【#1】Rubella Là Bệnh Gì? Nguyên Nhân, Triệu Chứng Và Phương Pháp Điều Trị

Rubella là bệnh gì? Bệnh Rubella có nguy hiểm không? Nguyên nhân gây bệnh Rubella? Triệu chứng và cách điều trị bệnh Rubella như nào? Bệnh Rubella ở trẻ em cần lưu ý gì vốn là những thắc mắc của rất nhiều người. Đây là một loại bệnh dễ lây lan, tuy không gây ảnh hưởng lớn nhưng bệnh cũng tiềm ẩn nhiều nguy hiểm. Bài viết sau đây của DINHNGHIA.COM.VN sẽ cung cấp thông tin về Rubella là bệnh gì, nguyên nhân gây bệnh cũng như phương pháp điều trị đến quý vị và các bạn.

Rubella là bệnh gì? – Rubella hay còn được biết đến với tên gọi là bệnh sởi Đức. Đây là một bệnh gây ra do tình trạng nhiễm siêu vi. Loại bệnh truyền nhiễm này cực kỳ dễ lây lan qua việc tiếp xúc cũng như qua việc hô hấp giữa bệnh nhân với người khác.

Rubella là bệnh gì? – Rubella còn được gọi là bệnh sởi ba ngày. Có thể nhận ra bệnh thông qua các đốm nhỏ trên da, cũng có thể là dạng nhọt đỏ. Đây là một trong những căn bệnh phổ biến thường gặp ở trẻ em.

Bệnh không gây nguy hiểm đến người trưởng thành hoặc trẻ nhỏ nhưng có thể gây biến chứng nguy hiểm đến thai phụ. Nhất là đối với các thai phụ đang trong thời kỳ mang thai 3 tháng đầu. Bệnh có thể gây nên tình trạng dị tật ở thai nhi nếu như trong thời kỳ mang thai người mẹ mắc phải Rubella.

Không giống như bệnh sởi thông thường, bệnh sởi Đức được hình thành từ virus khác. Rubella cũng không dễ lây lan cũng như tạo nên tình trạng nghiêm trọng giống như bệnh sởi thường.

  • Sốt nhẹ và có hiện tượng đau đầu.
  • Trên bề mặt da xuất hiện các nốt, đốm phát ban có màu đỏ. Thường thì các nốt này sẽ mọc ở vùng đầu trước rồi mới lan dần xuống toàn bộ cơ thể. Việc này có thể kéo dài trong khoảng thời gian từ 2 đến 3 ngày.
  • Tại vùng cổ và sau tai xuất hiện tình trạng sưng hạch bạch huyết.
  • Sổ mũi hoặc nghẹt mũi.

Triệu chứng thường gặp của Rubella là gì?

  • Chán ăn, mất vị giác dẫn đến ăn không ngon miệng.
  • Tại vùng nhãn cầu và mi mắt có hiện tượng nhiễm trùng dẫn đến viêm kết mạc.
  • Đối với phụ nữ nhất là phụ nữ trẻ tuổi có thể xuất hiện tình trạng đau khớp, sưng khớp.

Khi đã nắm được khái niệm Rubella là bệnh gì, chắc hẳn bạn cũng đang băn khoăn về các triệu chứng thường gặp của Rubella. Có thể thấy, dấu hiệu và triệu chứng thường gặp và thông thường nhất của Rubella chính là việc nổi các nốt ban, đốm đỏ trên da. Tại một số trường hợp trẻ mắc phải Rubella có thể không có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng nào. Triệu chứng của bệnh chỉ thực sự xuất hiện từ tuần thứ 2 và thứ 3 sau khi nhiễm bệnh.

Triệu chứng bệnh Rubella với đối tượng trẻ nhỏ

Triệu chứng bệnh Rubella với đối tượng thanh thiếu niên

Nguyên nhân gây bệnh Rubella là gì?

Bạn đã biết Rubella là bệnh gì. Vậy bạn đã nắm được nguyên nhân gây bệnh Rubella? Theo các nhà chuyên môn, nguyên nhân chính gây nên bệnh chính là do virus Rubella. Loại virus này sẽ lây lan từ người sang người thông qua hô hấp cũng như sự tiếp xúc giữa người bệnh và người bình thường. Cụ thể hơn là qua dịch tiết từ cổ họng và mũi của người mắc bệnh sang người bình thường.

Bệnh có thể lây lan từ mẹ sang con nhất là đối với phụ nữ mang thai 3 tháng đầu thông qua đường máu. Virus Rubella có thể truyền từ người bệnh trước 1 tuần kể cả khi người bệnh chưa phát ban. Sau một tuần kết thúc việc phát ban virus vẫn có thể lây lan sang người khác.

Rubella là bệnh gì và đối tượng nào dễ mắc bệnh? Bất cứ đối tượng nào cũng có thể mắc phải bệnh Rubella. Bệnh không gây nguy hiểm cũng như dễ điều trị đối với người lớn và trẻ em. Rubella gây nguy hiểm và lo lắng nhất đối với phụ nữ đang trong thời kỳ mang thai. Trong thời kỳ đầu mang thai nếu người mẹ mắc phải Rubella thì thai nhi rất dễ bị dị tật. Nghiêm trọng nhất có thể là tình trạng chết lưu thai trong bụng mẹ.

Bên cạnh đó bệnh còn dễ phơi nhiễm đối với các đối tượng như: Người chưa bao giờ mắc phải bệnh Rubella; Người chưa đi tiêm phòng Sởi, Quai bị và Rubella; Tiếp xúc với các đối tượng đã và đang mắc bệnh Rubella.

Phương pháp điều trị bệnh Rubella

Rubella là bệnh gì và phương pháp điều trị bệnh Rubella như nào? – Khi mắc phải tình trạng bệnh Rubella phương pháp điều trị tốt nhất cho bạn chính là dùng thuốc hạ sốt hoặc kem bôi ngoài da. Do quá trình phát bệnh Rubella vẫn chưa có cách để làm suy giảm cũng như rút ngắn. Hầu hết bệnh đều tự miễn dịch và dần dần biến mất. Sau khi bị bệnh cơ thể sẽ tự hình thành nên cơ chế đề kháng với căn bệnh này vĩnh viễn.

Để chính xác và đảm bảo hiệu quả nhất bạn vẫn nên tìm đến các địa chỉ bệnh viện và phòng khám uy tín. Bên cạnh đó khi sử dụng thuốc cần có sự chỉ dẫn đến từ bác sĩ hoặc dược sĩ uy tín.

  • Có thói quen ăn uống, sinh hoạt lành mạnh. Thường xuyên tập luyện thể thao, không đồ ăn chế biến sẵn, đồ chiên xào cũng như thực phẩm chứa dư lượng thuốc trừ sâu.
  • Khi mắc phải bệnh cần tuân thủ các chỉ định cũng như việc sử dụng thuốc mà bác sĩ kê cho. Không gãi và làm vỡ các vết đốm, nốt phát ban để tránh để lại sẹo cũng như khiến cho bệnh nặng hơn.
  • Không tiếp xúc với người mắc bệnh Rubella, không đi đến các vùng đang có dịch Rubella.
  • Thực hiện tiêm phòng vắc xin phòng ngừa bệnh Rubella đầy đủ. Nhất là đối với phụ nữ có ý định có con.

Ngoài thắc mắc Rubella là bệnh gì thì rất nhiều người còn muốn biết các lưu ý để phòng tránh căn bệnh này. Bệnh Rubella không dễ chẩn đoán do các triệu chứng bệnh không biểu hiện một cách rõ ràng. Bệnh tuy không gây nguy hiểm nhưng lại gây ra các phiền toái đối với người bệnh. Bạn hoàn toàn có thể phòng tránh Rubella thông qua một số lưu ý sau:

Tác giả: Việt Phương

【#2】Rubella Là Bệnh Gì? Cách Để Phòng Tránh Rubella

Virus Rubella khi được nhìn trong kính hiển vi

Rubella là gì?

Rubella là một căn bệnh truyền nhiễm, nguyên nhân bệnh là do virus rubella gây nên. Bệnh xuất hiện khắp toàn cầu, và vào mùa đông và xuân trong năm là thời gian có nguy cơ xảy ra dịch rubella cao nhất. Hội chứng bệnh Rubella bẩm sinh là nguyên nhân chủ yếu gây ra các khuyết tật trầm trọng cho cơ thể trẻ trẻ sơ sinh.

Những ai có thể mắc phải căn bệnh Rubella?

Không chỉ trẻ nhỏ mới có thể mắc bệnh Rubella mà cả người trưởng thành cũng có nguy cơ mắc phải Rubella, tuy nhiên đối tượng gặp nguy hiểm nhất khi mắc bệnh này là những phụ nữ trong gian đoạn đầu của thai kỳ, từ 1 đến 3 tháng đầu. Đặc biệt, những người đã từng mắc phải căn bệnh này sẽ có hệ thống miễn dịch và không nhiễm bệnh lại lần nữa.

Rubella nguy hiểm đến nào cho người bệnh?

Tuy Rubella là một căn bệnh lây nhiễm KHÔNG NGUY CẤP (nguyên nhân là vì bệnh không gây nên biến chứng nguy hiểm, không gây tử vong) như bệnh sởi có thể gây nên (thường khi mắc sởi sẽ gặp phải những biến chứng trầm trọng: viêm phổi, viêm phế quản, viêm tai giữa của người bệnh, viêm cơ tim mạch, rối loạn tiêu hóa trong quá trình bệnh…) nhưng lại khá NGUY HIỂM do bệnh có thể gây nên những dị tật bẩm sinh nặng nề cho trẻ ở giai đoạn đầu của thai kỳ (1 đến 3 tháng đầu). Những người mẹ mắc bệnh sẽ dễ bị những biến chứng như sẩy thai, thai chết trong tử cung của người mẹ, hoặc có thể gây nên những bị tật sau khi sinh cho thai nhi như: các khuyết tật về tim mạch, gây đục thủy tinh thể, khiếm thính bẩm sinh, chậm phát triển trí tuệ ở trẻ nhỏ,…

Tại sao lại mắc bệnh Rubella?

Bệnh được lây nhiễm qua các giọt nước bọt ở trong không khí do người mang mầm bệnh hắt hắt hơi hoặc ho. Sau từ 5 đến 7 ngày kể từ khi virus Rubella xâm nhập cơ thể, người bệnh sẽ trở thành nguồn lây bệnh đến mọi người. Nếu như người mẹ mắc bệnh trong khi mang thai virus sẽ có thể truyền cho thai nhi dẫn đến việc mắc bệnh Rubella bẩm sinh.

Người bị nhiễm virus rubella sẽ dễ lây truyền nhất trong kỳ phát ban. Tuy nhiên, người bệnh có thể lây truyền từ trước và sau khi đã phát ban 7 ngày, nên chúng ta cần phải cẩn thận đề phòng.

Đặc biệt đối với những trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có thể lây truyền virus trong khoảng thời gian 1 năm hoặc có thể kéo dài hơn.

Những điều kiện thuận lợi để phát triển bệnh Rubella là gì?

Điều kiện sống chật chội, nơi ở tối tăm thiếu ánh sáng mặt trời, nơi ở không được vệ sinh, sạch sẽ (nhà trọ, ký túc xá, khu tập thể,… là những nơi thường thiếu điều kiện vệ sinh).

Tiếp xúc với người bệnh Rubella trong vòng một tuần trước khi phát ban hoặc từ 1 đến 2 tuần sau khi người bệnh đã lặn hết vẫn có thể bị nhiễm bệnh.

