【#1】Định Nghĩa Prudent Man Rule / Quy Luật Người Thận Trọng Là Gì?

Khái niệm thuật ngữ

Tiêu chuẩn đầu tư đối với việc ủy thác và các khoản đầu tư. Quy tắc này cũng được gọi là “quy tắc Mỹ”, có nguồn gốc từ án lệ 1830. Nó phát biểu: Những người nhận ủy thác được tự do thực hiện quyết định đầu tư, áp dụng cùng tiêu chuẩn – thu nhập hợp lý và bảo toàn vốn – mà người thận trọng sẽ dùng. Quy tắc này được chấp nhận tại vài tiểu bang như một nguyên tác cho người nhận ủy thác. Các tiểu bang khác có các quy tắc chính thức hơn, giới hạn quyền của người thụ ủy và các bộ phận ủy thác ngân hàng vào một danh sách hợp phápcác khoản đầu tư chấp nhận.

【#2】Nội Dung Chính 1. Mở Đầu 2. Định Luật Coulomb 3. Điện Trường 4. Điện Thông, Định Lý Ostrogradski

3 Ở ĐẦU 1. Điện là một thuộc tính nội tại của vật chất (giống như khối lượng của vật). Có hai loại điện tích là điện tích dương (+) và âm (-). v Quy ước Điện tích của thuỷ tinh khi cọ xát vào lụa là điện tích dương (+) Điện tích của thanh nhựa sẫm màu khi cọ xát vào vải khô là điện tích âm (-) 3. Điện tích có giá tị nhỏ nhất bằng C gọi là điện tích nguyên tố (1e = C) 4. Điện tích của một vật tích điện luôn có giá tị gián đoạn và bằng bội số của điện tích nguyên tố Q = ne, n là một số nguyên. 5. Đơn vị của điện tích là coulomb (C)

4 ĐỊNH LUẬT COULOB 1. Phát biểu định luật v Lực tương tác giữa hai điện tích điểm 1 và có độ lớn tỉ lệ thuận với tích độ lớn của chúng và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. Biểu thức v Tong chân không: 1 v Tong môi tường vật chất: F k k F 1 k Nm Nm /C /C ε = 8, (F/m) là hằng số điện thẩm của chân không ε là hằng số điện môi tỷ đối của môi tường

5 ĐỊNH LUẬT COULOB 1. Phương chiều của lực tác dụng v Phương: nằm tên đường thẳng nối hai điện tích (lực xuyên tâm) v Chiều: các điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau F 1 F 1 F F 1 1 F1 F1 k 3 F 1 F 1 1

6 ĐỊNH LUẬT COULOB 1. Ví dụ: Khoảng cách giữa electon và poton tong Nguyên tử hydo là m. Xác định độ lớn của lực tương tác tĩnhđiện giữa chúng.. Bài giải F F 1 5, , , 1 m Nm C 8 N F k 19 C ,6 1 C 1,6 1 C 11 5,3 1 m

7 ĐIỆN TRƯỜNG 1. Khái niệm điện tường v Điện tường là một dạng vật chất đặc biện tồn tại xung uanhđiện tích và là nhân tố tung gian để tuyền tương tác giữa cácđiện tích.. Véc tơ cường độ điện tường v Để đặc tưng cho điện tường về mặt lực tác dụng người ta sử dụng đại lượng Cường độ điện tường. v Nếu đặt điện tích tong điện tường của điện tích thì sẽ chịu tác dụng của một lực k v Định nghĩa và biểu thức E F 3 v Đơn vị của cường độ điện tường (N/C) hay (V/m) F

8 ĐIỆN TRƯƠNG 1. Điện tường do một điện tích điểm gây a F F F k E 3

9 ĐIỆN THÔNG, ĐỊNH LÝ OTROGRADKY-GAU 1. Đường sức điện tường v Phương thức mô tả điện tường bằng hình ảnh v Đường sức điện tường là những đường cong vẽ tong điện tường sao cho tiếp tuyến của nó tùng với phương của véc tơ cường độ điện tường tại điểm đó.. Tính chất (cách vẽ đường sức điện tường) v Đường sức điện tường là những đường cong hở v Chiều của đướng sức điện tường là chiều của điện tường (xuất phát từ bề mặt điện tích dương đi a vô cùng hoặc kết thúc tên bề mặt điện tích âm) v ật độ đường sức điện tường tại một điểm bằng tị số của cường độ điện tường tại điểm đó. v Tập hợp tất cả các đường sức điện tường gọi là điện phổ

10 ĐIỆN THÔNG, ĐỊNH LÝ OTROGRADKY-GAU 1. Điện phổ

11 ĐIỆN THÔNG, ĐỊNH LÝ OTROGRADKY-GAU 1. Điện thông (thông lượng điện tường) v ặt phẳng có diện tích đặt tong điện tường đều có cường độ điện tường E. v Thông lượng điện tường: e E v n là véc tơ diện tích, hướng theo phương pháp tuyến của và có độ lớn bằng chính diện tích của mặt v Véc tơ pháp tuyến luôn hướng a phía ngoài của mặt

12 ĐIỆN THÔNG, ĐỊNH LÝ OTROGRADKY-GAU 1. Điện thông (thông lượng điện tường) v Diện tích có hình dạng bất kỳ e d e v Ý nghĩa: Thông lượng điện tường là đại lượng có tị số cân bằng với số đường sức điện tường xuyên ua diện tích đó E d

16 ĐIỆN THẾ 1. Tính chất thế của tường tĩnh điện v Giả sử điện tích di chuyển từ đến N tong điện tường của điện tích v Công của lực điện tường bằng v v v A N da k k A N N F N da ds d N F F ds cos da vì N ds ds cos ds cos d k d k k N

19 ĐIỆN THẾ 1. ặt đẳng thế v ặt đẳng thế là uỹ tích của những điểm có cùng thế năng v Ví dụ Hạt điện tích dương Lưỡng cực điện Hệ hai điện tích dương

20 ĐIỆN THẾ 1. Tính chất của mặt đẳng thế v TC1: Công của lực tĩnh điện tong sự di chuyển một điện tích bất kỳ tên mặt đẳng thế bằng không V A N V N v TC: Véc tơ cường độ điện tường tại mọi điểm tên mặt đẳng thế luôn vuông góc với mặt đẳng thế tại điểm đó A N E ds N F V ds A V N E ds N F ds E ds

【#3】Bài 23. Động Lượng. Định Luật Bảo Toàn Động Lượng

CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN

Khi một hệ vật chuyển động thì nói chung vị trí, vận tốc, gia tốc…của các vật trong hệ thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp có thể tìm được những đại lượng đặc trưng cho trạng thái của hệ không thay đổi theo thời gian. Đó là những đại lượng bảo toàn. Nếu đại lượng bảo toàn là một vô hướng thì giá trị của nó không đổi; nếu đại lượng bảo toàn là một vectơ thì phương, chiều và độ lớn của nó không đổi.

Các định luật bảo toàn cơ bản của cơ học:

Bảo toàn động lượng;

Bảo toàn cơ năng.

Các định luật này cho phép ta hiểu được sâu sắc nhiều thông tin về chuyển động của một hệ và vận dụng có hiệu quả trong việc giải nhiều bài toán cơ học.

23

ĐỘNG LƯỢNG. ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG

1. Kiến thức

– Định nghĩa được động lượng, nêu được hệ quả: lực với cường độ đủ mạnh tác dụng lên một vật trong một khoảng thời gian ngắn có thể làm cho động lượng của vật biến thiên.

– Từ định luật II Niu-tơn suy ra được định lí biến thiên động lượng.

– Phát biểu được định nghĩa hệ cô lập.

– Phát biểu được định luật bảo toàn động lượng.

2. Kỹ năng

– Vận dụng được định luật bảo toàn động lượng để giải bài toán va chạm mềm.

– Giải thích được nguyên tắc chuyển động bằng phản lực.

3. Thái độ

– Có ý thức vận dụng kiến thức Vật lí để giải thích các hiện tượng trong thực tế.

– Thích chơi các môn thể thao nhằm phát huy “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện – A sound mind in a sound body”

Chúng ta đều biết trong tương tác giữa hai vật có sự biến đổi vận tốc của các vật. Vậy hệ thức nào liên hệ giữa vận tốc giữa các vật trước và sau tương tác với khối lượng của chúng không? Và đại lượng gì sẽ đặc trưng cho sự truyền chuyển động giữa các vật trong tương tác, đại lượng này tuân theo quy luật nào?

I – ĐỘNG LƯỢNG

1. Xung lượng của lực

a) Ta hãy xét những ví dụ sau:

– Cầu thủ đá vô lê đã đưa bóng vào lưới đối phương (Video 23.1).

– Hòn bi đang chuyển động nhanh, chạm vào thành bàn, đổi hướng (Video 23.2).

– Hai hòn bi va chạm vào nhau, đổi hướng (Video 23.3).

Trong những thí dụ trên, các vật (quả bóng, hòn bi…) đã chịu tác dụng của ngoại lực trong một khoảng thời gian ngắn. Do thời gian tác dụng rất ngắn nên ta phải tạo ra những lực có độ lớn đáng kể làm đổi hướng chuyển động của vật. Nói cách khác: Lực có độ lớn đáng kể tác dụng lên một vật trong khoảng thời gian ngắn có thể gây ra biến đổi đáng kể trạng thái chuyển động của vật.

được định nghĩa là Δt b) Khi một lực tác dụng lên một vật trong khoảng thời gian Δt thì tích xung của lực trong khoảng thời gian .

Ở định nghĩa này, ta giả thiết lực không đổi trong khoảng thời gian tác dụng Δt.

Đơn vị xung của lực: Niu-tơn giây (N.s).

Video 23.1. Nếu Real Madrid cần một cú vô lê quyết định để mang lại danh hiệu Champions League thứ 9 trong lịch sử CLB hoàng gia Tây Ban Nha, người làm được điều đó chỉ có thể là Zidane. Với cú sút đẳng cấp nâng tỉ số lên 2 – 1, Zidane và các đồng đội đã chính thức có được danh hiệu cao quý thứ 9 tại đấu trường Châu Âu

Video 23.2

Video 23.3

2. Động lượng

a) Tác dụng của xung của lực có thể giải thích dựa vào định luật II Niu-tơn. Giả sử lực (không đổi) tác dụng lên một vật có khối lượng m đang chuyển động với vận tốc . Trong khoảng thời gian tác dụng Δt nhỏ, vận tốc của vật biến đổi thành nghĩa là vật đã có gia tốc.

Theo định luật II Niu-tơn:

Þ

(23.1)

Vế phải của hệ thức này chính là xung của lực trong khoảng thời gian Δ t; ở vế trái xuất hiện độ biến thiên của đại lượng

b) Đại lượng được gọi là động lượng của một vật.

Động lượng của một vật có khối lượng m đang chuyển động với vận tốc là đại lượng xác định bởi công thức:

(23.2)

Động lượng là một vectơ cùng hướng với vận tốc của vật (Hình 23.1). Đơn vị động lượng là kilôgam mét trên giây (kí hiệu là kgm/s).

Hình 23.1

c) Dạng khác của định luật II Niu-tơn

Hệ thức (20.l) có thể viết dưới dạng:

(23.3)

Độ biến thiên động lượng của một vật trong một khoảng thời gian nào đó bằng xung của lực tác dụng lên vật trong khoảng thời gian đó.

Phát biểu trên được gọi là định lí biến thiên động lượng. Có thể coi đó là một cách phát biểu khác của định luật II Niu-tơn.

Ý nghĩa: Lực tác dụng đủ mạnh trong một khoảng thời gian thì có thể gây ra biến thiên động lượng của vật.

1. Chứng minh công thức (23.3).

II – ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN ĐỘNG LƯỢNG

1. Hệ cô lập (hệ kín)

Một hệ nhiều vật được gọi là cô lập khi không có ngoại lực tác dụng lên hệ hoặc nếu có thì các ngoại lực ấy cân bằng nhau. Trong hệ cô lập chỉ có các nội lực trực đối nhau theo định luật III Niu-tơn.

2. Định luật bảo toàn động lượng của hệ cô lập

Xét một hệ cô lập gồm hai vật nhỏ có khối lượng m 1 và m 2 tương tác nhau.

Theo định luật III Niu-tơn:

hay

Áp dụng (23.3), ta được:

. Nghĩa là biến thiên động lượng của hệ bằng 0 hay là động lượng của hệ không đổi.

Từ kết quả nhiều thí nghiệm, nhiều hiện tượng khác nhau, ta rút ra định luật bảo toàn động lượng.

Động lượng của một hệ cô lập là một đại lượng bảo toàn.

