không cư trú” chỉ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Hông Kông đối với các khoản thu nhập phát sinh tại nước này.

    2.3. Thuế thu nhập cá nhân mang tính thứ bậc

    Về lý thuyết, tồn tại 3 mô hình đánh thuế thu nhập cá nhân.

    Thứ nhất, đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập. Đây là phương pháp áp dụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh. Tương ứng với mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ của từng loại thu nhập và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt. Số thuế phải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từng nguồn. Các nhà kinh tế học cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế vì nó thu “theo sát từng nguồn thu nhập”. Tuy nhiên, trên thực tế, đánh thuế thu nhập theo phương pháp này gặp rất nhiều hạn chế.

    Một là, việc chia thu nhập cá nhân thành từng phần thu nhập để chịu các mức thuế suất khác nhau là một công việc phức tạp, không đảm bảo nguyên nguyên tắc công bằng theo chiều ngang. Hai là, việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loại thu nhập, gây khó khăn cho công tác quản lý và là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế. Nếu ranh giới giữa các loại thu nhập không rõ ràng thì sẽ mất ý nghĩa công bằng của thuế thu nhập cá nhân. Trong một chừng mực nào đó, cách đánh thuế này cũng không hiệu quả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệu quả để chịu mức thuế thấp nhất.

    Thứ hai, đánh thuế trên tổng thu nhập. Phương pháp này tiến hành đánh thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất các các khoản thu nhập nhận được mà không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập và chi phí tạo ra thu nhập. Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét một cách tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế của phương pháp đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập. Do ưu điểm đơn giản và dễ dàng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến khi đánh thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, nhất là ở các nước phát triển.

    Thứ ba, đánh thuế hỗn hợp, thuế thu nhập cá nhân có thể đánh theo cách kết hợp cả hai phương pháp kể trên. Ban đầu đánh thuế theo từng nguồn phát sinh thu nhập, sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và đánh trùm lại tất cả lên tổng thu nhập một mức thuế nữa. Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất lũy tiến ngoài thuế suất thông thường đánh trên từng loại thu nhập. Cách đánh thuế này đảm bảo sự chính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán nên chỉ có ý nghĩa trên phương diện lý thuyết.

    Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng cải cách thuế thu nhập cá nhân là giảm số lượng thuế suất. Xu hướng này làm cho chính sách thuế thu nhập cá nhân của các quốc gia đơn giản hơn, mặc dù khoảng cách giữa các bậc thuế xa hơn. Mỹ là quốc gia giảm số bậc thuế mạnh mẽ nhất, từ 25 xuống còn 5 bậc, Hàn Quốc giảm từ 9 xuống còn 5 bậc, Pháp giảm từ 17 xuống còn 7 bậc…

    2.4. Thuế thu nhập cá nhân là công cụ trực tiếp làm giảm sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

    Một trong những nhược điểm của kinh tế thị trường là sự phân phối không công bằng và đi cùng với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Thuế thu nhập cá nhân là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập nhận được của các cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập của cá nhân sau khi đã trừ đi khoản thu nhập để bù đắp chi phí cần thiết để đủ nuôi sống bản thân và gia đình. Phương pháp đánh thuế thu nhập cá nhân theo biểu thuế lũy tiến đảm bảo yếu tố công bằng, khi thu nhập càng cao thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Thông qua thuế thu nhập cá nhân, nhà nước thực hiện điều tiết thu nhập của những người có thu nhập cao, san bằng tương đối sự chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội.

    Hơn thế nữa, thông qua khoản thu từ thuế thu nhập cá nhân cho ngân sách nhà nước, các chính phủ còn thể hiện được chức năng đảm bảo công bằng trong xã hội bằng việc thực hiện chi ngân sách cho các công trình công cộng, bảo đảm an sinh xã hội, trợ cấp cho người có thu nhập thấp. Hay nói cách khác, các chính phủ dùng nguồn thu từ thuế thu nhập của các cá nhân có thu nhập cao trong xã hội để thực hiện công bằng xã hội.

    Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp dịch vụ làm thuê báo cáo tốt nghiệp tại Hà Nội, Tp HCM và các tỉnh thành khác với dịch vụ chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài báo cáo thực tập, hãy nhớ đến Tổng đài tư vấn luận văn 1080, nơi giúp bạn giải quyết những khó khăn mà chúng tôi đã từng trải qua.

    Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân

    Sau khi tìm hiểu về “Khái niệm thuế thu nhập cá nhân” và “Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân”, tiếp theo ta cần tìm hiểu xem loại thuế này có vai trò gì đối với nền kinh tế?

