【#1】Rong Nho: Siêu Thực Phẩm Giàu Chất Dinh Dưỡng

Rong nho là gì?

Rong nho là một loại tảo biển rất bổ dưỡng, có thể ăn như một loại rau nhưng lại có giá trị dinh dưỡng cao hơn rất nhiều so với các loại rau củ quả thông thường. Do có hình dạng giống chùm nho nên loại thực phẩm này được gọi là rong nho. Rong nho còn được mệnh danh là trứng cá muối xanh (trứng cá muối hay caviar là món ăn rất đắt đỏ do có giá trị dinh dưỡng cao). Rong nho thường phân bố tự nhiên ở vùng Đông Nam Á, Nhật Bản và các đảo ở khu vực Thái Bình Dương.

Năm 2006, các nhà khoa học thuộc ở Nha Trang đã tìm thấy rong nho ở đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, loại rong này lại có kích thước nhỏ hơn so với rong nho ở Nhật Bản hay Philippines. Hiện ở Việt Nam đã trồng được loại rong nho có giống từ Nhật Bản tại Đông Hà, Hải Ninh, Hòn Khói, Khánh Hòa.

Rong nho có mùi vị khá giống nước muối và rong tươi có thể bảo quản trong khoảng thời gian 3 – 5 ngày. Bạn nên để rong tươi ngoài tủ lạnh bởi nó còn sống và cần quang hợp. Rong nho khô đã được đóng gói hút chân không thì có thể được bảo quản rất lâu, trong khoảng từ 6 – 8 tháng.

Công dụng của rong nho

Rong nho có chứa nhiều thành phần rất tốt cho toàn bộ cơ thể và có thể giúp bạn phòng tránh được nhiều căn bệnh nguy hiểm.

1. Giúp xương chắc khỏe

Rong nho rất giàu protein, canxi và axit béo không bão hòa đa có trong nhóm omega 3 (DHA, EPA, ALA), có tác dụng kháng viêm và làm giảm các triệu chứng của bệnh viêm khớp. Do đó ăn loại rong này sẽ giúp bạn có một khung xương dẻo dai và không còn sợ phải đối mặt với nguy cơ bị loãng xương.

2. Tăng cường thị lực

Rong nho giàu chất sắt và vitamin A nên có tác dụng tăng cường chức năng của hệ thần kinh thị giác, cải thiện thị lực và phòng chống các bệnh về mắt như quáng gà, khô mắt…

3. Giảm nguy cơ tiểu đường

4. Tốt cho tim mạch

Rong nho chứa các axit béo không bão hòa AA, LA, DHA, EPA và ALA giúp giảm cholesterol, tăng tính co giãn của mạch máu. Các axit trong rong còn có tác dụng ngăn ngừa oxy hóa, duy trì cấu trúc collagen của động mạch, qua đó giúp ngăn ngừa các bệnh tim mạch như đột quỵ, xơ vữa động mạch hay nhồi máu cơ tim.

5. Làm đẹp da

Chất béo có trong rong nho sẽ giúp bảo vệ màng tế bào, cải thiện tính đàn hồi của thành mạch máu, qua đó giảm các triệu chứng khô da. Rong cũng có khả năng sản xuất collagen và chất chống oxy hóa, hai chất được coi là “mỹ phẩm tự nhiên” giúp cải thiện da, tóc và làm chậm quá trình lão hóa rất tốt.

6. Hạn chế táo bón

Rong nho chứa lượng calo và đường rất thấp, cho phép vi khuẩn dễ dàng tiêu hóa thức ăn và bài tiết chất thải một cách nhanh chóng. Do đó, rong có tác dụng rất tốt trong việc điều trị táo bón ở cả người lớn và trẻ em.

7. Tránh béo phì

Rong nho ít đường nhưng giàu canxi, kẽm, sắt, protein thực vật, vitamin C và axit béo không bão hòa đa nên có thể coi là thực phẩm bổ dưỡng và an toàn cho trong trường hợp bạn bị thừa cân hay đang trong chế độ ăn kiêng.

8. Phòng ngừa ung thư

Fucoidan có trong rong nho được xem như một chất chống ung thư tự nhiên. Các nghiên cứu năm 2002 và 2005 đã chứng minh Fucoidan là một thành phần mới có khả năng điều trị ung thư hiệu quả. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện ra rằng Fucoidan có thể khiến các tế bào bệnh bạch cầu, ung thư hạch, ruột kết và tế bào ung thư dạ dày tự tiêu diệt. Fucoidan cũng được phát hiện cho thấy có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch đáng kể và giúp giảm mức cholesterol trong máu.

Các chất dinh dưỡng có trong rong nho nếu được cơ thể hấp thụ hiệu quả sẽ mang lại tác động tích cực cho hệ tiêu hóa, thần kinh, tim mạch,…

Cách chế biến rong nho

Rong nho có 2 loại phổ biến là rong nho tươi và rong nho khô có đôi chút khác biệt trong khâu sơ chế. Bạn cũng có thể chế biến rong nho thành rất nhiều món ăn khác nhau.

Cách sơ chế

* Rong nho tươi: Đối với rong nho tươi, bạn có thể rửa sạch với nước ngọt rồi ngâm vào tô nước đá để tránh vị tanh vốn có của rong. Rong khi ngâm vào nước sẽ bị teo lại sau khoảng 30 giây, do đó, bạn không nên bỏ rong nho hết vào tô mà chỉ nên ăn bao nhiêu bỏ bấy nhiêu. Như vậy, rong sẽ giòn và dễ ăn hơn.

* Rong nho khô: Với rong nho khô, trước tiên, bạn mở túi lấy rong nho tách nước cho vào tô nước sạch, ngâm khoảng 3 – 5 phút, rong sẽ từ từ nở ra và tươi trở lại.

Sau đó, bạn đổ phần nước đã ngâm, sau đó cho rong vào tô nước đá lạnh và ngâm tiếp trong khoảng 3 phút. Cũng tương tự như rong nho tươi, bạn chỉ nên ăn bao nhiêu ngâm bấy nhiêu bởi rong sẽ bị teo lại.

Bạn có thể dùng rong nho trực tiếp như một dạng rau xanh với các loại nuớc chấm thông thường như xì dầu, mù tạc, tương ớt…. Rong nho cũng có thể ăn như món ăn kèm với các loại hải sản như tôm, mực cũng rất ngon.

Một số món ăn từ rong nho

Có rất nhiều món ăn với rong nho bạn có thể thực hiện vô cùng đơn giản tại nhà như gỏi, nước ép, chè, nướng, salad…

1. Gỏi rong nho tôm tươi

Khẩu phần: 2 người

Nguyên liệu:

  • 8 com tôm sú
  • 1/2 củ cà rốt
  • 1/4 củ hành tây tím
  • 150g rong nho tươi
  • 2 muỗng cà phê đường
  • 1/2 muỗng cà phê ớt băm
  • 1/2 muỗng cà phê tỏi băm
  • 1/2 muỗng canh nước mắm
  • 1/2 muỗng canh nước cốt chanh

Cách thực hiện:

– Đầu tiên, bạn ngâm rong tươi trong nước sạch khoảng 15 phút, sau đó vớt ra, để cho ráo nước.

– Tôm sú bạn luộc chín, bóc vỏ bỏ đầu, chừa lại đuôi cho đẹp. Cà rốt thì bạn gọt vỏ và cắt sợi nhỏ.

– Tiếp đến, bạn pha nước mắm với nước cốt chanh, tỏi và ớt băm.

– Bạn cho rong, tôm, cà rốt vào thố, rưới nước mắm đã pha sẵn vào và trộn đều tất cả lên. Bạn có thể ăn kèm với bánh phồng tôm như các món gỏi tôm thông thường.

Sau khi đã trộn rong nho, bạn nên ăn ngay để rong giữ được độ tươi, giòn ngon hoặc nên bọc kín để tránh rong nho tiếp xúc với hơi gió.

2. Nước ép rong nho

Khẩu phần: 2 người

Nguyên liệu: Cách thực hiện:

– Bạn vắt cam và ép cà rốt để lấy nước.

– Sau đó bạn lần lượt cho rong vào máy xay cùng nước cam và cà rốt đã ép trước đó.

– Cuối cùng bạn cho thêm đá bào vào, thêm khoảng 2 muỗng cà phê đường và say đến khi thấy hỗn hợp mịn thì có thể đổ ra và thưởng thức.

Bạn có thể uống riêng nước ép rong nho với cam hoặc cà rốt hay trộn hỗn hợp nhiều thành phần như công thức trên để có thể hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng nhất.

3. Chè rong nho táo đỏ

Khẩu phần: 2 người

Nguyên liệu:

  • 8 trái táo đỏ
  • 20g nhãn nhục
  • 500ml nước lọc
  • 30g rong nho tươi
  • 2 muỗng canh đường phèn

Cách thực hiện:

– Bạn ngâm rong tươi trong nước sạch khoảng 15 phút, sau đó vớt ra, để nơi kín gió.

– Táo đỏ và nhãn nhục thì bạn rửa sạch, đem ngâm trong nước ấm khoảng 5 phút cho nở.

– Tiếp đến, bạn bật bếp đun sôi nước và cho đường vào nấu tan. Sau đó, cho táo đỏ và nhãn nhục vào nấu. Bạn hãy để lửa nhỏ nấu riu riu đến khi thấy mềm thì tắt bếp là vừa.

– Bạn có thể thêm hương vani vào chè để tạo mùi thơm. Khi nào ăn, bạn cho rong vào. Món chè này có thể ăn nóng hoặc lạnh tùy thích.

Táo đỏ có tác dụng làm đẹp da, tăng cường tuần hoàn máu và chống lão hóa. Nhãn nhục có tác dụng an thần, cải thiện trí nhớ và khả năng tập trung. Cách ăn rong nho với táo đỏ và nhãn nhục sẽ mang đến cho bạn một món chè thơm ngon đầy bổ dưỡng.

4. Đậu hũ sốt dầu hào rong nho

Khẩu phần: 2 người ăn

Nguyên liệu:

  • Lá dứa
  • 1 trái ớt sừng
  • 20g rong nho tươi
  • 2 miếng đậu hũ non
  • 1 tai nấm đông cô khô
  • 2 muỗng canh dầu hào
  • 1/4 muỗng cà phê tiêu
  • 1/2 muỗng cà phê dầu mè
  • 1/2 muỗng cà phê hạt nêm
  • 1/2 muỗng cà phê gừng băm
  • 1/2 chén nước dùng từ rau củ
  • 1/2 muỗng cà phê hành baro băm
  • 1/2 muỗng cà phê mè rang vàng

Cách thực hiện:

– Bạn ngâm rong tươi trong nước sạch khoảng 15 phút, sau đó vớt ra và để nơi kín gió.

– Nấm đông cô thì bạn cắt bỏ gốc, khía chữ thập trên đỉnh, ngâm nước cho nở mềm, rửa thật sạch sau đó vớt ra và để ráo.

– Tiếp đó, bạn cắt đậu hũ thành những khối vuông nhỏ, cho vào xửng hấp cùng với lá dứa cho có mùi thơm.

– Bạn tiếp tục phi thơm hành baro, cho thêm gừng, dầu hào và nước dùng vào. Bạn nêm thêm tiêu, dầu mè, hạt nêm cho vừa ăn.

– Cuối cùng, bạn xếp lá dứa ra đĩa, cho đậu hũ lên và rưới sốt dầu hào. Bạn cho rong nho lên trên, thêm ớt sừng thái sợi, mè rang vàng và tiêu lên cho đẹp mắt.

Đậu hũ chứa isoflavone làm giảm mức độ cholesterol xấu hoặc lipoprotein mật độ thấp trong cơ thể, qua đó tăng cường sức khỏe tim mạch.

5. Mực nướng cuộn rong nho

Khẩu phần: 4 người

Nguyên liệu:

  • 1 con mực nang
  • 60g rong nho tươi
  • 1/2 muỗng cà phê ớt bột
  • 1/2 muỗng cà phê tỏi xay
  • 1/2 muỗng cà phê dầu ăn
  • 1/2 muỗng cà phê hạt nêm
  • 1/2 muỗng canh giấm trắng
  • 1 muỗng cà phê nước tương
  • 1/2 muỗng cà phê mù tạt xanh
  • 1/4 muỗng cà phê bột ngũ vị hương

Cách thực hiện:

– Bạn ngâm rong nho tươi trong nước sạch khoảng 15 phút, sau đó vớt ra và để nơi kín gió.

– Mực thì bạn khía bông phần thân sau đó ướp với tỏi xay, ớt bột, ngũ vị hương, hạt nêm và một chút dầu ăn trong 15 phút cho mực thấm đều.

– Tiếp theo, bạn nướng mực sao cho vừa chín vàng. Bạn cắt xéo thân mực theo đường khía bông thành những miếng vừa ăn.

– Sau đó, bạn xếp mực ra đĩa và cho rong nho lên trên. Bạn có thể rắc một ít ớt bột lên trên mực cho đẹp.

Bạn có thể trộn mù tạt xanh với giấm, nước tương làm nước chấm. Khi dùng rưới nước chấm vào rong nho, trộn đều và thưởng thức.

6. Salad rong nho bốn mùa

Khẩu phần: 2 người ăn

Nguyên liệu:

  • Giấm, đường
  • 1 củ cà rốt
  • 80gr rong nho
  • 8 quả trứng cút
  • 8 trái cà chua bi
  • 1/2 muỗng cà phê tiêu
  • 1/2 muỗng cà phê muối
  • 1/2 muỗng cà phê dầu ăn

– Bạn ngâm rong tươi trong nước sạch khoảng 5 – 10 phút, sau đó vớt ra và để nơi kín gió.

– Cà rốt bạn rửa sạch, gọt vỏ và cắt sợi. Cà chua thì rửa sạch và để ráo nước.

– Tiếp theo, bạn ngâm cà rốt và rong trong nước đá khoảng 5 phút để tăng độ giòn. Sau đó bạn vớt ra rổ và để ráo.

– Bạn pha phần nước sốt với giấm, đường, muối, tiêu chung với dầu ăn, nêm nếm cho vừa miệng.

– Cuối cùng, bạn cho tất cả nguyên liệu vào đĩa trộn đều. Bạn rưới nước sốt lên bên trên, trộn qua và dùng ngay để rong vẫn còn độ giòn ngon.

Món salad này kết hợp nhiều loại rau củ sẽ không gây cảm giác ngán. Cách ăn rong nho này rất thích hợp trong thực đơn khi bạn đã ăn quá nhiều món thịt, cá trước đó.

【#2】Rong Nho Nha Trang Món Quà Giàu Dinh Dưỡng

Top 5 tour hot nhất hè nha trang

Rong Nho Nha Trang – Món Quà Giàu dinh dưỡng

Còn được gọi là trứng cá Hồi xanh (green caviar) hay nho biển (sea grapes) có thể dùng như một loại rau cao cấp. Rong nho rất được ưa chuộng và sử dụng trong các món salad tại một số nước châu Á như Nhật Bản, Philippine… Rong nho là một loại tảo biển, được phân bố tự nhiên tại khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới.

Là một loài rong biển quý, hiếm và có giá trị dinh dưỡng cao. Người Nhật gọi là umibudou (nho biển) bởi hình dáng đặc biệt của nó. Ngoài màu sắc và hình, rong dáng đẹp mắt nho còn chứa rất nhiều dưỡng chất nên được xem là một loại thực phẩm, dược phẩm quý và tốt cho sức khỏe.

Công dụng của Rong nho biển

Rong nho biển là nguồn thực phẩm có giá trị và cung cấp nhiều vitamin A,C và các nguyên tố vi lượng như sắt, iod, calcium….

Chắc xương, khỏe khớp: rong nho giàu đạm, canxi và các axit béo không no thuộc nhóm omega 3 (DHA, EPA, ALA) ở dạng chất nhờn, có tác dụng chống viêm, tăng độ nhờn của khớp và giảm các chiệu chứng viêm khớp.

Bổ mắt, khỏe tim: rong nho chứa các axit béo không no AA, LA, DHA, EPA và ALA có tác dụng tăng cường thị lực và trí nhớ, giảm cholesterol, ngăn ngừa các bệnh về tim mạch như đột quỵ, xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim.

Ngừa cao huyết áp: rong nho giàu canxi, kali và vitamin C. Ba chất này là “khắc tinh” của chứng cao huyết áp.

Ngừa tiểu đường: với hàm lượng vitamin C phong phú, rong nho giúp cải thiện tình trạng và giảm thiểu các biến chứng của bệnh tiểu đường.

Phòng trị táo bón: chất đường có trong rong nho có hàm lượng calo thấp, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có lợi cho đường ruột phát triển, giúp tiêu hóa thức ăn và bài tiết chất cặn bã nhanh chóng nên có tác dụng ngừa táo bón, tiêu độc.

Ngừa bướu cổ: trong 100g rong nho có khoảng 1.9mg i-ốt. Với 30g rong nho cho mỗi ngày, có thể cung cấp đầy đủ lượng i-ốt cần thiết cho tuyến giáp, giúp phòng tránh bệnh bướu cổ.

Đẹp da, mượt tóc: Với hàm lượng vitamin A, C phong phú, rong nho có khả năng sản xuất collagen và chống oxy hóa nên được xem là mỹ phẩm thiên nhiên giúp cải thiện làn da mái tóc và làm chậm quá trình lão hóa.

Ngừa béo phì: rong nho có ít đường nhưng giàu canxi, kali, kẽm, đạm thực vật, vitamin A, C và các axit béo không no có lợi nên được xem là một thực phẩm bổ dưỡng và an toàn cho người thừa cân hoặc ăn kiêng.