++ … + = vectơ không đổi (23.6)

Định luật bảo toàn động lượng có nhiều ứng dụng thực tế như để giải các bài toán về va chạm, giải thích hiện tượng súng giật khi bắn

(Video 23.6), … Định luật này cũng là cơ sở của nguyên tắc chuyển động bằng phản lực của các máy bay, tên lửa ( Video 23.7) ,…

Video 23.4. Minh hoạ

Video 23.5. Minh hoạ

Video 23.6. Súng giật khi bắn

Video 23.7. Phóng vệ tinh Vinasat-1

3. Va chạm mềm

Xét một vật khối lượng m 1, chuyển động trên một mặt phẳng ngang với vân tốc là một hệ cô lập.đến va chạm vào một vật có khối lượng m 2 đang đứng yên (Video 23.8). Sau va chạm hai vật nhấp làm một và cùng chuyển động với vận tốc. Va chạm của hai vật như vậy gọi là va chạm mềm. Vì không có ma sát nên các ngoại lực tác dụng gồm có các trọng lực & các phản lực pháp tuyến chúng cân bằng nhau: Hệ

Theo định luật bảo toàn động lượng ta có :

m 1= (m 1 + m 2)

Þ

Các vectơ vận tốc cùng hướng:

4. Chuyển động bằng phản lực

Một quả tên lửa có khối lượng M chứa một khối khí khối lượng m. Khi phóng tên lửa khối khí m phụt ra phía sau với vận tốc thì tên khối lượng M chuyển động với vận tốc (Video 23.9).

Lúc đầu động lượng của tên lửa bằng không:

Khí phụt ra, động lượng của hệ:

Coi tên lửa là hệ cô lập, theo định luật bảo toàn động lượng ta có:

m + M =

Þ = –

Ta thấy ngược hướng với nghĩa là tên lửa bay về phía trước, ngược với hướng khí phụt ra.

Video 23.8. Va chạm mềm trên đệm không khí

Video 23.9

Video 23.10. Mô hình tên lửa nhiều tầng

Câu 1. Nêu định nghĩa, viết biểu thức động lượng của một vật và nêu tên đơn vị các ĐLVL có trong đó?

Câu 2. Khi nào động lượng của một vật biến thiên?

Câu 3. Phát biểu định luật bảo toàn động lượng? Biểu thức?

Câu 4. Em hãy kể các chuyển động bằng phản lực mà em biết?

23.1. Ghép nội dung ở cột bên trái với nội dung tương ứng ở cột bên phải để được một câu có nội dung đúng.

23.2. Một vật có khối lượng 2 kg rơi tự do xuống đất trong khoảng thời gian 0,5s. Độ biến thiên động lượng của vật trong khoảng thời gian đó là bao nhiêu?

A. 5,0 kg.m/s. C. 10 kg.m/s.

B. 4,9 kg.m/s. D. 0,5 kg.m/s.

Cho g = 9,8 m/s 2.

23.3. Trong quá trình nào sau đây, động lượng của ô tô được bảo toàn?

A. Ô tô tăng tốc.

B. Ô tô giảam tốc.

C. Ô tô chuyển động tròn đều.

D. Ô tô chuyển động thẳng đều trên đường có ma sát.

23.4. Tính lực đẩy trung bình của hơi thuốc súng lên đầu đạn ở trong nòng một súng trường bộ binh, biết rằng đầu đạn có khối lượng 10 g, chuyển động trong nòng súng nằm ngang trong khoảng 10-3 s, vận tốc đầu bằng 0, vận tốc khi đến đầu nòng súng v = 865 m/s.

23.5. Một toa xe khối lượng 10 tấn đang chuyển động trên đường ray nằm ngang với vận tốc không đổi v = 54 km/h. Người ta tác dụng lên toa xe một lực hãm theo phương ngang. Tính độ lớn trung bình của lực hãm nếu toa xe dừng lại sau :

a) 1 giờ 40 phút.

b) 10 giây.

23.6. Một vật nhỏ khối lượng m 0 đặt trên một toa xe khối lượng m. Toa xe này có thể chuyển động trên một đường ray nằm ngang không ma sát. Ban đầu hệ đứng yên. Sau đó cho m­ 0 chuyển động ngang trên toa xe với vận tốc. Xác định vận tốc chuyển động của toa xe trong hai trường hợp:

a) là vận tốc của m 0 đối với mặt đất.

b) là vận tốc của m 0 đối với toa xe.

23.7*. Có một bệ khối lượng 10 tấn có thể chuyển động trên đường ray nằm ngang không ma sát. Trên bệ có gắn một khẩu pháo khối lượng 5 tấn. Giả sử khẩu pháo chứa một viên đạn khối lượng 100 kg và nhả đạn theo phương ngang với vận tốc đầu nòng 500 m/s (vận tốc đối với khẩu pháo). Xác định vận tốc của bệ pháo ngay sau khi bắn, trong các trường hợp sau:

1. lúc đầu hệ đứng yên.

2. Trước khi bắn, bệ pháo chuyển động với vận tốc 18 km/s:

a) Theo chiều bắn.

b) Ngược chiều bắn.

23.8. Một xe chở cát khối lượng 38 kg đang chạy trên đường nằm ngang không ma sát với vận tốc 1 m/s. Một vật nhỏ khối lượng 2 kg bay ngang với vận tốc 7 m/s (đối với mặt đất) đến chui vào cát và nằm yên trong cát. Xác định vận tốc mới của xe. Xét hai trường hợp :

a) Vật bay đến ngược chiều xe chạy.

b) Vật bay đến cùng chiều xe chạy.

(VTC News) – Cơ quan quản lý hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) đã phóng thử thành công tên lửa đẩy Ares I-X vào ngày hôm qua 28/10 theo giờ địa phương từ căn cứ vũ trụ Kennedy, bang Florida.

Mục đích của lần phóng này là thử nghiệm công nghệ phát triển thiết bị phóng có người lái trong tương lai để có thể thay thế đội tàu con thoi sắp “về hưu” và phục vụ tham vọng đưa người lên mặt trăng của Mỹ.

NASA đã mất gần 4 năm với kinh phí 350 triệu USD cho tên lửa này. Hôm 27/10 vừa qua Mỹ đã hủy bỏ vụ phóng tên lửa Ares I-X vì thời tiết xấu.

Tên lửa Ares I-X được phóng lên và bay khoảng 2 phút trước khi rơi xuống Đại Tây Dương, nhưng các kỹ sư của NASA hy vọng sẽ biết được những thông tin đáng giá về hoạt động của tên lửa Ares I-X nhờ 700 thiết bị cảm ứng được gắn trên tên lửa này.

Lê Dũng (Theo Press, BBC)

Con mực bơi như thế nào?

Hẳn bạn sẽ vô cùng ngạc nhiên khi nghe nói: Với nhiều sinh vật thì phương pháp hoang đường “tự túm tóc để nâng mình lên trên” lại chính là cách di chuyển thông thường của chúng ở trong nước. Mực cũng thế.

Con mực và nói chung đa số các động vật nhuyễn thể lớp đầu túc đều di chuyển trong nước theo cách: lấy nước vào lỗ máng qua khe hở bên và cái phễu đặc biệt ở đằng trước thân, sau đó chúng dùng sức tống tia nước qua cái phễu đó. Như thế, theo định luật phản tác dụng, chúng nhận được một sức đẩy ngược lại đủ để thân chúng bơi khá nhanh về phía trước. Ngoài ra con mực còn có thể xoay ống phễu về một bên hoặc về đằng sau và khi ép mình để đẩy nước ra khỏi phễu thì nó có thể chuyển động theo bất kỳ hướng nào cũng được.

Chuyển động của con sứa cũng tương tự như thế: nó co các cơ lại để đẩy nước từ dưới cái thân hình chuông của nó ra và như thế nó bị đẩy về phía ngược lại. Chuyển động của bọ nước, của các ấu trùng chuồn chuồn và nhiều loài động vật dưới nước khác cũng theo phương pháp này.

(Theo: Vật lí vui)

【#4】Độ Sáng Phổ Của Bức Xạ. Bức Xạ Nhiệt Định Luật Stefan Boltzmann Liên Quan Đến Độ Chói Năng Lượng R E Và Mật Độ Quang Phổ Của Độ Chói Năng Lượng Của Vật Thể Đen

Như bạn có thể thấy, mật độ xác suất phát hiện một electron ở ranh giới của một khoảng nhất định là như nhau. Do đó ,.

Ví dụ 8 Xác định lượng nhiệt cần thiết để đốt nóng tinh thể NaCl có khối lượng m u003d 20 g ở nhiệt độ T 1 u003d 2K. Nhiệt độ Debye đặc trưng cho NaCl được giả định là 320K.

Lượng nhiệt cần thiết để làm nóng một khối lượng m từ nhiệt độ T 1 đến nhiệt độ T 2 có thể được tính theo công thức:

trong đó C là nhiệt dung mol của chất, M là khối lượng mol.

Theo lý thuyết Debye, ở nhiệt độ, nhiệt dung mol của chất rắn kết tinh được xác định theo biểu thức:

Thay thế biểu thức (2) thành (1) và tích hợp, chúng tôi có được:

Thay thế các giá trị số và thực hiện các phép tính, chúng tôi tìm thấy Q u003d 1,22 mJ.

Ví dụ 9 Tính toán sai số khối lượng, năng lượng liên kết và năng lượng liên kết riêng của hạt nhân.

Khiếm khuyết khối lượng của hạt nhân được xác định theo công thức:

Đối với lõi: Z u003d 5; A u003d 11.

Chúng ta có thể tính toán khuyết tật khối lượng trong các đơn vị phi hệ thống – đơn vị khối lượng nguyên tử (amu). Chúng tôi lấy dữ liệu cần thiết từ bảng (Phụ lục 3):

1.00783 amu, u003d 1,00867 amu, u003d 11,00931 amu

Theo kết quả tính toán theo công thức (1), chúng tôi thu được: u003d 0,08186 amu

Chúng tôi cũng tìm thấy năng lượng liên kết hạt nhân trong các đơn vị ngoài hệ thống (MeV), sử dụng công thức:

Hệ số tỷ lệ u003d 931,4 MeV / am.e., tức là

Sau khi thay thế các giá trị số, chúng tôi có được:

Năng lượng liên kết cụ thể, theo định nghĩa, là:

Xác định số sê-ri và số khối của hạt nhân thứ hai, đưa ra một bản ghi tượng trưng cho phản ứng hạt nhân và xác định hiệu ứng năng lượng của nó.

XÁC NHIỆT Định luật Stefan Boltzmann Mối quan hệ của độ chói năng lượng R e và mật độ quang phổ của độ chói năng lượng của vật thể đen Độ chói năng lượng của vật thể màu xám Định luật dịch chuyển rượu (định luật 1) Sự phụ thuộc nhiệt độ của mật độ quang phổ tối đa của vật thể đen

XÁC NHIỆT NHIỆT 1. Mật độ phổ tối đa của độ chói của năng lượng mặt trời rơi vào bước sóng u003d 0,48 micron. Xem xét rằng Mặt trời tỏa ra như một vật thể màu đen, xác định: 1) nhiệt độ bề mặt của nó; 2) năng lượng bức xạ bởi bề mặt của nó. Theo Định luật dịch chuyển của Vienna, Sức mạnh tỏa ra bởi bề mặt của Mặt trời Theo Định luật Stefan Boltzmann,

XỬ LÝ NHIỆT 2. Xác định lượng nhiệt mất 50 cm 2 từ bề mặt của bạch kim nóng chảy trong 1 phút nếu khả năng hấp thụ của bạch kim là A T u003d 0,8. Điểm nóng chảy của bạch kim bằng 1770 ° C. Lượng nhiệt bị mất bởi bạch kim bằng với năng lượng phát ra từ bề mặt nóng của nó Theo định luật Stefan Boltzmann,

XỬ LÝ NHIỆT 3. Một lò điện tiêu thụ năng lượng P u003d 500 W. Nhiệt độ của bề mặt bên trong của nó với một lỗ nhỏ mở có đường kính d u003d 5,0 cm là 700 ° C. Phần nào của năng lượng tiêu thụ bị tiêu tan bởi các bức tường? Tổng công suất được xác định bằng tổng công suất giải phóng qua lỗ. Sức mạnh tiêu tan bởi các bức tường. Theo định luật Stefan Boltzmann,

XÁC NHIỆT 4 Dây tóc vonfram được nung nóng trong chân không bằng một lực I u003d 1 A đến nhiệt độ T 1 u003d 1000 K. Ở mức độ nào thì dây tóc phát sáng đến nhiệt độ T 2 u003d 3000 K? Các hệ số hấp thụ của vonfram và điện trở suất của nó tương ứng với nhiệt độ T 1, T 2 là: a 1 u003d 0.115 và 2 u003d 0.334; 1 u003d 25, Ohm m, 2 u003d 96, Ohm m Công suất bức xạ bằng công suất tiêu thụ từ mạch điện ở trạng thái ổn định. Năng lượng điện được giải phóng trong dây dẫn. Theo định luật Stefan Boltzmann,