    3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường:

    Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2003 được đưa vào thực hiện từ 01/01/2004 sửa đổi Luật thuế TNCN năm 1997 thay thế cho thuế lợi tức trước đây đã mở rộng đối tượng chịu thuế, bao gồm toàn bộ thu nhập nhận được trong nền kinh tế thị trường và thống nhất áp dụng đối với mọi thành phần kinh tế và mọi loại hình cá nhân, giữa đối tượng đầu tư nước ngoài và các cá nhân trong nước, tạo nên một môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh hơn trong điều kiện nền kinh tế mới, tạo cho nền kinh tế đất nước nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Vai trò của thuế TNCN được thể hiện cụ thể:

    – Thứ nhất, đảm bảo nguồn thu ổn định cho NSNN Thuế là nguồn thu chủ yếu cho NSNN nhằm đảm bảo trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, cho nên cũng giống như các loại thuế khác, vai trò đầu tiên của thuế TNCN là bảo đảm một nguồn thu ổn định và không nhỏ cho NSNN thông qua việc ngày càng mở rộng đối tượng chịu thuế, có khả năng bao quát được hầu hết các nguồn thu nhập phát sinh trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, xuất hiện nhiều loại hình thu nhập phức tạp và tinh vi hơn trước.

    – Thứ hai, thuế TNCN là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế, điều tiết các hoạt động kinh doanh. Thông qua hệ thống ưu đãi về thuế suất, miễn giảm thuế, thuế TNCN góp phần định hướng cho các Nhà Đầu tư đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn mà Nhà nước cần khuyến khích đầu tư, từ đó thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế nhằm đảm bảo cơ cấu kinh tế hợp lý, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

    – Thứ ba, thuế TNCN thể hiện vai trò đặc trưng của thuế là đảm bảo công bằng xã hội. Là sắc thuế trực thu, thuế TNCN có khả năng đảm bảo công bằng theo chiều dọc: đối tượng nộp thuế có thu nhập chịu thuế cao thì nộp thuế nhiều, đối tượng nộp thuế có thu nhập thấp thì nộp thuế ít. Đối tượng nộp thuế gặp khó khăn thì được giảm thuế, được chuyển lỗ sang những năm sau…thuế TNCN có nhiều mức thuế suất ưu đãi khác nhau.

    Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh, thu nhập của một cá nhân hay tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào việc cung cấp các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, công nghệ….). Sự phân hóa giàu nghèo là điều không thể tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các thành viên trong xã hội.

    – Thứ tư, thuế TNCN là công cụ thúc đẩy việc nâng cao trình độ hạch toán kế toán đối với các đối tượng nộp thuế. Theo Luật thuế TNCN, các đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ tự kê khai và tính số thuế phải nộp, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về các số liệu kê khai, tính toán đó. Sự trung thực, chính xác của số liệu phụ thuộc rất lớn vào chất lượng công tác hạch toán kế toán ở đơn vị. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế TNCN, cơ quan thuế phải chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra NNT qua đó có thể phát hiện những sai sót hoặc biểu hiện tiêu cực trong quá trình hạch toán kế toán của NNT và tùy vào từng trường hợp sai phạm mà cán bộ thuế sẽ áp dụng các biện pháp xử lý kịp thời… Nhờ đó ý thức của NNT sẽ dần được nâng cao và công tác hạch toán kế toán cũng từng bước hoàn thiện hơn.

    – Thứ năm, thuế TNCN là công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động của NNT. Nhìn vào số thuế TNCN mà đơn vị phải nộp, so sánh đối với số thuế TNCN của các cá nhân cùng ngành ở địa phương và trong cả nước có thể đánh giá khái quát về hiệu quả SXKD của đơn vị. Vì cá nhân làm ăn có hiệu quả, có lãi thì mới phát sinh số thuế phải nộp và hiệu quả hoạt động của cá nhân càng lớn thì số thuế TNCN phải nộp càng cao. Và nếu số thuế TNCN phải nộp tăng lên qua các năm thì chứng tỏ cá nhân có mức tăng trưởng khá và ngược lại là hoạt động SXKD của cá nhân đang giảm sút. Như vậy thuế TNCN là một công cụ đánh giá hiệu quả SXKD của đơn vị một cách khá chính xác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Khái Niệm Về Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì?
  • Tài Chính Doanh Nghiệp Là Gì Và Công Việc Của Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Đặc Điểm Của Doanh Nghiệp Tư Nhân
  • Tổng Hợp Các Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ Năm 2021
  • Tin tức online tv