Đặc biệt hiện nay người ta sử dụng rong nho như 1 loại mỹ phẩm tự nhiên làm đẹp da, hoặc làm nguyên liệu massage toàn thân, Chất Cauleparine có trong rong biển kích thích ăn uống ngon miệng, có tác dụng diệt khuẩn và gây tê nhẹ giúp bảo vệ đường tiêu hóa, làm sạch các lỗ chân long và bề mặt da, chống lão hóa, chống béo phì,.. …

Món ăn dinh dưỡng cao được chế biến từ rong nho biển

Rong nho có vị chua thanh nhẹ, giòn, khi ăn có thể nghe tiếng lốp bốp của từng trái “nho biển” trong miệng, khá thú vị.

Từ rong nho, người ta có thể chế biến thành nhiều món ăn như gỏi rong nho, nước ép rong nho; nhưng có lẽ đơn giản và phổ biến nhất là món rong nho tươi, thưởng thức như một loại rau sống.

Rong nho tươi được sử dụng phổ biến trong các món ăn gia đình Việt Nam như là các món ăn kiểu Nhật khác như Wasabi, ăn hải sản sống

Rong tươi hay rong khô đều tốt như nhau. Rong tươi chỉ sử dụng trong 10-12 ngày (ko đc cất tủ lạnh), còn rong khô thì để được lâu vì đã qua phương pháp sấy lạnh, do đó rong khô có tính tiện lợi hơn.

Cách dùng và hạn sử dụng rong nho

Ngâm rong nho với nước đá lạnh khoảng 5-10 phút để giảm vị mặn của biển và tăng độ giòn. Chỉ ngâm đủ lượng rong cần dùng. Dùng như 1 loại rau sống chấm với nước sốt mè rang (kèm theo) hoặc cuốn với lá rau cải, tía tôm, tôm bóc vỏ hấp (hay luộc) rồi chấm với nước chấm gồm có tương (xì dầu) và wasabi (mù tạc). Không xào nấu trên lửa để tránh rong bị teo nhỏ lại à khi làm gỏi hay xà lách, trộn rong sau cùng và dùng ngay.

TƯ VẤN DỊCH VỤ Mrs. Tú

Hotline: +84 903.223.235

Email: [email protected]

Nguyễn Khánh An Nguồn: An Nam Tour

【#3】Quy Trình Chế Biến Rong Nho Tươi Ngon Dinh Dưỡng

Rong nho trên thị trường được chia thành 2 loại chính bao gồm rong nho tươi và rong nho khô (rong nho tách nước). Cách bảo quản và chế biến rong nho theo từng loại cũng khác nhau.

Bảo quản rong nho tươi

– Rong nho tươi là loại rong nho được bảo quản trong môi trường thông thoáng ngay sau thu hái và đã được xử lý sạch các tạp chất bám trên thân rong theo quy trình được chuyển giao từ các kỹ sư Nhật Bản, thời gian sử dụng tương đối ngắn. Rong nho tươi chỉ sử dụng được trong vòng từ 5-7 ngày trong điều kiện bảo quản tốt, tức là bảo quản rong nho tự nhiên ở môi trường bên ngoài, kín gió, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp, không để biến đổi nhiệt độ môi trường quá nhiều.

– Lưu ý không để rong nho quá lạnh (như trong tủ lạnh) sẽ bị teo, hoặc quá nóng sẽ bị hỏng.

– Sau thời gian này dù nhìn bề ngoài có thể tươi tốt nhưng nếu chế biến rong nho thì hương vị và giá trị dinh dưỡng đã không còn giữ được nữa.

– Với đặc tính khắc nghiệt như vậy, nên để có thể vận chuyển rong nho tươi đến tay người tiêu dùng, người ta phải sử dụng máy bay và đảm bảo các điều kiện đặc thù về nhiệt độ, ánh sáng, đóng gói kỹ lưỡng. Một số người tiêu dùng ở xa chỉ đành phải sử dụng rong nho tươi đông lạnh hoặc rong nho khô.

– Một số công nghệ đột phá hiện nay cho phép cấp đông rong nho tươi, bảo quản được trong vòng 3-4 tuần trong điều kiện đông lạnh. Tất nhiên phương pháp này sẽ làm cho độ giòn và giá trị dinh dưỡng của rong thấp đi so với ban đầu, nhưng cũng lại một biện pháp hợp lý để sử dụng rong nho được lâu hơn.

Bảo quản rong nho khô (Rong nho muối, rong nho tách nước)

– Rong nho khô sử dụng công nghệ tách nước và được đóng gói trong túi chân không, hạn sử dụng lên đến 6-12 tháng.

– Công nghệ tách nước rong nho phải đảm bảo giữ được độ tươi ngon và dưỡng chất nhiều nhất có thể. Một số công đoạn như khử ozone, lọc tạp chất, quay ly tâm khô nước, đóng gói chân không và vận chuyển đến tay khách hàng.

– Rong nho khô nếu đã được sơ chế và đóng gói như trên thì có thể bảo quản trong tủ lạnh để sử dụng dần trong nhiều tháng.

Chế biến rong nho đúng cách

– Rong nho tươi: Chế biến rong nho bằng cách ngâm trong nước đá lạnh tầm 5-10 phút. Vớt ra để ráo nơi kín gió. Sử dụng ngay trong vòng 30 phút sau khi chế biến.

– Rong nho khô: Chế biến rong nho bằng cách ngâm trong nước sạch tầm 10 phút để rong nở trở lại. Sau đó ngâm tiếp trong nước đá lạnh tầm 5 phút như trên. Vớt ra để ráo nơi kín gió. Cũng sử dụng ngay trong vòng 30 phút.

– Sau khi sơ chế có thể chế biến rong nho thành đa dạng các món ăn từ làm gỏi, trộn salad, nấu canh, nấu cháo, nấu chè, ăn như rau sống, ăn kèm sushi,… Hoặc chế biến rong nho thành các sản phẩm làm đẹp như mặt nạ, mỹ phẩm,…

– Lưu ý không chế biến rong nho ở nhiệt độ cao. Các món ăn có rong nho thì khi kết thúc quá trình nấu với nhiệt mới cho rong nho vào sau cùng, tương tự như vậy đối với các món trộn hoặc ăn kèm thì không được làm mạnh tay với rong nho.

【#4】Rong Nho: Chất Dinh Dưỡng,công Dụng ,cách Sơ Chế Và Bảo Quảng Đúng Cách

Rong nho: Chất Dinh Dưỡng,Công dụng ,Cách sơ chế và Bảo Quảng Đúng Cách

Rong nho biển có hàm lượng dinh dưỡng rất cao đem lại lợi ích cho người thưởng thức, còn có công dụng hỗ trợ chữa trị các bệnh lý nguy hiểm như, tiểu đường, ung thư, bệnh tim. Hiện nay với loại mặt hàng mới này ít ai biết cách sử dụng nên dễ làm mất đi vị ngon tự nhiên của rong.

rong nho tảo biển tươi

Rong nho là một loại tảo biển, có hình dạng giống như chùm nho và còn được mệnh danh là trứng cá muối xanh (caviar hay trứng cá muối). Rong nho được khai thác và sử dụng như một loại rau xanh, giá trị dinh dưỡng cao hơn nhiều so với các loại rau củ thông thường. Mùi vị của rong nho khá giống với rong tươi và nước muối. Rong nho giúp kích thích ngon miệng và mang lại hiệu quả chữa bệnh. Rong nho thường phân bố tự nhiên ở các khu vực biển Đông Nam Á, Nhật Bản và một số đảo ở khu vực Thái Bình Dương. Năm 2006, rong nho đã được các nhà khoa học ở Nha Trang tìm thấy ở đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận). Với lượng rong nho ít, người ta trồng rong nho để thu hoạch và cung cấp rộng rãi trên thị trường. Ở Việt Nam, giống rong nho Nhật đã được trồng ở Hòn Khói, Khánh Hòa, Đông Hà và Hải Ninh.

Dinh dưỡng rong nho đối với người ăn

1 Công dụng Tốt cho hoạt động tim mạch

Giảm cholesterol và tăng tính co giãn của mạch máu vì Rong nho biển chứa các axit béo không bão hòa AA, LA, DHA, EPA và ALA.

Giúp cơ thể ngăn ngừa được các bệnh tim mạch (xơ vữa động mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim), ngăn ngừa oxy hóa, duy trì bền vững cấu trúc collagen của động mạch.

2 Giúp da đẹp hơn

Nhờ hàm lượng chất béo có trong rong nho sẽ giúp cho cơ thể bảo vệ màng tế bào và cải thiện tình trạng đàn hồi của thành mạch máu, qua đó giảm các triệu chứng khô da.

Đặt biệt rong nho sản xuất collagen và chất chống oxi hóa, cải thiện tóc và da khỏe hơn, và làm chậm quá trình lão hóa hiệu quả nhất.

3 Giảm quá trình táo bón

Calo và đường chưa trong rong nho rất thấp, thuận lợi cho vi khuẩn dễ dàng tiêu hóa thức ăn và tiết chất thải ra ngoài một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Vì vậy, rong nho có tác dụng rất tốt trong việc giảm quá trình táo bón trẻ em và cả người lớn.

4 Giảm tỉ lệ béo phì:

Rong nho giàu lượng kẽm, canxi, sắt, vitamin C, chất đạm thực vật và axit béo không bão hòa đa, và chứa ít đường,

Bởi vậy đấy là thực phẩm bổ dưỡng và an toàn đối với người ăn kiêng và người thừa cân.

5 Rong nho phòng chống ung thư:

Fucoidan chất có khả năng điều trị ung thư hiệu quả. Vì chất này có thể khiến các tế bào của bệnh bạch cầu, ruột kết, ung thư hạch và tế bào ung thư dạ dày tự bị tiêu diệt. Bởi vì năm 2002 và 2005 Các nghiên cứu đã chứng minh.

6 Giảm nguy cơ về mắc bệnh tiểu đường: Trong rong nho chứa hàm lượng vitamin C giúp bạn phòng chống và cải thiện được tình trạng của bệnh tiểu đường và biến chứng về mắt và thần kinh. Loại thực phẩm này giúp cơ thể kiểm soát lượng đường và hoạt động của các gốc tự do, giảm sự tích tụ sorbitol nội bào và ức chế sự gắn kết của glucose với protein.

7 Hổ trợ xương chắc khỏe: Trong rong nho biển rất giàu protein, canxi và axit béo không bão hòa đa nằm trong nhóm omega 3 (DHA, ALA, EPA) nên có công dụng làm giảm các triệu chứng của bệnh viêm khớp và có tác dụng có tác dụng kháng viêm. Nên thường xuyên ăn và sử dụng rong nho sẽ giúp bộ xương chắc khỏe, dẻo dai, nhất là tránh được tình trạng loãng xương.

Sơ chế và ăn rong nho đúng cách

Hiện nay, có 2 loại rong nho biển (rong nho khô và rong nho tươi) sở chế theo cách tùy bạn thích

Cách sơ chế rong nho khô

Bước 1: Mở túi rong nho khô, tách nước ngâm vào nước sạch 3 – 5 phút giúp rong nho tươi.

Bước 2: Vớt ra cho vào tô nước đá khoảng 3 phút trước khi ăn.

Cách sơ chế rong nho tươi

Trước khi thưởng thức rong nho tươi, ta rửa sạch bằng nước ngọt, rồi ngâm vào nước đá làm giảm bớt vị tanh.

rong nho chất lượng

Cách dùng rong nho

Dùng rong nho trực tiếp vì nó giống như một loại rau xanh vậy.

Có thể chấm rong nho với nuớc chấm thông thường như mù tạc, tương ớt, xì dầu, hoặc ăn kèm với các loại hải sản (tôm, mực) rất là ngon.

ảnh chuẩn bị dùng rong nho đã đặt ra dĩa

Bảo quảng rong nho đúng cách

Bảo quản rong nho khô có thể lên đến 6 – 8 tháng, vì được bảo quản trong bao bì hút chân không, để trong ngăn mát tủ lạnh.

Rong tươi có thể bảo quản trong khoảng thời gian 3 – 5 ngày. Để rong tươi ở những nơi thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp.

Địa chỉ mua rong nho giá rẻ hiện nay

Hotline bán lẻ: 0789698989 – 0705777131 – 0795777131

Mua sỉ liên hệ: 0936.11.1846 hoặc 0962.88.8155

Địa chỉ: 46 Đường số 13, Phường Bình Hưng Hòa, Quận Bình Tân, TP.HCM

rong nho kho

rong nho biển

rong nho

mua rong nho

dinh dưỡng từ rong nho

công dụng rong nho

ăn rong nho như thế nào

ăn rong nho có tác dụng gì

ăn rong nho biển

【#5】Dinh Dưỡng Từ Rong Nho

Dinh Dưỡng Từ Rong Nho – Kiểm Chứng Từ An Toàn Thực Phẩm

Rong nho là một loại tảo biển, có hình dạng giống như chùm nho, Rong nho được khai thác và sử dụng như một loại rau xanh, giá trị dinh dưỡng cao hơn nhiều so với các loại rau củ thông thường.

Dinh dưỡng rong nho đối với người ăn

1 Công dụng Tốt cho hoạt động tim mạch

Giúp cơ thể ngăn ngừa được các bệnh tim mạch (xơ vữa động mạch, đột quỵ và nhồi máu cơ tim),ngăn ngừa oxy hóa, duy trì bền vững cấu trúc collagen của động mạch.

2 Giúp da đẹp hơn

Nhờ hàm lượng chất béo có trong rong nho sẽ giúp cho cơ thể bảo vệ màng tế bào và cải thiện tình trạng đàn hồi của thành mạch máu. Qua đó giảm các triệu chứng khô da.

Đặt biệt rong nho sản xuất collagen và chất chống oxi hóa, cải thiện tóc và da khỏe hơn, và làm chậm quá trình lão hóa hiệu quả nhất.

3 Giảm quá trình táo bón

Calo và đường chưa trong rong nho rất thấp,thuận lợi cho vi khuẩn dễ dàng tiêu hóa thức ăn và tiết chất thải ra ngoài một cách dễ dàng và nhanh chóng.

Vì vậy, rong nho có tác dụng rất tốt trong việc giảm quá trình táo bón trẻ em và cả người lớn.

4 Giảm tỉ lệ béo phì:

Rong nho giàu lượng kẽm, canxi, sắt, vitamin C, chất đạm thực vật và axit béo không bão hòa đa, và chứa ít đường, bởi vậy đấy là thực phẩm bổ dưỡng và an toàn đối với người ăn kiêng và người thừa cân.

5 Rong nho phòng chống ung thư:

Fucoidan chất có khả năng điều trị ung thư hiệu quả. Vì chất này có thể khiến các tế bào của bệnh bạch cầu, ruột kết, ung thư hạch và tế bào ung thư dạ dày tự bị tiêu diệt. Bởi vì năm 2002 và 2005 Các nghiên cứu đã chứng minh.

6 Giảm nguy cơ về mắc bệnh tiểu đường:

Trong rong nho, chứa hàm lượng vitamin C, giúp bạn phòng chống và cải thiện được tình trạng của bệnh tiểu đường và biến chứng về mắt và thần kinh, loại thực phẩm này giúp cơ thể kiểm soát lượng đường và hoạt động của các gốc tự do, giảm sự tích tụ sorbitol nội bào và ức chế sự gắn kết của glucose với protein.

7 Hổ trợ xương chắc khỏe:

Trong rong nho biển rất giàu protein, canxi và axit béo không bão hòa đa nằm trong nhóm omega 3 (DHA, ALA, EPA) nên có công dụng làm giảm các triệu chứng của bệnh viêm khớp và có tác dụng kháng viêm, thường xuyên ăn và sử dụng rong nho sẽ giúp bộ xương chắc khỏe, dẻo dai, nhất là tránh được tình trạng loãng xương.

Cách dùng rong nho

Dùng rong nho trực tiếp vì nó giống như một loại rau xanh vậy.

Có thể chấm rong nho với nuớc chấm thông thường như mù tạc, tương ớt, xì dầu hoặc ăn kèm với các loại hải sản (tôm, mực) rất là ngon.

rong nho dinh duong cao nhất trong thực phẩm

Rong nho biển mua ở đâu ngon giá rẻ

Hiện nay rong nho là nguồn dinh dưỡng dồi dào đối với sức khỏe con người, nó còn là sản phẩm đẹp da và giảm cân, rất được chị em phụ nữ săn đón, để đáp ứng nhu cầu Hải Sản Kỳ Hà đã và đang sản xuất số lượng rong nho lớn.

Đặt hàng liên hệ Hotline: 0789.69.8989 Ngân – 0705777131 Dương

Mua sỉ: ( từ 10Kg): 0936.111.846 – 0962.888.155

Địa chỉ: 46 đường số 13, Bình Hưng Hòa, Bình Tân, TP.HCM

rong nho ngon

rong nho là gì

rong nhỏ giá rẻ

rong nho giá rẻ

rong nho

ở đâu bán rong nho tươi

ở đâu bán rong nho

ở đâu bán rong

mua rong nho tươi

mua rong nho ở đâu

mua rong nho khô

mua rong nho

【#6】Reivew Rong Nho Khô Vmax: Nguồn Dinh Dưỡng Thiên Nhiên Từ Biển

Rong nho khô Vmax, một sản phẩm bổ dưỡng cung cấp nhiều khoáng chất cho cơ thể. Đây là một thương hiệu rong nho đang thu hút sự quan tâm của người sử dụng, loại rong biển này được tin dùng với rất nhiều công dụng hữu ích, một sản phẩm dường như không thể thiếu của mọi gia đình.