Biểu Hiện Bệnh Rubella trên cơ thể

Những triệu chứng thường gặp ở người lớn và thanh thiếu niên khi nhiễm bệnh rubella là gì:

  • Cảm thấy bị đau đầu kéo dài
  • Mất cảm giác ngon miệng khi ăn – viêm màng kết ở mắt nhẹ
  • Sổ mũi và nghẹt mũi như cảm cúm thông thường
  • Sưng ở hạch bạch huyết tại nhiều phần khác nhau trên cơ thể.
  • Đối với nữ thường kèm theo triệu chứng đau và sưng khớp.

Lưu ý: nhiều người nhiễm bệnh Rubella lại thường không có hoặc xuất hiện rất ít triệu chứng bệnh.

Khi phụ nữ mang thai mắc bệnh rubella, sẽ có thể dẫn đến hội chứng mắc rubella bẩm sinh rất nguy hiểm đối với thai nhi. Trẻ sơ sinh bị mắc Rubella trước khi được ra đời sẽ có nguy cơ cao bị chậm phát triển về cả thể lực lẫn trí lực, có khả năng bị dị tật ở tim và mắt, điếc bẩm sinh, hoặc nhiều sự cố ở lá lách trẻ, gan và cả tủy xương.

Cách chăm sóc bệnh nhân Rubella:

  • Rubella không có nhiều biến chứng nguy hiểm nên có thể được xem là một bệnh lành tính và có thể chăm sóc tại nhà. Việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị những triệu chứng khi mắc bệnh Rubella
  • Cho bệnh nhân ăn thức ăn mềm và lỏng, dễ tiêu hóa, nên cho uống nước nhiều và ăn nhiều trái cây để tăng sức đề kháng.
  • Mũi và họng của người bệnh cần được vệ sinh thường xuyên (nhỏ mũi và súc họng) bằng dung dịch nước muối sinh lý natri clorid 0.9%.
  • Nếu bệnh nhân cảm thấy đau đầu nhiều hoặc đau khớp thì có thể cho sử dụng thêm thuốc giảm đau.
  • Đối với trẻ em cần sử dụng khăn được giặt sạch trong nước ấm và lau mình hằng ngày cho trẻ.

Hình Ảnh Rubella của một bệnh nhân

Những cách để phòng tránh bệnh Rubella:

  • Đầu tiên, người bệnh cần phải được phát hiện sớm để tránh lây bệnh cho người khác.
  • Sau đó, người bệnh sẽ được cách ly
  • Thời gian cách ly người bệnh: từ lúc đầu phát ban cho đến 7 ngày sau khi phát ban xong không nên gặp gỡ và tiếp xúc người khác (người lớn nên nghỉ làm và trẻ em nên nghỉ học)
  • Người bệnh nên được sắp xếp ở một phòng riêng thoáng mát, có cửa sổ trong phòng, và phòng đủ ánh sáng mặt trời.
  • Các vật dụng sinh hoạt cá nhân cho người nhiễm bệnh sẽ được sử dụng riêng (khăn, ly uống nước, muỗng và đũa, mền, drap giường, …)
  • Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Khi tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa sạch tay bằng xà bông tiệt trùng. Đặc biệt phụ nữ mang thai không được tiếp xúc với người đang nhiễm bệnh và sau khi nhiễm bệnh 2 tuần.
  • Vệ sinh nơi ở của bệnh nhân: Lau sàn nhà, bàn, ghế, tủ và giường, đồ chơi trẻ em,.. hàng ngày bằng nước vệ sinh Javel, hoặc có thể sử dụng dung dịch Cloramin B sau đó rửa lại bằng nước sạch. Những đồ vật nhỏ không thể lau chùi được có đem phơi nắng.
  • Tiêm chủng vắc xin để phòng ngừa bệnh: vắc xin phòng bệnh Rubella thông dụng thời điểm này là vắc xin MMR (Measle, Mumps và Rubella) có thể phòng ngừa một lúc cả 3 bệnh Sởi, bệnh Quai bị, và cả bệnh Rubella.

【#3】Rubella Là Bệnh Gì? Bệnh Nguy Hiểm Như Thế Nào?

Rubella là bệnh gì?

Rubella là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut Rubella gây nên. Phần lớn bệnh thường ở mức độ nhẹ, thường gặp ở trẻ em và thanh niên. Tuy nhiên, bệnh Rubella gây tác hại nguy hiểm tới sức khỏe của bà mẹ cũng như thai nhi nếu bà mẹ bị nhiễm virut trong thời kỳ mang thai.

Những triệu chứng của bệnh Rubella là gì?

  • Phát ban da ở đầu rồi lan dần xuống cơ thể, kéo dài từ 2 tới 3 ngày;
  • Đau đầu, sốt nhẹ;
  • Nghẹt mũi hay sổ mũi;
  • Sưng hạch bạch huyết ở cổ hay sau tai.
  • Người lớn và thanh thiếu niên sẽ có thêm một số triệu chứng như:
  • Ăn không ngon;
  • Viêm kết mạc;
  • Sưng và đau khớp ở phụ nữ trẻ tuổi.
  • Những triệu chứng thường biến mất trong vòng vài ngày tuy nhiên cũng có trường hợp phát ban lâu hơn.

Cách lây truyền của bệnh Rubella

  • Ổ chứa virus gây bệnh Rubella lây nhiễm từ người sang người
  • Bị mắc bệnh do lây nhiễm qua dịch chứa virut của mũi họng
  • Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh (CRS) sẽ đào thải nhiều virus trong dịch tiết hầu họng, trong nước tiểu và đó là nguồn truyền nhiễm cho người tiếp xúc .
  • Tính lây lan của Rubella không mãnh liệt bằng bệnh sởi.
  • Khả năng nhạy cảm đối với người trưởng thành 6 -11 %

Điều trị bệnh rubella như thế nào?

  • Bệnh Rubella mắc phải là một bệnh nhẹ tự giới hạn và không có thuốc điều trị đặc hiệu.
  • Hội chứng Rubella bẩm sinh không có thuốc điều trị đặc hiệu.
  • Người bệnh cần nghỉ ngơi và uống nhiều nước và chất dinh dưỡng, bổ sung vitamin.
  • Hạ nhiệt nếu sốt cao
  • Giảm đau nếu cần
  • Điều trị triệu chứng nếu cần thiết tuy nhiên người bệnh cần phải tuân theo sự hướng dẫn của y bác sỹ

Biện pháp phòng ngừa bệnh rubella hiệu quả

Hiện nay trong y học vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc xin đang sử dụng hiện nay là vắc xin phối hợp ngừa 3 bệnh: Sởi, quai bị, rubella. Được áp dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn. Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng một số biện pháp không đặc hiệu khác như: Mặc đủ ấm, ăn uống đủ dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.

Đối tượng cần tiêm vắc xin Rubella:

  • Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi cho dưới 13 tuổi, chưa tiêm phòng Rubella lần nào: tiêm 2 mũi, mũi thứ 2 tiêm nhắc lại sau mũi thứ nhất 2-3 năm.
  • Trẻ lớn trên 13 tuổi và người lớn: chỉ tiêm 1 mũi duy nhất.
  • Những phụ nữ có ý định mang thai chưa từng bị bệnh Rubella hoặc chưa được tiêm phòng lúc nhỏ: nên tiêm vắc xin trước 3 tháng khi có kế hoạch mang bầu.
  • Những người làm việc tại bệnh viện, trung tâm y khoa, trung tâm chăm sóc trẻ em và các trường học.
  • Việc tiêm chủng Rubella đặc biệt quan trọng đối với trẻ em gái để phòng chống bệnh trong suốt khoảng thời gian khi đứa trẻ lớn lên và mang thai sau này.
  • Trẻ nhỏ từ 6 – 8 tháng tuổi được miễn nhiễm (không mắc bệnh) đối với bệnh Rubella do có kháng thể từ mẹ truyền qua. Trong trường hợp cần thiết phải tiêm chủng Rubella trước 12 tháng tuổi nên tiến hành tiêm cho trẻ lúc 6 tháng tuổi, sau đó vẫn phải tiến hành tiêm chủng lại cho trẻ theo đúng lịch tiêm chủng.

Những đối tượng không nên tiêm phòng vắc xin phòng Rubella:

  • Những phụ nữ đang có thai hoặc nghi ngờ có thai.
  • Những người dị ứng với thuốc Neomycine, dị ứng với trứng.
  • Những người có phản ứng với những lần tiêm ngừa Rubella trước.
  • Bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, hoặc đang sử dụng những thuốc ức chế miễn dịch.
  • Bệnh nhân bị bệnh ác tính về máu.
  • Bệnh nhân bị nhiễm trùng cấp tính hoặc mạn tính.

Hãy tìm hiểu thật kỹ thông tin về bệnh Rubella là bệnh gì để có phương pháp phòng và hỗ trợ điều trị bệnh tốt nhất.

Nguồn : Sức Khỏe Của TDCS

【#4】Bệnh Sởi Rubella Là Gì, Có Nguy Hiểm Không, Nguyên Nhân, Biến Chứng

Rubella là bệnh sởi do ɴʜɪễᴍ siêu vi, bệnh có khả năng lây lan nhanh. Rubella không ɢâʏ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ cho trẻ nhỏ ᴠà người lớn, ᴛᴜʏ ɴʜɪêɴ đối với phụ nữ có thai trong ba tháng thì ʀấᴛ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ. Biết cáᴄh phòng tránh ᴠà điều trị bệnh sởi Rubella sẽ giúp mọi người bảo vệ tốt cho sức khỏe của mình.

Rubella hay ᴄòɴ gọi sởi Đức, đâʏ là ᴍộᴛ bệnh do virus truyền ɴʜɪễᴍ ɢâʏ nên với đặc trưng là cáᴄ đốm ban đỏ trên da. Rubella là bệnh lý thường gặp phổ biến ở trẻ nhỏ, hiện nay do trẻ em đều được tiêm vắc xin tiêm liên phòng bệnh nên đã ɢɪảm ʀấᴛ nhiều. Rubella không giống như bệnh sởi thông thường, ᴍặᴄ ᴅù đều ɢâʏ phát ban đỏ ɴʜưɴɢ Rubella hình thành ʙởɪ virus kháᴄ với bệnh sởi, độ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ ᴠà lây ɴʜɪễᴍ nhẹ hơn sởi.

Rubella là căn bệnh ʀấᴛ phổ biến ở nước ta (Nguồn: scarymommy.com)

Về mức độ thì bệnh sởi Rubella thường nhẹ bệnh sởi thông thường, ᴛᴜʏ ɴʜɪêɴ triệu chứng bệnh lại khá giống nhau, người bệnh thường sốt cao, viêm long đường hô hấp, cơ thể mệt mỏi,… Chỉ ᴄó ᴛʜể phân biệt Rubella ᴠà bệnh sởi thông thường thông qua tình trạng phát ban.

Với bệnh sởi thông thường thì cơ thể sẽ phát ban sau sốt tầm khoảng 2 đến 3 ngày, cáᴄ nốt ban đỏ xuất hiện ở tai, mặt rồi lây lan khắp cơ thể. Tương ᴛự với việc xuất hiện thì khi cáᴄ nốt ban ᴍấᴛ đi sẽ tương ứng với thứ ᴛự xuất hiện, sau khi hết ban trên da sẽ xuất hiện tình trạng thâm tím. Với bệnh Rubella thì cáᴄ nốt phát ban xuất hiện hay hết đi không theo ᴍộᴛ quy luật nào ᴄả, khi hết ban da ᴄũɴɢ không ʙị thâm tím. ᴛᴜʏ ɴʜɪêɴ, ᴍộᴛ số cha mẹ vẫn nhầm lẫn cáᴄh phân biệt rubella ᴠà sốt phát ban kháᴄ nhau như thế nào. Hai bệnh ʀấᴛ giống nhau về triệu chứng, do đó cha mẹ cần đưa con trẻ đến trung tâm y tế để xáᴄ định đúng phương án chữa bệnh.

Thường xuyên cho trẻ đi thăm khám bệnh để phòng sởi rubella (nguồn:cdn02.static)

Virus Rubella là nguyên nhân chính khiến nhiều người ʙị ɴʜɪễᴍ bệnh. Loại virus ɴàʏ ᴄó ᴛʜể lây qua nhiều con đường kháᴄ nhau.

Virus Rubella ᴄó ᴛʜể truyền từ người sang người thông qua đường hô hấp, sự tiếp xúc với cáᴄ loại dịch tiết từ mũi ᴠà cổ họng. Virus Rubella có khả năng lây ɴʜɪễᴍ cao ᴠà lây lan từ người qua người ʀấᴛ nhanh. ᴍộᴛ người ɴʜɪễᴍ Rubella ᴄó ᴛʜể truyền cho những người kháᴄ trước khi xuất hiện phát ban cho đến tận khi hết phát ban. Phụ nữ mang thai ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella ᴄó ᴛʜể truyền virus cho con thông qua đường máu.

Virus Rubella có khả năng lây ɴʜɪễᴍ cao, bất kỳ ai ᴄũɴɢ ᴄó ᴛʜể ɴʜɪễᴍ bệnh. ᴛᴜʏ ɴʜɪêɴ, trẻ nhỏ ᴠà người lớn mắc Rubella có khả năng phục hồi nhanh, mức độ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ không ɴɢʜɪêᴍ ᴛʀọɴɢ ᴠà ít ҳảʏ ʀᴀ biến chứng ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ. Bệnh Rubella ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ nhất đối với phụ nữ mang thai ở giai đoạn đầu. Phụ nữ mang thai trong thời kỳ đầu ʙị ɴʜɪễᴍ virus Rubella ʀấᴛ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, nguy cơ trẻ sinh ra mắc ʙị dị tật bẩm sinh cao, thậm chí ᴄó ᴛʜể ɢâʏ ra hiện tượng ᴄʜếᴛ lưu thai nhi.

Virus Rubella là nguyên nhân chính ɢâʏ bệnh (Nguồn:moddworks.com )

Bệnh Rubella không ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, cáᴄ triệu chứng bệnh thường xuất hiện từ sau khi phơi ɴʜɪễᴍ khoảng 2 tuần. Người bệnh có biểu hiện tương ᴛự như cúm. ᴍộᴛ số triệu chứng thường gặp khi mắc Rubella như:

Người ɴʜɪễᴍ bệnh thường sốt nhẹ, khoảng 38 đến 39 độ C, kèm với sốt là hiện tượng nhức đầu, cổ họng đau rát, mũi chảy dịch nhầy, cơ thể mệt mỏi ᴠà đau nhức, sau khi chuyển sang giai đoạn phát ban thì người bệnh ɢɪảm sốt.

Bệnh sởi Rubella thường có dấu hiệu nổi hạch ở vùng chẩm, cổ ʜᴏặᴄ bẹn, ấn ᴠào khá đau. Trước khi xuất hiện phát ban sẽ xuất hiện hạch, hạch nổi ᴠài ngày tới khi ban bay hết.

Người ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella sẽ xuất hiện cáᴄ nốt ban đỏ trên khắp cáᴄ vị trí trên cơ thể, ban đỏ mọc khắp toàn thân không theo ᴍộᴛ quy luật nhất định nài. Ban có màu hồng hơi đỏ, hình tròn có kích thước 1-2mm, kèm với ban đỏ là ᴄảm giáᴄ ngứa toàn thân, ban đỏ thường kéo dài khoảng 3 ngày rồi biến ᴍấᴛ.

Ngoài cáᴄ biểu hiện bệnh trên thì khi ʙị ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella ᴍộᴛ số trường hợp người bệnh ᴄó ᴛʜể đau khớp, viêm kết mạc. Nhìn cʜᴜɴɢ thì dấu hiệu bệnh của Rubella không phức tạp, mức độ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ thấp.

Uống thêm cam để tăng cường vitamin C, tăng cường đề kháng cho cơ thể bé (Nguồn: d1nlc4de7zyh4i.cloudfront.net)

Về bản chất thì Rubella không phải là căn bệnh quá ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, bệnh có khả năng điều trị nhanh ᴠà phục hồi tốt. ᴛᴜʏ ɴʜɪêɴ, ᴍộᴛ số trường hợp ɴếᴜ không kịp thời điều trị thì sẽ vô ᴄùɴɢ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, dẫn đến nhiều biến chứng ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, đe dọa đến tính mạng.

Trẻ nhỏ, trẻ sơ sinh khi ʙị ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella thường có những triệu chứng ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ như viêm phổi ᴄấᴘ do sức đề kháng ᴠà hệ miễn dịch của bé ʀấᴛ yếu, dễ mắc cáᴄ bệnh như viêm phổi, viêm tai giữa, viêm giáᴄ mạc, viêm màng não… Trẻ nhỏ ɴʜɪễᴍ bệnh ɴếᴜ không được chăm sóc ᴠà điều trị kịp thời ᴄó ᴛʜể ɢâʏ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, đặc biệt là ở trẻ nhỏ sơ sinh, hệ miễn dịch của trẻ sẽ ʙị suy ɢɪảm ɴɢʜɪêᴍ ᴛʀọɴɢ, dễ mắc phải cáᴄ bệnh mãn tính kháᴄ. Trẻ nhỏ ɴếᴜ không tiêm phòng vắc xin phòng Rubella sẽ không có khả năng miễn dịch, tỷ lệ ɴʜɪễᴍ bệnh là 100%. Rubella có khả năng lây lan cực nhanh, dễ bùng phát thành dịch, trẻ mắc bệnh ɴếᴜ không điều trị kịp thời ᴄó ᴛʜể ᴛử ᴠoɴɢ.

Khả năng lây ɴʜɪễᴍ của virus bệnh sởi Rubella là cực kỳ nhanh chóng, nó có khả năng lây lan qua nhiều con đường, ɴếᴜ không biết cáᴄh phòng bệnh ᴠà ngăn chặn bệnh lây lan thì ʀấᴛ dễ khiến bệnh lây lan thành dịch, phát triển khó kiểm soát, ᴄó ᴛʜể ᴛử ᴠoɴɢ. ʀấᴛ nhiều người ᴄʜưᴀ ý thức được việc phòng tránh bệnh khiến bệnh lây lan ᴠà phát triển nhanh, việc không khống chế bệnh vừa làm bệnh phát triển thành dịch,vừa tạo điều kiện để virus biến đổi, trở nên kháng ᴛʜᴜốᴄ ᴠà ɢâʏ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ cho sức khỏe ᴄũɴɢ như tính mạng.

Rubella về bản chất là bệnh nhẹ, ɴếᴜ điều trị kịp thời sẽ khỏi bệnh nhanh mà không để lại biến chứng. ᴛᴜʏ ɴʜɪêɴ với phụ nữ đang mang thai ɴʜɪễᴍ bệnh lại vô ᴄùɴɢ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, dễ ɢâʏ ra nhiều biến chứng ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ đặc biệt trong giai đoạn đầu của thai kỳ như lây ɴʜɪễᴍ sang cho thai nhi, sảy thai, thai ᴄʜếᴛ lưu ʜᴏặᴄ khiến trẻ sinh ra ʙị khiếm khuyết, mắc dị tật bẩm sinh như chứng đầu nhỏ, chậm phát triển, điếc, mù lòa, bệnh tim bẩm sinh… Ngoài ra, những bà mẹ ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella khi sinh ra ᴄòɴ ᴄó ᴛʜể mắc cáᴄ bệnh như ᴠàng da, đái tháo đường, xương thủy tinh, xuất huyết,… Hội chứng Rubella bẩm sinh ở trẻ sơ sinh chiếm tỉ lệ ʀấᴛ cao, trẻ được sinh ʙởɪ những bà mẹ ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella ở giai đoạn đầu của thai kỳ (có khả năng ɴʜɪễᴍ bệnh ʀấᴛ cao. Do đó, khi quyết định mang thai cáᴄ bà mẹ nên thăm khám kiểm tra sức khỏe toàn diện, xáᴄ định có khả năng miễn dịch với Rubella.

Rubella vốn dĩ không phải là căn bệnh quá ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ, cáᴄ biến chứng của bệnh ᴄũɴɢ không quá phức tạp. Tiếp nhận cáᴄ phương pháp điều trị thích hợp, chăm sóc bệnh nhân đúng cáᴄh sẽ giúp bệnh phục hồi ʀấᴛ hiệu quả.

Rubella là căn bệnh khá phổ biến, mức độ ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ không nghiêm trong nên tỷ lệ điều trị thành công là ʀấᴛ cao. Thời ɢɪᴀɴ hết bệnh thường khoảng 1 đến 2 tuần, tùy thuộc ᴠào mức độ bệnh, đối tượng bệnh, phương pháp điều trị, thể trạng,… mà thời ɢɪᴀɴ điều trị sẽ chênh lệch ít nhiều. Vì là căn bệnh có tính ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ thấp nên chỉ cần kịp thời thăm khám ᴠà tiếp nhận điều trị thì tỷ lệ hồi phục là ʀấᴛ cao. Chỉ ᴍộᴛ ᴠài trường hợp để bệnh quá nặng, đối tượng là trẻ sơ sinh ᴠà bà bầu thì bệnh có diễn biến phức tạp, dễ ҳảʏ ʀᴀ biến chứng ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ.

Khi phát hiện bản thân có xuất hiện cáᴄ dấu hiệu của thì cần nhanh chóng đến cáᴄ cơ sở y tế để thăm khám ᴠà tiếp nhận điều trị. Cáᴄ biểu hiện của bệnh Rubella khá đơn ɢɪản nên ʀấᴛ ít người nhận biết bệnh ở giai đoạn ʙắᴛ đầu phát sốt, thường thì chỉ phát hiện bệnh khi cơ thể xuất hiện ban đỏ. Do đó, khi có ᴄảm nhận cơ thể bất thường thì cần khám chuyên khoa uy tín để kiểm tra, phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời sẽ giúp bệnh nhanh khỏi, tránh lây ɴʜɪễᴍ cho mọi người.

Hiện nay, quá trình phát triển ᴠà ᴛự miễn dịch bệnh Rubella vẫn ᴄʜưᴀ có cáᴄh để rút ngắn thời ɢɪᴀɴ điều trị. ᴍộᴛ khi đã ɴʜɪễᴍ bệnh Rubella, cơ thể sẽ ᴛự đề kháng ᴠà miễn dịch với bệnh vĩnh viễn. Trường hợp trẻ nhỏ mắc bệnh ᴄảm thấy khó chịu thì nên cho trẻ dùng ᴛʜᴜốᴄ hạ sốt ʜᴏặᴄ ᴛʜᴜốᴄ ɢɪảm đau thông thường để ɢɪảm bớt tình trạng mệt mỏi. Bạn ᴄũɴɢ ᴄó ᴛʜể nhận lời khuyên ᴠà tư vấn của báᴄ sĩ để mua ᴛʜᴜốᴄ điều trị cho bé. Bạn nên tăng cường sức đề kháng bằng 26 loại thực phẩm giàu vitamin C. ɴếᴜ mắc bệnh khi đang mang thai, báᴄ sĩ ᴄó ᴛʜể chỉ định bệnh nhân sử dụng kháng nguyên Rubella để giúp cơ thể ᴛự đề kháng virus ɴʜưɴɢ vấn đề thai nhi có nguy cơ ʙị tật bẩm sinh là không thể tránh khỏi.

Khi mang thai mẹ bầu cần bổ sung đầy đủ dinh dưỡng (Nguồn: amazonaws.com)

thay vì để bản thân ɴʜɪễᴍ bệnh thì mọi người nên tìm cáᴄh để phòng tránh bệnh, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực ᴄó ᴛʜể ҳảʏ ʀᴀ khi ɴʜɪễᴍ bệnh.

Bệnh Rubella hiện ᴄʜưᴀ có ᴛʜᴜốᴄ điều trị đặc hiệu, do đó tiêm vắc xin phòng bệnh là biện pháp tốt nhất để ngăn ngừa virus ɢâʏ bệnh ᴛấɴ ᴄôɴɢ. Mọi người ᴄó ᴛʜể đến cáᴄ trung tâm y tế dự phòng, cáᴄ cơ sở y tế uy tín như bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec,… để được tư vấn ᴠà tiêm phòng vắc xin phòng bệnh, bệnh Rubella không chừa ᴍộᴛ ai nên bất cứ ai ᴄũɴɢ cần được tiêm phòng.

Trong tất ᴄả cáᴄ đối tượng thì phụ nữ mang thai dễ ʙị virus bệnh sởi Rubella ᴛấɴ ᴄôɴɢ ᴠà ɢâʏ ra nhiều biến chứng ɴɢᴜʏ ʜɪểᴍ nhất. Để hạn chế những ᴍấᴛ máᴄ không nên có do ɴʜɪễᴍ bệnh khi mang thai thì phụ nữ trước khi quyết định mang thai cần đi kiểm tra sức khỏe, kiểm tra xem cơ thể đã có khả năng kháng virus Rubella ᴄʜưᴀ, ɴếᴜ cơ thể khỏe mạnh, có khả năng kháng bệnh thì ᴄó ᴛʜể yên tâm mang thai.

Rubella có khả năng lây lan nhanh, khả năng lây ɴʜɪễᴍ của bệnh là vô ᴄùɴɢ nhanh ᴠà rộng khắp do đó để phòng bệnh mọi người cần tránh đến những nơi công cộng, nơi có nguy cơ ɢâʏ bệnh. Cần hạn chế tiếp xúc với người bệnh, xây dựng ᴍộᴛ lối sống lành mạnh, ăn uống khoa học để nâng cao sức khỏe, chống lại mọi bệnh tật.

【#5】Rubella (Bệnh Sởi Đức) Là Bệnh Gì?

Tác giả: Giang Lê, Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh.

Rubella (bệnh sởi Đức) là bệnh gì?

Rubella, còn được gọi là bệnh sởi Đức hay sởi ba ngày, là một bệnh virus truyền nhiễm và dễ nhận ra qua loại ban (đốm hoặc nhọt) đỏ đặc trưng. Rubella từng là bệnh rất phổ biến ở trẻ em trước khi nhà nước và Bộ Y tế khuyến cáo mọi trẻ em phải được tiêm vắc xin tiêm liên phòng bệnh sởi, quai bị và rubella (MMR).

Rubella không giống như bệnh sởi (Rubeola), mặc dù hai bệnh đều gây phát ban đỏ. Rubella được gây ra bởi một loại virus khác với bệnh sởi, không phải là bệnh dễ lây nhiễm và nghiêm trọng như bệnh sởi.

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Rubella (bệnh sởi Đức) là gì?

Trẻ có thể không có triệu chứng nào khi mắc bệnh Rubella. Thông thường, bệnh phải mất từ 2 đến 3 tuần sau khi phơi nhiễm mới có triệu chứng.

Nếu xuất hiện, các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Phát ban da ở đầu rồi lan dần xuống cơ thể, kéo dài từ 2 đến 3 ngày;
  • Đau đầu, sốt nhẹ;
  • Nghẹt mũi hoặc sổ mũi;
  • Sưng hạch bạch huyết ở cổ hoặc sau tai.

Người lớn và thanh thiếu niên sẽ có thêm các triệu chứng gồm:

  • Ăn không ngon;
  • Viêm kết mạc (nhiễm trùng mi mắt và nhãn cầu);
  • Sưng và đau khớp ở phụ nữ trẻ tuổi.

Các triệu chứng thường biến mất trong vòng vài ngày nhưng cũng có trường hợp phát ban lâu hơn. Có thể có các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Bạn cần đi khám hoặc đưa trẻ đến bệnh viện khi bạn thấy bạn hoặc trẻ bị phát ban hoặc có bất kỳ triệu chứng nào kể trên.

Khi mang thai, bạn sẽ được bác sĩ phụ sản cho xét nghiệm Rubella và tiêm vắc xin khi cần. Tuy vậy, nếu bạn có thai hoặc nghĩ mình đang mang thai và đồng thời phát hiện có triệu chứng của Rubella, bạn phải nhập viện ngay lập tức để bác sĩ theo dõi.

Nguyên nhân gây ra bệnh Rubella (bệnh sởi Đức) là gì?

Virus Rubella là nguyên nhân gây bệnh Rubella. Virus truyền từ người sang người thông qua sự tiếp xúc với dịch tiết từ mũi và cổ họng của người bị nhiễm bệnh. Bệnh này có tính lây nhiễm cao và dễ lây truyền cho người khác. Một người bệnh có thể truyền virus cho những người khác từ 1 tuần trước khi xuất hiện phát ban da cho đến tận 1 tuần sau khi hết phát ban. Phụ nữ mang thai có thể truyền virus cho con thông qua đường máu.

Những ai thường mắc phải bệnh Rubella (bệnh sởi Đức)?

Bất kỳ ai cũng có thể bị Rubella. Bệnh Rubella ở cả trẻ em và người lớn đều khỏi nhanh, không nghiêm trọng và hiếm khi có biến chứng. Mối đe dọa thực sự của bệnh Rubella là khi truyền nhiễm cho phụ nữ mang thai. Nếu mẹ mang thai bị nhiễm virus, nhất là trong vòng 4 tháng đầu thai kì, trẻ sinh ra có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh hoặc thậm chí thai nhi chết lưu.

Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh Rubella (bệnh sởi Đức)?

Bạn sẽ có nguy cơ mắc bệnh Rubella cao nếu bạn:

  • Chưa từng bị Rubella;
  • Chưa tiêm vắc xin liên phòng quai bị, sởi và Rubella;
  • Đi đến quốc gia khác hoặc các nơi đang có dịch Rubella.

Không có các yếu tố nguy cơ bệnh không có nghĩa là bạn không thể mắc bệnh. Những dấu hiệu trên chỉ mang tính tham khảo. Bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa để biết thêm chi tiết.

Điều trị bệnh Rubella (bệnh sởi Đức)

Những thông tin được cung cấp không thể thay thế cho lời khuyên của các chuyên viên y tế. Hãy luôn tham khảo ý kiến bác sĩ.

Những phương pháp nào dùng để điều trị bệnh Rubella (bệnh sởi Đức)?

Hiện nay, quá trình phát bệnh và tự miễn dịch Rubella vẫn chưa có cách rút ngắn. Một khi nhiễm bệnh Rubella, cơ thể bạn và trẻ sẽ tự đề kháng và miễn dịch với bệnh vĩnh viễn. Nếu trẻ cảm thấy khó chịu, bạn có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt hay giảm đau thông thường như paracetamol liều trẻ em. Bạn cũng có thể hỏi dược sĩ tại quầy thuốc để mua kem bôi ngoài da nếu trẻ bị ngứa.

Nếu đang mang thai, bác sĩ có thể chỉ định kháng nguyên Rubella (hyperimmune globulin) để giúp bạn tự đề kháng virus nhưng con bạn vẫn có nguy cơ bị tật bẩm sinh.

Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán đoán bệnh Rubella (bệnh sởi Đức)?

Bệnh Rubella khá khó chẩn đoán vì các triệu chứng của bệnh không rõ ràng. Bác sĩ sẽ chẩn đoán từ bệnh sử và khám lâm sàng các triệu chứng của bạn hoặc trẻ. Nếu bạn đang mang thai có triệu chứng Rubella hoặc từng tiếp xúc với người bệnh Rubella, bác sĩ có thể lấy dịch từ cổ họng, lấy mẫu máu hoặc nước tiểu để xét nghiệm.

Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của bệnh Rubella (bệnh sởi Đức)?

Bạn có thể kiểm soát bệnh của mình nếu bạn lưu ý vài điều sau:

  • Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
  • Tránh cho trẻ gãi khi ngứa vì sẽ để lại sẹo, bạn có thể dùng kem bôi giảm ngứa bán ở tiệm thuốc.
  • Bạn hoặc trẻ bị bệnh nên tránh tiếp xúc với người khác cho đến khi khỏi bệnh, đặc biệt không được ở gần hoặc tiếp xúc người đang mang thai.
  • Không cho trẻ đang mắc bệnh Rubella uống aspirin.

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn phương pháp hỗ trợ điều trị tốt nhất.

Bệnh Rubella chỉ gây nguy hiểm cho thai nhi trong giai đoạn đầu của thai kỳ, do đó tất cả các bà mẹ đều được khuyến cáo tiêm ngừa vắc xin phòng bệnh Rubella nấu chưa có miễn dịch ít nhất hai tháng trước khi dự định mang thai. Đây là cách đơn giản và hiệu quả nhất để tránh những hậu quả đáng tiếc do bé bị nhiễm Rubella bẩm sinh.

Hello Bacsi không đưa ra các lời khuyên, chẩn đoán hay các phương pháp điều trị y khoa.

【#6】Bệnh Sởi Rubella Là Gì?

Rubella là tên xuất phát từ Latin, nghĩa là “nốt đỏ nhỏ”, là một nhiễm trùng chủ yếu ảnh hưởng đến da và hạch bạch huyết. Thoạt tiên, người ta cho đây là một biến thể khác của sởi hay sốt phát ban, nên nó được gọi là “bệnh thứ ba”. Mãi đến năm 1841, lần đầu tiên y văn Đức mô tả nó như một căn bệnh độc lập. Do đó Rubella còn gọi là “German measles”, nhưng tên German không có nghĩa là nước Đức. Nó xuất phát từ gốc Latin “germanus”, có nghĩa là “tương tự – similar”, vì rubella và sởi có nhiều triệu chứng giống nhau.

Nghiên cứu dịch tể học về rubella vào năm 1940 đã được Norman Gregg, một bác sĩ nhãn khoa người Úc, báo cáo vào năm 1941, về sự xuất hiện bệnh đục nhãn mắt bẩm sinh ở 78 trẻ sơ sinh của những bà mẹ bị nhiễm rubella trong thời kỳ đầu mang thai. Đây là báo cáo đầu tiên về hội chứng rubella bẩm sinh (congenital rubella syndrome – CRS).

2. Bệnh này khác gì bệnh sởi?

Sởi thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, thời gian nung bệnh từ 7-10 ngày. Bệnh khởi phát trong 2-3 ngày với các triệu chứng: sốt đột ngột từ 38oC trở lên, mắt ướt, kèm nhèm, ho, chảy nước mũi, tiêu chảy… Khi bệnh toàn phát thì sốt cao 38,5 – 39oC, li bì, mệt mỏi, các ban sởi dày, mịn, xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, cổ xuống thân mình, tứ chi trong 1-2 ngày. Bệnh sẽ lui khi hết sốt, ban bay dần theo trình tự mọc và để lại vết thâm trên da.

Bệnh sởi hay để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc lui bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản… có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi; viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi (nếu nặng bị cam tẩu mã); tiêu chảy có thể gây mất nước dẫn đến tử vong; suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc; lao và các bệnh nhiễm trùng khác.

Rubella thường phát triển mạnh vào dịp đông xuân. Bệnh xuất hiện từ nhiều năm nay ở Việt Nam, tuy nhiên lâu nay ít được chú ý vì có các triệu chứng và thời điểm bùng phát giống với sởi, và thường được thống kê chung vào bệnh này.

Bệnh rubella có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh từ 12-23 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng… gần như không thấy. Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới thấy rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau.

Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật và có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần.

Hầu hết các ca nhiễm rubella hiện nay xảy ra ở người lớn trẻ chưa có miễn dịch hơn là ở trẻ em. Trên thực tế, các chuyên gia ước tính hiện có 10% số người lớn trẻ tuổi mẫn cảm với rubella, gây nguy hiểm cho đứa con mà họ có thể có vào một ngày nào đó.

3. Bệnh rubella lây truyền như thế nào?

Bệnh gây bởi virus rubella (không phải là virus sởi), được phân lập lần đầu tiên vào năm 1962. Nó cũng là một bệnh truyền nhiễm nhưng mức độ không nhiều hơn so với bệnh sởi hay bệnh thuỷ đậu.

Người nhiễm rubella dễ lây bệnh cho người khác trong thời điểm từ 1 tuần trước đến 1 tuần sau khi phát ban. Người nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng vẫn có thể lây truyền bệnh.

Trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh có thể gieo rắc virus qua nước tiểu hoặc dịch tiết mũi họng trong một năm hoặc hơn và có thể lây virus sang người chưa có miễn dịch. thường lây qua không khí từ dịch tiết mũi họng.

Virus cũng có thể đi qua máu của người mẹ nhiễm vào thai nhi, gây nhiễm trùng bào thai. Vì nói chung đây là một bệnh nhẹ ở trẻ em, nên mối nguy hiểm chính của rubella là ở phụ nữ có thai, có thể gây hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ.

4. Khi phát bệnh, dấu hiệu và triệu chứng của bệnh rubella như thế nào?

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 12 – 23 ngày. Nhiễm rubella có thể bắt đầu bằng 1 – 2 ngày sốt nhẹ (37,2 – 37,8°C) và sưng đau hạch, thường ở mé sau cổ hoặc cạnh tai. Vào ngày thứ hai hoặc thứ ba, phát ban bắt đầu trên mặt và lan xuống dưới. Khi phát ban lan xuống người, thì ở mặt thường hết. Phát ban thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh mà cha mẹ nhận thấy.

Phát ban rubella trông giống như nhiều loại phát ban do virus khác. Ban biểu hiện thành những chấm hồng hoặc đỏ nhạt, có thể liên kết với nhau tạo thành những mảng phẳng đổi màu. Ban có thể ngứa và kéo dài tới 3 ngày. Khi ban lặn, da đôi khi bị bong vảy như tuyết.

Ở trẻ vị thành niên và người lớn, sau 1 – 5 ngày các triệu chứng của rubella thường hay gặp hơn, sẽ là: sốt nhẹ, đau đầu khó chịu, chán ăn; viêm kết mạc nhẹ (viêm lớp màng lót mí mắt và nhãn cầu); hắt hơi hoặc chảy nước mũi, sưng hạch ở các vùng khác của cơ thể, đau và sưng khớp (nhất là ở phụ nữ trẻ). Nhiều người bị rubella có rất ít hoặc hoàn toàn không có triệu chứng.

5. Bệnh rubella có nguy hiểm không?

Bệnh này đối với trẻ con thường là lành tính. Những biến chứng của bệnh này không phổ biến, thường ít xuất hiện ở trẻ con mà chủ yếu ở người lớn.

Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng ở các khớp như ngón tay, cổ tay hay đầu gối, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai.

Phụ nữ mắc bệnh Rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài…

Những trẻ mắc Rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt… Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

Những biến chứng khác có thể là: tổn thương thai nhi (nhiều khuyết tật) với 9/10 trường hợp có thai (trong 8 – 10 tuần đầu). Tổn thương thai nhi 1/5 đến 1/10 (từ 10-16 tuần). Sau 16 tuần, tổn thương thai nhi hiếm gặp. Các rối loạn máu 1/3.000. Viêm não 1/5.000

6. Cách phòng ngừa và điều trị như thế nào?

Rubella hiện chưa có thuốc điều trị. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể.

Ngoài ra, cách phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Rubella là tiêm vắc-xin loại kết hợp phòng cả 3 bệnh rubella, sởi và quai bị. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn.

Vaccin sởi-quai bị-rubella (MMR) thường được tiêm cho trẻ 12 – 15 tháng tuổi. Liều MMR thứ hai được tiêm khi trẻ lên 4 – 6 tuổi, nhưng không nên quá 11-12 tuổi.

Những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh, nhờ đó ngăn chặn những ca khuyết tật bẩm sinh do hội chứng rubella bẩm sinh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó. Tuy nhiên, không nên tiêm vaccin rubella cho phụ nữ có thai hoặc phụ nữ có thể sẽ có thai trong vòng một tháng sau khi tiêm. Nếu bạn đang dự định có thai, hãy đảm bảo là bạn có miễn dịch với rubella thông qua xét nghiệm máu hoặc tiêm chủng. Nếu không, bạn nên tiêm vaccin ít nhất 1 tháng trước khi mang thai. Phụ nữ có thai chưa có miễn dịch nên tránh tiếp xúc với người bị bệnh và nên tiêm vaccin sau đẻ để có miễn dịch cho lần mang thai sau.

Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.

7. Làm cách nào để biết trẻ bị mắc bệnh rubella?

Bởi vì những nốt ban của rubella trong tương tự các loại bệnh khác, cách chắc chắn duy nhất để xác định rubella là thực hiện các xét nghiệm.

8. Khi nào cần đưa trẻ đi khám?

Rubella thường là bệnh nhẹ, nhất là ở trẻ em và ít cần sự chăm sóc đặt biệt tại nhà. Theo dõi nhiệt độ của trẻ, và đưa trẻ đi khám bác sĩ nếu sốt quá cao. Để làm giảm khó chịu, bạn có thể cho trẻ acetaminophen hoặc ibuprofen. Tránh dùng aspirin cho trẻ bị bệnh do virus vì sử dụng aspirin ở những trường hợp này có thể gây ra hội chứng Reye, dẫn đến suy gan và tử vong.

9. Bệnh có khả năng tái phát lần thứ hai?

Đưa trẻ đi khám nếu trẻ bị sốt 38,9ºC trở lên (trẻ dưới 6 tháng cần đi khám nếu nhiệt độ từ 38°C trở lên), hoặc nếu trẻ có vẻ bị ốm nặng hơn những triệu chứng nhẹ được mô tả ở trên.

Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua đường hô hấp.

【#7】Bệnh Rubella Khác Gì Bệnh Sởi?

Bệnh Rubella (hay gọi là sởi Đức) và bệnh sởi có một số triệu chứng khá giống nhau nên nhiều người bệnh gặp khó khăn khi phân biệt, tuy vậy nhưng 2 bệnh này do nguyên nhân khác nhau gây ra, có đặc điểm triệu chứng và tiên lượng bệnh không giống nhau.

1. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh truyền nhiễm do virus sởi, thuộc họ paramyxovirus, thường có khả năng lây lan rất nhanh qua đường hô hấp và khả năng lây lan mạnh khi tiếp xúc với người bệnh. Hiện nay khả năng mắc bệnh và thành dịch cao.

Bệnh hay xảy ra ở trẻ trên 1 tuổi, tuy nhiên một số đợt dịch gần đây trẻ dưới 1 tuổi vẫn có nguy cơ bị sởi để lại nhiều biến chứng nguy hiểm.

Là bệnh truyền nhiễm do virus rubella thuộc họ togavirus gây ra, lây qua đường hô hấp khi người lành tiếp xúc với hạt nước bọt của người mang bệnh hay lây từ mẹ sang con qua nhau thai, từ khi có vắc-xin phòng bệnh thì bệnh Rubella hiện nay ít gặp.

Bệnh hay xảy ra vào mùa đông xuân có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng cũng ít gặp ở trẻ sơ sinh trừ trường hợp trẻ mắc hội chứng rubella bẩm sinh.

2. Triệu chứng lâm sàng

Bệnh Sởi:

  • Thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 10 đến 12 ngày. Trong giai đoạn này trẻ không biểu hiện triệu chứng gì của bệnh, nhưng vẫn có nguy cơ lây lan bệnh cho người lành. Chính vì vậy phòng ngừa bệnh sởi bằng cách tránh tiếp xúc rất khó.
  • Khởi phát: Đặc trưng bởi sốt đột ngột mức độ nhẹ đến vừa, kèm theo ho khan, chảy mũi nước, viêm kết mạc mắt, tiêu chảy… Những triệu chứng này hầu như luôn xảy ra, sau khi xuất hiện các triệu chứng trên thấy bắt đầu có nội ban là các hạt Koplik, là các hạt nhỏ màu trắng ngà, xung quanh có viền đỏ mọc ở vòm họng, niêm mạc má, đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh.
  • Toàn phát: Sốt cao khoảng 39 độ, phát ban dát sẩn màu hồng theo thứ tự bắt đầu ở sau tai, sau gáy, trán, mặt, cổ rồi dần dần xuất hiện khắp người, ban có đặc điểm khi căng da thì mất, kèm theo ngứa, khó chịu.
  • Phục hồi: Ban nhạt màu và lặn dần theo thứ tự mọc, các triệu chứng lâm sàng giảm dần.

Bệnh Rubella:

  • Thời kỳ ủ bệnh khoảng 12 – 23 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, giai đoạn này cũng không có triệu chứng giống như bệnh Sởi
  • Khởi phát: Khác với Sởi, ở giai đoạn này có thể thấy các triệu chứng như sốt nhẹ, ho, chảy nước mũi, viêm kết mạc, tiêu chảy… tuy nhiên các triệu chứng này ít khi xuất hiện.
  • Toàn phát: Sốt nhẹ khoảng 38 độ C, nhức đầu, mệt mỏi, đau họng, chảy mũi trong, đôi khi đỏ mắt, thường xuất hiện 1- 4 ngày. Nổi hạch, phát ban ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường mọc không theo quy luật, không tuần tự như sởi.
  • Thời kỳ lui bệnh thường hết sốt, ban bay không theo quy luật và không để lại dấu vết trên da.

3. Biến chứng

Bệnh Sởi: Nguy hiểm do có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề làm kéo dài thời gian bệnh, còn có nguy cơ dẫn tới tử vong, nhất là với trẻ em và những người suy giảm miễn dịch. Những biến chứng do Sởi gây ra bao gồm:

  • Những biến chứng do virus Sởi gây ra: Viêm phổi kẽ, viêm thanh quản, viêm cơ tim, viêm não, màng não.
  • Do bội nhiễm vi khuẩn: Sởi gây ra suy giảm chức năng miễn dịch tạo điều kiện cho vi khuẩn gây ra một số bệnh như viêm tai, viêm phổi, lao tiến triển, viêm dạ dày ruột
  • Tiêu chảy hay gặp ở trẻ suy dinh dưỡng hay do bệnh làm cơ thể suy kiệt.
  • Viêm loét giác mạc: Là biến chứng nguy hiểm, gây ảnh hưởng tới thị lực.
  • Phụ nữ mang thai có thể gây sảy thai, thai chết lưu…

Bệnh Rubella: Là bệnh lành tính, tỷ lệ biến chứng rất thấp, nhưng nếu phụ nữ mang thai mắc bệnh lại rất nguy hiểm. Các biến chứng bao gồm:

  • Viêm khớp, viêm não, viêm tai hiếm gặp.
  • Phụ nữ có thai trong suốt thai kỳ, đặc biệt trong 3 tháng đầu: Nguy cơ sảy thai, thai chết lưu, sinh non, trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh (Điếc, mù lòa, chậm phát triển…), mắc hội chứng rubella bẩm sinh (bệnh rubella kèm theo nhiều dị tật bẩm sinh) cao.

4. Phòng bệnh rubella và sởi như thế nào?

  • Các biện pháp phòng bệnh không đặc hiệu: Vệ sinh cá nhân sạch sẽ, đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ, tránh tiếp xúc với người mắc bệnh hay nghi ngờ nhiễm bệnh, đảm bảo thông thoáng cho nhà ở, phòng học, nơi làm việc…
  • Phòng bệnh đặc hiệu: Hiện tại Sởi và Rubella đã có vắc-xin phòng bệnh, chủ động tiêm phòng vắc-xin nhằm tạo hệ miễn dịch chủ động làm giảm khả năng mắc bệnh và hạn chế nguy cơ biến chứng.
  • Đối với Sởi: Cho trẻ tới cơ sở y tế tiêm phòng vắc-xin mũi 1 từ trên 9 tháng tuổi (có trong chương trình tiêm chủng mở rộng), sau 12 tháng tuổi tiêm phòng vắc-xin loại kết hợp phòng 3 bệnh là sởi, quai bị, rubella.
  • Rubella: Được khuyến cáo tiêm cho trẻ từ 12 tháng tuổi, người lớn, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ hay có ý định mang thai nên tiêm phòng trước khi mang thai ít nhất 1 tháng.

Bệnh sởi có nguy cơ biến chứng cao, là bệnh nguy hiểm có thể gây tử vong nhất là đối tượng trẻ em, còn rubella lại rất nguy hiểm khi phụ nữ mang thai mắc bệnh nên việc tiêm phòng vắc-xin Sởi và rubella để phòng bệnh là rất quan trọng. Khi khách hàng có nhu cầu tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh rubella, Sởi có thể đến tiêm tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec.

Những ưu điểm khi tiêm phòng tại Vinmec:

  • Tại Vinmec luôn sử dụng nguồn vắc xin chất lượng cao, có xuất xứ rõ ràng, phù hợp theo độ tuổi cần tiêm chủng, đảm bảo an toàn từ khâu kiểm nhập, bảo quản đến khi sử dụng.
  • Trước khi tiêm phòng, tất cả khách hàng được khám sàng lọc trước tiêm với các bác sĩ chuyên khoa để đảm bảo sức khỏe tốt nhất khi tiêm chủng. Bác sĩ tư vấn cho gia đình cách theo dõi và cách xử lý những phản ứng sau tiêm vắc-xin.
  • Đội ngũ nhân viên y tế tại Vinmec giàu kinh nghiệm, chuyên nghiệp tạo tâm lý yên tâm, thoải mái và khi tiêm áp dụng các biện pháp giảm đau hiệu quả.
  • Sau khi tiêm xong khách hàng được theo dõi tại phòng sau tiêm chủng. Tại phòng theo dõi sau tiêm chủng trang bị đầy đủ các phương tiện cần thiết cho việc cấp cứu; đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng được đào tạo về xử trí cấp cứu sốc phản vệ nhằm đảm bảo xử lý kịp thời, đúng phác đồ khi có sự cố xảy ra.
  • Trước khi ra về 100% khách hàng sau tiêm chủng được theo dõi và đánh giá lại sức khỏe.
  • Phòng tiêm chủng thoáng mát, sạch sẽ, có khu vui chơi, giúp trẻ có cảm giác thoải mái như đang đi chơi, tạo tâm lý tốt trước và sau khi tiêm chủng.

Tiêm vắc-xin luôn là phương pháp phòng bệnh hiệu quả nhất, trẻ được tiêm phòng khả năng mắc bệnh rất thấp và nếu có mắc bệnh thì các triệu chứng cũng nhẹ hơn và khả năng biến chứng thấp. Chính vì vậy nên chủ động cho trẻ tiêm phòng vắc-xin khi đủ tuổi.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Bài viết tham khảo nguồn: Viện Pasteur Hồ Chí Minh XEM THÊM:

【#8】Tìm Hiểu Về Căn Bệnh Rubella Và Xét Nghiệm Rubella Là Gì?

1. Tìm hiểu về bệnh rubella

1.1. Bệnh rubella là gì?

Hiện nay, rubella là một căn bệnh không quá xa lạ. Có thể hiểu đơn giản, đây là bệnh nhiễm trùng ảnh hưởng chủ yếu đến da và các hạch bạch huyết. Căn bệnh này bị gây ra bởi virus có tên rubella. Phần lớn trường hợp bệnh rubella chỉ gây tình trạng sốt nhẹ và phát ban. Sau vài ngày, người bệnh sẽ tự khỏi. Đây được coi là căn bệnh lành tính và không nguy cấp. Tuy nhiên, rubella lại có thể gây dị tật bẩm sinh ở thai nhi, vì vậy chúng ta không nên coi thường căn bệnh này.

Virus gây bệnh rubella

Người mẹ mắc rubella có thể truyền bệnh sang thai nhi qua đường máu. Nếu bệnh truyền từ mẹ sang con sẽ làm ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi. Đứa trẻ trong bụng mẹ có nguy cơ bị chết hoặc mắc rubella bẩm sinh. Vì vậy, mọi người nên tìm hiểu xét nghiệm rubella là gì để chuẩn bị tốt nhất cho thai nhi.

1.2. Những triệu chứng thường gặp khi mắc rubella

Giai đoạn tiếp theo của rubella là giai đoạn toàn phát. Nó sẽ kéo dài từ 1 – 3 ngày và có triệu chứng phát ban. Ngoài ra, người nhiễm bệnh còn xuất hiện tình trạng sốt nhẹ, sưng hạch,… Thời điểm này, virus ở trong máu và dịch hầu họng biến mất, thay vào đó kháng thể IgM và IgG xuất hiện.

Một số triệu chứng của bệnh rubella

Kết thúc giai đoạn toàn phát, người bệnh bắt đầu bước vào thời kỳ hồi phục. Cơ thể người bệnh lúc này sản sinh ra nhiều kháng thể có lợi để giúp cơ thể khỏi bệnh. Loại kháng thể này còn giúp cho cơ thể con người chống tái nhiễm virus rubella. Vì vậy, chúng ta nên tìm hiểu kỹ về các thông số khi xét nghiệm rubella là gì. Nó giúp chúng ta biết mình nhiễm bệnh hay không.

Ngoài ra, một số triệu chứng người bệnh sẽ gặp là nghẹt mũi, đau đầu, viêm mắt, đau khớp,… Đặc biệt, khi nhiễm rubella tình trạng của người lớn sẽ nghiêm trọng hơn so với trẻ em.

2. Ảnh hưởng của rubella đến người bệnh như thế nào?

2.1. Đối với người bình thường và trẻ em

Rubella được coi là căn bệnh khá lành tính, đặc biệt là với trẻ em. Có rất ít trường hợp gặp biến chứng khi mắc bệnh và thường gặp ở người trưởng thành. Một số ảnh hưởng mà rubella gây ra đó là đau và sưng khớp. Người bệnh sẽ cảm thấy bị đau và sưng ở ngón tay, đầu gối hoặc cổ tay.

2.2. Đối với phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai mắc bệnh rubella được coi là nguy hiểm. Bởi lẽ, bệnh này có thể lây từ mẹ sang con. Nếu thai nhi bị nhiễm rubella có nguy cơ dị tật bẩm sinh rất cao. Một số biến chứng có thể gặp là bệnh tim bẩm sinh, đục thủy tinh thể, điếc, chậm phát triển tâm thần. Vì vậy, phụ nữ đang mang thai nên tìm hiểu kĩ xét nghiệm rubella là gì để thai nhi được phát triển tốt.

Bệnh rubella ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi

3. Tìm hiểu xét nghiệm rubella là gì?

3.1. Đối tượng nên xét nghiệm rubella

Người đặc biệt nên xét nghiệm rubella phụ nữ đang mang thai. Nếu thai phụ mắc rubella trong khi mang thai thì em bé ra đời có nguy cơ mắc hội chứng dị tật bẩm sinh. Một số biến chứng bệnh gây ra là đục thủy tinh thể, tim bẩm sinh,… Vì vậy, người mẹ nên xét nghiệm rubella để có phương án điều trị tốt nhất.

Bên cạnh đó, các chị em phụ nữ đang dự định có em bé cũng tìm hiểu xét nghiệm rubella là gì. Nếu kết quả chỉ ra rằng cơ thể người phụ nữ không có những kháng thể bảo vệ thì bạn nên xin lời khuyên của bác sĩ. Thường thì, những phụ nữ gặp tình trạng này nên đi tiêm phòng bệnh trước khi mang thai ít nhất 3 tháng.

Ngoài các đối tượng kể trên, những ai cảm thấy mình có triệu chứng của bệnh rubella đều có thể đi xét nghiệm. Nếu phát hiện bệnh sớm thì người bệnh sẽ được chăm sóc để mau lành bệnh nhất.

3.2. Quá trình xét nghiệm rubella

Nhiều người thắc mắc: “Phương pháp để xét nghiệm rubella là gì?”. Các bác sĩ thường sử dụng phương pháp xét nghiệm máu để tìm kháng thể sinh ra bởi hệ miễn dịch để chống virus rubella. Quy trình thực hiện xét nghiệm rubella thường diễn ra theo trình tự như sau.

Rất nhiều người thắc mắc: “Phương pháp xét nghiệm rubella là gì?”

Như thường lệ, bác sĩ sẽ lấy máu từ tĩnh mạch ở cánh tay của người bị nghi ngờ nhiễm rubella để phân tích. Ở đó, người ta phân tích các loại kháng thể trong máu để tìm hiểu về khả năng miễn dịch của người đó. Đối với bệnh nhân xét nghiệm rubella, bác sĩ quan tâm phân tích kháng thể IgM và IgG.

IgM hay còn gọi là ImmunoglobulinM – một kháng thể xuất hiện khi người bệnh lần đầu tiên tiếp xúc với một kháng nguyên. Nó tồn tại trong cơ thể trẻ em khoảng 1 năm và trong cơ thể người lớn từ 7 – 10 ngày.

IgG còn được biết đến với tên gọi ImmunglobulinG, đây là loại kháng thể luôn luôn tồn tại trong máu. Người ta thường xét nghiệm IgG cho những người muốn biết chắc chắn mình không bị rubella như phụ nữ muốn có thai, nhân viên y tế.

3.3. Đọc kết quả xét nghiệm rubella

Nếu có kết quả âm tính với IgM, tức là bạn không hề nhiễm bệnh. Tuy nhiên, thực tế cũng có một số ít trường hợp dễ bị nhiễm bệnh song không thể tạo ra đủ kháng thể. Vì vậy, việc bạn không mắc bệnh không thể kết luận chính xác.

Nếu có kết quả dương tính với IgM, chứng tỏ bạn mới bị nhiễm bệnh. Như đã giải thích ở trên, nếu người bệnh gặp kháng nguyên, kháng thể IgM sẽ xuất hiện đầu tiên. Tuy nhiên, xét nghiệm IgM chỉ là điều kiện cần để bạn biết mình có nhiễm rubella không. Vì ngoài virus rubella ra, rất nhiều loại virus có thể xâm nhập vào cơ thể người, khiến kháng thể IgM xuất hiện.

Xét nghiệm IgG

Để biết xét nghiệm rubella là gì thì người bệnh cần thực hiện xét nghiệm IgG. Nếu kết quả đưa ra là âm tính, hoặc nhỏ hơn bằng 0.7, chứng tỏ người này có rất ít kháng thể để miễn dịch với mầm bệnh. Kết quả từ 0.8 đến 0.9 tức là bạn mới phòng chống bằng cách tiêm vaccine và chưa thể đưa ra kết luận chính xác. Để biết kết chính xác bạn nên thực hiện xét nghiệm thêm một lần nữa. Với trường hợp kết quả xét nghiệm dương tính từ 1 trở lên tức là người bệnh có kháng thể rubella trong máu. Đồng thời, bạn có khả năng chống lại virus trong tương lai.

4. Gợi ý cơ sở xét nghiệm rubella uy tín

Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC là cơ sở xét nghiệm rubella uy tín

Chắc hẳn, mọi người đã có cái nhìn tổng quát về bệnh rubella và xét nghiệm rubella là gì. Đối tượng đặc biệt nên thực hiện xét nghiệm đó là phụ nữ đang có thai và có dự định mang thai. Đây là cách tốt nhất để thai nhi phát triển tốt, không bị mắc bệnh bẩm sinh.

【#9】Bệnh Rubella Là Gì, Tìm Hiểu Để Phòng Tránh Bệnh

Rubella là một bệnh truyền nhiễm, do vi-rút rubella gây nên. Bệnh lưu hành trên toàn thế giới, thường xuất hiện vào mùa đông xuân, có thể xảy ra thành dịch. Hội chứng rubella bẩm sinh là nguyên nhân quan trọng gây ra các khuyết tật trầm trọng cho trẻ sơ sinh.

Những ai có thể mắc bệnh này?

Tất cả mọi người, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Rubella, trong đó đối tượng dễ gặp nguy hiểm nhất là phụ nữ mang thai, đặc biệt trong 3 tháng đầu. Những người đã bị Rubella lúc còn nhỏ được miễn dịch, không bị nhiễm bệnh lại.

Bệnh Rubella có nguy hiểm không?

Tuy bệnh Rubella là một bệnh lây nhiễm KHÔNG NGUY CẤP (không gây nên biến chứng nguy hiểm, không gây chết người) như bệnh sởi (thuờng gây những biến chứng trầm trọng: viêm phổi, viêm phế quản, viêm não, viêm cơ tim, viêm tai giữa, rối loạn tiêu hóa…) nhưng lại khá NGHIÊM TRỌNG do có khả năng gây nên những dị tật bẩm sinh nặng nề ở bào thai. Một thai phụ mắc bệnh Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ sẽ dễ bị những tai biến như sẩy thai, thai chết trong tử cung hoặc gây nên những dị dạng cho thai nhi sau khi sinh như: các khuyết tật về tim, đục thủy tinh thể, điếc bẩm sinh, chậm phát triển trí tuệ…

Nguyên nhân lây bệnh Rubella?

– Bệnh rubella lây truyền bởi các giọt nước bọt trong không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho. Người bệnh trở thành nguồn lây sau 5 đến 7 ngày kể từ khi vi rút xâm nhập vào cơ thể người mẹ, nếu người bệnh là phụ nữ có thai trong thời gian này có thể truyền vi rút sang thai nhi.

– Người bị nhiễm vi rút có khả năng lây truyền cao nhất trong thời kỳ phát ban. Tuy nhiên vi rút có thể lây truyền trước và sau phát ban 7 ngày.

– Trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh có thể lây truyền vi rút trong khoảng thời gian một năm hoặc hơn.

Điều kiện thuận lợi để bệnh Rubella lan rộng là: Điều kiện sống chật chội, thiếu ánh sáng, thiếu điều kiện vệ sinh (nhà trọ, ký túc xá v.v…). Người bị bệnh Rubella có thể lây truyền bệnh cho người khác một tuần trước khi phát ban và từ 1 đến 2 tuần sau khi ban đã lặn hết.

Những triệu chứng khác của rubella (thường phổ biến ở thanh thiếu niên và người lớn) có thể là:

– Đau đầu

– Ăn mất ngon – Viêm màng kết nhẹ

– Sổ mũi và nghẹt mũi

– Hạch bạch huyết sưng ở nhiều phần khác nhau trên cơ thể

– Đau và sưng khớp (đặc biệt ở thiếu nữ). Tuy nhiên, nhiều người bị rubella lại không có hoặc có ít triệu chứng bệnh.

Khi rubella xảy ra ở phụ nữ mang thai, nó có thể gây ra hội chứng rubella bẩm sinh cực kỳ nguy hiểm đối với bào thai. Trẻ bị nhiễm vi-rút rubella trước khi chào đời dễ bị chậm phát triển cả về thể lực và trí tuệ, bị dị tật ở tim và mắt, bị điếc và gặp nhiều sự cố ở gan, lá lách, tuỷ xương.

Chăm sóc bệnh nhân Rubella như thế nào?

Bệnh Rubella là một bệnh lành tính, không có biến chứng nguy hiểm nên có thể để bệnh nhân tại nhà để chăm sóc. Việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng:

– Cho người bệnh ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây.

– Người bệnh cần được vệ sinh mũi họng (nhỏ mũi và súc họng) hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%.

– Nếu nhức đầu nhiều hoặc đau khớp có thể sử dụng thêm thuốc giảm đau.

– Đối với trẻ nhỏ cần giặt khăn bằng nước ấm lau mình mẩy hàng ngày cho bé.

Làm thế nào để phòng tránh bệnh Rubella?

* Phát hiện bệnh sớm để tránh lây lan cho người khác.

* Cách ly người bệnh:

– Thời gian cách ly: từ lúc bắt đầu phát bệnh (phát ban) cho đến 7 ngày sau khi phát ban (trẻ em nên nghỉ học, người lớn nên nghỉ làm).

– Để người bệnh ở trong một phòng riêng, có cửa sổ, thoáng mát, có đủ ánh nắng mặt trời.

– Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng cho người bệnh (khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa, chăn, gối, màn…).

* Hạn chế tiếp xúc với người bệnh: Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.

* Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi… của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B sau đó rửa lại bằng nước sạch. Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng.

* Tiêm chủng vắc xin: Vắc-xin phòng bệnh Rubella thông dụng hiện nay là loại vắc-xin MMR (Measle, Mumps, Rubella) phòng ngừa cho cả 3 bệnh Sởi, Quai bị, Rubella.

【#10】Bệnh Sốt Dengue, Sốt Xuất Huyết Dengue

(Febris Dengue, Febris Dengue haemorrhagia) ICD-10 A90: Dengue fever, A91: Dengue hemorrhagic fever Bệnh sốt Đăng gơ, sốt xuất huyết Đăng gơ thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

* Ca bệnh lâm sàng sốt đăng gơ (SD): Bệnh nhân có sốt đột ngột, sốt cao trên 38,5 0 C, kéo dài 2 – 7 ngày, đi cùng với các triệu chứng đau đầu, đau hốc mắt, đau cơ, đau khớp, phát ban, có biểu hiện xuất huyết (dấu hiệu dây thắt dương tính); giảm bạch cầu.

* Ca bệnh lâm sàng sốt xuất huyết đăng gơ (SXHD): Bệnh nhân có bệnh cảnh của sốt đăng gơ, có thể thêm một số triệu chứng: ban xuất huyết, đốm xuất huyết, chảy máu (chân răng, mũi, đường tiêu hóa, tại nơi tiêm, kinh nguyệt kéo dài…); giảm tiểu cầu (dưới 100.000 /mm 3); có dấu hiệu thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch, hematocrite tăng trên 20% so với giá trị trung bình tính theo tuổi và giới.

* Hội chứng sốc đăng gơ Bệnh nhân có các triệu chứng của sốt xuất huyết dengue (DHF) cộng với các dấu hiệu của suy tuần hoàn: mạch nhanh và yếu, huyết áp kẹt (chênh lệch dưới 20 mm Hg) hoặc tụt huyết áp so với tuổi, da lạnh và ẩm, tình trạng tâm tinh thần thay đổi.

* Ca bệnh SD/SXHD xác định: có 1 hay nhiều kết quả xét nghiệm sau:

– Kháng thể IgM phát hiện trong giai đoạn cấp tính bằng phản ứng MAC- ELISA dương tính.

– Kháng thể IgG phát hiện qua xét nghiệm huyết thanh kép tăng ít nhất 4 lần, hoặc nếu xét nghiệm huyết thanh đơn thì hiệu giá kháng thể ngăn ngưng kết hồng cầu (HI) ≥ 1280.

– Phân lập được vi rút dengue từ huyết thanh, huyết tương, bạch cầu hoặc mẫu sinh thiết.

1.2 Chẩn đoán phân biệt: Cần phân biệt SD/SXHD với một số bệnh sốt có phát ban và có xuất huyết như sốt chikungunia, sởi, rubella, sốt do rickettsia, bệnh do liên cầu khuẩn… Để loại trừ cần làm xét nghiệm tìm kháng thể IgM, IgG đặc hiệu hoặc phân lập vi rút dengue.

– Loại mẫu bệnh phẩm: Máu, lấy trong giai đoạn sớm (0 – 5 ngày sau khởi phát), hoặc trong giai đoạn muộn (14 – 21 ngày sau khởi phát). Máu có thể lấy vào ống nghiệm hoặc bằng giấy thấm. Ngoài ra, có thể lấy dịch não tủy, mô tử thi hoặc thu thập mẫu muỗi Aedes để phân lập vi rút dengue.

– Phương pháp xét nghiệm: (i) phân lập vi rút dengue; (ii) xét nghiệm huyết thanh phát hiện IgM bằng MAC-ELISA, phát hiện IgG bằng GAC-ELISA hoặc phản ứng ngăn ngưng kết hồng cầu (HI); (iii) xét nghiệm dấu ấn ARN vi rút dengue bằng phản ứng PCR.

– Vi rút dengue ( Dengue virus) gây bệnh SD/SXHD thuộc giống Flaviviruses, họ Flaviviridae; gồm 4 týp huyết thanh có ký hiệu là D1, D2, D3, D4. Cả 4 týp huyết thanh đều có thể gặp ở Việt Nam và luân phiên gây dịch.

– Khả năng tồn tại ở môi trường: vi rút dengue có thể tồn tại, phát triển lâu dài trong cơ thể muỗi Vi rút có thể tồn tại lâu dài hơn (nhiều tháng, hàng năm) trong nhiệt độ âm sâu (-70 Aedes aegypti, tuy nhiên dễ dàng bị diệt khi ra môi trường bên ngoài. Các hóa chất khử khuẩn thông thường (nhóm clo hoạt, nhóm alcol, các muối kim loại nặng, chất ô xy hóa, chất tẩy, xà phòng…) và nhiệt độ trên 56 0C). 0 C bất hoạt vi rút chỉ trong vài chục phút.

– Phân bố địa lý: Bệnh SD/SXHD lưu hành ở khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi sinh sống của các loài muỗi Aedes. Ở Châu Á, bệnh lưu hành ở hầu hết các quốc gia trong khu vực. Bệnh gặp cả ở vùng thành thị, nông thôn và ngay cả miền núi, tuy nhiên tập trung cao nhất ở các khu vực có mật độ dân cư đông, tình trạng đô thị hóa cao. Việt Nam được coi là vùng dịch lưu hành địa phương, chủ yếu ở các tỉnh miền Nam và Nam Trung bộ. Tỷ lệ mắc hàng năm trong vòng 10 năm gần đây dao động từ 40 tới 310 trường hợp trên 100.000 dân, trong đó khu vực miền Nam thường xuyên chiếm trên 70% các ca mắc mới. Tỷ lệ tử vong có thể lớn hơn 1/100 000 dân, tuy nhiên trong những năm gần đây Việt Nam thường duy trì ở mức thấp hoặc rất thấp, từ 0,1 tới 0,01/100.000 người.

– Phân bố theo thời gian: Bệnh thường xuất hiện và gây thành dịch vào các tháng mùa mưa, nhiệt độ trung bình tháng cao; ở miền Nam gần như quanh năm, ở miền Bắc từ tháng 7 tới tháng 11. Chu kỳ của dịch bệnh SD/SXHD khoảng 3 – 5 năm. Thường sau một số chu kỳ dịch nhỏ và vừa lại có một chu kỳ dịch lớn xảy ra, ví dụ ở Việt Nam các đỉnh dịch SD/SXHD lớn và tương đối lớn rơi vào các năm 1987, 1998, 2007, trong khi các đỉnh dịch nhỏ gặp vào các năm 1991, 2004.

– Phân bố theo nhóm người: Mọi người sống trong khu vực lưu hành địa phương của SD/SXHD đều có thể mắc bệnh hoặc nhiễm vi rút lành. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau giữa các nhóm dân cư. Nhóm người có nguy cơ cao mắc SD/SXHD là trẻ em, người di cư hay du lịch đến từ vùng không lưu hành sốt xuất huyết, người dân sinh sống tại các khu đang đô thị hóa, đời sống kinh tế thấp kém, vùng có tập quán trữ nước và sử dụng nước không được kiểm soát, vùng có mật độ muỗi Aedes aegypti thường xuyên cao.

– Ổ chứa: Người là ổ chứa và là nguồn truyền nhiễm chủ yếu của bệnh SD/SXHD trong chu trình ” người-muỗi Aedes aegypti ” ở khu vực thành thị và nông thôn. Ngoài bệnh nhân, người mang vi rút dengue không triệu chứng cũng có vai trò truyền bệnh quan trọng. Trong ổ dịch SD/SXHD cứ 1 trường hợp bệnh điển hình có hàng chục trường hợp mang vi rút tiềm ẩn, không có triệu chứng.

– Thời gian ủ bệnh: Từ 3 -14 ngày, thông thường từ 5 – 7 ngày.

– Thời kỳ lây truyền: Bệnh nhân SD/SXHD là nguồn lây truyền ngay trước khi xuất hiện cơn sốt cho tới khi hết sốt, trung bình khoảng 6 – 7 ngày. Người mang vi rút không triệu chứng thường có thời kỳ lây truyền ngắn hơn. Muỗi Aedes aegypti nhiễm vi rút từ 6 – 12 ngày sau khi hút máu và có khả năng truyền bệnh suốt đời.

– Bệnh lây truyền qua véc tơ, ở Việt Nam là 2 loài muỗi Aedes aegypti Aedes albopictus. Vi rút được truyền qua vết đốt của muỗi, chủ yếu là của loài muỗi Aedes aegypti. Đây là loài muỗi ưa thích đốt hút máu người, đốt ban ngày, thường vào buổi sáng sớm và chiều tà, có thể đốt nhiều lần trong ngày nếu chưa no máu. Muỗi trưởng thành thường trú đậu ở các góc tối trong nhà, thích đẻ trứng ở những vật chứa nước sạch trong khu dân cư. Muỗi Aedes phát triển mạnh vào mùa mưa, khi nhiệt độ trung bình hàng tháng trên 20 0 C.

– Loài muỗi Aedes albopictus ít có vai trò truyền bệnh do ít đốt hút máu người và có thể sống ngoài thiên nhiên, rừng núi. Vai trò truyền bệnh SD/SXHD của loài muỗi này ở nước ta đang được tiếp tục nghiên cứu thêm.

– Mọi chủng người, giới tính, lứa tuổi đều có thể nhiễm vi rút và mắc bệnh SD/SXHD nếu chưa có miễn dịch. Ở vùng bệnh lưu hành nặng (miền Nam và Nam Trung Bộ nước ta), tỷ lệ mắc bệnh của trẻ em (dưới 15 tuổi) thường cao hơn, còn ở vùng lưu hành nhẹ, khả năng mắc của trẻ em và người lớn như nhau tuy bệnh cảnh trên người lớn thường nặng hơn. Người từng nhiễm vi rút dengue hoặc đã mắc bệnh thường có miễn dịch lâu dài với vi rút cùng týp huyết thanh. Tuy nhiên, nếu nhiễm lại một týp vi rút dengue khác với týp đã từng nhiễm thường xuất hiện bệnh cảnh nặng hơn, dễ trở thành SXHD hoặc sốc dengue do cơ chế hình thành các phức hợp miễn dịch trong máu.

– Các yếu tố khác như chủng vi rút dengue (D1, D2, D3, D4) khi chúng luân phiên gây dịch, giới tính, chủng người, thể trạng và dinh dưỡng của trẻ, bệnh đi kèm…cũng có thể ảnh hưởng tới tính cảm nhiễm với vi rút dengue và mức độ nặng của bệnh SD/SXHD.

– Tuyên truyền giáo dục sức khỏe: Để thực hiện kiểm soát và khống chế muỗi Aedes truyền bệnh một cách hiệu quả, lâu dài cần tuyên truyền giáo dục và hướng dẫn cho người dân quy hoạch lại khu vực dân cư và cách dự trữ nước sinh hoạt ở hộ gia đình; thường xuyên làm tổng vệ sinh môi trường khu dân cư, loại bỏ tối đa ổ bọ gậy nguồn (là vị trí muỗi đẻ trứng hay gặp nhất ở mỗi địa phương) của loài muỗi Aedes. – Vệ sinh phòng bệnh: Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh SD/SXHD; biện pháp kiểm soát, diệt bọ gậy/loăng quăng và muỗi trưởng thành của loài Aedes là quan trọng nhất. Tuyên truyền giáo dục và hướng dẫn để người dân làm nắp đậy kín bể chứa nước, thường xuyên thau rửa bể, chum, vại; loại bỏ hoặc kiểm soát những nơi muỗi Aedes thường đẻ trứng như lọ hoa, bể cá cảnh, đồ vật phế thải có đọng nước mưa quanh hộ gia đình; nuôi thả một số loại cá nhỏ hoặc giáp xác ăn bọ gậy như Mesocyclop ở những vật chứa nước lớn ít có khả năng thay rửa. Cho muối hoặc dầu hỏa, ma dút vào nước chống kiến chân trạn.

Chống muỗi đốt bằng nằm màn cả đêm và ngày, nhất là cho trẻ nhỏ; hướng dẫn cách xua muỗi chống đốt cho trẻ lớn.

Diệt muỗi trưởng thành bằng hóa chất diệt côn trùng theo đúng chỉ định và hướng dẫn của ngành y tế. Hóa chất thường dùng hiện nay là các dẫn chất thuộc nhóm Pyrethroid ít độc với người và gia súc. Cũng có thể sử dụng các biện pháp khác để xua, diệt muỗi trưởng thành như xông khói, xua đập cơ học, dùng mành rèm thường hoặc mành rèm tẩm hóa chất, dùng hương muỗi…vào những giờ muỗi hoạt động mạnh.

Làm tốt thường xuyên việc giám sát bệnh nhân SD/SXHD, giám sát cơ cấu loài và mật độ muỗi Aedes, mức độ kháng hóa chất của chúng

– Báo cáo ngay cho cơ quan Y tế dự phòng tuyến trên khi có chùm ca bệnh nghi mắc SD/SXHD (đạt ngưỡng cảnh báo dịch). Thực hiện chế độ báo cáo khẩn cấp (khi có dịch), hoặc báo cáo thường xuyên theo tuần và theo tháng.

– Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống SD/SXHD theo từng tuyến (xã, huyện, tỉnh) khi có công bố dịch. Ban chỉ đạo hoạt động theo các điều khoản của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, áp dụng cho các bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B.

– Cách ly bệnh nhân: chủ yếu thực hiện biện pháp nằm màn, chống muỗi đốt trong thời kỳ lây truyền.

– Điều tra phát hiện kịp thời các trường hợp bệnh SD/SXHD mới xuất hiện trong ổ dịch để tổ chức cách ly, hạn chế nguồn lây, điều trị triệu chứng đúng quy định để tránh chuyển thành bệnh nặng hoặc tử vong.

– Tăng cường các biện pháp diệt muỗi Aedes trưởng thành, thực hiện phun hóa chất dạng thể tích cực nhỏ (ULV) tại ổ dịch theo đúng chỉ định của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh/thành phố. Tăng cường biện pháp xua diệt chống muỗi đốt cho người, đặc biệt chú ý bảo vệ đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi. Thực hiện các biện pháp diệt và làm giảm quần thể bọ gậy/loăng quăng muỗi Aedes tại từng hộ gia đình và khu dân cư.

– Tổ chức chiến dịch tuyên truyền giáo dục cộng đồng diệt muỗi, bọ gậy, cải tạo vệ sinh môi trường sống, chú trọng vệ sinh các nguồn nước sinh hoạt.

– Bệnh nhân SD: phát hiện và điều trị sớm tại nhà hoặc y tế cơ sở; tập trung điều trị triệu chứng như giảm sốt, giảm đau, bù nước và điện giải theo đường uống là chính; kết hợp dùng thuốc đông y; theo dõi chặt chẽ phát hiện dấu hiệu chuyển thành SXHD hoặc sốc dengue để xử trí kịp thời.

– Bệnh nhân SXHD: Phát hiện và điều trị sớm tại bệnh viện; tập trung điều trị bù nước và điện giải bằng truyền dịch kết hợp đường uống; điều trị triệu chứng hạ sốt (tránh dùng các thuốc hạ sốt có Salixylat), giảm đau, hạn chế thẩm thấu thành mạch thoát huyết tương; chống xuất huyết nặng (truyền máu tươi khi xuất huyết phủ tạng nặng và hematocrit không cao) và chống sốc dengue.

7.4 Kiểm dịch y tế biên giới

  • Cá nhân tự khai báo bệnh khi quá cảnh.
  • Tuân thủ các biện pháp kiểm dịch, diệt muỗi nhằm ngăn chặn sự lan rộng của muỗi Aedes qua tầu thủy, máy bay và các phương tiện vận tải đường bộ từ nơi có dịch SD/SXHD tới các vùng khác.

Nguồn Cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm