【#1】Mạo Từ Trong Tiếng Anh. Khái Niệm, Cách Dùng Cần Nhớ

Mạo từ là các từ đứng trước danh từ hoặc cụm danh từ (tính từ + danh từ) và giúp cho biết danh từ/cụm danh từ đó thuộc dạng xác định (Definite Article) hay không xác định (Indefinite article).

  • Mạo từ không xác định (Indefinite article): a, an
  • Mạo từ xác định (Definite Article): the
  • Danh từ: a cat (1 con mèo), an apple (1 quả táo),…
  • Cụm danh từ: a beautiful day (1 ngày đẹp trời), an impossible plan (1 kế hoạch không khả thi),…

Chúng ta dùng A / AN khi nói đến 1 đối tượng chưa xác định, lần đầu được nhắc đến trong câu. A / An có nghĩa là “một”, đứng trước danh từ hoặc cụm danh từ đếm được số ít.

Ví dụ: I have a beautiful dress. (Tôi có 1 cái đầm đẹp)

Ví dụ: I’m so hungry. I’d like an apple. (Tôi đói bụng quá. Tôi muốn ăn 1 quả táo)

    Mạo từ “a”: đứng trước danh từ số ít bắt đầu bằng phụ âm và 1 số trường hợp đặc biệt bắt đầu là “u”, “y”

Ví dụ: a yard (1 cái sân), a uniform (1 bộ đồng phục), a year (1 năm), a computer (1 cái máy vi tính), a notebook (1 quyển tập),…

    Mạo từ “an”: đứng trước danh từ số ít bắt đầu bằng nguyên âm và 1 số từ bắt đầu là âm “h” câm

Ví dụ: an hour (1 tiếng), an egg (1 quả trứng), an umbrella (1 cây dù), an orange (1 quả cam),…

    Mạo từ THE được dùng khi đối tượng đã được xác định, có nghĩa là được nhắc đến lần thứ 2 trở đi trong câu. Khác với A / AN, THE dùng được cho cả danh từ số ít và danh từ số nhiều.

Ví dụ: I saw a little girl. The little girl looks very familiar. (Tôi đã nhìn thấy 1 bé gái. Bé gái trông rất quen)

“A little girl” trong câu thứ nhất đi với mạo từ “a” vì chúng ta không biết bé gái đang nói đến là ai. Nhưng khi được nhắc lại ở câu số 2, ta dùng “the little girl” vì đã xác định được bé gái đang nói tới ở câu trước.

Chúng ta còn dùng mạo từ THE trong các trường hợp sau:

  • Danh từ là vật thể duy nhất: the moon (mặt trăng), the earth (quả đất),…
  • Trước số thứ tự, các cấp bậc: the first (đầu tiên), the second (thứ hai),…
  • Trước “last name” (họ) để chỉ gia đình ai đó (last name dạng số nhiều): The Smiths (gia đình Smith),…
  • Danh từ là loại nhạc cụ: the piano, the saxophone,…
  • Đứng trước tính từ để chỉ tượng trưng cho một nhóm người: the young (người trẻ), the rich (người giàu),…
  • Danh từ là tên biển, sông, quần đảo,… và 1 số nước đặc biệt: the Atlantic Ocean (Đại Tây Dương), the United States (Hoa Kỳ),…

Chúng ta KHÔNG dùng mạo từ trước danh từ đối với các trường hợp sau:

  • Ngôn ngữ: English, Korean, Vietnamese,…
  • Bữa ăn: breakfast, lunch, dinner
  • Tên đường, hầu hết các quốc gia: Hai Ba Trung street, New York, France,…
  • Môn thể thao: basketball, soccer,…
  • Môn học: literature, math, history,…
  • Tước hiệu: President Donald Trump,…
  • Khác: in summer / winter / …., (mùa), next year, last week, from left to right (từ trái sang phải)

KHÔNG dùng mạo từ sau sở hữu cách: my ruler (không phải là my a / the ruler),…

Bài tập 1: Điền vào chỗ trống mạo từ thích hợp hoặc để trống

1) I chúng tôi of sneakers.

2) I chúng tôi last night.

3) Look chúng tôi over there! He is a famous actor.

4) I don’t like………..volleyball.

5) That is……..student I told you about.

6) Mike traveled to………..Germany.

7) I heard………amazing story from Lisa yesterday.

8) I live in………apartment. …………apartment is quite small.

9) Rosa can play………guitar.

10) Yamora is…………..Japanese.

Bài tập 2: Chọn đáp án đúng

1) This is………milk.

A. a B. an C. the D. –

2) We have to wear……..uniform to school.

A. a B. an C. the D. –

3) chúng tôi is hot.

A. a B. an C. the D. –

4) He is………honest man.

A. a B. an C. the D. –

5) chúng tôi Noi is the capital of Viet Nam.

A. a B. an C. the D. –

6) chúng tôi is white.

A. a B. an C. the D. –

7) This chúng tôi dog.

A. a B. an C. the D. –

8) chúng tôi have four legs.

A. a B. an C. the D. –

9) May I have……….glass of milk?

A. a B. an C. the D. –

10)…..book has pages.

A. a B. an C. the D. –

Bài tập 1:

1) a 2) a 3) the 4) X 5) the

6) X 7) an 8) an / The 9) the 10) X

Bài tập 2:

1) D 2) A 3) C 4) B 5) D

6) C 7) B 8) D 9) A 10) A

【#2】Tính Từ Trong Tiếng Anh: Phân Loại Và Cách Dùng

Định nghĩa, phân loại, ví trí và cách sử dụng tính từ sở hữu, tính từ miêu tả, tính từ chỉ thị….trong tiếng anh cũng như các giới từ đi kèm với tính từ đầy đủ nhất.

Tính từ trong tiếng anh là gì?

Tính từ (Adjective) là từ bổ trợ cho danh từhoặc đại từ, nó giúp miêu tả các đặc tính của sự vật, hiện tượng mà danh từ đó đại diện. Tính từ là những từ chỉ màu sắc, trạng thái, tính chất… Các tính từ này thường đứng trước danh từ để bổ nghĩa cho danh từ, làm cho ta hiểu thêm về danh từ.

Tính từ cũng thường đi sau một vài động từ như động từ “to be” hay “look”, “seem”, “appear”, “turn”…

VD: – We can’t go out because of the heavy rain.

– He is kind to us.

Một tính từ có thể đứng trước hoặc đứng sau danh từ hay đại từ mà nó mô tả.

Nhiều tính từ có thể được dùng để mô tả cho cùng một danh từ (khi có nhiều tính từ đứng trước và miêu tả về cùng 1 danh từ thì các tính từ sẽ sắp xếp theo trật tự là: opinion – size – shape – age – color – origin – material: quan điểm nhận xét về đối tượng danh từ – kích thước – hình dáng – tuổi tác – màu sắc – xuất xứ – chất liệu danh từ).

Nếu có nhiều tính từ miêu tả thì tính từ ngắn đứng trước tính từ dài, tính từ chỉ tinh thần trước tính từ chỉ vật chất.

Thứ tự sắp xếp của tính từ trong tiếng anh

Trật từ của tính từ trong tiếng anh được sắp xếp theo các vị trí như sau:

( be và các động từ như seem, look, feel..) She is tired. Jack is hungry. John is very tall.

* Sau danh từ: Tính từ có thể đi sau danh từ nó bổ trợ trong các trường hợp sau đây:

    Khi tính từ được dùng để phẩm chất/tính chất các đại từ bất định:

There is nothing interesting.

    Khi hai hay nhiều tính từ được nối với nhau bằng “and” hoặc “but”, ý tưởng diễn tả bởi tính từ được nhấn mạnh:

The writer is both clever and wise. The old man, poor but proud, refused my offer.

    Khi tính từ được dùng trong các cụm từ diễn tả sự đo lường:

The road is 5 kms long A building is ten storeys high

    Khi tính từ ở dạng so sánh:

They have a house bigger than yours The boys easiest to teach were in the classroom

    Khi các quá khứ phân từ là thành phần của mệnh đề được rút gọn:

The glass broken yesterday was very expensive

    Một số quá khứ phân từ (P2) như: involved, mentioned, indicated:

The court asked the people involved Look at the notes mentioned/indicated hereafter

* Hậu tố (đuôi) của tính từ trong tiếng anh

Thông thường các hậu tố thường gặp ở tính từ là: -able, -ible, -al, -tial, -ic, -y, -ful, -ous, -ive, -less, -ish, -ent, -ary VD: honorable, possible, national, economic, funny, useful, dangerous, expensive, colorless, childish, independent, necessary… Tính từ kết thúc là -ing và -ed:

    Loại tính từ này thường được cấu tạo từ động từ và sau đó thêm -ing và -ed

VD: surprise (v) à surprising (adj) – surprised (adj)

    Tuy nhiên có sự khác nhau giữa adj -ing và adj -ed

– ing adj: thường mang nghĩa chủ động (tác động tới cái gì đó, ai đó, có ảnh hưởng này), chỉ tính chất, bản chất, dùng để miêu tả nơi chốn, sự vật, sự việc, hành động. VD: She has an interesting film. – ed adj: thường mang nghĩa bị động (bị cái gì đó tác động lên, bị ảnh hưởng theo cách này), thường dùng để chỉ cảm xúc. VD: I feel bored when I listen to classical music.

Phân loại và cách sử dụng các loại tính từ trong tiếng anh

Tính từ trong ngữ pháp tiếng anh thường được phân thành 2 loại, tính từ theo chức năng và tính từ theo vị trí.

Phân loại và cách dùng tính từ theo chức năng

* Tính từ riêng: xuất phát từ một danh từ riêng

VD: Vietnam à Vietnamese France à French England à English Japan à Japanese

Lưu ý: những tính từ riêng phải viết hoa

* Tính từ miêu tả: những từ miêu tả hoặc định phẩm một danh từ Phần lớn tính từ đều thuộc loại này

VD: – a tall boy: một đứa trẻ cao

– a round ball: một quả bóng tròn

– a ptty girl: một em bé xinh

Các tính từ miêu tả thường được sắp xếp như sau: sự miêu tả tổng quát (bao gồm những tính từ chỉ cá tính và sự xúc cảm) – kích thước – hình dáng – màu sắc – nguồn gốc – chất liệu – mục đích (những từ này là danh động từ được dùng để hình thành danh từ kép: fishing rod (cần câu cá), sleeping bag (túi ngủ)…)

VD: – a small round bath: một cái chậu tắm tròn nhỏ

– a long sharp knife: một con dao sắc dài

– blue velvet curtains: những tấm màn nhung xanh

* Tính từ sở hữu: dùng để chỉ danh từ đó thuộc về ai

VD: – my house: ngôi nhà của tôi

– our garden: khu vườn của chúng tôi

– their grandparents: ông bà của họ

Lưu ý: khi chủ sở hữu là một đại từ bất định: one à hình thức sở hữu tính từ là one’s Chủ sở hữu là những từ như “everyone” hay những danh từ tập hợp thì tính từ sở hữu ở hình thức ngôi thứ ba số nhiều “their”

* Tính từ số mục: từ chỉ số đếm hoặc số thứ tự

VD:- one, two, three…: một, hai, ba

– first, second, third…: thứ nhất, thứ hai, thứ ba

– I am the second daughter in the family.

* Tính từ phân phối: từ không chỉ rõ các vật

VD:

– all: tất cả

– every: mọi – some: một vài, ít nhiều

– many, much: nhiều

– Each và every: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Every chỉ một tập thể, Each chỉ cá thể.

VD: – Each student must try his best.

– Every man knows what to do.

– Both: cả hai, dùng với động từ ở số nhiều.

VD: – Both the children play in the garden.

– Both his legs were broken.

– Either và Neither: đều đi với động từ ở ngôi số ít. Either nghĩa là cái này hoặc cái kia trong số hai. Neither nghĩa là không cái này cũng không cái kia trong số hai.

VD: – Hedges ran on either side. (hàng rào chạy dài ở mỗi một bên đường.)

– Other, another : khác

– Neither answer is correct. (cả hai câu trả lời đều không đúng.)

VD: – You have to learn many other things. – Another boy has taken my

*Tính từ chỉ thị: từ đi với danh từ để chỉ cái này, cái kia Đây là loại tính từ duy nhất thay đối theo số của danh từ. This, That thay đổi thành These, Those khi đi trước danh từ số nhiều. This, vàThese được dùng cho các đối tượng, vật và người ở gần trong khi That và Those dùng cho các đối tượng ở xa hơn.

VD:

– this chair: cái ghế này;

– these chairs: những cái ghế này

– that child: đứa trẻ đó; those children: những đứa trẻ đó

* Tính từ liên hệ: từ có hình thức như đại từ liên hệ

VD: whichever, whatever

* Tính từ nghi vấn: từ dùng để hỏi

Tính từ nghi vấn chỉ có hai hình thức:

– In what place were you born?

    What (gì, nào) (nói chung) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật, ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

VD: – What boy beats you? (đứa trẻ nào đánh bạn?) – What books have you read? (những cuốn sách nào bạn đã đọc?)

    Which (gì, nào) (ngụ ý lựa chọn) đi với danh từ chỉ người cũng như chỉ vật ở số ít cũng như ở số nhiều, làm bổ túc từ cũng như chủ từ.

VD: – Which book do you like best? (cuốn sách nào bạn thích nhất?) – Which friend do you pfer? (người bạn nào anh ưa hơn?)

Cách sử dụng và phân loại tính từ theo cách thành lập

* Tính từ phát sinh

* Tính từ đơn: long, blue, good, bad

– Thêm tiền tố: unhappy, inexpensive, impatient, irregular, asleep, illegal…

– Thêm hậu tố: thường cấu tạo từ một danh từ thêm các đuôi như y, ly, ful, less, en, like, able, al, an, ian, ical, ish, some, một động từ thêm đuôi ing, ed

VD: rainy, friendly, careful, wooden, musical, atomic, republican, honorable, troublesome, weekly, dreamlike, fairylike, quarrelsome, Southern, Northern, lovely, amazed, amazing…

* Tính từ ghép Tính từ ghép là sự kết hợp của hai hay nhiều từ lại với nhau và được dùng như một tính từ duy nhất. Khi các từ được kết hợp lại với nhau để tạo thành tính từ ghép, chúng có thể được viết:

VD: – life + long = lifelong – car + sick = carsick

    thành hai từ có dấu “-” ở giữa

VD: – world + famous = world-famous

Tính từ ghép thành lập theo những thể thức sau:

Cách viết tính từ ghép được phân loại như trên chỉ có tính tương đối.

VD: – dark-blue: xanh thẫm, xanh đậm

– wordly-wise: từng trải

VD: – coal-black: đen như than

– snow-white: trắng như tuyết

VD: – dark-eyed: có mắt huyền

– round-faced: có khuôn mặt tròn

VD: – snow-covered: có tuyết phủ

– handmade: làm bằng tay

VD: – newly-born: sơ sinh

– white-washed: quét vôi trắng

VD: – good-looking: trông đẹp mắt, ưa nhìn

– heart-breaking: làm tan nát cõi lòng

Ngoài ra còn có nhiều tính từ ghép được thành lập không theo một thể thức nào nhất định

VD:

– a heart-to-heart talk: một cuộc nói chuyện tâm sự

– a never-can-be-finished task: một việc không bao giờ làm xong

– a need-to-do list: một danh sách những việc cần làm

Các giới từ đi kèm với tính từ trong tiếng anh

Đi kèm theo cấu trúc: S + be + adj + giới từ + N / Ving (doing something)

VD: I am excited about the film. We are interested in learning English. Tùy từng tính từ sẽ có giới từ đi kèm cụ thể. Một số ví dụ về tính từ đi kèm với giới từ:

Afraid ofAware of Bad at / to Capable of Confident of Fit for Fond of Frightened at / of Good at / to Interested in Keen on Pleased with Prepared for Proud of Ready for Responsible for / to Sorry for / about Successful in Tired of

e ngại, lấy làm tiếcý thức được tồi, dở về / không tốt với có khả năng về tin chắc về thích hợp với thích khiếp đảm về giỏi về / tốt với quan tâm đến mê thích về hài lòng với sửa soạn cho tự hào về sẵn sàng để có trách nhiệm về/ với xin lỗi vì thành công về chán nản, mệt mỏi về

  • Cách dùng tính từ trong tiếng anh
  • danh sách tính từ trong tiếng anh
  • tính từ trong tiếng anh là gì
  • bài tập về trật tự tính từ trong tiếng anh
  • vị trí của tính từ trong tiếng anh
  • phân loại tính từ trong tiếng anh
  • trật từ tính từ trong tiếng anh
  • cách sắp xếp thứ tự tính từ trong tiếng anh

【#3】Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ.

Nguyễn Xuân Quang

Những từ mà chúng ta ngày nay cho là “thô tục”, đối với tổ tiên ta chúng mang đầy ý nghĩa về triết lý, vũ trụ quan và nhân sinh quan, nói một cách khác những từ này mang ý nghĩa của Dịch lý.

Vì đây là một bài khảo cứu về ngôn ngữ và Dịch học, nên tác giả xin phép viết các từ thô tục này “nguyên con” (nguyên chữ). Xin các nhà đạo đức tạm gác cái bầu đạo đức qua một bên khi đọc loạt bài này kẻo không sẽ nguy hại tới sức khỏe (đây là lời khuyên của một thầy thuốc).

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ

Trước hết xin nói về những từ chỉ bộ phận sinh dục phái nữ vì xã hội loài người bắt đầu từ mẫu hệ và hư vô trung tính chuyển qua vũ trụ âm trước. Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, dánh, ke, ghe, nốc, dốc, đốc v. v…

NƯỜNG

Nường là tiếng cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua từ kép “nõ nường”. Nõ là nọc là cọc là cặc (xem dưới). Nường là nương, là nang có nghĩa là cái bao, cái túi, cái bọc. Nường là nòng, nõ là nọc. Nõ nường là nọc nòng dương âm là càn khôn. Ta cũng có từ nõn nường hàm nghĩa chỉ bộ phận sinh dục:

Ba mươi sáu cái nõn nường, Cái để đầu giường, cái gối đầu tay.

(ca dao).

Thật ra nõn nường chỉ bộ phận sinh dục gái tơ với nõnnon, trẻ, mượt mà như vải phin nõn, trắng nõn trắng nà. Từ nõn nà với nà là ná, nạ (mẹ) nàng, nường. Nõn nà là nường non, gái tơ, cái nường trắng nõn, trắng nà. Nõn nà là nàng đẹp tương đương với mị nương chính là Mã Lai-Java ngữ nona, nàng.

LỒN

Lồn là lồng, lòng, nòng, nàng, nường, nang có nghĩa là cái bao cái túi, cái bọc.

Cũng xin nói thêm ở đây là vì có biến âm d=l nên ta có từ nói lái đôn lò.

GHE

Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

(ca dao).

Xin bước ra ngoài lề bài viết để kể một câu chuyện lúc tôi đi tuần du hải dương (sea cruise). Trong một buổi gặp mặt thuyền trưởng, một du khách hỏi vị thuyền trưởng là tại sao ship có giống cái và nói là she. Vị thuyền trưởng trả lời là các người đi biển coi con tầu, chiếc thuyền như một mỹ nhân, một người yêu, họ sống chết theo con tầu, chiếc thuyền. Tôi có nói nhỏ với vị thuyền trưởng là trong Việt ngữ ghe ship có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Ông ta há hốc miệng. Bằng chứng là Ainu ngữ của thổ dân ở Nhật có từ chip là ghe thuyền cũng có nghĩa lóng là bộ phận sinh dục nữ (xem dưới).

NỐC, DỐC, ĐỐC

Nốc là cổ ngữ Việt chỉ thuyền, ghe. Ngày nay chỉ thuyền nhỏ, còn dùng ở miền bắc Trung Việt:

Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

(Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Hay

Một trăm chiếc nốc chèo xuôi,

Không có chiếc mô chèo ngược, để tôi gởi lời viếng thăm.

(Hát đò đưa Nghệ Tĩnh).

Hay

Đêm khuya thắp ngọn đèn chai,

Quen o nốc đáy, ăn hoài cá tươi.

(ca dao).

Cũng nên biết nốc ở dưới nước nên liên hệ tới nước. Nốc còn có nghĩa là uống như nốc nước, nốc rượu. Nốc biến âm với nác, nước, núc. Nguyên thủy nốc cũng làm từ một thân cây khoét rỗng. Nốc liên hệ với Anh ngữ nog (cái chốt bằng khúc cây) log (thân cây). Nốc là ghe cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Nốc liên hệ với An ngữ nook (chỗ lõm, “xó” nhà, chỗ lõm dùng làm chỗ ngồi ăn gần bếp). Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục như thấy qua câu ca dao:

Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

Thật ra phải viết là ” cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim lốc là dạng nam hóa của nốc (giống như của ) vô nghĩa. Như thế nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc. Cổ ngữ Việt cũng có từ dốc, đốc chỉ thuyền. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ dốc chỉ cơ quan sinh dục đàn bà. Theo n = d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà như thấy qua từ mồng đốc chỉ hạt tình (clitoris) (1). Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

Như thế ta thấy một nhóm chỉ bộ phận sinh dục nữ qua các từ có nghĩa là ghe, nốc liên lạc với nước mang tính thái âm, thuần âm. Ngay cả từ đò đôi khi cũng được dùng để chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

Khi xưa anh ở cùng đò,

Bây giờ đò rách anh mò thuyền nguyên.

Từ đò gần âm với đồ. Từ đồ có nghĩa là ông đồ nho và cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục như thấy qua câu thơ của một nhà thơ cổ chế riễu hai ông nhà nho:

Hai đứa tranh nhau một cái đồ!

Đò biến âm với đỏ. Đỏ cũng có một nghĩa là con gái, bộ phận sinh dục nữ như thấy trong câu hát:

Thằng cu vỗ chài, Bắt trai bỏ giỏ. Đi xem đánh cá…

Cái đỏ đối với thằng cu, “đỏ” đối với “cu”.

Đò cũng biến âm với đó, dụng cụ bắt cá có hình túi cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu tục ngữ:

Đó rách ngáng chỗ.

Ý nói các bà vợ có ” đó đã rách ” nên nằm ngáng chỗ khiến các ông chồng không thể mò được “thuyền nguyên”. Cái hay nữa là “đó” cũng có nghĩa là “ấy”. Cái đó là cái ấy.

Điều rất thú vị là không những các từ cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ còn có nghĩa là ghe, nốc mà trong ngôn ngữ của người Ainu (Hà Di), thổ dân sống ở Nhật Bản có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe, nốc. Ainu ngữ chip chỉ ghe thuyền. Ta thấy rất rõ chip liên hệ với Anh ngữ ship (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ chip cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo:chip, a slang word for the vagina (Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905). Người cổ Việt đã gặp người Ainu “trong phòng the” cách đây hàng mấy ngàn năm. Nên biết là cái nốc, cái độc mộc có thể đi khắp bốn biển sang tới tận Madagascar (ngày nay thuyền độc mộc còn dùng nhiều ở đảo này, ngôn ngữ Magdagascar liên hệ với tiếng Mã-Nam Dương và Nam Á) thì thuyền độc mộc hay cái “nốc” của phái nữ cổ Việt sang tới đất Nhật Bản cũng là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên cả.

Dĩ nhiên, ngoài ra còn có những tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Chỉ xin nói tới một từ phổ thông nhất là từ lá đa.

LÁ ĐA

Lá đa chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy qua câu ca dao:

Sự đời như cái lá đa,

Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

Như đã giải thích ở chương Giống Đực Giống Cái trong Tiếng Việt Huyền Diệu, miền Bắc gọi là cây đa trong khi Trung Nam gọi là cây da. Từ da của Trung Nam theo duy âm, nòng có một nghĩa là cái túi cái bao, cái bọc thân người như da người, da trời. Thái ngữ nang là da. Với nghĩa là túi, bọc, nang nên lá đa là lá nường, là lá nàng, lá nòng, là lồng, lồn.

Về ngôn ngữ học, lá đa theo duy dương, nọc có nghĩa là lửa, mặt trời, đỏ.

Như thế lá đa theo duy dương là lá trời, lá đỏ (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Như trên ta đã thấy đỏ cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ như “con đỏ ẵm em”. Lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ vì thế lá vông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ vì vông biến âm với vang có nghĩa là đỏ. Đỏ biến âm với đẻ, Phạn ngữ ja là đẻ cùng âm với Việt ngữ da, đa. Lá đa, lá vông có thể hiểu là “lá đỏ”, “lá đẻ”. Lá vông chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ thấy rõ qua tục mai táng của Việt Nam:

Cha gậy tre, mẹ gây vông.

Khi cha chết con trai chống gậy tre. Như đẵ biết tre là cây “que”, loài thảo mộc thẳng như cái que không có cành nhánh lớn. Que biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam, phái nam vì thế mà khi cha chết con trai phải chống gậy tre là vậy. Trong khi đó lá vông là lá đỏ chỉ bộ phận sinh dục nữ, phái nữ nên khi mẹ chết con trai phải chống gậy vông.

Ngoài ra về hình dạng lỗ sinh dục phái nữ cũng giống lá đa. Hình lá đa chỉ lỗ sinh dục phái nữ còn thấy rất rõ trong gốm cổ Moche của Peru (Gốm Tình Dục Peru Cổ).

Gốm diễn tả bộ giống phái nữ làm theo cơ thể học, người nữ hình Mẹ Đời ngồi ở tư thế sinh con, hai tay giơ lên phía đầu, ở trong Trứng Vũ Trụ (ở giữa), hình nòng O (bên trái) và hình lá đa (bên phải), Bảo Tàng Viện Larco (ảnh của tác giả).

Lá đa, lá vông, lá mơ đều có hình dạng giống nhau vì thế “hiện thực” hơn nữa, lá mơ lông cũng dùng chỉ bộ phận sinh dục nữ.

Hơn nữa tổ tiên ta chọn lá đa, lá da và từ lá đa, lá da được dùng phổ thông hơn các thứ lá khác vì cây đa, cây da là cây thờ, cây linh thiêng, Cây Đời (Tree of Life), Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree) sinh ra vũ trụ muôn loài. Người đàn bà đầu tiên của loài người hay Mẹ Đời của truyền thuyết Mường Việt cổ là Dạ Dần sinh ra từ một cây si, cùng họ với cây đa (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Cái lá đa của phụ nữ Việt là một thứ lá “thiêng liêng” vì thế tục thờ “lá đa” nói riêng và thờ nõ nường, thờ dâm thần của người cổ Việt theo mẫu hệ là chuyện dĩ nhiên.

THÌ LA, THÌ LẨY, THÈ LE, TÈ LE

Xin nói tới một từ chỉ bộ phận sinh dục nữ rất bí hiểm không một ai biết nghĩa. Ta có bài đồng dao nói về con gái:

Con gái bẩy nghề, Ngồi lê là một, Dựa cột là hai, Kêu ca là bốn, Trốn việc là năm, Hay nằm là sáu, Láu táu là bẩy.

Ông đồ nào là tác giả làm bài đồng dao này cho con nít hát quả thật là một ông “đồ thâm” nho, một ông đồ “nho nặng” (nhọ), đồ này rất “đen” và rất “nhọ”. Cũng nên biết là bài đồng dao này rất phổ biến ở miền Bắc vì thế không phải chỉ có Trung Nam có liên hệ với Nam Đảo như Mã- Phi Luật Tân mà miền Bắc cũng có liên hệ.

NU NA NU NỐNG

Ta cũng thường nghe trẻ em hát bài đồng dao:

Cái bống nằm trong, Con ong nằm ngoài. . .

Như đã giải nghĩa ở chương Dịch Học trong Tiếng Việt Huyền Diệu, na là một tiếng cổ Việt có nghĩa là (ná, nạ là mẹ), nàng, nang, nường như nõn nà = nõn nường (cái nà, cái nường trắng nõn). Cổ Việt nống là cái nọc để chống, để nâng vật gì lên. Na và nống là nường nõ, nòng nọc. Na là nà, là nàng, là nường là nòng là dòng là nước nên đi với câu hát thứ nhì có con cá bống, còn nống là cọc là nọc nên đi với câu thứ ba có con ong là loài có nọc (“ong non ngứa nọc”). Hai câu sau giải thích nghĩa của hai từ cổ ‘na” và nống”. Còn từ “nu” nghĩa là gì? Nu biến âm với neo, néo, đeo, đéo với đu, đụ. Nu na nu nống hiển nhiên là “đu na đu nống” là làm tình. Ông đồ nào làm ra bài đồng dao này cũng là loại đồ thâm.

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NAM

Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ, lõ, ke, que, buồi, cặc, chông, chim, cò, cu v. v…

Nhìn chung những từ chỉ bộ phận sinh dục nam có nghĩa là “vật nhọn” như nọc, cọc, que, roi, dùi…

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ nường (nọc nòng). Nõ là cây cọc, nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lõ”: ‘làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa’ và có từ “lô”, “con lô”: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện kim chỉ vật gì đâm ra như cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Có phương ngữ nói là cặc lỏ (dấu hỏi). Theo l=n, lỏ = nỏ, vật bắn mũi tên (một thứ nọc, cọc nhọn). Thời cổ con người dùng cây nõ, cây cọc nhọn đâm thú vật mải về sau mới phát minh ra cây nỏ, cây ná bắn mũi tên. Ta thấy cây nõ đẻ ra cân nỏ, cây ná.

Ở đây ta thấy lõ (dấu ngã) và lỏ (dấu hỏi) theo hai cách nói và viết với hỏi ngã khác nhau của hai phương ngữ khác nhau đều đúng cả, chỉ có từ này cổ hơn từ khác mà thôi. Vì thế trong Việt ngữ vùng này nói theo âm dấu hỏi vùng kia nói theo âm dấu ngã chưa hẳn là ai đúng ai sai. Chúng ta phải chờ cho tới khi có một hàn lâm viện Việt Nam quyết định chọn viết theo dấu nào để dùng trong pháp ngữ Việt thì khi đó ta đem dùng trong các viết theo học viện (academic). Giả dụ các ông học viện sĩ (hàn lâm viện sĩ, viện sĩ) hỏi ý kiến tôi chọn cách viết theo dấu ngã hay theo dấu hỏi, thì tôi chọn viết theo lõ (dấu ngã) dựa vào các lý lẽ sau đây:

./ gốc nõ (cây cọc) cổ hơn nỏ (vật bắn cọc nhọn) như đã nói ở trên cây nõ đẻ ra cây nỏ.

./ theo cách giúp trí nhớ về hỏi ngã mà chúng ta thường nghe nói tới là “(Chị) Huyền ngã nặng, hỏi sắc (thuốc) không?” thì dấu ngã (lõ) đi với dấu nặng (cặc).

./ta thường viết mũi lõ rồi thì viết cặc lõ cho nó thuận chiều với nhau.

NỌC

Heo nọc là heo đực.

CỌC

Cọc chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua thơ Hồ Xuân Hương:

Quân tử có thương thì đóng cọc,

Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

(vịnh Quả Mít).

Hay

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

(vịnh Cái Đu).

Anh ngữ cock gà sống cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam, có coc – chính là cọc.

CHÔNG

Chông là cọc nhọn cũng chỉ bộ phận sinh dục nam:

. . . . . .

Thịt chó tiểu đánh tì tì,

Bao nhiêu lỗ tội tiểu thỉ cắm chông. Nam mô xứ Bắc xứ Đông, Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

(ca dao).

Chông cùng vần với chống là que, nọc để đỡ vật gì, với trống là đực với chồng là người có chông, có chống là người trống. Trong khi đó vợ biến âm với vỏ là cái bao, cái bọc, cái túi (xem Dịch Lý).

KE, QUE

Như đã nói trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ bộ phận sinh dục nữ và nam. Theo duy dương, ke biến âm với kẻ (kèo nhỏ, thước kẻ), với que chỉ bộ phận sinh dục nam.

CẶC

Trung Nam gọi bộ phận sinh dục nam là cặc. Cặc là biến âm của cược, cọc như tiền đặt cọc là tiền đặt cược (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Từ cặc liên hệ với những từ chỉ bộ phận sinh dục nam của Tây Ban Nha carajo, Latin dân dã caracium, Hy Lạp karas (pointed stake, cọc nhọn, REW. 1862) có car– là cặc; với Breton kalc’h, Cornish cal, Welsh col (sting, ngòi, nọc), Ái Nhĩ Lan colg (sword, gươm, kiếm, Pederson 1.105), giáo hội Slavic kocanu (c và u có dấu ă), Albanian kotsh (rod, stalk, que, roi, cọng cây, Berneker 536); Phạn ngữ kaprt(h) – (r có chấm ở dưới) (Walde -P. 1.348, 2.49). . .

BUỒI

Miền Bắc dùng từ buồi chỉ bộ phận sinh dục nam không dùng từ cặc. Buồi biến âm với bổ, búa (búa đây là búa có mỏ nhọn tức búa chim) cũng là vật nhọn. Buồi liên hệ với Anh ngữ bur (mũi khoan), ebur (ngà voi), spur (mấu nhọn như cựa gà, mấu nhọn ở gót giầy để thúc ngựa). Buồi biến âm thành “bòi “: trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ bòi: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Buồi ngày naycũng nói trại đi thành “bòi” như “Đứa nào cười tớ nó ăn bòi”. Buồi, bòi liên hệ với Anh ngữ boy (con trai). Thằng ” boy” có bòi, có buồi. Theo biến âm b=v, bòi = vòi, vọi. Khái Hưng trong truyện Trống Mái có một nhân vật rất nổi tiếng, một biểu tượng về tình dục (sex symbol) mang đầy hùng tính, nam tính tên là Vọi. Có lẽ Khái Hưng đã chọn tên này vì nó gần cận với Vòi, Bòi. Theo biến âm b=m, buồi = muồi, muỗi. Con muỗi là con mũi có vòi nhọn như kim nhọn hút máu; buồi = mùi. Trong mười hai con giáp Mùi là con dê là con thú có sừng biểu tượng cho dương, nam tương đương với con hươu. Hán Việt dương là dê. Dương có một nghĩa là đực. Đực biến âm với đục (chisel) là vật nhọn.

Nhìn chung buồi là bổ, búa, vật nhọn liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ * pes-, * pesos– (Walde-P. 2.68, Ernout-M 7520. Anh ngữ penis có gốc pen- có một nghĩa là cây bút, viết. Bút là bót, vót, viết là vót, vọt, que vót nhọn, nguyên thủy que vót nhọn dùng làm viết vạch lên đất sét, đá mềm. Pháp ngữ verge, Latin virga phát xuất từ gốc rod (roi), stalk (que, cọng cây) ta thấy rõ gốc ver-, vir– liên hệ với Việt ngữ vọt. Hòa Lan ngữ roed (penis) liên hệ với Việt ngữ roi

CHIM, CÒ, CU.

Dưới một góc cạnh, chim cò, cu có mỏ nhọn biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam. Theo biến âm ch= k như chặt = cắt, chim = kim (vật nhọn). Ta có từ ghép đồng nghĩa chim chóc. Chóc là chim. Tày-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok là nọc. Cò biến âm với cồ là đực. Đực biến âm với đục (chisel), vật nhọn. Đực là nọc như heo đực là heo nọc. Tục ngữ có câu:

Cơm no, cò đói.

Câu này cùng nghĩa với câu:

No cơm, ấm cật,

Rậm rật tối ngày.

Cu biến âm với cò, cồ. Chim cu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam:

Mù u, ba lá mù u,

Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa.

(ca dao).

Con trai nhỏ thường gọi là thằng cu. Như thế chim, cò, cu có gốc từ vật nhọn, kim, nọc, cọc nên biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam.

Tóm lại, qua những từ chỉ bộ phận nam nữ ta thấy có những điểm quan trọng cầm lưu tâm như sau:

-Trong những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, ghe, nốc, khe, kẽ v. v. từ lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng (ngược với Nọc), Khôn (ngược với Càn) dùng trong vũ trụ quan, vũ trụ giáo, thờ mặt trời, Dịch học. Lồn, lồng là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n). Từ lồn dùng phổ thông cả ba miền Bắc Trung Nam. Còn những từ khác gọi theo “bề ngoài” như ke, ghe, nốc v. v… ít phổ thông. Ghe, nốc dùng nhiều ở Trung Nam thôi.

-Trong tất cả các từ chỉ bộ phận sinh dục nam như ke (que), buồi, cặc, chim cò đều có nghĩa là vật nhọn, nọc, cọc. Miền Bắc dùng buồi trong khi Trung nam dùng cặc. Điểm này một lần nữa ngôn ngữ cho thấy hai xã hội Bắc Nam mang màu sắc Nam Bắc phân ranh (giới) có thể một phần là do hậu quả của một thời Nam Bắc phân tranh. Từ buồi của miền Bắc có gốc là bổ, búa. Từ bổ biến âm với bố (ngược với mẹ). Điểm này ta thấy gần cận với Hán ngữ phụ (bố) biến âm với phủ (rìu, búa). Bố có bổ, có buồi; phụ có phủ. Buồi của miền Bắc gần cận văn hóa Trung Hoa. Bố Việt và phụ Trung Hoa đều có búa cả. Trong khi từ cặc của Trung Nam như đã thấy liên hệ với Phạn ngữ kaprt(h)- (r có chấm ở dưới), bộ phận sinh dục nam (nên nhớ là trong Chàm ngữ, Mã Lai ngữ có rất nhiều gốc Phạn) và gần cận với Mã Lai ngữ (bang Riau Johor) chok chỉ bộ phận sinh dục nam. Chok chính là cọc là cặc. Mã-Lai cận đại theo Hồi giáo vay mượn tiếng Ả Rập hak, zaka r (cặc). Theo h = c (hủi = cùi) hak = cak, cặc và zakar có -kar là cặc. Từ cặc của Trung Nam gần cận với văn hóa Mã Lai Đa Đảo.

-Về bộ phận sinh dục nam Bắc Trung Nam có hai từ riêng biệt buồi và cặc, trong khi từ lồn ngày nay được dùng phổ thông khắp ba miền. Điều này cho thấy mẹ Việt Nam đời đời như nhất, ảnh hưởng mẫu hệ vẫn còn duy trì kiên cố trong xã hội Việt Nam; vai trò phụ nữ trong xã hội Việt Nam vẫn không thay đổi, nói một cách khác vẫn được duy trì, tôn thờ dù ở xã hộ mẫu quyền hay phụ quyền dù ở bất cứ một thể chế chính trị nào. . . Trong khi nam phái đã chia rẽ, phân biệt Bắc Trung Nam và đi theo các xu hướng, thể chế văn hóa , chính trị khác nhau.

-Lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng. Mặt khác buồi và cặc tuy là hai từ khác nhau nhưng đều có nghĩa gốc là vật nhọn, nọc. Như thế những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ, nam phổ thông hiện nay đều mang nghĩa nòng nọc (âm dương). Điểm này cho thấy Dịch lý giữ một vai trò cốt yếu trong tiếng Việt nói riêng và trong văn hóa Việt nói chung. Ta thấy rõ bai chữ cái nòng (O) và nọc (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

Điều này giải thích cho thấy rất rõ là người cổ Việt thờ nõ nường. Khảo cổ học tìm thấy những đôi tượng đá tạc bộ phận sinh dục nam nữ (nõ nường) ở Sông Mã, tượng bộ phận sinh dục nam ở Văn Điển, trên nắp thạp Đào Thịnh có những cặp nam nữ đang làm tình… Nhiều nơi ở vùng đất tổ Việt như ở xã Khúc Lạc và Dị Hậu tỉnh Phú Thọ gần đây còn giữ tục thờ sinh thực khí. Hàng năm hai xã vào đám ngày mồng 7 và 26 tháng giêng. Đồ lễ ngoài trầu cau rượu thịt còn có 36 âm vật và dương vật (18 cặp) gọi là nõ nường, dân địa phương gọi là “nọ nường”. Làng Đông Kỵ, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tổ chức hội xuân rước nõ nường vào ngày mồng 6 tháng giêng. Một bô lão dẫn đầu đám rước một tay cầm dương vật và một tay cầm âm vật bằng gỗ vừa đi vừa hát:

Cái sự làm sao, cái sự làm vầy,

Cái sự thế này, cái sự làm sao.

Vừa hát cụ vừa múa điệu âm dương diễn tả theo động tác làm tình. Cụ lồng hai hai bộ phận nam nữ vào nhau v. v… Một vài xã ở Hải Dương cũng có tục này. Khi đi rước thanh nam hát:

Cái nạo thế sừ, là cái sự thế nào?

Thanh nữ hát đáp lại:

Cái nạy thế sừ, là cái sự thế này. . .

(Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002). Sự thờ phượng nõ nường, thờ phượng dâm thần hay sinh thực khí của cổ Việt không phải là thứ “man di mọi rợi”, là thứ ‘dâm phong” “ngoài vòng lễ giáo” như người Trung Hoa gán cho người cổ Việt. Nhiều người Việt ngày nay đã sai lầm cho rằng sự thờ phượng nõ nường là thô tục, là điều đáng xấu hổ. Phải hiểu nõ nường là nọc nòng là nguồn cội, là sinh tạo, là tạo hóa sinh ra vũ trụ muôn loài. Thờ nõ nường là đạo thờ nòi giống, là đạo duy trì giống nòi, là đạo hiếu sinh, trường tồn. Thờ nõ nường là đạo tối cổ của nhân loại. Hình bóng thờ nõ nường để lại trong những nền văn minh “tiến bộ hơn” nghĩa là muộn hơn như thờ lingayoni của Ấn Độ. Vào thời phụ quyền sự thờ phượng “nõ” ngự trị hơn như hình thạch bi obelisk của Ai Cập, Menhirs ở Anh và các trụ thạch ở nhiều nơi khác. . . với ý nghĩa đã xa rời “đạo gốc”, nõ nường âm dương.

Một điểm rất lý thú là trong truyền thuyết vũ trụ tạo sinh của người Hawaii có hai vị thần tổ sinh tạo ra trần thế (Earth and the things on the Earth) có tên là thần KuLono (Martha Beckwith, Hawaiian Mythology, tr.32) tương ứng với Việt ngữ là thần Cu và thần Lồn. Điều này cũng dễ hiểu vì những tộc Mặt trời nước liên hệ với cổ Việt hay phát xuất từ cổ Việt ở Đa Đảo (Polynesia), Mã-Nam Dương đã dùng thuyền đi tìm đất mới tới tận các đảo xa xôi, trong đó có quần đảo Hawaii.

Chim biểu của bang Hawaii là con ngỗng ne ne ruột thịt với con vịt trời le le (ne ne là âm cổ của le le ; ne biến âm với na, nã là nước và le biến âm với lã là nước ngọt, ngỗng ne ne và vịt trời le le đều là loài chim nước). Ngỗng ne ne của Hawaii ruột thịt với le le Vụ Tiên của Việt Nam. Con vịt trời le le Vụ Tiên bay tận đến Hawaii biến thành con ngỗng ne ne. Do đó ngôn ngữ cũng như truyền thuyết về vũ trụ tạo sinh của người Hawaii vẫn còn sót lại những dấu tích của cổ Việt.

Người cổ Việt thờ nõ nường nên Việt Dịch nòng nọc là Dịch nguyên thủy. Trong khi Trung Hoa có thuyết âm dương nhưng không thờ nõ nường chứng tỏ Dịch Trung Hoa không phải là Dịch nguồn cội, là loại Dịch đã tân tiến, đã muộn.

NHỮNG TỪ CHỈ LÀM TÌNH

Những từ phổ thông chỉ làm tình miền Bắc có những từ như địt, đéo, lẹo (loài vật), phủ…, Trung Nam có từ đụ.

ĐỊT

Miền Bắc dùng từ địt chỉ làm tình, trong khi đó Trung Nam từ địt chỉ đánh hơi (Miền Bắc nói đánh hơi là đánh rắm). Trong những năm còn là sinh viên y khoa tôi thường được nghe kể lại câu chuyện một vị gáo sư Y Khoa người miền Nam, sau khi giải phẫu bụng cho một cô gái người Bắc di cư, lúc đi thăm hậu giải phẫu, vị giáo sư này hỏi người bệnh “Chị đã địt chưa?”. Con bệnh đỏ mặt, xấu hổ . . . Cho tới khi tôi viết những dòng này, không ai hiểu tại sao. Xin giải toả thắc mắc này.

-Địt là làm tình.

Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = r (dăng = răng), dịt = rịt, rít. Rít có nghĩa là dính như rít rịt. Theo d = ch như giăng = chăng, dịt = chịt, chít. Chằng chịt là cột cứng bằng nhiều dây rợ qua lại nhiều lần. Chít khăn là cột, quấn khăn. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây, đai, thắt lưng; nai nịt là cột người bằng thắt lưng, bằng dây. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau. Ta thấy rất rõ miền Bắc có từ đi tơ chỉ loài vật (thường là chó) giao hợp với nhau. Tơ là sợi dây. Đi tơ là cột vào nhau như cột bằng sợi tơ, sợi dây. Địt liên hệ với Phi Luật Tân Tagalog dikit, joined, Paiwan d’ekets (e ngược), to stick, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction * deket (e ngược), to stick (Davidson). Rõ nhất là địt và Tagalog dik-, joined có nghĩa là nối với nhau, giao nhau cùng nghĩa với giao hợp. Địt liên hệ với Phạn ngữ snit, to love, yêu, có -nit là địt (n=đ như này = đây). Phạn ngữ snit biến âm với Phạn ngữ snih, attached, đính vào, cột vào. Rõ như ban ngày địt biến âm với dịt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ snit, snih. Ngoài ra địt cũng liên hệ với Phạn ngữ nidhuvana, sexual intercourse, làm tình. Rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana. Nid- = nịt = địt.

-Địt là đánh hơi

Như thế ta thấy rất rõ hai từ địt của miền Bắc và Trung Nam là hai từ đồng âm dị nghĩa. Đúng ra Trung Nam phải nói đánh dít hay rít cho đồng điệu với từ rắm của miền Bắc theo đúng như từ đôi rắm rít thay vì địt mới không gây ra hiểu nhầm.

ĐÉO, LẸO.

Miền Bắc cũng thường dùng từ đéo chỉ làm tình như giai thoại “đá bèo” (nói lái lại là ‘đéo bà”) của Trạng Quỳnh và thơ Cao Bá Quát có câu:

Hai hồi trống giục, đù cha kiếp,

Một lưỡi gươm đưa, đéo mẹ đời.

Đéo biến âm với đeo, có nghĩa là bám cứng vào nhau, dính chặt vào nhau như ” đeo như đỉa đói“. Đéo biến âm với “đèo” là chở nhau, ôm nhau, cõng nhau như đèo bòng tức đèo bồng (bồng là bế, bồng bế”). Đéo cũng biến âm với néo, hai khúc cây nối bằng một khúc dây dùng “neo” bó lúa để đập lúa. Néo hàm nghĩa cột cứng vào nhau (cùng nghĩa với nai, nịt, địt). Néo liên hệ với Anh ngữ nail, vật nhọn dùng đóng chặt hai vật vào nhau. Nguyên thủy neo, nailnêu, cọc nhọn. Như thế từ đéo cũng có nghĩa giống như từ địt làm tình là dính vào nhau, cột vào nhau. Từ đéo biến âm với đeo, đèo, néo nghiêng nhiều về hình ảnh bám chặt vào nhau, ôm nhau, cõng nhau thường thấy nhiều ở loài vật khi giao cấu với nhau như hai con sam khi giao hợp ôm cứng nhau nên tục ngữ có câu “đeo như sam“, cóc ếch khi giao cấu ôm nhau, cõng nhau, đèo nhau… Theo biến âm đ = l như đãng tai = lãng tai, ta có đéo = lẹo. Lẹo cũng có nghĩa là làm tình như con đó với thằng đó lẹo tẹo với nhau. Hai con chó giao cấu với nhau thường nói là “mắc lẹo “.

ĐỤ

Trung Nam nói làm tình là đụ. Ta thấy có thể:

-Đụ là biến âm với đu có một nghĩa là bám cứng như đeo, với đâu (nối lại như đâu lại với nhau) cũng hàm nghĩa như từ địt của miền Bắc. Theo t = n như túm = núm (nắm, bắt) ta có địt = địn. Địn là từ nói trại đi của địt. Ta có từ đụn địn là từ nói trại đi của hai từ đụ địt. Địa khai ngôn ngữ đụn địnđụ địt còn đào tìm thấy qua bài đồng dao sau đây:

Mười rằm trăng náu,

Mười sáu trăng treo, Mười bẩy sẩy chiếu, Mười tám rám trấu, Hai mươi giấc tốt

. . . . . .

“Mười bẩy sẩy chiếu” là đêm mười bẩy sải chiếu, trải chiếu. “Mười tám rám trấu” là đêm mười tám đốt trấu làm lò sưởi đã cháy rám, đã cháy nám, đã bén cháy. Tất cả đã sửa soạn sẵn sàng xong, “Mười chín đụn địn” là đêm mười chín đụn địn, tức là làm tình đụ-địt. Các tác giả hiện nay thường giải thích “né tránh” cho khỏi thô tục cho đụn địn có nghĩa là “đi ngủ”. Từ ngủ cũng có nghĩa là làm tình như ” con đó ngủ với nhiều thằng“. “Hai mươi giấc tốt” là đêm hai mươi ngủ ngon. Rõ ràng đêm mười chín đâu có ngủ, suốt đêm thức lục đục lo “đụn địn” nên đêm hôm sau mới lăn ra ngủ, mới có “giấc tốt”. Làm tình là liều thuốc ngủ thiên nhiên tốt nhất.

-Đụ là dạng giảm thiểu của đục. Từ đục bị đục bỏ chữ “c” cuối còn lại “đụ”. Đục chỉ động tác làm tình. Theo biến âm đ = th (đủng đỉnh = thủng thỉnh), ta có đục = thục, thúc, thọc, thụt, thọt liên hệ với Anh ngữ thrust, chỉ động tác làm tình.

-Đụ là biến âm với tụ, tủ (theo đ = t). Tụ có nghĩa là qui vào nhau như tụ tập, tụ họp. Đụ, tụ là kết vào nhau, dính vào nhau, đến với nhau. Những nghĩa này đều hàm ý làm tình thấy rất rõ qua từ Latin coitus, coire, Pháp ngữ coit có nghĩa đen là come together (có gốc “co-“, cùng, chung). Coitus, coit gần âm với Việt ngữ chơi (chơi là đến với nhau, cùng vui với nhau), chọi

Còn tủ là phủ là che đậy. Phủ cũng chỉ nghĩa giao cấu, giao hợp như trong truyền thuyết có chuyện thuồng luồng “phủ” người. Làng Ngãi ở Bắc Việt có tục thờ bà Phạm Ngọc Dong. Bà đã được thuồng luồng phủ và sinh ra một bọc trứng nở ra Đại Hải Long Vương. Ông này sau làm tướng giúp vua Hùng đánh thắng quân Thục bằng các quân lính hoàn toàn là loài thủy tộc. Hàng năm vào ngày mồng 3 tháng giêng, dân làng mở hội, cúng tế, bao giờ cũng có món gỏi cá để cúng ông thần sông Hà Bá và bà Chúa Đầm; cúng ở đình và ở các bến nước bằng gỏi cá. Vì thế tại vùng này có câu ca dao “Trống Mơ, cờ Sỏi, gỏi Nghìa” để ca tụng món gỏi cá nổi tiếng của làng Nghìa, làng Nghĩa tức làng Ngãi (Lê Thị Nhâm Tuyết). Mổ xẻ ta thấy quân Thục thuộc sắc dân Tầy-Thái thuộc họ ngoại Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương dòng Nước, âm, họ ngoại Âu Cơ (An Dương Vương dựng nước Âu Lạc kết hợp giữa Âu Việt của Âu Cơ và Lạc Việt của Lạc Long Quân). Vì thế phải có một vị tướng con của Thuồng Luồng có cốt cá sấu (cá sấu mới đẻ ra trứng) thuộc dòng nước là Đại Hải Long Vương (rõ ràng rồng Long có cốt cá sấu thuồng luồng) và phải dùng quân là các loài thủy tộc mới đánh thắng được quân Thục thuộc dòng nước. Ta cũng thấy tên Dong có nghĩa là bao bọc như thấy qua từ ghép đồng nghĩa bao dong. Lá dong là thứ lá dùng để bao, để bọc, để gói như bánh chưng. Dong là bao bọc là Nong là Nòng. Tên bà là Bao, Bọc nên bà đẻ ra một bọc trứng và bà là di duệ của Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra trăm Lang Hùng). Bà Phạm Ngọc Dong thuộc dòng nòng, dòng nước nên được thuồng luồng phủ là vậy. Ta cũng thấy công chúa Ngọc Dung (Dung biến âm của Dong như bao dung = bao dong) con vua Hùng vương có dòng máu “mẹ”, nước nên lấy một gã thuyền chài tên là Chử Đồng Tử (Cậu Con Trai sống bên Bến Sông) ở làng Chử Xá (Làng Ven sông). Cuối cùng tại sao chọn ngày 3 tháng giêng làm ngày hội? Xin thưa số 3 là số Đoài tức ao đầm và số 1 là số Chấn (Nguyễn Xuân Quang, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, 2002) tức nước dương có một khuôn mặt là biển (Vua Mặt Trời Nước Lạc Long Quân có mạng Chấn nên có một khuôn mặt là Long Vương Thần biển hóa thành con Rùa Vàng Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, xây thành xong con Rùa Vàng quay về Biển. An Dương Vương thuộc dòng nước Âu-Lạc, cuối đời cầm sừng tê giác bẩy khấc rẽ nước đi xuống biển là vậy). Ngày 3 tháng giêng đều là ngày của dòng nước, ao hồ sông biển.

Ở đây ta có thể dùng tiếng Việt tìm nguyên ngữ của Anh ngữ fuck. Từ “fuck” có gốc fu- ruột thịt với Việt ngữ phủfu(ck) = phủ = tủ = đụ.

Cuối cùng, như đã nói ở trên, là từ địt của miền Bắc liên hệ với phần đầu nid– của Phạn ngữ nidhuvana (sexual intercourse). Nid- = nịt = địt. Ta cũng thấy từ đụ của Trung Nam cùng âm -dhu- phần thứ hai của Phạn ngữ nidhuvana. Phải chăng miền Trung Nam lấy phần âm giữa còn miền Bắc lấy phần âm đầu? Cả hai cùng một gốc Phạn?

Những từ làm tình của Việt cũng mang ý nghĩa kết hợp, giao hòa, giao hợp nghĩa là mang ý nghĩa của Dịch lý. Qua hai từ địt của miền Bắc và đụ của miền Nam ta cũng thấy có sự phân biệt, chia rẽ như hai từ buồi và cặc.

Cước Chú

(1). Tôi gọi clitoris là hạt tình vì clitoris về cơ thể học tương đương với glans (qui đầu) của dương vật. Tiếng phổ thông glans chỉ một thứ hạt dẻ rừng, vì cơ thể học tương đương với nhau nên đã gọi glans là hạt thì clitoris cũng phải dùng từ hạt cho cân xứng.

Ta cũng thấy dân dã Việt Namgọi clitoris là “hạt chay” như thấy qua câu ca dao:

Chị em rủ nhau tắm đầm, Của em son đỏ, chị thâm thế này? Chị thâm là tại anh mày, Xưa kia chị cũng hạt chay đỏ lòm.

【#4】Luận Văn: Sự Phát Triển Của Hiến Pháp Trong Tiến Trình Dân Chủ Hóa

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Luận văn thạc sĩ ngành luật: Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á, cho các bạn tham khảo

  1. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khoa học khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Lã Khánh Tùng
  2. 4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………..1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…………………………..9 1.1. Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á qua các công trình của các tác giả Việt Nam………………………………………….9 1.2. Sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á qua các công trình của các tác giả nước ngoài ……………………………………..20 Kết luận Chương 1……………………………………………………………………………..34 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HIẾN PHÁP TRONG TIẾN TRÌNH DÂN CHỦ HÓA Ở ĐÔNG Á………………………………………………………………36 2.1. Cơ sở lý luận ………………………………………………………………………………..36 2.1.1. Hiến pháp, sự phát triển của hiến pháp, dân chủ và dân chủ hóa: khái niệm và nội dung…………………………………………………………………….36 2.1.2. Mối quan hệ tác động qua lại giữa hiến pháp, sự phát triển của hiến pháp với dân chủ và dân chủ hóa………………………………………………46 2.2. Giả thuyết khoa học ……………………………………………………………………..48 2.3. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………49 Kết luận Chương 2……………………………………………………………………………..51 CHƯƠNG 3: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA DÂN CHỦ HÓA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CỦA HIẾN PHÁP Ở ĐÔNG Á ……………………………………………….52 3.1. Nguồn gốc, đặc điểm và nội dung của dân chủ hóa ở Đông Á…………52 3.1.1. Nguồn gốc, các nguyên nhân và nội dung dân chủ hóa………………52 3.1.2. Đặc điểm của dân chủ hóa ……………………………………………………..63 3.1.3. Nội dung của dân chủ hóa………………………………………………………66
  3. 5. 3.2. Sự ảnh hưởng của dân chủ hóa đến sự phát triển của hiến pháp ở Đông Á……………………………………………………………………………………………….69 3.2.1. Giai đoạn giữa thế kỷ 19 đến năm 1945: khủng hoảng của mô hình chính trị cũ và việc tìm kiếm mô hình mới………………………………………….69 3.2.2. Giai đoạn năm 1945 đến năm 1987………………………………………….77 3.2.3. Giai đoạn năm 1987 đến nay…………………………………………………..93 3.3. So sánh với Việt Nam………………………………………………………………….103 CHƯƠNG 4: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN HIẾN PHÁP ĐẾN DÂN CHỦ HÓA Ở ĐÔNG Á…………………………………………………………….110 4.1. Phân quyền trong hiến pháp Đông Á…………………………………………..110 4.1.1. Một số đặc điểm của phân quyền tại các quốc gia Đông Á ……….111 4.1.2 . Phân quyền trong các bản hiến pháp hiện hành ……………………..113 4.2. Quyền con người trong hiến pháp……………………………………………….121 4.3. Cơ chế bảo hiến với việc thúc đẩy dân chủ…………………………………..126 4.3.1. Cơ chế bảo hiến bảo vệ các quyền con người ………………………….126 4.3.2. Cơ chế bảo hiến với nguyên tắc phân quyền……………………………141 4.3.3. Cơ chế bảo hiến với việc bảo đảm các nguyên tắc bầu cử…………147 4.4. So sánh với Việt Nam………………………………………………………………….151 Kết luận Chương 4…………………………………………………………………….155 KẾT LUẬN……………………………………………………………………………….157 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……………………………………………………………..161 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………….162 PHỤ LỤC………………………………………………………………………………….180
  4. 6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHDCND : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân DCCH : Dân chủ Cộng hòa ĐBND : (Đại hội) Đại biểu nhân dân (của địa phương Trung Quốc) ĐBNDTQ : (Đại hội) Đại biểu nhân dân toàn quốc (của Trung Quốc) ĐH : Đại học FEC : Far Eastern Commission – Uỷ ban Viễn Đông (của phe Đồng Minh) GHQ : General Headquarters – Tổng Hành dinh lực lượng chiếm đóng (của phe Đồng Minh tại Nhật Bản) NXB : Nhà xuất bản SWNCC : State-War-Navy Coordinating Committee – Uỷ ban điều phối hậu chiến (của chính phủ Hoa Kỳ) TAHP : Tòa án Hiến pháp XHCN : Xã hội Chủ nghĩa
  5. 7. DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Khái quát sự tương tác giữa tiến trình chính trị/ dân chủ hóa (chịu sự ảnh hưởng của kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc tế…) và hiến pháp (các quy định về phân quyền, bảo hiến, nhân quyền…)………………………………………. 97
  6. 8. 1 MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu về công trình nghiên cứu Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hiểu biết về các mô hình thể chế chính trị và pháp lý của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa, xã hội, địa lý, là rất cần thiết. Luận án này nghiên cứu so sánh sự phát triển của hiến pháp các quốc gia trong khu vực Đông Á, có sự tập trung vào bốn (4) trường hợp Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (địa vị pháp lý của Đài Loan được lý giải chi tiết tại mục 3.2 – về đối tượng nghiên cứu), trong tiến trình dân chủ hóa chính trị và xã hội. Luận án hướng đến lý giải ba (3) vấn đề: Thứ nhất, sự hình thành và phát triển hiến pháp tại các quốc gia (chế độ) trong khu vực xuất phát từ nguyên nhân nào và đã diễn ra ra sao; phải chăng những biến động chính trị, tiến trình dân chủ hóa tại các quốc gia đã quyết định sự phát triển này. Thứ hai, theo hướng tác động ngược lại, hiến pháp đã đóng góp những gì vào việc củng cố các thiết chế dân chủ, các nguyên tắc phân quyền, bảo đảm trách nhiệm giải trình của công quyền và bảo vệ các quyền tự do cá nhân. Thứ ba, tại các quốc gia, sự tương tác hai chiều này đã diễn ra khác nhau ra sao, đâu là nguyên nhân dẫn đến những khác biệt trong thiết kế trật tự hiến pháp và hiệu quả của hiến pháp, hiệu quả của cơ chế bảo hiến trong thực tiễn. Tác giả chứng minh rằng thực tiễn chính trị các quốc gia Đông Á chịu ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố văn hóa, hệ tư tưởng bản địa và du nhập, các biến động quốc tế, cũng như các thay đổi về cấu trúc kinh tế, xã hội, đã là những thành tố làm tiền đề cho tiến trình dân chủ hóa chính trị và xã hội, đến lượt nó, chính tiến trình này đã quyết định sự ra đời và phát triển của các bản hiến pháp. Tiến trình phát triển dân chủ tại các quốc gia có sự khác biệt nhất
  7. 9. 2 định, nhưng nhìn chung (đặc biệt rõ là tại Hàn Quốc và Đài Loan), cải cách hiến pháp theo hướng dân chủ hơn luôn là mục tiêu vận động, đấu tranh của các lực lượng tiến bộ. Kết quả của những vận động đó, cũng như của những cải cách dân chủ, đã được ghi nhận trong hiến pháp quốc gia. Theo chiều tác động ngược lại, hiến pháp đã góp phần củng cố các thiết chế, nguyên tắc dân chủ, sự kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực, cũng như thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do cá nhân. Tuy nhiên, khả năng tác động ngược lại này là rất khác biệt tại các quốc gia, do bản thân mô hình hiến pháp, cũng như do các yếu tố văn hóa chính trị và điều kiện kinh tế, xã hội. Xét từ góc độ mở rộng dân chủ, kể từ sau năm 1945, Nhật Bản đã đi đầu với mô hình quân chủ lập hiến với sự tiếp thu chủ nghĩa lập hiến Hoa Kỳ, cũng như nhờ có nền tảng dân chủ từ giai đoạn Minh Trị và giai đoạn dân chủ Taisho (giữa thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX). Hàn Quốc và Đài Loan kế tiếp sau với phong trào dân chủ thập niên 1960 – 1980. Trung Quốc có thể nói là đang đi sau trong tiến trình cải cách chính trị, mở rộng dân chủ và thúc đẩy pháp quyền này. 2. Lý do lựa chọn đề tài Tác giả chọn đề tài so sánh sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á xuất phát từ năm (5) lý do chủ yếu sau đây: Thứ nhất, xuất phát từ vai trò quan trọng của hiến pháp trong đời sống mọi quốc gia, Việt Nam không nằm ngoài quy luật cần phải có một bản hiến pháp tốt làm cơ sở cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ và bảo đảm các quyền của công dân. Trong những thập niên qua, cũng với những chuyển đổi lớn trong phát triển kinh tế, xã hội, Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi vào năm 2001, Hiến pháp 2013 được thông qua và bắt đầu có hiệu lực gần đây. Rõ ràng là đất nước đang tiếp tục trong tiến trình chuyển đổi, hướng đến mục tiêu thành một nước công nghiệp, các thể chế chính trị,
  8. 10. 3 cũng như cấu trúc của nền kinh tế, sẽ tiếp tục cần có những điều chỉnh đáng kể để đáp ứng các nhu cầu phát triển. Việc học tập kinh nghiệm của nước ngoài về thể chế và kinh nghiệm xây dựng hiến pháp là một nhu cầu có tính chất liên tục. Thứ hai, mỗi hiến pháp thuộc về một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, luôn nằm trong một bối cảnh, môi trường đan xen tác động của các yếu tố chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa. Đồng thời, hiến pháp luôn là sự giao thoa giữa pháp lý và chính trị, nói cách khác, yếu tố chính trị thường có tác động mang tính quyết định về nội dung và hình thức hiến pháp. Chính trị, hay mức độ dân chủ của một chế độ, luôn có mối quan hệ mang tính bản chất với hiến pháp. Bởi lẽ chức năng cơ bản của hiến pháp (lý tưởng) là hướng đến bảo vệ các quyền tự do cá nhân, thiết lập các thể chế dân chủ. Do đó, tìm hiều lịch sử lập hiến cũng cần phải đặt trong tiến trình phát triển của chính trị, cụ thể ở đây là tiến trình dân chủ hóa – tiến trình chuyển đổi theo hướng tích cực, tiếng nói của người dân được tôn trọng nhiều hơn. Thứ ba, Việt Nam và các quốc gia Đông Á (Đông Bắc Á) có nhiều nét tương đồng về địa lý, lịch sử và văn hóa, mà rõ nét nhất là ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Các quốc gia trong khu vực Đông Á, từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, đặc biệt trong ba thập niên cuối thế kỷ XX, đã có nhiều chuyển biến rất ngoạn mục về kinh tế và xã hội, có thể để lại cho Việt Nam nhiều bài học. Về chính trị, Đông Á đã được một số nhà nghiên cứu nhận xét là khu vực có sự đa dạng về chế độ chính trị nhất trên thế giới hiện nay . Trong đề tài này, nhằm mục đích nghiên cứu học thuật, Đài Loan được xem như một chủ thể độc lập ngang với các quốc gia khác (như Trung Quốc, Hàn Quốc…). Việc lựa chọn bốn trường hợp trong khu vực Đông Á (đôi khi được gọi là Đông Bắc Á, để phân biệt với Đông Nam Á) ở đây do có sự gần gũi với nhau và với Việt Nam về địa lý, lịch sử và văn hóa, đều chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Bốn trường hợp này đều rất thành công trên phương diện phát triển kinh tế và xã hội. Trong số đó, Trung Quốc dù là quốc gia có mức phát triển kinh tế không đồng đều và ở mức thấp hơn, nhưng cũng ngày càng trở thành một cường quốc có ảnh hưởng lớn về mặt kinh tế, chính trị trên phạm vi quốc tế. Một số quốc gia khác trong khu vực Đông Á, như Bắc Triều Tiên và Mông Cổ, cũng được đề cập đến trong các so sánh, dù không được phân tích sâu. Nhằm rút ra các gợi ý, bài học cho Việt Nam, quốc gia thường được xếp vào khu vực Đông Nam Á về mặt địa lý, tác giả luận án có mục riêng so sánh lịch sử lập hiến và hoàn cảnh chính trị Việt Nam với các quốc gia Đông Á (trong Chương 3 – mục 3.3 và Chương 4 – mục 4.4).
  9. 15. 8 chủ nghĩa lập hiến, dân chủ, dân chủ hóa, mối quan hệ giữa dân chủ với hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến, dân chủ và hiến pháp ở Đông Á. Thứ hai, làm rõ sự cần thiết của nghiên cứu đa ngành, liên ngành (luật học cùng với chính trị học, lịch sử, xã hội học…) đối với hiến pháp và chủ nghĩa lập hiến. Thứ ba, đưa ra một hướng lý giải về tương tác giữa hiến pháp và dân chủ trong khu vực Đông Bắc Á, bổ sung về mặt nhận thức cho các nghiên cứu về hiến pháp và chính trị nói chung, hiến pháp khu vực châu Á nói riêng, hiện còn tương đối thiếu tại Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn của luận án thể hiện ở hai (2) góc độ: Thứ nhất, nêu lên một số gợi ý, bài học về lựa chọn mô hình hiến pháp, mô hình bảo hiến và các thành tố cần có khác của hiến pháp để bảo đảm quyền dân chủ của người dân trong thực tiễn (được nêu tại phần Kết luận). Thứ hai, luận án bổ sung tư liệu nghiên cứu cho người học, người nghiên cứu về các lĩnh vực luật học, chính trị học, sử học hoặc nghiên cứu về châu Á. 6. Bố cục của Luận án Luận án này bao gồm phần Mở đầu và bốn (4) chương: Chương 1 – Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Chương 2 – Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu sự phát triển của hiến pháp trong tiến trình dân chủ hóa ở Đông Á; Chương 3 – Sự ảnh hưởng của dân chủ hóa đối với phát triển của hiến pháp ở Đông Á; Chương 4 – Sự ảnh hưởng của phát triển hiến pháp đến dân chủ hóa ở Đông Á; và cuối cùng là phần Kết luận.
  10. 19. 12 một số hội thảo và nghiên cứu cơ bản về bộ máy nhà nước và hiến pháp nước ngoài. Có thể kể đến các sách “Thiết chế chính trị và bộ máy nhà nước một số nước trên thế giới”, Viện khoa học pháp lí, NXB Tư pháp, 2005; “Hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp kinh nghiệm của Đức và Việt Nam” (Kỷ yếu hội thảo tháng 9 năm 2012 tại Thanh Hóa do Viện nghiên cứu Lập pháp, UBTVQH tổ chức), NXB Tư pháp, 2012; “Tài phán hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán hiến pháp ở Việt Nam”, Đào Trí Úc và Nguyễn Như Phát (chủ biên) , NXB Công an nhân dân, 2007… Các nghiên cứu ngày càng xuất hiện nhiều hơn, đặc biệt trong tiến trình hướng đến việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Cạnh đó, nhiều công trình tập hợp tư liệu và dịch thuật từ tiếng nước ngoài được phổ biến gần đây. Có thể kể đến “Tuyển tập hiến pháp một số quốc gia”, Khoa Luật, NXB Lao động- Xã hội, 2012; “Tuyển tập hiến pháp một số nước trên thế giới”, Văn phòng Quốc hội, NXB Thống kê, 2009; “Thiết chế Nghị viện – Những khái niệm cơ bản”, UNDP, Văn phòng Quốc hội dịch, 2005; “Nhà nước trong một thế giới chuyển đổi”, Ngân hàng thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 1997…Nghiên cứu hiến pháp so sánh cũng được đặt trong khoa học luật so sánh và lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Trong các sách nghiên cứu và giáo trình luật so sánh, nội dung của các bản hiến pháp nước ngoài cũng được các tác giả đề cập đến ít nhiều. Về lịch sử lập hiến các nước, nhìn chung sự quan tâm của các luật gia Việt Nam còn rất hạn chế. Trước hết, lịch sử lập hiến của của các quốc gia thường được bao gồm trong môn học/ khoa học về lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới. Một số giáo trình có thể kể đến là “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”, Nguyễn Ngọc Đào (Chủ biên), Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”, ĐH Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân; “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”, Phan Trọng Hòa và Lê Quốc Hùng, NXB Hồng Đức, 2008…Các cuốn sách này thường phân kỳ sự phát triển của nhà nước,
  11. 20. 13 pháp luật (bao gồm hiến pháp) thành các giai đoạn cổ đại, trung đại (phong kiến), cận đại và hiện đại. Cho dù có giới thiệu về một số quốc gia lớn như Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản…, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc giới thiệu tổng quan về từng quốc gia riêng lẻ, mà thiếu sự phân tích so sánh hay đối chiếu. Mặt khác, việc giới thiệu mỗi quốc gia lại bị cắt khúc, chẳng hạn trong cuốn Giáo trình của ĐH Luật, nội dung về Nhật Bản được nêu trong ba phần ở ba giai đoạn khác nhau (phong kiến – thế kỷ XIX – hiện đại). Nghiên cứu sâu về lịch sử lập hiến đã có chủ yếu là về những nền dân chủ phát triển như Hoa Kỳ. Cuốn sách “Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?”, do Nguyễn Cảnh Bình biên soạn, đã được tái bản một số lần (NXB Thế giới, xuất bản trong các năm 2004, 2006, 2009 và 2013). Cạnh đó, một số bài viết trên các tạp chí có quan tâm đến hiến pháp từ góc nhìn lịch sử. Chẳng hạn bài viết “Các hình thức phát triển của hiến pháp – thực tiễn Cộng hòa liên bang Đức và Việt Nam” của TS. Lương Minh Tuân. Theo tác giả sự phát triển của hiến pháp, trong khuôn khổ bảo đảm bản sắc của hiến pháp, diễn ra theo hai con đường: 1) Sửa đổi hiến pháp và 2) Giải thích, cụ thể hóa hiến pháp (làm thay đổi nội dung của quy phạm hiến pháp mà không làm thay đổi lời văn của hiến pháp) (hình thức phát triển này theo tiếng Đức là “Stiller Wandel des Verfassungsrechts”) .
  12. 22. 15 của Võ Khánh Vinh, NXB Công an nhân dân, 2002…cũng dành sự quan tâm nhất định đến pháp luật Nhật Bản. Về hiến pháp Nhật Bản, đã có một số nghiên cứu dạng các bài viết, như tác giả Đặng Minh Tuấn có bài “Chuyển đổi hiến pháp tại Hàn Quốc và Nhật Bản, một số kinh nghiệm cho Việt Nam”, trong sách “Hiến pháp những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, 2011. Tác giả, sau khi giới thiệu một số nét về hiến pháp của hai quốc gia, cho rằng Việt Nam nên học tập để “mạnh mẽ” chuyển đổi hiến pháp của mình . Do vị trí địa lý gần gũi và ảnh hưởng văn hóa sâu đậm đối với Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, ở nước ta đã có những hoạt động tìm hiểu và học tập
  13. 24. 17 chủ nghĩa” do Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, 2008… Trong “Trung Quốc những năm đầu thế kỷ hai mươi mốt”, Đỗ Tiến Sâm và M.L.Titarenko (Chủ biên), NXB Từ điển bách khoa, 2008, có một số bài nghiên cứu sâu của Phạm Ngọc Thạch – “Triển vọng của việc xây dựng nền pháp trị tại Trung Quốc” – và của J.M.Berger “Xây dựng nhà nước pháp quyền và dân chủ hóa chính trị ở Trung Quốc”… Về chính trị Trung Quốc, đã có các sách “Cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc”, Đỗ Tiến Sâm (Chủ biên), NXB Khoa học xã hội, 2003; “Chế độ chính trị Trung Quốc”, Doãn Trung Khanh, NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh, 2012… Việc nghiên cứu so sánh hiến pháp các nước nói chung, các quốc gia Đông Á nói riêng, nhìn chung mới chủ yếu dừng ở việc so sánh hiện trạng quy định của hiến pháp (phân tích quy phạm), mà ít khi phân tích hoàn cảnh lịch sử, tương quan giữa bối cảnh chính trị, xã hội và hiến pháp, kể cả trong các giáo trình về luật hiến pháp nước ngoài. Các giáo trình về lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới dù dành nhiều dung lượng hơn về lịch sử, nhưng lại ít quan tâm đến việc so sánh. Gần đây, tác giả Bùi Ngọc Sơn có một số bài viết về Đông Á, cũng như về các quốc gia trong khu vực này so sánh với các khu vực khác cùng trong những giai đoạn chuyển đổi. Ảnh hưởng của văn hóa, các giá trị bản địa đến hiến pháp rất được tác giả này quan tâm. Trong bài viết so sánh “Đặc điểm phát triển của hiến pháp ở Đông Á” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 202, 10/9/2011), tác giả đã khái quát một số nét đặc thù của hiến pháp khu vực này: về chức năng của hiến pháp (vốn thường được coi là cấu thành của một chương trình, kế hoạch rộng lớn), về phân chia quyền lực (có những yếu tố bổ sung của phương Đông như tư tưởng “ngũ quyền” của Tôn Trung Sơn), về quyền con người (nhấn mạnh nghĩa vụ quốc gia) và về chế độ bảo hiến (đều có sự thận trọng). Bùi Ngọc Sơn đi đến kết luận hệ thống chính trị Đông Á phản ánh các “giá trị phương Đông” và đang
  14. 28. 21 tăng của tiến trình toàn cầu hóa sau Chiến tranh Lạnh, luật hiến pháp so sánh ngày càng được sự quan tâm của các học giả, luật gia và thẩm phán trên thế giới. Điều này được lý giải bởi nhu cầu học hỏi hiến pháp nước ngoài gia tăng để phục vụ cho việc soạn thảo hoặc sửa đổi hiến pháp từ sau năm 1990 bởi các quốc gia chuyển đối như Nam Phi, nhiều quốc gia ở khu vực Đông Âu và Nam Mỹ. Nguyên do thứ hai khiến hiến pháp so sánh phát triển là khuynh hướng “quốc tế hóa” luật hiến pháp, hiến pháp và tòa án hiến pháp các quốc gia ngày càng dẫn chiếu nhiều đến luật nhân quyền quốc tế và phán quyết của tòa án hiến pháp nước ngoài, cũng như của các cơ chế nhân quyền khu vực và của Liên hợp quốc Một số công trình lớn gần đây có thể kể đến là “Comparative Constitutional Law” (Luật Hiến pháp so sánh) của Vicki C.Jackson và Mark V.Tushnet, NXB Foundation, ấn bản lần 2, năm 2006; “The Oxford Handbook of Comparative Constitutional Law” (Sổ tay Oxford về Luật Hiến pháp so sánh) của Michel Rosenfeld và Andras Sajo (biên tập), NXB ĐH Oxford, năm 2012; “Comparative Constitutional Law” (Luật Hiến pháp so sánh) của Tom Ginsburg và Rosalind Dixon (biên tập), 680 trang, NXB Edward Elgar, năm 2011; “Comparative Constitutional Design” (So sánh thiết kế hiến pháp), Tom Ginsburg (biên tập), NXB ĐH Cambridge, năm 2012… Phạm vi của các công trình này bao trùm rất rộng. Cuốn Sổ tay của Michel Rosenfeld và Andras Sajo (biên tập) gồm 64 bài viết thuộc các nội dung lớn như: Lịch sử, phương pháp và thể loại hiến pháp (Phần I), các tư tưởng chủ đạo (II), tiến trình soạn hiến pháp (III), cấu trúc nhà nước (IV), ý nghĩa, giải thích văn bản (V), các thể chế (VI), các quyền con người (VII), các quyền có sự giao thoa (chẳng hạn như vấn đề giới, phá thai) (VIII) và các khuynh hướng (chẳng hạn như quốc tế hóa luật hiến pháp, hiến pháp hóa luật quốc tế, sử dụng hiến pháp nước ngoài khi giải thích hiến pháp…)(IX). Cuốn sách so
  15. 32. 25 đến. Một mặt, hiến pháp được thừa nhận như kết quả của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, trong đó có mức độ dân chủ của nhà nước và xã hội. Mặt khác, vai trò của hiến pháp trong củng cố dân chủ cũng rất thiết yếu. Đối với các quốc gia đang trong tiến trình chuyển đổi, hướng tới dân chủ và ổn định, theo Yash Ghai, hiến pháp đã được xác định có hai nhiệm vụ chính yếu là: 1) Thiết lập và củng cố cộng đồng chính trị, vì dân chủ hàm ý sự hiện diện của một cộng đồng chính trị (được hình thành dựa trên sự đồng thuận, không nhất thiết là một dân tộc); 2) Thiết lập hay cải cách các nguyên tắc phân bổ và thực thi quyền lực nhà nước: hiến pháp có vai trò bảo đảm cho sự hoạt động trôi chảy của hệ thống chính trị bằng chuyển tải các quan điểm chính trị qua các thể chế định sẵn theo các thủ tục, trình tự rõ ràng. Ngoài ra, hiến pháp có vai trò về ý thức hệ thông qua sự khẳng định các giá trị chung. Cụ thể hơn, hiến pháp đóng góp cho dân chủ bằng cách khẳng định các giá trị chung, nếu không có chúng thì không thể có cộng đồng chính trị; mô tả các quy tắc để xác định các thành viên của cộng đồng đó; dảo đảm an ninh chung bởi sự độc quyền sử dụng vũ lực (một cách chính đáng) của nhà nước… Trong lịch sử, thông thường việc thiết lập cộng đồng chính trị được thực hiện trước, nhưng ngày nay, hai nhiệm vụ này thường thực hiện song song. Tuy nhiên, trong trong nhiều trường hợp, hiến pháp chỉ là công cụ để cai trị và trấn áp . Nền dân chủ hiến định này cũng gần với đòi hỏi về một chính quyền hợp hiến (constitutional government), hàm ý chính quyền phải bị giới hạn bởi hiến pháp, các cơ quan công quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) không thể vượt quá ranh giới hiến định, xâm phạm quyền tự do cá nhân. Về nền dân chủ lập hiến, Walter F.Murphy, dù khẳng định sự tương thích về cơ bản giữa giữa lý thuyết dân chủ và chủ nghĩa lập hiến, cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai lý thuyết này. Nếu như lý thuyết dân chủ về cơ bản là sự tin tưởng vào đa số, vào sự trao quyền cho người đại diện (các dân biểu), những người theo chủ nghĩa lập hiến nhìn nhận tiêu cực hơn về bản chất con người (khuynh hướng lạm quyền, đàn áp người khác), do đó đòi hỏi có sự kiềm chế bằng thể chế chống lại sự độc đoán và chuyên quyền. Như vậy có thể nói là cả dân chủ và chủ nghĩa lập hiến đều bảo vệ nhân phẩm, nhưng phương thức bảo vệ của mỗi lý thuyết lại khác nhau , một số nhà nghiên cứu (chủ yếu từ châu Á) cố gắng chỉ ra những yếu tố của “chủ nghĩa lập hiến Nho giáo” (Confucianism constitutionalism), một thứ chủ nghĩa lập hiến mang đặc điểm của khu vực chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo và văn hóa Trung Hoa. Chủ nghĩa lập hiến Nho giáo hay Chủ nghĩa lập hiến Đông Á, giống như khái niệm “Dân chủ Nho giáo” (Confucianism democracy), hiện đang được khảo sát như một sự dung hòa giữa các đặc điểm của bản địa với giá trị phổ quát. Các tác giả như Tom Ginburg, Wen Chenchang, Bùi Ngọc Sơn, cố gắng tìm ra những điểm tương thích trong lịch sử và văn hóa phương Đông (như sự giới hạn sự tùy tiện của nhà cầm quyền) với chủ nghĩa lập hiến hiện đại có nguồn gốc từ phương Tây, cũng như tìm ra những nét đặc thù ngày nay của cơ chế kiểm

【#5】Tất Tần Tật Trọn Bộ Kiến Thức Về Danh Từ Trong Tiếng Anh

Danh từ (Noun) là từ dùng để gọi tên của một loại sự vật, sự vật đó có thể là người, con vật, đồ vật, hiện tượng, địa điểm hay khái niệm. Danh từ được xem là một trong những từ loại quan trọng nhất trong tiếng Anh, nên người học cần tích lũy càng nhiều từ vựng về danh từ càng tốt.

Ví dụ về danh từ trong tiếng Anh

  • Danh từ chỉ người: he (anh ấy), doctor (bác sỹ), the men (đàn ông),…
  • Danh từ chỉ con vật: dog (con chó), cat (con mèo), pet (thú cưng)
  • Danh từ chỉ đồ vật: money (tiền), table (cái bàn), computer (máy tính),…
  • Danh từ chỉ hiện tượng: storm (cơn bão), earthquake (động đất),…
  • Danh từ chỉ địa điểm: school (trường học), office (văn phòng),…
  • Danh từ chỉ khái niệm: culture (văn hóa), psentation (thuyết trình), experience (kinh nghiệm)

Danh từ làm chủ ngữ trong câu

Khi làm chủ ngữ, danh từ thường đứng ở đầu câu và đứng trước động từ trong câu.

VD: English is my favorite subject. (Tiếng Anh là môn học yêu thích của tôi)

Danh từ làm tân ngữ gián tiếp/trực tiếp của động từ

Khi đóng vai trò tân ngữ của động từ, danh từ sẽ đứng sau động từ.

VD: I want to buy a birthday cake. (Tôi muốn mua một cái bánh sinh nhật)

VD: He give his girlfriend a ring. (Anh ấy tặng cho bạn gái chiếc nhẫn)

Danh từ làm tân ngữ của giới từ

Khi đóng vai trò tân ngữ của giới từ, danh từ sẽ đứng sau giới từ.

VD: I have talked to chúng tôi several times. (Tôi đã nói chuyện với cô Hoa vài lần rồi)

Khi đóng vai trò bổ ngữ cho ngủ ngữ, danh từ đứng sau các động từ nối như tobe, become, seem,…

VD: John is an excellent student. (John là một học sinh xuất sắc)

Danh từ làm bổ ngữ cho tân ngữ

Khi đóng vai trò làm bổ ngữ cho tân ngữ, danh từ sẽ đứng sau một số động từ như make (làm), elect (bầu chọn), call (gọi điện thoại), consider (xem xét), appoint (bổ nhiệm), name (đặt tên), declare (tuyên bố), recognize (công nhận),…

VD: Board of directors recognize Tommy the best staff of the year. (Hội đồng quản trị công nhận Tommy là nhân viên xuất sắc nhất năm)

Vị trí của danh từ trong câu

Ngoài việc hiểu chức năng của danh từ, bạn nên biết rõ dấu hiệu nhận biết một danh từ so với những loại từ khác trong câu, thông qua một số đặc điểm sau:

Danh từ có thể đứng sau những mạo từ như a, an, the. Tuy nhiên, đứng giữa mạo từ và danh từ có thể có tính từ bổ nghĩa thêm.

VD: a beautiful girl (một cô gái đẹp), a lovely cat (một chú mèo dễ thương),…

Danh từ có thể đứng sau một số tính từ sở hữu cách như my, your, his, her, its, our, their,… Đứng giữa tính từ sở hữu và danh từ có thể có tính từ bổ nghĩa thêm.

VD: my new computer (máy tính mới của tôi), her pink T-shirt (chiếc áo hồng của cô ấy),…

Danh từ có thể đứng sau một số từ chỉ số lượng như few, little, some, any, many, all…

VD: I need some coffee. (Tôi cần một chút cà phê)

Danh từ có thể đứng sau giới từ như in, of, for, under,… để bổ nghĩa cho giới từ.

VD: This case is under investigation. (Vụ việc này đang được điều tra)

Danh từ có thể đứng sau một số từ hạn định như this, that, these, those, both,…

VD: these new clothes (chỗ quần áo mới), both you and I (cả bạn và tôi),…

Cách phân loại danh từ trong tiếng Anh

Có 5 cách phân loại danh từ trong tiếng Anh phổ biến như sau:

Phân loại danh từ theo số lượng: Danh từ số ít (Singular Nouns) và Danh từ số nhiều (Plural Nouns)

Danh từ số ít là danh từ đếm được với đơn vị số đếm là một hoặc có thể là danh từ không đếm được.

VD: apple, cake, table,..

Danh từ số nhiều là danh từ đếm được có đơn vị số đếm bằng hoặc lớn hơn hai.

VD: apples, cakes, tables,…

Danh từ đếm được là danh từ mà chúng ta có thể đếm bằng số và có thể thêm trực tiếp số đếm vào trước nó.

VD: three pens (3 cái bút), five books (5 quyển sách),…

Danh từ không đếm được là danh từ mà chúng ta không thể đếm được trực tiếp và không thể thêm số đếm vào trước nó.

VD: water (nước), money (tiền), experience (kinh nghiệm),…

Phân loại danh từ theo ý nghĩa: Danh từ chung (Common Nouns) và Danh từ riêng (Proper Nouns)

Danh từ chung là danh từ chỉ sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta.

VD: student (học sinh), children (trẻ em),…

Danh từ riêng là danh từ chỉ tên riêng của một sự vật (tên người, tên địa điểm, tên hiện tượng,…)

VD: Bella (tên người), Japan (Nhật Bản), Red River (sông Hồng),…

Phân loại danh từ theo đặc điểm: Danh từ cụ thể (Concrete Nouns) và Danh từ trừu tượng (Abstract Nouns)

Danh từ cụ thể là danh từ dùng để chỉ con người, sự vật tồn tại dưới dạng vật chất mà chúng ta có thể nhìn thấy, sờ thấy, cảm nhận được.

VD: Anna (tên người), mom (mẹ), pie (bánh ngọt),…

Danh từ trừu tượng là danh từ dùng để chỉ những sự vật không thể nhìn thấy mà chỉ có thể cảm nhận được.

VD: happiness (sự hạnh phúc), love (tình yêu), hope (sự hy vọng),…

Phân loại danh từ theo yếu tố cấu thành: Danh từ đơn (Simple Nouns) và Danh từ ghép (Compound Nouns)

Danh từ đơn là danh từ chỉ bao gồm một từ duy nhất.

VD: baby (em bé), tree (cái cây), job (công việc),…

Danh từ ghép là danh từ gồm hai hay nhiều từ kết hợp với nhau. Danh từ ghép khi khi kết hợp có thể viết dưới dạng hai từ riêng biệt hoặc hợp lại thành một từ.

VD: greenhouse (nhà kính), bedroom (phòng ngủ), toothpaste (kem đánh răng),…

Những đuôi danh từ thông dụng

Đuôi danh từ là một trong những “tín hiệu” giúp bạn nhận ra từ vựng đó là danh từ khi làm bài tập hoặc khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Vậy cụ thể danh từ có những “đuôi” như thế nào?

  • -tion: nation, operation, suggestion, mention…
  • -sion: conclusion,illusion…
  • -er: producer, manufacturer, partner…
  • -or: operator, vendor, conductor…
  • -ee: employee, attendee, interviewee…
  • -eer: engineer, career,…
  • -ist: scientist, tourist,..
  • -ness: happiness, sadness,..
  • -ship: friendship, leadership,..
  • -ment: management, arrangement,..
  • -ics: economics, physics,..
  • -ence: science, conference,..
  • -ance: performance, importance, significance..
  • -dom: freedom, kingdom,..
  • -ture: nature, picture,..
  • -ism: tourism, criticism,..
  • -ty/ity: ability, honesty,..
  • -cy: constancy, privacy,..
  • -phy: philosophy, geography..
  • -logy: biology, psychology, theology..
  • -an/ian: musician, politician, magician , ..
  • -ette: cigarette, etiquette..
  • -itude: attitude,..
  • -age: carriage, marriage,..
  • -th: month, length, growth,..
  • -ry/try: industry, bakery,..
  • -al: approval, proposal, renewal, refusal, professional….
  • -ive: initiative, objective, repsentative…
  • -ic: mechanic..

Cụm danh từ là một cụm từ có một danh từ đóng vai trò là thành tố chính, được bổ nghĩa bởi các thành phần bổ nghĩa đứng trước hoặc đứng sau. Cụm danh từ có chức năng như một danh từ, có thể làm chủ ngữ, tân ngữ hoặc bổ ngữ trong câu.

Ví dụ: a beautiful girl (một cô gái đẹp), a delicious dish (một món ăn ngon), a bottle of water (một bình nước),…

Thông thường, một cụm danh từ thường có cấu trúc: Hạn định từ + bổ ngữ + danh từ chính.

Hạn định từ bao gồm: mạo từ (a,an,the), từ chỉ định (this,that,these,those), từ chỉ số lượng (one/two/three,…), tính từ sở hữu (my/your/his/her…).

VD: These two bicycle were stolen yesterday. (Hai chiếc xe đạp này bị mất hôm qua)

Bổ ngữ trong cụm danh từ thường là tính từ, và nó bổ nghĩa cho danh từ chính. Nếu có nhiều tính từ bổ nghĩa, bạn cần lưu ý sắp xếp theo quy tắc OpSACOMP:

  • Opinion (quan điểm, đánh giá) – Ví dụ: good, ptty, ugly…
  • Size/Shape (kích cỡ) – Ví dụ: short, tall, big, small,…
  • Age (độ tuổi) – Ví dụ: young, old, new,..
  • Color (màu sắc) – Ví dụ: black, pink, red,…
  • Origin (nguồn gốc, xuất xứ) – Ví dụ: Chinese, US, UK,…
  • Material (chất liệu) – Ví dụ: plastic, steel, silk…
  • Purpose (mục đích, tác dụng) – Ví dụ: healing, traveling,…

VD: a big black car (một chiếc xe ô tô to và màu đen)

Danh từ có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ chỉ định ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ. Trong cụm danh từ, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho danh từ các ý nghĩa về số và lượng. Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong gian hay thời gian.

Cụm danh động từ là một nhóm từ bắt đầu bằng một danh động từ (động từ tận cùng bằng -ing). Nhóm từ này được gọi là cụm danh động từ vì nó được dùng như một danh từ. Cụm danh động từ có chức năng như chủ ngữ hoặc tân ngữ trong câu.

VD: The most interesting part of our trip was watching the sun setting. (Phần thú vị nhất trong chuyến đi của chúng tôi là xem mặt trời lặn.)

Sở hữu cách của danh từ (Possessive Nouns)

Sở hữu cách là một hình thức chỉ “sự sở hữu” của một người, một loài vật, hoặc một quốc gia, … đối với một người hay một vật nào đó. Khi áp dụng sở hữu cách với danh từ, bạn cần lưu ý một số quy tắc sau:

    Công thức chung: Người sở hữu + ‘S + vật/ người thuộc quyền sở hữu (tức là thuộc về người đó)

VD: Tom’ s T- shirt (áo thun của Tom), Anh’s mother (mẹ của Anh),…

    Đối với danh từ số ít và danh từ số nhiều mà không tận cùng là s: Thêm ‘s vào sau.

VD: a man’s job, women’s clothes,…

    Đối với danh từ số nhiều tận cùng là s: Thêm dấu ‘ vào sau chữ s.

VD: the students’ exam, the eagles’ nest,…

    Đối với danh từ chỉ tên riêng: thêm ‘s vào sau danh từ

VD: Ms.Lily’s house, Lam’s car,…

    Đối với danh từ ghép: Thêm ‘s vào sau từ cuối cùng của danh từ

VD: my sister-in-law’s gift,…

【#6】Giới Từ Trong Tiếng Anh Quan Trọng (Cần Nhớ)

Xem video giới từ trong tiếng Anh – Ms Thuỷ KISS English

Giới từ là nhóm từ loại không thể thiếu trong tiếng Anh. Tất tần tật những kiến thức quan trọng về giới từ trong tiếng Anh sẽ được KISS English chia sẻ ngay sau đây.

Giới Từ Trong Tiếng Anh Là Gì?

Trong ngữ pháp tiếng Anh, giới từ (pposition) chính là từ hoặc nhóm từ thường được sử dụng trước danh từ hoặc đại từ để chỉ mối liên hệ giữa danh từ hoặc đại từ này với các thành phần khác trong câu. Những từ thường đi sau giới từ là tân ngữ (Object), Verb + ing, Cụm danh từ …

Ví dụ: I go to the cinema on Monday.

“Monday” là tân ngữ của giới từ “on”.

Phân Loại Các Giới Từ Trong Tiếng Anh

  • Giới từ chỉ thời gian: At , in, on, since, for, ago, before, to, pass, by…
  • Giới từ chỉ nơi chốn: Before, behind, next, under, below, over, above …
  • Giới từ chỉ chuyển động: along, across, …
  • Giới từ chỉ mục đích hoặc chức năng: for, to, in order to, so as to (để)
  • Giới từ chỉ nguyên nhân: for, because of, owning to + Ving/Noun (vì, bởi vì)
  • Giới từ chỉ tác nhân hay phương tiện: by (bằng, bởi), with (bằng)
  • Giới từ chỉ sự đo lường, số lượng: by (theo, khoảng)
  • Giới từ chỉ sự tương tự: like (giống)
  • Giới từ chỉ sự liên hệ hoặc đồng hành: with (cùng với)
  • Giới từ chỉ sự sở hữu: with (có), of (của)
  • Giới từ chỉ cách thức: by (bằng cách), with (với, bằng), without (không), in (bằng)

Cụm Giới Từ Trong Tiếng Anh Là Gì?

Cụm giới từ (Prepositional phrase) chính là 1 nhóm từ bắt đầu bằng một giới từ. Theo sau giới từ thường là một cụm danh từ, đại từ, trạng từ, một cụm trạng từ (địa điểm hoặc thời gian), hoặc một danh động từ; ít phổ biến hơn là một cụm giới từ, câu bắt đầu bằng V-ing hoặc mệnh đề bắt đầu bằng câu hỏi wh.

  • Thành lập cụm giới từ từ giới từ + cụm danh từ: at a party…
  • Thành lập cụm giới từ từ giới từ + đại từ: with me…
  • Thành lập cụm giới từ từ giới từ + trạng từ: From there…

47 Cách Sử Dụng Giới Từ Trong Tiếng Anh

Cách sử dụng các giới từ trong tiếng Anh không hề đơn giản. Thực tế, không có quy luật cố định về cách sử dụng giới từ, cùng một giới từ nhưng khi kết hợp với các từ loại khác nhau sẽ tạo ra nghĩa khác biệt. Cách duy nhất là bạn nên chú ý học thuộc việc sử dụng giới từ ngay từ đầu.

Ghi nhớ 47 cách sử dụng giới từ trong tiếng Anh sẽ giúp bạn biết cách dùng giới từ trong câu chính xác nhất. Giới từ có thể đứng ở các vị trí sau:

    Đứng sau động từ “to be”, trước danh từ:

Ví dụ: The pencil is on the table (Cái bút chì ở trên bàn).

Cụm giới từ on the tableđứng sau động từ “to be” để chỉ vị trí của chủ ngữ The pencil.

    Đứng sau động từ: Có thể liền sau động từ hoặc bị 1 từ khác chen giữa động từ và giới từ.

Ví dụ: I live in Ho Chi Minh City : Tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh.

    Đứng sau danh từ để bổ nghĩa cho danh từ

Ví dụ: The book about Japanese food (Quyển sách về ẩm thực Nhật Bản).

Cụm giới từ about Japanese food bổ nghĩa cho danh từ book.

Cách Sử Dụng Giới Từ Chỉ Vị Trí Trong Tiếng Anh

Giới từ

Cách dùng

Ví dụ

At (ở, tại)

– Chỉ một địa điểm cụ thể

– Dùng trước tên một tòa nhà khi ta đề cập tới hoạt động / sự kiện thường xuyên diễn ra trong đó

– Chỉ nơi làm việc, học tập

– At home, at the station…

– At the cinema, …

– At work, at school…

In (ở trong, trong)

On Trên, ở trên)

Cách Sử Dụng Giới Từ Chỉ Thời Gian Trong Tiếng Anh

Một Số Bài Tập Về Giới Từ Trong Tiếng Anh

Dạng 2: Chọn đáp án đúng điền vào chỗ trống

1. Elizabeth is fond ………. going to dances.

a.) in b.) of c.) with d.) at

2. He was put ………. prison.

a.) to b.) from c.) into d.) at

3. I saw him ………. noon.

a.) for b.) with c.) against d.) at

4. She likes to go ………. a picnic.

a.) for b.) on c.) for and on are correct d.) by

5. She burst ………. tears.

a.) out of b.) into c.) for d.) in

ĐÁP ÁN:

Dạng 1: chúng tôi – 2.until – chúng tôi – chúng tôi – 5.of

Dạng 2: 1B – 2C – 3D – 4C – 5B

【#7】Dầu Nhớt Là Gì ? Các Thông Số Cơ Bản Của Dầu Nhớt?

Nhiều câu hỏi được đặt ra dầu nhớt là gì? dầu nhớt gồm những thành phần nào? dầu nhớt có những thông số kỹ thuật và tiêu chuẩn như thế nào? Chọn loại dầu nhớt nào tốt cho động cơ của bạn? là một loạt các câu hỏi mà dầu nhớt Morris nhận được từ các khách hàng khắp cả nước. Hôm nay chúng tôi xin được giải đáp các thắc mắc của Quý Khách Hàng ở bài viết này.

Dầu nhớt hay dầu nhờn có sự khác biệt không ?

Vậy dầu gốc là gì và có bao nhiêu loại dầu ?

“Dầu gốc là dầu thu được sau quá trình chế biến, xử lý tổng hợp bằng các quá trình xử lý vật lý và hóa học. Dầu gốc thông thường gồm có ba loại là: dầu thực vật, dầu khoáng và dầu tổng hợp.

Dầu thực vật chỉ dùng trong một số trường hợp đặc biệt. Nó chủ yếu là phối trộn với dầu khoáng hoặc dầu tổng hợp để đạt được một số chức năng nhất định. Nhưng ngày nay người ta thường sử dụng dầu khoáng hay dầu tổng hợp là chủ yếu. Với tính chất ưu việt như giá thành rẻ, sản phẩm đa dạng và phong phú, dầu khoáng đã chiếm một vị trí quan trọng trong lĩnh vực sản xuất dầu nhờn, nhưng dầu tổng hợp cũng được quan tâm nhiều bởi tính chất ưu việt của nó”

Hiện tại bây giờ khi nhắc đến dầu gốc người ta sẽ nghĩ ngay đến dầu gốc khoáng và dầu gốc tổng hợp.

Dầu gốc thì lại được chia ra làm 3 loại xếp dần theo cấp độ chất lượng giảm dần thì: dầu gốc tổng hợp, dầu gốc bán tổng hợp, và dầu gốc khoáng.

Phụ gia trong nhớt là gì ?

Phụ gia là những hợp chất hữu cơ, vô cơ, thậm chí là những nguyên tố hóa học được thêm vào chất bôi trơn, nhằm nâng cao hay mang lại những tính chất mong muốn. Thông thường, hàm lượng phụ gia đưa vào là 0,01 – 5%, trong một số trường hợp phụ gia được dùng từ vài phần triệu cho đến vài phần trăm. Do là những hợp chất hoạt động, vì vậy khi tồn tại trong dầu phụ gia có thể tác dụng với nhau và làm mất chức năng của dầu nhờn. Ngược lại, chúng cũng có thể tác động tương hỗ với nhau tạo ra một tính chất mới có lợi cho dầu nhờn, do đó việc phối trộn các phụ gia cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để loại trừ những hiệu ứng đối kháng và nâng cao tính tác động tương hỗ. Sự tác động tương hỗ giữa phụ gia và dầu gốc cũng là một yếu tố cần được quan tâm khi sản xuất dầu nhờn.

Ngày nay, để đạt được các tính năng bôi trơn thì dầu có chứa nhiều phụ gia khác nhau. Chúng có thể được pha riêng lẻ vào dầu nhờn hoặc phối trộn lại với nhau để tạo thành một phụ gia đóng gói rồi mới đưa vào dầu nhờn.

Các thông số cơ bản trong dầu nhớt

Tiêu chuẩn API là gì?

API (chữ viết tắt của American Petroleum Institute) đây là hiệp hội dầu khí Hoa Kỳ. Cấp hiệu năng API cũng tương đương với tiêu chuẩn ACEA của Châu Âu. Là phân cấp chất lượng dầu nhờn của hiệp hội dầu khí Hòa Kỳ.

Cấp chất lượng của API cho động cơ xăng là SA, SB, SC, SE, SF, SG, … đến cấp mới nhất hiện nay là API SN.

Cấp chất lượng API cho động cơ diesel ký hiệu là CA, CB, CC, CD, …đến cấp mới nhất là CK.

Trong đó chữ cái cuối dùng để phân biệt các cấp và được xếp theo bảng chữ cái, chữ cái càng đứng sau thì biểu thị cho phẩm cấp càng cao hơn. Ví dụ phẩm cấp API SN thì cao hơn SM ; SM cao hơn SL.”

Lưu ý quan trọng: Tuyệt nhiên ở đây các bạn không nên hiểu lầm rằng cứ loại dầu nào có in chữ SN thì đó là sản phẩm đó tốt nhất, vì sao ?

Ví dụ:

Giống như chiếc điện thoại của bạn chỉ số API là hệ điều hành Android, Dầu gốc là phần cứng của điện thoại.

Bạn không thể nào kết luận rằng chiếc máy tính chạy Android 9 là ngon hơn chiếc điện thoại sử dụng Adroid 7. Chủ yếu là phần cứng như thế nào, có đủ độ mạnh để xử lí công việc ra sao.

Vậy nên dầu gốc đó là dầu gốc khoáng có chỉ số API là SN đi nữa thì vẫn không bằng dầu gốc bán tổng hợp có API là SA hoặc dầu gốc tổng hợp API là SA.

JASO (chữ viết tắt của Japanese Automotive Standards Organization) đây là tổ chức chứng nhận tiêu chuẩn ôtô của Nhật Bản. Có nhiều tiêu chuẩn của JASO, tuy nhiên đối với loại xe 4 thì XE SỐ là JASO MA, XE GA là JASO MB , còn xe 2 thì là JASO FC.

ĐỘ NHỚT SAE ?

“SAE (chữ viết tắt của Society of Automotive Engineers) dịch là hiệp hội kỹ sư tự động hóa, để dễ hiểu thì các công ty dầu nhớt gắn liền với tiếng Việt cho dễ nhớ là “Độ nhớt”. Độ nhớt phân ra làm 2 loại: đơn cấp và đa cấp.

Dầu đơn cấp : thường chỉ có ký hiệu SAE 40, SAE 50. Các loại nhớt đơn cấp chỉ bảo đảm là đạt độ nhớt ở nhiệt độ cao như yêu cầu để bôi trơn động cơ. Còn khi nhiệt độ xuống thấp (khi động cơ chưa hoạt động) thì dầu đơn cấp có thể quá đặc gây khó khăn cho việc khởi động và lưu thông dầu nhớt đến các bộ phận động cơ.”

Dầu đa cấp: Khắc phục nhược điểm của dầu đơn cấp, các loại dầu nhớt có độ nhớt đa cấp như SAE 10W-30 ; 15W-40 và 20W-50 được phát triển và đưa vào sử dụng ngày càng rộng rãi. Chữ W được cho là viết tắt của “Winter – mùa đông” chỉ khả năng khởi động khi trời lạnh. Nhớt đa cấp vừa bảo đảm độ nhớt phù hợp để bôi trơn tốt động cơ ở nhiệt độ cao vừa bảo đảm nhớt không quá đặc ở nhiệt độ thấp nhằm giúp xe dễ khởi động và vận hành.

“Chữ số đứng trước “W” dùng để chỉ khoảng nhiệt độ mà dầu đó giúp động cơ khởi động tốt. Nhiệt độ đó được xác định bằng cách lấy 30 trừ đi con số đó nhưng ở nhiệt độ âm. Chẳng hạn dầu 20W-50 khởi động tốt ở -10 độC. Dầu 10W-30 khởi động tốt ở -20 độC.

Đứng sau chữ “W” ở loại dầu đa cấp có thể là chữ 40, 50 hoặc 60. Thông thường, số càng to thì độ nhớt càng lớn và ngược lại.

Tóm lại độ nhớt ở đây cũng khá quan trọng, nên nhớ sản phẩm mình sử dụng là đa cấp hay đơn cấp.

Nếu là nhớt đa cấp thì nên nhớ thêm rằng chữ số trước “W” còn biểu thị khả năng khới động, chữ số càng nhỏ thì biên độ nhiệt cao giúp xe khởi động dễ dàng và ngược lại.

Chữ số đằng sau “W” càng lớn thì càng đặc, càng nhỏ thì càng loãng:

Khi đi phượt nên chọn nhớt đặc hơn vì khi đi phượt thì máy sẽ nóng dầu nhớt sẽ loãng ra là vừa, không nên chọn nhớt loãng khi đi phượt vì nó sẽ gây ra hiện tượng “gào máy”.

Đi trong thành phố thì chọn dầu loãng hơn để xe dễ khởi động sau khi ngừng trước đèn giao thông.

Lựa chọn dầu nhớt tốt cho động cơ xe

Để lựa chọn nhớt tốt thì mọi người cần quan tâm các vấn đề:

Dầu gốc của nó là gì ? ( tổng hợp – full synthetic là tốt nhất )

Cấp hiệu năng API là gì?

Có đạt chứng chỉ JASO không?

Dầu nhớt đơn cấp hay đa cấp ?

Và cuối cùng cần xác định rõ xe mình thường xuyên dùng để đi ở môi trường nào( đi lòng vòng trong thành phố hay đi tour cùng bạn bè) để lựa chọn ra độ nhớt SAE cho phù hợp.

【#8】Cách Dùng When, While, Before Và After Trong Tiếng Anh

When, While , Before và After được sử dụng đa dạng trong mệnh đề chỉ thời gian, dưới vai trò liên từ liên kết. Cùng tìm hiểu chi tiết cách dùng và ví dụ vận dụng cụ thể trong các trường hợp ngay sau đây.

Liên từ trong tiếng Anh có tác dụng kết nối các câu để tạo nên một câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa. Liên từ rất đa dạng và đôi khi, nhiều liên từ có thể mang những ý nghĩa tương đương.

1. Vị trí các mệnh đề chứa liên từ When, While , Before và After

Thông thường, các mệnh đề có vị trí linh hoạt trong câu, tùy theo hàm ý nhận mạnh, hay diễn đạt của người sử dụng. Mệnh đề có chứa liên từ When, While, Before, After là mệnh đề phụ bổ sung ngữ nghĩa cho mệnh đề chính. Khi được đảo lên đầu câu, mệnh đề chứ When, While, Before, After cần ngăn cách với mệnh đề chính bằng dấu phẩy.

Eg: Before going to bed, she had finished her homework. = She had finished her homework before going to bed.

2. Cách dùng các liên từ When, While , Before và After

Cách dùng các liên từ được phổ biến trong mệnh đề trạng ngữ chỉ thời gian. Ta cần chú ý đến sự hoà hợp thì giữa mệnh đề chính – phụ để when, while, before, sử dụngchia động từ chính xác.

Hiện tại đơn

Các thì quá khứ: Quá khứ đơn (Past Simple), Quá khứ hoàn thành (Past Perfect), Quá khứ tiếp diễn (Past Continuous)

Tương lai đơn

Clause of time

Use

Example

– Ngoài vai trò liên từ trong các mệnh đề, when, before còn xuất hiện trong các câu trúc đặc biệt dưới dạng đảo ngữ:

    Bên cạnh vai trò liên từ, Before, After đều là những giới từ, có thể theo sau bởi danh từ, cụm danh từ.

Before/ After thể hiện thứ tự hành động, còn được biết như một dấu hiệu nhận biết của các thì thể hoàn thành.

Eg: Before we came back from Korean, we had bought souvenir for our friends. Ex: Correct form of the verbs in brackets.

  • While we were playing football, our grandfather (read)…. newspaper.
  • When she (come)……, we will begin the meeting.
  • Before Mark came back from London, he (ppare)……IMC plan for new products.
  • After they (left)……, they recognized that they (not lock)…… the door.
  • She (wait)….. outside when her children went into cinema.
  • Ivy will go to Japan after (have)……… a three-day holiday in Danang.
  • Hardly she (graduate)….. when she was invited to work for Amazon.

Bạn nên dựa theo ngữ nghĩa để sắp xếp mệnh đề và sử dụng hòa hợp thì chính xác, thay vì học toàn bộ cấu trúc dài, phức tạp. Language Link mong rằng bạn đã có cho mình những kiến thức chi tiết về cách dùng các liên từ when, while, after, before và vận dụng chính xác vào các trường hợp sử dụng thực tế.

CÁC LIÊN TỪ KHÁC BẠN CŨNG SẼ CẦN: Phân biệt SINCE và FOR Cách dùng UNLESS và OTHERWISE Cách sử dụng AS WELL AS Cách dùng HOWEVER, THEREFORE, BUT và SO thật “chuẩn”

Tải xuống MIỄN PHÍ ngay

Bộ tài liệu học tốt tiếng Anh độc quyền của Language Link Academic (cập nhật 2021)!

Kiểm tra tiếng Anh miễn phí ngay cùng chuyên gia khảo thí đến từ Anh Quốc

& nhận những phần quà hấp dẫn!

Đón xem series phim hoạt hình học tiếng Anh cho trẻ mẫu giáo và tiểu học,

tham gia trả lời các câu hỏi đơn giản, giành ngay những phần quà giá trị!

【#9】Rong Nho, Quà Tặng Biển Cả Lên Bàn Ăn Người Việt

Tiên phong mang rong nho từ Nhật Bản về trồng ở vùng biển Khánh Hòa, tự mình nghiên cứu phương pháp tách nước để sản phẩm đến tay người dùng không hề biến chất, biến dạng, ông Lê Nhứt để coi rong nho như ‘cái nghiệp” mình đã chọn. Rong nho – thực phẩm “vàng” từ biển khơi

Rong nho, hay còn gọi là “nho biển” bởi hình dạng và màu sắc rất giống trái nho xanh, chúng kết thành từng chùm trên một thân dài nhìn vô cùng đẹp mắt, trên một số trang ẩm thực thế giới, người ta còn gọi với cái tên là “trứng cá hồi xanh”.

Tại Nhật Bản, rong nho được coi là một thực phẩm bổ dưỡng, cung cấp nhiều khoáng chất và vitamin cần thiết cho cơ thể, giúp giảm rủi ro mắc các bệnh như cao huyết áp, giảm béo, tiểu đường, bướu cổ, giảm hàm lượng cholesterol.

Rong nho còn là sản phẩm rất tốt dành cho người theo chế độ ăn kiêng khoa học nhằm tránh thiếu chất, mệt mỏi… Từ rong nho, người Nhật chế biến thành nhiều món ăn ngon như gỏi rong nho, nước ép rong nho… nhưng, có lẽ đơn giản và phổ biến hơn cả là dùng rong nho như một loại rau sống trong bữa ăn hằng ngày.

Trong khi đó tại Việt Nam, rong nho là một cụm từ còn khá mới mẻ với người tiêu dùng Việt.

Là doanh nghiệp tiên phong trong tiếp thu công nghệ và cây giống rong nho từ các đối tác Nhật Bản mang sang để trồng tại vùng biển Khánh Hòa – Việt Nam từ những ngày đầu, ông Lê Nhứt – Giám đốc Công ty CP Đại Dương VN chia sẻ: “Rong nho là một thực phẩm cực kỳ tốt cho sức khỏe, người Nhật và nhiều nước trên thế giới đã sử dụng từ rất lâu rồi. Tuy nhiên, rong nho là một loài thực vật biển có tính hấp thu và đào thải cao nên muốn cho ra đời những sản phẩm chất lượng và an toàn tại Việt Nam không phải là dễ dàng.

Rong nho ‘tách nước” đặc biệt của Việt Nam

Trong suốt quá trình nuôi trồng và tạo nên đứa con tinh thần ViJa của mình, ông Nhứt tâm huyết nhất với đột phá trong quá trình tạo ra phương pháp bảo quản và đóng gói rong nho.

Ông Nhứt nói: “Tôi được biết người Nhật họ vẫn vận chuyển rong nho theo phương pháp bảo quản trong dung dịch nước muối, nghĩa là cứ 10kg rong nho thành phẩm được chứa trong 20kg dung dịch, rất bất tiện trong vận chuyển và thời gian bảo quản chỉ 3 tháng. Tôi suy nghĩ và trăn trở cách làm sao cho khoa học và hiệu quả hơn.

Sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, tôi thành công với quy trình chuẩn của phương pháp tách nước cho rong nho mà không dùng đến bất kỳ loại hóa chất nào, trừ muối. Những sản phẩm rong nho được tách nước và đóng gói giảm được 60% khối lượng và bảo quản được 6 tháng trong nhiệt độ bình thường và 12 tháng trong ngăn mát.

Có nghĩa rằng quy trình công nghệ tách nước rong nho của tôi giảm đến hơn 80% khối lượng, tăng gấp nhiều lần thời gian bảo quản, giảm đáng kể chi phí vận chuyển so với cách bảo quản và đóng gói mà người Nhật đang làm”.

Ông cho rằng đó chính là tinh thần Việt: Cần cù và không ngại khó. Đồng thời ông vẫn muốn cám ơn người Nhật vì đã dẫn dắt ông đến với rong nho, chính vậy mà ông đặt tên đứa con tinh thần mình ghép từ tên của hai quốc gia Việt Nam + Nhật Bản (Japan) = ViJa.

Ông Nhứt cho rằng, với sản phẩm rong nho ViJa áp dụng theo quy trình chuẩn tách nước của mình, sợi rong nho được giữ nguyên độ tươi xanh, không bị vỡ bể, chất lượng và hàm lượng dinh dưỡng trong rong nho không bị suy giảm.

Khi ngâm vào nước thường, sợi rong nho sẽ bung nở ra như kích thước ban đầu trong khoảng thời gian từ 2-3 phút và không bị biến dạng.

“Có những người bạn của tôi ở nước ngoài, khi qua Việt Nam thăm quá trình làm rong nho. Họ hỏi rằng có phải tôi đem rong nho đi “ép nước” hay không, tôi cười và bảo họ cứ xem quy trình chuẩn của tôi làm đi sẽ thấy đây không phải là “ép nước” mà là quy trình “tách nước” chuẩn và đầy đủ nhất mà tôi đang có. Nó nằm ở cái riêng và cái độc đáo của ViJa mà tôi tin rằng ở Việt Nam, chỉ một mình sản phẩm ViJa này có được”, ông Nhứt cho hay.

Chính việc các đối tác đến từ Nhật Bản, Đài Loan, Pháp, Australia, Hàn Quốc trong các năm qua đã tín nhiệm và nhập khẩu thương hiệu rong nho ViJa đã phần nào minh chứng chất lượng sản phẩm.

“Cụm từ rong nho còn lạ lẫm và một số sản phẩm rong nho trên thị trường Việt Nam hiện nay thường bị vàng, có cặn bẩn và mùi khó ăn khiến những người tiêu dùng không hiểu hết. Với cái nghiệp và lòng tin, tôi sẽ cho đứa con tinh thần rong nho ViJa của mình nằm ở các kệ trên siêu thị và cửa hàng trong thời gian sớm nhất, bởi tôi nghĩ, với những đặc tính ưu việt của ViJa, sẽ được người tiêu dùng Việt lựa chọn và yêu thích”, ông Nhứt chia sẻ.

Mộc Trà

【#10】Rong Nho Vija, Rong Nho, Đại Dương Vn

(NTD) – Chứa nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể, rong nho, từ lâu là sản vật quý của biển được nhiều quốc gia sử dụng như thực phẩm chức năng, giúp bổ sung các khoáng chất vi lượng. Tại Việt Nam, sau nhiều năm nghiên cứu, một doanh nghiệp đã cho ra đời sản phẩm rong nho với công nghệ và chất lượng được đánh giá đi đầu trên toàn thế giới.

Rong nho – Món quà tri ân từ biển

Ẩm thực mỗi khu vực, quốc gia đều có nét đặc trưng riêng. Ẩm thực Việt Nam và Nhật Bản được nhiều đầu bếp danh tiếng trên thế giới đánh giá cao với điểm chung là sự cân bằng trong khẩu phần ăn hằng ngày. Tại Nhật Bản, sự tinh túy và tươi ngon của các món ăn luôn được đầu bếp đặt lên hàng đầu đã giúp ẩm thực quốc gia này lan rộng toàn cầu.

Rong nho là một thực phẩm bổ dưỡng đã có mặt trên bàn ăn của gia đình rất nhiều quốc gia trên thế giới. Rong nho được mệnh danh là “trứng cá hồi xanh” (green caviar – thực phẩm cao cấp nổi tiếng vì sự xa xỉ) vì hình dáng cũng như do chứa nhiều khoáng chất vi lượng thiết yếu của cơ thể bao gồm iốt, sắt, kẽm, đồng, mangan, coban… Do đó, rong nho từ lâu đã là thực phẩm không thể thiếu cấu thành khẩu phần ăn tiêu chuẩn của người Nhật Bản. Theo nghiên cứu của GS. Matanjun (Ấn Độ) cùng các cộng sự, ngoài các vitamin, axit amin thiết yếu và nhiều nguyên tố đa lượng có trong rong nho, các vi chất cũng giúp giảm rủi ro mắc các bệnh như cao huyết áp, giảm béo, tiểu đường, bướu cổ, giảm hàm lượng cholesterol. Chính vì vậy, rong nho còn là sản phẩm rất tốt dành cho người theo chế độ ăn kiêng khoa học nhằm tránh thiếu chất, mệt mỏi… Rong nho được chế biến thành nhiều món ăn ngon như: gỏi rong nho, nước ép rong nho… nhưng, đơn giản và phổ biến hơn cả, rong nho được dùng như một loại rau sống trong bữa ăn hằng ngày.

Tuy nhiên, do loài thực vật biển này có tính hấp thu và đào thải cao, rong nho chỉ phù hợp với một số vùng biển đặc trưng tại châu Á có độ mặn cao như Okinawa (Nhật Bản), Manila (Philipines)… Tại Việt Nam, vùng biển Khánh Hòa được các nhà khảo sát của Nhật bản đánh giá hội tụ đủ các điều kiện của đất và nước, của ánh sáng mặt trời, độ cao của đất, độ mặn của biển… để cho ra đời những sợi rong nho tươi xanh, không cặn bẩn, không có mùi tanh. Dù vậy, việc nuôi trồng rong nho vẫn gặp khá nhiều khó khăn, đặc biệt là về công nghệ xử lý và chế biến sản phẩm.

Một khó khăn khác khiến người Việt Nam hiện vẫn khó tìm nguồn cung là do rong nho rất khó bảo quản và vận chuyển đường dài. Điều này khiến các mặt hàng rong nho nhập khẩu khan hiếm và giá thành sản phẩm cũng ở mức rất cao.

ViJa – sản phẩm rong nho tiên phong trên thị trường

Là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam thành công trong nhân giống và nuôi trồng thương phẩm rong nho biển. Sản phẩm rong nho tách nước ViJa của CTCP Đại Dương VN được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là “bước cách mạng” của nền công nghệ chế biến thủy sản.

Trong hơn 5 năm hình thành và phát triển, công ty đã cho ra mắt dòng sản phẩm rong nho biển được nuôi trồng tại vùng biển Hòn Khói (một trong ba hòn chính thuộc vịnh Vân Phong, chúng tôi Hòa, tỉnh Khánh Hòa).

Ngoài hai sản phẩm rong nho biển tươi và rong nho tách nước, CTCP Đại Dương VN đã tung ra thị trường sản phẩm kim chi rong biển để đa dạng hóa và hướng đến thị trường quốc tế.

Chia sẻ về quá trình nuôi trồng và tạo nên đứa con tinh thần ViJa, ông Lê Nhứt, Tổng Giám đốc CTCP Đại Dương VN tâm đắc nhất với đột phá trong quá trình tạo ra phương pháp bảo quản và đóng gói rong nho để vận chuyển. Ông cho biết: “Tôi được biết người Nhật vẫn vận chuyển rong nho theo phương pháp bảo quản trong dung dịch nước muối, nghĩa là cứ 10 kg rong nho thành phẩm được chứa trong 20 kg dung dịch, rất bất tiện trong vận chuyển và thời gian bảo quản chỉ 3 tháng. Tôi suy nghĩ và trăn trở cách làm sao cho khoa học và hiệu quả hơn. Nhiều người cười tôi và khuyên bỏ ý định đó đi, họ cho rằng người Nhật làm không được thì sao người Việt có thể làm được. Thế nhưng tôi vẫn giữ khăng khăng trong đầu một niềm tin đến kỳ lạ. Rồi sau nhiều năm miệt mài nghiên cứu, tôi thành công với quy trình chuẩn của phương pháp tách nước cho rong nho mà không dùng đến bất kỳ loại hóa chất nào, trừ muối. Những sản phẩm rong nho được tách nước và đóng gói giảm được 60% khối lượng và bảo quản được 6 tháng trong nhiệt độ bình thường và 12 tháng trong ngăn mát. Có nghĩa rằng quy trình công nghệ tách nước rong nho của tôi giảm đến hơn 80% khối lượng, tăng gấp nhiều lần thời gian bảo quản, giảm đáng kể chi phí vận chuyển so với cách bảo quản và đóng gói mà người Nhật đang làm”.

Với phương pháp tách nước “không sử dụng một loại hóa chất nào, trừ muối”, sợi rong nho vẫn giữ được độ tươi xanh, không bị vỡ bể, chất lượng và hàm lượng dinh dưỡng trong rong nho không bị suy giảm trong quá trình ngâm nước.

Ông cho rằng đó chính là tinh thần Việt: Cần cù và không ngại khó. Tự hào là vậy, nhưng ông vẫn muốn cám ơn người Nhật vì đã dẫn dắt ông đến với rong nho, chính vậy mà ông đặt tên đứa con tinh thần mình ghép từ tên của hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản (Japan) = ViJa.

CTCP Đại Dương VN

94 Nguyễn Thị Minh Khai, P.Phước Hòa, chúng tôi Trang, tỉnh Khánh Hòa

Website: Zdungk.com (058) 351 0855

Nguyên Quân