XÁC NHIỆT NHIỆT 5. Trong quang phổ của Mặt trời, mật độ phổ tối đa của độ chói năng lượng rơi ở bước sóng 0 u003d 0,47 m. Đã chấp nhận rằng Mặt trời tỏa ra như một vật thể hoàn toàn màu đen, tìm cường độ bức xạ mặt trời (tức là mật độ thông lượng bức xạ) gần Trái đất bên ngoài bầu khí quyển của nó. Cường độ ánh sáng (cường độ bức xạ) Thông lượng phát sáng Theo định luật của Stefan Boltzmann và Wien

XÁC NHIỆT NHIỆT ĐỘ 6. Bước sóng 0, chiếm năng lượng tối đa trong phổ phát xạ của vật đen, là 0,58 m. Xác định mật độ phổ tối đa của độ chói năng lượng (r, T) max được tính cho khoảng bước sóng u003d 1nm, gần 0. Mật độ phổ tối đa của độ chói năng lượng tỷ lệ thuận với công suất thứ năm của nhiệt độ và được biểu thị theo định luật Vienna thứ 2. Nhiệt độ T sẽ biểu thị giá trị C được tính theo đơn vị SI trong đó khoảng bước sóng đơn vị u003d 1 m. Do điều kiện của bài toán, cần phải tính mật độ phổ của độ chói năng lượng tính cho khoảng bước sóng 1nm, do đó, chúng tôi viết ue C trong các đơn vị SI và tính toán lại nó vào một định trước bước sóng khoảng:

XÁC NHIỆT NHIỆT 7. Một nghiên cứu về phổ bức xạ mặt trời cho thấy mật độ phổ tối đa của độ chói năng lượng tương ứng với bước sóng u003d 500nm. Lấy Mặt trời làm vật thể đen, xác định: 1) độ chói năng lượng R e của Mặt trời; 2) thông lượng năng lượng f e tỏa ra bởi mặt trời; 3) khối lượng của sóng điện từ (ở mọi độ dài) do Mặt trời phát ra trong 1 giây. 1. Theo định luật của Stefan Boltzmann và Wien 2. Thông lượng phát sáng 3. Khối lượng của sóng điện từ (ở mọi độ dài) do Mặt trời phát ra trong một thời gian t u003d 1 s, chúng tôi xác định bằng cách áp dụng định luật tỷ lệ khối lượng và năng lượng E u003d ms 2. Năng lượng của sóng điện từ phát ra cho thời gian t bằng tích của thông lượng năng lượng Ф e ((công suất bức xạ) theo thời gian: E u003d Ф e t. Do đó, Ф е u003d ms 2, whence m u003d Ф е / с 2.

Năng lượng mà cơ thể mất đi do bức xạ nhiệt được đặc trưng bởi các đại lượng sau.

Thông lượng bức xạ (f) – năng lượng phát ra trên mỗi đơn vị thời gian từ toàn bộ bề mặt của cơ thể.

Trên thực tế, đây là sức mạnh của bức xạ nhiệt. Kích thước của thông lượng bức xạ là .

Thông lượng bức xạ và độ chói năng lượng phụ thuộc vào cấu trúc của chất và nhiệt độ của nó: u003d Ф (Т),

Sự phân bố độ chói của năng lượng trên phổ của bức xạ nhiệt đặc trưng cho nó mật độ phổ.Hãy để chúng tôi biểu thị năng lượng của bức xạ nhiệt phát ra từ một bề mặt đơn vị trong 1 giây trong một phạm vi bước sóng hẹp từ λ trước đây λ + d λ, thông qua dRe.

Mật độ phổ của độ chói năng lượng (r) hoặc độ phát xạ tỷ lệ độ chói năng lượng trong một phần hẹp của phổ (dRe) so với chiều rộng của phần này (dλ) được gọi là:

Một dạng xấp xỉ của mật độ quang phổ và độ chói năng lượng (dRe) trong phạm vi sóng từ λ trước đây λ + d λ, được hiển thị trong hình. 13.1.

Hình. 13.1. Mật độ phổ của độ sáng năng lượng

Sự phụ thuộc của mật độ phổ của độ chói năng lượng vào bước sóng được gọi là phổ bức xạ cơ thể. Biết được sự phụ thuộc này cho phép bạn tính toán độ chói năng lượng của cơ thể theo bất kỳ phạm vi bước sóng nào. Công thức tính độ chói năng lượng của cơ thể trong phạm vi bước sóng có dạng:

Tổng độ sáng bằng:

Các cơ quan không chỉ phát ra, mà còn hấp thụ bức xạ nhiệt. Khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ của cơ thể phụ thuộc vào chất, nhiệt độ và bước sóng bức xạ của nó. Khả năng hấp thụ của cơ thể đặc trưng hệ số hấp thụ đơn sắc α.

Để một dòng chảy trên bề mặt của cơ thể đơn sắc bức xạ Φ λ với bước sóng λ. Một phần của dòng chảy này được phản ánh, và một phần được cơ thể hấp thụ. Chúng tôi biểu thị thông lượng hấp thụ Φ λ acc.

Hệ số hấp thụ đơn sắc α tỷ lệ của thông lượng bức xạ được hấp thụ bởi một cơ thể nhất định với cường độ của thông lượng đơn sắc tới được gọi là:

Hệ số hấp thụ đơn sắc là một đại lượng không thứ nguyên. Giá trị của nó nằm giữa 0 và 1: 0 α 1.

Cơ thể màu đen là một cơ thể có hệ số hấp thụ bằng với sự thống nhất cho tất cả các bước sóng: α u003d 1.

Cơ thể màu xám là một cơ thể mà hệ số hấp thụ không phụ thuộc vào bước sóng: α u003d const< 1.

Toàn thân trắng là một vật có hệ số hấp thụ bằng 0 đối với tất cả các bước sóng: α u003d 0.

Luật của Kirchhoff

Luật của Kirchhoff – tỷ lệ phát xạ của cơ thể so với khả năng hấp thụ của nó là như nhau đối với tất cả các cơ thể và bằng mật độ quang phổ của độ chói năng lượng của một vật thể hoàn toàn màu đen:

Hậu quả của luật pháp:

1. Nếu cơ thể ở một nhiệt độ nhất định không hấp thụ bất kỳ bức xạ nào, thì nó không phát ra nó. Thật vậy, nếu với một bước sóng nhất định, hệ số hấp thụ α u003d 0, thì r u003d α (T) u003d 0

1. Ở cùng nhiệt độ cơ thể màu đentỏa ra nhiều hơn bất kỳ khác. Thật vậy, đối với tất cả các cơ thể ngoại trừ màu đen α < 1, поэтому для них r = α∙ε(λT) < ε

2. Nếu đối với một cơ thể nhất định, chúng tôi xác định bằng thực nghiệm sự phụ thuộc của hệ số hấp thụ đơn sắc vào bước sóng và nhiệt độ – α u003d r u003d α (T), thì chúng tôi có thể tính toán phổ của bức xạ.

§ 4 Độ chói năng lượng. Luật Stefan-Boltzmann. Định luật dịch chuyển của Vienna

R E (độ chói năng lượng tích phân) – độ chói năng lượng xác định lượng năng lượng phát ra từ một bề mặt đơn vị trên một đơn vị thời gian trong toàn bộ dải tần từ 0 đến ở nhiệt độ T nhất định.

Truyền thông độ chói năng lượng và độ chói

[R e ] u003d J / (m 2 · s) u003d W / m 2

Luật của J. Stefan (nhà khoa học người Áo) và L. Boltzmann (nhà khoa học người Đức)

ở đâu

σ u003d 5,67 · 10 -8 W / (m 2 · K 4) là hằng số Stef-on-Boltzmann.

Độ chói năng lượng của một vật thể đen hoàn toàn tỷ lệ thuận với mức độ thứ tư của nhiệt độ nhiệt động lực học.

Định luật dịch chuyển của Vienna (1864 – 1928): Bước sóng (λ max), chiếm tỷ lệ phát xạ bức xạ cực đại của chúng tôi ở một nhiệt độ nhất định, tỷ lệ nghịch với nhiệt độ T.

bu003d 2.9 · 10 -3 m · K – Hằng số rượu vang.

Sự dịch chuyển của Vienna xảy ra bởi vì, với nhiệt độ tăng dần, độ phát xạ cực đại sẽ dịch chuyển về phía bước sóng ngắn.

Dựa trên khái niệm về bản chất liên tục của sự phát xạ sóng điện từ theo định luật phân bố năng lượng đồng đều theo các mức độ tự do, hai công thức đã thu được cho sự phát xạ bức xạ của abt:

k u003d 1,38 · 10 -23 J / K là hằng số Boltzmann.

Một xác minh thử nghiệm cho thấy với một nhiệt độ nhất định, công thức Wien có giá trị đối với các sóng ngắn và mang lại sự khác biệt rõ rệt với kinh nghiệm trong lĩnh vực sóng dài. Công thức Rayleigh-Jeans đã được chứng minh là đúng với sóng dài và không áp dụng cho sóng ngắn.

Nghiên cứu về bức xạ nhiệt sử dụng công thức Rayleigh – Jeans cho thấy trong khuôn khổ vật lý cổ điển, không thể giải quyết vấn đề về chức năng đặc trưng cho sự phát xạ của a.h.t. Nỗ lực không thành công này để giải thích các định luật bức xạ của a.h.t. Sử dụng bộ máy vật lý cổ điển, nó được gọi là thảm họa tia cực tím.

Nếu bạn cố gắng tính toán R E sử dụng công thức Rayleigh-Jeans sau đó

§6 Giả thuyết lượng tử và công thức của Planck.

Năm 1900, M. Planck (một nhà khoa học người Đức) đã đưa ra một giả thuyết theo đó sự phát xạ và hấp thụ năng lượng không xảy ra liên tục, nhưng trong một số phần nhỏ – lượng tử và năng lượng lượng tử tỷ lệ thuận với tần số dao động (công thức Planck):

h u003d 6.625 · 10 -34 J · s – Hằng số Planck hoặc

ở đâu

Do bức xạ xảy ra theo từng phần, nên năng lượng của bộ dao động (nguyên tử dao động, electron) E chỉ lấy các giá trị là bội số của một số nguyên của các phần năng lượng cơ bản, nghĩa là chỉ các giá trị rời rạc

Lần đầu tiên, ảnh hưởng của ánh sáng đến quá trình điện được nghiên cứu bởi Hertz vào năm 1887. Ông đã tiến hành các thí nghiệm với một khoảng cách tia lửa điện và phát hiện ra rằng khi được chiếu xạ bằng tia cực tím, sự phóng điện xảy ra ở điện áp thấp hơn đáng kể.

Năm 1889-1895 A.G. Stoletov đã nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng lên kim loại, sử dụng sơ đồ sau. Hai điện cực: cực âm K từ kim loại đang nghiên cứu và cực dương A (trong mạch Stoletov – lưới kim loại truyền ánh sáng) trong ống chân không được nối với pin để có sự trợ giúp của điện trở R Bạn có thể thay đổi giá trị và dấu hiệu của điện áp được áp dụng cho chúng. Khi cực âm kẽm được chiếu xạ, một dòng điện chạy trong mạch, được ghi lại bằng một milliammeter. Bằng cách chiếu xạ cực âm bằng ánh sáng có bước sóng khác nhau, Stoletov đã thiết lập các định luật cơ bản sau:

  • Hiệu ứng mạnh nhất là bức xạ cực tím;
  • Dưới ảnh hưởng của ánh sáng, các điện tích âm thoát ra khỏi cực âm;
  • Độ mạnh của dòng điện phát sinh dưới tác động của ánh sáng tỷ lệ thuận với cường độ của nó.

Lenard và Thomson năm 1898 đã đo mức phí cụ thể ( e/ m), các hạt bị đẩy ra, và hóa ra nó bằng điện tích riêng của electron, do đó, các electron bị kéo ra khỏi catốt.

§ 2 Hiệu ứng quang điện ngoài. Ba định luật về hiệu ứng quang điện bên ngoài

Một hiệu ứng quang điện bên ngoài là sự phát xạ của các electron bởi một chất dưới tác động của ánh sáng. Các electron được phát ra từ một chất trong hiệu ứng quang điện bên ngoài được gọi là quang điện tử và dòng điện do chúng tạo ra được gọi là quang điện.