Rong nho khô Vmax thực chất là một trong những loại tảo biển bổ dưỡng được dùng như một loại rau xanh nhưng giá trị dinh dưỡng lại cao hơn rất nhiều so với các loại rau xanh khác.

Đây là một sản phẩm của thương hiệu Vmax, sản phẩm có hình dáng giống như một chùm nho xanh được nuôi trồng tự nhiên tại vùng biển sạch. Loại rong nho này còn được gọi là “trứng cá muối xanh”, đây là một loại trứng cá muối rất đắt đỏ và quý giá khi giá trị dinh dưỡng rất cao.

Rong nho khô Vmax có hàm lượng khoáng chất rất cao, tốt cho cơ thể và sức khỏe, tăng cường hệ miễn dịch và hỗ trợ điều trị một số bệnh tật.

Với rất nhiều lợi ích mang lại cho người sử dụng, rong nho khô Vmax được nhà sản xuất nuôi trồng dưới công nghệ hiện đại, đạt các tiêu chuẩn sản xuất khắt khe được nhiều quốc gia tin chọn.

Rong nho Vmax được xem là một sản phẩm chăm sóc sức khỏe không thể thiếu ở nhiều gia đình hiện nay. Loại tảo biển bổ dưỡng, an toàn và rất lạ miệng.

Rong nho khô Vmax là một sản phẩm của Công Ty TNHH SX-TM-XNK D & T tại thành phố Biển Nha Trang, Khánh Hòa.

Sản phẩm Vmax này được sử dụng công nghệ tách nước số 1 Việt Nam, trong đó, giống và công nghệ hoàn toàn từ Nhật Bản.

Được sản xuất nuôi trồng theo công nghệ hiện đại đảm bảo lượng rong nho nhiều gấp 2 – 3 lần so với một số sản phẩm khác trên thị trường.

Vmax nuôi trồng và sản xuất ở dạng rong nho khô, giữ được độ tươi giòn rất lâu mà không làm mất các dưỡng chất hay chất lượng của sản phẩm.

Rong nho khô Vmax có thành phần từ 100% rong nho, không thuốc trừ sâu, không hóa chất, không chất tạo mùi, đảm bảo an toàn tuyệt đối khi sử dụng.

Rong nho khô Vmax được nuôi trồng tự nhiên từ công nghệ Nhật Bản. Sản phẩm có thành phần từ rong nho tươi, muối thiên nhiên và nước biển sạch mang đến nguồn dưỡng chất rất cao.

Ngoài các giá trị dinh dưỡng trên, rong nho Vmax còn tích hợp rất nhiều dưỡng chất thiết yếu khác rất bổ dưỡng với sức khỏe người sử dụng.

Rong nho khô Vmax mặc dù rất bổ dưỡng nhưng không hề tích lũy mỡ thừa trong cơ thể. Hàm lượng axit béo không no dồi dào sẽ giúp tăng cường sức khỏe, thúc đẩy quá trình trao đổi chất và giảm lượng cholesterol trong máu vô cùng hiệu quả.

Với những nguồn dưỡng chất dồi dào, rong nho khô Vmax là một loại thực phẩm xanh rất bổ dưỡng mà không phải loại rau xanh nào cũng có được. Đây là sản phẩm chăm sóc sức khỏe an toàn được nhiều gia đình lựa chọn.

Rong nho khô Vmax đang được rất nhiều người dùng ưa chuộng và tin chọn khi mang đến rất nhiều lợi ích hữu ích cho người sử dụng như sau:

Hàm lượng đạm, kẽm, sắt, mangan và axit béo không no trong rong nho Vmax sẽ có tác dụng kháng khuẩn, nhuận tràng vô cùng hiệu quả.

Rong nho Vmax có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và đảm bảo đáp ứng đủ nguồn dưỡng chất cần thiết trong mỗi bữa ăn. Lượng axit béo không no tốt cho cơ thể và đường ramemonse giúp kháng khuẩn đường ruột và nhuận tràng.

Rong nho được xem là nguồn thực phẩm tuyệt vời có tác dụng hấp thụ các kim loại có hại trong cơ thể và đào thải hết ra ngoài qua đường bài tiết.

Với những bạn có sức đề kháng kém, thường mắc bệnh thì rong nho là một lựa chọn tuyệt vời. Nguồn dưỡng chất thiết yếu có trong rong nho khô Vmax sẽ giúp cơ thể được tăng cường kháng thể.

Hàm lượng vitamin A, vitamin B, vitamin C,… dồi dào giúp bồi bổ sức khỏe, cung cấp các nguồn dưỡng chất cần thiết, hạn chế thiếu chất, giúp cơ thể ngày càng khỏe mạnh và hệ miễn dịch rất tốt.

Đây là điều mà người tiêu dùng đánh giá rất cao. So với các loại rau xanh khác thì rong nho khô Vmax được xem là một lựa chọn tuyệt vời đảm bảo bổ dung đầy đủ các khoáng chất cho cơ thể.

Sử dụng rong nho sẽ phòng ngừa suy dinh dưỡng, cơ thể luôn được khỏe mạnh và tràn đầy năng lượng từ nguồn thực phẩm xanh này.

Lượng canxi, vitamin và kali sẽ rất tuyệt vời trong việc điều hòa huyết áp. Đây là ba nhóm chất giúp cân bằng huyết áp, phòng ngừa bệnh cao huyết áp hiệu quả.

Rong nho Vmax có hàm lượng đường rất thấp và nhiều axit béo không no có lợi cho sức khỏe, giúp bảo vệ tim mạch, phòng ngừa các bệnh về tim, sử dụng sản phẩm đúng cách bạn sẽ có một trái tim rất khỏe mạnh.

Toàn bộ dưỡng chất có trong rong nho khô sẽ giúp bạn có một cơ thể khỏe mạnh. Lượng đường ít giúp phòng ngừa bệnh tiểu đường, giảm lượng cholesterol xấu trong máu.

Trong rong nho Vmax có lượng iot nhất định, đây là điều tuyệt vời giúp cung cấp lượng iot thiết yếu, phòng ngừa bướu cổ hoặc các bệnh về tuyến giáp, rụng tóc,…

Rong nho khô chứa axit béo không no, DHA, EPA, ALA,… Những chất này có tác dụng tăng cường thị giác và trí nhớ.

Thông thường, chúng ta chỉ tìm thấy các chất này trong các loại hải sản, cá quý hiếm. Thế nhưng, lại vô cùng tiện lợi khi lượng axit béo không no này có trong rong nho. Bạn hoàn toàn an tâm sử dụng để tăng cường trí nhớ và cải thiện thị giác mà chẳng sợ hóa chất độc hại.

Rong nho khô Vmax có chứa chất chống oxy hóa, chất xơ, vitamin A, C phong phú giúp tăng cường khả năng sản xuất collagen giúp tái tạo và phục hồi da vô cùng hiệu quả.

Chất chống oxy hóa trong rong nho khô có tác dụng trẻ làm hóa làn da, phục hồi da hư tổn, nhiều nếp nhăn, sạm da, tàn nhang, nám da và khô da.

Rong nho khô Vmax chứa rất nhiều khoáng chất và vitamin cần thiết cho cơ thể nhưng hàm lượng axit béo không no rất cao. Bạn hoàn toàn an tâm sử dụng mà không hề lo sợ bị tăng cân.

Loại tảo biển quý hiếm này rất thích hợp với những người bị béo phì. Lượng chất xơ và axit béo không no dồi dào trong rong nho có tác dụng thúc đẩy quá trình tiêu hóa, chuyển hóa chất béo thành năng lượng, thúc đẩy quá trình đốt cháy mỡ thừa được diễn ra.

Rong nho giảm cân là giải pháp mà rất nhiều chị em lựa chọn. Kể cả với những phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú vẫn có thể sử dụng rất an toàn. Rong nho Vmax là một lựa chọn tuyệt vời vừa giúp bảo vệ sức khỏe vừa dưỡng dáng, đẹp da.

Rong nho khô Vmax là sản phẩm được nuôi trồng tự nhiên có hàm lượng dinh dưỡng rất cao. Sản phẩm có thể sử dụng chăm sóc sức khỏe với rất nhiều đối tượng như:

  • Người già cần tăng cường sức khỏe.
  • Người có sức đề kháng yếu, thường bị bệnh.
  • Người bình thường cần cung cấp đầy đủ dưỡng chất.
  • Người ăn kiêng, ăn chay.
  • Phụ nữ mang thai và đang cho con bú.
  • Trẻ em trên 2 tuổi.
  • Người đang bị bệnh tim mạch, ung thư, giảm thị lực và trí nhớ,…
  • Người đang giảm cân.
  • Người muốn làm đẹp da.
  • Trẻ em dưới 2 tuổi.
  • Người bị mẫn cảm với tảo biển.
  • Người bị tiểu đường.

Rong nho khô Vmax chứa hàm lượng dưỡng chất cao giúp bồi bổ sức khỏe nhưng không có nghĩa là được phép sử dụng tùy tiện. Bạn cần cân nhắc sử dụng sản phẩm với liều lượng phù hợp với tình trạng sức khỏe của mình.

Rong nho khô Vmax được nuôi trồng tự nhiên và đóng gói sẵn trong bao bì đảm bảo tiện lợi trong quá trình sử dụng.

Bước 1: Mở bao bì sản phẩm.

Bước 2: Ngâm rong nho khô trong nước sạch khoảng 3 – 5 phút để cọng rong nho được nở và tươi trở lại.

Bước 3: Tiếp tục ngâm trong nho trong nước sạch thứ 2 khoảng 5 – 10 phút, sau đó vớt ra để ráo và chế biến như các loại rong nho tươi.

Sau khi đã ngâm nước thì rong nho khô Vmax giống như rong tươi, bạn có thể chế biến ra nhiều món ăn bổ dưỡng và ngon miệng.

Ngoài chế biến thì rong nho khô Vmax còn có thể sử dụng để làm đẹp bằng cách ngâm qua nước rồi nghiền nát cọng rong, sau đó đắp lên mặt khoảng 15 – 20 phút. Sử dụng kiên trì một thời gian, chị em sẽ nhanh chóng sở hữu làn da đẹp như mơ ước.

Rong nho khô Vmax đã được đóng gói cẩn thận và có thể bảo quản theo 2 cách rất tiện lợi như sau:

  • Bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh tối đa 12 tháng.
  • Bảo quản ở nhiệt độ thường tối đa 6 tháng.

Mẹo nhỏ để rong nho khô Vmax sẽ giữ nguyên chất lượng và độ tươi ngon hơn khi được bảo quản ở nhiệt độ dưới 18ºC.

  • Rong nho được đóng gói ở dạng khô bảo quản được thời gian dài.
  • Sản phẩm sản xuất với công nghệ hiện đại của Nhật Bản.
  • Rong nho được nuôi trồng tự nhiên tại vùng biển sạch, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm.
  • 100% organic, an toàn.
  • Không thuốc trừ sâu, không có hóa chất.
  • Rong nho ít mặn, không nhớt, giữ nguyên dưỡng chất và độ giòn.
  • Sản phẩm có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
  • Sản phẩm chăm sóc sức khỏe, phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng.
  • Hàm lượng dinh dưỡng rất cao, cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết cho cơ thể.
  • Hương vị thơm ngon, dễ dàng sử dụng.
  • Sản phẩm đã qua quá trình đóng gói và xử lý, nếu bảo quản không đúng cách có thể sẽ không được tươi ngon như rong nho tươi.
  • Đây chỉ là sản phẩm chăm sóc sức khỏe, không thể thay thế hoàn toàn cho các loại thuốc chữa bệnh kể đơn của bác sĩ.

So với những điểm ưu việt mà sản phẩm mang lại cho người sử dụng thì đây là những yếu điểm không đáng lo ngại. Bạn vẫn có thể cân nhắc để lựa chọn, chăm sóc, bồi bổ sức khỏe cho cả gia đình.

Chị Hòa: “Rong nho khô Vmax sử dụng rất tiện lợi, rong được đóng gói cẩn thận nên bảo quản được rất lâu. Chỉ cần ngâm qua nước là tương tự như rong nho tươi, rất dễ ăn và ngon miệng”.

Anh Khải: “Cả gia đình tôi ai cũng thích ăn rong nho Vmax. Rong có mùi thơm, đậm đà hương vị biển, không nhớt, ít mặn, có thể chế biến được rất nhiều món ngon, bổ dưỡng”.

Anh Hoàng: “Tôi rất thích ăn rong nho khô Vmax. Sản phẩm chất lượng, có mùi vị thơm ngon, giòn. Đóng gói dưới dạng khô nên bảo quản được lâu, rất tiện lợi”.

Chị An: “Mặc dù là rong nho khô nhưng khi ngâm qua nước thì cọng rong nở ra như rong nho tươi, ăn vẫn có độ giòn ngọt đặc trưng. Hầu như rong nho khô Vmax không thiếu trong thực đơn của cả gia đình tôi”.

Chị Ý: “Ban đầu cứ nghĩ rong nho khô sẽ không được giòn và ngon. Nhưng dùng rong nho Vmax thì mình lại thấy khác, khi ngâm quá nước thì rong nho khô Vmax lại rất giòn và giữ được mùi vị đặc trưng, rất ngon miệng và vô cùng tiện lợi”.

Theo tìm hiểu của Zicxa Việt Nam, rong nho khô được bán với mức giá khá ưu đãi, khoảng 160.000 VNĐ/1 hộp (10 gói).

Một số nơi sẽ bán với mức giá rẻ hơn hoặc tặng kèm sốt mè đen. Tùy vào nhu cầu sử dụng, bạn chọn mua tại nơi uy tín với mức giá tốt nhất.

Bạn có thể mua rong nho Vmax với mức giá rẻ hơn bằng cách chọn mua combo, vừa tiết kiệm chi phí vừa sử dụng cho cả gia đình.

Với một mức giá và chất lượng như vậy thì rong nho khô Vmax sẽ là một trong những lựa chọn tuyệt vời mà bạn có thể cân nhắc lựa chọn để bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình.

Rong nho khô Vmax hiện đang được phân phối khá phổ biến trên thị trường Việt Nam và các nước Châu Âu. Nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều đại lý phân phối trực tiếp chính hãng, đa phần là bán tại các kênh mua sắm trực tiếp.

Việc mua rong nho trên các trang trực tuyến rất tiện lợi, tiết kiệm được nhiều thời gian nhưng vẫn không đảm bảo được chất lượng và sự uy tín. Để tránh khỏi tình trạng “tiền mất tật mang”, bạn hãy tìm hiểu thật kỹ nơi dự định mua và chất lượng rong nho.

Nếu có thể, bạn nên mua rong nho khô Vmax tại các đại lý hoặc trang website phân phối chính hãng, vừa mua được với mức giá tốt, nhiều ưu đãi hấp dẫn vừa đảm bảo chất lượng và tư vấn chuyên nghiệp nhất.

【#7】Rong Nho: Nguồn Gốc, Giá Trị Dinh Dưỡng, Tác Dụng, Cách Chế Biến

Rong nho sở hữu hàm lượng dinh dưỡng cao, mang nhiều tác dụng tích cực đối với sức khỏe người sử dụng, không chỉ góp phần bồi bổ cơ thể, nâng cao sức khỏe, hỗ trợ cải thiện một số căn bệnh thời đại như bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư,… mà còn giúp làm đẹp da, chăm sóc sắc đẹp một cách tự nhiên và an toàn.

Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam vẫn còn ít người biết đến những tác dụng tuyệt vời của rong nho, không biết cách sử dụng rong nho như thế nào để có thể tận dụng tối đa những tác dụng mà nó mang đến.

Rong nho (tên khoa học: Caulerpa lentillifera) là một loài rong tảo biển thuộc họ Caulerpaceae, có thể được sử dụng như một loại rau nhưng lại sở hữu giá trị dinh dưỡng cao hơn rất nhiều so với các loại rau củ quả thông thường.

Tên rong nho bắt nguồn từ hình dạng tương tự như chùm nho của loại thực phẩm này. Người Anh gọi rong nho là trứng cá xanh (green caviar), còn người Nhật Bản gọi nó là nho biển (海ぶどう, umi-budō), trong tiếng Ấn Độ có nghĩa là अंगूर समुद्री शैवाल (angoor samudree shaivaal)

Trong tự nhiên, rong nho phân bố ở vùng Đông Nam Á, Nhật Bản (xung quanh đảo Okinawa) và các đảo khu vực Thái Bình Dương, những vùng vịnh kín sóng, nước biển trong và có độ mặn cao.

Năm 2006, các nhà khoa học thuộc Viện Hải dương học Nha Trang đã tìm thấy rong nho ở đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, loại rong nho được tìm thấy ở đây lại có kích thước nhỏ hơn rất nhiều so với rong nho ở Nhật Bản hay Philippines. Hiện nay, Việt Nam cũng đã thành công trong việc nuôi trồng loại rong nho có giống từ Nhật Bản tại Đông Hà, Hải Ninh, Hòn Khói, Khánh Hòa.

Rong nho là một loại tảo biển có hình dáng giống như trứng cá nhưng có màu xanh và mọc thành từng chùm trong nước biển tương tự như chùm nho.

Rong nho có cấu tạo bao gồm phần thân và nhánh gắn vào đá, cắt hay nền đáy khác thông qua các sợi rễ nhỏ màu trắng. Từ thân, nhánh của rong nho sẽ mọc ra các lá có hình tròn với đường kính 2mm. Bên trong lá rong nho chứa đầy chất dịch, dạng gel.

Rong nho có mùi vị khá giống nước muối, mềm, giòn và ngon, có thể sử dụng để chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn khác nhau. Ngoài ra, rong nho có vị tanh nhẹ nên khi sơ chế bạn cần ngâm qua đá lạnh để khử vị tanh.

Rong nho sinh trưởng và phát triển thuận lợi nhất trong điều kiện nhiệt độ từ 22- 28 độ C. Môi trường nhiệt độ dưới 22 độ C có thể khiến rong nho ngừng phát triển.

Độ mặn thích hợp để rong nho phát triển từ từ 30% trở lên, pH từ 7.5- 8 đồng thời tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời.

Trong điều kiện môi trường thuận lợi, rong nho tăng trưởng khá nhanh, chỉ sau khoảng 25- 30 ngày nuôi trồng là có thể thu hoạch. Lúc này, kích thước rong nho có thể đạt từ 5cm trở lên.

Hiện nay trên thị trường rong nho được chia thành 2 loại chính bao gồm rong nho tươi và rong nho tách nước (hay còn được gọi rong nho khô).

Là loại rong nho được thu hoạch và bảo quản lạnh ngay sau đó, có thời sử dụng tương đối ngắn. Thời gian thích hợp để sử dụng rong nho là trong vòng 3-5 ngày kể từ khi thu hoạch. Với rong nho tươi, bạn nên bảo quản bên ngoài tủ lạnh vì rong nho còn sống và cần quang hợp.

Bên cạnh đó, với công nghệ bảo quản hiện nay thì một số đơn vị đã sản xuất được rong nho tươi đông lạnh. Vẫn là rong nho tươi, còn nguyên nước nhưng được cấp đông. Mặc dù giá trị dinh dưỡng và độ thơm ngon, tươi giòn không bằng rong tươi nhưng thời gian sử dụng lại dài hơn, có thể lên đến 3-4 tuần.

Là loại rong nho đã được sơ chế để tách nước, được đóng gói trong túi chân không, cho thời gian sử dụng lên đến 6-8 tháng trong điều kiện không cần trữ lạnh. Với rong nho khô, khi chế biến bạn sẽ phải ngâm nước để rong nở và ngấm nước. So với rong nho tươi, rong nho khô vẫn giữ được nguyên độ giòn, ngon, tuy nhiên giá trị dinh dưỡng sẽ giảm bớt hơn.

Theo kết quả phân tích của phòng Hóa phân tích, phân viện khoa học vật liệu Nha Trang, rong nho sở hữu hàm lượng cao các dưỡng chất tốt cho sức khỏe người sử dụng. Cụ thể:

– Hàm lượng cao các khoáng đa lượng Ca, Mg, K, Na, P đặc biệt các khoáng đa lượng cần thiết cho cơ thể là Canxi (chiếm 2,1%) và Magie (chiếm 1,2 %)

– Rong nho được đánh giá là một trong số ít thực phẩm chứa hàm lượng Iod cao (470µg.g-1, tương đương với hàm lượng Iod trong các loại rong mơ- Sargassum và cao hơn nhiều lần so với hàm lượng Iod có trong các loại thực phẩm khác, bao gồm cả những thực phẩm có nguồn gốc từ biển như muối hạt : 5.5 µg.g-1, cá tươi : 2.4 µg.g-1 , cá khô 13.6 µg.g-1,mắm ruốc 3-15 µg.g-1, nước mắm : 9.5 µg.g-1, rau cải xoong : 0.45 µg.g-1)

– Rong nho có chứa Protein (chiếm 7,4%), Lipid (1,2%). So với nhiều thực phẩm khác, hàm lượng protein có trong rong nho chưa phải là vượt trội, nhưng tương tự như các loại rong biển khác, trong rong nho có chứa khoảng 20 axit amin, trong đó có 10 loại axit amin cần thiết cho con người như Histidine, Isoleusine, Leusine, Methionine, Lysine, Phenylalannne, Trypthophan, Threonine, Valine, và Glutamic acid, Aspartic acid…

– Hàm lượng cao các vitamin thiết yếu cho cơ thể con người như vitamin A, vitamin C. Bên cạnh đó là hàm lượng các axit béo không bão hòa AA, LA, DHA, EPA và ALA

– Đặc biệt trong rong nho còn chứa Fucoidan, một chuỗi phân tử cao Polysaccharide với thành phần chính là Sulfate Fucose và cùng các Galactose, Manose, Xylove, Axit Uronic,… được xem như một chất chống ung thư tự nhiên.

Sở hữu hàm lượng dinh dưỡng cao, điều mà không phải thực phẩm tự nhiên nào hiện nay cũng có, rong nho được đánh giá có hiệu quả cao:

Rong nho với hàm lượng cao các dưỡng chất có lợi cho sức khỏe sẽ là thực phẩm tuyệt vời giúp bồi bổ cơ thể, nâng cao hệ miễn dịch, phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh tật.

Ngoài ra, nguồn dinh dưỡng có rong nho còn giúp gia tăng các hoạt động tổng thể, từ đó giúp tăng cường quá trình trao đổi chất, chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ cho người sử dụng.

Hàm lượng protein, canxi và axit béo không bão hòa có trong nhóm omega 3 (DHA, EPA, ALA) dồi dào có trong rong nho được đánh giá có khả năng mang đến tác dụng kháng viêm cũng như làm giảm các biểu hiện của bệnh xương khớp.

Sử dụng rong nho bồi bổ sức khỏe không chỉ giúp bạn có một hệ xương khớp dẻo dai hơn mà còn góp phần ngăn ngừa, làm giảm nguy cơ loãng xương khi tuổi tác ngày càng tăng cao.

Hàm lượng sắt và vitamin A có trong rong nho cũng là những dưỡng chất cần thiết cho sức khỏe đôi mắt của bạn, giúp tăng cường chức năng hệ thần kinh thị giác, cải thiện thị lực cũng như phòng ngừa các vấn đề về mắt như khô mắt, quáng gà,…

Rong nho với các axit béo không bão hòa AA, LA, DHA, EPA và ALA có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu, tăng tính co giãn của mạch máu.

Ngoài ra, các axit béo có trong rong nho còn góp phần ngăn ngừa quá trình oxy hóa, duy trì cấu trúc collagen của động mạch, từ đó giúp ngăn ngừa các bệnh lý về tim mạch như nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch, đột quỵ. Duy trì một hệ tim mạch khỏe mạnh cho người sử dụng.

Với hàm lượng iod cao hơn hẳn các loại thực phẩm khác, bao gồm cả những thực phẩm có nguồn gốc từ biển, rong nho chắc chắn là một trong những thực phẩm không thể bỏ qua trong chế độ ăn uống của người bệnh bướu cổ hay chế độ ăn uống giúp phòng ngừa, cải thiện tình trạng bướu cổ hiệu quả.

Vitamin C có trong rong nho được đánh giá có khả năng kiểm soát lượng đường và hoạt động của các gốc tự do trong cơ thể, làm giảm sự tích tụ sorbitol nội bào đồng thời ức chế sự gắn kết của glucose và protein.

Thành phần Fucoidan có trong rong nho được đánh giá có khả năng phòng ngừa cũng như cải thiện sức khỏe cho người bệnh ung thư.

Một số nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chỉ ra rằng Fucoidan có khả năng khiến các tế bào ung thư bước vào cơ thể tự tiêu diệt, phân hủy. Ngoài ra, Fucoidan cũng được chứng minh có khả năng tăng cường miễn dịch và làm giảm lượng cholesterol trong máu.

Rong nho với hàm lượng calo và đường thấp có thể giúp các vi khuẩn trong hệ tiêu hóa dễ dàng tiêu hóa thức ăn tốt hơn đồng thời thúc đẩy khả năng bài tiết của cơ thể. Đây cũng chính là lý do tại sao rong nho thường được khuyến khích sử dụng cho tình trạng táo bón, tiêu hóa kém ở cả người lớn và trẻ em.

Rong nho chứa hàm lượng thấp nhưng lại sở hữu hàm lượng cao canxi, sắt, kẽm, protein thực vật, vitamin C cũng như axit béo không bão hòa, đặc biệt phù hợp với những bạn đang theo chế độ ăn kiêng, giảm cân muốn bổ sung đầy đủ dinh dưỡng nhưng lo ngại về tăng cân thừa cân béo phì.

Hàm lượng chất béo trong rong nho có tác dụng bảo vệ màng tế bào, cải thiện tính đàn hồi của thành mạch máu, từ đó góp phần làm giảm các biểu hiện khô da.

Bên cạnh đó, các thành phần dưỡng chất có trong rong nho cũng góp phần tăng cường khả năng sản xuất collagen và chất chống oxy hóa, từ đó giúp làm đẹp da, tóc cũng như làm chậm quá trình lão hóa, nuôi dưỡng làn da tươi trẻ và căng mịn hơn.

Rong nho là thực phẩm bổ dưỡng cho tất cả các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ nhỏ. Các axit béo không no có trong rong nho như DHA, EPA, ALA đóng vai trò quan trong trọng quá trình phát triển trí não, hệ thần kinh, cơ bắp và thị giác ở trẻ nhỏ.

Ngoài ra, hàm lượng vitamin A, vitamin C, kẽm, sắt, canxi và chất đạm dồi dào trong rong nho cũng mang đến nền nàng tối ưu cho sự phát triển và hoàn thiện khả năng miễn dịch của trẻ nhỏ. Ngoài ra, việc sử dụng rong nho thường xuyên còn giúp bé ăn ngon miệng hơn, tăng khả năng hấp thụ các dưỡng chất của cơ thể.

Như đã nói ở trên, hiện nay trên thị trường có 2 loại rong nho chính là rong nho tươi và rong nho khô. Hai loại khác nhau nên cũng có sự khác biệt trong việc chế biến.

Đối với rong nho tươi, bạn có thể rửa sạch với nước ngọt rồi ngâm trong tô nước đá để làm giảm bớt vị tanh vốn có của rong.

Rong nho sau khi ngâm với nước sẽ bị teo lại sau khoảng 30s nên các bạn chú ý không bỏ hết rong nho vào tô mà chỉ nên lấy một lượng rong nho đủ ăn. Vừa đảm bảo độ giòn nho cho rong nho vừa tránh lãng phí.

Đối với rong nho khô, đầu tiên bạn cần ngâm rong trong tô nước sạch khoảng 3-5 phút để rong từ từ nở ra và tươi trở lại.

Sau đó, bạn đổ bỏ phần nước vừa ngâm rong đi, cho rong nho vào tô nước đá lạnh, tiếp tục ngâm trong khoảng 3 phút. Vừa tương tự như khi chế biến rong nho tươi, bạn ăn bao nhiêu thì ngâm bấy nhiêu, tránh lãng phí.

Rong nho sau khi đã ngâm rong bạn có thể dùng trực tiếp như một loại rau xanh ăn cùng với các loại nước chấm như xì dầu, tương ớt, mù tạc,… hoặc cũng có thể ăn như một món ăn kèm với các loại hải sản như tôm, mực,… đều ngon và hấp dẫn.

Tương như cách chế biến thì với 2 loại rong nho khác nhau chúng ta cũng có những cách bảo quản riêng biệt, rong nho được bảo quản đúng cách sẽ kéo dài được hạn sử dụng.

– Đối với rong nho tươi bạn nên bảo quản ở nơi thoáng mát, không bảo quản trong tủ lạnh và tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời.

– Đối với rong nho khô thì các bạn có thể bảo quản trong ngăn mát của tủ lạnh.

Rong nho có vị mằn mặn, ngòn ngọt, giòn giòn cùng chút tanh của biển. Nếu e ngại vị tanh của rong nho thì khi chế biến bạn chỉ cần ngâm rong nho trong đá lạnh khoảng 3-4 phút thì sẽ không còn vị tanh nữa.

– Đối với rong nho tươi, thời gian thích hợp để sử dụng là trong vòng 3-5 ngày kể từ khi thu hoạch. Với rong nho tươi đông lạnh thì bạn có thể sử dụng trong vòng từ 3-4 tuần.

– Đối với rong nho khô, thời gian sử dụng lên đến 6-8 tháng trong điều kiện không cần trữ lạnh.

Ngoài tuỳ từng sản phẩm rong nho cụ thể, đơn vị sản xuất sẽ quy định về thời gian sử dụng cụ thể, các bạn chú ý thông tin in trên bao bì để xác định chính xác hạn sử dụng rong nho phù hợp.

Rong là sản phẩm tốt cho sức khỏe có thể cho cả trẻ nhỏ, người trưởng thành, người già lớn tuổi hay phụ nữ mang thai, đang cho con bú. Nhưng điều này cũng không có nghĩa là ai cũng có thể sử dụng rong nho.

– Người đang bị mụn nhọt:

Rong nho tốt cho sức khỏe nhưng nó cũng có thể khiến nội tiết trong cơ thể bạn bị mất cân bằng, khiến tình hình mụn nhọt tăng nặng thêm và khó điều trị. Vậy nên trong thời gian bị mụn nhọt và đang điều trị tốt nhất bạn không nên sử dụng rong nho để tránh tình trạng mụn tăng nặng hơn.

– Người bệnh cường giáp:

Do hàm lượng iod trong rong nho ở mức khá cao có thể làm tình trạng bệnh cường giáp nghiêm trọng hơn. Các chuyên gia sức khỏe cũng khuyến cáo người bệnh cường giáp không nên sử dụng rong nho nói riêng và các loại rong biển nói chung.

Rong nho, thực phẩm bổ dưỡng mang nhiều giá trị sức khỏe cho người sử dụng, phù hợp với mọi thành viên trong gia đình, từ trẻ nhỏ đến người lớn. Không những sở hữu giá trị dinh dưỡng cao, rong nho còn sở hữu hương vị thanh mát, giòn ngon có thể kết hợp với nhiều món ăn khác nhau, làm phong phú bữa ăn gia đình, tăng cường sức khỏe cho mọi người.

【#8】90% Bố Mẹ Nhầm Lẫn Giữa Định Nghĩa Suy Dinh Dưỡng Và Còi Xương Ở Trẻ

Chi tiết định nghĩa suy dinh dưỡng ở trẻ em theo chuẩn WHO

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng với Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc đã đưa ra định nghĩa suy dinh dưỡng ở trẻ như sau: “Suy dinh dưỡng là hậu quả để lại do bị thiếu hụt trầm trọng lượng dinh dưỡng cần được cung cấp vào cơ thể trong một thời gian dài. Hoặc do các yếu tố bệnh tật đã tác động đến quá trình tiêu hóa của cơ thể”.

Hiểu đơn giản hơn về định nghĩa suy dinh dưỡng là việc cơ thể thiếu hụt các chất dinh dưỡng thiết yếu khiến cho các hoạt động tăng trưởng bị ảnh hưởng tiêu cực.

Suy dinh dưỡng thường gặp ở những trẻ từ 6 tháng tuổi đến 3 tuổi. Bởi lẽ, đây là giai đoạn nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể của trẻ rất cao. Cơ thể của trẻ giai đoạn này chưa phát triển, đang dần hoàn thiện. Đặc biệt, sức đề kháng non nớt nên vô cùng nhạy cảm với bệnh tật.

Suy dinh dưỡng ở trẻ là một vấn đề nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu như không có giải pháp điều trị đúng đắn. Do vậy, các bậc cha mẹ luôn phải nhờ đến các sản phẩm dinh dưỡng hỗ trợ điều trị suy dinh dưỡng ở trẻ. Đồng thời, cải thiện chế độ ăn uống, thực đơn cho trẻ.

Định nghĩa suy dinh dưỡng ở trẻ và còi xương ở trẻ khác nhau như thế nào?

Định nghĩa suy dinh dưỡng ở trẻ đã chỉ rõ rằng: Suy dinh dưỡng là do thiếu hụt chất dinh dưỡng. Vì thế, trẻ suy dinh dưỡng thường có chiều cao, cân nặng thấp hơn so với các bé cùng trang lứa.

Biểu hiện của bé suy dinh dưỡng dễ thấy nhất là gầy còm, chiều cao và cân nặng hạn chế. Biểu hiện tiếp theo đó là xanh xao, không hoạt bát, giác mạc bị khô, dễ mắc bệnh. Bé bị suy dinh dưỡng có thể do chế độ ăn thiếu hụt chất dinh dưỡng cần thiết, hoặc cũng có một lý do phổ biến khác đó là do bé bị biếng ăn lâu ngày.

Còi xương là bệnh về rối loạn xương. Nó xảy ra ở những bé bị thiếu canxi, vitamin D và phốt pho. Bệnh còi xương thường mắc ở những bé từ 6 tháng tuổi đến 36 tháng tuổi. Biểu hiện của bé bị còi xương là xương bị mềm, yếu, tay chân mềm yếu. Một số trường hợp bé bị còi xương nặng thường có xương bị dị dạng.

Bé còi xương là do không được bổ sung các món trứng, sữa, cá, hải sản. Những bé không tắm nắng, không được cấp đủ vitamin D đều có thể mắc bệnh này. Cũng có một lý do trẻ mắc bệnh còi xương nữa là do di truyền.

Nếu bố mẹ vẫn chưa hiểu rõ về định nghĩa suy dinh dưỡng và còi xương ở trẻ, hãy theo dõi bảng sau:

Xuất hiện ở cả trẻ gầy và trẻ mập mạp

Thường ở các bé gầy và thấp

Thường gặp ở trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi

Gặp ở mọi lứa tuổi

Trẻ sơ sinh có thóp rộng, lâu đóng, đầu bẹp

Suy dinh dưỡng có thể bao gồm hoặc không có các dấu hiệu của còi xương

Bé khó ngủ, trằn trọc, hay ra mồ hôi trộm

Có thể không bị khó ngủ

Xương dòn, dễ gãy, chân bị vòng kiềng

Gầy gò, thấp bé, chân tay có thể không bị biến dạng

Cơ nhão dẫn đến chậm kỹ năng vận động

Chậm kỹ năng vận động và khả năng nhận thức

Trẻ bị suy dinh dưỡng là do đâu?

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng chỉ ra trong tài liệu định nghĩa dinh dưỡng ở trẻ như sau: “Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến việc bé bị suy dinh dưỡng. Đó có thể là do bé thiếu ăn, cơ thể yếu, chán ăn, có bệnh tiêu hóa… Thế nhưng, nguyên nhân căn bản nhất là do sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn. Cách chăm sóc dinh dưỡng trong khẩu phần ăn không thích hợp đều khiến bé thiếu chất. Từ đó dẫn đến việc trẻ yếu còi, suy dinh dưỡng.”

Suy cho cùng, đối với việc suy dinh dưỡng ở trẻ, vai trò của bố mẹ góp phần quan trọng. Nguồn sữa và khẩu phần ăn đều do bố mẹ làm chủ cho con. Nguồn sữa cung cấp cho bé phải là nguồn sữa có đủ dưỡng chất. Khẩu phần ăn của bé phải thật khoa học và có đủ các chất cần thiết. Có như vậy, trẻ mới tránh được nguy cơ dinh dưỡng.

Nếu mẹ còn chủ quan trong cách trị suy dinh dưỡng và chăm sóc trẻ thì thật đáng quan ngại.

Làm sao để trị suy dinh dưỡng ở trẻ?

Hiện nay đã có rất nhiều giải pháp và sản phẩm hỗ trợ, thuốc trị suy dinh dưỡng cho trẻ em. Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập, giai đoạn bị suy dinh dưỡng thường dưới 1 – 5 tuổi. Do vậy cơ thể của bé yếu và việc nạp nhiều thuốc là không tốt. Việc bày tỏ sự thương yêu và cũng là cách trị suy dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ đó là mẹ phải xây dựng chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng cho con kết hợp với các sản phẩm bổ sung các vi chất dinh dưỡng có nguồn gốc từ tự nhiên. Trẻ suy dinh dưỡng cần được bổ sung các chất như kẽm, sắt, vitamin D, lysine… Ngoài ra, mẹ còn cần bổ sung các loại thực phẩm chất xơ để cải thiện tình hình cho bé. Một số loại thực phẩm lợi khuẩn đường ruột cũng rất tốt cho bé.

Sản phẩm Scumin của Viện Dinh dưỡng VHN Bio là một gợi ý hoàn hảo cho việc phòng và bù thiếu vi chất dinh dưỡng thiết yếu cho trẻ, phòng và hỗ trợ giải quyết vân đề suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ. Đây là sản phẩm được nghiên cứu và sản xuất theo quy trình công nghệ Bio Organic, theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, mang đến chất lượng cao cho sản phẩm.

Scumin chứa nhiều khoáng lượng, dưỡng chất cần cho trẻ suy dinh dưỡng: Lysine, Kẽm, Selen, Đồng, Mangan…. Tất cả những khoáng vi lượng, dưỡng chất này có nguồn gốc 100% tự nhiên, an toàn lành tính, hấp thu cao, sinh khả dụng cao nên trẻ dễ dàng được bù đặp thiếu hụt, đặc biệt hiệu quả với các bé có khả năng hấp thu kém hay suy dinh dưỡng, biếng ăn lâu ngày.

Đã có rất nhiều mẹ sử dụng Scumin cho bé yêu của mình, kết quả chứng biếng ăn, chậm tăng cân của trẻ đã được cải thiện rõ rệt, vậy nên mẹ hoàn toàn có thể yên tâm về mức độ an toàn và hiệu quả của sản phẩm này.

Để tìm hiểu kỹ hơn về sản phẩm Scumin, mẹ vui lòng liên hệ tới tổng đài chăm sóc sức khỏe 0247.1060.666 để gặp bác sĩ/ dược sĩ của Viện Dinh dưỡng VHN Bio hỗ trợ tư vấn miễn phí. Hoặc tìm hiểu thêm thông qua website: http://vhnbio.vn / Fanpage: Dinh dưỡng thông minh VHN Bio. Scumin là sản phẩm được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng.

【#9】Một Số Khái Niệm Về Dinh Dưỡng, Thực Phẩm Và Hoạt Động Thể Lực

Năng lượng vào cơ thể dưới dạng hóa năng của thức ăn. Thức ăn khi đốt cháy sinh năng lượng: 1g gluxít sinh ra 4 kcal, 1g chất béo sinh 9kcal, 1g protein sinh 4kcal, 1g rượu (alcohol, ethanol) sinh ra 7kcal. Năng lượng cung cấp cho chuyển hóa cơ sở và hoạt động thể lực, cho phép cơ thể sinh trưởng, phát triển, sinh sản và cho con bú. Tổng số năng lượng tiêu hao bao gồm tiêu hao cho chuyển hóa cơ sở, hoạt động thể lực, và đáp ứng chuyển hóa đối với thực phẩm. Cơ thể sẽ tăng cân hay giảm cân xảy ra khi năng lượng ăn vào vượt quá hay ít hơn năng lượng tiêu hao.

1.1 Năng lượng ăn vào:

Là tổng số calori được cung cấp hàng ngày do ăn vào hoặc được truyền vào cơ thể. Năng lượng ăn vào giúp cho việc thực hiện các chuyển hoá trong cơ thể, cho hoạt động thể lực, giúp cơ thể tăng trưởng và phát triển.

1.2. Năng lượng tiêu hao:

Bao gồm năng lượng tiêu hao cho chuyển hoá cơ bản và cho hoạt động thể lực.

Năng lượng tiêu hao cho chuyển hoá cơ bản là năng lượng cần thiết để duy trì sự sống của con người trong điều kiện nhịn đói, hoàn toàn nghỉ ngơi và nhiệt độ môi trường sống thích hợp.

1.3 Cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao

Khi năng lượng ăn vào nhiều hơn năng lượng tiêu hao sẽ dẫn đến tích lũy, dự trữ năng lượng, lâu dần gây ra thừa cân, béo phì.

Khi năng lượng ăn vào ít hơn năng lượng tiêu hao sẽ dẫn đến tình trạng cân bằng âm tính gây gầy mòn, giảm cân.

2. Các loại chất dinh dưỡng 2.1. Gluxít (Carbohydrates)

Gluxít (carbohydrate) cung cấp năng lượng chủ yếu trong bữa ăn, chiếm đến 60-70% tổng số năng lượng trong bữa ăn.

Ngũ cốc, khoai củ và các sản phẩm chế biến từ các dạng này chứa nhiều gluxit (carbohydrates).

2.2. Chất béo (lipid)

Chất béo trong chế độ ăn được chia thành 2 loại bao gồm mỡ và dầu, khác nhau bởi cấu trúc hóa học của các acid béo. Chất béo có đậm độ năng lượng cao.Chất béo có nhiều trong các thực phẩm như mỡ động vật (mỡ lợn, gà) mỡ cá, bơ, sữa toàn phần, dầu thực vật, các hạt nhiều dầu như lạc, vừng…

2.3. Chất đạm (Protein)

Protein là phân tử hữu cơ lớn được tạo bởi các acid amin, sắp xếp thành từng chuỗi. Nhiều protein là enzyme hoạt hóa các phản ứng hóa học, đóng vai trò sống còn trong các chuyển hóa. Protein được tiêu hóa thành polypeptide, các acid amin sau đó được hấp thu vào máu. Cơ thể có thể tạo ra một số acid amin, nhưng có 1 số acid amin không tổng hợp được do vậy gọi là acid amin cần thiết, cần phải được cung cấp từ thức ăn và đồ uống. Nguồn protein trong thực phẩm bao gồm thịt, cá các loại, trứng, sữa hoặc từ nguồn protein trong thực vật như từ các loại hạt giàu đạm.

2.4. Vi chất dinh dưỡng

Vi chất dinh dưỡng là các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn cần thiết với lượng nhỏ so với các chất carbohydrate hay protein hay chất béo. Chúng bao gồm các vitamin, các chất khoáng và các chất vi khoáng. Khi thiếu các chất này sẽ sinh ra bệnh.

Các chất hóa thực vật (phytochemical) là các chất có hoạt tính sinh vật từ các thực phẩm nguồn gốc thực vật, không được xác định (coi là) các chất dinh dưỡng vì nó không cần thiết với ý nghĩa sống còn đối với cơ thể. Không giống như vitamin và chất khoáng, người ta không bị mắc bệnh nếu chế độ ăn có lượng chất hóa thực vật thấp. Tuy nhiên, các chất này dường như có vai trò đối với phòng bệnh và có lợi cho sức khỏe.

Nhiều loại chất hóa thực vật có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, ung thư, chống vi sinh vật trong các thực nghiệm, nhưng đến nay vẫn chưa rõ có tác dụng trên người. Nhiều loại rau, quả, đậu đỗ, rau gia vị, trà có hàm lượng cao các chất hóa thực vật.

2.5. Chất xơ (dietary fiber)

Chất xơ là các thành phần của thành tế bào thực vật như là các polysaccharide không phải là tinh bột hoặc là các chất carbohydrate không tiêu hóa được ở ruột non vào đến đại tràng.

2.6. Chất bổ sung (supplement)

Các loại vitamin, khoáng, vi khoáng và các chất có hoạt tính sinh vật học được làm thành thuốc bổ sung, sẵn có trên thị trường dưới dạng thuốc viên hoặc bột. Nhiều loại chất bổ sung được xếp vào loại thực phẩm, một số loại xếp vào thuốc

3. Khái niệm chung về các loại thực phẩm 3.1. Ngũ cốc, khoai củ và các sản phẩm chế biến (cereals and tubes)

Ngũ cốc là dạng hạt (seed) của các loại cây cỏ (grass) và là năng lượng dự trữ, bao gồm các loại gạo lúa mì, ngô, kê, lúa mạch.

Trong thành phần của ngũ cốc và khoai củ, tinh bột chiếm đến 70% trọng lượng của phần hạt. Ngũ cốc đồng thời cũng chứa lượng đáng kể protein, chất béo, vitamin nhóm B, vitamin E, tocotrienolss, sắt và các yếu tố vi lượng khác, cũng như các chất hóa thực vật. Phần mầm chứa dầu, protein, và chất xơ. Tuy nhiên thành phần này thay đổi tùy thuộc vào mức độ xay xát của ngũ cốc

Gạo xay xát kỹ Phần lớn gạo đang được sử dụng là gạo xay xát kỹ. Xay xát kỹ làm mất chất xơ, dầu, và các vitamin nhóm B cũng như mất đi 25% lượng protein của gạo. Ở nhiều nước người ta bổ sung vào ngũ cốc xay xát kỹ như bổ sung sắt, vitamin nhóm B vào bột mỳ. Gạo xay xát kỹ cũng có chỉ số đường huyết cao hơn.

Aflatoxin: là các chất độc do các loại nấm mốc nhất định tiết ra. Nấm mốc bị nhiễm vào thực phẩm thường bị phá hủy bởi nhiệt khi nấu nhưng độc tố vẫn tồn tại. Dạng tự nhiên của aflatoxin được Trung tâm quốc tế về nghiên cứu ung thư phân loại là yếu tố gây ung thư cho người (nhóm 1); các loại độc tố nấm khác như fumonisins cũng đang nghi ngờ là yếu tố gây ung thư. Ở châu Âu, Ủy ban chuyên gia của FAO/WHO về chất ô nhiễm và phụ gia thực phẩm khuyến nghị nồng độ aflatoxin trong thực phẩm cần giữ càng thấp càng tốt. Các thực phẩm chủ yếu bị nhiễm aflatoxin là tất cả các loại ngũ cốc bao gồm bột mì, gạo, ngô và nhóm đậu đỗ đáng chú ý là lạc. Thức ăn cho gia súc có thể bị nhiễm và sau đó có thể bị bài tiết vào sữa hoặc tích lũy ở các mô.

Khoai củ và các sản phẩm: Khoai củ chứa ít tinh bột hơn, tinh bột chiếm từ 15-20% ở khoai lang, đến 25-30% ở sắn. Nấu khoai lang tạo ra vị ngọt vì 75% tinh bột được chuyển hóa thành maltose. Khoai củ khi ăn cả vỏ làm tăng lượng chất xơ. Khoai củ không có nhiều protein nhưng cũng chứa một số chất dinh dưỡng như khoai tây có vitamin C, khoai lang có chứa carotenoids, một số loại khoai khác chứa nhiều vitamin B6, chất xơ, mangan.

3.2. Rau, quả

Rau là phần ăn được của các loại thực vật, thường bao gồm cả nấm. Rau chia thành rau lá màu xanh thẫm như rau muống, mồng tơi và các loại rau họ cải bao gồm bắp cải, súp lơ và các loại rau họ hành (allium) như tỏi, hành, cần tỏi tây.

Quả là phần chứa hạt của cây, nhưng chỉ kể đến loại ăn được như táo, chuối, dâu, xoài, dưa hấu và cả loại quả chua như cam, và cả quả tươi và khô.

Nói chung, rau quả chứa nhiều vitamin, các chất khoáng, chất xơ và các chất hoạt tính sinh học như các chất hóa thực vật. Một số loại rau quả có chứa thành phần có lợi cho sức khỏe. Ví dụ các loại rau họ cải chứa glucosinolate, rau họ hành chứa inulin. Các rau lá màu xanh là nguồn folate, cá chua, gấc chứa lycopene. Rau quả được xếp vào các thực phẩm có đậm độ năng lượng thấp trừ một số ngoại lệ như quả bơ.

3.3. Đậu đỗ, các loại hạt (hạt giàu đạm, giàu béo)

Các loại cây họ đậu có hạt khô, ăn được thường gọi là đậu đỗ, bao gồm cả lạc, có loại đậu đỗ ăn tươi và có loại dùng nảy mầm, làm giá đỗ. Đậu đỗ các loại chứa nhiều protein nhất trong các loại thực phẩm nguồn gốc thực vật. Các thực phẩm này cũng có nhiều carbohydrate và chất xơ, lượng chất béo thấp trừ đậu tương và lạc. Hạt là phần hạt ăn được, được bao bọc bởi vỏ cứng. Các loại hạt chứa tương đối nhiều protein và chất béo, do vậy đây là nguồn thực phẩm có đậm độ năng lượng cao. Hầu hết các loại hạt đều chứa chủ yếu là acid béo không no một nối đôi, trừ dừa chứa nhiều acid béo no, các loại khác cũng chứa nhiều acid béo không no nhiều nối đôi. Hạt cũng có nhiều chất xơ, đặc biệt khi ăn cùng với vỏ, hạt cũng chứa nhiều chất vitamin, khoáng đặc biệt là vitamin nhóm B, vitamin E, folate và vỏ của hạt chứa các hợp chất polyphenol.

3.4. Rau gia vị, gia vị

Thường làm tăng mùi vị của thức ăn, có nguồn gốc thực vật gồm nhiều loại như dùng từ lá, hoặc củ như gừng, hoặc vỏ như quế, hoặc hạt như mù tạt hoặc quả như hạt tiêu. Các loại này chứa nhiều hợp chất thơm thương tan trong mỡ hơn là tan trong nước.

3.5. Dầu, mỡ, bơ

Chất béo trong thực phẩm do triglyceride tạo thành. Acid béo được phân loại thành acid béo no và không no. Dầu mỡ có chứa trong các thực phẩm nguồn gốc động vật và thực vật, và trong các thực phẩm chế biến sẵn, dùng để nấu ăn. Mỡ động vật thường dùng là mỡ lợn, bơ. Margarine và các loại mỡ khác có thể chế biến từ cá, hoặc dầu thực vật. Dầu thực vật được chiết xuất từ quả có dầu như oliu. Lượng nhỏ chất béo là cần thiết để hấp thu các vitamin A, D, E, K nhưng nhất thiết phải có vì cung cấp các acid béo cần thiết mà cơ thể không thể tổng hợp được. Chất béo cũng giúp tạo mùi thức ăn, acid béo linoleic và alpha-linolenic là 2 acid béo cần thiết có nhiều trong rau, trong các loại hạt, có ít hơn ở thịt, trứng và các sản phẩm sữa. Cá chứa acid béo không no nhiều nối đôi như EPA, DHA. Cholesterol chỉ tìm thấy trong các sản phẩm nguồn gốc động vật như thịt, lòng đỏ trứng, sữa, các loại hải sản.

3.6. Thịt các loại và các sản phẩm chế biến

Thịt bao gồm các loại thịt động vật trừ cá và hải sản. Thịt được phân loại bao gồm như thịt đỏ là nói thịt có nhiều màu đỏ hơn là cơ xơ màu trắmg (thịt bò, lợn, dê, cừu…), và loại thịt có nhiều màu trắng thịt của gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng, chim. Thịt có thể được phân loại bằng cách phân nhỏ hơn như thịt từ cơ hoặc cơ quan nội tạng như não, gan, tim, ruột, và lưỡi.

Thịt và thịt gia cầm, thịt chứa khoảng 20-35% protein. Phần mỡ dao động từ dưới 4% ở thịt nạc tới 30-40% ở thịt mỡ ở động vật nuôi. Khoảng 50% acid béo trong thịt nạc là acid béo không no một nối đôi, trong khi acid béo no chiếm đến 40-50%. Thịt gia cầm có lượng acid béo no ít hơn (30-35%) và có lượng acid béo không no nhiều nối đôi cao hơn (15-30% so với 4-10%). Thịt động vật hoang dại điển hình nhiều nạc hơn, và chứa nhiều hợp chất nhân thơm hơn đáng kể so với thịt của động vật nuôi. Động vật hoang dại không chỉ có lượng mỡ thấp hơn mà có lượng acid béo không no nhiều nối đôi cao hơn động vật nuôi và có lượng acid béo no thấp hơn. đồng thời cũng chứa nhiều vitamin nhóm B, đặc biệt B6, và B12 cũng như vitamin D và là nguồn sắt, kẽm, selen dễ hấp thu. Ăn thịt đỏ làm tăng nồng độ các hợp chất N-nitroso trong cơ thể, một phần do nồng độ haem cao.

Thịt chế biến sẵn

Thuật ngữ “thịt chế biến sẵn” là nói đến các loại thịt (thường là thịt đỏ) được bảo quản bằng hun khói, đã xử lý như ướp muối, xông khói, phơi khô hoặc bởi cách thêm chất bảo quản. Thịt chỉ được bảo quản bằng cách để lạnh, sau đó được nấu chín thì không được xếp vào thịt chế biến sẵn. Thịt hun khói, ham, pastrami, salami là các loại thịt chế biến. Các loại xúc xích, hot dogs có nitrite hoặc nitrate hoặc các loại chất bảo quản khác được thêm vào.

Nitrates, nitrites và hợp chất N-nitroso Nitrate có tự nhiên trong các loại thực vật, nồng độ thay đổi giữa các loại và với tình trạng đất và lượng sử dụng phân bón sử dụng. Ở các nước thu nhập cao, rau chiếm 70-97% lượng nitrate chế độ ăn. Từ 5-20% nitrate chế độ ăn được chuyển thành nitrite, một chất được tìm thấy ở một vài loại rau (điển hình là ở khoai tây). Nitrite được dùng để bảo quản thịt chế biến sẵn (chất này rất độc đối với vi khuẩn) và tạo cho thịt chế biến sẵn màu sắc và mùi vị điển hình.

Cá bao gồm cả hải sản, có trên 27000 cá nước mặn và cá nước ngọt. Cá là nguồn protein tương tự như thịt. Lượng mỡ của cá khoảng 0.5% ở cá ít mỡ như cá tuyết (cod) hoặc cá đuối (skate) đến 20% như cá nhiều mỡ như lươn, hoặc cá hồi Đại tây dương. Mỡ cá chứa ít acid béo no hơn thịt (khoảng 20-25%).

Mỡ cá từ cá nước mặn chứa acid béo chuỗi dài n-3. Cá hoang dại có ít mỡ hơn cá nuôi, và có lượng acid béo n-3 nhiều hơn. Những acid béo này rất cần thiết cho sự phát triển và chức năng của não và mắt (retina); chúng đồng thời làm giảm viêm, đông máu và sản xuất cholesterol.

Cá chứa ít vitamin B, sắt và kẽm hơn thịt và thịt gia cầm nhưng cá có mỡ là nguồn retinol và vitamin D. Cá đồng thời cũng là nguồn canxi nếu ăn được cả xương ví dụ khi kho nhừ hoặc khi cá đóng hộp.

Cá và hải sản dễ tích tụ chất ô nhiễm, khi những chất này bị đổ ra sông và biển, và thường tích tụ ở mô mỡ. Những chất ô nhiễm này bao gồm kim loại nặng và hợp chất hữu cơ, một số hợp chất được coi là chất gây ung thư. Cá nuôi có nguy cơ với các loại thuốc thú y, và chất độc môi trường với nồng độ cao trong máu.

Trứng

Trứng là trứng của động vật, có nghĩa là của chim, vì người ta ăn trứng trước khi nó trở thành phôi thai. Trứng, giống như thịt, gia cầm và thịt tất cả đều chứa các acid amin cần thiết cho con người. Quả trứng thường có 6g protein, 1g carbohydrate, 4.5g mỡ (2.0g acid béo không no 1 nối đôi, 0.5g không no nhiều nối đôi, và 1.5g acid béo no), và khoảng 200mg cholesterol. Đồng thời bao gồm retinol, folate, thiamin, riboflavin, B12, D, và sắt. Màu của lòng đỏ trứng từ carotenoid và chứa tất cả mỡ và cholesterol, sắt, thiamin và retinol. Phần lòng trắng có 90% là nước và không có mỡ, chủ yếu là protein, một số vitamin và vết glucose.

Trứng vịt lộn không có sự khác biệt về thành phần dinh dưỡng giữa loại này và trứng bình thường trừ việc trứng vịt lộn có thêm canxi được hấp thu từ vỏ.

3.7. Sữa và các sản phẩm của sữa

Trên khắp thế giới sữa được tiêu thụ rộng rãi nhất là sữa bò, sau đó có thể là sữa dê, cừu. Sữa cũng được chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như kem (cream), sữa đặc, pho mát, bơ, và sản phẩm lên men khác như sữa chua.

Sữa toàn phần có thành phần năng lượng từ chất đạm, chất béo và chứa các vitamin, chất khoáng. Thành phần của sữa khác nhau tùy loài, sữa bò toàn phần có lượng chất béo cao hơn sữa giảm béo (semi-skimmed), sữa béo thấp (skimmed) và có lượng vitamin tan trong mỡ thấp hơn so với sữa toàn phần.

Khoảng 2 phần 3 các acid béo trong sữa bò là acid béo no, acid béo không no nhiều nối đôi chỉ chiếm dưới 4% tổng lượng chất béo trong sữa. Chất béo cung cấp đến một nửa năng lượng trong sữa, sữa cũng chứa nhiều acid amin cần thiết và chất carbohydrates duy nhất trong sữa là lactose. Lượng lactose trong các sản phẩm của sữa rất thay đổi, trong pho mát cứng chỉ ở dạng vết, trong pho mát mềm từ 2-3%, sữa chua 4% so với 5% trong sữa toàn phần. Sữa, pho mát, và sữa chua có hàm lượng canxi cao. Đồng thời là nguồn vitamin B2, B12, sữa nguyên kem cũng là nguồn retinol và một số các vitamin tan trong mỡ khác tồn tại ít hơn. Sữa cũng có nhiều yếu tố và hóc môn tăng trưởng.

3.8. Đồ uống có cồn

Đồ uống có cồn sinh ra do thức ăn nguồn gốc động vật và thực vật lên men. Các loại đồ uống có cồn được tiêu dùng, theo thứ tự nồng độ rượu tăng dần từ bia, cider, rượu vang, rượu mạnh (spirit), rượu spirit. Đồ uống có cồn làm thay đổi trạng thái, gây ảnh hưởng đến một số hoạt động thể lực như làm mất phối hợp. Rượu làm giảm những ức chế xã hội của con người, nhưng nó gây nghiện, khi bị phụ thuộc vào rượu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống riêng tư và nghề nghiệp của con người. Alcohol sinh năng lượng, 1 g alcohol sinh ra 7 kcal và được chuyển hóa ở gan. Trung bình, nồng độ alcohol trong máu lên cao nhất sau 30-60 phút sau khi uống và cơ thể có thể chuyển hóa được 10-15g alcohol trong một giờ. Alcohol làm thay đổi chức năng hệ thần kinh trung ương. Ở nồng độ rất cao (0.4% trong máu) có thể gây chết, cũng như liên tục, trong thời gian dài uống nhiều rượu. Nói chung, đồ uống có cồn được đánh giá là nguyên nhân gây ung thư tại nhiều vị trí và do vậy, rượu được tổ chức quốc tế nghiên cứu ung thư xếp vào loại gây ung thư ở người.

Bia được sản xuất truyền thống từ lúa mạch, ngày nay có thể dùng các loại ngũ cốc khác. Có nhiều loại bia khác nhau bởi thành phần. Lượng cồn thay đổi từ 3 đến 7%, bia thường chứa nhiều hợp chất polyphenolic và phenolic có hoạt tính sinh học, góp phần tạo nên vị và màu, nhiều hợp chất này có hoạt tinh chống oxi hóa. Bia là một nguồn magnesium, kali, vitamin B2, folate và các vitamin nhóm B khác.

Rượu vang. Rượu vang thường được sản xuất từ nho và chứa khoảng từ 9 đến 15% độ cồn, chúng được vắt ra để tạo nước quả và nước nho ép, sau đó được lên men. Mầu của nho và thời gian của quá trình lên men quyết định màu sắc và độ mạnh của sản phẩm cuối cùng. Rượu đỏ có lượng chất polyphenol và phenolic rất cao (từ 800-4000mg/l) đặc biệt là resveratrol, từ vỏ quả nho. Cũng giống như bia, các hợp chất này tạo nên màu sắc và vị của rượu. Rượu trắng có ít chất polyphenol hơn. Rượu đỏ cho thấy có hoạt tính chống oxy hóa trong phòng thí nghiệm. Rượu cũng chứa đường (chủ yếu glucose và fructose), các acid bốc hơi chủ yếu là acid acetic(volatile), acid carboxylic và nồng độ canxi, đồng, sắt, magne, kali và vitamin B1, B2, B6, và C.

Rượu mạnh (spirits/liquors) Rượu mạnh thường được sản xuất từ các loại ngũ cốc và có khi từ các loại thực phẩm khác. Rượu được chưng cất để có nồng độ cồn cao hơn bia, các loại rượu vang, khoảng từ 30-35% độ hoặc cao hơn. Một số loại rượu thường được tiêu thụ là các loại brandy (rượu chưng cất), whisky và gin (rượu chưng cất từ ngũ cốc), rượu rum (từ molassé), vodka (thường từ ngũ cốc, có thể từ khoai tây) và tequila và mescal (từ agave và cactus plant). Spirit và liqueur thường làm từ hoa quả

Spirits/liquos Nồng độ cồn của spirits và liquors và liqueurs thường từ 35-50% và thậm chí cao hơn. Rượu chưng cất có thể thêm nhiều thành phần khác nhau vào như các loại rượu ngâm

3.9 Sản xuất bảo quản và chế biến thực phẩm

Hệ thống thực phẩm hiện đại bao gồm nhiều lĩnh vực trong sản xuất thực phẩm có khả năng ảnh hưởng đến nguy cơ gây ung thư. Ưu điểm của hệ thống này làm đảm bảo cung cấp rau và quả quanh năm.

4. Hoạt động thể lực 4.1. Định nghĩa

Hoạt động thể lực là bất kể một hoạt động nào sử dụng hệ cơ. Với những người có cuộc sống tĩnh tại, hoạt động thể lực nhẹ bao gồm đứng, đi vòng quanh cơ quan hay nhà, đi mua sắm hay chuẩn bị thức ăn. Thời gian nghỉ ngơi, con người có thể thực hiện các hoạt động thể lực nhẹ, trung bình, nặng phụ thuộc vào bản chất và cường độ hoạt động cũng như sở thích cá nhân. Hầu hết những người có cuộc sống năng động thường hoạt động thể lực ở mức trung bình hay nặng ở nơi làm việc hoặc ở nhà và qua các hoạt động đi lại. Ngồi, đứng và các hoạt động thể lực nhẹ thực chất là các công việc thường ngày, có ở tất cả các dạng hoạt động thể lực.

Hoạt động thể lực làm tăng năng lượng tiêu thụ và do vậy là yếu tố làm cân bằng năng lượng. Hoạt động thể lực mức độ nặng có thể được xếp loại dựa trên việc làm tăng sự chuyển hoá.

4.2. Các loại và mức hoạt động thể lực

Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung động thể lực được chia thành 4 loại. Đó là:

* Hoạt động có tính chất nghề nghiệp (thường ở nơi làm việc)

* Công việc nội trợ (ở nhà)

* Đi lại ( như đi từ nhà đến nơi làm việc và ngược lại)

* Nghỉ ngơi

Hoạt động thể lực cũng có thể được phân chia thành các nhóm như sau: nhóm nặng, trung bình, nhẹ và nghỉ ngơi tĩnh tại. Việc phân chia này kết hợp giữa tần suất, mức độ và khoảng thời gian được xác định cho tổng mức hoạt động thể lực. Một người có thể tiêu tốn cùng một lượng năng lượng trong 1 giờ hoạt động thể lực với mức độ nhẹ ương đương với 30 phút hoạt động ở mức trung bình và 20 phút hoạt động ở mức độ nặng.

Mức tỷ suất 1.2 là mức tương ứng với trạng thái nằm trên giường. Những ngưòi làm nghề thợ mỏ, cưa cắt gỗ, lính, vận động viên cần nhiều năng lượng hơn cho các hoạt động thể chất hơn là những chức năng cơ bản. Mức PALs tương ứng là trên 2,0. Hầu như những người trẻ tuổi có mức hoạt động thể lực không hằng định. PALs có thể duy trì 2.4 trong một thời gian dài.

Nhìn chung, với những nước có thu nhập cap trong thập niên đầu thế kỷ 21, mức trung bình hoạt động thể lực trong khoảng 20-30% của TEE nhưng với những người nghỉ ngơi thì mức này chỉ khoảng 15%.

Sự kết hợp nhiều loại hoạt động thể lực có thể được mô tả bởi mức chuyển hoá MET/giờ. METs thưừong được chuyển đổi thành MET-giờ trong ngày hoặc trong tuần, được tính bằng tổng của mức MET cho mỗi hoạt động nhân với thời gian hoạt động được diễn ra.

PGS.TS.BS Trần Văn Thuấn

( Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chủ tịch Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam)

【#10】Khái Niệm Chung Về Dinh Dưỡng, Thực Phẩm

Năng lượng vào cơ thể dưới dạng hóa năng của thức ăn. Thức ăn khi đốt cháy sinh năng lượng: 1g gluxít sinh ra 4 kcal, 1g chất béo sinh 9kcal, 1g protein sinh 4kcal, 1g rượu (alcohol, ethanol) sinh ra 7kcal. Năng lượng cung cấp cho chuyển hóa cơ sở và hoạt động thể lực, giúp cơ thể sinh trưởng, phát triển, sinh sản và cho con bú. Tổng số năng lượng tiêu hao bao gồm tiêu hao cho chuyển hóa cơ sở, hoạt động thể lực, và đáp ứng chuyển hóa đối với thực phẩm. Tốc độ chuyển hóa cơ sở thay đổi phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể, tuổi và giới. Tốc độ chuyển hóa cơ sở tăng khi bị stress và khi bị bệnh. Nhu cầu năng lượng được tính từ năng lượng tiêu hao cộng với năng lượng cần để sinh trưởng và phát triển. Cơ thể sẽ tăng cân hay giảm cân xảy ra khi năng lượng ăn vào vượt quá hay ít hơn năng lượng tiêu hao.

1.1 Năng lượng ăn vào:

Là tổng số calori được cung cấp hàng ngày do ăn vào hoặc được truyền vào cơ thể. Năng lượng ăn vào giúp cho việc thực hiện các chuyển hoá trong cơ thể, cho hoạt động thể lực, giúp cơ thể tăng trưởng và phát triển. Năng lượng ăn vào được tính toán dựa theo lượng thực phẩm thực tế ăn, do các chuyên gia dinh dưỡng xác định.

1.2. Năng lượng tiêu hao:

Bao gồm năng lượng tiêu hao cho chuyển hoá cơ bản và cho hoạt động thể lực.

Năng lượng tiêu hao cho chuyển hoá cơ bản là năng lượng cần thiết để duy trì sự sống của con người trong điều kiện nhịn đói, hoàn toàn nghỉ ngơi và nhiệt độ môi trường sống thích hợp. Đây là năng lượng tối thiểu để duy trì các chức phận sinh lý cơ bản như tuần hoàn, hô hấp, hoạt động của các tuyến nội tiết và duy trì thân nhiệt.

1.3 Cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao

Khi năng lượng ăn vào nhiều hơn năng lượng tiêu hao sẽ dẫn đến tích lũy, dự trữ năng lượng, lâu dần gây ra thừa cân, béo phì.

Khi năng lượng ăn vào ít hơn năng lượng tiêu hao sẽ dẫn đến tình trạng cân bằng âm tính gây gầy mòn, giảm cân.

1.4. Chi phí năng lượng của cuộc sống

Nhu cầu năng lượng của người trẻ khoẻ mạnh được xác định bởi thói quen mức hoạt động thể lực của họ (PALs). PALs là tỷ suất tổng năng lượng tiêu thụ trong 1 ngày (TEE) với mức chi năng lượng cơ bản của họ và năng lượng yêu cầu lớn hơn khi thực hiện cùng môtj công việc với mức chỉ số cơ thể cao hơn.

Mức tỷ suất 1.2 là mức tương ứng với trạng thái nằm trên giường. Những ngưòi làm nghề thợ mỏ, cưa cắt gỗ, lính, vận động viên cần nhiều năng lượng hơn cho các hoạt động thể chất hơn là những chức năng cơ bản. Mức PALs tương ứng là trên 2,0. Hầu như những người trẻ tuổi có mức hoạt động thể lực không hằng định. PALs có thể duy trì 2.4 trong một thời gian dài.

Nhìn chung, với những nước có thu nhập cap trong thập niên đầu thế kỷ 21, mức trung bình hoạt động thể lực trong khoảng 20-30% của TEE nhưng với những người nghỉ ngơi thì mức này chỉ khoảng 15%.

Sự kết hợp nhiều loại hoạt động thể lực có thể được mô tả bởi mức chuyển hoá MET/giờ. METs thưừong được chuyển đổi thành MET-giờ trong ngày hoặc trong tuần, được tính bằng tổng của mức MET cho mỗi hoạt động nhân với thời gian hoạt động được diễn ra.

2. Các loại chất dinh dưỡng 2.1. Gluxít (Carbohydrates)

Bao gồm các loại đường đơn (monosaccharide) hoặc các phân tử đường đôi (disaccharide, gồm 2 phân tử đường nối với nhau), các loại oligosaccharide, và polysaccharide (gồm nhiều phân tử đường đơn nối với nhau). Ví dụ glucose là một loại đường đơn và tinh bột là một loại polysaccharide, trong đó bao gồm một dãy các phân tử glucose nối với nhau. Gluxít (carbohydrate) cung cấp năng lượng chủ yếu trong bữa ăn, chiếm đến 60-70% tổng số năng lượng trong bữa ăn.

Ngũ cốc, khoai củ và các sản phẩm chế biến từ các dạng này chứa nhiều gluxit (carbohydrates).

2.2. Chất béo (lipid)

Chất béo trong chế độ ăn thường tạo ra chủ yếu từ triglyceride, là khung glycerol gắn với 3 acid béo. Triglyceride là chất béo (lipid), một loại hợp chất hữu cơ, vì tan được trong các dung môi hữu cơ (như là ether và chloroform) không tan trong nước. Cơ thể dự trữ năng lượng thừa như là lipid dưới dạng mỡ cơ thể (gọi là mô mỡ). Lipid đồng thời cũng hình thành một phần trong cấu trúc màng tế bào và là tiền chất (pcursor) của nhiều hóc môn quan trọng.

Chất béo trong chế độ ăn được chia thành 2 loại bao gồm mỡ và dầu, khác nhau bởi cấu trúc hóa học của các acid béo. Chất béo có đậm độ năng lượng cao.Chất béo có nhiều trong các thực phẩm như mỡ động vật (mỡ lợn, gà) mỡ cá, bơ, sữa toàn phần, dầu thực vật, các hạt nhiều dầu như lạc, vừng…

2.3. Chất đạm (Protein)

Protein là phân tử hữu cơ lớn được tạo bởi các acid amin, sắp xếp thành từng chuỗi. Chuỗi ngắn được gọi là các peptid ví dụ các di hoặc tri peptid (bao gồm 2 hoặc 3 acid amin). Chuỗi dài hơn gọi là oligopeptide hoặc polypeptide. Protein là thành phần cấu trúc cơ bản và thành phần chức năng của các tế bào trong cơ thể.

Nhiều protein là enzyme hoạt hóa các phản ứng hóa học, đóng vai trò sống còn trong các chuyển hóa. Protein được tiêu hóa thành polypeptide, các acid amin sau đó được hấp thu vào máu. Cơ thể có thể tạo ra một số acid amin, nhưng có 1 số acid amin không tổng hợp được do vậy gọi là acid amin cần thiết, cần phải được cung cấp từ thức ăn và đồ uống. Nguồn protein trong thực phẩm bao gồm thịt, cá các loại, trứng, sữa hoặc từ nguồn protein trong thực vật như từ các loại hạt giàu đạm.

2.4. Vi chất dinh dưỡng

Vi chất dinh dưỡng là các chất dinh dưỡng trong chế độ ăn cần thiết với lượng nhỏ so với các chất carbohydrate hay protein hay chất béo, và không phải là nguồn năng lượng cho cơ thể. Chúng bao gồm các vitamin, các chất khoáng và các chất vi khoáng. Khi thiếu các chất này sẽ sinh ra bệnh.

Các chất hóa thực vật (phytochemical) là các chất có hoạt tính sinh vật từ các thực phẩm nguồn gốc thực vật, không được xác định (coi là) các chất dinh dưỡng vì nó không cần thiết với ý nghĩa sống còn đối với cơ thể. Không giống như vitamin và chất khoáng, người ta không bị mắc bệnh nếu chế độ ăn có lượng chất hóa thực vật thấp. Tuy nhiên, các chất này dường như có vai trò đối với phòng bệnh và có lợi cho sức khỏe.

Nhiều loại chất hóa thực vật có đặc tính chống oxy hóa, chống viêm, ung thư, chống vi sinh vật trong các thực nghiệm, nhưng đến nay vẫn chưa rõ có tác dụng trên người. Các chất này có cấu tạo hóa học khác nhau bao gồm flavonoids, isoflavones, glucosinolates… Nhiều loại rau, quả, đậu đỗ, rau gia vị, trà có hàm lượng cao các chất hóa thực vật.

2.5. Chất xơ (dietary fiber)

Chất xơ là các thành phần của thành tế bào thực vật như là các polysaccharide không phải là tinh bột hoặc là các chất carbohydrate không tiêu hóa được ở ruột non vào đến đại tràng. Tổ chức y tế thế giới và tổ chức nông lương đưa ra định nghĩa chỉ những polysaccharide tạo ra từ thành tế bào thực vật mới coi là chất xơ khẩu phần

2.6. Chất bổ sung (supplement)

Các loại vitamin, khoáng, vi khoáng và các chất có hoạt tính sinh vật học được làm thành thuốc bổ sung, sẵn có trên thị trường dưới dạng thuốc viên hoặc bột. Các loại này được sản xuất và bán ra thị trường sau khi người ta tìm ra tác dụng của chúng và người ta cho rằng có tác dụng trong phòng bệnh và tăng cường trạng thái sức khỏe. Nhiều loại chất bổ sung được xếp vào loại thực phẩm, một số loại xếp vào thuốc

3. Khái niệm chung về các loại thực phẩm 3.1. Ngũ cốc, khoai củ và các sản phẩm chế biến (cereals and tubes)

Ngũ cốc là dạng hạt (seed) của các loại cây cỏ (grass) và là năng lượng dự trữ, bao gồm các loại gạo lúa mì, ngô, kê, lúa mạch.

Thành phần của ngũ cốc và khoai củ. Tinh bột chiếm đến 70% trọng lượng của phần hạt. Lớp áo ngòai của ngũ cốc (bao gồm lớp cám và aleurone là lớp đơn của các tế bào lớn ở dưới vỏ cám và bên ngoài mầm của hạt gạo hoặc ngũ cốc) chứa polysaccharide không phải là tinh bột, một loại chất xơ. Ngũ cốc đồng thời cũng chứa lượng đáng kể protein, chất béo, vitamin nhóm B, vitamin E, tocotrienolss, sắt và các yếu tố vi lượng khác, cũng như các chất hóa thực vật. Phần mầm chứa dầu, protein, và chất xơ. Tuy nhiên thành phần này thay đổi tùy thuộc vào mức độ xay xát của ngũ cốc

Gạo xay xát kỹ Phần lớn gạo đang được sử dụng là gạo xay xát kỹ. Đầu tiên gạo hay ngũ cốc bị xay vỡ thành mảnh nhỏ và sau đó được xát kỹ, làm mất lớp cám, mầm, và thường là lớp aleurone. Do vậy, làm mất chất xơ, dầu, và các vitamin nhóm B cũng như mất đi 25% lượng protein của gạo. Ở nhiều nước người ta bổ sung vào ngũ cốc xay xát kỹ như bổ sung sắt, vitamin nhóm B vào bột mỳ. Gạo xay xát kỹ thường được coi là dễ ăn, dễ nấu có màu trắng hơn và hấp dẫn hơn, đồng thời giữ được lâu hơn bỏi vì quá trình xay xát làm mất đi dầu trong gạo, giảm quá trình bị hỏng. Đồng thời gạo xay xát kỹ có chỉ số đường huyết cao hơn.

Aflatoxin: là các chất độc do các loại nấm mốc nhất định tiết ra. Nấm mốc bị nhiễm vào thực phẩm thường bị phá hủy bởi nhiệt khi nấu nhưng độc tố vẫn tồn tại. Aflatoxin là một trong các loại độc tố của nấm (mycotoxin). Dạng tự nhiên của aflatoxin được Trung tâm quốc tế về nghiên cứu ung thư phân loại là yếu tố gây ung thư cho người (nhóm 1); các loại độc tố nấm khác như fumonisins cũng đang nghi ngờ là yếu tố gây ung thư. Ở châu Âu, Ủy ban chuyên gia của FAO/WHO về chất ô nhiễm và phụ gia thực phẩm khuyến nghị nồng độ aflatoxin trong thực phẩm cần giữ càng thấp càng tốt. Các thực phẩm chủ yếu bị nhiễm aflatoxin là tất cả các loại ngũ cốc bao gồm bột mì, gạo, ngô và nhóm đậu đỗ đáng chú ý là lạc. Thức ăn cho gia súc có thể bị nhiễm và sau đó có thể bị bài tiết vào sữa hoặc tích lũy ở các mô. Aflatoxin do Aspergillus flavus và A.parasiticus sản xuất là vấn đề chủ yếu của các nước có khí hậu nóng, ẩm và điều kiện bảo quản kém.

Khoai củ và các sản phẩm: ở rễ và củ là dạng dự trữ năng lượng chính của thực vật. Khoai tây có thể bị xếp vào nhóm rau chứa nhiều tinh bột. Khoai lang là 1 loại dự trữ tinh bột ở phần rễ, sắn dự trữ ở phần củ. Khoai củ chứa ít tinh bột hơn, tinh bột chiếm từ 15-20% ở khoai lang, đến 25-30% ở sắn. Nấu khoai lang tạo ra vị ngọt vì 75% tinh bột được chuyển hóa thành maltose. Khoai củ khi ăn cả vỏ làm tăng lượng chất xơ. Khoai củ không có nhiều protein nhưng cũng chứa một số chất dinh dưỡng như khoai tây có vitamin C, khoai lang có chứa carotenoids, một số loại khoai khác chứa nhiều vitamin B6, chất xơ, mangan.

3.2. Rau, quả

Rau là phần ăn được của các loại thực vật, thường bao gồm cả nấm. Các ví dụ điển hình bao gồm các loại rau được trồng như các loại rau xanh, rau củ, rau hoa, một số loại rau được phân loại về thực vật học là quả như dưa chuột, bí ngô, cà chua. Rau chia thành rau lá màu xanh thẫm như rau muống, mồng tơi và các loại rau họ cải bao gồm bắp cải, súp lơ và các loại rau họ hành (allium) như tỏi, hành, cần tỏi tây.

Quả là phần chứa hạt của cây, nhưng chỉ kể đến loại ăn được như táo, chuối, dâu, xoài, dưa hấu và cả loại quả chua như cam, và cả quả tươi và khô.

Thành phần của rau quả thay đổi phụ thuộc chủng loại, môi trường, điều kiện canh tác, sản xuất, bảo quản. Các yếu tố này bao gồm ánh nắng mặt trời, chất lượng đất, thực hành canh tác, thời gian thu hoạch, phương pháp bảo quản, chế biến. Ví dụ đối với rau xà lách lá già có nhiều vi chất hơn lá non. Nói chung, rau quả chứa nhiều vitamin, các chất khoáng, chất xơ và các chất hoạt tính sinh học như các chất hóa thực vật. Các chất này tạo ra các chức năng quan trọng trong thực vật, như tạo màu, mùi và không phải là thiết yếu đối với chế độ ăn của người. Thành tế bào thực vật là nguồn chất xơ chủ yếu và quả toàn phần (không chỉ phần nước quả) chứa lượng lớn chất xơ. Một số loại rau quả có chứa thành phần có lợi cho sức khỏe. Ví dụ các loại rau họ cải chứa glucosinolate, rau họ hành chứa inulin. Các rau lá màu xanh là nguồn folate, cá chua, gấc chứa lycopene. Rau quả được xếp vào các thực phẩm có đậm độ năng lượng thấp trừ một số ngoại lệ như quả bơ.

3.3. Đậu đỗ, các loại hạt (hạt giàu đạm, giàu béo)

Các loại cây họ đậu có hạt khô, ăn được thường gọi là đậu đỗ, bao gồm cả lạc, có loại đậu đỗ ăn tươi và có loại dùng nảy mầm, làm giá đỗ.

Đậu đỗ các loại chứa nhiều protein nhất trong các loại thực phẩm nguồn gốc thực vật. Các thực phẩm này cũng có nhiều carbohydrate và chất xơ, lượng chất béo thấp trừ đậu tương và lạc. Các loại đậu đỗ này chứa oligosaccharide không tiêu hóa được ở ruột nhưng bị lên men bởi vi khuẩn ở đại tràng. Ngoài ra đậu tương còn chứa isoflavones hoặc phytoestrogen, có tác dụng giống như hóc môn khi ở trong cơ thể.

Hạt là phần hạt ăn được, được bao bọc bởi vỏ cứng. Các loại hạt chứa tương đối nhiều protein và chất béo, do vậy đây là nguồn thực phẩm có đậm độ năng lượng cao. Hầu hết các loại hạt đều chứa chủ yếu là acid béo không no một nối đôi, trừ dừa chứa nhiều acid béo no, các loại khác cũng chứa nhiều acid béo không no nhiều nối đôi. Hạt cũng có nhiều chất xơ, đặc biệt khi ăn cùng với vỏ, hạt cũng chứa nhiều chất vitamin, khoáng đặc biệt là vitamin nhóm B, vitamin E, folate và vỏ của hạt chứa các hợp chất polyphenol.

3.4. Rau gia vị, gia vị

Thường làm tăng mùi vị của thức ăn, có nguồn gốc thực vật gồm nhiều loại như dùng từ lá, hoặc củ như gừng, hoặc vỏ như quế, hoặc hạt như mù tạt hoặc quả như hạt tiêu. Các loại này chứa nhiều hợp chất thơm thương tan trong mỡ hơn là tan trong nước. Một số các hợp chất tạo mùi có hoạt tính sinh học, mặc dù không phải ở mức độ trong chế độ ăn.

3.5. Dầu, mỡ, bơ

Chất béo trong thực phẩm do triglyceride tạo thành. Thực vật hoặc động vật dự trữ năng lượng dưới dạng chất béo, là thành phần của màng tế bào, và tiền chất của nhiều hóc môn quan trọng.

Acid béo được phân loại thành acid béo no và không no, phụ thuộc vào cấu trúc hóa học, cấu trúc hóa học này cũng quyết định hình dạng và đặc tính vật lý. Dầu mỡ có chứa trong các thực phẩm nguồn gốc động vật và thực vật, và trong các thực phẩm chế biến sẵn, dùng để nấu ăn. Mỡ động vật thường dùng là mỡ lợn, bơ. Margarine và các loại mỡ khác có thể chế biến từ cá, hoặc dầu thực vật. Dầu thực vật được chiết xuất từ quả có dầu như oliu. Lượng nhỏ chất béo là cần thiết để hấp thu các vitamin A, D, E, K nhưng nhất thiết phải có vì cung cấp các acid béo cần thiết mà cơ thể không thể tổng hợp được. Chất béo cũng giúp tạo mùi thức ăn, acid béo linoleic và alpha-linolenic là 2 acid béo cần thiết có nhiều trong rau, trong các loại hạt, có ít hơn ở thịt, trứng và các sản phẩm sữa. Cá chứa acid béo không no nhiều nối đôi như EPA, DHA. Cholesterol chỉ tìm thấy trong các sản phẩm nguồn gốc động vật như thịt, lòng đỏ trứng, sữa, các loại hải sản.

3.6. Thịt các loại và các sản phẩm chế biến

Thịt bao gồm các loại thịt động vật trừ cá và hải sản. Thịt được phân loại bao gồm như thịt đỏ là nói thịt có nhiều màu đỏ hơn là cơ xơ màu trắmg (thịt bò, lợn, dê, cừu…), và loại thịt có nhiều màu trắng thịt của gà, gà tây, vịt, ngan, ngỗng, chim. Thịt có thể được phân loại bằng cách phân nhỏ hơn như thịt từ cơ hoặc cơ quan nội tạng như não, gan, tim, ruột, và lưỡi. Thịt cũng có thể được chia theo động vật nuôi hay động vật hoang dã. Hầu hết thịt tiêu thụ trên thế giới đều là vật nuôi. Thịt của động vật hoang dã không phải là vật nuôi là nguồn protein và năng lượng đáng kể đối với một số quần thể như dân tộc thiểu số.

Thịt và thịt gia cầm, thịt chứa khoảng 20-35% protein. Phần mỡ dao động từ dưới 4% ở thịt nạc tới 30-40% ở thịt mỡ ở động vật nuôi. Khoảng 50% acid béo trong thịt nạc là acid béo không no một nối đôi, trong khi acid béo no chiếm đến 40-50%. Thịt gia cầm có lượng acid béo no ít hơn (30-35%) và có lượng acid béo không no nhiều nối đôi cao hơn (15-30% so với 4-10%). Có khác biệt giữa thịt của vật nuôi và vật hoang dại. Thịt động vật hoang dại điển hình nhiều nạc hơn, và chứa nhiều hợp chất nhân thơm hơn đáng kể so với thịt của động vật nuôi. Động vật hoang dại không chỉ có lượng mỡ thấp hơn mà có lượng acid béo không no nhiều nối đôi cao hơn động vật nuôi và có lượng acid béo no thấp hơn. 2 thành phần có nhiều sắt của mô cơ là myoglobin và cytochrome, chúng tạo ra màu đỏ cho thịt. Đồng thời cũng chứa nhiều vitamin nhóm B, đặc biệt B6, và B12 cũng như vitamin D và là nguồn sắt, kẽm, selen dễ hấp thu. Ăn thịt đỏ làm tăng nồng độ các hợp chất N-nitroso trong cơ thể, một phần do nồng độ haem cao. Nếu thịt được nấu kỹ , nhiệt độ cao, thì sẽ tạo ra các amine dị vòng (heterocyclic) và các hydrocarbon thơm đa vòng.

Thịt chế biến sẵn

Thuật ngữ “thịt chế biến sẵn” là nói đến các loại thịt (thường là thịt đỏ) được bảo quản bằng hun khói, đã xử lý như ướp muối, xông khói, phơi khô hoặc bởi cách thêm chất bảo quản. Thịt chỉ được bảo quản bằng cách để lạnh, sau đó được nấu chín thì không được xếp vào thịt chế biến sẵn.

Thịt hun khói, ham, pastrami, salami là các loại thịt chế biến. Các loại xúc xích, hot dogs có nitrite hoặc nitrate hoặc các loại chất bảo quản khác được thêm vào. Hamburger cũng nằm định nghĩa này, nếu được bảo quản bằng hóa chất. Do vậy, các hãng burger cần xác định phương pháp họ dùng để xử lý sản phẩm của mình.

Nitrates, nitrites và hợp chất N-nitroso Nitrate có tự nhiên trong các loại thực vật, nồng độ thay đổi giữa các loại và với tình trạng đất và lượng sử dụng phân bón sử dụng. Ở các nước thu nhập cao, rau chiếm 70-97% lượng nitrate chế độ ăn. Từ 5-20% nitrate chế độ ăn được chuyển thành nitrite, một chất được tìm thấy ở một vài loại rau (điển hình là ở khoai tây). Nitrite được dùng để bảo quản thịt chế biến sẵn (chất này rất độc đối với vi khuẩn) và tạo cho thịt chế biến sẵn màu sắc và mùi vị điển hình. Thêm nitrate và nitrite vào thức ăn được quản lý và giám sát ở hầu hết các quốc gia.

Nitrate có thể phản ứng với các sản phẩm giáng hóa của các amino acid để tạo các hợp chất N-nitroso (nitrosamin hoặc nitrosamide). Các chất này được tạo ra trong thịt trong quá trình chế biến hoặc trong cơ thể (đặc biệt trong dạ dày) từ nitrite trong chế độ ăn.

3.7. Cá

Cá bao gồm cả hải sản, có trên 27000 cá nước mặn và cá nước ngọt; tôm cua, sò hến (động vật 2 mảnh), và động vật thân mềm. Cá và hải sản là động vật mà chúng ta có thể thu được đáng kể từ tự nhiên. Nhưng nhiều loại cũng bị trên bờ tiệt chủng và nuôi trồng thủy sản cũng tăng lên trên toàn thế giới. Ví dụ trên 1/3 cá hồi tiêu thụ trên thế giới là cá nuôi. Giống như thịt, cá cũng được xử lý ví dụ làm khô, muối và hun khói.

Cá là nguồn protein tương tự như thịt. Lượng mỡ của cá khoảng 0.5% ở cá ít mỡ như cá tuyết (cod) hoặc cá đuối (skate) đến 20% như cá nhiều mỡ như lươn, hoặc cá hồi Đại tây dương. Mỡ cá chứa ít acid béo no hơn thịt (khoảng 20-25%).

Mỡ cá từ cá nước mặn chứa acid béo chuỗi dài n-3. Cá hoang dại có ít mỡ hơn cá nuôi, và có lượng acid béo n-3 nhiều hơn. Chỉ có tảo biển và phytoplankton sản xuất những acid béo này vì vậy cá ăn thức ăn này là nguồn thức ăn chủ yếu của chúng. Những acid béo này rất cần thiết cho sự phát triển và chức năng của não và mắt (retina); chúng đồng thời làm giảm viêm, đông máu và sản xuất cholesterol. Cơ thể có thể chuyển alpha-linolenic acid (ở trong thức ăn nguồn gốc thực vật và cần thiết trong chế độ ăn) thành EPA và DHA (eicosapentaenoic acid và docosohexanoic), những loại này có trong dầu cá, nhưng tỉ lệ chuyển đổi thấp.

Cá chứa ít vitamin B, sắt và kẽm hơn thịt và thịt gia cầm nhưng cá có mỡ là nguồn retinol và vitamin D. Cá đồng thời cũng là nguồn canxi nếu ăn được cả xương ví dụ khi kho nhừ hoặc khi cá đóng hộp.

Cá và hải sản dễ tích tụ chất ô nhiễm, khi những chất này bị đổ ra sông và biển, và thường tích tụ ở mô mỡ. Những chất ô nhiễm này bao gồm kim loại nặng và hợp chất hữu cơ, một số hợp chất được coi là chất gây ung thư. Cá nuôi có nguy cơ với các loại thuốc thú y, và chất độc môi trường với nồng độ cao trong máu. Nhưng cá nuôi thường ít bị ô nhiễm các chất ô nhiễm hơn cá tự nhiên.

3.8. Trứng

Trứng là trứng của động vật, có nghĩa là của chim, vì người ta ăn trứng trước khi nó trở thành phôi thai. Trứng, giống như thịt, gia cầm và thịt tất cả đều chứa các acid amin cần thiết cho con người. Trứng gà to điển hình có lượng protein và mỡ như nhau, và 60% năng lượng từ mỡ. Quả trứng thường có 6g protein, 1g carbohydrate, 4.5g mỡ (2.0g acid béo không no 1 nối đôi, 0.5g không no nhiều nối đôi, và 1.5g acid béo no), và khoảng 200mg cholesterol. Đồng thời bao gồm retinol, folate, thiamin, riboflavin, B12, D, và sắt. Màu của lòng đỏ trứng từ carotenoid và chứa tất cả mỡ và cholesterol, sắt, thiamin và retinol. Phần lòng trắng có 90% là nước và không có mỡ, chủ yếu là protein, một số vitamin và vết glucose.

Ở châu Á, người ta ăn trứng vịt lộn (sau khi ấp khoảng 2-3 tuần), không có sự khác biệt về thành phần dinh dưỡng giữa loại này và trứng bình thường trừ việc trứng vịt lộn có thêm canxi được hấp thu từ vỏ.

3.9. Sữa và các sản phẩm của sữa

Sữa được các loại động vật sản xuất ra để cho con bú. Ở điều kiện bình thường, sữa được tiến hóa để trở thành thức ăn lý tưởng cho tất cả các loài. Trên khắp thế giới sữa được tiêu thụ rộng rãi nhất là sữa bò, sau đó có thể là sữa dê, cừu. Sữa có thể được uống tươi, hoặc qua phương pháp khử khuẩn Pasteur (Pasteurization). Sữa cũng được chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau như kem (cream), sữa đặc, pho mát, bơ, và sản phẩm lên men khác như sữa chua.

Sữa toàn phần có thành phần năng lượng từ chất đạm, chất béo và chứa các vitamin, chất khoáng. Thành phần của sữa khác nhau tùy loài, sữa bò toàn phần có lượng chất béo cao hơn sữa giảm béo (semi-skimmed), sữa béo thấp (skimmed) và có lượng vitamin tan trong mỡ thấp hơn so với sữa toàn phần.

Khoảng 2 phần 3 các acid béo trong sữa bò là acid béo no, acid béo không no nhiều nối đôi chỉ chiếm dưới 4% tổng lượng chất béo trong sữa. Chất béo cung cấp đến một nửa năng lượng trong sữa, sữa cũng chứa nhiều acid amin cần thiết và chất carbohydrates duy nhất trong sữa là lactose. Lượng lactose trong các sản phẩm của sữa rất thay đổi, trong pho mát cứng chỉ ở dạng vết, trong pho mát mềm từ 2-3%, sữa chua 4% so với 5% trong sữa toàn phần. Sữa, pho mát, và sữa chua có hàm lượng canxi cao. Đồng thời là nguồn vitamin B2, B12, sữa nguyên kem cũng là nguồn retinol và một số các vitamin tan trong mỡ khác tồn tại ít hơn. Sữa cũng có nhiều yếu tố và hóc môn tăng trưởng.

3.10. Đồ uống có cồn

Đồ uống có cồn sinh ra do thức ăn nguồn gốc động vật và thực vật lên men. Người ta sản xuất rượu theo cách đó từ hàng trăm năm nay. Các loại đồ uống có cồn được tiêu dùng, theo thứ tự nồng độ rượu tăng dần từ bia, cider, rượu vang, rượu mạnh (spirit), rượu spirit. Nồng độ cồn cũng khác nhau.

Đồ uống có cồn làm thay đổi trạng thái, gây ảnh hưởng đến một số hoạt động thể lực như mất phối hợp. Khi đô thị hóa và công nghiệp hóa, càng có nhiều loại rượu và tiêu thụ rượu tăng lên. Rượu làm giảm những ức chế xã hội của con người, nhưng nó gây nghiện, khi bị phụ thuộc vào rượu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống riêng tư và nghề nghiệp của con người. Từ rất lâu người ta biết rằng tiêu thụ nhiều rượu là nguyên nhân của xơ gan, mặc dù không phải tất cả mọi người đều có độ nhạy cảm như nhau. Nói chung, đồ uống có cồn được đánh giá là nguyên nhân gây ung thư tại nhiều vị trí và bằng chứng mạnh hơn trước đây. Bằng chứng không chỉ ra giới hạn uống rượu an toàn. Do vậy, rượu được tổ chức quốc tế nghiên cứu ung thư xếp vào loại gây ung thư ở người.

3.10.1. Định nghĩa Rượu

Rượu là thuật ngữ thông thường chỉ ethanol, một trong những nhóm rượu, được sản xuất trong tự nhiên khi phân tử đường bị phá hủy bởi nấm men và giải phóng ra năng lượng. Quá trình lên men này được dùng để sản xuất đồ uống có cồn. Rượu là một nguồn năng lượng. Nó đồng thời tác động như một loại thuốc, ảnh hưởng đến cả đáp ứng về tinh thần và thể chất. Đồ uống có cồn bao gồm bia, rượu vang và rượu mạnh. Các loại đồ uống có cồn khác có thể quan trọng ở từng địa phương như sữa lên men, nước mật ong lên men, mơ, táo lên men (cider). Hầu hết các loại đồ uống có cồn đều được sản xuất chuyên nghiệp. Một số sản xuất thủ công.

Bia được sản xuất truyền thống từ lúa mạch, ngày nay có thể dùng các loại ngũ cốc khác. Bia chứa khoảng 3-7% độ cồn. Tinh bột ngũ cốc chuyển dạng thành đường và sau đó được lên men bởi nấm mốc.

Rượu vang. Rượu vang thường được sản xuất từ nho và chứa khoảng từ 9 đến 15% độ cồn, chúng được vắt ra để tạo nước quả và nước nho ép, sau đó được lên men. Mầu của nho và thời gian của quá trình lên men quyết định màu sắc và độ mạnh của sản phẩm cuối cùng. Rượu đồng thời cũng có thể được sản xuất từ các hoa quả khác và từ gạo. Thuật ngữ dùng ở đây rượu là ám chỉ rượu nho. Rượu được tăng cường loại rượu mạnh (spirit) để tạo ra đồ uống có độ cồn từ 16 đến 20%.

Rượu mạnh (spirits/liquors) Rượu mạnh thường được sản xuất từ các loại ngũ cốc và có khi từ các loại thực phẩm khác. Rượu được chưng cất để có nồng độ cồn cao hơn bia, các loại rượu vang, khoảng từ 30-35% độ hoặc cao hơn. Một số loại rượu thường được tiêu thụ là các loại brandy (rượu chưng cất), whisky và gin (rượu chưng cất từ ngũ cốc), rượu rum (từ molassé), vodka (thường từ ngũ cốc, có thể từ khoai tây) và tequila và mescal (từ agave và cactus plant). Spirit và liqueur thường làm từ hoa quả

3.10.2. Thành phần

Alcohol sinh năng lượng, 1 g alcohol sinh ra 7 kcal và được chuyển hóa ở gan. Trung bình, nồng độ alcohol trong máu lên cao nhất sau 30-60 phút sau khi uống và cơ thể có thể chuyển hóa được 10-15g alcohol trong một giờ.

Alcohol làm thay đổi chức năng hệ thần kinh trung ương. Ở nồng độ rất cao (0.4% trong máu) có thể gây chết, cũng như liên tục, trong thời gian dài uống nhiều rượu.

Bia Có nhiều loại bia khác nhau bởi thành phần. Lượng cồn thay đổi từ 3 đến 7%, bia thường chứa nhiều hợp chất polyphenolic và phenolic có hoạt tính sinh học, góp phần tạo nên vị và màu, nhiều hợp chất này có hoạt tinh chống oxi hóa. Bia là một nguồn magnesium, kali, vitamin B2, folate và các vitamin nhóm B khác.

Rượu vang Thành phần của rượu phụ thuộc vào loại nho khác nhau, cũng như điều kiện trồng và phương pháp làm rượu, có thể thay đổi tùy từng vùng. Nồng độ rượu thay biến đổi từ 9-15%. Rượu đỏ có lượng chất polyphenol và phenolic rất cao (từ 800-4000mg/l) đặc biệt là resveratrol, từ vỏ quả nho. Cũng giống như bia, các hợp chất này tạo nên màu sắc và vị của rượu. Rượu trắng có ít chất polyphenol hơn. Rượu đỏ cho thấy có hoạt tính chống oxy hóa trong phòng thí nghiệm. Rượu cũng chứa đường (chủ yếu glucose và fructose), các acid bốc hơi chủ yếu là acid acetic(volatile), acid carboxylic và nồng độ canxi, đồng, sắt, magne, kali và vitamin B1, B2, B6, và C.

Spirits/liquos Nồng độ cồn của spirits và liquors và liqueurs thường từ 35-50% và thậm chí cao hơn. Rượu chưng cất có thể thêm nhiều thành phần khác nhau vào như các loại rượu ngâm

3.11.Càphê và chè

Cà phê và chè cũng được nghiên cứu trong mối tương quan với một số bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu cho tới nay không thấy có mối tương quan giữa uống chè, cà phê tới sự phát sinh bệnh ung thư. Một số nghiên cứu chỉ ra việc uống chè xanh thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày.

3.12 Sản xuất bảo quản và chế biến thực phẩm

Hệ thống thực phẩm hiện đại bao gồm nhiều lĩnh vực trong sản xuất thực phẩm có khả năng ảnh hưởng đến nguy cơ gây ung thư. Ưu điểm của hệ thống này làm đảm bảo cung cấp rau và quả quanh năm.Một số cách nấu nướng thực phẩm có thể sản sinh ra polycyclic aromatic amin. Những chất này thường tạo ra trong quá trình pyrolysis cacbob thường xuất hiện khi nướng thực phẩm bằng than hay hun khói. Một số nghiên cứu đã chứng minh những chất này là nguyên nhân gây ung thư.

4. Hoạt động thể lực 4.1. Định nghĩa

Hoạt động thể lực là bất kể một hoạt động nào sử dụng hệ cơ. Với những người có cuộc sống tĩnh tại, hoạt động thể lực nhẹ bao gồm đứng, đi vòng quanh cơ quan hay nhà, đi mua sắm hay chuẩn bị thức ăn. Thời gian nghỉ ngơi, con người có thể thực hiện các hoạt động thể lực nhẹ, trung bình, nặng phụ thuộc vào bản chất và cường độ hoạt động cũng như sở thích cá nhân. Hầu hết những người có cuộc sống năng động thường hoạt động thể lực ở mức trung bình hay nặng ở nơi làm việc hoặc ở nhà và qua các hoạt động đi lại. Ngồi, đứng và các hoạt động thể lực nhẹ thực chất là các công việc thường ngày, có ở tất cả các dạng hoạt động thể lực.

Tập thể dục hoặc tất cả các dạng hoạt động được đào tạo là các dạng hoạt động thể lực trong lúc nghỉ ngơi. Các hoạt động này có thể là thể dục nhịp điệu như chạy, đạp xe… và dạng các hoạt động thể lực khác làm tăng lượng oxy tiêu thụ và tăng chức năng hoạt động của tim, làm tăng cường sự dẻo dai của cơ bắp.

Hoạt động thể lực làm tăng năng lượng tiêu thụ và do vậy là yếu tố làm cân bằng năng lượng. Hoạt động thể lực mức độ nặng có thể được xếp loại dựa trên việc làm tăng sự chuyển hoá.

4.2. Phân loại và mức hoạt động thể lực

Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung động thể lực được chia thành 4 loại. Đó là:

* Hoạt động có tính chất nghề nghiệp (thường ở nơi làm việc)

* Công việc nội trợ (ở nhà)

* Đi lại ( như đi từ nhà đến nơi làm việc và ngược lại)

* Nghỉ ngơi

Có rất nhiều bằng chứng được tổng kết và sử dụng sự phân loại này. Cộng đồng và môi trường nơi hoạt động thể lực diễn ra (tại nơi làm việc hay tại nhà) phụ thuộc vào các công cụ bằng tay và việc đi lại khiến cho các hoạt động thể lực mang tính chủ động, thậm trí không có thời gian nghỉ ngơi. Ngược lại, những người có cách sống và làm việc thụ động thì sẽ rất thụ động cho dù họ có hoạt động rất nhiều vào thời gian nghỉ ngơi. Nhìn chung, ở những nước có thu nhập cao, thời gian tĩnh tại chiếm phần lớn thời gian và mức hoạt động thể lực thường thấp hơn.

Hoạt động thể lực cũng có thể được phân chia thành các nhóm như sau: nhóm nặng, trung bình, nhẹ và nghỉ ngơi tĩnh tại. Việc phân chia này kết hợp giữa tần suất, mức độ và khoảng thời gian được xác định cho tổng mức hoạt động thể lực. Một người có thể tiêu tốn cùng một lượng năng lượng trong 1 giờ hoạt động thể lực với mức độ nhẹ ương đương với 30 phút hoạt động ở mức trung bình và 20 phút hoạt động ở mức độ nặng.

Với những cộng đồng hoạt động một cách chủ động nơi mà năng lượng từ thức ăn không sẵn có, con người có khuynh hướng gầy và nhỏ.

PGS.TS.BS Trần Văn Thuấn

( Phó Giám đốc Bệnh viện K, Chủ tịch Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam)