【#1】Vấn Đề Thời Gian Trong Phật Giáo Và Vật Lý Hiện Đại

Thời gian là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà triết học và khoa học tự nhiên trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một cách khái quát quan niệm của Phật giáo và vật lý học hiện đại về thời gian. Theo tác giả, cách đây xấp xỉ 2600 năm, Phật giáo đã có cái nhìn khá sâu sắc, độc đáo về thời gian, trong đó có nhiều điểm tương đồng kỳ lạ với những kiến giải khoa học về thời gian của vật lý học hiện đại. Tuy nhiên, giữa chúng cũng có nhiều điểm dị biệt.

“Con người là một sinh vật duy nhất biết mình phải chết”. Lời của một triết gia phản ánh nỗi ám ảnh, day dứt của con người về sự sống và cái chết, cũng là những ám ảnh, day dứt về thời gian. Thời gian trôi qua vô hình nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong các biến cố lịch sử, trong các thành quả của nhân loại. Câu hỏi về thời gian vẫn hấp dẫn con người qua mọi thời đại. Bởi thế, các nhà triết học, vật lý học thường dành một vị trí nhất định cho vấn đề thời gian trong các công trình nghiên cứu của mình. Cách đây gần 2.600 năm, Phật giáo đã có một cái nhìn khá sâu sắc, độc đáo về thời gian, trong đó có nhiều điểm tương đồng kỳ lạ với quan niệm về thời gian của vật lý học hiện đại. Với tinh thần ” cầu đồng tôn dị “, việc tìm hiểu quan niệm về thời gian trong Phật giáo và vật lý học hiện đại là để hiểu thêm về những tương đồng, dị biệt trong hai nền văn hoá Đông – Tây nhằm xây dựng một nền văn hoá nhân văn, khai phóng và dung thông trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay.(*)

1. Quan niệm về thời gian trong Phật giáo

Từ gần 2000 năm TCN, người ấn Độ đã dành một phần tâm trí của mình cho vấn đề thời gian. Trong kinh Veda – bộ kinh cổ nhất của ấn Độ và nhân loại, thời gian là vị thần Rudra huỷ diệt sự sống, bên cạnh thần Phạm Thiên sáng tạo sự sống, thần Visnu bảo vệ sự sống. Bởi thế, ám ảnh về thời gian và khát vọng vượt thoát sự ám ảnh ấy, cũng có nghĩa là khát vọng vượt thoát cái chết, kiếp luân hồi, nỗi khổ đau nhân thế luôn thường trực trong tâm hồn người ấn. Tuy nhiên, cái nhìn về thời gian của họ không giống với cái nhìn về thời gian của người phương Tây. Người ấn không đo sự vận động của sự vật trong dòng chảy của thời gian từ quá khứ đến tương lai bằng niên đại chính xác. Trong sử sách ấn Độ, thời gian của các biến cố thường chỉ được tính áng chừng. Vượt lên những biến dịch không cùng của đời sống, người ấn truy tìm một bản thể vĩnh hằng, tĩnh lặng miên viễn, không biên kiến, thị phi… Tư tưởng đó thể hiện đậm nét trong quan niệm của Phật giáo về thời gian.

Vấn đề thời gian trong Phật giáo được xem xét một cách khá toàn diện với nội hàm phong phú, sâu sắc: thời gian qua từng satna và từng kiếp; thời gian ở khía cạnh khách quan và khía cạnh chủ quan, thời gian trên phương diện tục đế (samaritil) và phương diện chân đế (paramatha) …

Phật giáo thường dùng hai thuật ngữ làm phương tiện đo thời gian: kiếp là đơn vị đo thời gian cực đại; satna là đơn vị đo thời gian cực tiểu. Kiếp (kalpa) – đơn vị đo thời gian dài, được Phật giáo nguyên thuỷ chia thành tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Mỗi tiểu kiếp bằng 16.800.000 năm. Mỗi trung kiếp bằng 20 tiểu kiếp nghĩa là bằng 336.000.000 năm. Một đại kiếp bằng 4 trung kiếp (thành kiếp, trụ kiếp, hoại kiếp, không kiếp), nghĩa là bằng 1.344.000.000 năm. Sự lâu dài của một kiếp được ví như thời gian tảng đá vuông rộng 40 dặm mòn hết khi bị chiếc áo tiên đều đặn 100 năm một lần phất vào. Hay giống như một cái thành lớn có bề cao và các mặt đều rộng 40 dặm đựng đầy hạt cải, cứ 100 năm lấy ra một hạt cải, chừng nào hết thì hết một kiếp(1). Về sau, các bộ phái Phật giáo có cách phân chia về kiếp khác nhau, căn cứ vào tính chất, độ dài của sự biến đổi trong các sự vật khác nhau. Luận Đại Trí độ chia kiếp thành Tiểu kiếp và Đại kiếp; luận Đại Tì bà sa chia thành Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp; luận Câu xá chia thành Trung kiếp, Thành kiếp, Đại kiếp và Hoại kiếp; luận Chương sở tri chia thành Trung kiếp, Thành kiếp, Trụ kiếp, Đại kiếp, Hoại kiếp, Không kiếp… Tuy nhiên, vũ trụ có vô vàn thế giới mà sự thành trụ của thế giới này là sự hoại không của thế giới khác. Bởi vậy, thời gian ở những cảnh giới khác nhau cũng khác nhau. Một kiếp trong thế giới Sabà của Phật Thích Ca bằng 1 ngày đêm trong thế giới Cực lạc của Phật Adiđà, một kiếp trong thế giới Cực lạc của Phật Adiđà bằng 1 ngày đêm trong thế giới Casa tràng của Phật Kim An Kiên…

Đơn vị đo thời gian nhỏ nhất trong Phật giáo là satna (ksana). Phật giáo nguyên thuỷ dùng khái niệm satna để chỉ sự biến đổi mau lẹ, vô thường của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Kinh Phật thường dùng cụm từ satna vô thường. Về sau, các bộ phái Phật giáo bàn cụ thể hơn về satna trong thuyết vi trần và thuyết satna. Trong Luận câu xá, Thế Thân định nghĩa satna là một hạn kỳ cực tiểu để một thể tính được tựu thành và biến mất ngay. Một satna bằng 1/60 lần tráng sĩ đưa cánh tay ra và xếp lại. Một satna vật chất lại bằng 16 satna tư tưởng, bởi sự biến đổi của tư tưởng nhanh hơn sự biến đổi vật chất. Theo Địa tạng pháp số, trong một niệm (một tư tưởng) có 90 satna. Trong một satna có 900 lần sinh diệt(2). 120 satna tiếp nối thành một hàng satna, 16 hàng satna thành một lạp phước, 20 lạp phước thành một giờ (Phẩm Phân biệt thế gian – Luận Câu xá).

Việc phân biệt thời gian bằng khái niệm kiếp và satna chứng tỏ năng lực cảm nhận tinh tế của Phật giáo về sự biến đổi vô thường trong thế giới vi mô và vĩ mô.

b/ Thời gian vô thuỷ vô chung

ở góc độ bản thể luận, từ luật vô thường và lý nhân duyên, Phật giáo xem xét thời gian trong vô cực. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Trong Kinh thánh, tuyên ngôn của Chúa: ” Ta đã thả cá để một ngày ta quăng lưới“, ” Ta đã gieo cả lúa mì và cỏ dại để một ngày ta gặt về tất cả” (Kinh Cựu ước) là lời khẳng định thời gian có điểm khởi đầu (ngày Chúa sáng thế) và hồi kết thúc (ngày tận thế). Phần lớn các tôn giáo trên thế giới đều băn khoăn truy tìm nguyên nhân đầu tiên của thế giới ở một thế lực tinh thần tối cao và khắc khoải bi quan về giây phút cuối cùng của ngày tận thế. Trái lại, bằng lý nhân duyên, Phật giáo không thừa nhận có một thời gian tối hậu. Thời gian chẳng qua chỉ là tên gọi cho sự tiếp nối tương tục của nhân quả. Đó là dòng vận hành liên tục của thực tại khách quan, thể hiện qua sự biến đổi triền miên của vạn vật. Thời gian gắn liền với sự vận động của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, với dòng chảy của cuộc đời: ” Không một khoảnh khắc nào, một mảy may nào của thời gian mà dòng sông lại không ngừng trôi chảy ” (Kinh Tăng chi IV). Hướng dòng chảy của thời gian qua ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhưng thế giới là một tấm lưới không – thời gian đan mắc bởi vô số các sự vật hiện tượng trong lý nhân duyên. Bởi vậy, ba thời dung thông nhau trong trùng trùng duyên khởi. Thời gian trong vòng tuần hoàn khép kín của kiếp luân hồi, không có điểm khởi đầu và không có hồi kết thúc (vô thuỷ vô chung). Trong vòng luân hồi bất tận đó, quá khứ nơi này trở thành tương lai nơi khác. Cái chết trong thời gian cũng chỉ như thay một bộ y phục thể xác, như hạt giống rơi xuống đất lại mọc lên thành cái cây, như mặt trời lặn ở phương Tây lại mọc lên ở phương Đông vậy.

c/ Thời gian trên phương diện tục đế và chân đế

ở góc độ nhận thức luận, Phật giáo xem xét thời gian trên hai phương diện: tục đế và chân đế.

Trên phương diện tục đế (samaritil) – phương diện nhận thức của những người bình thường, thời gian chia làm ba thì: quá khứ, hiện tại và tương lai. Phái Hữu bộ cho rằng, tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu (ba thế giới thực có, pháp thể thường còn).

Vì thế giới là thực có chứ không phải là ảo ảnh, nên sự tồn tại của thời gian qua ba thời cũng là một thực tế. Thời gian tuần tự trôi chảy theo dòng tuyến tính từ quá khứ, qua hiện tại tới tương lai.

Trên phương diện chân đế (paramatha), phương diện thời gian của người đã giác ngộ, giải thoát, cũng có nghĩa là người đã vượt thoát khỏi sự ràng buộc của thời gian thì không còn thời nào nữa trong thời gian, kể cả thời gian cũng không còn nữa. Đó là trạng thái của Thái tử Sidhatha 49 ngày đêm ngồi thiền dưới gốc cây Bồ đề bên dòng Nikiềnliên. Khi nhìn thấy sao Mai mọc, Thái tử bỗng nhiên bừng tỉnh ngộ. Trong một satna ngắn ngủi, Thái tử thành Phật bởi đã đạt được sự giác ngộ cao nhất, hiểu thấu được vạn vật, hiểu thấu được quá khứ, hiện tại và tương lai để không còn bị ám ảnh bởi thời gian. Tuyên ngôn ” Chính lúc này đây ta thành Phật” là lời tuyên ngôn cao đẹp về giá trị con người, đồng thời cũng là lời tuyên ngôn của con người đã vượt thoát được sự chi phối của thời gian để đạt tới cõi vĩnh hằng trong chính tâm thức mình (giải thoát – moska). Trạng thái Niết bàn (Nirvana) là trạng thái tâm linh thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt của người đã giải thoát. Niết bàn cũng chính là sự ngưng đọng vĩnh cửu của thời gian trong satna hiện tại, không còn nhân quả, không còn sinh tử luân hồi. Con người ” không truy tìm quá khứ/không ước vọng tương lai “, sống trong từng satna của đời sống hiện tại. Bởi thế, đức Phật còn có tên là Như Lai (Tathagatha), nghĩa là người đã đến như thế, thực chất là người không từ đâu đến mà cũng không đi đâu. Người sống trong hiện tại tuyệt đối, vĩnh hằng.

Từ quan niệm vạn pháp duy tâm tạo, Phật giáo Đại thừa nhấn mạnh đến tính Không của thời gian. Tính Không không đồng nghĩa với chủ nghĩa hư vô, phủ định thế giới hiện tượng, phủ định hoàn toàn thời gian. Nó gắn với sự vô thường của thế giới. Trong kinh Kim cương, thế giới biến ảo giống như ” ngôi sao mờ dần buổi bình minh, một chiếc lá trên dòng sông, một ánh chớp trong đám mây mùa hè, một ngọn đèn le lói, một bóng hình, một giấc mộng “(3). Buổi tối, nửa đêm hay sớm mai cũng chỉ còn là ảo ảnh:

Nói như lời của Swami Vivekananda: “Thời gian, không gian và mối liên hệ nhân quả giống như một tấm kính ta nhìn xuyên qua nó để thấy cái tuyệt đối… Trong tuyệt đối thì không có thời gian, lẫn không gian, lẫn quan hệ nhân quả”(5).

Nhà sư Đức Sơn (Nhật Bản) trên đường đi tới Đài Sơn dừng chân bên quán nhỏ gọi điểm tâm. Bà lão bán quán là người am tường Phật giáo bèn thử thách nhà sư bằng câu hỏi khó, nếu nhà sư trả lời được thì mới được điểm tâm:

– Kinh Kim Cương viết:

Quá khứ tâm bất khả đắc

Hiện tại tâm bất khả đắc

Vị lai tâm bất khả đắc

Vậy thầy muốn điểm cái tâm nào đây?(6)

(Điểm tâm còn có nghĩa là điểm vào cái tâm). Không trả lời được câu hỏi hóc búa đó, nhà sư đành nhịn đói ra đi. Việc điểm tâm xảy ra trong thời gian. Trong kinh Kim cương không có thời nào cả. Quá khứ – tương lai, hữu hạn – vô hạn đồng nhất trong từng satna của đời sống hiện tại. Cái lưu chuyển vô thường và cái bất tử vĩnh hằng cũng chỉ là một trong tâm người giải thoát. Con người giải thoát sống trong ánh sáng vĩnh cửu, tự mình trở thành ánh sáng, trở thành dòng chảy. Khi đó, con người sẽ:

Bất sinh diệc bất diệt

Bất thường diệc bất đoạn

Bất nhất diệc bất nhị

Bất lai diệc bất xuất “(7).

Khi hướng vào tâm tìm giải thoát, gạt bỏ đi những phân biệt sinh – tử, thường – đoạn, một – hai, đến – đi, không còn cách biệt ta và tha nhân, quá khứ và tương lai… thì chỉ còn một sự đồng nhất tuyệt đối của cái Không tĩnh lặng đến vô cùng trong tâm người giải thoát. Sống trong ánh sáng vĩnh cửu, con người đã quét sạch ý niệm về cái tương đối, không người không vật, không cảnh không ta, chỉ còn ánh trăng Lăng già tịch tĩnh trên biển cả mênh mông của giải thoát.

Từ cái nhìn về sự mong manh vô thường của đời sống, Phật giáo khuyến khích con người biết trân trọng thời gian để sống có ích theo chính pháp trong từng satna của đời sống hiện tại. Biết chế ngự nỗi lo âu về cái chết, không khao khát một bản thể trường tồn hay chạy theo những ảo ảnh phù du của đời sống, con người sẽ trở về với chính mình, đánh thức Phật tính trong tâm mình để thành Phật giữa cuộc đời.

Đi từ ngoài vào trong, từ đa dạng tới nhất thể, từ động đến tĩnh, từ tương đối tới tuyệt đối, đó là con đường tư duy của Phật giáo về thời gian.

2. Vấn đề thời gian trong vật lý học hiện đại

Theo Bách khoa toàn thư mở: “Thời gian là một đại lượng biến thiên và là thành phần của một hệ thống đo lường được dùng để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, để so sánh độ dài của các sự kiện và khoảng cách giữa chúng, để lượng hoá chuyển động của các đối tượng” (Wikipedia).

Trong thuyết tương đối hẹp (1905), A.Enstein cho rằng, không có một thời gian tuyệt đối, duy nhất. Mỗi người có một độ đo thời gian riêng của mình, phụ thuộc vào vị trí họ đứng, tốc độ chuyển động của họ. Bởi vậy, nếu xảy ra vụ nổ ở một ngôi sao cách trái đất một tỉ năm ánh sáng thì phải tới một tỉ năm sau con người nơi mặt đất mới quan sát thấy vụ nổ ấy Theo lý thuyết tương đối của A.Enstein, ở tốc độ vận động bằng tốc độ của ánh sáng, kích thước vật thể rút ngắn lại và thời gian trôi chậm đi. Nghịch lý trẻ sinh đôi minh chứng cho lý thuyết này. Nếu hai anh em sinh đôi, một người ở lại trái đất, một người đi vào vũ trụ, sau một thời gian trở về thì người đi vào vũ trụ sẽ trẻ hơn người anh em sinh đôi của mình. Một con tàu vũ trụ phóng vào không gian với vận tốc bằng 87% vận tốc ánh sáng thì thời gian sẽ chậm đi bằng 1/2 so với thời gian trên trái đất. Và nếu nó vận động với vận tốc 99% vận tốc ánh sáng thì thời gian trôi chậm đi 22,4 lần. Điều này cũng tương tự như quan niệm của Phật giáo về thời gian khác nhau trong các cảnh giới khác nhau.

Trong lý thuyết tương đối hẹp, vấn đề thời gian còn được xem xét dưới góc độ tâm lý. Theo A,Enstein, ở góc độ tâm lý chủ quan, mọi cái trong thế giới đều “hư nguỵ”, vật chất hư nguỵ, không gian hư nguỵ, thời gian tưởng chừng tuyệt đối cũng hư nguỵ mà thôi. Sự trôi chảy của thời gian chỉ là một ảo tưởng của tâm thức. Thuyết tương đối được giải thích khá hóm hỉnh bằng hình ảnh bếp lò nóng và cô gái đẹp. Khi người đàn ông ôm một cô gái đẹp trong lòng thì thời gian một giờ tưởng chừng như chỉ là một phút. Trái lại, khi anh ta buộc phải ngồi gần một cái bếp lò quá nóng thì thời gian một phút tưởng như một giờ.

Sau khi phát minh ra thuyết tương đối hẹp, tới năm 1916 A.Enstein tiếp tục phát triển thuyết tương đối tổng quát, trong đó có tiên đoán về sự tồn tại của các lỗ đen (bkack hole) trong vũ trụ. Không gian và thời gian như một tấm vải có thể co giãn và rách được. Chỗ rách của tấm vải không – thời gian chính là lỗ đen. Khi thiên thể co lại thì sức hút của nó tăng lên, không – thời gian quanh nó cũng tăng độ cong. Tới một thời điểm nhất định, không – thời gian quanh thiên thể đó cong tới mức ánh sáng cũng không thoát ra nổi. Khi đó, trong lỗ đen, thời gian ngừng lại, không còn trôi chảy. Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN) đã tạo ra được 9 hạt phản nguyên tử (phản vật chất) – một dạng vật chất đặc biệt có khả năng hút nguyên tử vào nó. Đây là một trong những cơ sở để khẳng định về sự tồn tại thực tế của lỗ đen trong vũ trụ. Gần đây, các nhà thiên văn học quan sát trên bầu trời thấy có những “vì sao nặng”, quay quanh một đối tượng vô hình. Đối tượng ấy có thể là một lỗ đen trong vũ trụ(9).