Sử dụng mạch Stoletov, sự phụ thuộc sau đây của dòng ảnh vào

F (nghĩa là, đặc tính I – V – đặc tính volt-ampere) đã thu được):

Ở một số điện áp được xác định bởi số lượng electron phát ra từ cực âm trên một đơn vị thời gian dưới ảnh hưởng của ánh sáng. Số lượng các quang điện tử được giải phóng tỷ lệ thuận với số lượng sự cố lượng tử ánh sáng trên bề mặt cực âm. Và số lượng lượng tử ánh sáng được xác định bởi thông lượng ánh sáng Bạn N quang điện đạt đến bão hòa Tôi n – tất cả các electron được phát ra từ cực âm đều đạt cực dương, do đó, cường độ dòng bão hòa Tôi n NFrơi trên cực âm. Số lượng photon rơi theo thời gian t bề mặt được xác định theo công thức:

ở đâu W là năng lượng bức xạ mà bề mặt nhận được trong thời gian t,

Năng lượng photon

F e – quang thông (năng lượng bức xạ).

Định luật 1 của hiệu ứng quang điện ngoài (Luật của Stoletov):

Ở tần số ánh sáng tới cố định, dòng quang bão hòa tỷ lệ thuận với thông lượng ánh sáng tới:

Bạn sgiữ điện áp – điện áp tại đó không có electron nào có thể chạm tới cực dương. Do đó, định luật bảo toàn năng lượng trong trường hợp này có thể được viết ra: năng lượng của các electron được phát ra bằng với năng lượng hạn chế của điện trường

do đó, người ta có thể tìm thấy tốc độ tối đa của các quang điện tử phát ra V tối đa

electron electron không phụ thuộc vào cường độ của ánh sáng tới (từ Định luật 2 của hiệu ứng quang điện : tốc độ ban đầu tối đa V tối đaF) và chỉ được xác định bởi tần số của nó

: cho mỗi chất tồn tại Định luật 3 về hiệu ứng quang điện hiệu ứng ảnh viền đỏ, nghĩa là tần số tối thiểu ν kp, tùy thuộc vào bản chất hóa học của chất và trạng thái bề mặt của nó, tại đó hiệu ứng quang điện bên ngoài vẫn có thể xảy ra.

Định luật thứ hai và thứ ba của hiệu ứng quang điện không thể được giải thích bằng cách sử dụng bản chất sóng của ánh sáng (hay lý thuyết điện từ cổ điển của ánh sáng). Theo lý thuyết này, việc rút các electron dẫn ra khỏi kim loại là kết quả của sự “lắc lư” của chúng bởi trường điện từ của sóng ánh sáng. Với cường độ ánh sáng tăng dần ( F) nên tăng năng lượng được truyền bởi electron của kim loại, do đó, nên tăng V tối đa và điều này mâu thuẫn với định luật thứ 2 về hiệu ứng quang điện.

Vì theo lý thuyết sóng, năng lượng truyền từ trường điện từ tỷ lệ thuận với cường độ ánh sáng ( F), sau đó bất kỳ ánh sáng; tần số, nhưng với cường độ đủ cao sẽ phải kéo các electron ra khỏi kim loại, nghĩa là đường viền màu đỏ của hiệu ứng quang điện sẽ không tồn tại, điều này mâu thuẫn với định luật thứ 3 của hiệu ứng quang điện. Hiệu ứng quang điện bên ngoài là quán tính. Nhưng lý thuyết sóng không thể giải thích được quán tính của nó.

§ 3 Phương trình Einstein cho hiệu ứng quang điện ngoài. Thoát công việc

Năm 1905, A. Einstein đã giải thích hiệu ứng quang điện dựa trên các biểu diễn lượng tử. Theo Einstein, ánh sáng không chỉ được phát ra bởi lượng tử theo giả thuyết Planck, mà còn được phân phối trong không gian và được hấp thụ bởi vật chất trong các phần riêng biệt – lượng tử có năng lượng E 0 = hv. Lượng tử của bức xạ điện từ được gọi là photon.

Phương trình của Einstein (định luật bảo toàn năng lượng cho hiệu ứng ảnh bên ngoài):

Năng lượng photon sự cố hvđã chi cho việc xé một electron ra khỏi kim loại, tức là vào chức năng làm việc Và o và thông điệp về động năng phát ra từ quang điện tử.

Năng lượng nhỏ nhất cần được truyền tới một electron để loại bỏ nó khỏi chất rắn vào chân không được gọi là năng lượng đầu ra công việc.

Kể từ khi trang trại năng lượng để phụ thuộc vào nhiệt độ và do đó, cũng thay đổi theo nhiệt độ, do đó, E FE FVà o phụ thuộc vào nhiệt độ.

Ngoài ra, chức năng làm việc rất nhạy cảm với độ sạch của bề mặt. Bằng cách áp dụng một bộ phim lên bề mặt ( Sa, Sg, Chờ đợi) vào WVà o giảm từ 4,5 eV cho tinh khiết W lên tới 1,5 2 eV cho tạp chất W.

Phương trình của Einstein cho phép giải thích trongc ba định luật về hiệu ứng ảnh bên ngoài,

Định luật 1: mỗi lượng tử chỉ được hấp thụ bởi một điện tử. Do đó, số lượng quang điện tử được kéo ra phải tỷ lệ thuận với cường độ ( F) ánh sáng

Định luật 3: Với việc giảm ν giảm= V tối đavà cho ν u003d ν 0 V tối đau003d 0, do đó, hv 0 Và o do đó, tức là có một tần số tối thiểu mà tại đó hiệu ứng quang điện bên ngoài là có thể.

【#5】Lý Thuyết Và Phương Pháp Giải Các Dạng Bài Tập Điện Tích. Định Luật Coulomb

1. Có hai loại điện tích: Điện tích âm (-) và điện tích dương (+)

+ Hai điện tích cùng dấu: Đẩy nhau;

+ Hai điện tích trái dấu: Hút nhau;

Lực tương tác giữa 2 điện tích điểm q 1; q 2 đặt cách nhau một khoảng r trong môi trường có hằng số điện môi ε là có:

– Điểm đặt: trên 2 điện tích.

– Phương: đường nối 2 điện tích.

– Độ lớn: ;Trong đó: k = 9.10 9Nm 2C-2; e là hằng số điện môi của môi trường

4. Nguyên lý chồng chất lực điện: Giả sử có n điện tích điểm q 1, q 2,….,q n tác dụng lên điện tích điểm q những lực tương tác tĩnh điện thì lực điện tổng hợp do các điện tích điểm trên tác dụng lên điện tích q tuân theo nguyên lý chồng chất lực điện.

Khi cho 2 quả cầu nhỏ nhiễm điện tiếp xúc sau đó tách nhau ra thì tổng điện tích chia đều cho mỗi quả cầu

Hiện tượng xảy ra tương tự khi nối hai quả cầu bằng dây dẫn mảnh rồi cắt bỏ dây nối

Khi chạm tay vào quả cầu nhỏ dẫn điện đã tích điện thì quả cầu mất điện tích và trở về trung hòa

B. PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP

: Xác định lực tương tác giữa 2 điện tích và các đại lượng trong công thức định luật Cu – lông.

Phương pháp : Áp dụng định luật Cu – lông.

– Phương , chiều , điểm đặt của lực ( như hình vẽ)

– Độ lớn : F =

– Chiều của lực dựa vào dấu của hai điện tích : hai điện tích cùng dấu : lực đẩy ; hai điện tích trái dấu : lực hút

Phương pháp : Dùng nguyên lý chồng chất lực điện.

– Lực tương tác của nhiều điện tích điểm lên một điện tích điểm lên một điện tích điểm khác :

– Biểu diễn các các lực bằng các vecto , gốc tại điểm ta xét .

-Vẽ các véc tơ hợp lực theo quy tắc hình bình hành .

– Tính độ lớn của lực tổng hợp dựa vào phương pháp hình học hoặc định lí hàm số cosin.

*Các trường hợp đăc biệt:

a. Tính lực tương tác giữa chúng.

b. Để lực này tăng lên 4 lần thì khoảng cách giữa chúng là bao nhiêu.

c. Đưa hệ này vào nước có thì lực tương tác giống câu a. Tìm khoảng cách giữa hai điện tích lúc này.

Hai điện tích điểm bằng nhau, đặt trong chân không cách nhau một khoảng r 1 = 2 cm. Lực tương tác giữa chúng là 1,6.10-4 N.

a) Tìm độ lớn hai điện tích đó?

b) Khoảng cách r 2 giữa chúng là bao nhiêu để lực tác dụng giữa chúng là 2,5.10-4 N?

Hai điện tích điểm q 1 = -10-7 C và q 2 = 5.10-8 C đặt tại hai điểm A và B trong chân không cách nhau 5 cm. Xác định lực điện tổng hợp tác dụng lên điện tích q 0 = 2.10-8 C đặt tại điểm C sao cho CA = 3 cm, CB = 4 cm.

Hai điện tích q 1 = 8.10-8 C và q 2 = -8.10-8 C đặt tại A và B trong không khí cách nhau một khoảng AB = 6 cm. Xác định lực điện tác dụng lên q 3 = 8.10-8 C đặt tại C nếu :

a) CA = 4 cm và CB = 2 cm.

b) CA = 4 cm và CB = 10 cm.

c) C nằm trên trung trực AB và F = 2F1.cosα = 2.F1. = 27,65.10-3 N

Bài 5 : Hai điện tích cách nhau 30cm trong chân không thì tương tác nhau bằng một lực có độ lớn F. nếu nhúng chúng vào trong rượu (không đổi khoảng cách) thì lực tương tác giảm đi 27 lần.

a) xác định hằng số điện môi của rượu

b) Phải giảm khoảng cách của chúng bao nhiêu để lực tương tác giữa chúng vẫn như trong chân không.

Hai quả cầu nhỏ được tích điện bằng nhau nhưng trái dấu nhau đặt tại hai điểm A và B cách nhau 4cm trong chân không. Lực hút giữa chúng là 8,1.10-4 N.

a. Tính độ lớn điện tích mỗi quả cầu

b. Cho hai quả cầu vào môi trường có =4. Muốn lực hút giữa chúng không thay đổi thì khoảng cách giữa hai quả cầu trong trường hợp này là bao nhiêu ?

c. Giả sử hai quả cầu đặt trong môi trường có hằng số điện môi là ‘ . Khoảng cách vẫn là 4cm và lực hút là 2,7.10-4N. Hãy tính hằng số điện môi ‘ .

d. Cho hai quả câu chạm vào nhau rồi tách ra xa. Tính điện tích mỗi quả cầu sau khi tách ra.

Bài 7: Ba điện tích q 1 = q 2 = q 3 = 1,6.10-19C đặt trong không khí tại ba đỉnh của một tam giác đều với cạnh 16cm. Xác định véctơ lực tác dụng lên q 3?.

【#6】Cái Gì Gọi Là Động Lượng Của Cơ Thể Của Đơn Vị Đo. Định Luật Bảo Toàn Động Lượng, Động Năng Và Năng Lượng Tiềm Tàng, Lực Lượng

Chúng thay đổi, vì các lực tương tác tác động lên từng cơ thể, nhưng tổng các xung không đổi. Cái này được gọi là luật bảo toàn động lượng.

Định luật thứ hai của Newton thể hiện bằng công thức. Nó có thể được viết theo một cách khác, nếu chúng ta nhớ lại rằng gia tốc bằng tốc độ thay đổi tốc độ của cơ thể. Đối với chuyển động tăng tốc đều, công thức sẽ như sau:

Nếu chúng ta thay thế biểu thức này trong công thức, chúng ta sẽ nhận được:

,

Công thức này có thể được viết lại thành:

Ở bên phải của sự bình đẳng này được ghi lại sự thay đổi trong sản phẩm của khối lượng cơ thể và tốc độ của nó. Sản phẩm của khối lượng và tốc độ cơ thể là một đại lượng vật lý gọi là xung lực cơ thể hoặc chuyển động cơ thể.

Cơ thể thôi thúc gọi là sản phẩm của khối lượng cơ thể và tốc độ của nó. Đây là một lượng vector. Hướng của vectơ động lượng trùng với hướng của vectơ vận tốc.

Nói cách khác, một khối cơ thể mdi chuyển với tốc độ có một xung lực. Đối với đơn vị xung trong SI, xung lực của vật nặng 1 kg được lấy, di chuyển với tốc độ 1 m / s (kg · m / s). Khi hai cơ thể tương tác với nhau, nếu lực thứ nhất tác dụng lên cơ thể thứ hai bằng lực, thì theo định luật thứ ba của Newton, thì cơ thể thứ hai tác dụng lên lực thứ nhất. Chúng tôi biểu thị khối lượng của hai cơ thể này bằng m 1 và m 2, và tốc độ của chúng so với bất kỳ khung tham chiếu nào thông qua và. Một lúc sau t là kết quả của sự tương tác giữa các cơ thể, vận tốc của chúng sẽ thay đổi và trở nên bằng và. Thay thế các giá trị này trong công thức, chúng tôi nhận được:

,

,

Do đó

Thay đổi dấu hiệu của cả hai mặt của đẳng thức sang ngược lại và viết nó dưới dạng

Ở bên trái của đẳng thức là tổng của thời điểm ban đầu của hai cơ thể, ở bên phải là tổng của thời điểm của cùng một cơ thể theo thời gian t. Các khoản bằng nhau. Như vậy, mặc dù thực tế. rằng động lượng của mỗi cơ thể trong quá trình tương tác thay đổi, tổng động lượng (tổng thời điểm của cả hai cơ thể) không thay đổi.

Nó cũng có giá trị khi một số cơ quan tương tác. Tuy nhiên, điều quan trọng là các cơ quan này chỉ tương tác với nhau và chúng không bị ảnh hưởng bởi các lực từ các cơ quan khác không phải là một phần của hệ thống (hoặc các lực bên ngoài được cân bằng). Một nhóm các cơ thể không tương tác với các cơ thể khác được gọi là hệ thống khép kín chỉ có giá trị cho các hệ thống khép kín.

Chi tiết Thể loại: Cơ học Đăng ngày 21/07/2014 2:29 PM Lượt xem: 53533

Trong cơ học cổ điển, có hai định luật bảo toàn: định luật bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn năng lượng.

Cơ thể thôi thúc

Khái niệm động lượng được giới thiệu lần đầu tiên bởi một nhà toán học, vật lý học, thợ cơ khí người Pháp và triết gia Descartes, người gọi là sự thúc đẩy lượng chuyển động.

Từ tiếng Latinh, tiếng xung động của người Viking dịch là tiếng đẩy, di chuyển.

Bất kỳ cơ thể di chuyển có một xung.

Hãy tưởng tượng một chiếc xe đẩy đứng bất động. Động lượng của nó bằng không. Nhưng ngay khi giỏ hàng bắt đầu di chuyển, động lượng của nó sẽ không còn nữa. Nó sẽ bắt đầu thay đổi, vì tốc độ sẽ thay đổi.

hoặc Động lượng của một điểm vật chất, lượng chuyển động Là một đại lượng vectơ bằng tích của khối lượng của một điểm bằng tốc độ của nó. Hướng của vectơ động lượng của điểm trùng với hướng của vectơ vận tốc.

Nếu người ta nói về một cơ thể vật chất rắn, thì tích của khối lượng của cơ thể này và vận tốc của khối tâm được gọi là động lượng của một cơ thể như vậy.

Làm thế nào để tính động lượng cơ thể? Người ta có thể tưởng tượng rằng cơ thể bao gồm nhiều điểm vật chất, hoặc một hệ thống các điểm vật chất.

Nếu là động lượng của một điểm vật chất, sau đó là động lượng của hệ thống các điểm vật chất

Đó là động lượng của hệ thống các điểm vật chấtLà tổng vectơ của mô men của tất cả các điểm vật chất tạo nên hệ thống. Nó bằng với sản phẩm của khối lượng của những điểm này với tốc độ của chúng.

Đơn vị đo động lượng trong hệ thống SI quốc tế là kilogam mét trên giây (kg · m / s).

Sự thúc đẩy của lực lượng

Trong cơ học, có một mối quan hệ chặt chẽ giữa động lượng của cơ thể và lực. Hai đại lượng này được kết nối bởi một đại lượng gọi là xung lực.

Nếu một lực không đổi tác động lên cơ thểtrong một khoảng thời gian Ftsau đó theo định luật thứ hai của Newton

Công thức này cho thấy mối quan hệ giữa lực tác động lên cơ thể, thời gian của lực này và sự thay đổi tốc độ cơ thể.

Giá trị bằng với tích của lực tác dụng lên cơ thể theo thời gian mà nó tác động được gọi là xung lực.

Như chúng ta có thể thấy từ phương trình, động lượng của một lực bằng với chênh lệch giữa momen của cơ thể tại điểm ban đầu và điểm cuối cùng theo thời gian, hoặc thay đổi động lượng theo thời gian.

Định luật thứ hai của Newton ở dạng xung được xây dựng như sau: một sự thay đổi trong động lượng của cơ thể bằng với động lượng của lực tác dụng lên nó. Phải nói rằng chính Newton đã xây dựng luật của mình một cách chính xác theo cách này.

Động lượng của lực cũng là một đại lượng vectơ.

Định luật bảo toàn động lượng tuân theo định luật thứ ba của Newton.

Cần phải nhớ rằng luật này chỉ hoạt động trong một hệ thống vật lý khép kín hoặc cô lập. Một hệ thống khép kín là một hệ thống trong đó các cơ thể chỉ tương tác với nhau và không tương tác với các cơ quan bên ngoài.

Hãy tưởng tượng một hệ thống khép kín của hai cơ thể vật lý. Các lực tương tác của các cơ thể với nhau được gọi là nội lực.

Động lượng của lực cho cơ thể đầu tiên là

Theo định luật thứ ba của Newton, các lực tác dụng lên các cơ thể trong quá trình tương tác của chúng có độ lớn bằng nhau và ngược chiều nhau.

Do đó, đối với cơ thể thứ hai, động lượng của lực là

Sử dụng các phép tính đơn giản, chúng ta có được biểu thức toán học của định luật bảo toàn động lượng:

v 1v 2– tốc độ của cơ thể thứ nhất và thứ hai trước khi tương tác,

p 1 u003d m 1 ·v 1 – động lượng của cơ thể đầu tiên trước khi tương tác;

p 2 u003d m 2 ·v 2– Động lượng của cơ thể thứ hai trước khi tương tác;

p 1 “u003d m 1 ·v 1 “– động lượng của cơ thể đầu tiên sau khi tương tác;

p 2 “u003d m 2 ·v 2 “– Sự thúc đẩy của cơ thể thứ hai sau khi tương tác;

Đó là

Trong một hệ thống khép kín, các cơ thể chỉ trao đổi mô men. Và tổng vectơ của momen của các vật thể này trước khi tương tác của chúng bằng tổng vectơ của momen sau khi tương tác.

Vì vậy, do kết quả của một phát súng từ súng, động lượng của chính khẩu súng và động lượng của viên đạn sẽ thay đổi. Nhưng tổng số xung của súng và viên đạn trong đó trước khi bắn sẽ vẫn bằng tổng số xung của súng và đạn bay sau phát bắn.

Khi bắn từ một khẩu súng, giật lại xảy ra. Đạn bay về phía trước, và khẩu súng tự quay trở lại. Một viên đạn và một khẩu súng là một hệ thống khép kín trong đó định luật bảo toàn động lượng hoạt động.

trong một hệ thống khép kín có thể thay đổi do kết quả của sự tương tác giữa chúng với nhau. Nhưng Động lượng của mỗi cơ thể tổng vectơ của mô men của các vật thể trong hệ thống kín không thay đổi trong quá trình tương tác của các vật thể này theo thời gian,đó là, nó không đổi Đó là luật bảo toàn động lượng.

Chính xác hơn, định luật bảo toàn động lượng được xây dựng như sau: tổng vectơ của mô men của tất cả các phần tử của một hệ kín là một hằng số nếu không có ngoại lực tác dụng lên nó, hoặc tổng vectơ của chúng bằng không.

Động lượng của một hệ thống các cơ thể chỉ có thể thay đổi do tác động của các lực bên ngoài lên hệ thống. Và sau đó định luật bảo toàn động lượng sẽ không được áp dụng.

Tôi phải nói rằng trong bản chất của các hệ thống khép kín không tồn tại. Nhưng, nếu thời gian tác động của ngoại lực rất ngắn, ví dụ, trong một vụ nổ, bắn, v.v., thì trong trường hợp này, ảnh hưởng của ngoại lực lên hệ thống bị bỏ qua và bản thân hệ thống được coi là đóng.

Ngoài ra, nếu các lực bên ngoài tác động lên hệ thống, nhưng tổng các hình chiếu của chúng trên một trong các trục tọa độ bằng không (nghĩa là các lực được cân bằng theo hướng của trục này), thì luật bảo toàn động lượng được thực hiện theo hướng này.

Định luật bảo toàn động lượng cũng được gọi là định luật bảo toàn động lượng.

Ví dụ nổi bật nhất về việc áp dụng định luật bảo toàn động lượng là lực đẩy phản lực.

Chuyển động phản lực

Chuyển động phản ứng là chuyển động của cơ thể xảy ra khi một phần của nó được tách ra khỏi nó ở một tốc độ nhất định. Trong trường hợp này, cơ thể nhận được một xung lực hướng ngược lại.

Ví dụ đơn giản nhất về lực đẩy phản lực là chuyến bay của khinh khí cầu mà không khí thoát ra. Nếu chúng ta thổi phồng quả bóng và thả nó ra, nó sẽ bắt đầu bay theo hướng ngược lại với sự chuyển động của không khí ra khỏi nó.

Một ví dụ về lực đẩy phản lực trong tự nhiên là sự phóng ra chất lỏng từ một quả dưa chuột điên khi nó nổ. Đồng thời, dưa chuột tự bay theo hướng ngược lại.

Sứa, mực và các cư dân khác của biển sâu di chuyển xung quanh, lấy nước và sau đó ném nó đi.

Lực đẩy được dựa trên định luật bảo toàn động lượng. Chúng ta biết rằng khi một tên lửa với động cơ phản lực di chuyển do quá trình đốt cháy nhiên liệu, một dòng chất lỏng hoặc khí được phun ra từ vòi phun ( dòng máy bay phản lực). Do sự tương tác của động cơ với chất rò rỉ xuất hiện công suất phản kháng. Vì tên lửa cùng với chất bị đẩy ra là một hệ thống kín, nên động lượng của một hệ thống như vậy không thay đổi theo thời gian.

Lực phản ứng phát sinh là kết quả của sự tương tác của chỉ các bộ phận của hệ thống. Các lực lượng bên ngoài không có ảnh hưởng đến sự xuất hiện của nó.

Trước khi tên lửa bắt đầu di chuyển, tổng động lượng của tên lửa và nhiên liệu bằng không. Do đó, theo định luật bảo toàn động lượng sau khi bật động cơ, tổng các xung này cũng bằng không.

khối lượng của tên lửa ở đâu

Tốc độ thoát khí

Thay đổi tốc độ tên lửa

∆ m f tiêu thụ khối lượng nhiên liệu

Giả sử tên lửa hoạt động được một thời gian t .

Chia cả hai vế của phương trình t, chúng tôi nhận được biểu thức

Theo định luật thứ hai của Newton, lực phản kháng là

Lực phản kháng, hoặc lực đẩy phản lực, cung cấp sự chuyển động của động cơ phản lực và vật thể liên kết với nó, theo hướng ngược lại với hướng của luồng phản lực.

Động cơ phản lực được sử dụng trong máy bay hiện đại và các tên lửa khác nhau, quân sự, không gian, v.v.

Xung (số lượng chuyển động) của một cơ thể được gọi là đại lượng vectơ vật lý, là một đặc tính định lượng của chuyển động tịnh tiến của các cơ thể. Impulse được chỉ định p. Động lượng của một cơ thể bằng với sản phẩm của khối lượng cơ thể và tốc độ của nó, tức là Nó được tính theo công thức:

Hướng của vectơ động lượng trùng với hướng của vectơ vận tốc của cơ thể (hướng dọc theo tiếp tuyến với quỹ đạo). Đơn vị đo động lượng là kg m / s.

Tổng động lượng của hệ thống cơ thể bằng với vectơ tổng các xung của tất cả các cơ quan của hệ thống:

Thay đổi động lượng của một cơ thể được tìm thấy bởi công thức (lưu ý rằng sự khác biệt giữa các xung cuối cùng và ban đầu là vectơ):

trong đó: p n là động lượng của cơ thể tại thời điểm ban đầu, p đến – đến trận chung kết. Điều chính là không nhầm lẫn hai khái niệm cuối cùng.

Cú đấm hoàn toàn kiên cường – một mô hình va chạm trừu tượng, trong đó tổn thất năng lượng do ma sát, biến dạng, v.v. không được tính đến. Không có tương tác nào khác ngoài liên hệ trực tiếp được tính đến. Với tác động đàn hồi tuyệt đối trên một bề mặt cố định, tốc độ của vật sau khi va chạm có giá trị tuyệt đối bằng tốc độ của vật trước khi va chạm, nghĩa là động lượng không thay đổi. Chỉ hướng của nó có thể thay đổi. Trong trường hợp này, góc tới bằng góc phản xạ.

Tác động hoàn toàn không đàn hồi – một cú đánh, kết quả là các cơ thể tham gia và tiếp tục chuyển động tiếp theo như một cơ thể duy nhất. Ví dụ, một quả bóng plasticine khi rơi trên bất kỳ bề mặt nào hoàn toàn ngăn chặn chuyển động của nó, khi hai chiếc xe va chạm, một khớp nối tự động được kích hoạt và chúng cũng tiếp tục di chuyển cùng nhau.

Định luật bảo toàn động lượng

Khi các cơ thể tương tác, động lượng của một cơ thể có thể được truyền một phần hoặc hoàn toàn sang một cơ thể khác. Nếu các lực bên ngoài từ các cơ quan khác không tác động lên hệ thống các cơ quan, thì một hệ thống như vậy được gọi là đóng cửa.

Trong một hệ thống kín, tổng vectơ của mô men của tất cả các vật thể có trong hệ thống không đổi cho bất kỳ tương tác nào của các cơ thể của hệ thống này với nhau. Định luật cơ bản này của tự nhiên được gọi là định luật bảo toàn động lượng (ZSI). Hậu quả của nó là định luật của Newton. Định luật thứ hai của Newton ở dạng xung có thể được viết như sau:

Như sau trong công thức này, nếu các lực bên ngoài không tác động lên hệ thống các cơ thể hoặc tác động của các lực bên ngoài được bù (lực kết quả bằng 0), thì sự thay đổi động lượng bằng 0, có nghĩa là tổng động lượng của hệ được bảo toàn:

Tương tự, người ta có thể lập luận cho phép chiếu bằng 0 của lực trên trục đã chọn. Nếu các lực bên ngoài không chỉ tác động dọc theo một trong các trục, thì phép chiếu của động lượng lên trục đã cho được bảo toàn, ví dụ:

Hồ sơ tương tự có thể được thực hiện cho các trục tọa độ khác. Bằng cách này hay cách khác, bạn cần hiểu rằng trong trường hợp này, các xung có thể thay đổi, nhưng đó là tổng của chúng không đổi. Định luật bảo toàn động lượng trong nhiều trường hợp giúp ta có thể tìm thấy vận tốc của các vật tương tác ngay cả khi chưa biết giá trị của lực tác dụng.

Tiết kiệm động lượng chiếu

Tình huống có thể xảy ra khi định luật bảo toàn động lượng chỉ được thực hiện một phần, nghĩa là chỉ khi thiết kế trên một trục. Nếu một lực tác động lên cơ thể, thì động lượng của nó không được bảo toàn. Nhưng bạn luôn có thể chọn một trục sao cho hình chiếu của lực lên trục này bằng không. Sau đó, hình chiếu của xung trên trục này sẽ được bảo toàn. Theo quy định, trục này được chọn dọc theo bề mặt mà cơ thể di chuyển.

Trường hợp đa chiều của ZSI. Phương pháp vectơ

Từ quy tắc cộng vectơ, theo sau ba vectơ trong các công thức này sẽ tạo thành một hình tam giác. Đối với hình tam giác, định lý cosin được áp dụng.

Hãy thực hiện một số biến đổi đơn giản với các công thức. Theo định luật thứ hai của Newton, sức mạnh có thể được tìm thấy: F u003d m * a. Gia tốc như sau: a u003d v⁄t. Do đó, chúng tôi có được: F u003d m * v/ t.

Định nghĩa xung lực cơ thể: Công thức

Nó chỉ ra rằng lực được đặc trưng bởi một sự thay đổi trong sản phẩm của khối lượng và vận tốc theo thời gian. Nếu chúng ta biểu thị sản phẩm này theo một số lượng nhất định, thì chúng ta sẽ có được sự thay đổi về số lượng này theo thời gian như là một đặc tính của lực. Giá trị này được gọi là động lượng của cơ thể. Động lượng của cơ thể được thể hiện bằng công thức:

trong đó p là động lượng của cơ thể, m khối lượng, tốc độ v.

Động lượng là một đại lượng vectơ, trong khi hướng của nó luôn trùng với hướng của tốc độ. Đơn vị của động lượng là kilôgam trên mét mỗi giây (1 kg * m / s).

Sự thúc đẩy của cơ thể là gì: làm thế nào để hiểu?

Hãy thử một cách đơn giản, “trên những ngón tay” để tìm ra xung lực của cơ thể là gì. Nếu cơ thể nghỉ ngơi, thì động lượng của nó bằng không. Là logic. Nếu tốc độ của cơ thể thay đổi, thì cơ thể có một xung lực nhất định đặc trưng cho cường độ của lực tác dụng lên nó.

Nếu tác động lên cơ thể không có, nhưng nó di chuyển ở một tốc độ nhất định, nghĩa là nó có một xung lực nhất định, thì xung lực của nó có nghĩa là tác động của cơ thể đã cho khi có thể tương tác với một cơ thể khác.

Công thức động lượng bao gồm khối lượng cơ thể và tốc độ của nó. Đó là, khối lượng và / hoặc tốc độ mà cơ thể sở hữu càng lớn thì tác động của nó càng lớn. Điều này là dễ hiểu từ kinh nghiệm sống.

Để di chuyển một cơ thể có khối lượng nhỏ, cần một lực nhỏ. Trọng lượng cơ thể càng nhiều, sẽ phải nỗ lực nhiều hơn. Điều tương tự cũng xảy ra đối với tốc độ được báo cáo cho cơ thể. Trong trường hợp tác động của chính cơ thể lên người khác, xung lực cũng cho thấy mức độ mà cơ thể có thể tác động lên các cơ thể khác. Giá trị này trực tiếp phụ thuộc vào tốc độ và khối lượng của cơ thể ban đầu.

Động lượng trong sự tương tác của cơ thể

Một câu hỏi khác được đặt ra: điều gì sẽ xảy ra với động lượng của cơ thể khi nó tương tác với một cơ thể khác? Khối lượng của cơ thể không thể thay đổi nếu vẫn còn nguyên, nhưng tốc độ có thể thay đổi dễ dàng. Trong trường hợp này, tốc độ của cơ thể sẽ thay đổi tùy thuộc vào khối lượng của nó.

Trên thực tế, rõ ràng là trong sự va chạm của các cơ thể có khối lượng rất khác nhau, tốc độ của chúng sẽ thay đổi theo những cách khác nhau. Nếu một quả bóng đá bay ở tốc độ cao đâm vào một người không chuẩn bị cho điều này, chẳng hạn như khán giả, thì khán giả có thể rơi, nghĩa là đạt được một số tốc độ nhỏ, nhưng chắc chắn nó sẽ không bay như một quả bóng.

Và tất cả vì khối lượng của người xem lớn hơn nhiều so với khối lượng của quả bóng. Nhưng đồng thời, sự thúc đẩy chung của hai cơ thể này sẽ không thay đổi.

Luật bảo tồn xung: công thức

Đây là định luật bảo toàn động lượng: khi hai cơ thể tương tác, tổng động lượng của chúng vẫn không thay đổi. Định luật bảo toàn động lượng chỉ hoạt động trong một hệ kín, nghĩa là trong một hệ không có ngoại lực hoặc tổng tác dụng của chúng bằng không.

Trong thực tế, hầu như luôn luôn có một ảnh hưởng của bên thứ ba tác động lên hệ thống các cơ thể, nhưng xung lực chung, như năng lượng, không biến mất ở bất cứ đâu và không phát sinh từ đâu, nó được phân phối giữa tất cả những người tham gia tương tác.

Định nghĩa là:

YouTube bách khoa toàn thư

    1 / 5

    Momentum Động lượng cơ thể

    Xung lực cơ thể

    Thời điểm của động lượng

    Vật lý. Định luật bảo tồn trong cơ học: Động lượng. Trung tâm học tập trực tuyến Foxford

    Phụ đề

Lịch sử của thuật ngữ

Định nghĩa xung chính thức

Xung điện từ

Một trường điện từ, giống như bất kỳ đối tượng vật chất nào khác, có một động lượng có thể dễ dàng tìm thấy bằng cách tích hợp vectơ Poynting trên âm lượng:

p u003d 1 c 2 ∫ S d V u003d 1 c 2 ∫ dV) (trong hệ thống SI).

Sự tồn tại của một xung tại trường điện từ giải thích, ví dụ, một hiện tượng như áp suất của bức xạ điện từ.

Động lượng trong cơ học lượng tử

Định nghĩa chính thức

Mô đun xung tỷ lệ nghịch với bước sóng (\ displaystyle \ lambda):), mô đun động lượng là p u003d m v (\ displaystyle p u003d mv) (ở đâu m (\ kiểu hiển thị m) là khối lượng của hạt) và

u003d h p u003d h m v (\ displaystyle \ lambda u003d (\ frac (h) (p)) u003d (\ frac (h) (mv))).

Do đó, bước sóng de Broglie càng nhỏ, mô đun xung càng lớn.

Ở dạng vector, điều này được viết là:

p → u003d h 2 π k → u003d ℏ k →, (\ displaystyle (\ vec (p)) u003d (\ frac (h) (2 \ pi)) (\ vec (k)) u003d \ hbar (\ vec ( k)),) p → u003d ρ v → (\ displaystyle (\ vec (p)) u003d \ rho (\ vec (v))).

【#7】Triết Lý Cuộc Sống Từ 3 Định Luật Của Newton

Featured image: Sir Gottfried Kneller

Isaac Newton (1642-1727) là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà triết học, nhà toán học, nhà thần học và nhà giả kim người Anh.

Ba định luật về cơ học của Newton có thể phát biểu như sau:

Định luật 1: Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác dụng của các lực có hợp lực bằng không, thì vật đứng yên sẽ tiếp tục đứng yên, đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động thằng đều.

Định luật 2: Gia tốc của một vật cùng hướng với lực tác dụng lên vật. Độ lớn của gia tốc tỷ lệ thuận với độ lớn của lực và tỷ lệ nghịch với khối lượng của vật:

Định luật 3: Trong mọi trường hợp, khi vật A tác dụng lên vật B một lực, thì vật B cũng tác dụng lại vật A một lực. Hai lực này khác điểm đặt, cùng giá, ngược chiều và cùng độ lớn.

Những phát biểu về ba định luật này được trích trong SGK Vật lý lớp 10 chương trình nâng cao, các phát biểu khác về ba định luật của Newton cũng có nội dung tương tự.

Định luật 1

Hãy hình dung vật rắn mà phát biểu này nói đến chính là cuộc đời của chúng ta, đối với một số người, cuộc đời họ gần như đứng yên, đối với một số người khác, cuộc đời họ cứ mãi chuyển động thẳng đều, giống như một cuộc sống nhàm chán cứ diễn ra hàng ngày. Điều mà chúng ta có thể nhận ra từ định luật đó là, nếu bạn muốn thay đổi, nếu bạn muốn thoát khỏi con đường lặp đi lặp lại mỗi ngày, nếu bạn muốn thoát khỏi cái “vũng bùn” giữ chân mình tại chỗ, bạn cần một thứ gì đó gọi là “lực tác động”.

Định luật 2

Nối tiếp theo những gì được nhận ra ở định luật 1, khi mà cái chúng ta đã có là động lực, là F, là những gì thôi thúc chúng ta, bắt buộc chúng ta phải hành động.

m ở đây đại diện cho sức ì, cho sự trì hoãn, sự lười biếng của chúng ta trong việc làm những hành động đó; a là gia tốc, đặc trưng cho sự thay đổi, là những kết quả mà chúng ta đạt được.

Một nguyên tắc đơn giản đó là với một động lực, với một lực F không đổi: Nếu bạn càng trì hoãn, càng lười biếng, cố tìm ra lý do để thực hiện những hành động càng ít càng tốt, sự thay đổi của chúng ta sẽ tỷ lệ nghịch với sự trì hoãn đó, những kết quả đạt được sẽ rất ít, hầu như chẳng có gì thay đổi, và hệ quả là gì, chúng ta sẽ lại chán nản, m lại càng tăng và a lại càng giảm.

Nhìn theo cách ngược lại có thể sẽ dễ hiểu hơn, hành động càng nhiều, kết quả càng lớn; một điều thú vị là dù chỉ với một lực F rất nhỏ nhưng nếu m nhỏ tới mức dần tiến tới 0 thì sự thay đổi sẽ là vô cùng lớn mà chúng ta không thể nào biết được.

Định luật 3

Phát biểu thứ 3 có vẻ khá dễ hiểu, nó đơn giản chỉ là quy luật hai chiều của cuộc sống. Nếu bạn tác động tích cực hay tiêu cực đối với một sự vật sự việc gì đó, cuối cùng cũng sẽ có một tác động tích cực hay tiêu cực tương ứng tác động vào bạn. Nếu bạn không chịu lắng nghe một người, đừng bao giờ mong người đó sẽ lắng nghe mình. Trong khi đang tìm kiếm về đề tài này trên mạng, tôi vô tình tìm thấy một nhận xét rất hay của một người nước ngoài có nickname RainersHQ trên trang web Wattpad, tôi xin để lại nguyên văn tiếng Anh như sau:

“…I’ve considered Newton’s third law for many years in regards to philosophy and humanitarian work. The word I seem to have difficulty with understanding is “opposite”. For example, according to the law, if someone were to do something viewed as “good” such as building a water well in Africa, providing clean water for a community of 300 people, the “opposite” action would be that 300 people somewhere else would not have clean water; or, perhaps when something “good” is done that the universe must balance itself with something “bad”. I am not proposing that people should do more bad so that we might have more good, but perhaps that both good and bad are merely illusions…”

Đoạn văn trên có thể được dịch đại khái là định luật thứ ba muốn nêu lên ý nghĩa của từ “trái ngược”, nghĩa là nếu như bạn làm một việc gì đó tốt như xây một đài phun nước ở châu Phi có thể cung cấp nước sạch cho một cộng đồng khoảng 300 người, thì hành động “trái ngược” có thể là ở nơi nào đó trên Trái Đất, 300 người khác sẽ không có nước sạch để dùng. Hoặc có thể hiểu theo một cách khác là khi một việc tốt được thực hiện, vũ trụ sẽ tự cân bằng nó bằng một việc gì đó không tốt, và tác giả còn muốn nói lên rằng liệu ranh giới giữa việc tốt và việc xấu có thật sự tồn tại?

Lời nhận xét đó chỉ là một ý kiến cá nhân, nhưng vẫn có nhiều thứ đáng để chúng ta suy ngẫm, đó là về sự cân bằng của cuộc sống, tìm ra được ý nghĩa của sự cân bằng đó có thể cần rất nhiều thời gian. Vì vậy việc của chúng ta có lẽ nên bắt đầu bằng định luật 1 và định luật 2, khi mà tự chính bản thân chúng ta cân bằng, chúng ta mới có hy vọng thu hẹp được những khoảng cách mà sự cân bằng của vũ trụ tạo ra.

Science and philosophy may be just the same, they are the way people think about everything around them. While philosophers try to give their opinions “subjectively”, scientists always find the most reasonable answer for everything.

Anonymous

【#8】James Prescott Joule Nhà Vật Lý Đặt Nền Móng Cho Định Luật

James Prescott Joule nhà vật lý đặt nền móng cho định luật

Chương IV: Johannes Kepler (Kê-ple) và các định luật mang tên ông

James Prescott Joule (Phiên âm tiếng Việt Jun) (1818-1889) là một nhà vật lý người Anh sinh tại Salford, Lancashire. Ông đã phát hiện ra mối liên hệ giữa nhiệt lượng và công. Phát hiện này đã dẫn đến sự ra đời của định luật bảo toàn năng lượng tạo tiền đề cho sự phát triển của nguyên lý thứ nhất của nhiệt động lực học. Tên ông đã được đặt cho đơn vị của các dạng năng lượng của vật lý viết tắt là J (đọc là Jun).

Chân dung của nhà vật lý học người Anh James Prescott Joule (Jun)​

Tuổi thơ và cuộc sống phải trưởng thành sớm của James Prescott Joule:

  • Ông sinh ngày 24/12/1818 tại Manchester, Anh Benjamin Joule, trong một gia đình sản xuất bia giàu có.​

  • Ông là một đứa trẻ nhạy cảm và yếu đuối, không thể đi học thường xuyên và do gia đình có điều kiện nên Ông được học cùng gia sư ở nhà từ khi còn rất nhỏ. Ông được trau dồi kiến thức từ John Dalton một nhà toán học, hóa học nổi tiếng người Anh.​

  • Do sức khỏe của cha ông không được tốt nên cùng với anh trai Benjamin của mình Joule đã buộc phải làm việc trong nhà máy bia khi còn ở tuổi 15.​

Những năm tháng sự nghiệp khoa học nổi bật của Joule (Jun):​

  • Năm 1838 ở tuổi mười chín ông đã chế tạo thành công một động cơ điện từ.
  • Năm 1840 khi giữ vai trò chủ chốt ở nhà máy bia, Ông đã đưa những ứng dụng của động cơ hơi nước mới được phát minh cùng với động cơ điện do ông chế tạo vào trong hoạt động sản xuất của nhà máy bia cho các mục đích khoa học và kinh tế, mong muốn của Ông là tăng cường máy móc trong nhà máy bia để đạt được hiệu quả cao hơn.
  • Năm 1841, ông đã thiết kế một thí nghiệm nhằm kiểm chứng mối quan hệ giữa cường độ dòng điện, điện trở và nhiệt tỏa ra trong một dây dẫn cơ sở thực tiễn để hình thành nên định luật Jun (Joule)
  • Năm 1845, ông đã có những bài viết về các thí nghiệm nhằm chứng minh công có thể chuyển thành nhiệt đặt nền móng đầu tiên của định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
    Năm 1847, ông đã gặp William Thompson trong một trong các bài thuyết trình của mình tại Hội Hoàng Gia Anh tại Oxford và cộng tác với ông để tiến hành một số nghiên cứu về tác dụng nhiệt. Họ phát hiện ra hiệu ứng Joule-Thomson và nhiệt độ tuyệt đối.

Những công trình khoa học nổi bật của nhà vật lý học Joule:

  • Ông đã nghiên cứu bản chất của nhiệt, chỉ ra được mối quan hệ giữa nhiệt và cơ năng. Đặt nền móng cho định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, tiền đề xây dựng nên nguyên lý thứ nhất của nhiệt động lực học.
  • Tìm ra mối quan hệ giữa nhiệt lượng, điện trở và cường độ dòng điện (Định luật Joule: nhiệt lượng tỏa ra trên vật dẫn tỉ lệ thuận với tích bình phương cường độ dòng điện, điện trở của vật dẫn và thời gian dòng điện chạy qua vật dẫn đó biểu thức của định luật Joule: Q = I2Rt)
  • Tác phẩm của ông với William Thompson dẫn tới phát hiện đáng chú ý được gọi là hiệu ứng Joule-Thomson. Nó mô tả sự thay đổi nhiệt độ của một chất khí hoặc chất lỏng khi đó là buộc phải thông qua một van giữ cách ly để tránh phần nhiệt lượng tỏa ra ngoài môi trường.
  • Ông cũng làm việc với William Thomson về nhiệt độ tuyệt đối hay còn được gọi là ‘Lord Kelvin’. (nhiệt độ tuyệt đối = độ C + 273 VD: 30oC = 30 + 273 = 303K lưu ý độ K người ta không viết là 303oK)

Giải thưởng và thành tựu:

  • Năm 1852, ông nhận Huân chương Hoàng gia của Hội Hoàng gia Anh vì đã xuất bản một cuốn sách khoa học nói về mối quan hệ giữa cơ học và nhiệt học (tiêu đề cuốn sách: On the Mechanical Equyvalent of Heat)
  • Năm 1860, ông được bầu làm chủ tịch của Manchester Literary và Philosophical Society.
  • Ông là chủ tịch của Hiệp hội Anh cho sự tiến bộ của khoa học 1872-1887.
  • Năm 1880, ông nhận Huy chương Albert của Hiệp hội Nghệ thuật Hoàng gia cho việc thiết lập các mối quan hệ giữa nhiệt, điện và công việc cơ khí.
  • Một đài tưởng niệm được xây dựng trong ca đoàn phía bắc của Westminster Abbey và một bức tượng đứng trong Tòa thị chính Manchester trong kỷ niệm của mình.

Cuộc sống cá nhân

Năm 1847, ông kết hôn với Amelia Grimes, con gái của John Grimes một kiểm soát viên của Hải quan Liverpool. Họ có hai con là Benjamin Arthur và Alice Amelia.

Năm 1854, vợ và con trai của ông đã qua đời. Sau sự cố đáng tiếc này, ông sống như một người góa vợ cho phần còn lại của cuộc đời mình và vùi đầu vào làm việc không mệt mỏi.

Chính phủ Anh đã cấp cho ông 200 bảng/tháng coi như phần lương hưu trí cho những cống hiến đối với khoa học.

【#9】5 Khám Phá Khoa Học ‘đi Ngược Lại’ Các Định Luật Vật Lý Hiện Nay (+Video)

Một số hiện tượng bí ẩn trong tự nhiên dường như đang thách thức các định luật vật lý hiện đại.

1/ Mặt Trời có thể làm cho thứ khác nóng hơn chính nó

Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng năng lượng sẽ di chuyển từ vật có mức năng lượng cao tới vật có mức năng lượng thấp hơn. Đó cũng là điều được nói đến trong định luật thứ hai của nhiệt động lực học. Cũng giống như trong thực tế, nếu bạn cảm thấy quá nóng vì đống lửa trại được đốt lên, bạn sẽ phải di chuyển xa đống lửa, không cần các nhà khoa học nói cho bạn rằng năng lượng nhiệt di chuyển từ vật nóng hơn sang vật lạnh hơn. Mọi nơi trong vũ trụ này đều như vậy, ngoại trừ Mặt Trời.

Có sự khác biệt giữa điều khoa học khẳng định và những gì thực sự xảy ra với Mặt Trời, đó là sức nóng của vầng hào quang xung quanh Mặt Trời (thường gọi là quang quyển).

Các dữ liệu thu được chỉ ra rằng, nhiệt độ của bề mặt Mặt Trời chỉ ở 5.500 độ C. Khi ánh sáng đi từ bề mặt của Mặt Trời đến tầng cách bề mặt chỉ vài trăm km, nhiệt độ của nó lên đến 1 triệu độ C. Về lý thuyết, nguồn nhiệt của Mặt Trời – là nơi xảy ra các phản ứng hạt nhân và plasma cần có nhiệt độ cao nhất chứ không phải khoảng chân chân không xung quanh nó. Đây là trường hợp một vật gây ra sức nóng lại lạnh hơn thứ mà nó thiêu đốt.

Về cơ bản, định luật thứ hai của nhiệt động lực học bị phá vỡ hoàn toàn khi ánh sáng rời khỏi Mặt Trời vài trăm km và chưa ai lý giải được nguyên nhân . Điều này vẫn gây đau đầu cho các nhà vật lý năng lượng Mặt Trời trên toàn thế giới kể từ khi họ phát hiện ra sự thực này vào năm 1939.

    Người khám phá ra định luật thứ hai của nhiệt động lực học chỉ ra những ‘điểm đáng ngờ’ của học thuyết tiến hóa

2/ Trong thế giới vi mô, lực hấp dẫn không còn tác dụng

Có những trật tự vẫn tồn tại bao năm trên thế giới: những con chó sói ăn thịt gà rừng, Trái Đất quay quanh Mặt Trời và mặt trăng quay quanh Trái Đất, và lực hấp dẫn nghiễm nhiên được công nhận trên mặt đất này.

Nhưng khi bạn quan sát thế giới ở gần hơn, lực hấp dẫn dường như có vai trò rất nhỏ. Chà một quả bóng trên khănlen và cho nó lướt qua một mảnh giấy, các điện tích trên khăn len được chuyển sang quả bóng sẽ hút các mảnh giấy rời khỏi mặt bàn, vượt qua sức kéo lực hấp dẫn của Trái Đất.

Vậy mà, cũng cái lực hấp dẫn đó lại có thể giữ Mặt Trăng quay quanh Trái Đất ở khoảng cách trung bình lên tới 382.500 km.

Khi xem xét thế giới vi mô, lực hấp dẫn là lực yếu nhất trong 4 loại lực cơ bản của tự nhiên (bao gồm lực tương tác mạnh, lực tương tác điện từ, lực tương tác yếu và lực hấp dẫn), nhưng lại hoạt động ở khoảng cách xa.

Khối lượng của Trái đất là 5,97 x 10^24 kg, nó tạo ra lực rất lớn và tác động lên mọi vật, giúp mọi vật đứng trên bề mặt Trái Đất. Tuy nhiên những điện tích nhỏ bé, có trọng lượng vô cùng nhỏ vương trên chiếc khăn len lại có thể chiến thắng lực hấp dẫn của Trái Đất, điều này cũng tương tự như một đứa trẻ còi cọc có thể nâng cả tòa nhà cao tầng vậy.

3/ Vệ tinh tăng tốc độ không có lý do

Định luật bảo toàn năng lượng phát biểu rằng năng lượng không thể được tự sinh ra và tự mất đi, nó chỉ chuyển từ hệ này sang hệ khác. Vì vậy, nếu không được thêm năng lượng, sẽ không bao giờ một hệ có được nhiều năng lượng hơn so với năng lượng ban đầu.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp định luật này không còn đúng nữa. Có một số báo cáo đã chỉ ra rằng, trong không gian vũ trụ, khi một vật thể bay ngang qua Trái Đất, tốc độ của nó tự dưng lại tăng lên mà không rõ lý do.

Hiện tượng này được gọi là “bay ngang bất thường” , nó đã xảy ra với một số tàu vũ trụ của NASA như Galileo, NEAR, Pioneer 10 và Pioneer 11. Các tàu vũ trụ này đã trải qua hiện tượng gia tăng tốc độ không thể giải thích khi chúng đang đi qua Trái đất ở một khoảng cách đủ xa, không bị ảnh hưởng bởi lực hấp dẫn. Điều này xảy ra giống như có một lực từ vũ trụ tác động lên hệ thống tăng tốc của các con tàu.

Điều bất thường này được phát hiện đầu tiên vào năm 1980. Các nhà khoa học đã dành nhiều năm tiếp theo để cố gắng tìm hiểu điều gì đang xảy ra. Họ đã xem xét tất cả các loại năng lượng mà con người đã từng khám phá, cho đến nay, không có lời giải thích nào được đưa ra.

Tuy vậy, có một giả thuyết khác khá hợp lý. Mỗi không gian khác nhau trong vũ trụ đều có một trường thời gian riêng biệt. Vật thể nằm trong phạm vi của không gian này sẽ chịu ảnh hưởng của trường thời gian của không gian đó. Bản thân Trái Đất hay bất kỳ tinh cầu nào khác, cũng có trường thời gian của tự thân mình. Các vật thể như tàu vũ trụ một khi bay vượt ra bên ngoài trường thời gian của Trái Đất, sẽ tiến nhập vào một trường thời gian khác nhanh hơn, do đó vận tốc cũng vụt tăng mà không có bất kỳ sự bổ sung nguồn năng lượng động cơ nào. Trong hoàn cảnh này, trường thời gian ở Trái Đất là chậm so với không gian vũ trụ xung quanh.

2/ Định luật bảo toàn khối lượng không đúng với hố đen?

Hãy tưởng tượng rằng bạn có một chiếc xe tải đồ chơi, bạn đập vỡ nó ra từng mảnh với một cái búa. Tổng khối lượng của chiếc xe không đổi, nó chỉ biến thành từng mảnh vỡ. Nhưng khi bạn nâng búa của mình từ đống mảnh vỡ sau sau nhát đập cuối cùng, bạn thấy rằng các mảnh vỡ đã hoàn toàn biến mất.

Bạn biết điều này không thể xảy ra vì mọi vật không thể tự sinh ra hoặc tự mất đi. Vì vậy, vào cuối bộ phim kẻ hủy diệt 2 (Terminator 2), khi người máy T-1000 rơi vào bể quặng nóng chảy, hồ quang phát sáng và các thành phần nguyên tử của người máy T-1000 bơi quanh bể quặng một cách tuyệt vọng trước khi chúng biến mất. Điều tương tự cũng xảy ra khi một tiểu hành tinh bị hút vào một hố đen. Mặc dù chúng ta không thể nhìn thấy bên trong hố đen, chúng ta có thể nói tiểu hành tinh đó không bị phá hủy bởi vì khối lượng của hố đen đã tăng thêm bằng một tiểu hành tinh. Điều này cũng tương tự như diễn biến của phim kẻ hủy diệt. Nhưng khi một hố đen bốc hơi, các nhà khoa học sẽ đặt câu hỏi, điều gì đã xảy ra với các thứ mà hố đen đã nuốt trước đó?

Chúng ta biết rằng hố đen bốc hơi theo thời gian, “bốc hơi” có nghĩa là “biến mất, không tồn tại” cùng với tất cả mọi thứ nó đã hút vào. Vẫn chưa có một sự giải thích khoa học rõ ràng của sự việc này. Nhưng hãy giả thiết rằng khi các hố đen bốc hơi, tất cả vật chất bị nó hút sẽ bay ra theo hình thức bức xạ. Nhưng nhà khoa học Stephen Hawking cho rằng hố đen chỉ phát ra các bức xạ năng lượng nhiệt ngẫu nhiên.

Theo cách hiểu của người không có chuyên môn: nếu bạn thấy mình đang ở vị trí bị lỗ đen hút vào, bạn biến mất hoàn toàn, và bằng chứng về sự tồn tại của bạn cũng sẽ biến mất.

Nếu ta ném người máy T-1000 vào một lỗ đen, và các người máy phải đi ngược thời gian trước khi điều đó xảy ra, nhưng T-1000 sẽ không tồn tại trong thời gian đó. Ngay cả với việc du hành thời gian, vũ trụ cũng không biết phải đưa nó trở lại bằng cách nào vì hố đen đã nuốt chửng và làm nó tan biến.

    Giáo sư Stephen Hawking: Hố đen có thể là đường thông sang vũ trụ khác

1/ Các hạt vi mô biết được khi nào chúng bị quan sát

Zeno (496 – 430 TCN), nhà triết học sinh ra và lớn lên tại thành phố Elea, miền Tây Nam nước Ý ngày nay, trước khi chết đã để lại 3 nghịch lý. Trong đó, nghịch lý thứ ba được mang tên “Mũi tên bay” nói rằng: Một mũi tên đang bay sẽ đứng yên nếu ta quan sát nó ở từng khoảnh khắc riêng lẻ, do đó mũi tên không hề di chuyển gì cả.

Khoảng năm 1200, triết gia người Ý Thomas Aquinas đã chứng minh được nghịch lý này là sai. Tuy nhiên, với thế giới lượng tử, có vẻ như Zeno đã đúng. Hiện nay đã có một số thí nghiệm phát hiện rằng hiệu ứng Zeno lượng tử là có thật.

    Thí nghiệm: Thực vật có tồn tại ý thức, trí thông minh, thậm chí khả năng siêu cảm?

Uranium là nguyên tố không ổn định và phân rã theo thời gian, quá trình này gọi là phân rã phóng xạ. Nhưng các nhà khoa học ở Texas đã phát hiện rằng: sự phân rã uranium sẽ diễn ra một cách bình thường nếu họ không quan sát chúng. Nhưng bất cứ khi nào họ quan sát chúng, quá trình phân rã uranium sẽ không diễn ra như dự tính.

Sau hai ngày quan sát mà không thấy sự phân rã uranium như lẽ thường, phòng thí nghiệm đã báo cáo phát hiện của họ cho các phòng thí nghiệm khác. Các phòng thí nghiệm khác cũng tiến hành thử nghiệm việc quan sát uranium một cách nghiêm ngặt và chặt chẽ. Nhưng tất cả đều có cùng một kết quả: một số nguyên tử uranium sẽ không phân rã nếu ta quan sát chúng.

Hiện tượng này thách thức quy luật entropy nhiệt động lực, cũng như quan niệm thông thường. Phải chăng ý thức của chúng ta có vai trò gì đó trong việc ngăn cản các đồng vị phóng xạ phân rã, hay chúng ta có thể dừng thời gian khi quan sát các hạt vi mô này?

Xem video về thí nghiệm khe đôi minh họa ý tưởng trên (có phụ đề tiếng Việt):

Có thể thấy, 5 nghịch lý này chủ yếu xảy ra ở 2 khu vực: vĩ mô (vũ trụ) và vi mô (các hạt nguyên tử, phân tử). Do đó có thể nói rằng, các quy luật mà chúng ta đã từng biết sẽ có thể không còn đúng khi tăng phạm vi ra cực đại, hoặc cực tiểu. Khám phá vũ trụ to lớn và thế giới nano siêu nhỏ vẫn luôn là 2 phương hướng tiên phong trong khoa học của con người, ở đó vẫn còn vô số những điều bí ẩn.

Quang Khánh

【#10】Hòn Đá Nặng 250 Tấn Nằm Trên Sườn Dốc Hàng Nghìn Năm, Thách Thức Các Định Luật Vật Lý

Một hòn đá có tên là Krishna’s Butter Ball nặng tới 250 tấn, chiều cao khoảng 6 mét, đường kính 5 mét nằm nghiêng 45 độ trên sườn dốc thách thức mọi quy luật của vật lý.

Krishna’s Butterball (hay Quả bóng bơ của Krishna) là điểm thu hút khách du lịch ở thị trấn Mahabalipuram, gần Chennai, phía nam Ấn Độ.

Trong hơn 1.300 năm, tảng đá Krishna’s Butter Ball nằm yên tại Mahabalipuram, một thị trấn gần bãi biển Chennai, miền Nam Ấn Độ.

Tảng đá kì lạ bất chấp các lực hút mạnh từ Trái Đất này cao khoảng 6 mét và có đường kính 5 mét, nặng khoảng hơn 250 tấn.

Điều kỳ lạ của tảng đá bí ẩn này là nó nằm nghiêng một góc 45 độ trên đồi cao mà không hề bị lăn xuống đất.

Krishna’s Butterball, tảng đá khổng lồ với tư thế thăng bằng có một không hai. Ảnh: Wikipedia.

Diện tích tiếp đất của nó rất nhỏ nhưng không hề bị xê dịch dù chỉ 1 inch. Nhiều người đàn ông và thậm chí cả những con voi đã cố gắng di chuyển tảng đá từ vị trí bấp bênh của nó, nhưng mọi nỗ lực cho đến nay đều thất bại.

Những người dân địa phương gọi nó là ‘Vaaniral Kal’ (viên bơ của thần Krishna). Tên gọi này dựa trên tích cổ về vị thần Krishna của đạo Hindu rất thích ăn bơ.

Họ cho rằng, đây là miếng bơ mà vị thần này đánh rơi xuống trần gian. Nhưng tảng đá này được nhiều người biết đến với cái tên là ‘Krishna Butter Ball’ hơn.

Có vẻ như tảng đá có thể trượt bất cứ lúc nào và rơi nhanh xuống đồi, nhưng nó đã ở đó cách đây cả chục thế kỷ rồi.

Tảng đá này từ đâu ra?

Trong khi lý do thực sự đằng sau sự tồn tại của tảng đá “dị” này vẫn còn là một bí ẩn. Một số giả thuyết từ khoa học đến niềm tin tôn giáo được hình thành.

Ảnh: Wikipedia.

Tảng đá kì lạ này khiến các nhà địa chất học phải “đau đầu”. Giả thuyết cho rằng tảng đá được hình thành là do sự biến đổi của tự nhiên.

Nhưng các nhà địa chất học cho biết, điều đó là không thể vì sự ăn mòn tự nhiên không thể tạo ra một hình dạng khác thường như vậy.

Một mặt của tảng đá là bị xén phẳng hoàn toàn, làm cho nó trông giống như một bán cầu thô.

“Ôi thần linh ơi! Nó không đổ”

Một trong những nỗ lực đầu tiên trong việc dịch chuyển tảng đá này là của vua Narasimhavarman, một vị vua Pallava cai trị miền nam Ấn Độ vào khoảng năm 630-668.

Tên Krishna’s Butterball xuất phát từ một tích cổ trong thần thoại của đạo Hindu. Ảnh: FunALive TV, YouTube.

Ông vua này dường như muốn trao nó vào bàn tay của những nhà điêu khắc. Nhưng bất chấp mọi nỗ lực của những người đàn ông to khỏe, tảng đá “thách thức trọng lực ” này vẫn lì lợm, không hề dịch chuyển.

Gần đây hơn, vào năm 1908, Thống đốc Madras Arthur Lawley quyết định rằng ông di rời tảng đá, vì sợ rằng nó sẽ trượt xuống đồi và tàn phá thị trấn cổ Mahabalipuram.

Ông cho bảy con voi thực hiện nhiệm vụ “bất khả thi” này, nhưng “Ôi thần linh ơi!”, tảng đá vẫn không nhúc nhích 1 tí nào.

Tảng đá được cho là đã lấy cảm hứng từ Raja Raja Chola, một vị vua nổi tiếng của miền Nam Ấn Độ trị vì vào khoảng năm 985-1014, dẫn đến việc tạo ra các ‘Tanjavur Bommai’.

Đây là tên một loại đồ chơi truyền thống của Ấn Độ làm bằng đất nung.

Giống như tảng đá kì dị này, nó không bao giờ rơi xuống, ngay cả khi nghiêng hoặc bị xáo trộn, luôn luôn trở về vị trí thẳng đứng ban đầu của nó.

Tuy nhiên, một điều tuyệt vời là họ đều có được những bức ảnh tuyệt đẹp với tảng đá đẹp mê hồn và đầy bí ẩn này.

Nguồn: Odditycentral