Giữa thế kỷ XX, Stephen Hawking tiếp tục phát triển tư tưởng về lỗ đen trong vũ trụ bằng giả thuyết: khi vật chất bị rơi vào lỗ đen, thời gian ngừng lại, sự vật bất động trong trạng thái tiềm sinh. Vào cuối thế kỷ XX, con người nỗ lực tìm kiếm những sự kiện lạ để chứng minh cho giả thuyết này. Ngày 14-4-1912, con tàu huyền thoại Titanic va phải băng khiến 1500 người bị mất tích. 80 năm sau, ngày 24-9-1990, tàu Foshogen đang đi trên biển Bắc Đại Tây Dương đã phát hiện từ vách núi một phụ nữ quý tộc Anh bị ướt sũng tên là Kate – là người đã mất tích trên con tàu Titanic. Ngày 9-8-1991, người ta lại cứu sống được người đàn ông tên là Smith có dấu vân tay trùng với dấu vân tay của thuyền trưởng Smith của tàu Titanic…(10). Một số sự kiện mất tích bí ẩn rồi sau một thời gian dài lại xuất hiện trở lại giống hình hài ban đầu càng khẳng định các lỗ đen (hay ” lỗ hổng thời gian“, ” đường hầm không – thời gian “) trong vũ trụ là sự thật. Phải chăng vật chất đã vô tình bị hút vào lỗ hổng đó để tồn tại trong trạng thái tiềm sinh (somachi) của thời gian tĩnh lặng? Và khi nào “lỗ hổng thời gian” mở ra, vật chất đó lại xuất hiện với hình hài y như khi nó bị hút vào. Tới đây, trạng thái Niết bàn trong Phật giáo – sự tĩnh lặng, ngưng đọng vĩnh cửu của thời gian trong tâm người giải thoát có điểm gặp gỡ với sự tĩnh lặng vô cùng của “lỗ hổng thời gian” và sự ngưng đọng của vật chất trong lỗ hổng đó. Tuy nhiên, Phật giáo nói tới Niết bàn trong tâm thức con người, còn vật lý học hiện đại bàn tới “lỗ hổng thời gian” tồn tại khách quan trong thế giới vật chất.

Qua sự phân tích trên, có thể thấy, Phật giáo và vật lý học hiện đại có những điểm tương đồng sâu sắc trong quan niệm về thời gian. Điều đó khiến A.Enstein có cảm tình đặc biệt với Phật giáo. Ông đã từng phát biểu trong một cuộc hội thảo về tôn giáo với khoa học tại New York: “Nếu trên thế giới có một tôn giáo nào có thể đương đầu với những nhu cầu của khoa học hiện đại thì tôn giáo ấy phải là Phật giáo. Phật giáo không cần phải xét lại những quan điểm của mình theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học”(11). Có thể thấy một số điểm tương đồng trong quan niệm về thời gian giữa Phật giáo và vật lý học hiện đại, đó là:

1. Bằng cái nhìn kết và động, Phật giáo và vật lý học hiện đại đều thấy sự dung thông giữa không gian và thời gian trong một tấm lưới vũ trụ hoàn hảo.

2. Cả hai đều thừa nhận tính vô cực (vô thuỷ vô chung) của thời gian trong sự vô thường của thế giới.(11).

3. Cả hai đều thừa nhận tính tương đối và tuyệt đối của thời gian.

Tuy nhiên, quan niệm về thời gian của Phật giáo không đồng nhất hoàn toàn với những kiến giải khoa học về thời gian của vật lý học hiện đại. Những dị biệt trong hai quan niệm là:

1. Vật lý học hiện đại xây dựng khái niệm thời gian bằng thực nghiệm lý thuyết, còn Phật giáo lại dựa vào sự mách bảo của trực giác kinh nghiệm.

2. Phật giáo (đặc biệt là Thiền Đại thừa) hướng nội để tìm thời gian tương đối và sự ngưng đọng vĩnh hằng tuyệt đối của thời gian trong tâm thức con người; vật lý học hiện đại hướng ngoại để tìm thời gian tương đối trong thế giới vật chất, thời gian tuyệt đối trong lỗ đen vũ trụ.

Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai quan niệm đó cũng chỉ mang tính chất tương đối mà thôi.

Nguồn: vientriet.com [Nguồn: http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/van-hoa-nhan-thuc/2031-nguyen-thi-toan-van-de-thoi-gian-trong-phat-giao-va-vat-ly-hoc-hien-dai.html]

【#2】Những Đại Biểu Chính Của Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii

Những đại biểu chính của triết học kinh viện thế kỷ XIII

Những nhà kinh viện lớn nhất của thế kỷ XIII là Tômát Đacanh, ĐơnXcốt.

a, Tômát Đacanh (1225 – 1274)

Ông sinh ở Italia, là nhà thần học đạo Thiên chúa, nhà triết học kinh viện nổi tiếng của chế độ phong kiến Tây Âu. Học thuyết của ông được nhà thờ đạo Thiên chúa coi là triết học duy nhất đúng đắn và lấy làm hệ tư tưởng của mình. Mười tám cuốn sách trong tuyển tập của ông hợp lại như một bộ bách khoa toàn thư đặc sắc của hệ tư tưởng chính thống thời trung cổ. Những tác phẩm của ông, ngoài thần học và triết học, còn nghiên cứu cả những vấn đề pháp quyền, đạo đức, chế độ nhà nước và kinh tế.

Tuy là con của một bá tước, nhưng Tômát Đacanh đã làm trái với những người trong dòng họ mình, trở thành tu sĩ của dòng đạo Đôminích. Ông đã học ở Côlônhơ, Pari, và sau đó trở thành người nổi tiếng trong việc dạy thần học và triết học ở Pari, Côlônhơ và hàng loạt thành phố của Italia.

Trong lĩnh vực triết học, Tômát Đacanh có mưu đồ làm cho học thuyết của Arixtốt thích hợp với học thuyết đạo Thiên chúa, biến triết học của mình thành cơ sở lý luận cho các tín điều nhà thờ. Đứng trên lập trường của Arixtốt, ông chống lại triết học kinh viện cũ của Ôguýtxtanh và cả khuynh hướng duy vật cấp tiến của những người theo quan điểm Avơrôvét trong đạo Thiên chúa.

Tômát Đacanh là người có quan điểm trong việc giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học, giữa lý trí và lòng tin. Ông phân định rõ ranh giới nhưng không đối lập giữa triết học và thần học. Đối tượng của triết học là nghiên cứu “chân lý của lý trí”. Đối tượng của thần học là “chân lý của lòng tin tôn giáo”. Còn Thượng đế là Khách thể cuối cùng của cả triết học và thần học, là nguồn gốc của mọi chân lý. Cho nên theo Tômát không thể không có mâu thuẫn về nguyên tắc giữa chân lý đúng đắn và lòng tin tôn giáo. Nhưng vì là nhà thần học, Tômát đã hạ thấp vai trò của triết học, bắt triết học phải phụ thuộc vào thần học. Ông cho rằng, không phải mọi “chân lý của lòng tin tôn giáo” đều có thể đạt được bằng sự chứng minh hợp lý. Những chân lý thần học tuy không “chống đối lý trí”, nhưng là “siêu lý trí”. Triết học phải dựa vào sự giúp đỡ của thần học và thấp hơn thần học, cho nên ở một chừng mực nào đó trí tuệ có hạn của con người thấp hơn sự anh minh của Thượng đế. Tômát nói: “chân lý tôn giáo không phải là điểm yếu mà triết học có thể xâm nhập vào được”.

Quan điểm duy tâm thần học của Tômát cũng thể hiện rõ trong việc nghiên cứu giới tự nhiên. Ông cho rằng giới tự nhiên và trật tự của nó chỉ là sự chuẩn bị của cái “vương quốc giàu có ở trên trời”. Theo học thuyết của Tômát, mọi cái hoàn thiện nhất trong thế giới có khả năng (thế giới của những sự vật cảm biết) đều được quyết định bởi sự thông minh của Thượng đế, đều trải qua sự hợp lý hóa của Thượng đế. Thượng đế là mục đích tối cao, là “quy luật” vĩnh cửu “đứng trên mọi cái, thống trị mọi cái. Thượng đế là hình thức thuần túy tước bỏ vật chất, là nguyên nhân sự tác động cuối cùng của thế giới, và thế giới tự nhiên không phải là vĩnh cửu, mà được Thượng đế sáng tạo từ hư vô”.

Khi giải quyết vấn đề bản chất của cái chung, Tômát đứng trên lập trường của nhà duy thực ôn hòa (phần nào dung hòa với chủ nghĩa duy danh có lợi cho tôn giáo). Theo ông cái chung tồn tại trên 3 mặt: một là, nó tồn tại trước sự vật trong trí tuệ của Thượng đế như là mẫu mực lý tưởng của các sự vật riêng lẻ; hai là. cái chung được tìm thấy

trong các sự vật, cái chung chỉ tồn tại khách quan khi nó chứa đựng các sự vật riêng lẻ; ba là, cái chung được tạo ra sau khi các sự vật trong trí tuệ con người bằng con đường trừu tượng hóa khỏi các sự vật riêng lẻ. Trong học thuyết triết học của mình, Tômát cố gắng chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, nhưng sự chứng minh của ông khác một chút với sự chứng minh có tính chất bản thể luận của các nhà duy thực trước đó. Theo ông, sự tồn tại của Thượng đế chỉ có thể được chứng minh trên cơ sở của kinh nghiệm, nghĩa là trên cơ sở tồn tại của thế giới như là sự sáng tạo của Thượng đế. Tômát đưa ra năm điều chứng minh: 1. cần có cái động lực ban đầu, vì thế giới không phải là sự vận động vĩnh cửu; 2. mục đích của những nguyên nhân tác động không thể là vô tận, nên cần phái có cái nguyên nhân đầu tiên; 3. mọi sự vật của thế giới là ngẫu nhiên, do đó cần tồn tại một cái tất nhiên tuyệt đối; 4. các sự vật bộc lộ những giai đoạn hoàn thiện tuyệt đối; 5. Tính chất hợp lý của giới tự nhiên không thể giải thích bằng những nguyên nhân tự nhiên, cần phải tồn tại một thực thể lý trí siêu tự nhiên điều chỉnh thế giới. Như vậy theo Tômát, Thượng đế chính là động lực ban đầu, là nguyên nhân ban đầu, là cái tất nhiên tuyệt đối, sự hoàn thiện tuyệt đối cũng như là nguyên nhân tạo ra sự hợp lý của giới tự nhiên.

Trong lý luận nhận thức của mình, Tômát áp dụng học thuyết Arixtốt về “hình dạng”. Mọi nhận thức, theo ông, đều diễn ra trong chủ thể nhờ tiếp thu khách thể. Nhưng không phải mọi tồn tại của khách thể đều được tiếp nhận, mà chỉ tiếp nhận cái gì trong khách thể giống với chủ thể (tức hình ảnh của sự vật chứ không phải bản thân sự vật vật chất). Bởi vì, theo Tômát, khi gia nhập vào tinh thần của cái nhận thức (chủ thể) thì cái được nhận thức bị mất tính vật chất của mình và chỉ tồn tại với tính cách là hình dạng” và “hình dạng’ của sự vật là hình ảnh nhận thức của nó. Nhờ hình ảnh biểu hiện yếu tố tồn tại của sự vật, yếu tố đó đồng thời giống với tinh thần mà cái vật thể được nhận thức đi vào tinh thần, vào vương quốc của tư tưởng.

Tômát còn chia thành hình dạng cảm tính và hình dạng lý tính. Theo ông, hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính. Nhò hình dạng lý tính (hay nhận thức trí lực) ta mới biết được cái chung, cái giống với đối tượng, cái mà trong đó chứa đựng nhiều thực thể riêng biệt. Tuy nhiên hình dạng cảm tính cũng có vai trò quan trọng. Nhờ có nó mà cảm giác trẻ nên cái cảm thụ tích cực.

Lý luận nhận thức của Tômát chứa đựng những yếu tố tiêu cực của cảm giác luận, nhưng nó là bước tiến lớn trong sự phát triển triết học kinh viện trung cổ vì nó tiếp thu học thuyết của Arixtốt chứ không phải của Platôn.

Cũng cần lưu ý rằng hệ thống triết học hết sức cồng kềnh và phiền tạp của Tômát chỉ là sự khôi phục về hình thức học thuyết của Arixtốt. Về bản chất, nó khác căn bản với học thuyết của Arixtốt. Như Lênin nhận xét, chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa thầy tu đã lấy ở Arixtốt cái không có sinh khí, chứ không phải cái sống động: sự đòi hỏi, sự tìm tòi.

b, Đơn Xcổt (1265 – 1308)

Ông là một trong những nhà kinh viện, nhà duy danh luận lớn nhất thế kỷ XIII. Ông sinh trưởng ở Anh, tốt nghiệp trường đại học Ôcxpho, sau đó trở thành giáo sư của trường này. Về tín ngưỡng tôn giáo, ĐơnXcôt theo dòng đạo Phơrăngxít.

Về mặt triết học, cũng như các nhà tư tưởng khác thời trung cổ, ĐơnXcốt coi vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học là vấn đề chủ yếu. Theo ông, đối tuợng của thần học là nghiên cứu Thượng đế, còn đối tượng của triết học (siêu hình học) là tồn tại hiện thực khách quan – vật chất, giới tự nhiên), về quan hệ giữa lý trí và lòng tin tôn giáo thì Đơn Xcốt là người đề cao vai trò của lòng tin hơn lý trí. Ông nói rằng, nhận thức về Thượng đế mà dựa vào lý trí thì bị hạn chế, lý trí chỉ nhận thức được ở tồn tại cái gì mà nó không thể tách khỏi các tài liệu cảm tính, cho nên ở con người không có được một khái niệm nào về bản chất phi vật chất như Thượng đế, thiên thần.

Về vấn đề tồn tại của Thượng đế, ĐơnXcốt đã giải quyết từ lập trường thần học. Theo ông, vì Thượng đế là một tồn tại bất tận, cho nên chứng minh về sự tồn tại của Thượng đế có nghĩa là chứng minh rằng “cái tồn tại bất tận” đó là có. Và điều này chỉ có thể chứng minh được khi đi từ kết quả tới cái nguyên nhân cuối cùng và tối cao của nó là Thượng đế. Song, theo ông, tuy có thể chứng minh được sự tồn tại của Thượng đế, nhưng con người lại không thể nhận thức được bản chất của Thượng đế, vì Ngài có quyền tự do lựa chọn tuyệt đối. Chẳng hạn, Thượng đế có thể tạo ra cái thế giới hoàn toàn khác cái thế giới mà chúng ta đang biết, hoặc có thể đem lại cho con người những quy tắc hiện có.

Như vậy những yếu tố có tính phê phán triết học kinh viện ở Tômát trong học thuyết của Đơn Xcốt được phát triển không phải vì lợi ích của khoa học và triết học mà vì thần học. Ông khẳng định rằng, hình như triết học bất lực trong việc cứu thoát con người vì nó coi thường mọi cái riêng, suy lý từ cái chung đến cái chung. Nó rút ra mọi cái không phải từ ý chí Thượng đế mà từ tính tất yếu. Cho nên triết học không thể chứng minh được, chẳng hạn, bản chất ba mặt của Thượng đế (đức thánh cha, đức thánh con và đức thánh thần), hoặc sự thể hiện của Thượng đế trong người con của Ngài là chúa Giêsu, sự sáng tạo thế giới từ hư vô V.V..

Về vấn đề quan hệ giữa lý trí và lòng tin, Đơn Xcốt đã giải quyết khác với Tômát Đacanh. Nếu Tômát cố gắng dung hoà lý trí và lòng tin, không hạ thấp quá đáng vai trò của lý trí, thì Đơn Xcốt là người hoài nghi năng lực của lý trí trong việc phục vụ lòng tin. Ông cho rằng, vì núp dưới chiêu bài bênh vực lòng tin một cách có lý trí mà nhiều tà đạo đã xâm nhập vào thần học. Vì vậy, lý trí và lòng tin, tri thức và thần học là không thể và không nên dung hòa, vị trí hàng đầu phải thuộc về lòng tin còn lý trí đóng vai trò phụ thuộc.

Cần lưu ý, sự phê phán của Đơn Xcối đối với những lập luận có tính chất duy lý không hề chứng tỏ học thuyết của ông phản động hơn học thuyết của Tômát. Vì sự phê phán đó không dẫn tới tư tưởng về tính chất siêu lý trí của các tín điều tôn giáo, mà dẫn tới tư tưởng về tính chất phản lý trí của các tín điều đó.

chúng tôi

【#3】Chủ Nghĩa Kinh Viện Giai Đoạn Suy Thoái. Cuộc Đấu Tranh Chống Triết Học Kinh Viện Thế Kỷ Xiii

Sau thời kỳ cực thịnh, chủ nghĩa kinh viện đã đi vào giai đoạn suy thoái với sự ra đời của khoa học thực nghiệm (đại biểu là Rôgiê Bêcơn) và sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy danh (tiêu biểu là học thuyết của Guyôm Ốccam) đã tạo điều kiện thuận lợi cho triết học và khoa học chuyển sang giai đoạn phát triển mới.

a, Rôgiê Bêcơn (khoảng 1214 -1294)

Rôgiê Bêcơn sinh ở Anh, ngày sinh và ngày mất của ông đều không được xác định chắc chắn.

Ông là một trong những người đề xướng vĩ đại nhất của khoa học thực nghiệm thời kỳ mới. Triết học của R. Bêcơn đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống triết học kinh viện của các đại biểu trước ông. Xét trong điểu kiện lịch sử của thời đại ông thì R.Bêcơn đã có một quan niệm hay và mới về đối tượng của triết học (siêu hình học). Theo ông, siêu hình học là khoa học lý luận chung giải thích mối quan hệ giữa khoa học bộ phận (riêng lẻ) và đem lại cho các khoa học đó những quan điểm cơ bản. Và bản thân siêu hình học được xây dựng trên thành quả của các khoa học đó.

Tuy nhiên, trong hệ thống siêu hình học của mình, R.Bêcơn chưa phải là người có nhiều cái độc đáo. Ông vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Platôn và Ôguýtxtanh. Chẳng hạn, ông đã nghiên cứu về “tính chất rõ ràng của tư tưởng” xuất phát từ những mẫu mực đầu tiên của Thượng đế, về “lý trí hoạt động tiên nghiệm”, V.V.. Nhưng sức mạnh và bản chất của học thuyết R. Bêcơn không phải ở chỗ đó, mà chủ yếu là sự phê phán phương pháp kinh viện và ở sự khẳng định ý nghĩa của kinh nghiệm và ở sự tìm kiếm khoa học có tính chất độc lập.

R. Bêcơn đã phê phán một cách gay gắt và cay độc tính chất vô dụng của phương pháp kinh viện tách rời cuộc sống. Theo ông, có bốn điều trở ngại đối với chân lý: một là, sự sùng bái, quy phục trước cái uy tín không có cơ sở và không xứng đáng; hai là, thói quen lâu đời đối với những quan niệm đã rõ ràng; ba là, tính chất vô căn cứ của các nhà bác học đối với điều ngu dốt của mình dưới cái mặt nạ của sự thông thái hư ảo. Và cuối cùng ông rút ra ba nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lý trí và kinh nghiệm. Bêcơn cho rằng, uy tín mà thiếu sự chứng minh là uy tín thiếu sót và “những lập luận mà chưa kiểm tra các kết luận bằng con đường kinh nghiệm và thực nghiệm thì chưa thể phân biệt giữa ngụy biện và chứng minh”; cao hơn mọi tri thức và nghệ thuật suy lý và việc biết tạo ra kinh nghiệm và khoa học, đó là bà chúa của mọi khoa học.

Như vậy, R.Bêcơn đã đánh giá rất cao vai trò của kinh nghiệm trong việc kiểm tra chân lý, xem kinh nghiệm như là tiêu chuẩn của chân lý, thước đo của lý luận. Đó là một quan niệm tiến bộ của thời đại ông.

Ngoài triết học, R.Bêcơn còn chú ý đến nhiều, ngành khoa học khác, đặc biệt những khoa học nào giúp con người xây dựng nhà cửa, thành phố, cầu đường, làm ruộng, chăn nuôi, ông đánh giá cao vai trò của vật lý học, nhất là quang học vì nó giúp con người nhìn ra các sự vật, phần biệt được chúng, nhờ đó mọi tri thức của chúng ta về giới tự nhiên được hình thành. R.Bêcơn là người hết sức coi trọng tri thức khoa học. Ông đã từng nói: “Không có sự nguy hiểm nào lớn hơn sự ngu dốt”.

R.Bêcơn cũng có nhiều tư tưởng xã hội tiến bộ, đã dũng cảm lên án sự áp bức phong kiến, những tội lỗi của giáo sĩ, dám tấn công vào ngôi Giáo hoàng thiêng liêng, bênh vực quyền lợi của nhân dân. Ông nói: “Bọn công tước, nam tước và bọn hiệp sĩ là những kẻ cướp bóc lẫn nhau, hủy hoại những thần dân của mình bằng những cuộc chiến tranh bất tận và thuế khóa nặng nề…”; “những sự đồi trụy nhất đã thống trị ở mọi nơi… ngôi thiêng liêng đã trở thành chiến lợi phẩm của sự lừa dối...”.

Đằng sau sự vạch trần các trật tự xã hội phong kiến và sự đồi bại của giới giáo sĩ đã bộc lộ rõ quan điểm có tính chất “tà đạo” của R.Bêcon. Đạo Cơ đốc được ông xem như một trong những đạo mà sự xuất hiện của nó được giải thích bằng chiêm tinh học, bằng sự kết hợp của hai hành tinh sao mộc và sao thủy. Do những quan điểm tiến bộ đó Bêcơn đã bị nhà nước phong kiến và giáo hội truy nã một cách quyết liệt. Năm 1278, lúc R.Bêcơn đã già nhưng ông vẫn bị cầm tù trong nhà tù của tu viện. Mười bốn năm sau, năm 1292 ông mới được tha và hai năm sau thì mất.

Cũng cần thấy rằng, trong học thuyết của mình, R.Bêcơn tuy lên tiếng chống Giáo hoàng, nhưng không chống lại tôn giáo nói chung. Ông cũng tuyên bố sự phụ thuộc của triết học vào lòng tin. Nhưng vì hiện tại chưa thấy xuất hiện sự màu nhiệm thiêng liêng, cho nên để đối xử với những điều không tin và bác bỏ kẻ chống đối thì chỉ còn một con đường – đó là sức mạnh của triết học và tri thức khoa học. Điều này cắt nghĩa vì sao R.Bêcơn có nhiều tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn chưa thoát khỏi thời đại mình – thời đại thống trị của tôn giáo và nhà thờ.

b, Chủ nghĩa duy danh thể kỷ XIV. Guyôm Ốccam

Thế kỷ XIV là thế kỷ phát triển tiếp tục của kinh tế, đồng thời cũng là thế kỷ suy tàn của chế độ nông nô ở Anh do những cuộc khởi nghĩa liên tục của nông dân và sự nổi dậy của thành thị. Sự tách rời thành thị khỏi nông thôn, sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp đã dẫn tới chỗ chuyển sự áp bức nặng nề theo kiểu nông nô sang hình thức áp bức tiền tệ. Chế độ nông nô với sự phụ thuộc của nông dân vào giai cấp địa chủ dần đần bị thủ tiêu. Tuy nhiên giữa thế kỷ XIV, sau bệnh dịch hạch tàn ác phá hoại cả châu Âu, thì lại bắt đầu sự phản động của chế độ nông nô. Đáp lại chính sách phản động của giai cấp thống trị phong kiến là những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, như cuộc khởi nghĩa của Uốt Tailo, một thợ thủ công ở Anh năm 1381, đã gây chấn động chế độ phong kiến ở Anh. Cũng vào thời kỳ đó sự phản hóa dân cư thành thị dẫn đến những cuộc nổi dậy của những người nghèo trong nhiều thành phố ở Italia và Pháp.

Cuối thế kỷ XIII, sức mạnh của ngôi giáo hoàng La Mã, sau khi đã đạt đến thời kỳ cực điểm của mình, bắt đẩu suy yếu dần. Nhiều giáo chủ đã từ bỏ La Mã để tản đến các thành phố giáp nước Pháp. Vào những năm 20 của thế ký XIV xuất hiện sự xung đột gay gắt giữa Giáo hoàng và dòng đạo Phơrăngxít, đặc biệt là với nhóm “duy linh”. Những người trong nhóm này đã đưa ra những truyền thống lý tưởng của đạo Cơ đốc khởi nguyên, chiến đấu chống lại sự giàu sang của nhà thờ và những kỳ vọng thế tục của Giáo hoàng. Giáo hoàng và những người trong dòng đạo Phơrăngxít đã gọi nhau là những kẻ tà đạo. Cũng vào thời kỳ này đã bắt đầu cuộc đấu tranh nhiều năm giữa Giáo hoàng và Hoàng đế. Giáo hoàng thì nguyền rủa Hoàng đế, còn Hoàng đế thì tìm cách truất ngôi Giáo hoàng.

Về mặt triết học, thế kỷ XIV được đánh dấu bằng sự phát triển của chủ nghĩa duy danh mà đại biểu xuất sắc là Guyôm Ốccam.

G. Ốccam (khoảng 1300 – 1350) là nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng thời đại mình, nhà thần học và triết học kinh viện Anh, nhà tư tưởng của giai cấp phong kiến thế tục trong cuộc đấu tranh chống Giáo hoàng.

Tư tưởng chống Giáo hoàng của Ốccam thể hiện trong hầu hết các tác phẩm lý luận của ông. Ông tuyên bố, chức giáo hoàng chỉ là một thể chế tạm thời, không phải là người được gán cho tính chất luôn luôn đúng đắn. Vị lãnh chúa tối cao của đất nước, theo ông, là quốc vương thế tục – người phải được sùng phục ở mọi nơi. Thế quyền và thần quyền phải hoạt động tách rời nhau. Thần quyền chỉ ra lệnh về cái gì gắn với việc cứu rỗi linh hồn trong nhà thờ. Mặc dù Ổccam có những sự thỏa hiệp, lý luận của ông là lý luận hết sức nguy hiểm đối với quyền của Giáo hoàng.

Gắn với hoạt động có tính chất chính trị chống Giáo hoàng, bảo vệ nhà nước phong kiến thế tục là hoạt động triết học của Ốccam. Triết học của ông đã chống đối kịch liệt hệ tư tưởng chính thống (hệ tư tưởng đạo Thiên chúa). Trong vấn đề trung tâm của triết học trung cổ – vấn đề mối quan hệ giữa lòng tin và lý trí, giữa linh cảm và tri thức, Ốccam đã làm sâu sắc thêm những quan điểm của ĐơnXcốt. Ông khẳng định: Cũng như quyền lực của nhà thờ chỉ giới hạn ở công việc tôn giáo, thần học chỉ thống trị trong các vấn đề về lòng tin và dựa trên sự “linh cảm”. Những chứng minh có tính chất lý trí về lòng tin không có khả năng và vô giá trị. Cũng không thể chứng minh được sự tồn tại của Thượng đế và bản chất của Ngài. Đối với những tín điều tôn giáo thì chỉ có tin.

Tuy là người bảo vệ nhiệt tâm lòng tin tôn giáo như mọi nhà triết học khác ở thời đại phong kiến, nhưng ở Ốccam chúng ta cũng thấy rõ sự tan vỡ của chính cơ sở triết học kinh viện và sự mất tác dụng của nó. Bởi vì, cái trục của triết học Ốccam là chủ nghĩa duy danh có khuynh hướng duy vật.

Là một nhà duy danh luận, Ốccam cho rằng chỉ có những sự vật riêng lẻ, đơn nhất là tồn tại thực. Còn cái phổ biến (cái chung) chỉ tìm thấy trong “tinh thần và trong từ ngữ”. Nếu thừa nhận hiện thực khách quan của cái phổ biến sẽ dẫn đến sự vô lý, vì cái phổ biến không phải là những hình ảnh tư duy đơn giản. Cái phổ biến (cái chung) chỉ diễn đạt, mô tả cái giống nhau trong các đối tượng riêng lẻ mà thôi.

Khái niệm, danh từ, theo Ốccam chỉ là những ký hiệu của sự vật. Và do đó, nhận thức của chúng ta không phải là nhận thức các sự vật vốn có, mà là nhận thức những ký hiệu, nhận thửc cái “thay mặt’ sự vật. Ở đây Ốccam đã đưa hoài nghi luận vào trong nhận thức luận.

Trong lý luận nhận thức của mình, Ốccam cũng chia nhận thức làm hai loại: nhận thức trực giác (ông hiểu là nhận thức kinh nghiệm) vì nhận thức trừu tượng. Nhận thức trực giác được ông đặt cao hơn nhận thức trừu tượng, nó bao gồm cảm tính và sự tự quan sát. Vì chỉ có những sự vật riêng lẻ là tồn tại thực, nên nhận thức thế giới khách quan được bẩt đầu từ kinh nghiệm thông qua cảm giác.

Trong lý thuyết đạo đức, Ốccam cũng phát triển quan điểm của ĐơnXcốt. Ông phủ nhận sự khác nhau tuyệt đối giữa điều thiện và điều ác. Vì theo ông ý chí của Thượng đế có thế biến hành vi tội lỗi của con người thành hành vi tốt.

Tóm lại, xã hội phong kiến Tây Âu trung cổ là xã hội thống trị bởi hệ tư tưởng tôn giáo. Triết học chính thức của xã hội đó là chủ nghĩa kinh viện thấm nhuần tinh thần duy tâm chủ nghĩa, coi khinh mọi tri thức, phương pháp quan sát thực nghiệm. Hầu hết các nhà tư tưởng của trào lưu triết học này đều đặt mục đích cao nhất là phục vụ tôn giáo và nhà thờ, nên đã ra sức xuyên tạc học thuyết của các nhà triết học tiến bộ thời cổ, đặc biệt là của Arixtốt.

Tuy nhiên, trong sự thống trị nặng nề của tôn giáo và thần học thời kỳ này cũng đã xuất hiện cuộc đấu tranh của các xu hướng duy vật trong triết học và trong các phong trào tà giáo chống lại chủ nghĩa ngu dân của nhà thờ. Tà giáo phát triển mạnh cũng là biểu hiện về mật tư tưởng những phong trào của nhân dân chống lại sự thống trị của giai cấp phong kiên quý tộc và Giáo hoàng chính thống.

Như vậy, xã hội phong kiến Tây Âu thời trung cổ và nền triết học của nó không phải là sự “đứt đoạn” hay “sụp đổ” của tiến trình lịch sử. Lịch sử triết học thời kỳ này dù rất phức tạp và đầy mâu thuẫn, nó vẫn chứa đựng những nhân tố chuẩn bị cho sự khôi phục những học thuvết duy vật thời cổ đại và phát triển chúng trong thời đại của chủ nghĩa tư bản.

chúng tôi

【#4】Để Triết Học Không Còn Là Nỗi Ám Ảnh Của Sinh Viên

Triết học là nỗi ám ảnh của nhiều bạn sinh viên, ngay cả đối với những bạn là sinh viên Luật – là những người cần phải học tốt môn này là nền tảng lý luận để phục vụ cho các môn học Luật sau này.

Vậy làm gì để không còn ám ảnh môn Triết học? Mình sẽ giúp các bạn làm chuyện đó!

Trước tiên, bạn phải hiểu thế nào là chủ nghĩa duy tâm, thế nào là chủ nghĩa duy vật.

Phép biện chứng duy vật gồm 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phạm trù:

Mọi sự vật, hiện tượng tồn tại luôn có mối quan hệ tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào mà chỉ tồn tại một cách độc lập, tách rời nhau, từ đó, rút ra được bài học thực tế:

+ Muốn nhận xét đúng một sự việc hoặc sự vật, hiện tượng cần phải xem xét chúng ở các mặt, các phương diện và yếu tố để đánh giá chính xác, tránh quan điểm phiến diện, chỉ nhìn vào một sự việc mà đánh giá chung cho toàn bộ. Điển hình đó là câu chuyện “Thầy bói xem voi”

+ Đồng thời, cần phải đặt các sự việc hoặc sự vật, hiện tượng đó trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử khác nhau để đánh giá. Điển hình là khi đưa ra bản án cho một kẻ phạm tội trộm cắp cần phải xem xét rằng tiền sử của người đó đã từng phạm tội hay chưa, nếu chưa thì lý do gì mà người đó phạm tội, có thể vì lý do đang túng thiếu cần tiền chữa bệnh cho con để thực hiện hành vi chẳng hạn, từ đó mới xem xét giảm án thích hợp cho người này.

Mọi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong trạng thái vận động và phát triển theo đường xoắn ốc, cái mới ra đời thay thế cái cũ, trên cơ sở cái cũ. Nhận thức được nguyên lý này, bạn phải hiểu rằng mọi thứ luôn cần phải có thời gian tích lũy, khi tích lũy đạt đến một mức độ nhất định thì đòi hỏi bạn phải bước tiến lên một bậc mới, tiến bộ hơn, phát triển hơn.

Từ đó cần phải tránh tâm lý ù lì, không chấp nhận sự phát triển như một quy luật tất yếu hoặc nôn nóng, chưa tích lũy đủ mà đã muốn tiến lên bậc mới.

3 quy luật: Quy luật lượng – chất, quy luật mâu thuẫn và quy luật phủ định của phủ định

Lượng là cái thường xuyên biến đổi, còn chất là cái tương đối ổn định, lượng biến đổi đến một mức độ nhất định sẽ chuyển hóa thành chất mới thay thế chất cũ.

Trong quy luật này có dùng một số từ như “độ”, “bước nhảy”, “điểm nút”. Cụ thể: Độ là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật, điểm nút là thời điểm mà tại đó, sự thay đổi về lượng đủ để làm thay đổi về chất của sự vật và bước nhảy là chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật.

Lấy một ví dụ cụ thể cho các bạn về quy luật này như sau:

Sinh viên tích lũy một lượng kiến thức đủ mới trở thành cử nhân. Trong đó: lượng là lượng kiến thức phải đạt được, chất là sinh viên. Độ là từ năm 1 đến năm 4, còn điểm nút chính là năm 1 và năm 4, bước nhảy chính là từ sinh viên lên cử nhân. Lúc này, chất là cử nhân.

Rút ra bài học thực tế: Cần phải tích lũy đủ về lượng thì mới có thể thay đổi về chất, tránh tư tưởng nóng vội chưa tích lũy đủ về lượng đã muốn thay đổi về chất (chưa học xong đã muốn đi làm công việc mình đang học) hoặc bảo thủ, trì trệ khi đã tích lũy đủ về lượng nhưng lại không muốn thay đổi về chất (học xong rồi nhưng lại không muốn đi làm)

Trong mỗi sự vật, hiện tượng hay quá trình nào đó luôn chứa đựng những mặt, khuynh hướng đối lập nhau tạo thành những mâu thuẫn bên trong bản thân sự vật, hiện tượng đó. Và sự thống nhất, đấu tranh giữa các mặt đối lập này là nguồn gốc tạo nên sự vận động và phát triển, dẫn đến cái mới ra đời thay thế cái cũ.

Vì mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên cần phải phân tích, sự vật, hiện tượng để tìm ra những mâu thuẫn trong các mặt, khuynh hướng và mối liên hệ giữa chúng mà giải quyết, tránh việc điều hòa các mâu thuẫn đó.

Đơn cử là câu chuyện không biết thì phải học.

Cái mới ra đời thay thế cái cũ nhưng trên nền tảng kế thừa cái cũ. Cái mới này trong quá trình phát triển tiếp theo lại dần trở nên cũ, lỗi thời nên nó lại bị phủ định bởi một cái mới cao hơn. Cứ như thế mà thông qua số lần phủ định kế tiếp nhau mà sự vật, hiện tượng sẽ phát triển không ngừng theo đường xoắn ốc.

Điển hình là văn bản pháp luật mới ra đời luôn dựa trên nền tảng của văn bản pháp luật cũ, giữ lại những điểm hay của văn bản pháp luật cũ, đồng thời bãi bỏ những điểm chưa hay, chưa tốt để thay thế bằng điểm mới hay hơn, tốt hơn tại văn bản pháp luật mới.

Rút ra được bài học thực tế: Cái mới ra đời là tất yếu, cái mới thay thế cái cũ, nhưng dựa trên nền tảng cái cũ, tránh phủ định sạch trơn cái cũ hoặc là không đón nhận sự ra đời của cái mới.

6 cặp phạm trù: Cái riêng và cái chung; Nguyên nhân và kết quả; Tất nhiên và ngẫu nhiên; Nội dung và hình thức; Bản chất và hiện tượng; Khả năng và hiện thực

Ví dụ: mỗi con người là một thực thể riêng biệt, phân tích kỹ bên trong mỗi con người đều có những điểm chung như đều có khối óc có thể điều khiển được hành vi của mình và trái tim cảm nhận được thế giới xung quanh.

Ví dụ: Gieo nhân nào thì gặt quả nấy.

Ví dụ: Để đạt được kết quả tốt trong học tập thì chăm chỉ, siêng năng học tập là điều tất nhiên, nhưng nhưng đến ngày thi thì bị vấn đề về sức khỏe làm kết quả thi thấp là điều ngẫu nhiên.

Ví dụ: Nội dung một quyển sách như thế nào thì mới quyết định phải làm trang bìa như thế nào, nếu như nội dung vui nhộn nhưng trang bìa có cách bố trí tiêu đề và màu bìa là gam màu buồn thì không thể tạo sự hứng khởi cho người đọc quyết định đọc quyển sách đó.

Ví dụ: bản chất của nước là chất lỏng được thể hiện bằng hiện tượng

Ví dụ: Trước mắt, là giấy, bút và thước kẻ là hiện thực thì khả năng có thể tạo ra hộp đựng quà.

Lý luận nhận thức duy vật biện chứng là nhận thức và thực tiễn

Thực tiễn bao gồm hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội và hoạt động khoa học, trong đó, hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định, chi phối đối với các hoạt động còn lại. (Có tiền và tài sản rồi thì mới nghĩ đến chuyện đảm bảo ổn định an ninh xã hội và phát triển khoa học là tiền đề để tạo ra của cải, vật chất mới)

Mối liên hệ giữa thực tiễn và nhận thức: Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và tiêu chuẩn chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức. Thực tiễn là cơ sở và mục đích của nhận thức. Đồng thời, qua hoạt động thực tiễn đem lại cho con người những tài liệu cho nhận thức, giúp nhận thức nắm bắt được bản chất, quy luật vận động của thế giới.

Ví dụ: Khi học các môn vật lý, hóa học, học sinh thường được tham gia các buổi thí nghiệm song song với các buổi học lý thuyết, các buổi thí nghiệm này chính là thực tiễn để kiểm tra lại đúng đắn của lý thuyết mình vừa học. Đồng thời, trước khi đưa ra các chân lý thì các nhà khoa học đã có quá trình nghiên cứu thực tiễn để đưa ra quy luật.

Hết phần chủ nghĩa duy vật biện chứng, giờ đến phần chủ nghĩa duy vật lịch sử

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, cụ thể, trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất không ngừng phát triển, đến một trình độ nhất định thì quan hệ sản xuất cũ đã lỗi thời, cần phải đổi mới để phù hợp với lực lượng sản xuất mới. Quan hệ sản xuất cũng có tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, nếu phù hợp nó sẽ là động lực để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, bằng không sẽ kiềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Ví dụ: nguyên nhân tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa của các nước Đông Âu đó chính là không có sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, và ở nước ta cũng vậy, đã mắc phải sai lầm nóng vội, chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu quan hệ sản xuất bao cấp tập trung dân chủ, dẫn đến người lao động ỷ lại, trì trệ trong lao động sản xuất, không phát huy được sáng kiến mới thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sau này, tại Đại hội Đảng lần thứ VI, chúng ta mới dám nhìn thẳng nhìn đúng vào vấn đề để giải quyết tình trạng này, tuân thủ theo đúng quy luật.

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối liên hệ thống nhất với nhau, trong đó, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, song kiến trúc thượng tầng cũng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng.

Ví dụ: Tầng lớp nào nắm giữ quyền lực về kinh tế thì cũng sẽ nắm giữ quyền lực về chính trị xã hội.

Tồn tại xã hội có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức xã hội. Tồn tại xã hội như thế nào sẽ sinh ra ý thức xã hội như thế ấy, tức là người ta không thể tìm nguốc gốc tư tưởng trong đầu óc con người mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội.

Ví dụ: Mình không thể tìm ra ý tưởng để viết bài này khi không có sự tồn tại những ám ảnh khi học môn này của các bạn sinh viên.

Lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội, bao gồm:

– Hình thái kinh tế xã hội công xã nguyên thủy.

– Hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ.

– Hình thái kinh tế xã hội phong kiến

– Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản

– Hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa xã hội

Mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau sẽ tương ứng với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất khác nhau, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng khác nhau.

Như vậy, về cơ bản các bạn sinh viên chỉ cần nắm những nội dung cơ bản sau:

2. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Vật chất, ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, ý nghĩa phương pháp luận

Lý luận nhận thức duy vật biện chứng

– Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

– Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

– Tồn tại xã hội và ý thức xã hội

【#5】Tìm Hiểu Về Triết Học Kinh Viện

Triết học kinh viện là một thuật ngữ dịch từ chữ Scolasticus trong tiếng latinh nghĩa là triết học nhà trưởng, vì đó là môn học rất được chú trọng trong các trường đại học lúc bấy giờ.

Vào thế kỉ XII, tại các đình vương quốc Noócmăngđi trên đảo Xixilia và ở Trường đại học Tôlêdô ở Tây Ban Nha, các học giả đã tiến hành phiên dịch những tác phẩm của Hy Lạp cổ đại đã được dịch ra tiếng A Rập, đồng thời còn dịch các tác phẩm bằng tiếng Hy Lạp được bảo tồn ở Bidantium.

Việc dó đã làm cho sự hiểu biết của ngưởi Tây Âu càng được mở rộng. Nhưngcác nhà triết học kinh viện muốn khai thác các kiến thức ấy để phục vụ cho thần học, do đó đã vận dụng một cách xuyên tạc học thuyết của các triết gia Hy Lạp và Rôma cổ đại, nhất của Arixtôt. Người có thành tích lớn nhất về mặt này là Anbe (1 193-1280), một giáo sĩ người Đức. Ông đã chú thích loàn bộ các tác phẩm của Arixtôt thuộc các lĩnh vực lôgich học, siêu hình học, luân lí học, vật lí học, thiên văn học, địa lí học, động vật học, thực vật học ; qua đó chứng minh rằng giáo lí của đạo Kitô không hề trái ngược với triết học và khoa học tự nhiên. Chính vì sự hiểu biết uyên bác như vậy, nên ông dược gọi là Anbe “vĩ đại”.

Triết học kinh viện có một đặc điểm là áp dụng phương pháp biện luận cực kì rắc rối, rất chú trọng lôgich hình thức. Nói chung, các nhà triết học kinh viện cho ràng, đối với các hiện tượng tự nhiên người ta không cần phái quan sát, thí nghiệm mà chỉ cần dùng phương pháp tư duy trừu tượng cũns có thể đạt đến chân lí.

Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu về vấn đề khái niệm chung, các nhà triết học kinh viện đã chia làm hai phái là phái duy danh(nominalisme) và phái du thực(réalisme). Phái duy danh cho rằng khái niệm chung do tư duy củacon người sáng tạo ra là tên gọi của các vật thể riêng lẻ và các vật thể riêng lẻ có trước khái niệm chung. Còn phái duy thực thì cho rằng trước khi có một vật thể nào đó thì khái niệm về vật thể ấy đã tồn tại, đã có thực rồi. Như vậy, duy thực là chủ nghĩa duy tâm hoàn toàn, còn duy danh là trường phái có nhân tố của chủ nghĩa duy vật. Chính vì thế, tuy vẫn tin Chúa, nhưng các nhà duy danh thường bị giáo hội ngược đãi và rút phép thông công, trái lại những ngưởi duy thực rất được đề cao, trong đó người tiêu biếu nhất là Ackinat (Thomas Acquittas), quen gọi là Tômát Đacanh (Thomas d’Aquin).

Tômát Đacanh (1225-1274) là một giáo sĩ người Italia, là học trò của Anbe vĩ đại. Ông đã biên soạn nhiều tác phẩm trong đó quan trọng nhất là Thần học toàn thư(Somme Théologique). Tác phẩm này rất đồ sộ, được chia làm bốn phần, gồm 100 chương trong đó dùng quan điểm của giáo hội để giải quyết 1.000 vấn đề thần học và bác lại 10.000 thuyết. Ông cho rằng vũ trụ chia làm nhiều đẳng cấp, bắt đầu là phi sinh vật, dần dần lên đến người, tín đồ, thiên sứ, rồi cao nhất là Chúa trời. Mỗi một đẳng cấp thấp đều muốn vươn lên đẳng cấp cao, vì vậy cả hệ thống ấy đều hướng về Chúa Trời, Chúa là mục đích cuối cùng của vũ trụ.

Tác phẩm này được giáo hội thừa nhân là một sự tổng kết về giáo lí của đạo Thiên chúa. Do công lao ấy, sau khi ông chết không lâu, đến đầu thê kỉ XIV, ông được giáo hội phong thánh.

Trong số các nhà triết học kinh viện có một trưởng hợp ngoại lệ đặc biệt, đó là Rôgiơ Bêcơn (Roger Bacon, khoảng 1214-1292), một giáo sĩ ngưởi Anh và là Giáo sư Trường đại học Oxíớt.

Trái với Tômát Đacanh, Rôgiơ Bêcơn rất chú ý nghiên cứu vật lí học và hoá học, rất coi trọng phương pháp thí nghiệm và đã có nhiều cống hiến về mặt quang học. Chính ông là người đầu tiên giải thích hiện tượng cầu vồng và cũng là người đầu tiên ở châu Âu đem thuốc súng áp dụng vào lĩnh vực quân sự. Ông đã biết chú ý đến từ tính của nam châm, rất đề cao toán học, coi đó là cơ sở không thể thiếu được của tất cả mọi tri thức.

Đi trước thời đại của mình, ông có nhiều dự kiến thiên tài như người ta có thể chế tạo những loại kính “để ở cự li rất xa mà có thể đọc được những chữ rất nhỏ, phân biệt được những vật hết sức bé, quan sát các vì sao” ; có thể chế tạo được những chiếc thuyền đi biển và đi sông rất lớn mà chỉ cần một người điều khiển chứ không cần mái chèo. Ông cũng đã nghĩ đến chiếc xe bốn bánh chạy rất nhanh mà không cần ngựa kéo, nghĩ đến máy bay “người ngồi trong đó, cánh đập không khí bay như chim”, nghĩ đến cần trục, đến cầu không có cột v.v..

Do những hiểu biết sâu rộng ấy, ông được gọi là “nhà bác học đáng khâm phục”, nhưng cũng vì những đề xuất mạnh dạn ấy, ông bị giáo hội kết tội là một tên phù thuỷ đề xướng dị đoan và bị bắt bỏ ngục. Mãi 14 năm sau ông mới được tha. Lúc đó, ông đã rất già yếu nên hai năm thì chết.Sang thế ki XIV, triết học kinh viện bắt đầu suy thoái. Từ đấy, các nhàtriết học kinh viện không nghiên cứu khoa học tự nhiên và cáctác phẩm cổ điển nữa mà chỉ làm công viêc biên hô cho giáo lí của đaoThiên chúa, đồng thời họ đấu tranh mạnh mẽ với những nhà khoa học của giai cấp tưsản mới ra đời tức là những ngưởi theo chủ nghĩa nhân văn

【#6】Triết Học Về Vật Chất

I. M. Bochenski. Triết học tây phương hiện đại. Chương II: “Triết học về vật chất (Triết lý Duy vật)”. Tuệ Sỹ dịch, Nxb. Ca Dao, 1969, tr. 84-130

Nhiều phong trào khác nhau được bao gồm dưới đầu đề tổng quát này: triết học của Russell, tân thực chứng luận (néo-positivisme), và duy vật biện chứng (matérialisme dialectique). Các hệ thống này có thể là không quan trọng lắm, theo quan điểm triết học hạn hẹp, nhưng chúng gây ảnh hưởng trên một phạm vi rộng lớn hơn bất cứ một trào lưu triết học nào khác. Lý do thành công vượt mức của chúng thật dễ hiểu, vì rằng chúng đang làm sống lại những ý niệm đích thực quan trọng trong triết học hằng trăm năm về trước và quảng đại quần chúng luôn luôn chậm trễ khoảng một thế kỷ đằng sau sự phát triển của triết học khoa học.

Tất cả các triết gia thuộc nhóm này đều là chủ duy nhiên (naturalistes) những nhà duy khoa học; họ là những nhà chủ lý (rationalistes) công khai, hướng về chủ nghĩa duy vật phần nào. Họ là những nhà duy nhiên, theo đó họ coi con người một cách đơn giản là một thành phần toàn bộ của thiên nhiên và không thừa nhận có sự sai biệt nào giữa chính con người và những sinh thể thiên nhiên khác. Họ là những nhà duy khoa học vì họ tin tưởng tuyệt đối rằng khoa học thiên nhiên là thẩm quyền tối thượng. Như vậy, với họ duy chỉ có những phương pháp của khoa học thiên nhiên mới có thể nắm được thực tại, và bất cứ điều gì không thể tương xứng với những phương pháp này đáng được coi là những ngụy đề (pseudo-problèmes), và tất cánh là vô nghĩa: họ không công nhận kinh nghiệm đạo đức, thẩm mỹ và tôn giáo cung cấp thêm những nguồn mạch của nhận thức. Như thế, một lập trường chống tôn giáo quyết liệt điển hình là Russell và những nhà duy vật biện chứng. Với họ, phận sự duy nhất của triết học là để phân tích những khái niệm của khoa học thiên nhiên hay tổng hợp những thành quả của nó, ngược lại là vô nghĩa. Dù phần lớn môn đệ của các trường phái này không thể đi đến hoàn toàn duy vật, nhưng các khuynh hướng rõ rệt duy vật đều có mặt tất cả ở họ. Ngay cả những nhà tân thực chứng cũng chỉ khảo cứu những hiện tượng vật chất mà thôi; theo họ, bàn luận về những hiện tượng tinh thần là vô vị. Sau hết, tất cả những tư tưởng gia này đều rõ ràng là chủ lý với ý nghĩa là họ đặt tin tưởng của mình ở những phương pháp thuần lý và phân tích.

Để hiểu rõ những học thuyết triết học của Russell và tân thực chứng trong sự liên tục lịch sử của chúng, chúng ta sẽ giới thiệu một cách vắn tắt về chủ nghĩa tân duy thực ở Anh. Đúng ra, điều này nên bàn ở sau này, có thể trong liên lạc với hiện tượng học, vì nó là một trong những phong trào tiền phong của thời đại mới đã dẫn đến sự kiến thiết siêu hình học và luận lý toán học ngày nay. Đặc biệt ta chỉ cần ghi nhận rằng mặc dù phong trào tân duy thực dính chặt với duy nhiên khoa học nhưng nó có tầm quan trọng lớn hơn vì nó dẫn một số tư tưởng gia (Whitehead) đến một thế giới quan hầu như chủ Platon.

A. TÂN DUY THỰC

Hậu bán thế kỷ XIX ở Anh chứng kiến sự xuất hiện của một phong trào duy thực. Chắc chắn nó rất yếu, không đủ sức để hình thành một trường phái, cũng không thách đấu trào lưu duy tâm của Bradley và Bosanquet đang ngự trị. Dù vậy, nó đã có thể công bố một số đại biểu quan trọng: tỉ dụ, Robert Adamson (1852-1902) , vẫn còn là một người chủ Kant nhưng vào cuối đời thì bước sang duy thực phê phán (réalisme critique); George Dawes Hicks (1862-1941) với học thuyết về ý hướng tính, nó dẫn ông đến gần Meinong và Husserl và ông giữ địa vị lưng chừng giữa duy tâm và tân duy thực; Thomas Case (1844-1925), duy thực phê phán, ông nghĩ là mình có thể luận về bản thân của sự vật từ những ngoại ảnh; và nhiều vị khác.

George Edward Moore (-1873) khai sinh phong trào tân duy thực khi ấn hành bài báo nổi tiếng của ông năm 1903: The Refutation of Idealism. Ảnh hưởng của Moore trên triết học Anh hiện đại rất rộng khiến cho không một ai ngoài Bergson hay James có thể so sánh với ông.

Thế hệ thứ nhấ: C. Leyod Morgan (1852-1936), Alfred North Whitehead (1861-1947), Sir T. Percy Nunn (1870-1944), Bertrand Russell (-1873), Sammul Alexander (1859-1938), Charlie Dunbar Broad (-1877), John Laird (1859-1945); thế hệ thứ hai: C.E.M. Joad (1891-1953), H.H. Price (-1899), chúng tôi (-1899), và Gillbert Ryle (-1900). Tất cả chịu ảnh hưởng của Moore. Vì Morgan, Alexander, Whitehead và Laird, mỗi người đều xây dựng một siêu hình học nên ta sẽ bàn về họ trong một đoạn khác. Về những triết gia khác, Russell quan trọng nhất cả về ảnh hưởng và về sản lượng của ông nên mục này sẽ viết về học thuyết của ông, sau một thoáng nhìn về các đặc điểm của tân duy thực.

B. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA TÂN DUY THỰC

Đúng như danh hiệu tiêu biểu, những nhà tân duy thực nước Anh đối lập với những nhà duy tâm qua chủ trương duy thực và trên đại thể duy thực trực tiếp; họ quả quyết rằng không những chỉ có thể trực tiếp lĩnh hội những ảnh tượng tinh thần mà còn cả thực tại siêu chủ quan nữa. Họ còn có thêm những sắc thái chung, đặc biệt là chủ trương duy nghiệm quả quyết của họ. Với họ, không có gì nghi ngờ rằng tất cả nhận thức của chúng ta khởi lên từ kinh nghiệm và phần lớn họ cho rằng nhất định kinh nghiệm phát xuất từ các giác quan. Sự thừa nhận định đề này thực là quảng bá suốt trong truyền thống Anh, kể từ Locke, Berkeley và Hume, và nhất là có thể cả từ Reid. Các nhà tân duy thực cũng nghiêng nặng về các khoa học thiên nhiên mà họ hầu như tất cả, đều coi những phương pháp của chúng là những phương pháp đích thực triết học. Những lưu tâm chính của họ là vật lý học và toán học, và những vấn đề lý thuyết thường là vấn đề số một đối với họ. Sự thực là, Moore đã xuất bản một tác phẩm quan trọng về luận lý, và Whitehead, cũng như Russell, thỉnh thoảng đặt sự chú tâm của mình vào những vấn đề đạo đức và tôn giáo, nhưng trên toàn thể, mối lưu tâm của các nhà tân duy thực là những vấn đề thuần lý thuyết về luận lý học, nhận thức luận, vật lý học hay sinh vật học.

Tuy nhiên, sắc thái nổi bật nhất của các nhà tân duy thực, là đường lối đi sâu vào sự nghiên cứu chi tiết những vấn đề của họ. Trước nhất, lập trường của họ là chống hệ thống và họ tấn công tất cả những cố gắng trước kia của triết học với chủ nghĩa phê phán gắt gao, và thường thường vô căn cứ. Ngay dù một số trong bọn họ vào những năm cuối đời mình đã khởi lên tư biện có hệ thống nhưng lúc nào họ cũng vẫn trung thành với phương pháp “hiển vi” – xu hướng tế phân các vấn đề và phân tích chúng. Về phương diện này, C.D.Broad là điển hình, nhưng tất cả bọn họ đều tán thành một phương pháp tương tự, và thường ứng dụng nó với sự tỉ mỉ lạ lùng. Trường phái tân duy thực rõ là trường phái phân tích.

C. BERTRAND RUSSELL: CÁ TÍNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

Bertrand Russell, sinh trong một gia đình quý tộc Anh; điều không thể chối cãi, ông là một trong những triết gia được đọc và được bàn đến nhiều nhất ở giữa hai trận thế chiến. Ông đã phô trương một hoạt động văn hóa có hiệu quả phi thường. Năm 1896, ông xuất bản tác phẩm đầu tiên, và sau đó cứ mỗi năm một hoặc hai tác phẩm cho đến 1947, ngoài vô số bài báo trong các tờ báo khác nhau không kể. Những xuất bản phồn thịnh này phản ảnh những mối bận tâm đa dạng của ông; không có một lĩnh vực triết học nào mà ông không thám hiểm tới. Thường thường, ông còn bận tâm đến những vấn đề khác như chủ trương hòa bình, vì bảo vệ nó mà ông bị cầm tù trong một thời gian suốt kỳ thế chiến I. Những tác phẩm của ông được phổ biến vượt mức. Tỉ dụ, trong khi không có một dịch phẩm bằng tiếng Đức nào về Whitehead, Alexander hay Broad cho đến thế chiến thứ II, thì 17 quyển sách của Russell đã được phiên dịch trước năm 1935. Rất minh bạch, rất “khoa học”, Russell đã là, và đang còn là một triết gia của một nhóm lớn vẫn trung thành với những lý tưởng thực chứng của thế kỷ XIX. Với chủ trương triệt để về chính trị và chống tôn giáo, được bày tỏ bằng ngôn ngữ sáng sủa, ông có vẻ là một thứ Voltaire kiểu mới – hiển nhiên là một dáng vóc nhỏ hơn. Với tất cả những điều này, Russell khác hẳn với những tác giả bình dân khác thuộc cùng loại, như Haeckel hay cả Voltaire, bởi vì ông không những chỉ có ảnh hưởng ở quảng đại quần chúng mà còn ở triết học Âu châu qua những công trình chuyên môn triết học của ông, những công trình ấy chỉ là đại chúng hóa.

Người ta cũng có thể phân biệt hai giai đoạn trong sự diễn tiến của ông. Trước hết, Russell chú tâm nghiên cứu về toán học mà theo ông hình như đó là mô thức cho triết học. Ông nói về toán học bằng sự nhiệt tâm của một đồ đệ Platon; quả thực, trong thời kỳ này ông là đồ đệ xác tín Platon. Ông quả quyết rằng ngoài những thực tại thường nghiệm còn có tổng thể (universaux) mà chúng ta tiếp nhận trực tiếp và chúng có một hiện hữu riêng của chúng, độc lập với các sự vật hay tâm. Đồng thời, ông coi triết học như là một khoa học diễn dịch có phần độc lập với kinh nghiệm giác quan. Từ thời kỳ này xuất hiện tác phẩm Principia Mathematica của ông, một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất của tư tưởng Âu châu ở thế kỷ XX.

Tuy nhiên, về sau Russell dần dần thay đổi lập trường. Trong khi Whitehead, người viết chung với ông tác phẩm to lớn Principia, đi sâu hơn vào siêu hình học, thì về phần Russell, ông quay về những nhà thực chứng luận. Vấn đề tổng thể (universaux) đối với ông hình như vô vị, siêu hình học bất cứ loại nào đều vô nghĩa, triết học không còn là diễn dịch mà được xác định một cách duy nghiệm, trong tinh thần truyền thống Anh. Ngay cả trong toán học, ông không còn bàn tới cái “mỹ” của Platon mà chỉ là một khí cụ đơn giản, thực tiễn, khoa học. Trong giai đoạn tư tưởng này Russell là một đại biểu của duy kinh khoa học. Ông tuyên bố rằng những phương pháp khoa học là duy nhất cung cấp nhận thức cho chúng ta; ông tin tưởng sự toàn thiện của nhân loại qua kỹ thuật, và hăng hái nói về sự tiến bộ. Chủ nghĩa duy thực của ông giống với của Hume, một thứ hoài nghi trầm trọng đè nặng trên mọi bước tiến của tư tưởng ông.

D. KHÁI NIỆM VỀ TRIẾT HỌC

Khái niệm về triết học mà ngày nay Russell chủ trì là chủ điểm của tất cả trường phái tân duy thực. Thêm nữa, ở phương diện này chính Russell chịu ảnh hưởng của Moore. Theo ông, triết học chính yếu phải là khoa học. Những vấn đề mà nó đặt ra phải được đưa ra từ những khoa học thiên nhiên và không phải từ những pháp điển tôn giáo hay đạo đức; lý tưởng của nó phải là một lý tưởng khoa học. Trong cứu cánh, lĩnh vực của nó duy nhất thiết lập bằng những vấn đề không thể nghiên cứu một cách khoa học được và như thế nó chỉ để sửa soạn lối đi cho khoa học. Tất cả chủ thuyết “lãng mạn” (romantisme), tất cả chủ thuyết “thần bí” (mysticisme) phải hoàn toàn loại hẳn. Ta cũng không nên tìm ở triết học một “phương thuốc cho những đau khổ tinh thần”; trái lại, bằng một cách kiên nhẫn và điềm tĩnh, người ta phải đào sâu vào chi tiết những khảo cứu.

Thoạt đầu, Russell không tin rằng triết học có thể đưa ra nhiều giải đáp chắc chắn. Vì tự bản chất, nó bị hạn hẹp vào lĩnh vực tiền khoa học, (région préscientifique) nên nó chỉ đưa ra những vấn đề hơn là giải quyết. Phận sự chính của nó là phê bình. Triết gia phải làm sáng tỏ những khái niệm, những kết cấu, và những phương pháp kiểm chứng của khoa học, và như thế liệt chúng vào một phân tích hoàn toàn luận lý. Thêm nữa, phương sách này sẽ được áp dụng như một kích thích tố và đồng thời nó sẽ hữu ích hơn những giải đáp mãi mãi không chắc chắn. Về sau, Russell trở thành nhà bất khả tri luận (agnostique) rõ rệt tin rằng chỉ có khoa học thiên nhiên mới thăm dò được thực tại và ở đây khoa học cũng không thể vượt qua tính chất cái nhiên (probabilité). Trên phương diện này một cách đơn giản, Russell đang tiếp tục truyền thống duy nghiệm và thực chứng, đặc biệt là của Hume và Mill.

E. DUY THỰC VÀ ĐA NGUYÊN LUẬN

Một trong những ách yếu của triết học Russell cũng như của Moore và phần lớn các nhà duy thực Anh, là chủ thuyết phê bình học thuyết Bradley về những tương quan nội tại. Với Russell, không có tương quan nội tại (relations internes) tất cả những tương quan hiện hữu đều là những tương quan ngoại tại thêm vào tính thể của sự thể đã hiện hữu,vì vậy, bất cứ bằng cách nào, tính thể của sự thể ấy không phụ thuộc vào những tương quan này. Như thế, Russell gạt bỏ tôn chỉ căn bản của học thuyết Bradley. Cũng thế, ông gạt bỏ hai kết luận chủ chốt của Bradley bằng cách bênh vực đa nguyên luận và phân biệt sở tri với chủ tri. Đa nguyên luận là khía cạnh sơ bản của toàn thể phong trào triết học này, theo đó thế giới được coi là gồm nhiều nguyên tử rời rạc, có thể là vô số, được kết hợp lại qua những tương quan ngoại tại. Về sau, Russell phát triển đa nguyên luận này thành thuyết nguyên tử luận lý (atomisme logique), học thuyết cho rằng thế giới do các dữ kiện giác quan liên kết với nhau bằng những tương quan hoàn toàn luận lý. Duy tâm luận Hegel cũng bị bác bỏ, căn cứ vào duy thực trực tiếp. Mối bận tâm với Leiniz và những nghiên cứu toán học đã đưa Russell đến đa nguyên luận này.

Sự áp dụng đa nguyên luận vào nhận thức luận đã dẫn đến những hậu quả quan trọng của triết học. Khi tống khứ khách quan duy tâm luận bằng lý thuyết về những tương quan ngoại tại của mình, Moore và Russell cùng tấn công mãnh liệt chủ quan luận duy tâm của Berkeley và chúng đô đệ. Với duy tâm luận này, chúng ta chỉ biết được các yếu tố của tâm thức, tức là những ý tưởng; thế giới siêu chủ quan trốn khỏi nhận thức của chúng ta.Các nhà chủ duy thực bây giờ gạt bỏ lý thuyết này, cho là một võng luận (paralogisme) vụng về; rõ ràng Berkeley lẫn lộn hai nghĩa của chữ “ý tưởng” (idée), nó có thể vừa chỉ cho hành động nhận thức, và vừa sự thể được nhận thức. Sự thể được nhận thức không cần phải luôn luôn hiện hữu trong ý thức, nó có thể hiện hữu ở ngoài ý thức và khác với chủ tri. Duy thực trực tiếp được thiết lập bằng cách đó.

Tuy nhiên, với Russell, vật chất không thể nhận thức trực tiếp được dù là thực hữu, chúng ta chỉ nhận thức những dữ kiện giác quan (Moore cũng chủ trương như thế). Tỉ dụ, màu sắc của cái bàn, tính chất cứng của nó và tiếng động nó phát ra khi chúng ta vỗ tay vào, chắc chắn đều là những thực tại, nhưng chúng không phải là những tự hữu của cái bàn. Điều này có thể chứng tỏ rằng mỗi người kinh nghiệm những dữ kiện giác quan khác nhau. Sự định vị của những dữ kiện giác quan sai biệt tùy theo giác quan tiếp nhận chúng, và như vậy, tùy theo nhân cách tiếp nhận chúng. Sự giả định theo đó những dữ kiện giác quan có một sự thể ở bên dưới chúng là kết quả của quy nạp thuần túy, và không một chứng cứ trực tiếp nào có thể đưa ra cho nó. Khởi đầu, Russell chủ trương rằng hiện hữu của một sự thể như thế phải được hiểu như là một giải thích đơn giản về những dữ kiện giác quan, nhưng về sau, ông thay đổi ý kiến và tiến tới lý thuyết “nguyên tử”, theo đó thế giới gồm những dữ kiện giác quan liên kết với nhau một cách có luận lý. Điều cần phải nhấn mạnh rằng lý thuyết này không thể được đặt ngang với duy tượng luận (phénoménalisme) cổ điển theo đó các dữ kiện giác quan được coi như là những thực tại phi tâm độc lập với bất cứ chủ tri nào ngay cả với một chủ tri siêu nghiệm hay tuyệt đối. Với Russell, chúng là những thành tố của thế giới thực hữu, mặc dù hoàn toàn không có những bản thể. Điều này phù hợp với học thuyết của Hume.

Trong giai đoạn đầu, Russell cũng chủ trương rằng, ngoài tri giác thuộc những dữ kiện giác quan còn có một nhận thức trực tiếp về những tổng thể (universaux). Tỉ dụ, không những chúng ta chỉ biết được London và Edinburgh mà còn cả mối tương quan (ngoại tại!) giữa hai thành phố này. Nhưng mối tương quan đó không phải thuộc tinh thần chủ quan (vì dù ta có biết hay không biết nó, nó vẫn hiện hữu), cũng không phải là một sự kiện vật lý (vì thực tại vật lý nhất quyết được tổ hợp bằng những dữ kiện giác quan) – quả thực, đó là một thứ lý niệm (idée) kiểu Platon hiện hữu bằng đặc quyền của nó.

Russell còn khai triển thêm lý thuyết của mình bằng cách bênh vực lập trường cổ điển Platon. Nhưng về sau ông chấp nhận một quan điểm bất khả tri luận tương tự với thực chứng luận.

F. TÂM LÝ HỌC

Thoạt kỳ thủy, Russell nghi ngờ không biết có hay không có một nhận thức trực tiếp về bản ngã, và ngã sang thừa nhận thái độ của Hume, theo đó linh hồn con người, một cách đơn giản, được coi như là một liên hợp của các ý tưởng. Trong The Analysis of Mind, Russell công khai tuyên bố thái độ này và khai triển nó theo một kiểu cách độc đáo; nó giữ thái độ trung lập đối với duy vật và duy tâm và tiến tới chủ trương rằng không phải vật chất hay tinh thần mà chỉ là những dữ kiện giác quan, chúng được tổ hợp một cách sai biệt và được kiểm soát bằng những định luật sai biệt. Những dữ kiện giác quan của những sở tri sai biệt (tỉ dụ: các ngôi sao), nhìn từ một quan điểm duy nhất, tạo ra tinh thần; những dữ kiện giác quan của những chủ tri sai biệt (tỉ dụ: nhiều khía cạnh khác nhau của cùng một ngôi sao) tạo nên cái gọi là vật chất. Đằng khác, những định luật tâm lý và vật lý khác nhau. Những hiện tượng tâm lý được hạn định bằng “ký ức tất định luận” (déterminisme mémonique) hình như phát xuất từ tất định luận về thần kinh hệ; chủ quan tính cũng là một đặc điểm của tâm và được cắt nghĩa, theo phương diện vật chất, là một sự tập trung những dữ kiện giác quan vào một chỗ (óc não). Trường hợp những sự kiện tâm lý hiện hữu ở ý thức theo Russell chưa đủ lẽ để coi chúng chính là tinh thần, bởi vì chúng không luôn luôn hiện hữu trong ý thức; và cũng không thể quy định chúng bằng những khái niệm như taapjo quán, ký ức hay tư tưởng bởi vì những thứ này là những thiết định của ký ức tất định luận.

Russell thú nhận xu hướng thiên duy vật của mình nhưng điều kiện hiện tại của khoa học và học thuyết của ông không cho phép ông chấp nhận thuyết duy vật trong toàn bộ của nó. Tuy nhiên ông quả quyết rằng các hiện tượng tâm lý hoàn toàn phụ thuộc các hiện tượng vật lý học, dĩ nhiên, thế là phủ nhận hiện hữu của một linh hồn làm bản thể. Dù vậy, theo ông các hiện tượng tâm lý hiện hữu hơn vật chất bởi vì vật chất không được mang đến một cách trực tiếp và nó được thiết lập bằng diễn dịch và tổ hợp.

G. ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO

Con người là một phần vô nghĩa của thiên nhiên; những tư tưởng của nó đều là kết quả của các biến tượng trong óc não nó và của những định luật thiên nhiên. Khoa học thiên nhiên, nguồn mạch độc nhất của nhận thức hoàn toàn không biện minh cho tin tưởng Thượng đế hay lẽ bất tử. Thêm nữa, chủ trương về bất tử tính là vô nghĩa, bởi vì nếu linh hồn bất tử, nó sẽ phải chiếm đoạt toàn thể không gian. Tôn giáo được đặt trên sự sợ hãi, và do đó là một tội ác: nó là kẻ thù của mọi lẽ thiện và mọi sự đoan chính trong thế giới ngày nay, và là triệu chứng của con người ấu trĩ.

Con người có thể chỉ là một mảnh vụn vô nghĩa của thiên nhiên trong trật tự của hiện hữu nhưng nó hưởng một địa vị hoàn toàn sai biệt trong trật tự của những giá trị vượt xa giá trị của hiện hữu. Chúng ta tự do sáng tạo những lý tưởng sinh tồn của mình; và lý tưởng đó, Russell đề nghị là lý tưởng về “đời sống tốt đẹp”, một đời sống của yêu thương đậm đà được hướng dẫn bởi ánh sáng của hiểu biết. Định đề đạo đức này là tất cả những gì chúng ta cần có. Mọi thứ đạo đức lý thuyết đều hời hợt. Để đánh giá điều này, người ta chỉ cần đặt mình vào địa vị một người mẹ với người con đang ốm của bà; điều mà bà ta cần không phải là một nhà đạo đức nhưng là một bác sĩ giỏi. Chắc chắn những luật lệ của đạo đức thực tiễn đều cần thiết nhưng, đáng tiếc, những luật lệ ngày nay thường đứng lại trên những khái niệm mê tín, như ta thấy trong tất cả bộ luật về nam nữ (moralité sexuelle), kể cả chế độ đơn hôn (monogamie) và hình luật. Lý tưởng giải thoát cá nhân là một khái niệm quý tộc vì đối lập với lý tưởng dân chủ là giải thoát xã hội, cũng sai lầm như vậy. Hạnh phúc là mục đích những khát vọng chúng ta và có thể đạt được bằng cách trấn áp sự sợ hãi, bằng cách củng cố cá tính giáo dục, và bằng cách toàn thiện toàn thể loài người. Sự tiến bộ rộng lớn có thể hoàn thành được khi mà con người không còn bám chặt lấy sự kính phục mê tín đối với thiên nhiên, bởi vì toàn thể thiên nhiên, kể cả con người, phải trở thành một đối tượng của luận giải khoa học nếu chúng ta mong đạt tới hạnh phúc.

A. THỈ TỔ VÀ NHỮNG ĐẠI DIỆN CHÍNH YẾU

Ngày nay, công trình hoàn toàn mới mẻ của duy nghiệm luận chỉ được tìm thấy trong trường phái thực chứng luận, bắt nguồn từ thực chứng luận cổ điển của Comte và Mill, và vọng lại duy nghiệm luận Anh ở thế kỷ XVIII. Song, tiền nhân trực tiếp của nó là duy nghiệm luận Đức. Chính Joseph Petzoldt (1862-1929), học trò của Avenarius, đã lái trường phái sang chiều hướng của tạp chí Annalen der Philosophie, tạp chí đã ra đời Erkenntnis, tờ báo quan trọng nhất của trường phái tân thực chứng giữa năm 1930 và 1938. Ngoài duy nghiệm phê bình (empiriocriticisme) ra, ảnh hưởng nặng nhất trên tân thực chứng luận là phê bình khoa học ở Pháp, học thuyết Russell, và sự phát triển trong ngành luận lý toán học và tân vật lý học (Einstein).

Ngoài nước Đức ra, tân thực chứng luận chỉ tạo được ảnh hưởng lớn ở Anh. Ở đây, ngay cả bây giờ, nó là trường phái chính. Một số triết gia có liên hệ chặt chẽ với nó ít nhiều, tỉ dụ, nhóm đã lập nên tờ Analysis năm 1933: A.E. Ducan-Jones, S.A.Mace, L. Susan Stebbing, cả Alfred J. Ayer là những nhà tân thực chứng triệt để nhất, và nhất là Gilbert Ryle, triết gia Anh có lẽ có ảnh hưởng nhất của thời hiện đại. Một số khá lớn những nhà thực chứng luận, như John Wisdom ở Anh, có liên hệ hơi lỏng lẻo với những nhà tân thực chứng. Ở Pháp hiếm có những đại biểu nổi tiếng nào của tân thực chứng luận, nhưng nếu có thì phải kể Louis Rougier, General Charles, Ernst Vouillemin (người đã cố gắng quảng bá công trình của Nhóm thành Viene), và Maurice Boll.

B. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ TIẾN TRIỂN

Những nhà thực chứng luận hình thành một trường phái đúng nghĩa: cùng có một quan điểm căn bản chung và cùng sử dụng những phương pháp như nhau để tiến gần những vấn đề chung của họ. Thoạt kỳ thủy, họ tỏ ra hăng hái khác thường và tin tưởng một cách sâu xa rằng những quan điểm của họ tuyệt đối chính xác. Reichenbach, một trong những nhà lãnh đạo xưa kia, nhận xét chí lý rằng trường phái này chấp nhận một thái độ đặc biệt tôn giáo và ngay cả bè phái. Đằng khác ta phải công nhận rằng một ít đối thủ triết học của họ biết phán đoán học thuyết tân thực chứng với sự công bình khách quan, bởi vì, chắc chắn học thuyết này có tính chất cách mạng khiến cho nó đòi hỏi sự chấp nhận điều kiện hay sự đối lập công khai. Ngoài ra, nhóm thành Vienne khởi thủy được cổ vũ vởi một tinh thần “truyền đạo” hăng hái, lại ưa công kích và bút chiến nữa.

Kết hợp với đặc tính bè phái này là khuynh hướng cực kỳ duy lý, luận lý và phân tích, khiến cho nhìn bên ngoài những tác phẩm của tân thực chứng giống như một thứ chủ kinh viện kiểu mới; dù sao, từ thời trung cổ chúng ta đã không thấy một sự tin tưởng và kính phục luận lý học như thế. Lại nữa, trường phái tân thực chứng duy trì chủ khoa học cực đoan hơn cả tân duy thực hay duy vật biện chứng; nó nhận định rằng phận sự duy nhất của triết học là phân tích ngôn ngữ của những khoa học thiên nhiên, chúng hạn định một cách chật hẹp phương pháp luận của nó.

Tuy nhiên, một vài thay đổi trong tân thực chứng luận nên được bàn đến. Khởi thủy các đại biểu của nó tin rằng luận lý học trang bị cho họ một khí giới vững mạnh chống lại tất cả những triết học khác. Về sau họ tự thấy là không thể đề cập đến những vấn đề cổ truyền về nhận thức luận khi đang nằm ì trên tân luận lý – mà những trường phái khác cũng đang bắt đầu sử dụng. Sau hết, giai đoạn thứ ba, được phác họa trong học thuyết Reichenbach, mang đặc tính nhiều dung hợp hơn và ít giáo điều hơn đã biểu lộ trong những buổi đầu của trường phái Vienne.

C. LUDWIG WITTGENSTEIN

Những đường nét chính yếu của tân thực chứng luận đã được vẽ ra trong Logisch-philosophische Abhandlung (bản dịch: Tractatus Logico-philosophicus (1921) của Ludwig Wittgenstein học trò và là bạn của Russell, và cùng dạy tại Cambridge. Trong tác phẩm rất khó đọc tập hợp nhiều cách ngôn có đánh số này, Wittgenstein đi từ thuyết nguyên tử luận lý của Russell, theo đó thế giới được tạo nên bằng những sự kiện hoàn toàn độc lập với nhau. Nhận thức của chúng ta là một bản sao những sự kiện cụ thể này. Không có ngoại lệ, những mệnh đề toàn xưng (universal statements) – hoàn toàn là những “chức phận chân lý” (truth fuctions) của những mệnh đề đặc xưng (singular propositions); nghĩa là, chúng được thành lập từ những mệnh đề đặc xưng bằng các phương tiện của những tương quan luận lý. Tỉ dụ mệnh đề: “Mọi người đều phải chết” có cúng ý nghĩa như mệnh đề “Peter phải chết và John phải chết, v.v…” Luận lý học hoàn toàn chỉ có đặc tính trùng phức, nó không khẳng định được gì cả; những mệnh đề luận lý đều trống rỗng và chúng không truyền thông cho chúng ta được gì về thực tại. Thực tại phải được khảo cứu bằng khoa học thiên nhiên; triết học không phải là một học thuyết mà chỉ là một hoạt động.

Wittgenstein cũng có một lý thuyết về ngôn ngữ, theo đó người ta không thể nói đầy đủ ý nghĩa về ngôn ngữ và do đó một phân tích kiểu luận lý về văn pháp trở thành bất khả. Nhưng bởi vì tất cả những vấn đề triết học rút cuộc có thể giản lược vào phân tích này nên chún đặt ra những ngụy đề không giải quyết được. Wittgenstein kết luận quyển sách bí hiểm của ông với quan điểm rằng chính tác phẩm ấy cũng vô nghĩa: “Những gì người ta không thể nói được, vậy người ta phải im lặng” (Wo von man nicht spchen kann, dariiber muss man schweigen).

D. LUẬN LÝ VÀ KINH NGHIỆM

E. Ý NGHĨA CỦA MỆNH ĐỀ

Cũng nên thêm vào đây một thuyết lý khác đã làm cho trường phái này nổi tiếng: thuyết kiểm chứng (doctrine de la vérification). Với những nhà tân thực chứng, ý nghĩa của mệnh đề nằm ở phương pháp kiểm chứng nó, hay theo một công thức thích đáng hơn: “một mệnh đề có ý nghĩa nếu, và chỉ nếu, kiểm chứng được.”

Thực vậy, các nhà thực chứng luận nói, ta chỉ có thể biết được ý nghĩa của một mệnh đề nếu ta biết dưới điều kiện nào nó sai hay đúng; điều này có nghĩa rằng phương pháp kiểm chứng luôn luôn phải được đưa ra với ý nghĩa, và ngược lại; và thế, bằng định đề Leibniz về đồng nhất tính của những vô phân biệt thể (indiscernables), chúng trở thành cùng một sự thể.

Điều này đã là một lập trường khả cách mạng nhưng trở nên nghịch lý hơn bởi một thừa nhận thêm, thừa nhận chính yếu đối với học thuyết tân thực dụng; sự kiểm chứng luôn luôn phải là liên chủ thể, nghĩa là, nó phải thực hiện được ít nhất bởi hai quan sát viên. Nếu không được, thì chân lý của mệnh đề không chứng minh được và đó không phải là một mệnh đề khoa học. Nhưng vì mỗi kiểm chứng liên chủ thể được tạo ra do những giác quan, nên không có mệnh đề nào có thể được kiểm chứng khác hơn là những mệnh đề có tương quan với cơ thể và những vận động của nó; tất cả những mệnh đề của tâm lý học nội quan và triết học cổ điển đều không thể kiểm chứng, vì vậy, vô nghĩa. Tiếp theo ngôn ngữ của vật lý học ( chủ vật lý; phisicalisme) và mọi khoa học nên được thống nhất (ngôn ngữ thống nhất và khoa học thống nhất).

Còn một điều kiện cần phải đủ để một mệnh đề có ý nghĩa: phải thiết lập nó phù hợp theo những quy luật tạo cú của ngôn ngữ. Nói “con ngựa ăn” thì có nghĩa, nhưng nói “cái ăn ăn” thì vô nghĩa. Triết học cổ điển không chỉ cưỡng bức định đề căn bản về liên chủ thể mà thường chính cả cú pháp nữa. Một số những từ ngữ được các nhà hiện sinh sử dụng như thế có vẻ vô nghĩa. “Das Nichts nichtet” (Cái không có không có) của Heidegger là một thí dụ cổ điển cho trường hợp này. “Das Nicht” (cái không có) mang hình thức một thể ngữ (substantif) đúng, nhưng nó không phải là một thể ngữ theo ý nghĩa luận lý học: nó là dấu hiệu của sự phủ định và không thể nhận lãnh chức phận của một chủ từ.

Đi từ những định đề này các nhà tân thực chứng hăng hái đào bới những ngụy đề của triết học. Carnap phân biệt nhiều chức phận của ngôn ngữ; nó có thể xác nhận, hay có thể chỉ diễn tả những ước muốn và những cảm thức. Các triết gia cổ điển đã lẫn lộn hai chức phận này; những mệnh đề triết học của họ có vẻ diễn tả những cảm thức, nhưng chúng không xác nhận điều gì. Những vấn đề của họ, như duy thực hay hiện hữu của Thượng đế, đều là những ngụy đề, và cố giải quyết chúng chỉ tốn thời giờ. Triết học phải tự giới hạn vào việc phân tích ngôn ngữ khoa học bằng cách những phương pháp luận lý.

F. NHỮNG MỆNH ĐỀ THẢO BẢN

Các nhà tân thực chứng cố khám phá những nền tảng thuần túy thường nghiệm của khoa học thoát khỏi mọi kết cấu có tính cách luận lý. Họ coi khoa học như một cơ cấu của những mệnh đề được phối trí hợp luận lý. Cần phải khởi đầu với những mệnh đề căn bản nào đó, mà Carnap đặt tên cho chúng là “Những mệnh đề thảo bản” (Protokol sätze), bởi vì chúng được tìm thấy trong thảo bản của phòng thí nghiệm hay đài quan sát. Trong hình thức đơn thuần của chúng, chúng có thể diễn ra như sau: “X ở vào thời điểm T đã quan sát P tại vị trí L.”

Tuy nhiên, thuyết này chứa đựng những nan giải của nhiều thứ đa biệt. Về một phía, người ta có thể nhận xét rằng một mệnh đề thảo bản có thể bị nghi ngờ và được chứng nghiệm bằng một mệnh đề thảo bản khác. Tỉ dụ, tình trạng tinh thần của nhà vật lý học có thể bị nghi ngờ và do đó được ý sĩ thần kinh bệnh trắc nghiệm, và cứ thế sự việc diễn ra vô cùng tận. Những nan giải này đưa đến chỗ tranh luận sôi nổi ở nội bộ của trường phái, những tranh luận không mang lại kết quả cụ thể, đó là điều tự nhiên, bởi vì một hậu quả thuần luận lý như thế sẽ là một hoài nghi luận triệt để.

Về phía khác, người ta có thể tự hỏi một cách chính xác: cái cơ bản của chính mệnh đề thảo bản này là gì? Trung thành với nguồn gốc duy nghiệm phê bình của mình, các nhà tân thực chứng trả lời rằng đối tượng của kinh nghiệm chỉ có thể là những cảm giác – chúng ta không thể nhảy ra ngoài da thịt của mình để năm lấy thực tại. Những vấn đề về thực tại là những ngụy đề, bởi vì chúng ta bao giờ cũng chỉ bắt gặp những cảm giác mà thôi và chúng ta không bao giờ có thể kiểm chứng hiện hữu của mọi sự thể khác với những cảm giác của mình.

G. HANS REICHENBACH

Những khuynh hướng tân thực chứng tiếp nhận công thức khả quan nhất của họ nơi công trình của Reichenbach, nhưng phần lớn những nhà tân thực chứng không tán thành điều đó và đến lượt họ lại bị Reichenbach tấn công dữ dội. Ông ta đã áp dụng thuyết của mình để khu biệt những lĩnh vực triết học một cách rất lý thú, nhưng ở đây không thể quảng diễn được những phân tích ấy.

H. TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH

Sau cuộc chiến, những lý thuyết của nhóm triết gia này vẫn còn phát triển thêm trên chiều hướng mà Reichenbach đã để lại. Ngày nay, người ta nói về “triết học phân tích” phát xuất từ Moore và từ tân thực chứng luận. Người ta có thể phân biệt nhiều khuynh hướng ở nội bộ của “triết học phân tích” này. (1) Tiếp nối những giai đoạn sau cùng của tư tưởng Rudolf Carnap, các đồ đệ của ông cố lập những định nghĩa chính xác về những khái niệm căn bản của các khoa học trong khung khổ của một ngôn ngữ có định thức lý tưởng. (2) Trường phái của Moore, về phía khác, lấy “ngôn ngữ thường nhật” làm cơ sở và chủ trương rằng điều kiện tiên quyết của sự phân tích chính xác theo khoa học là phù hợp với tục thức. (3) Những chuyên viên trị liệu của Wittgenstein coi triết học như là một thứ trị liệu có tính cách luận lý đối với những ngụy đề, trị liệu phải được hướng dẫn cách tân thực chứng thực thụ. (4) Những nhà biện chứng. (Xem đoạn sau, tr. 114 và tiếp). (5) Ngoài ra, giữ các triết gia phân tích cần phải kể thêm những vị hoạt động trong một tư thế hoàn toàn độc lập và trình bày những quan điểm hoàn toàn khác với thực chứng luận, và những vị bận tâm với sự phân tích chính xác và tế vi về những khái niệm và những phương sách của khoa học và triết học, nhất là với sự phụ giúp của luận lý toán học Nhưng những vị này, và cả những nhà biện chứng không thể được coi như là những đại biểu của triết học về vật chất. Chỉ trong tính chất tương tự về những phương pháp của họ, họ mới có thể được đồng hóa với các triết gia phân tích.

Những phát triển mới mẻ hơn, hầu khắp cả Hoa Kỳ, đã làm suy yếu nguyên tắc khả chứng, làm suy yếu duy tượng, duy danh, và cả duy vật lý. Toàn thể phong trào này đã tiến đến gần chủ thực dụng một cách rõ rệt.

A. ĐẶC ĐIỂM

Duy vật biện chứng chiếm một vị trí hoàn toàn đặc biệt trong triết học Âu châu. Trước nhất nó có rất ít đại biểu tại những môi trường đại học ngoài Nga và các chư hầu ra, mà ở đó, ngược lại, nó được đặt làm môn triết học chính thức va do đó có những đặc quyền mà không một trường phái hiện đại nào khác có được. Ngoài ra, nó độc nhất, vì là triết học của một đảng chính trị – Đảng Cộng sản; vì thế, nó liên hệ chặt chẽ với những lý thuyết kinh tế và chính trị cũng như hoạt động thực tiễn của Đảng, và Đảng được coi là “lý thuyết tổng quát”. Ở Nga, nơi ở dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản, không một ai được phép giảng dạy một thứ triết học nào khác hơn duy vật biện chứng, và ngay cả giải thích về những bản văn triết học cổ điển của nó cũng bị giám thị nghiêm mật. Sự giám thị này – chắc chắn là hợp với cá tính quốc gia của Nga – tạo ra một sức thái kỳ lạ của những ấn phẩm duy vật biện chứng; những ấn phẩm này khác hẳn tất cả qua tính cách hoàn toàn nhất dạng của chúng. Tất cả các tác giả của chúng cùng nói một cách chính xác như nhau về một sự thể và cũng trích dẫn rất nhiều từ các tác giả cổ điển, những trích dẫn phải đưa ra những luận chứng cho các thể tài nóng hổi ngay hiện tiền. Có lẽ sự giám thị này là nguyên nhân cho tính chất tầm thường của các triết gia thuộc trường phái này. Dù sao, nó cũng phải mang óc giáo điều cực đoan, óc bài ngoại, và tính gây gỗ của các triết gia duy vật biện chứng.

Tuy nhiên, một khía cạnh quan trọng hơn những điểm đặc dị này, những điểm có thể là phụ thuộc, đó là đặc tính phản động của duy vật biện chứng, vì triết học này lôi thẳng về giữa thế kỷ XIX và tìm cách tái thiết sinh hoạt tinh thần của thời đại đó mà không một thay đổi nhỏ nhặt nào.

B. NGUỒN GỐC VÀ CÁC ĐẠI BIỂU

C. SỰ PHÁT TRIỂN Ở NGA

D. DUY VẬT

Theo duy vật, chỉ có một thế giới thực hữu, đó là thế giới vật chất, và tâm chỉ là sản phẩm của một cơ quan vật chất, óc não. Tương phản giữa tâm và vật không có giá trị gì ngoại trừ với nhận thức luận; thực tế chỉ có vật chất. Các nhà duy vật biện chứng hiển nhiên là phê bình các phái duy vật cổ, nhưng chủ phê bình của họ khôn nhằm chống lại duy vật ấy, nhưng nhất loạt nhắm vào sự thiếu sót một yếu tố biện chứng và một khái niệm đúng về sự tiến hóa.

Hiển nhiên, tầm mực của duy vật biện chứng lệ thuộc vào ý nghĩa mà người ta mang cho từ ngữ “vật”. Về phương diện này, một vài khó khăn được tạo ra bởi định nghĩa của Lenin theo đó vật chất chỉ là một “phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan”; và trong nhận thức luận của ông vật chất hoàn toàn đối lập với tâm bằng cách đồng hóa “vật chất” với “thực tại khách quan”. Nhưng chúng ta khỏi phải nghi ngờ về điểm này, bởi vì ở những nơi khác các nhà duy vật biện chứng chủ trương rằng chúng ta có thể biết được vật chất nhờ các giác quan, rằng vật chất nằm dưới những định luật nhân duyên và tất định (lois causales et déterminites), và rằng nó đối lập với tâm; vắn tắt, rõ ràng rằng, thông dụng chữ “vật chất” theo quan niệm các nhà duy vật biện chứng không có gì khác biệt với quan niệm phổ thông. Duy vật biện chứng là thứ duy vật cổ điển và triệt để.

E. TIẾN HÓA BIỆN CHỨNG: NHẤT NGUYÊN LUẬN VÀ TẤT ĐỊNH LUẬN

Vật chất ở trong sự tiến hóa liên tục hướng đến chỗ hình thành những thể tính càng phức tạp hơn: nguyên tử, phân tử, tế bào sống, thực vật, loài người, xã hội. Như thế, sự tiến hóa này không giống như một vòng tròn mà là đường thẳng. Ngoài ra, sự tiến hóa được diễn ra trong chiều lạc quan: giai đoạn cuối cùng luôn luôn phức tạp nhất, phức tạp nhất lại đồng nghĩa với tốt đẹp nhất và cao quý nhất. Các nhà duy vật biện chứng vẫn hoàn toàn duy trì tin tưởng của thế kỷ XIX vì sự tiến bộ bằng tiến hóa.

Theo họ, sự tiến hòa này gồm một chuỗi những biến cải: những thay đổi nhỏ về lượng trong tính thể của sự vật chồng chất lên nhau, tình trạng căng thẳng xuất hiện, một cuộc phấn đấu ra đời đến một thời hạn cố định thì những yếu tố mới trở nên đủ sức để hủy diệt sự thăng bằng và một tính chất mới khởi lên từ những thay đổi cho thế lực thúc đẩy của tiến hóa tiến hành bằng những bước nhảy: đó gọi là “tiến hóa biện chứng.”

Toàn thể dòng tiến hóa không có đích điểm, được hoàn thành vì kết quả của những xung đột và tương tranh dưới sự va chạm của những yếu tố thuần nguyên nhân. Nói một cách nghiêm xác, thế giới không có một ý nghĩa hay một mục đích gì và tiến hóa một cách mù quáng phù hợp theo những định luật vĩnh cửu và tất định.

Không có gì là thường; toàn thể thế giới và tất cả những yếu tố của nó đều bị lôi cuốn theo tiến hóa biện chứng; tại mọi nơi và khắp mọi thời, cái già chết đi và cái mới xuất hiện; không có những bản thể cố định và “những nguyên lý vĩnh cửu.” Chỉ có vật chất và những định luật về sự biến đổi của nó tồn tại miên viễn trong dòng lưu chuyển phổ quát.

Thế giới là một toàn thể nhất thống. Trái với siêu hình học (Marxists) coi thế giới như một đám những thực thể rời rạc, các nhà duy vật biện chứng là đại diện của một nhất nguyên luận theo hai nghĩa. Họ nhìn thế giới như một thực tại duy nhất (ngoài nó là hư vô, và nhất là không có Thượng đế), và họ coi nguyên lý của nó như là đồng nhất thể (nhị nguyên luận hay đa nguyên luận theo kiểu nào đều bị loại bỏ vì sai lầm).

Những định luật điều hành thế giới này là tất định theo nghĩa cổ điển của chữ này. Chắc chắn các nhà duy vật biện chứng, với nhiều lý do, không muốn bị xếp loại vào những chủ “tất định”, và vì thế, họ nói rằng, tỉ dụ sự sinh trưởng của một thực vật không hoàn toàn tất định bởi những định luật của thực vật đó, nhưng vì một yếu tố ngoại tại, như mưa đá chẳng hạn, có thể làm cho vô hiệu. Tuy nhiên, trong tương quan với toàn thể các sự vật, các nhà duy vật biện chứng cứng rắn cự tuyệt những ngẫu thể – những định luật của thế giới trong toàn thể tính của chúng ta đã tất định toàn bộ tiến trình của vũ trụ, không có ngoại lệ.

F. TÂM LÝ HỌC

Tâm, hay ý thức, chỉ là một hiện tượng phụ đới, một “bản sao, một phản chiếu, một bức ảnh” của vật chất (Lenin). Ý thức không thể hiện hữu mà không có thân thể và là một sản phẩm của óc não. Vật chất là dữ kiện sơ thủy, và ý thức (hay tâm) là thứ yếu; do đó, ý thức không phải là cái tất định cho vật chất, mà ngược lại, vật chất cho ý thức. Tâm lý học như thế là duy vật và tất định.

Tuy nhiên, tất định luận này tinh tế hơn của duy vật thuở trước. Vì một điều là các nhà duy vật biện chứng không muốn hoàn toàn là những chủ tất định, như chúng ta đã thấy trong tương quan với ngẫu thể. Tự do, theo họ là khả năng khiến những định luật của thiên nhiên thành hữu ích, dĩ nhiên, ngay cả con người cũng lệ thuộc vào những định luật này nhưng nó ý thức được vấn đề, và tự do của nó, một cách đơn giản, là ý thức về sự tất yếu (như với Hegel). Thêm nữa, họ trực tiếp mà hoạt động qua trung gian của xã hội.

Như thế con người chính yếu là xã hội, không thể sinh tồn ngoài xã hội; chỉ trong xã hội nó mới có thể sản xuất những nhu yếu của cuộc sống. Tuy nhiên, những phương tiện và phương pháp cho sự sản xuất như thế trước nhất hạn định những mối tương quan người và người và đến lượt chúng hạn định ý thức con người. Đó là đề tài của duy vật sử quan; mọi sự mà con người nghĩ, hay ước muốn, trong một phân tích cứu cánh, đều là một hậu quả những nhu cầu xã hội của nó, cũng như chúng kết quả do những phương pháp sản xuất và những tương quan xã hội được tạo nên bởi sự sản xuất này.

G. NHẬN THỨC LUẬN

Vì vật chất xác định, tất định ý thức, nên nhận thức phải được lĩnh hội trong một tư thái duy thực, chủ tri không tạo ra đối tượng, vì đối tượng hiện hữu độc lập với chủ tri; nhận thức kết quả từ sự kiện theo đó những bản sao, những phản chiếu, hay những bức ảnh của vật chất đều có mặt trong tâm. Thế giới không phải bất khả tri mà là hoàn toàn khả tri. Dĩ nhiên phương pháp chân thực để nhận thức duy chỉ là khoa học được kết hợp với sự thực hành có kỹ thuật; tiến trình kỹ thuật đủ chứng tỏ sự kém thế của tất cả bất khả tri luận. Dù nhận thức nhất thiết là nhận thức giác quan, tư tưởng thuần lý cũng cần thiết là nhận thứ giác quan, tư tưởng thuần lý cũng cần thiết để tổ chức những dữ kiện kinh nghiệm này. Thực chứng luận là một “trò phỉnh gạt trưởng giả” và là một “duy tâm luận”; bởi vì trên thực tế chúng ta nắm được yếu tính của các sự vật qua những hiện tượng.

Như thế nhận thức luận chủ Marx tự chứng tỏ một duy thực tuyệt đối và ngây thơ của một kiểu mẫu duy nghiệm thông thường. Đặc điểm của duy vật chủ Marx nằm ở sự kiện nó kết hợp quan điểm duy thực ấy với một quan điểm duy thực khác, thực dụng luận (pragmatisme). Từ quan niệm rằng mọi yếu tố của ý thức chúng ta đều được tất định bởi những nhu cầu kinh tế, thì tiếp theo đó mỗi giai cấp xã hội có khoa học riêng của nó và triết học riêng của nó. Một khoa học độc lập và biệt lập và bất khả: chân lý là những gì dẫn đến sự thành công, và, chỉ có sự thực hành thôi thiết lập tiêu chuẩn của chân lý.

Cả hai lý thuyết về nhận thức này được tìm thấy song song trong chủ nghĩa Marxist mà không một ai cố hết sức để điều hòa chúng. Phần lớn người ta công nhận rằng nhận thức chúng ta là một cố gắng cho chân lý tuyệt đối, nhưng bây giờ nó chỉ là tương đối và chỉ để trả lời cho những nhu cầu chúng ta thôi. Ở đây, lý thuyết ấy hình như rơi vào mâu thuẫn, vì nếu chân lý mà tương đối đối với những nhu cầu chúng ta thì nhận thức không bao giờ có thể là một bản sao của thực tại – ngay dù một bản sao phiến diện.

H. NHỮNG GIÁ TRỊ

Theo duy vật sử quan tất cả những nội dung của ý thức đều là kết quả của những nhu cầu kinh tế và rồi những nhu cầu ấy lại thay đổi liên tục. Điều này đặc biệt áp dụng cho luân lý, thẩm mỹ và tôn giáo.

Trên phương diện luân lý, duy vật sử quan không thừa nhận một quy tắc trường cửu nào cả và dạy rằng mỗi giai cấp xã hội có luân lý riêng của nó. Luật luân lý cao nhất là lẽ thiện giúp cho việc hủy diệt xã hội trưởng giả.

Về thẩm mỹ, những sự thể càng phức tạp hơn. Ta phải sẵn sàng công nhận rằng trong thực tại, trong bản thân những sự vật, hiện hữu một yếu tố khách quan hoạt động như là nền tảng của sự đánh giá thẩm mỹ của chúng ta và cho phép ta nhìn các sự vật vừa đẹp vừa hữu ích. Nhưng về phía khác sự định giá này cũng lệ thuộc sự tiến hóa; mỗi giai cấp có những nhu cầu riêng biệt của nó; mỗi giai cấp thẩm định giá trị theo cách thể riêng biệt của nó. Thế thì nghệ thuật không thể tách biệt khỏi cuộc sống, nó phải tham dự vào cuộc đấu tranh giai cấp; nó phải biểu trưng cho những cố gắng dũng cảm của lớp cần lao trong công cuộc đấu tranh để kiến thiết một thế giới theo xã hội chủ nghĩa (duy thực xã hội).

Sau hết, đối với tôn giáo, lý thuyết lại thay đổi thêm một lần nữa. Duy vật biện chứng coi tôn giáo như là một kết cấu của những quan niệm sai lầm và quái dị mà khoa học đã kết án, và chỉ có khoa học mới là con đường dẫn đến hiểu biết. Tôn giáo bắt nguồn từ sợ hãi; trong sự bất lực của mình trước thiên nhiên, và sau đó là đối diện với những kẻ lợi dụng, loài người thánh hóa những thế lực đó và cầu nguyện chúng, đồng thời tìm thấy ở tôn giáo và những tín ngưỡng thế giới trên kia một nguồn an ủi mà đời sống nô lệ và bị lợi dụng của họ không thể mang lại được. Tuy nhiên, những kẻ lợi dụng (bọn phong kiến, tư bản, v.v) coi tôn giáo như một phương tiện tốt nhất để đặt quần chúng vào dưới ách thống trị của chúng; trước hết là làm cho quần chúng vâng lời những kẻ lợi dụng họ và thứ đến là ngăn cản lớp lao động nổi loạn bằng cách hứa hẹn cho họ một số phận tốt đẹp hơn sau khi chết. Hạng lao động không lợi dụng một ai, và do đó không cần đến tôn giáo. Trong khi luân lý và thẩm mỹ chỉ bị thay đổi, tôn giáo hoàn toàn bị tiêu hủy.

Trực giác, cái nằm ở nền tảng của những hệ thống mà chúng ta vừa trình bày, chính là một thứ tình cảm sắc bén về những chiều kích lấn áp của vũ trụ, mà ở trong đó, con người chỉ là một hạt bụi vô nghĩa bị bỏ rơi vào một thế giới hững hờ hay đáng ghét nữa. Điều dễ hiểu, cái trực giác trên căn bản duy vật này phải được nối kết với một thái độ lãng mạn hào hùng. Lạc lối trong vụ trụ vô hạn, con người phải bảo vệ mình bằng sức mạnh của chính mình, bằng khoa học mà mình có, và điều này tạo ra sự tôn sùng khoa học và kỹ thuật và sự đăng quang của lý tính con người.

Dù cái trực giác ấy có là của chung của tất cả những nhà duy nghiệm, mà đằng khác vẫn còn những sai biệt như thế trong từng hệ thống khiến cho khó mà quy định phong trào này trong toàn bộ của nó. Đại đa số những đại biểu của nó điều tán dương khách quan tính và quyền lực tương đối hiểu biết của con người. Trên toàn thể, họ thừa nhận rằng dù một số ít cương quyết hơn, tinh thần không sáng tạo nên thế giới, rằng thế giới hiện hữu độc lập với tâm thức và rằng, một nhận thức bao quát thế giới là không thể có. Khi biện minh cho những quan niệm này, thì chính họ lại nhận lãnh việc ngăn chặn sự đe dọa từ chủ ngoại lý và chủ quan luận nguy hại đang đe dọa nền văn hóa Tây phương. Nhiều tư tưởng gia kể trên nhất là những triết gia phân tích, đã khiến cho sự tiến bộ của lý luận khoa học và phương pháp luận của khoa học thiên nhiên, rất là được việc.

Tuy nhiên, những sắc thái tiêu cực của các hệ thống này vẫn còn quá lộ liễu. (1) Họ thảy đều có khuynh hướng quay trở về một lập trường mà đời sống tinh thần của Âu châu đã vượt qua từ lâu, và thế là họ thiết lập nền triết học thoái hóa đối với thời đại chúng ta; điều này đặc biệt đúng cho duy vật biện chứng. (2) Về phương diện lý thuyết thì thật là yếu thế vô cùng. Khỏi phải nói, duy vật biện chứng thường thường tự hạn chế vào trình độ gần như là tiền Socrate, mà ngay cả thực chứng luận cũng nằm trên một thể luận chất phác và trên những tiền đề độc đoán mà các đại biểu của nó chưa từng xét lại. Tính chất một chiều của những hệ thống này thật là kì lạ. (3) Nhưng điều quan trọng nhất là không một hệ thống triết học nào ở đây có một giải đáp cho những vấn đề trọng đại của con người mà tư tưởng hiện đại đang vật lộn với chúng. Đối diện với sự khổ, luân lý và tôn giáo, họ thường bằng lòng với tuyên bố rằng những điều đó không mang lại những nghi vấn nào, hay chính ra những nghi vấn như thế mà được nêu lên chỉ là vô nghĩa. Vì xu hướng thoái hóa ấy, sự yếu kém mặt lý thuyết và sự thiếu sót của họ trước những vấn đề trọng đại về thân phận con người, những nền triết học này ít có giá trị trong tư tưởng hiện đại – ngoại trừ những kết quả thuần phương pháp học của các triết gia phân tích. Nhìn vào toàn thể, triết học hiện đại không những chỉ bỏ qua những kết luận của các nền triết học này mà còn bỏ lối đặt vấn đề của chúng.

Nguồn: Phiên bản điện tử do bạn Phạm Tấn Xuân Cao, sinh viên khoa Triết trường Đại học Huế, gửi cho triethoc.edu.vn.

【#7】Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa Là Gì?

Coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế là một trong những bước đột phá lớn về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực tiễn, bao giờ và ở đâu cũng vậy, muốn xây dựng một xã hội đương đại cũng cần có những con người tiêu biểu đại diện cho lực lượng phát triển của xã hội đó, mà lịch sử thường gọi là “thời đại” và “con người của thời đại”. Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH), theo học thuyết Mác-Lênin, là xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản (CNTB). Vì thế, giai cấp vô sản muốn thực hiện được sứ mệnh của mình, phải xây dựng được đội ngũ tiên phong của giai cấp, đáp ứng với mục tiêu phát triển của xã hội tốt đẹp đó. Theo V.I Lênin, giai cấp vô sản dù đã nắm được chính quyền, nhưng nếu không làm cho xã hội mới có trình độ phát triển cao hơn CNTB, thì giai cấp vô sản vẫn chưa xây dựng xong CNXH, thậm chí, “công cuộc xây dựng CNXH chỉ còn là một mớ sắc lệnh”(2). Trên thực tế, nếu xét đến cùng thì giải phóng xã hội vẫn phải được quyết định bởi năng suất lao động và tinh thần dân chủ. Đó là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của chế độ xã hội mới. Lênin từng chỉ ra: “CNTB chỉ có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn vì CNXH tạo ra nền dân chủ mới gấp triệu lần dân chủ tư sản và năng suất lao động mới cao hơn nhiều”(3).

Trên nền tảng lý luận Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là cuộc cách mạng sâu sắc nhất, triệt để nhất, chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Nhưng, “nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: CNXH không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”, để “ai cũng được làm việc, được ăn no mặc ấm, được học hành, người già yếu được giúp đỡ, các cháu bé thì được chăm sóc”(4). Người cũng chỉ rõ: “Trong sự nghiệp xây dựng CNXH, chúng ta nhất định có những khó khăn. Biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải là một chuyện dễ”(5). Điều lớn lao nhất của cách mạng XHCN là phải xây dựng được nền tảng, vật chất của CNXH. Mà muốn xây dựng được nền tảng, vật chất cho CNXH, điều quan trọng nhất lại phải có những con người XHCN theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì ý nghĩa đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng gắn với CNXH, Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm đến chủ thể xây dựng CNXH.

Theo Hồ Chí Minh, chủ thể xây dựng CNXH là “những con người mới XHCN”. Đó là những con người “có tư tưởng và tác phong XHCN”, “có ý thức làm chủ Nhà nước”, “thấm nhuần sâu sắc tinh thần tập thể XHCN và tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình”, “chăm lo việc nước như chăm lo việc nhà”, “biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ, đùn đẩy công việc”; đồng thời, phải biết “thắng được chủ nghĩa cá nhân, lợi mình hại người, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật và những tính xấu khác”, bởi nó là “kẻ địch nguy hiểm của CNXH”(6). Người còn chỉ rõ: CNXH là “do nhân dân tự xây dựng lấy”, “muốn xây dựng CNXH thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượng của mọi người ra để sản xuất… Muốn phát triển sức sản xuất thì trước hết phải nâng cao năng xuất lao động và muốn nâng cao năng suất lao động thì phải tổ chức lao động cho tốt”(7). Đây chính là một trong những tư tưởng đặc sắc, quan trọng nhất trong hệ thống tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.

Các giá trị cốt lõi về lý luận, văn hóa, tinh thần ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay, soi rọi vào mọi chủ trương, hành động trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta.

Lịch sử hiện nay đã có nhiều biến đổi, xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và mạng lưới hóa thông tin đang ngày càng phát triển, lan tỏa đến từng lĩnh vực trên khắp thế giới, tác động mạnh mẽ đến quan điểm nhân sinh, quan điểm giá trị của con người. Điều đó làm cho loài người có thể cần phải trải qua một quá trình gian khổ để “định hướng lại triết học và văn hóa”. Sự định hướng ấy, tất yếu sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực tư tưởng, chính trị, xã hội và tác động trực tiếp đến việc xây dựng các giá trị con người, trong đó có con người XHCN.

Công cuộc đổi mới của đất nước ta cũng đang có nhiều thay đổi, đòi hỏi cần có câu trả lời khiến cho mọi người tin phục về các giá trị của CNXH và những con người XHCN, tạo nên những trụ cột nâng đỡ tinh thần và khát vọng của đại đa số nhân dân. Trên thực tế, được thực tiễn soi rọi, Đảng ta đã từng bước làm sáng tỏ các yêu cầu đó.

về CNXH và con đường đi lên CNXH. Thông qua sáng tạo lý luận, thúc đẩy sáng tạo trên mọi phương diện, Đảng ta đã nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn về quy luật và tính quy luật phát triển của xã hội. Nếu như trước đây, nhận thức về CNXH chỉ đơn giản là “một xã hội tốt đẹp, nằm ở nấc thang phát triển cao hơn CNTB” với 3 thuộc tính cơ bản: Một là, xóa bỏ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu (toàn dân và tập thể) đối với tư liệu sản xuất (tư bản, đất đai). Hai là, nguồn lực kinh tế được quản lý, phân phối theo kế hoạch của Nhà nước, sản xuất và phân phối theo chỉ tiêu pháp lệnh, không theo cơ chế thị trường. Ba là, làm theo năng lực và hưởng theo lao động, nhưng thường thì lao động chỉ được đánh giá trên thời gian mà ít quan tâm trên chất lượng,… Thì đến nay, Đảng ta đã định hình rõ nét và cụ thể hơn bằng một hệ thống quan điểm lý luận về CNXH. Trong đó, đã khái quát thành 8 đặc trưng: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng, đó là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).

Cùng với việc khái quát thành 8 đặc trưng nêu trên, Đảng ta đã xác định cụ thể hơn 8 phương hướng xây dựng CNXH và 8 mối quan hệ lớn về đổi mới phát triển XHCN(9). Nếu 8 đặc trưng là những nội dung định hướng XHCN, thì 8 phương hướng, chính là con đường đi lên CNXH,mô hình xây dựng CNXH trong thực tiễn của nước ta; 8 mối quan hệ có ý nghĩa là những quy luật, những tính quy luật mà công cuộc đổi mới, phát triển ở Việt Nam tất yếu phải tuân thủ.

Việc Đảng ta chủ trương chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường; xác định rõ về vị trí, vai trò các thành phần kinh tế, coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;… là những bước đột phá lớn về lý luận, hướng cách mạng XHCN ở nước ta đi đúng với quy luật phát triển của lịch sử xã hội. Điều đó, đã làm thay đổi quan trọng cách nhìn, cách đánh giá, ứng xử đối với kinh tế thị trường và nhất là với kinh tế tư nhân, những thành tựu của tư duy nhân loại mà CNTB làm, CNXH cũng phải làm.

Hệ thống các quan điểm nêu trên là những thành tựu nổi bật của đổi mới tư duy, phát triển lý luận của Đảng ta, khắc phục hoàn toàn tư tưởng “duy ý chí” về CNXH như trước đây. Bằng các quan điểm khoa học, sáng tạo, Đảng ta đã trả lời trực tiếp các câu hỏi: CNXH là gì? Xây dựng CNXH ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN)? Mô hình, con đường, phương hướng đi lên CNXH như thế nào?

về con người XHCN, Đảng ta luôn xác định: Con người là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời là chủ thể sáng tạo lịch sử, là mục tiêu và động lực của đổi mới của CNXH. Vì thế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn chủ trương xây dựng hệ giá trị con người mới XHCN Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Các định hướng giá trị con người Việt Nam XHCN được quán triệt trong xây dựng nền tảng văn hóa của thời kỳ đổi mới là: Con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

Cụ thể hóa các đặc tính cơ bản đó với tính cách là những chuẩn mực, thành những giá trị để giáo dục, thực hành, rèn luyện trong đời sống hằng ngày của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, chính là xây dựng con người XHCN. Trong đó, đặc biệt chú trọng xây dựng các giá trị biểu hiện lòng yêu nước; nhân ái, đạo đức, lối sống có nghĩa tình; lòng trung thực – thước đo phẩm chất cốt lõi của đạo đức, nhân cách, lối sống; tình đoàn kết, đồng thuận, hợp tác, cộng đồng chia sẻ trách nhiệm của con người trong hoạt động và ứng xử; phẩm chất mới cần rèn luyện trong đức tính cần cù trong xã hội hiện đại, trong nền sản xuất công nghiệp và trong xu hướng phát triển kinh tế tri thức; sự sáng tạo để phát triển – một năng lực nổi bật, một giá trị ưu trội của con người và nhân cách trong hoàn cảnh đổi mới phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; tính kế thừa thế hệ trong giáo dục giá trị; trong chiến lược phát triển con người, trong giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội… Đó chính là những điểm mới nổi bật trong phát triển tư duy lý luận của Đảng về con người Việt Nam XHCN thời kỳ đổi mới.

Đổi mới theo định hướng XHCN là một quá trình cách mạng hết sức sâu sắc, triệt để, thường xuyên diễn ra cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ “bần cùng lạc hậu” và cái mới “tốt tươi”, để nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó, phải trải qua thời kỳ quá độ rất lâu dài và phải tuân thủ các bước đi như một tất yếu khách quan. Trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN như một loại hình “phát triển rút ngắn” với phương thức “quá độ gián tiếp” lên CNXH, đòi hỏi phải có những con người XHCN có trình độ, năng lực vượt trội, hay ít nhất cũng tương xứng với loại hình và phương thức phát triển đó.

Hơn 30 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH ở nước ta tuy vẫn còn những khuyết điểm, chưa thực sự đáp ứng với kỳ vọng lớn lao của nhân dân, nhưng nhìn tổng thể, những thành tựu đạt được là rất to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(10). Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình bỏ qua những nỗ lực và thành tựu đã đạt được của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta, tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Một mặt, chúng ra sức tuyên truyền về “thế giới tự do” về sự “vĩnh hằng” của CNTB và sự sụp đổ của chế độ XHCN; mặt khác, khai thác triệt để những khuyết điểm của CNXH hiện thực, xuyên tạc về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng; núp dưới các chiêu bài đòi dân chủ đa nguyên chính trị và nhân quyền, kích động các lực lượng chống đối, can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng và Nhà nước ta hòng khiến nhân dân ta xa rời con đường đi lên CNXH. Rõ ràng, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ thay đổi mục tiêu xoá bỏ CNXH, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “đế quốc, chết thì chết, nết không chừa”(11). Có khác chăng là trong tình hình mới, chúng sử dụng những sách lược, thủ đoạn mới tinh vi, hiểm độc hơn mà thôi.

Hơn bao giờ hết và hơn ai hết, hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp phải tiếp tục giác ngộ lập trường, tư tưởng, nâng cao năng lực, phẩm chất cách mạng, kiên quyết vạch trần những âm mưu xảo quyệt của các thế lực thù địch, cùng nhau phối hợp hành động, đẩy lùi và làm thất bại những thủ đoạn đen tối của chúng. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của quần chúng nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ về bản chất tốt đẹp của xã hội XHCN, của công cuộc đổi mới, từ đó, xây dựng hoài bão, lý tưởng cao đẹp của con người mới XHCN. Con người mới Việt Nam XHCN nhất định không thể yếu kém về năng lực, phẩm chất, càng không thể dao động, “a dua” với một số phần tử bất mãn, cực đoan. Cán bộ, đảng viên, thanh thiếu niên phải được tôi luyện như thế hệ cha ông đã từng tôi luyện trong chiến tranh: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Với ý chí kiên cường, sáng tạo và lòng tự tôn dân tộc, chắc chắn, công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, dân tộc ta sẽ trường tồn phát triển, nhân dân ta sẽ được giải phóng hoàn toàn khỏi bần cùng lạc hậu, khỏi tụt hậu và không bị chệch hướng XHCN. Xã hội XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng nhất định sẽ đi đến bến bờ./.

(1), (4), (5), (6), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, 2011, t.13, tr. 66, 5, 376, 66-67, 69.

(2) V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva 1981, t.42, tr. 37.

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.39, tr. 25.

(8), (9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2011, tr.69-70, 70-73.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự Thật, H, 2021, tr. 66.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, t.15, tr. 474.

【#8】Drama Là Gì? Drama Gồm Những Thể Loại Nào?

Bạn thấy bạn bè mình sử dụng thuật ngữ Drama một cách thường xuyên nhưng lại chẳng thể hiểu nổi Drama là gì?

Đừng lo lắng! Trong bài viết hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp đến các bạn ý nghĩa cùng các cách sử dụng của Drama.

Drama trong tiếng Anh

Phát âm: /drɑː.mə/

Danh từ mang nghĩa:

  • Kịch, tuồng
  • Nghệ thuật kịch, nghệ thuật tuồng
  • Sự việc đầy kịch tính

Một số từ liên quan

  • Drama Workshop: Nhà diễn kịch
  • Horror Drama: Thảm kịch
  • Music Drama Theater: Nhà hát kịch

Nguồn gốc Drama

Drama bắt nguồn từ một từ Hy Lạp cổ đại có nghĩa là hành động. Nhà triết học Hy Lạp cổ Aristotle đã sử dụng thuật ngữ này trong một luận thuyết có ảnh hưởng lớn- “Poetics” (Thơ ca). Trong văn bản này, Aristotle đã phân loại các hình thức thơ khác nhau theo những đặc điểm cơ bản mà ông nghĩ có thể được công nhận rộng rãi. Ông đã sử dụng thuật ngữ “Drama” để mô tả các tác phẩm thơ mộng đã được “hành động”.

Một Drama thường liên quan đến:

  • Một biên kịch- tác giả của vở kịch
  • Khán giả- người xem tác phẩm kịch, phim đó
  • Diễn viên- người thực hiện các hành động tương ứng với vở kịch để người xem thấu hiểu nội dung câu chuyện.

Cách hiểu Drama hiện đại

Theo nghĩa gốc, Drama là “tuồng, kịch”. Tuy nhiên, hiện nay, ý nghĩa của từ này đã được mở rộng hơn bao gồm ý nghĩa là phim, tính kịch,…

Thông thường, Drama thường được hiểu là thể loại phim có nhiều tập, khác hoàn toàn với Movie- thể loại phim 1 tập. Drama được chiếu trên các kênh truyền hình, trong khi đó Movie thường được chiếu tại các rạp chiếu phim.

Drama được sử dụng với nghĩa “tính kịch” khi một câu chuyện đời thật nhưng nghe như hư cấu. Cách nói này ngày càng trở nên phổ biến hơn cùng với sự phát triển của Internet và các mạng xã hội như Facebook, Instagram,…

Drama cũng được dùng như một thuật ngữ trong anime và manga Nhật Bản. Những truyện Drama tập trung vào thể loại bi kịch, tình cảm, trinh thám,… và thường tạo cho người xem những cảm xúc căng thẳng, buồn bã.

Điều gì khiến Drama trở nên ấn tượng và thu hút người xem?

Làm thế nào để một Drama trở nên ấn tượng và thu hút người xem hơn? Chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Để làm cho Drama trở nên ấn tượng, tác giả phải phấn đấu xây dựng cảm giác kịch tính và dự đoán cảm xúc của khán giả khi câu chuyện phát triển. Kịch tính chỉ thực sự thành công khi khán giả cứ tự hỏi “Điều gì xảy ra tiếp theo?”, để từ đó dự đoán kết quả của những sự kiện đó.

Kịch tính là điều cơ bản và quan trọng nhất để giữ chân khán giả.

Nếu trước đây, cốt truyện là yếu tố quan trọng nhất trong một “Drama” thì đến ngày nay, mặc dù nó vẫn quan trọng; nhưng đôi khi một bộ phim có cốt truyện không mới lạ nhưng vẫn thu hút người xem bởi diễn viên, bối cảnh đẹp và âm nhạc hấp dẫn.

Drama cũng phụ thuộc vào rất nhiều đối thoại nói để khiến khán giả hiểu về cảm xúc, tính cách, động cơ và kế hoạch của nhân vật. Vì vậy, nếu xây dựng được những đoạn hội thoại hay, câu chuyện đó có thể trở thành một trào lưu.

Các thể loại Drama

Các Drama ấn tượng thường được phân loại thành các danh mục cụ thể theo tâm trạng, giai điệu, hành động xảy ra trong cốt truyện. Một số dạng Drama nổi tiếng bao gồm:

Hài kịch có nội dung nhẹ nhàng hơn và được xây dựng với mục đích khiến khán giả cười và thường đi đến một kết thúc có hậu.

Hài kịch đặt nhân vật khác thường vào những tình huống bất thường, khiến họ phải làm và nói về những điều hài hước.

Hài kịch cũng có thể được sử dụng để châm biếm các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội- đây là cách mà tác giả Vũ Trọng Phụng thường xuyên sử dụng.

Ngoài ta, hài kịch cũng còn có thể chia thành nhiều dòng nhỏ hơn bao gồm hài kịch lãng mạn, hài kịch tình cảm, phim hài bi kịch- trong đó các nhân vật mang bi kịch đã làm những điều hài hước trong tình huống nghiêm trọng để đạt được hạnh phúc cuối cùng.

Bi kịch thường được xây dựng trên những chủ đề u ám hơn. Nó miêu tả các vấn đề nghiêm trọng như cái chết, thảm họa tự nhiên, sự đau khổ của con người theo cách trang nghiêm và kích thích tư duy. Với những tác phẩm này, nhân vật hiếm khi được tận hưởng cái kết hạnh phúc. Chẳng hạn, nhân vật Hamlet trong tác phẩm cùng tên của Shakespeare- người luôn cảm thấy gánh nặng về những sai lầm của mình.

Chính kịch ra đời sau hài kịch và bi kịch. Nếu bi kịch dành cho giới quý tộc, hài kịch thuộc về tầng lớp bình dân và không thể trộn lẫn thì chính kịch lại là hình thức “Drama” gồm cả bi và hài.

Chính kịch không bị ràng buộc bởi nguyên tắc của 2 thể loại trên. Nó sử dụng linh hoạt cả 2 yếu tố để nâng cao hiệu suất và sự hấp dẫn của nội dung câu chuyện.

Farce là dạng Drama khiến khán giả cười với nội dung, tạo hình nhân vật,… hài hước một cách phóng đại hoặc vô lý. Bạn có thể nhận thấy thể loại phim này trong các tác phẩm như Waiting for Godot của Samuel Beckett và Airplane của Jim Abrahams.

Melodrama là một hình thức phóng đại của phim truyền hình. Melodrama mô tả về các nhân vật một chiều cổ điển như anh hùng, nữ anh hùng, nhân vật phản diện với những tình huống giật gân, lãng mạn hoặc nguy hiểm.

Đôi khi, Melodrama còn được gọi với cái tên “Tearjerkers”.

Bộ phim kinh điển về tình yêu trong chiến tranh “Cuốn theo chiều gió” được xây dựng dựa trên tiểu thuyết của Margaret Mitchell chính là ví dụ hàng đầu cho thể loại Melodrama.

Đây là thể loại đa năng khi phim được kết hợp với kịch. Trong Opera, các bạn có thể thấy đối thoại, âm nhạc, khiêu vũ,.. với nội dung đa dạng có thể là bi kịch, chính kịch hoặc hài kịch,… Vì các nhân vật thể hiện cảm xúc và ý định của mình thông qua các bài hát thay vì đối thoại, nên người biểu diễn được yêu cầu phải có cả kỹ năng diễn xuất và ca hát.

Đây là một thể loại tương đối mới, Docudrama là những bức chân dung ấn tượng về các sự kiện lịch sử hoặc các tình huống chân thật không có yếu tố hư cấu.

Những cách sử dụng Drama phổ biến khác

Khái niệm Drama hiện nay được sử dụng tương đối phổ biến, gần như nó đang được sử dụng như một từ tiếng Việt vay mượn. Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn những cụm từ với Drama được nhiều người sử dụng nhất.

Web Drama là những bộ phim giống với phim truyền hình được phát sóng trên TV. Tuy nhiên giống như tên gọi của mình, Web Drama được phát sóng trên Internet. Những bộ phim này thường có thời lượng ngắn hơn, ngân sách đầu tư thấp hơn và số tiền kiếm được cũng ít hơn.

Đối tượng mục tiêu cho các tập phim Web Drama là thiếu niên và người xem ở độ tuổi 20 đến 30.

SBS Drama Awards (Giải thưởng phim truyền hình SBS) một lễ trao giải hàng năm được tổ chức bởi Seoul Broadcasting System (SBS) dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc trong lĩnh vực phim truyền hình Hàn Quốc được phát sóng trên kênh SBS.

Lễ trao giải này thường được tổ chức vào ngày 31 tháng 12 mỗi năm. Giải thưởng cao nhất của SBS Drama Awards là “Giải Daesang” được trao cho nam/ nữ diễn viên xuất sắc nhất trong năm.

Ngoài ra, lễ trao giải này còn trao một số danh hiệu khác như:

  • Giải Cống hiến
  • Giải SBS đặc biệt
  • Giải diễn xuất xuất sắc nhất
  • Giải diễn viên phụ xuất sắc nhất
  • Giải diễn xuất hàng đầu
  • Giải cho diễn viên chính
  • Giải Ấn tượng
  • …..

Drama Club có nghĩa là một câu lạc bộ về Drama tập hợp những người yêu thích hoạt động trong lĩnh vực này.

Drama cẩu huyết là những vở kịch, bộ phim có nội dung lặp đi, lặp lại, nhàm chán và quá mức vô lý khiến người xem cảm thấy chán nản, mệt mỏi.

Drama Queen là nữ hoàng phim truyền hình, trong khi đó Drama King là ông hoàng phim truyền hình. Drama Queen và Drama King được sử dụng để chỉ những diễn viên xuất sắc trong thể loại phim Drama.

Bên cạnh nghĩa chính, Drama Queen và Drama King đôi khi cũng được sử dụng với ý nghĩa tương đối mỉa mai để chỉ những người (nam hoặc nữ) quá ảo tưởng. Những người này tự cho mình là trung tâm, tự xây dựng “kịch bản” cho cuộc đời mình, luôn chìm đắm vào những tình tiết mà chính mình tạo ra một cách vô thức hoặc có chủ ý.

Những đối tượng này thường thích đưa ra những chủ đề táo bạo, gây tranh cãi để khiến mình trở nên độc đáo và hấp dẫn với người khác. Họ có thể có nhiều fan thông qua những câu nói, hành vi gây shock trên mạng xã hội, nhưng lại ít bạn bè thực tế. Và thực sự, những người này thường “sống ảo”.

Trên đây là một số vấn đề cơ bản về khái niệm Drama. Hi vọng với những thông tin trong bài viết này, bạn có thể hiểu hơn về thuật ngữ này.

【#9】Poster Là Gì? Đâu Là Kích Thước Poster Chuẩn?

Poster là ấn phẩm có vai trò quan trọng trong những chiến lược PR, quảng cáo thương hiệu hiện nay. Vậy, poster là gì? Kích thước poster và in poster chuẩn là bao nhiêu? Trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ những thông tin hữu ích xoay quanh vấn đề này.

Poster là gì?

Poster là 1 hoặc 1 tập hợp các hình ảnh có kích thước lớn, mang thông điệp marketing của công ty, doanh nghiệp. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng cụ thể trong chiến dịch marketing và đối tượng khách hàng mà sử dụng những hình ảnh, nội dung thể hiện trên tấm poster khác nhau.

Có những tấm poster gợi nhắc tới thương hiệu, có khi lại lên án và phê phán, tuyên truyền thông điệp nào đó….Với mỗi doanh nghiệp cụ thể, kích thước của những tấm poster quảng cáo thể hiện phương châm hoạt động của công ty, 1 triết lý trong kinh doanh nhằm mục đích cổ vũ tinh thần làm việc của tất cả nhân viên trong công ty.

Các loại poster phổ biến hiện nay

Hiện có rất nhiều mẫu poster khác nhau, chúng thường được phân chia thành các loại như:

  • Poster quảng cáo: Những tấm poster này thường truyền tải thông điệp của sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng, có vai trò giới thiệu và thu hút khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của mình.
  • Poster giao tiếp: Làm nổi bật thương hiệu, giúp truyền tải thông điệp về triết lý kinh doanh, phong cách hoạt động, một lý tưởng hay một cam kết nào đó.
  • Mẫu poster thông báo, tuyên truyền: Đây là dạng poster thường sử dụng ở những đơn vị hành chính, tổ chức phi chính phủ hoặc công đoàn…
  • Poster chủ thể: Đây là poster chân dung về 1 người nổi tiếng nào đó dành tặng cho fan, mục đích in poster này là để truyền tải thông tin về một sự kiện.
  • Poster nội bộ: Loại poster này có thể là hình ảnh của doanh nhân nào đó, nó truyền tải thông điệp, cảm hứng, tinh thần kích lệ hoặc châm ngôn, slogan của công ty.

Kích thước poster như thế nào là chuẩn?

Khi thiết kế poster bạn cần phải chú ý tới việc lựa chọn kích thước sao cho phù hợp. Kích thước poster gồm các loại như sau:

+ Kích thước nhỏ nhất: 8,5 “x 11”

Đây là kích thước in poster nhỏ nhất, dựa trên kích thước giấy A4, phù hợp với những ấn phẩm phát tay. Sử dụng những ấn phẩm này để chuyển trực tiếp đến với nhiều người trên đường phố.

Những mẫu poster có kích thước nhỏ này thường sử dụng cho việc quảng cáo đường phố, khu vực bàn thông tin, tài liệu chi tiết dành cho quá trình tiếp thị sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng.

+ Kích thước poster nhỏ : 11 “x 17”

Những tấm poster được thiết kế với kích thước này là sự lựa chọn lý tưởng dành bảng tin đang được sử dụng nhiều trong công ty, doanh nghiệp. Ngoài ra, chúng còn được sử dụng để quảng cáo cho phim, buổi hòa nhạc, sự kiện, những địa điểm giải trí.

+ Kích thước poster trung bình: 18 “x 24”

Hiện có rất nhiều tấm poster được thiết kế theo kích thước tiêu chuẩn này. Chúng thường được sử dụng ở những trường đại học, đường đi bộ xây dựng, văn phòng, bệnh viện, poster người nổi tiếng, sự kiện của ban nhạc, sử dụng vào dịpc sinh nhật…

+ Kích thước poster lớn: 24 “x 36”

Đây là kích thước poster phổ biến nhất hiện nay. Những tấm poster sử dụng cho hầu hết những sự kiện như: triển lãm thương mại, ở những khu trung tâm mua sắm. Sử dụng ở những khu vực rộng rãi như trong trường học, bên ngoài những câu lạc bộ, quán rượu…Đặc biệt, chúng thường được sử dụng để quảng cáo ngoài trời. Nếu được thiết kế ấn tượng chắc chắn nó sẽ thu hút người nhìn, giúp truyền tải thông điệp hiệu quả hơn.

+ Kích thước dành cho Poster Phim (27 “x 40”, 40 “x 60”)

Những tấm poster phim thường thiết kế với kích thước tiêu chuẩn, phù hợp với ngành công nghiệp điện ảnh là 27 “x 40”. Ngoài ra, những tấm poster phim sử dụng ở trạm xe bus thường có kích thước lớn là 40 “x 60”.

Poster là gì? Kích thước khi in poster là bao nhiêu? Hiểu đúng về poster- ấn phẩm quảng cáo quan trọng trong lĩnh vực marketing hiện nay giúp bạn có sự đầu tư đúng đắn hơn về kênh quảng cáo này. Hầu hết những doanh nghiệp lớn, có tiềm lực về tài chính hiện nay đều ưa chuộng sử dụng kênh quảng cáo này. Do đó, poster ngày càng xuất hiện nhiều hơn và trở nên quen thuộc hơn với mọi người.