【#1】Đa Vũ Trụ, Giới Hạn Của Không Gian?

Thế giới chúng ta đang biết không phải là vô hạn, đó là những gì mà vũ trụ học ngày nay đã nói cho chúng ta biết. Vậy nó có phải là tất cả không? Người ta sẽ luôn thắc mắc rằng “nếu vũ trụ hữu hạn, thì nó phải là một phần của một cái gì đó?”. Những thắc mắc như vậy sẽ chẳng bao giờ chấm dứt cho dù một ngày kia có thể ta sẽ biết cái gì nằm ngoài biên giới của vũ trụ…

Vũ trụ của chúng ta (universe) ra đời từ một vụ nổ lớn (big bang). Vụ nổ này xuất phát từ một điểm kì dị với mật độ lớn không xác định, và có lẽ là không giới hạn, sau vụ nổ này không gian và thời gian được tạo ra, trước hết là các bức xạ ánh sáng, rồi dần hình thành các hạt cơ bản nặng hơn, chúng lại kết hợp nhau thành các nguyên tử, phân từ, những hạt bụi và khí nhỏ nhất, để rồi kết quả cuối cùng là các thiên hà, sao, hành tinh … và cả sự sống của chúng ta ngày nay. Theo những số liệu ngày nay thì chúng ta ước đoán khá chính xác rằng vụ nổ lớn nêu trên xảy ra cách đây khoảng hơn 14 tỷ năm, 10 tỷ năm sau (4,5 tỷ năm trước) thì Trái Đất của chúng ta mới ra đời, và con người có trí tuệ thì mới xuất hiện được khoảng 15-20.000 năm trước (giữa và cuối kỉ băng hà).

Từ lâu con người đã không ngững tìm hiểu về vị trí và nguồn gốc của mình trong vũ trụ. Trải qua mấy nghìn năm sai lầm khi tin rằng chúng ta là trung tâm của vũ trụ, thì những cuộc cách mạng về nhận thức từ thời của Copernics, Galilei (thế kỉ 16, 17) cho đến tận thời điểm này khi chúng ta đã tiến sâu tới hơn 10 năm vào thế kỉ thứ 21, đã cho chúng ta biết nhiều hơn về vị trí thật sự của chúng ta. Chúng ta không chỉ là sinh vật trên một hành tinh quay quanh Mặt Trời, mà chính Mặt Trời cũng không phải ngôi sao duy nhất, nó chỉ là một trong số 200 tỷ ngôi sao của thiên hà Milky Way. Trong khi đó thiên hà này lại chỉ là một trong số hơn 50 thành viên của Cụm địa phương (Local Group), một quần thiên hà nằm trong siêu quần thiên hà Virgo – một trong số hàng nghìn, hàng triệu hay hàng tỷ siêu quần thiên hà trong vũ trụ. Vậy mà đến tận thời điểm này, nơi xa nhất con người tứng đặt chân tới mới là Mặt Trăng, một vệ tinh của chúng ta. Con số 384.000 km từ Trái Đất tới Mặt Trăng nghe có vẻ lớn khi chúng ta so sánh với thước đo hàng ngày, nhưng hãy thử làm một phép so sánh. Với vận tốc lên tới xấp xỉ 300.000 cây số mỗi giây, ánh sáng chỉ mất có hơn 1 giây để đưa một hình ảnh từ Trái Đất lên tới Mặt Trăng, nhưng nó sẽ phải mất tới hơn 50 tỷ năm để tới được rìa của vũ trụ. Có lẽ nền văn minh của chúng ta trong vài trăm năm tới sẽ khó có thể cho phép chúng ta đi được dù chỉ thoát ra khỏi thiên hà nhỏ bé này.

Tuy vậy cho dù không thể tự mình đi ra ngoài không gian xa xôi, nhưng con người vẫn khong ngừng quan sát nó. Đến nay chúng ta đã có thể thu được tín hiệu từ những nơi cách xa hàng tỷ năm ánh sáng (cho dù đó chỉ là thông tin về chúng nhiều tỷ năm trước và có thể khi đó thì khoảng cách của chúng chưa phải là vài tỷ năm ánh sáng). Các mô hình vũ trụ với cơ sở khá vững chắc từ các phương trình của cơ học lượng tử cũng như các quan sát trực tiếp cho chúng ta biết phần nào về kích thước và giới hạn của vũ trụ. Vũ trụ là một không gian nhiều chiều (nhiều hơn 4) và nó cũng có giới hạn của nó, giới hạn này đang ngày càng gia tăng do sự giãn nở không ngừng. Những nghiên cứu trong những năm gần đây cho biết vũ trụ của chúng ta có lẽ sẽ không thể kết thúc bằng một vụ co lại và sụp đổ vật chất, nó cứ tiếp tục giãn nở làm mật độ ngày càng loãng cho tới khi mọi tương tác đều biến mất.

Mặc dù như vậy, cho dù vũ trụ có giãn nở ra bao nhiêu, nó vẫn chỉ là một quả bóng bay được thổi căng dần, nó có thể cứ lớn mãi, lớn mãi, nhưng suy cho cùng nó phải có một giới hạn. Bên ngoài giới hạn đó không phải vũ trụ, không có cả không gian và thời gian nên có lẽ ta còn không cả được phép dùng từ “trong” và “ngoài”, nhưng vì phạm vi của ngôn ngữ chúng ta chưa có một thuật ngữ nào mới mẻ để mô tả nên xin được tiếp tục dùng 2 từ này cho những mô tả tiếp theo. Cái chính là liệu rằng đó đã phải tất cả hay chưa, hay còn một cái gì đó nằm ngoài phạm vi của không gian và thời gian. Nó có tính chất hoàn toàn khác, qui định bởi những định luật vật lý khác vũ trụ của chúng ta nên ta không thể gọi nó là “không gian”, đơn gainr đó là cái gì đó nằm phía ngoài của vũ trụ.

Đến nay, chưa có bất cứ bằng chứng nào xác thực cho sự tồn tại của cái gì đó bên ngoài vũ trụ, nhưng một mô hình có tên là Đa vũ trụ (multiverse) vẫn được nhiều người quan tâm vì nó là một lí giải cho những cơ may của những vũ trụ và sự sống bên ngoài giới hạn của chúng ta.

Nhiều nhà khoa học cho rằng có nhiều vũ trụ khác nhau song song tồn tại như những “bong bóng” lơ lửng trong một môi trường chung nào đó chưa được xác định. Nhiều tác phẩm viễn tưởng, chẳng hạn như của Marvel và DC comics đã từ lâu sử dụng ý tưởng này xây dựng nên những cuộc gặp gỡ và những cuộc chiến liên vũ trụ.

Về cơ bản, đa vũ trụ mới chỉ là một mô hình được đề xuất dựa trên giả thuyết đa lịch sử và tính xác xuất trong cơ học lượng tử. Đôi khi nó còn được gọi là các vũ trụ song song (parallel universes), với nội dung chính là vũ trụ của chúng ta không phải là duy nhất mà có thể còn có những vũ trụ khác đang tồn tại song song với chúng ta.

Thuyết đa vũ trụ ngày nay có 4 dạng, chia thành 4 cấp với sự sai khác khác nhau so với vũ trụ của chúng ta.

Cấp 1 (level 1): Có sự tồn tại của các vũ trụ khác độc lập với vũ trụ của chúng ta. Chúng cũng có các tính chất vật lý y như chúng ta không có gì khác biệt, chỉ trừ các xác xuất và điều kiện trong khác nhau nên sẽ sinh ra những kết quả khác

nhau. Có thể có sự sống như chúng ta, cũng có nên văn minh giống y như chúng ta, cũng có người đang ngồi gõ những dòng này và có các độc giả đang đọc chúng, chỉ có tính chất có thể khác đôi chút, giống như trong một tập ngắn trong bộ truyện tranh Doraemon khi Nobita bay vào vũ trụ và vô tình đến một nơi y như nhà mình với những người xung quanh y như vậy, chỉ khác nhau đôi chút về trình độ văn minh. Hiện nay một bằng chứng còn khá lờ mờ cho việc này là sự không đồng đều ở một vài điểm trong bức xạ nền thu được. Như chúng ta biết, bức xạ nền này phát ra không lâu sau vụ nổ lớn Big Bang và lan rộng khắp vũ trụ, những gì chúng ta thu được ngày nay là phần tàn dư của nó, do đó nó chĩnh là những nhân chứng cho thời kì đầu của vũ trụ. Sự không đồng đều trong nền bức xạ này đặt nghi vấn rằng vũ trụ từng có va chạm với những vũ trụ khác như lý thuyết đa vũ trụ đề xuất. tất nhiên đến nay thì đây vẫn chỉ là những nghi vấn vì ngay cả kết quả các phép đo của chúng ta ngày nay vẫn chưa hoàn toàn chính xác, chưa tính đến những biến cố trong thời kì tạo thành vật chất của vũ trụ.

Cấp 2 (level 2): Ở cấp này, chúng ta nhìn nhận đa vũ trụ là những “bong bóng” sinh ra trong một không gian trống rỗng (khác với không gian của chúng ta, và một ngày chúng ta sẽ phải tìm một từ khác để mô tả nó). các bong bóng này (mỗi bong bóng là một vũ trụ) có thể đang được đẩy ra xa nhau giống như các thiên hà đang rời xa nhau trong vũ trụ của chúng ta. Ở giả thuyết cấp 2 này có sự khác biệt hơn. Các phương trình vật lý và toán học vẫn không có gì khác nhau giữa các vũ trụ nhưng không chỉ các điều kiện đầu khác nhau mà có thể các hằng số vật lý cũng khác nhau như vận tốc của ánh sáng, hằng số hấp dẫn …, kết quả do các cấu trúc vật chất khác nhau.

Cấp 3 (level 3): cấp này về cơ bản sự sai khác về vật lý giống như sự sai khác do mô hình cấp 2 đề ra. Nhưng về mô tả có hơi khác. Đây chính là giả thuyết đa lịch sử/đa thế giới mà chúng ta hay bắt gặp trong các bộ phim hay truyện viễn tưởng. Có thể có những thế giới song song với chúng ta nhưng với những hằng số khác dẫn đến những hệ quả khác, giống như con mèo trong nghịch lý của Schrodinger có thể sống và cũng có thể chết sau một hiệu ứng lượng tử. Một sai khác rất nhỏ, hay trong cơ học lượng tử thì đơn giản là tính xác xuất sẽ quyết định con mèo sống hay chết. Nhưng nếu nó là sống thì có thể ở một thế giới song song khác có một con mèo tương tự đã chết. Hay lại nói tới câu chuyện Doraemon, trên thực tế khi chú mèo máy Doraemon trở về quá khứ giúp Nobita thì đó là một thế giới và lịch sử khác, trong khi lịch sử ban đầu vẫn xảy ra ở một thế giới song song khác.

Cấp 4 (level 4): Đây là cấp cuối cung trong 4 mô hình của Đa thế giới. Ở mô hình này, sự sai khác là rõ rệt nhất. Các vũ trụ song song với chúng ta gần như không có bất cứ điểm nào giống với chúng ta. Không chỉ các điều kiện trong, các hằng số vật lý mà cả các định luật vật lý cũng hoàn toàn khác. Hình học của các vũ trụ ở cấp này khác nhau hoàn toàn, trong khi vũ trụ của chúng ta ngày nay là vũ trụ mở thì có thể lại có nhiều vũ trụ đóng, các vũ trụ phẳng hay các vũ trụ với cấu tạo không thời gian phức tạp, liên tục thăng giáng … và thậm chí cũng có những vũ trụ mở nhưng với các định luật vật lý khác, các hạt cơ bản hoàn toàn xa lạ, nơi chúng ta không có cơ hội sống sót nếu giả sử bị đẩy sang đó.

Hiện nay, người ta vẫn đang cố gắng tìm kiếm thêm các dấu hiệu tương tự như sự không đều trong bức xạ nền để làm bằng chứng cho sự tồn tại của đa vũ trụ (bất cứ cấp nào), nhưng một lần nữa chúng ta cần nhắc lại rằng với công nghệ ngày nay bất cứ phép đo nào đối với bức xạ nền này đều chưa phải là tuyệt đối chính xác. Mặt khác nếu như giả sử có bằng chứng về các vũ trụ khác thì khả năng chúng ta có thể quan sát được chúng là không thể. Chúng ta hãy tiếp tục chờ đợi thêm các kết quả từ tương lai.

Đặng Vũ Tuấn Sơn

Vui lòng ghi rõ tên tác giả và nguồn trích dẫn chúng tôi khi bạn sử dụng bài viết này

【#2】Thuyết Tương Đối Và Việc Khắc Phục Những Hạn Chế Của Cơ Học Newton

Có gì hạn chế trong cơ học cổ điển Newton ?

Trước khi tìm hiểu về thuyết tương đối, chúng ta hãy thử xem lại đôi chút về các luận điểm cơ bản về không gian và thời gian trong cơ học cổ điển Newton và suy xét xem có điểm gì chưa đạt yêu cầu trong các luận điểm này khi suy xét kĩ hơn về bản chất của không gian, thời gian và của vũ trụ.

Isaac Newton (1642 – 1727) sinh ra tại Anh vào đúng năm mất của Galileo Galilei. Newton được coi là một trong những nhà vật lí vĩ đại nhất m ọi thời đại, người đã tiếp tục xây dựng thành công các ý tưởng của Galileo về không gian và về chuyển động. Ngày nay, chúng ta thường gọi toàn bộ nền cơ học cổ điển (trước Einstein) là cơ học Newton để nhắc đến công lao của ông. Cơ học Newton được xây dựng lấy cơ sở chính từ hình học Euclide và các lí thuyết chuyển động của Galileo. Nội dung của các sáng tạo vĩ đại của Newton được chúng ta biết đến chủ yếu qua định luật hấp dẫn (mọi vật luôn hấp dẫn lẫn nhau một lực hút tỉ lệ với khối lượng 2 vật và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng) và 3 định luật cơ học mang tên Newton. Cái chúng ta cần nhắc đến ở đây không phải nội dung của các định luật này cũng như biểu thức hay các ứng dụng của nó trong thực tế. Vấn đề mấu chốt của cơ học cổ điển mà lí thuyết tương đối sau này đã cải biến và tổng quát hóa là quan niệm về không gian và thời gian. Trong cơ học cổ điển Newton , không gian và thời gian được định nghĩa theo cách của nguyên lí tương đối Galileo. Theo đó mọi chuyển động đều có tính tương đói, phụ thuộc hệ qui chiếu. Có nghĩa là nếu A chuyển động trên mặt đường thì với B đang đứng tại chỗ, A là chuyển động nhưng với một đối tượng C cũng chuyển động trên một con đường đó nhưng có cùng vận tốc và hướng chuyển động với A thì A vẫn chỉ là đối tượng đứng yên và B cùng con đường lại là đối tượng chuyển động. Tức là không gian hoàn toàn có tính tương đối, trong khi đó thời gian lại có tính tuyệt đối, tính đồng thời luôn xảy ra trên mọi hệ qui chiếu. Tức là nếu hệ qui chiếu A chuyển động so với hệ qui chiếu B và tại hệ A, có 2 biến cố xảy ra đồng thời, tức là được xác định tại cùng một giá trị của đồng hồ của hệ A thì với hệ B cũng thế, người quan sát tại hệ B cũng sẽ thấy đồng hồ của mình đo được 2 biến cố này đồng thời. Điều này cũng coi như đã mặc định rằng vận tốc của ánh sáng là vô hạn (đó cũng chính là quan điểm của Newton khi nghiên cứu lực hấp dẫn – ông cho rằng hấp dẫn có tác dụng ngay tức thời, có nghĩa là không cần thời gian truyền lực).

Thuyết Tương Đối hẹp của Albert Einstein

Năm 1905, Albert Einstein (1879 – 1955), khi đó là một nhân viên hạng 3 của phòng cấp bằng sáng chế Thụy Sĩ tại Bern đã cho đăng một bài báo làm thay đổi toàn bộ nhận thức của loài người. Đây là bài báo công bố các nghiên cứu của Einstein về lí thuyết tương đối hẹp, đánh dấu sự ra đời của vật lí tương đối tính.

Toàn bộ nội dung của lí thuyết tương đối hẹp có thể tóm gọn trong 2 ý chính sau:

1- Các định luật vật lí là như nhau với mọi người quan sát chuyển động trong các hệ qui chiếu quán tính khác nhau.

2- Vận tốc ánh sáng truyền trong chân không là vận tốc lớn nhất tồn tại trong tự nhiên và là một vận tốc tuyệt đối duy nhất trong vũ trụ (viết tắt là c)

Các hệ quả suy ra từ lí thuyết này cho biết thời gian cũng chỉ có tính tương đối, nó cũng phụ thuộc hệ qui chiếu. Hai biến cố không thể xảy ra đồng thời ở cả hai hệ qui chiếu chuyển động so với nhau, nếu nó đồng thời ở hệ này thì không thể là đồng thời ở hệ kia và ngược lại.

Trước hết hãy xét đến tính đồng thời. Tại sao khi vận tốc ánh sáng là hữu hạn, ta có thể kết luận rằng tính đồng thời bị mất khi có nhiều hệ qui chiếu tham gia?

Ở đây ta tạm coi rằng ở các vận tốc nhỏ thì tính đồng thời là tồn tại do chênh lệch là quá nhỏ (vận tốc rất nhỏ với vận tốc ánh sáng). Xét 2 người A và B thuộc 2 hệ qui chiếu tương ứng A và B. Bây giờ giả sử ta coi người B là đứng yên và người A chuyển động so với B với vận tốc v khá gần với c (vận tốc ánh sáng, c~300.000 km/s) (thực tế thì điều này có nghĩa là cũng có thể coi A đứng yên và B chuyển động khi đứng trong hệ qui chiếu của A)

Như vậy ta có A chuyển động với vận tốc v so với B (v này gần bằng c). Bây giờ giả sử tiếp là ở thời điểm t1 (hình vẽ), A chuyển động qua B sao cho đường nối A-B vuông góc với đường chuyển động của A. Đúng tại thời điểm này, trên một đường thẳng song song với đường chuyển động của A nằm gần đó, có 2 biến cố xảy ra. Ta hãy tạm gọi là 2 biến cố đồng thời dưới cái nhìn của chúng ta. Khoảng cách của 2 biến cố này đến đường thẳng nối A-B lúc này là bằng nhau (có nghĩa A-B là trung trực của đoạn 1-2 (đoạn 2 biến cố)). Khoảng cách của A đến 2 biến cố là bằng nhau và B cũng vậy. Tuy nhiên để A và B thấy được 2 biến cố này thì phải có thời gian (thời gian truyền ánh sáng từ 2 biến cố đến điểm mà A và B đang đứng)

Bây giờ xét thời điểm t2. Đây là thời điểm B bắt đầu “nhìn thấy” 2 biến cố này. Do khoảng cách bằng nhau nên thời gian để 2 biến cố này đến với B là như nhau, có nghĩa là B thấy 2 biến cố này xảy ra đồng thời. Tuy nhiên, tại thời điểm t2 này thì A không còn ở vị trí cũ nữa, trong khoảng thời gian (t2 – t1) (t2 trừ t1), A đã đi được một đoạn đường tiến về phía có biến cố 2 với vận tốc v. Và đến t2 thì A đã gặp biến cố 2 (tia sáng mang theo thông tin của biến cố này) từ trước đó rồi, trong khi ánh sáng mang theo thông tin của biến cố 1 thì lại phải mất thêm một chút thời gian nữa để đuổi kịp A. Và như vậy là A thấy 2 xảy ra trước 1, có nghĩa là với A thì 2 biến cố không xảy ra đồng thời.

Vậy là qua một ví dụ đơn giản, ta dễ dàng khẳng đinh kết luận của Einstein về tính tương đối của thời gian. Hai biến cố không thể cùng xảy ra đồng thời tại 2 hệ qui chiếu có vận tốc khác nhau.

Thường ngày, cơ học cổ điển Newton và các tính chất về sự đồng thời của nó thực chất vẫn đúng với thực tế do các vận tốc chúng ta gặp thường ngày quá nhỏ so với vận tốc ánh sáng. Như vậy có thể coi thuyết tương đối hẹp là một sự tổng quát hóa đến mức chính xác của cơ học Newton , thoát khỏi những hạn chế của các lí thuyết này ở thang vĩ mô.

Hệ thức Lorentz và sự biến đổi của không gian và thời gian trong chuyển động

Một trong những hệ quả quan trọng của thuyết tương đối hẹp là sự biến đổi của không gian và thời gian trong chuyển động, mà cụ thể là sự co ngắn của độ dài, gia tăng khối lượng và sự kéo dài của thời gian. Các biến đổi định tính này được mô tả qua các hệ thức của Lorentz.

Với vận tốc ánh sáng là c, vận tốc chuyển động tương đối của 2 hệ qui chiếu (hệ có vật được quan sát và hệ qui chiếu của người quan sát) so với nhau là v. Hệ thức Lorentz cho ta một hệ số γ (gamma) có giá trị bằng căn bậc hai của [1 trừ bình phương của (v/c)].

Vì luôn có v<c nên trong mọi trường hợp thì ta luôn có 0<γ<1. Hệ thức Lorentz cho biết nếu bạn đứng trong một hệ qui chiếu A bất kì và quan sát một vật trong một hệ qui chiếu B đang chuyển động so với bạn với vận tốc tương đối lớn để có thể so sánh với c (chẳng hạn 10%, 20%, 50% hay 90% c) thì khi bạn quan sát vật thể đó, bạn sẽ thấy khối lượng m, độ dài l (khối lượng và độ dài của vật đo được khi vật đứng im so với bạn) biến đổi tới một giá trị khác m’ và l’ như sau:

Với γ (Hệ số Lorentz) luôn nhỏ hơn 1, nên ta thấy khi vật chuyển động so với bạn, bạn sẽ thấy khối lượng của vật tăng lên so với khi vật đứng im còn chiều dài theo phương chuyển động của vật thì lại giảm đi.

Tương tự với thời gian. Gọi khoảng thời gian đo được giữa 2 sự kiện bất kì tại hệ qui chiếu B vật chuyển động là t – đây là khoảng thời gian giữa 2 sự kiện tại hệ qui chiếu B do một người đứng tại hệ đó (cùng chuyển động với hệ B) đo được, thế thì tại hệ A, bạn (người quan sát) sẽ đo được khoảng thời gian giữa 2 sự kiện này là t’:

Tức là bạn sẽ thấy khoảng thời gian giữa 2 sự kiện tại hệ B chuyển động so với bạn dài hơn khoảng thời gian đo được nếu bạn đứng trên hệ qui chiếu B (khi bạn đứng trên hệ qui chiếu B thì vật xét đến ở trên là đứng yên so với bạn).

Như vậy thuyết tương đối hẹp còn cho phép đưa ra một kết luận nhỏ nữa: khối lượng, độ dài và giá trị đo được của các khoảng thời gian cũng chỉ có tính tương đối, nó phụ thuộc vào vận tốc chuyển động.

Kết luận nhỏ trên có thể coi là một hệ quả của tính tương đối của không gian và thời gian. Bạn có thể dễ dàng nhận thấy nếu thay các giá trị của v vào hệ thức Lorentz nói trên thì với vận tốc rất nhỏ so với ánh sáng (v<<c) thì tỷ số v/c là khá nhỏ và bình phương của nó là một số rất nhỏ, việc này dẫn đến 1-v/c cũng như căn bậc 2 của nó rất gần với 1. Và do đó với các giá trị này thì có thể coi rằng độ dài, khối lượng và thời gian nói trên gần như không biến đổi. Và điều đó có nghĩa là các tính toán của cơ học cổ Newton vẫn đúng trong trường hợp vận tốc là nhỏ. Như vậy ta có thể coi cơ học Newton không hề sai, nhưng nó cung cấp những phép tính gần đúng, hoàn toàn có thể áp dụng trong đời sống hàng ngày cũng như các thiết bị kỹ thuật không sử dụng vận tốc quá cao hay yêu cầu chính xác tuyệt đối. Các biến đổi của Lorentz chỉ là cần thiết với các vận tốc rất lớn.

Tiếp tục nghiên cứu về tính tương đối của chuyển động cũng như của không gian và thời gian, Einstein để ý đến sự bẻ cong của tia sáng khi nó đi qua gần những thiên thể lớn như Mặt Trời hay các ngôi sao.

Einstein đã nêu ra giả thiết rằng hấp dẫn có thể làm đường truyền của các tia sáng trong không gian bị bẻ cong. Thuyết tương đối rộng cùng với hệ quả quan trọng nhất của nó là nguyên lí tương đương ra đời năm 1916 khẳng định rằng: “Không có một thí nghiệm vật lí nào cho phép phân biệt sự gia tốc một cáh thích hợp với sự tồn tại của hiện tượng hấp dẫn”.

Thí nghiệm tưởng tượng của Einstein để minh chứng cho kết luận này là thí nghiệm về chiếc thang máy Einstein. Nội dung của thí nghiệm này như sau: Nếu bạn đứng trong một cái thang máy lí tưởng , tức là một cái thang máy không cho phép bạn nhìn ra ngoài và cũng không nghe được thấy bất cứ một âm thanh nào của môi trường bên ngoài thang, mặt khác cái thang này êm đến mức bạn không thể cảm thấy độ rung của chiếc thang khi chuyển động.

Nếu chiếc thang chuyển động đều, sẽ không có một thí nghiệm vật lý nào thực hiện trong thang cho phép bạn khẳng định chiếc thang có chuyển động hay không. Còn nếu thang chuyển động với gia tốc bằng gia tốc trọng trường của Trái Đất, bạn sẽ có cảm giác bạn đang rơi tự do như khi nhảy từ trên nóc nhà cao tầng xuống, kể cả khi thang máy chuyển động đi lên trên nhưng với gia tốc nói trên, bạn vẫn cảm giác là mình đang rơi. Tương tự như vậy, với bất kì gia tốc nào của chiếc thang, bạn đều có thể cảm nhận thấy sự rơi tự do (nhưng khác với sự rơi trên Trái Đất nếu gia tốc khác với gia tốc trọng trường g). Khi Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời, các tia sáng từ các thiên hà, các sao ở xa khi đến với chúng ta nếu đi qua gần nhiều thiên hà và các, trong đó có cả Mặt Trời sẽ bị bẻ cong đường đi, không còn truyền theo đường thẳng nữa, không phải do hấp dẫn mạnh đến mức có thể hút được ánh sáng vào trong Mặt Trời, đơn giản là vì hạt ánh sáng (photon) không hề có khối lượng.

Lý do của việc này được giải thích trong thuyết tương đối rộng là do sự uốn cong của không gian, khiến đường đi của các tia sáng bị uốn về phía vật thể có khối lượng.

Bạn hãy tưởng tượng rằng không gian của chúng ta (3 chiều) là một tấm cao su mỏng (hay thực ra thì vật liệu gì cũng được, miễn là có thể đàn hồi để dễ hình dung), chúng ta đã thu gọn không gian thành 2 chiều. Trên đó đặt các hành tinh, các ngôi sao…, khối lượng của các ngôi sao này làm màng cao su (không gian) bị trũng xuỗng và khối lượng càng lớn thì độ trũng xuống càng lớn. Các tia sáng giống như những viên bi chuyển động trên những cái rãnh được vạch sẵn trên màng cao su đó, tuy nhiên tại khu vực gần các thiên thể nêu trên, màng cao su bị trũng xuống và do đó các rãnh đó cũng bị trũng xuồng theo và hướng của chúng thay đổi. Các viên bi của chúng ta không thể tiếp tục chạy thẳng vì đường đi của chúng đã bị “ấn” lõm xuống và gấp khúc trên không gian hai chiều của màng cao su.

Ở đây ta có thể giả định rằng ánh sáng của chúng ta là những viên bi đó, chúng bị bẻ cong đường đi không phải do lực hấp dẫn hút trực tiếp chúng vào như lý thuyết hấp dẫn ban đầu của Newton mà là do sự uốn cong của không gian trong phạm vi trường hấp dẫn (khái niệm truờng hấp dẫn này xuất hiện trong vật lí từ khi thuyết tương đối rộng ra đời). Vậy có khi nào độ cong của không gian lớn đến mức ánh sáng không thể đi qua được không?

Có! Đó là trường hợp các lỗ đen. Tại chân trời sự kiện của các lỗ đen, độ cong của không gian là vô hạn, có nghĩa là nếu chúng ta quay lại với thí dụ về màng cao su ở trên thì khi đặt một lỗ đen vào không gian – màng cao su đó thì màng sẽ không chỉ đơn giản là bị lõm mà sẽ xuất hiện một … lỗ thủng. Có nghĩa là các viên bi (ánh sáng) khi đi vào đó sẽ không thể thoát ra ngoài đơn giản là vì đường đi của nó đã đi vào trong lỗ thủng đó. (Ở đây, cần có thêm một lưu ý là nếu như viên bi không đi qua biên của lỗ thủng thì nó vẫn chỉ bị uốn cong đường đi, có nghĩa là nếu một tia sáng không đi qua chân trời sự kiện của lỗ đen thì sự uốn cong đường đi của nó vẫn diễn ra tương tự như khi đi tới gần các sao và thiên hà khác. Nhiều người thường hiểu nhầm rằng lỗ đen có lực hút cô hạn và không tuân theo qui tắc thông thường ngay cả phía ngoài chân trời sự kiện. Điều đó là hoàn toàn sai).

Tiên đoán của Einstein về sự lệch của tia sáng đã được nhóm thám hiểm của Eddington kiểm nghiệm nhờ quan sát Nhật thực năm 1919 tại đảo Principe. Những quan sát này đã cho một kết quả hoàn toàn phù hợp với các dự đoán về độ lệch tia sáng của Einstein.

Đặng Vũ Tuấn Sơn Bài viết thực hiện năm 2005, được đính chính một số điểm vào năm 2010 và 2013

【#3】Thuyết Phi Tạo Sinh… Chết Cứng!

How is Abiogenesis now? Stewa rt Kauffman, a famous theoretical biologist, said: ” Anyone who tells you that he or she knows how life started some 3.4 billion years ago is a fool or a knave. Nobody knows”. In an academic article in 2021, C hristopher Rupe & Dr. John Sanford also wrote: “Spontaneous Life… Dead in the water”.

Mặc dù được giảng dạy ở nhà trường và được tuyên truyền trên các kênh truyền thông như một sự thật không cần phải bàn cãi, nhưng Thuyết phi tạo sinh càng ngày càng mất uy tín, đơn giản vì nó không có bằng chứng thực tế và không có một thí nghiệm nào thành công. Tình hình này làm cho giới tiến hóa lo lắng. Họ đã tìm cách chống đỡ ─ một số bài báo trên mạng chạy những tiêu đề trơ trẽn tuyên bố “đã tìm thấy bằng chứng cho Thuyết phi tạo sinh”… Nhưng điều đó có tác dụng ngược ─ những nhà khoa học trung thực càng thấy cần thiết phải nói cho công chúng biết rõ sự thật. Đó là lý do để Christopher Rupe & TS John Sanford cho công bố bài báo Spontaneous Life… Dead in the Water (Lý thuyết sự sống tự phát… chết cứng), nhằm vạch trần tình trạng thực tế của Thuyết phi tạo sinh hiện nay ra sao

Một trong hai tác giả của bài báo trên, TS John Stanford, là PGS sinh học tại các Đại học Cornell, Đại học Duke, từng có 70 công trình khoa học đã được công bố, trong đó có tác phẩm nổi tiếng: “Genetic Entropy & the Mystery of the Genome” (Tính chất Entropy của gene và Bí mật của hệ gene), xuất bản năm 2005, 2008.

SPONTANEOUS LIFE… DEAD IN THE WATER

“Sự sống nguyên thủy xuất hiện như một phép lạ, rất nhiều điều kiện phải được thỏa mãn đề điều đó xảy ra”. Các phát hiện của ông được tóm tắt bằng cụm từ Omnis cellula e cellula, dịch ra là “Tất cả các tế bào đều sinh ra từ tế bào” ─ một nguyên lý đóng vai trò nền tảng của lý thuyết tế bào hiện đại và y học hiện đại. Hiện nay quan sát phổ biến ở khắp nơi đều cho thấy sự sống chỉ ra đời từ sự sống.

“Định luật Tạo Sinh được xem như một định luật của tự nhiên ─ nghĩa là nó được xác nhận một cách đúng đắn và luôn luôn được chứng tỏ là đúng mà không có ngoại lệ”. Có rất ít định luật tự nhiên, và những định luật như thế có độ chắc chắn cao nhất (chẳng hạn, Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton). Pasteur khám phá ra định luật này, và có thể ông là nhà sinh học vĩ đại nhất từng sống từ xưa tới nay. Ông nổi tiếng vì đã khám phá ra các nguyên tắc cơ bản của phương pháp chủng ngừa (ông đã nghiên cứu bệnh than và bệnh dại đầu tiên), vấn đề lên men do vi khuẩn, phương pháp tẩy trùng và lý thuyết vi trùng gây bệnh. Lý thuyết vi trùng gây bệnh trở thành nền tảng của y học hiện đại. Vì những lý do này, Pasteur được coi là “Cha đẻ của Vi sinh học”. Trước khi ai đó có thể trực tiếp quan sát thấy sự sống hình thành tự phát, Định luật Tạo Sinh sẽ tiếp tục đứng vững như một định luật tự nhiên. “Muốn thách thức Định luật Tạo Sinh mà không có bằng chứng thực nghiệm thuyết phục để chứng minh cho học thuyết sự sống hình thành tự phát thì đó là điều vừa không hợp lý vừa phi khoa học”. Đây là lý do tại sao chúng ta thường tìm thấy rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu hàng đầu về nguồn gốc sự sống (hầu hết là những nhà tiến hóa) công khai thừa nhận rằng Thuyết Phi Tạo Sinh là bất khả thi.

James Tour, nhà hoá học nổi tiếng và kỹ sư hệ thống Nano tại Đại học Rice; được công nhận vào năm 2014 là một trong “50 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất trên thế giới ngày nay”; ông là tác giả của hơn 500 ấn phẩm khoa học và nhận được các giải thưởng từ NASA, Hiệp hội Hoá học, Thomas Reuters, Honda và những tổ chức khác.

Eugene V. Koonin, nhà sinh học tiến hóa, nhà nghiên cứu cao cấp của Trung tâm Quốc gia về Thông tin Công nghệ Sinh học (Mỹ), tác giả cuốn “The Logic of Chance: The Nature and Origin of Biological Evolution” (Logic của Cơ hội: Tự nhiên và Nguồn gốc của Tiến hóa Sinh học), nói:

“…Lĩnh vực nghiên cứu nguồn gốc sự sống là một thất bại … Tất nhiên điều này không phải do thiếu các nỗ lực thử nghiệm và lý thuyết, mà do những khó khăn nội tại khác thường và phức tạp của vấn đề. Một loạt các sự kiện nối tiếp cực kỳ lạ lùng là cần thiết cho sự ra đời của sự sống, từ việc tổng hợp và tích lũy nucleotide đến nguồn gốc của việc phiên dịch; thông qua phép nhân bội lên của các xác suất, những điều này làm cho kết quả cuối cùng dường như là một phép lạ”

Stewart Kauffman, nhà sinh học lý thuyết, tác giả cuốn “At Home in the Universe” (Ở nhà trong vũ trụ), do Đại học Oxford xuất bản năm 1995, nói:

Werner Arber, nhà vi sinh học đoạt Giải Nobel năm 1978, Giáo sư Đại học Geneve, Đại học Basel, Đại học Nam California, nói:

O Kuppers, nhà sinh học xuất sắc tại Đại học Jena ở Đức, tác giả cuốn “Information and the origin of life” (Thông tin và vấn đề nguồn gốc sự sống), do Đại học MIT xuất bản năm 1990, nói:

“Xác suất dự kiến đối với sự hình thành chuỗi nucleotide của một vi khuẩn quá nhỏ đến mức kể cả toàn bộ không gian của vũ trụ cũng sẽ không đủ để làm cho sự tổng hợp ngẫu nhiên một bộ gene của vi khuẩn có thể xảy ra”

Gerald F. Joyce, viết trên tạp chí NATURE (tạp chí khoa học uy tín nhất) năm 1989, số 338 (trang 217-224):

“Câu hỏi về nguồn gốc sự sống là một trong những vấn đề lâu đời nhất và khó nhất trong sinh học. … Vấn đề trở nên đặc biệt khó khăn bởi vì chúng ta không có bằng chứng trực tiếp về những sự kiện đã xảy ra trong khoảng một nghìn triệu năm đầu tiên của lịch sử Trái đất. Những tảng đá lâu đời nhất cung cấp những đầu mối cho quá khứ xa xôi của sự sống là 3,6 tỷ năm tuổi và do đó sự sống tế bào dường như đã được thiết lập đâu ra đấy từ lúc ấy. Các sinh vật hiện đại quá phức tạp đến nỗi chúng cung cấp ít thông tin về sự sống như thế nào trước khi có mã di truyền và một bộ máy phiên dịch. Những nghiên cứu ngoài trái đất vẫn chưa cung cấp cho chúng ta một dạng sống nào khác để so sánh. Chúng ta chỉ còn lại một chút hiểu biết về nguồn gốc sự sống dựa trên suy luận và phỏng đoán”.

Klaus Dose, tác giả bài báo “The origin of life: more questions than answers” (Vấn đề nguồn gốc sự sống: nhiều câu hỏi hơn câu trả lời), đăng trên tạp chí Interdisciplinary Science Reviews (Nghiên cứu khoa học liên ngành) số 13, trang 348, năm 1988, nói:

Khái niệm mơ hồ về sự hình thành tự phát của sự sống đã bị mất uy tín khi Định luật Tạo sinh được Pasteur và những người khác thiết lập một cách vững chắc trong thế kỷ 19. Ấy thế mà các nhà tiến hóa vẫn ngoan cố bám vào quan niệm sự sống hình thành tự phát ─ nhất là chính Charles Darwin. Darwin bị thúc đẩy mạnh mẽ bởi khát vọng giải thích lịch sử tự nhiên (bao gồm nguồn gốc sự sống) thông qua các quá trình tự nhiên thuần túy. “Niềm tin của ông vào sự hình thành tự phát của sự sống không dựa trên bất kỳ một bằng chứng khoa học nào cả, mà thực ra là trái với tất cả các bằng chứng khoa học trong thời đại của ông(chẳng hạn như thí nghiệm bình cổ cong thiên nga của Pasteur và những người khác)”. Như Hubert Yockey, nhà vật lý và lý thuyết thông tin đã viết trong Tạp chí Sinh học Lý thuyết:

“Kịch bản ‘cái ao nhỏ ấm áp’ (lý thuyết nguồn gốc sự sống do Darwin phỏng đoán) được sáng chế ra nhằm phục vụ cho mục đích giải thích nguồn gốc sự sống theo kiểu quy giản về vật chất. Kịch bản này không được hỗ trợ bởi bất kỳ bằng chứng nào cả và nó vẫn chỉ là phỏng đoán cho đến khi tìm được bằng chứng… “

Trong một lá thư gửi cho người bạn Joseph Hooker năm 1871, Darwin phỏng đoán về khả năng một dạng sự sống vô cùng nhỏ bé thô sơ nẩy sinh từ cái mà ông gọi là “cái ao nhỏ ấm áp” trên trái đất thời nguyên thủy. Ông viết:

“Người ta thường nói rằng tất cả những điều kiện cho việc tạo ra sự sống đầu tiên hiện nay đã có mặt, điều kiện đó có thể đã có mặt. Nhưng nếu (và, ôi, một chữ nếu lớn biết bao) chúng ta có thể hình dung trong một cái ao nhỏ ấm áp nào đó có tất cả các loại ammonia và muối phosphoric, ánh sáng, nhiệt, điện, v.v. hiện diện, thì một thành phần proteine (sic) được tạo ra bởi các phản ứng hóa học, sẵn sàng trải qua những biến đổi vẫn còn phức tạp…”

Darwin tưởng tượng sự sống hình thành tự phát từ ammonia, muối phosphoric và năng lượng ─ ấy là vì nhận thức sai lầm và quá đơn giản của ông về sự sống. Trong thời của Darwin, dưới một kính hiển vi, một tế bào đơn trông chẳng có gì tinh vi hơn một giọt thạch đơn giản. Sự ngây thơ của Darwin không có gì đáng ngạc nhiên vì ông sống vào giai đoạn trước cuộc cách mạng sinh học. Với chính sự hiểu biết ngây thơ đó mà Darwin dám viết công trình nổi tiếng của ông, “On the Origin of Species” (Về Nguồn gốc Các Loài,1859). Ông viết:

“Nếu có thể chứng minh được rằng bất kỳ một bộ phận phức tạp nào tồn tại mà có thể không được tạo ra bởi vô số những biến đổi nhỏ kế tiếp nhau thì lý thuyết của tôi sẽ hoàn toàn đổ vỡ. Nhưng tôi không thể tìm thấy một trường hợp nào như thế”.

Chú ý rằng ông nói, “Nhưng tôi không thể tìm thấy một trường hợp nào như thế”. Nhưng hiện nay, trong thế kỷ 21, khoa học đang vén mở cho thấy một vũ trụ sinh học vô cùng phức tạp mà Darwin không bao giờ có thể tưởng tượng được. Bên trong một tế bào là một thế giới vi mô rộng lớn, sự phức tạp kỳ diệu của nó tương đương với sự phức tạp của thành phố New York (không hề cường điệu). Các nhà khoa học hiện nay biết rằng một tế bào đơn bao gồm hàng triệu “máy nano” phân tử và một mê cung các mạng thông tin vượt xa các công nghệ thông tin tốt nhất của con người. Bằng nhiều cách, các mạng thông tin này có thể so sánh với mạng internet. So với những gì chúng ta biết ngày hôm nay thì Darwin có thể xem như chẳng biết gì cả. Ông không bao giờ có thể đoán rằng một tế bào của con người chứa tới 6 tỷ chữ cái di truyền, mã hoá một hệ thống ngôn ngữ được trình bày bằng ký hiệu rất giống với thông tin do con người viết ra, nhưng phức tạp gấp bội.

Thí nghiệm này sử dụng khí gas hydrogen (H2), methane (CH4), và ammonia (NH3), đựng trong một bình thủy tinh tròn được bít kín chứa đầy nước. Vì các khí gas bình thường không phản ứng với nhau trong những điều kiện tự nhiên, nên các tia lửa điện đã được phóng đi từ các điện cực để gây ra các phản ứng hóa học (mô phỏng tia sét tác động trong bầu khí quyển thủa ban sơ). Bất kỳ phân tử nào được tạo ra đều được hòa tan vào một bình ngưng và được bảo quản trong một buồng ngăn cách (mô phỏng đại dương). Trong vòng một tuần, thí nghiệm mang lại một hỗn hợp chất độc gồm nhựa đường và nhựa có thể gây hại cho sự sống, và chỉ tạo ra một lượng rất nhỏ acid amin, khoảng 1,05% glycine và 0,75% alanin. Hai acid amin này là 2 trong số 20 acid amin cần thiết cho sự sống, nhưng chúng không phải là sự sống. Tương tự như bạn có thể tạo ra 2 chữ cái tiếng Anh (chẳng hạn như z và c), nhưng đó không phải là một cuốn sách có thông tin hữu ích.

Stanley Miller qua đời vào năm 2007. Trước khi mất không bao lâu, Miller suy ngẫm về sự nghiệp của mình như một nhà nghiên cứu về nguồn gốc sự sống. Ông đã khiêm tốn thú nhận, “Vấn đề nguồn gốc sự sống hóa ra khó khăn hơn tôi và hầu hết những người khác đã hình dung”. Thầy của ông, Harold Urey, cũng thể hiện sự không thỏa mãn tương tự đối với sự nghiệp cuộc đời mình, nói rằng: “Tất cả chúng tôi, những người nghiên cứu về nguồn gốc sự sống, nhận ra rằng càng nhìn vào nó càng thấy nó quá phức tạp để xảy ra sự tiến hóa ở bất cứ nơi nào. Tất cả chúng ta đều tin như một vấn đề của đức tin rằng sự sống tiến hóa từ vật chất chết trên hành tinh này. Đúng là sự phức tạp của nó quá lớn, chúng ta khó mà có thể tưởng tượng được điều đó đã xảy ra” (All of us who study the origin of life find that the more we look into it, the more we feel it is too complex to have evolved anywhere. We all believe as an article of faith that life evolved from dead matter on this planet. It is just that its complexity is so great, it is hard for us to imagine that it did.).

  • Xác suất thành công gần như bằng zero: Thí nghiệm Urey-Miller thất bại ngay trong việc hình thành một protein chức năng đơn lẻ ─ sự khó khăn trong vấn đề này là một sự thật không thể bị thổi phồng. Các acid amin không tự nhiên liên kết với nhau để tạo thành protein (và nếu chúng làm, chúng sẽ tan vỡ hầu như ngay lập tức). Protein trung bình được tạo thành từ ít nhất 100 acid amin và có khoảng 2000 loại acid amin nhưng chỉ có 20 loại được sử dụng cho sự sống. Cái làm cho protein hoạt động đúng chức năng là thứ tự chính xác của 20 acid amin khác nhau liên kết với nhau thành một chuỗi polypeptide. Nếu một acid amin không ở đúng vị trí thì protein sẽ không gập lại được, và do đó sẽ vô ích về mặt sinh học. Với đòi hỏi chính xác như thế thì cái gì có thể làm một một protein chức năng ở mức khiêm tốn (chỉ chứa khoảng 100 acid amin) có thể hình thành? Các nhà khoa học Walter Bradley và Charles Thaxton đã tính xác suất cho sự kiện đó và kết quả bằng 4,9 x (1/10)^191 ─ theo xác suất thống kê, điều này là bất khả thi, vì nó quá nhỏ so với xác suất Borel (1/10)^50), bất kể thời gian dài bao nhiêu. Hóa ra sự hình thành tự phát của một protein chức năng đơn lẻ về cơ bản là bất khả thi, ngay cả khi có vô hạn thời gian và đại dương chứa đầy các acid amin.
  • Vi phạm Định luật Bất Đối xứng của sự sống: Theo xác suất, acid amin có thể xuất hiện dưới dạng các hình thể đối xứng gương với nhau với tỷ lệ cân bằng 50-50. Cụ thể, giống như hai bàn tay trái và phải, các acid amin có thể xuất hiện ở dạng trái và phải. Nhưng thật thú vị là sự sống chỉ được tạo ra bởi các acid amin thuận tay trái. Nếu một protein được tạo ra chứa một acid amin thuận tay phải thì nó sẽ hủy hoại chức năng của protein. Tiếc thay, thí nghiệm Urey-Miller tạo ra các acid amin cả trái lẫn phải với tỷ lệ cân bằng 50-50 ─ đó không phải là acid amin của sự sống, mà là thứ độc hại chết người!
  • Bầu khí quyển mô phỏng trong thí nghiệm sai với thực tế: Thí nghiệm Urey-Miller giả định bầu khí quyển trái đất thời tiền sử không có oxygen. Đây là một nhu cầu sống còn của họ, bởi họ biết oxygen sẽ hủy hoại những phân tử do họ tạo ra. Họ buộc phải loại trừ oxygen vì họ cần phải làm như thế chứ không phải vì bầu khí quyển nguyên thủy không có oxygen. Nhưng thực tế những khối trầm tích sâu nhất của trái đất cho thấy chúng chứa một khối lượng lớn oxygen, chứng tỏ bầu khí quyển của “trái đất thủa ban sơ” luôn luôn có nhiều oxygen, trái hoàn toàn với giả định của Urey-Miller.
  • Mắc phải “Cái Bẫy 22” của Oxygen: Oxygen là đồng xu hai mặt ─ nó vừa hủy hoại sự sống vừa cần thiết cho sự sống. Nếu bầu khí quyển có oxygen, các phân tử sống sẽ bị hủy hoại thông qua quá trình oxy hóa, nhưng nếu không có oxygen để tạo nên tẩng ozone che chắn thì các phân tử sống sẽ bị hủy hoại bởi các tia cực tím trong vũ trụ. Đó là một tình trạng được gọi là “Cái Bẫy 22” (Catch 22). Nhà sinh hóa nổi tiếng Michael Denton nói: “Cái mà chúng ta có là tình trạng của Cái Bẩy 22”. Nói một cách dễ hiểu, gặp “Cái Bẫy 22” thì đằng nào sự sống cũng bị hủy diệt!
  • Mô hình Urey-Miller thực tế đã bị khoa học từ bỏ: Mặc dù hiện nay Thuyết phi tạo sinh không đưa ra được một “mô hình tiêu chuẩn” nào cho kịch bản sự sống hình thành tự phát, nhưng đa số các nhà khoa học đều đã bác bỏ những chất hóa học khởi đầu và những điều kiện khí quyển ban sơ được giả định trong thí nghiệm Urey-Miller. Họ công khai thừa nhận điều này. Chẳng hạn, J. Cohen viết trên tạp chí SCIENCE (một tạp chí khoa học thuộc loại uy tín nhất) số 270 năm 1995: “Bầu khí quyển ban đầu chẳng có gì giống như mô phỏng trong thí nghiệm Urey-Miller”. Các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng bầu khí quyển ban sơ chứa hầu hết là N2, CO2, và một số hơi nước, nhưng “…cho đến bây giờ, những thí nghiệm kiểu như Urey-Miller đều không tạo ra phân tử hữu cơ”, đó là ý kiến của một loạt nhà khoa học tên tuổi trong cuốn “Biology Concepts and Connections” (Các khái niệm sinh học và những mối liên kết), xuất bản lần thứ 6 năm 2009, trang 295.
  • Thiên nhiên không có cơ chế bảo quản sự sống hình thành tự phát: Để đảm bảo các acid amin mới hình thành được bảo quản, Urey và Miller thiết lập một cái bẫy hoặc một buồng ngăn cách. Một khi các acid amin đã được hòa tan trong buồng ngưng tụ, chúng dễ dàng nhỏ giọt vào cái bẫy. Nếu không, môi trường “mô phỏng” (hỗn hợp bình thủy tinh) sẽ nhanh chóng phá huỷ các phân tử mới thành lập. “Nhưng trên mặt đất nguyên thủy làm sao có thể có một cơ chế bảo quản chuyên biệt như thế để bảo vệ những phẩn tử mới hình thành?”.
  • Hiện tượng thủy phân phá hủy sự sống hình thành tự phát: Vấn đề thủy phân không thể tránh được nếu sự sống bắt đầu ở các đại dương. Hiện tượng thủy phân là một quá trình hóa học đã được hiểu rõ, trong đó các protein (chuỗi polypeptide) bị phân tách thành các tiểu đơn vị acid amin thông qua việc bổ sung các phân tử nước. Các protein mới hình thành sẽ vỡ ra nhanh hơn so với chúng có thể hình thành. Các nhà khoa học công khai thú nhận rằng đây là một vấn đề nghiêm trọng cho kịch bản nguồn gốc sự sống. Chẳng hạn, nhà vật lý Richard Morris viết trong cuốn “The Origin of Life and Evolutionary Biochemistry” (Nguồn gốc sự sống và Sinh hóa học tiến hóa): “Hơn nữa, nước có xu hướng phá vỡ chuỗi acid amin thành các phần tách ra. Nếu bất kỳ protein nào đã hình thành trong các đại dương 3,5 tỷ năm trước, chúng sẽ nhanh chóng tan rã”.

Như chúng ta đã thấy, có quá nhiều lý do để bác bỏ Thuyết phi tạo sinh. Nhưng cái thực sự làm cho Thuyết phi tạo sinh chết cứng là LÝ THUYẾT THÔNG TIN ─ một trong những thành tự vĩ đại nhất thế kỷ 20!

Trong thời đại ngày nay, muốn hiểu bản chất sự sống, phải hiểu tư tưởng cơ bản và ý nghĩa triết học của cuộc cách mạng thông tin đã và đang diễn ra. Đặc biệt, phải nắm được những khái niệm cơ bản về THÔNG TIN CỦA SỰ SỐNG.

Việc khám phá ra Lý thuyết Thông tin nói chung và thông tin của sự sống nói riêng là một trong những CUỘC CÁCH MẠNG VĨ ĐẠI NHẤT VỀ TỰ NHIÊN. Những khám phá này ngày càng để lộ cho thấy:

  • Thông tin được lập trình mới thực sự là yếu tố quyết định làm cho sự sống trở nên SỐNG, chứ không phải các phản ứng hóa học! Đây là một nhận thức hoàn toàn mới mẻ mà các nhà tiến hóa không hiểu, hoặc hiểu nhưng cố tìm cách chối bỏ sự thật.
  • Thông tin sinh học có đầy đủ tiêu chuẩn của thông tin thực sự mà Lý thuyết thông tin đòi hỏi. Theo Lý thuyết thông tin, mọi thông tin đều có nguồn trí tuệ thông minh. Vậy thông tin của sự sống ắt phải đến từ nguồn trí tuệ thông minh của nó! Vậy bài toán nguồn gốc sự sống quy về bài toán tìm nguồn gốc của thông tin của sự sống. Điều này vượt ra khỏi tầm với của Thuyết tiến hóa, vì học thuyết này hoàn toàn dựa trên chủ nghĩa tự nhiên (naturalism). Nói cách khác, Thuyết phi tạo sinh là hoàn toàn bất khả thi, vì nó dựa hoàn toàn trên các phản ứng hóa học, và các phản ứng này không bao giờ tạo ra thông tin của sự sống!

Một cuộc cách mạng về nhận thức thế giới đang diễn ra trong khoa học: “Các nhà lập trình computer, các nhà lý thuyết thông tin, các nhà di truyền học, và các nhà khoa học đang ngày càng thừa nhận bản chất phi vật chất (non – material essence) của thông tin sinh học. Những nhà khoa học này thừa nhận sự giống nhau đến mức kỳ lạ của thông tin sinh học với công nghệ thông tin do con người tạo ra. Thông tin sinh học là thông tin thực sự ─ nó không thể nẩy sinh một cách tự phát thông qua các quá trình tự nhiên”.

Vào lúc hoàn tất Dự án Bộ Gene Người, nhà sinh học David Baltimore, cựu Viện trưởng Viện Công nghệ California, người đoạt Giải Nobel năm 1975 , viết: “Sinh học hiện đại là một khoa học về thông tin”. Ông giải thích thêm, “Sự sống rõ ràng là một hiện tượng hóa học, nhưng đặc trưng phân biệt của nó không nằm trong những phản ứng hóa học. Thực ra bí mật của sự sống nằm trong những đặc trưng về thông tin; một tổ chức sống là một hệ xử lý thông tin phức tạp”. Thật vậy! Thậm chí ngay cả vi khuẩn sống được gọi là “đơn giản nhất”, vi khuẩn Mycoplasma genitalium, chứa một bộ gene nhỏ nhất để duy trì sự sống đã được tìm thấy (và do đó đôi khi nó được xem là “đơn giản” mặc dù thực ra nó phức tạp như một thành phố nhỏ) cũng có tới 580.070 chữ cái di truyền (các cặp ba-zơ nucleotide). Điều này tương đương với 2 cuốn sách dầy khoảng 500 trang có thông tin về DNA. Tất cả những thông tin mã hóa di truyền này đến từ đâu? Để trả lời câu hỏi này, trước hết hãy suy nghĩ về một ví dụ đơn giản hơn. Thông tin trong cuốn sách không bắt nguồn từ mực và giấy. Các trang và các phân tử của mực in không chứa một lượng nhỏ thông tin. Chúng chỉ đơn giản là phương tiện chuyên chở và biểu lộ vật lý của các thông điệp để sao cho nó có thể được đọc. Thông tin thực tế cuối cùng xuất phát từ tâm trí của tác giả. Thông tin là một thực thể phi vật chất – có ý nghĩa, không bắt nguồn từ vật chất. Như Norbert Weiner, giáo sư toán học của MIT và là cha đẻ của điều khiển học đã viết: “Thông tin là thông tin, không phải vật chất cũng không phải năng lượng”. Thật quyến rũ, điều tương tự hoàn toàn đúng đối với thông tin sinh học. Thông tin di truyền mã hóa trong một tế bào không phải phân tử DNA hoặc bản thân những cặp ba-zơ nucleotide ─ những cái này chỉ là phương tiện vật chất trong đó thông tin được chuyên chở, xử lý và truyền đi. Nói cách khác, thông tin (dù đó là thông tin do con người tạo ra hay thông tin sinh học) không thể bắt nguồn từ bản thân nó mà không có sự can thiệp của trí tuệ thông minh. Trong cuốn “The Natural Limits to Biological Change” (Giới hạn tự nhiên của biến đổi sinh học) , các nhà sinh học Lester và Bohlin thừa nhận điều này khi viết rằng: “DNA là một mã thông tin… kết luận áp đảo là thông tin không và không thể nẩy sinh tự phát bởi các quá trình cơ học. Trí tuệ thông minh là một điều cần thiết trong nguồn gốc của bất kỳ mã thông tin nào, bao gồm mã di truyền, bất kể thời gian kéo dài bao nhiêu” (DNA is an information code …. The overwhelming concl usion is that information does not and cannot arise spontaneously by mechanistic processes. Intelligence is a necessity in the origin of any informational code, including the genetic code, no matter how much time is given).

Nhà đồng sáng lập Microsoft, Bill Gates, dường như cũng nhận thấy điều này. Ông giải thích “DNA giống như một chương trình computer, nhưng vượt quá xa bất kỳ một phần mềm nào đã được viết ra từ trước tới nay”. Tuy nhiên, vì sự gắn bó trung thành tuyệt đối của các nhà tiến hóa đối với chủ nghĩa tự nhiên (một chủ nghĩa thực chất là một giáo điều triết học chứ không phải khoa học) nên khái niệm nguồn gốc phi vật chất của thông tin sinh học thường bị họ gạt bỏ. Vì lý do này mà các nhà tiến hóa thường không muốn thừa nhận thông tin sinh học không phải là thông tin thực sự theo nghĩa là nó xuất phát từ một trí tuệ thông minh.

Nhưng tiến sĩ Werner Gitt, cựu giám đốc Viện Vật lý Liên bang Đức và một chuyên gia nổi tiếng thế giới về lý thuyết thông tin đã có những nghiên cứu kỹ lưỡng để xác định thông tin sinh học có phải là thông tin thực sự hay không (và do đó có phải là một thực thể phi vật chất hay không). Trong biên bản đã được công bố tại hội thảo “Biological Information – New Perspectives” (Thông tin Sinh học ─ Những viễn cảnh mới) do Đại học Cornell tổ chức năm 2011. Werner Gitt đã chứng minh rằng thông tin sinh học hoàn toàn thỏa mãn 4 thuộc tính của thông tin thực sự:

  • Tiêu chuẩn 1: Thông tin phải có mã và cú pháp – sự thể hiện bằng ký hiệu và ngữ pháp: Thông tin sinh học có mã của nó là mã của DNA, chứa 4 chữ cái (ATCG) tạo thành những từ ba chữ cái (một codon hay một bộ ba). Các codon này được sắp xếp tuyến tính theo một chuỗi khác nhau, tạo thành cú pháp.
  • Tiêu chuẩn 2: Thông tin phải có ý nghĩa – một thông điệp hoặc đặc trưng thông tin: Mỗi từ ba chữ cái (codon) đại diện cho 1 trong 20 acid amin cụ thể cần thiết cho sự sống. Chuỗi (cú pháp) của từ ngữ của DNA chỉ định trình tự cụ thể của các acid amin trong việc tổng hợp protein. Đó là thông điệp của thông tin sinh học.
  • Tiêu chuẩn 3: Thông tin phải thể hiện một hành động có dự tính ─ một mệnh lệnh cho người nhận thông tin thực hiện một hành động: Các protein trong tế bào là những cỗ máy sinh học thiết yếu cho việc tạo dựng, hoạt động, bảo trì và nhân bản của toàn bộ sinh vật. Đó là hành động có dự tính của thông tin sinh học.
  • Tiêu chuẩn 4: Thông tin phải thể hiện một mục đích có dụng ý – một kết quả đã dự tính trước: Sự tồn tại của sự sống; một sinh vật lớn lên, hoạt động trao đổi chất, sinh sản. Mục đích của thông tin sinh học là tạo ra sự sống, hướng dẫn sự sống phát triển, trao đổi chất, sinh sản,…

Nói cách khác, thông tin sinh học giống y như thông tin chúng ta sử dụng hàng ngày trong các phương tiện liên lạc điện tử. Thông tin sinh học giống y như thông tin trong thế giới hiện thực, đòi hỏi phải có ngôn ngữ diễn đạt, và thông tin ấy phải có ý nghĩa, mục đích. Đó là cái mà nó làm cho sự sống thực sự SỐNG (to make life alive), giống y như thông tin mang “sự sống” đến cho computer, internet, và xã hội hiện đại. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các lý thuyết về nguồn gốc sự sống.

Nhưng các nhà tiến hóa không muốn hiểu sự thật đó, chỉ vì họ cố bám lấy tham vọng giải thích nguồn gốc sự sống dựa trên những quá trình hóa lý thuần túy. Chủ nghĩa tự nhiên đã tự giới hạn nhận thức của họ trong một phạm vi hạn hẹp của thế giới, đó là phạm vi của thế giới vật chất thuần túy, trong khi thông tin là một hiện thực phi vật chất không thể chối cãi được nữa.

Vì thế cái mà các nhà tiến hóa không bao giờ hiểu là một vấn đề khó hơn rất nhiều, đó là vấn đề NGUỒN GỐC CỦA THÔNG TIN, MỘT THỰC THỂ PHI VẬT CHẤT ( a non – material entity). “Đây là một vấn đề sâu sắc! Một thực thể thuần túy vật chất không bao giờ có thể tạo ra một thực thể phi vật chất”. Gitt giải thích rằng thông tin vũ trụ luôn luôn là sản phẩm của một mong muốn hoặc một ý định. Nói cách khác, “thông tin không thể bắt nguồn từ bản thân nó trong vật chất mà không cần đến một người gửi thông tin thông minh. Điều này được xác nhận lặp đi lặp lại với vô số thí dụ trong thế giới hiện thực. Không hề có một ngoại lệ nào được biết và do đó có thể xem đây là một định luật khoa học chính thống”.

Xét cho cùng, mã DNA chính là ngôn ngữ mà Nhà thiết kế vũ trụ đã và đang sử dụng để đặc trưng cho các hệ thống sinh học tinh vi và các cỗ máy nano phân tử làm cho sự sống vận hành.

Hóa ra THÔNG TIN mới là yếu tố quyết định để vật chất vô tri vô giác trở thành SỰ SỐNG!

Chừng nào hiểu rõ rằng thông tin mới thực sự là yếu tố quyết định sự hình thành sự sống thì chừng ấy sẽ thấy “Cái ao ấm áp” của Darwin chỉ là một truyện thần tiên ngây thơ ấu trĩ.

Đó là sự ngây thơ ấu trĩ của Darwin và của những người theo đuôi Darwin, chứ không phải của những người thông thái như Louis Pasteur ─ người cùng thời với Darwin nhưng đã khám phá ra ĐỊNH LUẬT TẠO SINH khẳng định SỰ SỐNG CHỈ RA ĐỜI TỪ SỰ SỐNG!

Thuyết phi tạo sinh là sự thừa kế tư tưởng “thần tiên hoang đường” của Darwin. Mặc dù ngày nay nó tự khoác cho mình những chiếc áo “khoa học” hoa hòe hoa sói như “Thí nghiệm Urey-Miller”, “Thế giới RNA”, “Tiến hóa hóa học”, “Tiến hóa vũ trụ”,… nhưng bản chất của nó vẫn chỉ là những truyện thần tiên, thậm chí chỉ là những trò hề trên sân khấu khoa học hiện đại, như một chất men kích thích những tâm hồn say đắm “truyện khoa học viễn tưởng”, dễ dãi tin rằng “thời gian sẽ tự nó tạo ra các phép lạ”, như nhà tiến hóa hàng đầu George Wald đã nói!

[1] Francis Crick, trích bởi John Horgan, “In the Beginning”, Scientific American, Tháng 02/1991.

【#4】Evolution Vs Laws Of Science / Thuyết Tiến Hóa Vi Phạm Các Định Luật Khoa Học

Thuyết tiến hóa vi phạm một loạt định luật khoa học căn bản: các định luật Pasteur về sự sống, các định luật Mendel về di truyền, định luật 2 của nhiệt động lực học, các nguyên lý của lý thuyết thông tin,… Do đó thuyết tiến hóa không phải một lý thuyết khoa học, mà chỉ là ngụy khoa học. Essay on Philosophy of Science, psented at VIDS 18/02/2017 and some other institutes & universities II.4. Thuyết Tiến hóa vi phạm các định luật cơ bản của khoa học Evolution violates many fundamental laws of science: Pasteurian laws of life, Mendelian laws of heredity, 2nd law of thermodynamics, principles of information theory,… That’s why evolution is not a scientific theory, but just a pseudo-science.

Có nhiều định luật cơ bản của khoa học bác bỏ Thuyết Tiến hóa, nhưng trước hết hãy nói về 2 định luật do Louis Pasteur khám phá ─ Định luật Tạo sinh và Định luật Bất Đối xứng của Sự Sống. Giới tiến hóa rất sợ 2 định luật này, sợ đến nỗi không dám gọi đó là những định luật, và tìm cách che đậy sao cho càng ít người biết càng tốt.

II.4-1. Thuyết tiến hóa vi phạm Định luật Pasteur về Tạo sinh (Pasteurian Law of Biogenesis)

Có một sự thật cần làm sáng tỏ: Pasteur là đại ân nhân của nhân loại, ai cũng biết những công trạng vĩ đại của ông như khám phá về vi trùng, siêu vi trùng, tìm ra phương pháp vaccine, chữa bệnh dại, chữa bệnh than, tìm ra các phương pháp khử trùng,… nhưng ít người biết rằng Pasteur còn là khoa học khám phá ra những định luật vĩ đại về sự sống mang tính chất nguyên lý bao trùm vũ trụ, tương tự như nguyên lý vạn vật hấp dẫn, nguyên lý bảo toàn vật chất,… Khi giới tiến hóa buộc lòng phải nhắc tới những định luật của Pasteur, họ gọi đó là một “giả thuyết”, hoặc một “tính chất”,… thay vì một định luật. Đơn giản vì nếu thừa nhận đó là những định luật thì Thuyết Tiến hóa lập tức sụp đổ, như chúng ta sẽ thấy sau đây.

Đó là Định luật Tạo Sinh được toàn thế giới công nhận, và trở thành một trong những định luật nền tảng được giảng dạy trong nhà trường, ít nhất cho sinh viên ngành sinh học.

Sau thí nghiệm bình cổ cong, Pasteur tuyên bố: “Không bao giờ học thuyết sự sống hình thành tự phát còn có thể hồi phục được nữa từ cú đòn chết người mà thí nghiệm đơn giản này giáng lên nó. Không có một tình huống nào trong đó có thể xác nhận vi sinh vật nẩy sinh từ một thế giới không có vi trùng, không có cha mẹ tương tự như chúng” Wikipedia / Louis Pasteur

【#5】Mối Liên Hệ Giữa Nhãn Hiệu Trong Pháp Luật Việt Nam (P2)

Những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí thường mang tính chất mô tả về nguồn gốc địa lí. Chính vì thế mà pháp luật nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới thường không chấp nhận bảo hộ cho những nhãn hiệu chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa. Điểm đ Khoản 2 Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 liệt kê các nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt:

“Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định của Luật này.”

Trong đó, quy định này có trường hợp ngoại lệ cho việc đăng kí nhãn hiệu có chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí nếu “dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng kí dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận theo quy định của Luật này”. Như vậy, theo điểm đ khoản 2 theo Điều 74 Luật sở hữu trí tuệ, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí có thể được chấp nhận bảo hộ là nhãn hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

(1) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu.

Mặc dù những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa bị coi là không có khả năng phân biệt nhưng trên thực tế, nhiều nhãn hiệu có chứa thành phần mô tả nguồn gốc địa lí vẫn được chấp nhận đăng kí bảo hộ tại Việt Nam. Về nguyên tắc, sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa có thể là bất kì dấu hiệu nào nhìn thấy được và có khả năng phân biệt. Những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa, dịch vụ được xếp vào loại những dấu hiệu mang tính chất mô tả/chỉ dẫn thương mại là những dấu hiệu đã mất đi khả năng phân biệt. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, nhà sản xuất vẫn có xu hướng lựa chọn gắn vào nhãn hiệu những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí, dù việc được chấp nhận bảo hộ là rất khó khăn. Khi sử dụng những dấu hiệu có chứa chỉ dẫn nguồn gốc địa lí của hàng hóa/dịch vụ, nhà sản xuất muốn người tiêu dùng có sự liên tưởng giữa sản phẩm đó và khu vực địa lí trên nhãn hiệu mà việc sử dụng có thể khiến cho khách hàng có sự tin cậy về danh tiếng hay chất lượng của sản phẩm. Hành vi sử dụng đó có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội và các cá nhân, tổ chức khác trên khu vực địa lý đó và vì vậy, việc đăng kí nhãn hiệu là dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc bị loại trừ. Tuy nhiên, Luật sở hữu trí tuệ cũng dành ra trường hợp biệt lệ, khi dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của hàng hóa, dịch vụ đã được người nộp đơn sử dụng và được biết đến một cách rộng rãi trong khoảng thời gian nhất định. Trong trường hợp này, do dấu hiệu đã trở nên quen thuộc và phổ biến với người tiêu dùng nên khi dấu hiệu được sử dụng trên hàng hóa, người tiêu dùng có thể không có lí do để nghĩ hay liên tưởng rằng dấu hiệu đó chỉ ra nơi sản xuất hay nguồn gốc sản phẩm mà chỉ đơn giản xem nó như một dấu hiệu để phân biệt hàng hóa trên thị trường.

(2) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận.

Ở nhiều quốc gia không bảo hộ riêng cho chỉ dẫn địa lí thì các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lí của sản phẩm vẫn được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận. Tại Việt Nam, Luật sở hữu trí tuệ định nghĩa:

“Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên tổ chức là chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuđó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”.“Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệucho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”.

Nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận có chức năng chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa, dịch vụ đăng ký nhãn hiệu và tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu. So sánh với chỉ dẫn địa lí, nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận có nhiều điểm tương đồng: Thứ nhất, giống như chỉ dẫn địa lí, nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận là loại tài sản có thể cho phép nhiều đối tượng sử dụng để gắn trên hàng hóa/dịch vụ của mình. Chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận là tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp. Sản phẩm mang nhãn hiệu chứng nhận cũng giống sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí là phải thoả mãn một tiêu chuẩn chung nhất định.Nhãn hiệu chứng nhận có thể bao gồm chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý nhưng không bắt buộc sự xuất hiện của dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý. Thứ hai, rất nhiều chủ thể có thể được quyền sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tập thể/nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý nếu đáp ứng các điều kiện và tuân theo các quy chế d quy định về xuất xứ địa lí, nguyên vật liệu, phương thức sản xuất, chất lượng… mà nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận/chỉ dẫn địa lý đó đặt ra; các tổ chức/cá nhân đều chịu sự kiểm soát về việc sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa/chỉ dẫn địa lý cũng như kiểm soát về chất lượng sản phẩm được gắn nhãn hiệu/chỉ dẫn địa lý đó. Chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuchứng nhận có thẩm quyền kiểm định và xác nhận sản phẩm, dịch vụ đạt tiêu chuẩn. Khác với nhãn hiệu tập thể, chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuchứng nhận và chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý (Nhà nước) không sử dụng, khai thác nhãn hiệu đó mà cấp phép sử dụng cho những chủ thể kinh doanh có sản phẩm, dịch vụ đạt tiêu chuẩn. Tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí cũng không trực tiếp sử dụng, khai thác chỉ dẫn địa lí mà chỉ quản lí việc sử dụng của các thành viên. Đối với nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý, không xác định được cụ thể về những người được sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, vì sau khi nhãn hiệu đăng kí, việc cấp phép sử dụng thuộc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu. Đối với chỉ dẫn địa lí, việc đăng bạ chỉ dẫn địa lí chỉ xác định tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí chứ không xác định cụ thể những người sử dụng.

Tuy nhiên, nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận vẫn có một số điểm khác biệt với chỉ dẫn địa lí.

Thứ nhất, nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm hoặc dịch vụ của các thành viên hiệp hội với sản phẩm, dịch vụ của các cơ sở không phải thành viên. Dấu hiệu này chỉ dẫn về nguồn gốc thương mại của sản phẩm, dịch vụ, nó cho biết xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ là từ một hiệp hội. Vì vậy, nhãn hiệu tập thể có thể là bất kì dấu hiệu nào để phân biệt sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của hiệp hội đó với hàng hóa, dịch vụ của những người khác không phải là thành viên. Ví dụ: “Vinataba” là một nhãn hiệu tập thể sử dụng bởi các công ti sản xuất thuốc lá thuộc Tổng công ti thuốc lá Việt Nam(1) hay VNPT là nhãn hiệu tập thể của Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam. Còn đối với nhãn hiệu chứng nhận, chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệuthực hiện việc chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu chứng nhận.

Thứ hai, thành viên của tổ chức tập thể sở hữu nhãn hiệu tập thể thường là những người cùng sản xuất, kinh doanh sản phẩm, tuân thủ theo quy chế sử dụng, có thể là các doanh nghiệp, nhà sản xuất ở những địa phương khác nhau. Tổ chức tập thể là chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệutập thể có thể là hiệp hội, liên hiệp các hợp tác xã, tổng công ti… với phạm vi hoạt động không bị giới hạn trong một địa phương nhất định. Đối với nhãn hiệu chứng nhận, thì người được phép sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chứng nhận là tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện trong quy chế sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa chứng nhận. Như vậy, chủ thể có quyền sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tập thể/nhãn hiệu chứng nhận thường không bắt buộc phải thuộc một khu vực địa lý nhất định. Còn đối với chủ thể sử dụng chỉ dẫn địa lí thi phải là những cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm tại địa phương gắn với chỉ dẫn địa lý đó. Ví dụ: đối với chỉ dẫn địa lý “Nước nắm Phú Quốc” thì chỉ có những cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm tại huyện đảo Phú Quốc mới có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý này trên sản phẩm của mình.

Thứ ba, trong khi sản phẩm gắn nhãn hiệu tập thể không bắt buộc phải có những tính chất, chất lượng đặc thù, khác biệt so với các sản phẩm khác cùng loại; còn nhãn hiệu chứng nhận quy định các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu; thì sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí phải có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lí của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn đó quyết định.

Khi nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu đăng ký nhãn hiệusẽ bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

Ngoài ra, khi xem xét “hành vi sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ” bị coi là xâm phạm quyền, Khoản 5 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ cũng có quy định sử dụng đăng ký nhãn hiệu hàng hóa là việc thực hiện các hành vi sau đây:

(1) Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; hoặc

(3) Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

HÃY LIÊN HỆ ĐỂ CHÚNG TÔI ĐƯỢC TƯ VẤN CHO BẠN

CÔNG TY LUẬT HỢP DANH HCM

Địa chỉ: 15 Nguyễn Văn Thủ, P.Đa Kao, Quận 1, TP.HCM

Điện thoại: 0839100102 Hotline: 0916771088

Website http://hcmlawfirm.vn/ Email: [email protected]

【#6】Luận Văn: Bảo Hiểm Thất Nghiệp Theo Pháp Luật Việt Nam, Hay

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành luật kinh tế với đề tài: Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay, cho các bạn làm luận văn tham khảo

  1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG THỊ NGUYỆT KHUÊ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số : 60.38.01.07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi Nguyễn Hữu Chí HÀ NỘI, 2021
  2. 2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Học viện Khoa học xã hội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Dương Thị Nguyệt Khuê
  3. 3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………………………………. 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP………………………………………. 7 1.1. Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp………………………………………………. 7 1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm thất nghiệp…………………………. 15 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM…………………………………………………………………… 25 2.1. Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam ……………………………………….. 25 2.2. Đánh giá tính hoàn thiện của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam……………………………………………………………………………… 47 Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM………………………………………………… 60 3.1. Phương hướng hoàn thiện…………………………………………………… 60 3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam …………62 KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………… 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………. 74
  4. 4. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ASXH An sinh xã hội BHTN Bảo hiểm thất nghiệp HĐLĐ Hợp đồng lao động ILO International Labour Organization : Tổ chức Lao động Quốc tế NLĐ Người lao động NSDLĐ Người sử dụng lao động NTN Người thất nghiệp TCTN Trợ cấp thất nghiệp
  5. 5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biểu đồ tháp dân số năm 2014 Nhìn vào tháp dân số trên, có thể dễ dàng nhận thấy dân số Việt Nam trong độ tuổi từ 20 – 40 những năm gần đây vẫn đang ở mức cao ở cả nam và nữ, đặc biệt nhóm tuổi từ 15 đến 30 tuổi, tức là trong độ tuổi lao động. Vì vậy, áp lực dân số lên vấn đề lao động, việc làm ở nước ta rất lớn. Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, biến động cung – cầu lao động trên thị trường lao động thường xuyên xảy ra, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động ngày càng gia tăng. Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế – xã hội mà hầu hết các nước trên thế giới phải đương đầu. Có thể xem thất nghiệp là một hiện tượng khách quan và nó được biểu hiện như một đặc trưng vốn có của kinh tế thị trường. Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, nó đẩy người lao động bị thất nghiệp vào tình cảnh túng quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình trệ. Những biến động của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa đang ngày càng có những tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế – xã hội Việt Nam, trong đó có sự gia tăng số lượng người lao động mất việc làm. Nước ta, tuy mới bước vào nền kinh tế thị trường nhưng thất nghiệp đã, đang và sẽ là vấn đề cấp thiết mà Đảng, Nhà nước và toàn xã hội phải tập trung giải quyết.
  6. 6. 2 Nhận thức được điều này, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngay từ rất sớm, Đảng ta đã khẳng định: “Từng bước hình thành quỹ bảo trợ thất nghiệp ở thành thị, đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu, không để thất nghiệp trở thành căn bệnh kinh niên” (Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996). Tiếp đó, vấn đề thất nghiệp và bảo trợ thất nghiệp đã được khẳng định lại trong nhiều văn kiện của Đảng và được cụ thể hoá bằng nhiều chính sách đối với vấn đề này. Đặc biệt, Bộ luật lao động năm 2013, Luật bảo hiểm xã hội ngày 29/6/2006 và Luật việc làm ngày 16/11/2013 là những văn bản pháp lý quan trọng góp phần bảo đảm quyền được BHTN cho NLĐ bị thất nghiệp ở Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, quan điểm, đường lối của Đảng về chính sách xã hội, đặc biệt là ASXH được nâng lên tầm cao mới, thể hiện toàn diện hơn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2021: “Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm.” Là một trong những chính sách về ASXH, quyền được BHTN đã được quan tâm song, thực tế cho thấy còn nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện như: đối tượng tham gia BHTN còn hạn chế dẫn tới một bộ phận không nhỏ NLĐ chưa được bảo đảm quyền lợi khi họ bị mất việc làm; tình trạng NSDLĐ nợ đóng BHTN; sự lợi dụng của NLĐ đối với việc chi trả BHTN, chúng tôi vậy, việc tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khắc phục tình trạng trên là hết sức cần thiết để bảo đảm quyền được BHTN cho người bị mất việc, góp phần củng cố niềm tin của NLĐ đối với chính sách, pháp luật của nhà nước, ổn định đời sống xã hội. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn tìm ra những điểm tồn tại, vướng mắc trong quy định của chính sách, pháp luật về BHTN, những khó khăn trong thực tiễn áp dụng, từ đó làm cơ sở để tìm ra những giải pháp nhằm bảo đảm quyền được BHTN.
  7. 11. 7 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1.1. Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp 1.1.1. Khái niệm Thất nghiệp là vấn nạn chung của toàn cầu, nạn thất nghiệp tồn tại dưới dạng ” bắt buộc” là một trạng thái mà trong đó, tổng cung về lao động của những người lao động muốn làm việc với tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có. Thất nghiệp được coi là một vấn đề trung tâm trong xã hội hiện đại. Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bị thất nghiệp. Vấn đề thất nghiệp không phải là hiện tượng độc lập của nền kinh tế mà đó là kết quả của các quy luật nhất định để đạt được sự cân bằng của hệ thống kinh tế. Theo Từ điển kinh tế học hiện đại, thì thất nghiệp là tình trạng ” người lao động không có việc làm, bao gồm cả những người đang trong giai đoạn tìm việc làm mới hoặc những người không thể tìm được việc làm với đồng lương thực tế hiện hành.” Tại điều 20 Công ước 102 ngày 28/6/1952 của ILO, định nghĩa về thất nghiệp được đưa ra như sau: “Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do người lao động không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”. Quyền được có việc làm, được làm việc và bảo vệ chống thất nghiệp là một trong những quyền cơ bản của con người. Nó không những đã được ghi nhận từ
  8. 13. 9 rất lâu trong pháp luật quốc tế mà còn được quy định ở hầu hết pháp luật quốc gia. Mục đích của BHTN là ngăn ngừa sự bất ổn định về kinh tế xã hội, hỗ trợ và đào tạo để giúp người lao động có cơ hội trở lại thị trường lao động, tìm kiếm việc làm mới. Với ý nghĩa thay thế một phần thu nhập bị mất mà không phải do lỗi của người lao động, Nhà nước cần có cơ chế để quản lý NTN và việc chi trả BHTN. Trước khi Luật Việc làm 2013 ra đời, chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về định nghĩa BHTN. Nhìn chung, BHTN chính là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động một cách hữu hiệu. Bảo hiểm thất nghiệp không chỉ trao cho người lao động “con cá” mà còn cung cấp cho họ “cần câu” để họ tự xây dựng cuộc sống trong tương lai . Thông qua các chính sách về BHXH, trong đó có BHTN, có thể đánh giá phần nào sự tiến bộ, văn minh trong tư duy pháp luật của một quốc gia. 1.1.4. Yếu tố tác động đến việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp Có rất nhiều yếu tố tác động đến việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp, đặc biệt phải kể đến các yếu tố sau: Thứ nhất: Về vấn đề đóng phí và mức đóng BHTN, pháp luật BHTN chỉ có thể thực thi hiệu quả, khi có quy định cụ thể và phù hợp cho việc đóng phí và mức phí tham gia bởi quỹ BHTN được hình thành từ nguồn đóng góp của ba chủ thể với những lợi ích khác nhau là NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Mức phí đóng BHTN của NLĐ phải được tính toán bằng một tỷ lệ phần trăm phù hợp trên mức lương NLĐ đang hưởng, sao cho sau khi trừ khoản tiền tham gia BHTN, NLĐ vẫn có thể trang trải cuộc sống của mình ở mức tối thiểu. Song quyền lợi BHTN cũng không dành cho tất cả, bởi không phải NLĐ nào cũng thuộc đối tượng tham gia. Đối với NSDLĐ, việc tham gia BHTN sẽ giúp họ giảm bớt gánh nặng phải trả số tiền lớn một lúc cho khoản trợ cấp khi NLĐ thôi việc, đồng thời, tạo tâm lý yên tâm làm việc cho NLĐ. Song, để NSDLĐ có trách nhiệm đóng phí thì mức phí cũng phải được tính toán cho phù hợp. Bên cạnh đó, nhà nước cần có biện pháp, chế tài cụ thể đối với hành vi chậm hoặc không thực hiện nghĩa vụ đóng phí của NSDLĐ nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ. Đối với Nhà nước, việc trích một phần từ ngân sách vào quỹ BHTN có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng. Có khoản hỗ trợ này sẽ giúp NSDLĐ và NLĐgiảm bớt gánh nặng đóng phí, đồng thời hạn chế khả năng vỡ quỹ. Do đó, đòi hỏi ngân sách Nhà nước có khoản chi thường xuyên cho chính sách BHTN, để duy trì sự tồn tại của quỹ cũng như bảo đảm cho chính sách ASXH được thực hiện.
  9. 18. 14 Thứ hai: Về quy trình, thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN phải được đơn giản hóa tối đa, đảm bảo quyền lợi của NLĐ được giải quyết một cách nhanh chóng và đầy đủ nhất. BHTN chỉ được thực hiện tốt khi nó tạo được hiệu ứng tốt đối với những người đã, đang và sẽ tham gia. Bản chất của BHTN là một chính sách ASXH, nó cần được tạo ra bởi một cơ chế thiết thực, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, người sử dụng nó được an tâm khi quyền lợi được giải quyết một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất. Do vậy, đòi hỏi việc xây dựng và ban hành quy trình, thủ tục giải quyết quyền lợi BHTN phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Thứ ba: Về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác tạo môi trường thực hiện và phát triển chính sách BHTN. Thông qua công tác này, NLĐ, NSDLĐ ý thức được vai trò, trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của mình. Từ đó, họ sẽ tích cực, tự giác tham gia, góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết đầy đủ về chính sách này, đồng thời, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho người khác hiểu thêm. Để làm tốt cần sự nỗ lực, phối hợp của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và chính NLĐ, qua đó, làm tăng tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách. Thứ tư: Về nguồn quỹ do NLĐ và NSDLĐ đóng, có hỗ trợ một phần ngân sách từ nhà nước hoặc tiền sinh lời của các hoạt động đầu tư từ quỹ như mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu công ty; gửi tiết kiệm ở ngân hàng, mua kỳ phiếu ngân hàng; mua cổ phiếu; cho các công ty vay vốn, trực tiếp liên doanh hoặc ủy thác kinh doanh; kinh doanh bất động sản. Trong đó, mua trái phiếu chính phủ và gửi ngân hàng là biện pháp an toàn hơn cả và được hầu hết các nước áp dụng. Ở một số nước phát triển, quỹ còn được dung để cho vay xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, các công trình giáo dục hay chăm sóc sức khỏe. Thứ năm: Năng lực quản lý của cơ quan BHXH trong việc triển khai, tổ chức việc chi trả trợ cấp TN và các chế độ hỗ trợ NTN khác: Việc quản lý và sử dụng quỹ BHTN; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các chính sách về BHTN; công tác thanh kiểm tra, giám sát việc triển khai BHTN. Ngoài các yếu tố kể trên thì Chính sách BHTN, mức độ hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật, tình hình kinh tế – xã hội cùng thực trạng tình hình thất nghiệp, nhận thức của NLĐ và NSDLĐ cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện BHTN.
  10. 19. 15 1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 1.2.1 Khái niệm pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp Hệ thống pháp luật đầu tiên về BHTN được hình thành ở Na Uy và Đan Mạch trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Dựa trên mô hình đó, pháp luật về BHTN lần lượt được hình thành tại các nước châu Âu khác và áp dụng nguyên tắc bắt buộc, đầu tiên là ở Anh (1911). Năm 1921 ở Luxembourg lần đầu tiên trên thế giới xuất hiện hình thức trợ cấp bằng tiền mặt cho NTN mà điều kiện được quy định cụ thể. Năm 1938, New Zeala áp dụng một chương trình BHTN toàn diện và trợ giúp thất nghiệp được thực hiện trên cơ sở thẩm tra thu nhập của cá nhân. Ngày nay, BHTN không chỉ được coi là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia mà còn được xem xét, điều chỉnh trong phạm vi quốc tế. Cũng như thất nghiệp là một hiện tượng khách quan của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng hệ thống pháp luật về BHTN cũng là việc làm bắt buộc đối với mỗi quốc gia nhằm đảm bảo quyền lợi chủa NLĐ, duy trì và phát triển nền kinh tế. Theo ILO thì nội dung cơ bản của pháp luật BHTN bao gồm: Đối tượng tham gia BHTN; các chế độ BHTN: điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng, đào tạo nghề và tư vấn giới thiệu việc làm; nguồn hình thành quỹ thông thường là sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và một phần hỗ trợ từ nhà nước tùy theo chính sách của từng quốc gia; tổ chức thực hiện chính sách BHTN. Có thể khái quát khái niệm Pháp luật BHTN như sau: “Pháp luật về BHTN là một bộ phận trong hệ thống các quy định về bảo hiểm xã hội, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắp thu nhập cho NTN và thực hiện các biện pháp đưa họ sớm trở lại làm việc”. 1.2.1.Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp Pháp luật về NHTN của mỗi quốc gia, tùy vào đặc thù kinh tế, xã hội đều có những nội dung riêng, song cơ bản thường đề cập đến những nội dung sau: 1.2.1.1.Đối tượng: Đối tượng của BHTN bao gồm đối tượng tham gia và đối tượng hưởng. Đối tượng tham gia bao gồm NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước; đối tượng hưởng là người đã tham gia BHTN bị mất việc làm không do lỗi của họ, có khả năng và sẵn sàng trở lại làm việc. Cụ thể như sau:
  11. 20. 16 – Người lao động: Cũng như các loại BHXH khác, đối tượng của BHTN là NLĐ có tham gia đóng bảo hiểm và thân nhân của họ theo quy định của pháp luật về BHTN. Đa số các nước đều quy định chỉ những người làm công ăn lương (làm công cho chủ) mới được tham gia BHTN. Quy định này được ghi nhận tại Điều 2, Công ước số 44 ngày 23/06/1934 của ILO. Tuy nhiên, tùy vào bối cảnh xã hội từng ước mà có thể quy định thêm về một số đối tượng ngoại lệ khác như người giúp việc, lao động tại nhà, công chức nhà nước, lao động mùa vụ, lao động trẻ sát cận độ tuổi lao động quy định, lao động quá độ tuổi quy định, lao động đang được hưởng chế độ hưu trí,… Công ước này không áp dụng cho thủy thủ, thủy thủ đánh cá và lao động nông nghiệp. Sở dĩ đây những trường hợp trên không được áp dụng công ước do để quản lý được các đối tượng này khó khăn do đặc thù công việc luôn có sự phân tán, không cố định dẫn đến việc tham gia đăng ký, đóng góp và quản lý họ là rất phức tạp. Hơn nữa, những công việc của họ không mang tính thường xuyên, liên tục, cụ thể nên rất khó xác định họ có đang rơi vào tình trạng thất nghiệp hay không. Trong khi đối tượng hưởng BHTN phải là những người trong độ tuổi lao động, bị mất việc làm không do lỗi của họ (không phải là thất nghiệp tự nguyện), tức là bị chấm dứt hợp đồng lao động do không có việc làm, bị sa thải, không đáp ứng được yêu cầu của NSDLĐ, … nhưng có khả năng làm việc và luôn sẵn sàng quay trở lại làm việc. Trong khi đó, theo Công ước số 102 của ILO, Điều 21, thì đối tượng nhận TCTN phải thuộc trường hợp những người được bảo vệ, đó là: ” Những người làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương; Hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống trong khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định theo Điều 67; Hoặc, nếu đã có bản tuyên bố để áp dụng Điều 3, bao gồm những người làm công ăn lương mà tổng số ít nhất chiếm 50% toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các cơ sở công nghiệp đang sử dụng 20 người trở lên”. Và, “Trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc quy định quốc gia quy định, và xảy ra do không thể có được một công việc thích hợp, trong tình hình người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” (Điều 20) . – Người sử dụng lao động: Đối tượng của BHTN không chỉ áp dụng đối với NLĐ mà còn là cả NSDLĐ. NSDLĐ là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ. Theo quy định, đối tượng này có quyền tham gia BHTN. Thực tế cho thấy, BHTN không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho NLĐ mà còn cho cả NSDLĐ. Trong trường hợp có NLĐ mất việc làm, NSDLD không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ, như vậy, họ sẽ được san sẻ gánh nặng trả trợ cấp. Bởi nhờ có tham gia đóng BHTN nên khi NLĐ bị mất việc làm thì NSDLĐ sẽ không phải đối mặt với việc trả TCTN nữa, mà thay vào đó đã có cơ quan quản lý về BHTN chịu trách nhiệm chi trả. Hơn nữa, đóng BHTN là một hình thức chia sẻ rủi ro với người đã có cống hiến trong kinh doanh, giúp NLĐ cũng an tâm cống hiến sức lực của mình. Ngoài ra, để chính sách ASXH đi vào hiện thực thì việc tham gia BHTN còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với NSDLĐ. Hiện tại, trong các Điều ước quốc tế chưa quy định điều kiện cụ thể cho nhóm đối tượng này, mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính sách ASXH, mỗi quốc gia đặt ra những điều kiện tham gia BHTN nhất định cho NSDLĐ. – Nhà nước: Nhà nước tham gia vào BHTN như một phần đảm bảo sự tồn tại của hình thức bảo hiểm này. Không chỉ thể hiện vai trò trong việc xây dựng chính sách, bắt buộc thực hiện, đa số các Chính phủ đều hỗ trợ một phần xây dựng quỹ BHTN. Tùy theo quy định pháp luật từng nước mà mức hỗ trợ, hình thức đóng góp vào quỹ BHTN ở các nước là khác nhau. Ví dụ như ở Việt Nam, quỹ được đóng góp bằng 1% quỹ tiền lương tháng, NSSDLĐ đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những NLĐ tham gia BHTN và Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ đang tham gia BHTN nhưng ở Nhật Bản, người lao động chỉ đóng 0,6% còn Chính phủ phải đóng 25% tổng mức chi.
  12. 24. 20 1.2.1.2. Chế độ BHTN – Điều kiện hưởng: Theo Công ước số 44 của ILO, NTN phải có đủ các điều kiện sau nếu muốn được hưởng TCTN: + Thuộc đối tượng hưởng BHTN: Bị mất việc làm do nguyên nhân nằm ngoài mong muốn chủ quan của họ. Có năng lực là, việc và luôn sẵn sàng trở lại làm việc. Đây là điều kiện quan trọng mà luật BHTN của các nước đều đặt lên hàng đầu. + NTN còn phải thỏa mãn về thời gian tham gia và mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp theo nguyên tắc có đóng có hưởng. Theo đó, tùy thuộc vào thời gian đóng góp và mức đóng góp để quyết định thời gian hỗ trợ và mức hỗ trợ thất nghiệp của từng lao động nhưng nhìn chung đều phảidựa trên cơ sở đảm bảo cho người thất nghiệp đủ sống ở mức tối thiểu trong thời gian không có việc làm, đồng thời cân đối khoảng thời gian sao cho không quá ngắn để NTN chưa tìm được việc làm nhưng cũng không quá dài để họ không thể lạm dụng, muốn được hưởng trợ cấp hơn đi làm. Nhìn chung, các nước thường quy định thời hạn trợ cấp tối đa từ 12 đến 52 tuần, thời hạn tạm chờ từ 3 ngày đến 7 ngày đầu thất nghiệp không được hưởng trợ cấp. Điều này làm giảm nhẹ tài chính cho quỹ bảo hiểm và đơn giản hóa khâu quản lý trong trường hợp thất nghiệp ngắn ngày. Như vậy, mức trợ cấp thất nghiệp không cao hơn mức lương hàng tháng họ được hưởng trong thời gian còn việc làm. + Để nhận được trợ cấp thất nghiệp, NTN phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm quyền trong nhất định được pháp luật quy định. Quy định này ở mỗi Quốc gia là khác nhau, ví dụ như ở Nhật Bản, NTN nhất thiết phải đăng ký tại cơ quan bảo đảm việc làm quốc gia, có khả năng và năng lực làm việc, luôn sẵn sàng khi có cơ hội việc làm mới; NTN phải đăng ký thường xuyên 4 tuần 1 lần; Pháp luật Thụy Điển quy định điều kiện hưởng TCTN là NLĐ phải hoàn toàn khỏe manh, có khả năng làm việc ít nhất 3 giờ một ngày và 7 ngày một tuần, tích cực tìm kiếm việc làm phù hợp và phải đăng ký tại trung tâm tìm kiếm việc làm của Chính phủ. Việc đăng ký này là cần thiết vì nó giúp cho cơ quan quản lý theo dõi, kiểm soát được số người thất nghiệp cũng như chi trả bảo hiểm một cách hợp lý cũng như giúp người lao động thể hiện được sự chủ động và mong muốn tìm kiếm việc làm của mình. Một số nước quy định rất cụ thể về việc điều tra thu nhập của người được
  13. 25. 21 hưởng trợ cấp thất nghiệp, nếu NTN có nguồn thu nhập khác thì sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. + NTN phải có sổ BHTN. Sổ BHTN được coi là căn cứ pháp lý chứng minh sự tham gia bảo hiểm của NTN, được ghi trong đó bao gồm mức đóng và thời gian đóng BHTN. Các trường hợp NTN bị mất việc làm do lỗi cố ý của mình hoặc tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng; từ chối một việc làm phù hợp do cơ quan giới thiệu việc làm giới thiệu, có hành vi gian lận để hưởng trợ cấp thì không được hưởng TCTN. – Về thời gian hưởng trợ cấp: Thời gian hưởng trợ cấp ngắn hay dài là tùy thuộc vào năng lực của từng quỹ BHTN. TCTN có thể được trả suốt thời gian NLĐ bị mất việc làm ngoài ý muốn, và đôi khi TCTN này cũng có thể hạn chế trong nhiều trường hợp đối với các loại đối tượng hưởng trợ cấp. Riêng đối với đối tượng là người làm công ăn lương, thời gian hưởng trợ cấp có thể bị hạn chế trong khoảng 13 tuần trong từng thời kỳ 12 tháng (Điều 24, Công ước 102 của ILO). Ở nhiều nước, khoảng thời gian này có thể lên đến 3 năm hoặc trên 3 năm, nhưng tại các nước đang phát triển, số người thất nghiệp lớn thì khoảng thời gian này được quy định thường là tối đa 12 tháng. Thời gian hưởng TCNT có thể được chia ra thành nhiều bậc, theo thời gian tham gia đóng. Tuy nhiên, không phải NLĐ khi nghỉ do thất nghiệp được hưởng ngay TCTN mà phải sau một thời gian quy định là khoảng thời gian kể từ khi NTN nộp đơn xin hưởng TCTN đến khi họ thực sự được hưởng TCTN. Khoảng thời gian này được gọi là thời gian hoãn hưởng và thường được quy định không vượt quá 8 ngày. – Về mức trợ cấp: Theo quy định của ILO, mức trợ cấp BHTN tối thiểu bằng 45% thu nhập trước khi thất nghiệp. Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, mức TCTN có thể được dựa trên một trong các cơ sở sau: * Mức lương tối thiểu; * Mức lương bình quân cá nhân; * Mức lương tháng cuối cùng trước khi bị thất nghiệp. Mỗi quốc gia đều có những phương pháp xác định mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp, nhưng cơ bản là các phương pháp:
  14. 26. 22 * Xác định theo tỷ lệ đồng đều cho tất cả các đối tượng hưởng căn cứ vào các cơ sở nêu trên; * Xác định theo tỷ lệ mức độ giảm dần mức TCTN, tức là cao nhất ở tháng đầu tiên hưởng và sẽ thấp dần ở những tháng sau. * Xác định theo cách chia thành các nhóm lao động: nhóm lao động có thu nhập thấp được hưởng tỷ lệ cao và ngước lại, nhóm có thu nhập cao được hưởng tỷ lệ thấp. * Xác định dựa trên tính chất công việc (lao động trí óc và lao động chân tay), số lượng người sống phụ thuộc trong gia đình (số người chưa có hoặc đã hết khả năng lao động), theo khu vực (nông thôn và thành thị),…. Nhìn chung, mức trợ cấp cần đảm bảo mức sống tối thiêu của NLĐ nhưng phải thấp hơn mức lượng được hưởng khi còn làm viêc để đảm bảo cuộc sống NTN không gặp khó khăn mà vẫn thúc đẩy được mong muốn quay trở lại làm việc của họ, tránh việc NTN ỷ lại vào trợ cấp mà kéo dài thời gian hưởng ảnh hưởng xấu đến thị trường lao động nói chung và gây thất thoát cho quỹ. – Về các chính sách hỗ trợ đào tạo và tìm việc làm mới: Không chỉ được hỗ trợ một khoản tiền, trong thời gian mất việc làm, NTN còn được hưởng các chính sách đài thọ như đào tạo lại nghề, đào tạo nghề mới, đào tạo nâng cao,… và giúp tìm việc làm mới phù hợp thông qua các hoạt động cung cấp thông tin về các cơ sở dạy nghề,cập nhật nhu cầu tuyển dụng lao động, tư vấn cho NLĐ chọn công việc thích hợp với họ và với nhu cầu của NSDLĐ. Ngoài ra, trong suốt thời gian bị thất nghiệp, NLĐ vẫn được đóng bảo hiểm y tế. 1.2.1.3 Quỹ BHTN: Quỹ BHTN là một quỹ độc lập tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước. Đối tượng tham gia xây dựng quỹ BHTN bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Cũng như BHXH, NLĐ tham gia BHTN đóng góp một tỷ lệ nhất định trong phần thu nhập của mình. NSDLĐ đóng góp bằng một tỷ lệ phần trăm theo quy định so với quỹ tiền lương hàng tháng chi trả cho người lao động. Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ Ngân sách hoặc từ tiền sinh lời của hoạt đồng đầu tư từ quỹ nhằm bù đắp phần còn thiếu. Hầu hết các nước đều có quy định cụ thể về mức đóng BHTN để đảm bảo an toàn cho sự tồn tại của quỹ nhưng tỷ lệ đóng góp giữa các bên tại các nước là không giống nhau. Có nước quy định NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước đóng góp như nhau, có những nước lại quy định NSDLĐ đóng gấp đôi NLĐ, Nhà nước chỉ
  15. 29. 25 Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 2.1. Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam 2.1.1. Nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp trong pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật BHTN là những tư tưởng chủ đạo xuyên suốt, chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật BHTN. Theo Điều 41 Luật việc làm, nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp bao gồm 05 nguyên tắc sau: 2.1.1.1. Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp được xây dựng trên nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, hỗ trợ kinh tế song song với hỗ trợ việc làm cho NTN, khuyến khích NTN chủ động tìm việc làm. Đặc trưng của BHTN là có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia. BHTN dựa trên sự tương hỗ giữa các cá nhân trong xã hội, nghĩa là lấy số đông bù số ít, không phải là theo hình thức là một khoản tiết kiệm trả sau như đa số các hình thức bảo hiểm khác. Thực tế, trong số những người tham gia không phải ai cũng gặp rủi ro, tương tự, trong số NLĐ tham gia BHTN không phải ai cũng bị thất nghiệp. Nhưng do mức đóng chỉ là một tỉ lệ phần trăm rất nhỏ trên thu nhập của NLĐ khi làm việc, nên không đủ để chi trả chế độ cho NTN, mà cần có sự san sẻ rủi ro cả từ những người tham gia BHTN nhưng không bị thất nghiệp. TCTN và giải quyết việc làm cho NTN là mục đích chính của pháp luật về BHTN nhằm trợ giúp NLĐ khi bị mất việc vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, không như chính sách ASXH, BHTN ngoài việc bù đắp, hỗ trợ thu nhập bị mất còn tạo cơ hội cho NTN được tiếp cận việc làm mới thông qua giải pháp giới thiệu việc làm. Vì vậy, việc quy định và tổ chức thực hiện pháp luật về BHTN phải đảm bảo chi trả TCTN không tách rời giải quyết việc làm, cụ thể: – Trong từng trường hợp hưởng chế độ BHTN phải bao gồm cả mức TCTN và cách thức hỗ trợ việc làm.
  16. 30. 26 – Bên cạnh việc quy định các mức TCTN, điều kiện tham gia BHTN, phương thức đóng BHTN, căn cứ chi trả quyền lợi bảo hiểm và thời gian hưởng TCTN phải có các quy định về các giải pháp nhằm thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội việc làm cho NTN như: định hướng, giới thiệu việc làm; đào tạo nghề, kỹ năng xin việc; ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp nhận NLĐ thất nghiệp; khuyến khích NTN tự tạo việc làm… – Việc chi trả TCTN cần tiến hành đồng thời với thực hiện các chế độ hỗ trợ về việc làm nhằm duy trì sinh hoạt của bản thân và gia đình của NLĐ trong thời gian bị mất việc, nhanh chóng đưa họ trở lại thị trường lao động. Gắn liền TCTN và giải quyết việc làm cho NTN phải là nguyên tắc xuyên suốt trong chế định BHTN nhằm mang lại sự an tâm cho người tham gia.Với mong muốn bù đắp những tổn thất về tài chính cho NLĐ trong thời gian bị mất việc làm, trợ cấp BHTN đã giải tỏa được sự lo lắng, bất an của NTN. Trong khi bản thân NLĐ không có khả năng duy trì thu nhập thì trợ cấp BHTN chính là khoản thu mà họ đang trông chờ. Khoản thu này không chỉ lấp đi những thiếu hụt tài chính mà còn giúp cho NTN tự tin hơn trong cuộc sống đời thường. Song, ngoài sự hỗ trợ về mặt vật chất, chế độ này đòi hỏi NTN chủ động tìm kiếm việc làm. Điều đó có nghĩa là trợ cấp BHTN chỉ có thể hỗ trợ phần nào thu nhập bị mất của NTN, trong một thời gian nhất định, phụ thuộc vào khoảng thời gian NTN tham gia đóng BHTN. Do đó, bản thân họ phải tích cực chủ động tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng của mình trên cơ sở có sự hỗ trợ về việc làm. Sự hỗ trợ này chỉ mang tính chất định hướng, giới thiệu chứ không có nghĩa là bắt buộc NTN phải làm công việc đó hay họ không phải lo tìm việc mà cứ chờ đợi sẽ được giải quyết việc làm. Từ những phân tích nêu trên cho thấy, trợ cấp BHTN như một bước đệm, tạo điều kiện cho NTN tiến gần đến việc làm hơn. Tuy nhiên, trợ cấp như thế nào để NTN còn chủ động tìm việc thì đòi hỏi nhà làm luật phải có sự tính toán kỹ lưỡng. Bởi lẽ, mức trợ cấp quá cao sẽ tạo tâm lý ỷ lại, trông chờ, không muốn đi tìm việc, ngược lại mức trợ cấp quá thấp khiến NTN không đủ trang trải sinh hoạt hàng ngày ở mức tối thiểu sẽ dẫn đến tình trạng thiếu niềm tin vào chính sách. Do đó, việc xác định mức trợ cấp BHTN có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với vấn đề ASXH của mỗi quốc gia. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, mục tiêu, chiến lược; căn cứ vào đối tượng tham gia
  17. 31. 27 BHTN, thời gian đóng, mức đóng mà mỗi quốc gia quy định mức trợ cấp BHTN khác nhau. Theo đó, khoản trợ cấp này được tính theo tỷ lệ phần trăm trên mức tiền lương đóng bảo hiểm và được trả hàng tháng cho NTN trong một thời hạn nhất định. Mức TCTN hàng tháng không thấp hơn mức lương tối thiểu và được cân đối với mức đóng BHTN trước đó của NLĐ. 2.1.1.2. Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động Theo điều 14, quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 9/9/2015 của BHXH Việt Nam, mức đóng và trách nhiệm đóng BHTN được quy định như sau: 1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng; 2. Đơn vị đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN; 3. Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những người lao động đang tham gia BHTN và do ngân sách trung ương bảo đảm. Điều 15 quyết định này quy định về tiền lương tháng đóng BHTN : 1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc quy định tại Khoản 1 và Khoản 3 Điều 6. 2. Người lao động đóng BHTN theo chế độ tiền lương do đơn vị quyết định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc quy định tại Khoản 2 Điều 6. Trường hợp mức tiền lương tháng của người lao động cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng BHTN bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng (thực hiện từ ngày 01/01/2015). 2.1.1.3. Mức hưởng bảohiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho người lao động khi bị mất thu nhập do thất nghiệp gây nên. Do đó, việc quy định tỷ lệ hưởng và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động và được cân đối với mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp trước đó của người lao động. Chế độ BHTN được dựa trên cơ sở quan hệ hữu cơ giữa
  18. 32. 28 đóng góp và thụ hưởng. Nguyên tắc này được pháp luật quy định rất cụ thể tại Khoản 1 điều 57 và Điều 58 Luật việc làm 2013. Quyền lợi bảo hiểm được chỉ được giải quyết theo nguyên tắc có đóng, có hưởng. Vì thế, người tham gia sẽ được hưởng nếu bị mất việc làm. Tuy nhiên, để được hưởng người tham gia phải đáp ứng điều kiện về đối tượng tham gia, thời gian đóng bảo hiểm. Khi đó, mức hưởng BHTN cao hay thấp sẽ phụ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng của NTN. Điều này cho thấy, chính sách BHTN giúp cho người tham gia có thể phòng ngừa, tránh né những rủi ro khi xảy đến mà bản thân họ không lường trước được. Song, không phải vì đã tham gia thì sẽ không sợ thất nghiệp, cứ ngồi hưởng thụ quyền lợi, người đóng BHTN phải hiểu rằng, chính sách này chỉ hỗ trợ một phần thu nhập bị mất trong một thời hạn nhất định. Do vậy, người đã tham gia BHTN mà bị thất nghiệp phải chủ động kiếm việc làm. Hơn nữa, có khoản thu từ mức trợ cấp này NTN sẽ yên tâm học tập nâng cao tay nghề, và trong khi hưởng chế độ TCTN họ sẽ có thời gian lựa chọn công việc phù hợp. Mức hưởng BHTN ảnh hưởng nhiều đến sự sinh tồn của NTN. Song, mức hưởng lại phụ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng của người tham gia. Vậy nên, việc quy định mức hưởng bảo hiểm cũng cần phải xem xét nhưng không được cao hơn mức tiền lương khi làm việc. Nếu mức hưởng quá cao sẽ ảnh hưởng tới khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm, vô tình tạo điều kiện cho một bộ phận NLĐ muốn được thất nghiệp. Nếu mức hưởng quá thấp sẽ khiến NTN không duy trì được điều kiện sống tối thiểu, gây khó khăn trong việc kêu gọi NLĐ tham gia chính sách. Khi đó, mục tiêu bù đắp thu nhập bị mất trong thời gian NLĐ bị thất nghiệp sẽ chỉ còn là vấn đề lý thuyết. 2.1.1.4. Nguyên tắc việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia. 2.1.1.5. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất, công khai và hạch toán độc lập. Quỹ BHTN do một cơ quan quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương theo chế độ tài chính của Nhà nước. Quỹ được sử dụng vào các mục đích như: Chi trả trợ cấp thất nghiệp cho NLĐ, chi cho các hoạt động tìm việc làm cho NTN, chi trả
  19. 33. 29 cho công tác đào tạo, đào tạo lại, học nghề cho người thất nghiệp, chi phí cho hoạt động của bộ máy quản lý BHTN,… Người hưởng TCTN chỉ được hưởng trợ cấp nếu đóng BHTN. Điều đó hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc có đóng, có hưởng. Nhưng ngoài trách nhiệm đóng góp của NLĐ, NSDLĐ, đòi hỏi nhà nước cũng phải đưa vào quỹ BHTN một khoản hỗ trợ hợp lý để đảm bảo chi trả trợ cấp mỗi khi có sự kiện bảo hiểm diễn ra. Khoản hỗ trợ này là cần thiết bởi thu nhập của NLĐ chỉ có hạn trong khi mọi chi phí sinh hoạt của họ và gia đình lại chỉ dựa vào đó. Với tư cách là người đại diện và thực hiện các chính sách xã hội, bên cạnh việc có trách nhiệm hỗ trợ một phần kinh phí cho quỹ, Nhà nước còn áp dụng các biện pháp để bảo tồm giá trị quỹ và làm cho quỹ tang trưởng. Điều này còn thể hiện sự quan tâm, bảo đảm, bảo vệ NLĐ thoát khỏi tình trạng khó khăn nếu bị thất nghiệp, thu hút sự quan tâm, tham gia của đông đảo NLĐ. Tuy nhiên, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia mà có sự hỗ trợ nhất định, trong trường hợp cần thiết nhà nước cần có biện pháp bảo toàn giá trị quỹ, bảo đảm sự an toàn tài chính cho quỹ. 2.1.2. Đối tượng tham gia Căn cứ theo Điều 43, Điều 44 Luật Việc làm 2013 và Điều 11 Nghị định 28/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp, có thể thấy, Pháp luật Việt Nam quy định rất rõ ràng về 02 đối tượng bắt buộc tham gia BHTN như sau: 2.1.2.1. Người lao động Theo khoản 1 Điều 3, Điều 43 Luật việc làm thì NLĐ là công dân Việt Nam, phải tham gia BHTN khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng. Theo quy định này, chỉ những NLĐ là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc; giao kết các loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc như trên với NSDLĐ mới là đối tượng của BHTN. Do đó, những NLĐ là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng, giúp việc gia đình; người giao kết hợp
  20. 34. 30 đồng lao động dưới 03 tháng không thuộc đối tượng tham gia BHTN. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về BHTN thì NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, NLĐ tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã giao kết theo quy định của pháp luật thì NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN trong thời gian này. Tuy nhiên, so với thời điểm ban hành, quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm trước đây đã trở nên không còn phù hợp với tình hình thực tế. Vì vậy, ngày 16/11/2013, Quốc Hội đã ban hành Luật việc làm. Theo Điều 43, ngoài trường hợp NLĐ ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn được tham gia BHTN thì những người ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng đã được quyền tham gia BHTN. Như vậy, quy định mới đã cho phép mở rộng đối tượng tham gia. Điều này cho thấy, Nhà nước đã rất nỗ lực trong việc giải quyết chính sách đối với NTN, song vẫn còn hạn chế đối với NLĐ có thời hạn làm việc dưới ba tháng, người giúp việc gia đình. Đây là những đối tượng rất cần có sự quan tâm, giúp đỡ. Vì thế, để đảm bảo quyền được BHTN của NLĐ, trong thời gian tới, Nhà nước cần cân nhắc, xem xét bổ sung thêm vào chính sách đối tượng chưa được tham gia để họ được hưởng quyền lợi bảo hiểm như những NLĐ khác. 2.1.2.2. Người sử dụng lao động Cũng như NLĐ, pháp luật BHTN ngay từ khi mới ban hành cũng giới hạn phạm vi được tham gia BHTN của NSDLĐ. Trước đây, theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội và Điều 3 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP thì việc tham gia BHTN chỉ áp dụng đối với NSDLĐ có sử dụng từ 10 lao động trở lên tại các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân. Nhưng thực tế của thị trường Việt Nam hiện nay cho thấy, NSDLĐ có sử dụng dưới 10 lao động còn khá phổ biến, hơn nữa nguy cơ NLĐ mất việc làm ở những nơi này lại cao hơn so với các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan có quy mô sử dụng lao động lớn nên đây là một điểm
  21. 35. 31 bất cập. Vì vậy, cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia đóng BHTN, Luật việc làm cũng đề ra những thay đổi về việc tham gia BHTN của NSDLĐ. Theo Điều 43, NSDLĐ tham gia BHTN gồm: Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động. Như vậy, theo Luật việc làm, việc tham gia BHTN không còn phụ thuộc vào số lượng NLĐ nữa mà căn cứ vào thời hạn làm việc theo hợp đồng làm việc của NLĐ. Sự thay đổi đáng kể này không chỉ hỗ trợ, giải quyết những khó khăn cho NLĐ khi mất việc mà còn ràng buộc thêm trách nhiệm từ phía NSDLĐ. Khoản 3 điều 44 Luật Việc làm quy định, bên cạnh trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHTN của NLĐ và NSDLĐ, sự tham gia đóng góp của Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc giải quyết chính sách cho những NTN: “Căn cứ vào tình hình kết dư của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước chuyển kinh phí hỗ trợ từ ngân sáchnhà nước vào Quỹ theo mức do Chính phủ quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, ngân sách nhà nước hỗ trợ Quỹ BHTN theo nguyên tắc đảm bảo duy trì số dư quỹ hàng năm bằng 02 lần tổng các khoản chi chế độ BHTN và chi phí quản lý BHTN của năm trước liền kề nhưng mức hỗ trợ tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ đang tham gia BHTN. Nguồn kinh phí này được chuyển mỗi năm một lần và được trích từ ngân sách nhà nước để chuyển vào BHTN. Sự tham gia của Nhà nước trong việc xây dựng quỹ BHTN là cần thiết vì bên cạnh việc Nhà nước khẳng định vai trò chủ đạo trung tâm của mình. Việc đóng góp này không chỉ với mục đích bù đắp sự thiếu hụt về tài chính mà còn nhằm bảo đảm cho chính sách của Nhà nước được thực hiện, quyền lợi của những NTN được đảm bảo chắc chắn hơn. Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, hàng năm, ngân sách trung ương phải trích 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN để chuyển vào quỹ BHTN. Còn theo quy định của Luật việc làm, tỷ lệ này đã có sự thay đổi để tránh tình trạng ỷ lại từ phía NLĐ và NSDLĐ,
  22. 36. 32 cụ thể là tối đa không quá 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những NLĐ đang tham gia. 2.1.3. Điều kiện hưởng Theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm và Điều 11 Nghị định 28/2015/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về BHTN, điều kiện để NLĐ bị thất nghiệp được hưởng TCTN yêu cầu như sau: – Trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, NLĐ phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm. – NLĐ đang đóng bảo hiểm bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. NLĐ đang đóng BHTN được hiểu là người có tháng liền kề trước thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã đóng BHTN và được tổ chức bảo hiểm xã hội xác nhận. Như vậy, những trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật, bị xử lý kỉ luật theo hình thức sa thải hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hoặc bị kết án tù giam theo quyết định của Tòa án, chết hoặc mất tích theo tuyên bố của Tòa án sẽ không được hưởng trợ cấp BHTN. Việc đưa ra quy định như trên nhằm nâng cao ý thức, tinh thần, trách nhiệm của NLĐ trong quá trình làm việc. Đồng thời, tránh tình trạng NLĐ ỷ lại vào BHTN mà không coi trọng đối với công việc mà mình đang có. Ngoài ra, so với quy định tại khoản 1 Thông tư số 04/2013/TT-BLĐTBXH, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP quy định cụ thể, chặt chẽ hơn. Bên cạnh quy định về cách tính thời gian đóng BHTN để được hưởng trợ cấp, quy định mới còn nhấn mạnh việc đóng phí phải được tổ chức bảo hiểm xã hội xác nhận. Điều này nhằm mục đích phòng ngừa, hạn chế sự gian lận khi làm hồ sơ hưởng TCTN. – NTN phải tham gia đóng BHTN đủ thời gian theo quy định của pháp luật. Cụ thể, thời gian phải từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp đối với trường hợp ký kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có xác định thời hạn hoặc không xác định thời hạn; đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi thất nghiệp đối với NLĐ ký kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc
  23. 37. 33 một công việc nhất định có thời hạn đủ 03 tháng đến dưới 36 tháng (Khoản 2 Điều 49 Luật việc làm). Theo đó, NLĐ muốn hưởng TCTN phải có trách nhiệm đóng phí BHTN trong một khoảng thời gian nhất định trước khi bị mất việc làm. Việc đóng góp là cần thiết, phòng khi rủi ro xảy đến cho cả hai bên. Lợi ích này không chỉ có NLĐ mà chính NSDLĐ cũng được hưởng. Như vậy, để được hưởng quyền lợi của BHTN thì NSDLĐ và NLĐ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm đóng phí để tạo quỹ. Do đó, nếu NSDLĐ không tự giác đóng thì NLĐ sẽ không được tham gia chế độ và khi thất nghiệp sẽ không được hưởng quyền lợi. Ngoài ra, khi tham gia BHTN, NSDLĐ có quyền được sử dụng quỹ để chi trả cho việc đào tạo lại, đào tạo nâng cao tay nghề cho NLĐ. Bên cạnh đó, để đảm bảo ASXH, giải quyết hậu quả của việc ban hành những chính sách gây bất lợi ảnh hưởng tới vấn đề việc làm, Nhà nước cũng phải có một phần trách nhiệm trong việc hình thành quỹ. Hơn nữa, ngoài mục đích duy trì sự tồn tại của quỹ BHTN, việc đóng phí còn là cơ sở đảm bảo thanh toán quyền lợi của người tham gia. Vì vậy, quy định này được đặt ra nhằm tránh tình trạng ỷ lại vào Nhà nước, gây thâm hụt quỹ bảo hiểm do chậm hoặc không đóng phí từ phía NLĐ, NSDLĐ. Đặc biệt, đây cũng là biện pháp ngăn ngừa trường hợp NLĐ cố tình làm mất việc để trục lợi bảo hiểm. Căn cứ vào điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia có quy định riêng về khoảng thời gian đóng phí trước khi hưởng TCTN. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tùy vào từng loại hợp đồng mà thời hạn này là đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng hoặc 36 tháng trước khi NLĐ thất nghiệp. Tháng đóng BHTN của NLĐ được tính nếu NSDLĐ và NLĐ đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc và đã đóng BHTN. Như vậy, so với khoản 1 Điều 15 Nghị định 127/ 2008/NĐ-CP, Luật việc làm đã mở rộng thêm đối tượng được tham gia BHTN. Tuy nhiên, để được hưởng quyền lợi bảo hiểm thì họ phải có thời gian đóng phí tối thiểu là 12 tháng trong khoảng thời gian 36 tháng trước khi họ thất nghiệp. Quy định mới cho thấy, cùng là NLĐ nhưng phụ thuộc vào loại hợp đồng đã ký kết mà điều kiện hưởng trợ cấp khác nhau. Do vậy, để bảo vệ quyền được BHTN của NLĐ, Nhà nước cần quy định lại
  24. 38. 34 khoảng thời gian đóng phí trước khi hưởng TCTN sao cho dung hòa lợi ích giữa các đối tượng hưởng trợ cấp. – Để hưởng TCTN, NLĐ thất nghiệp phải nộp hồ sơ tại Trung tâm dịch vụ việc làm ở địa phương nơi NLĐ muốn nhận TCTN. Trước đây, theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Thông tư số 04/2013/TT- BLĐTBXH thì trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày NLĐ bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, nếu NLĐ chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng TCTN thì phải đăng ký thất nghiệp. Còn nay, cũng trong thời hạn nêu trên, NLĐ thất nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ đề nghị hưởng TCTN là được hưởng trợ cấp (Khoản 1 Điều 17 Nghị định 28/2015/NĐ-CP). Như vậy, việc bỏ quy định về đăng ký thất nghiệp là một hướng mới trong cải cách thủ tục hành chính. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho người mất việc thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm. Thực tế cho thấy, khi không có việc làm, NTN thường có những biểu hiện tự ti, do đó, nếu đưa ra quy định bắt buộc phải đăng ký thất nghiệp mới được hưởng trợ cấp, thì chưa chắc tất cả số NTN đã đến cơ quan tiếp nhận thông tin để đăng ký. Hơn nữa, việc đăng ký thất nghiệp sẽ tạo ra nhiều rào cản hơn đối với NLĐ có nhu cầu đăng ký thất nghiệp tại Trung tâm Giới thiệu việc làm không phải là nơi đã làm việc trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Bởi theo quy định cũ, để được hưởng trợ cấp họ phải có xác nhận về việc chưa đăng ký thất nghiệp của Trung tâm Giới thiệu việc làm nơi đã làm việc trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Điều này gây khó khăn, rắc rối cho người đăng ký, vì thế, rất khó để có được chính xác số lượng NTN. Do vậy, việc giải quyết tình trạng thất nghiệp cũng mang lại hiệu quả không cao. Để khắc phục điều này, Luật việc làm và Nghị định 28/2015/NĐ-CP đã cho phép NLĐ thất nghiệp được nộp hồ sơ hưởng TCTN ở Trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi NLĐ muốn nhận trợ cấp. Quy định này giúp cho NLĐ thoải mái, dễ dàng và chủ động hơn trong việc tiến hành thủ tục hưởng TCTN. Tuy nhiên, hàng tháng NLĐ thất nghiệp vẫn phải có trách nhiệm khai báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi họ đang hưởng TCTN về việc tìm kiếm việc làm. Qua đó, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cũng có được số liệu chính xác về số lượng NTN, từ đó đề ra biện pháp

【#7】Khái Niệm Nhà Đầu Tư Nước Ngoài

Tại dự thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp (DN), khái niệm “nhà đầu tư nước ngoài” và “DN có vốn đầu tư nước ngoài” (FDI) là những khái niệm gây nhiều tranh cãi nhất. Khái niệm này cũng đã từng được đề cập tại Luật Đất đai, Luật Chứng khoán. Câu hỏi đặt ra là: khái niệm này có nhất thiết phải khó hiểu như vậy không, hay thực chất chỉ thể hiện tâm lý sợ bị nước ngoài thôn tính, hay bảo hộ DN trong nước. Cả hai lý do này nghe chừng có lý đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi, song thực tế lại không cần thiết.

Theo dự thảo thứ 10 của Luật Đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm DN nước ngoài và DN trong nước có tỷ lệ góp vốn của nước ngoài trên 49%, song ở một điều khoản khác thì lại quy định rằng “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam”. Bên cạnh đó, nhiều luật chuyên ngành, thí dụ luật dược quy định phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào DN thì DN đó đã bị coi như DN có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc.Theo dự thảo Luật Doanh nghiệp, thì nhà đầu tư nước ngoài là DN có số vốn của nước ngoài nắm trên 50% (mặc dù không rõ là nắm trực tiếp hay nắm gián tiếp thông qua một DN có vốn đầu tư nước ngoài). Theo Quyết định 121 về nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thì tổ chức nước ngoài phải là tổ chức nắm đến 100% vốn nước ngoài.. Tại một số hội thảo góp ý cho Luật Doanh nghiệp có quan điểm cho rằng tỷ lệ góp vốn có thể giảm xuống 10% để coi là nhà đầu tư nước ngoài.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu một DN trong nước trở thành “nhà đầu tư nước ngoài”? Thứ nhất, theo quy định hiện hành, DN đó sẽ phải xin giấy chứng nhận đầu tư. Điều này định nghĩa với một loạt giải trình, chi phí và thời gian tăng đáng kể. Thứ hai, nhiều ngành nghề “nhạy cảm” do chưa có quy định thực hiện (VD nhập khẩu dược phẩm), hay quy định không rõ ràng (VD quy định ENT đối với DN bán lẻ), hạn chế (VD kinh doanh nhà hàng, một số ngành nghề kinh doanh bất động sản) hay chưa cam kết (VD phân phối thuốc) có thể bị loại khỏi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (CNĐKKD) của DN. Nói tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được đối xử bình đẳng như với DN trong nước. Vì sao vậy?Có hai quan điểm thường được nêu ra để trả lời.

Ngoài ra cũng có quan điểm cho rằng do bị DN FDI tranh thị phần nên các DN trong nước đang “thua trên sân nhà”. Thậm chí có quá nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẽ ảnh hưởng đến an ninh-kinh tế. Tuy nhiên thị trường sẽ tự chọn lọc ra nhà đầu tư nào có hiệu quả nhất – thông qua việc ai trả giá cao nhất.Đối với DN trong nước, để hỗ trợ họ, nhà nước hãy ban hành chính sách ưu đãi thuế tương đương hay hơn nhà đầu tư nước ngoài.Các DN FDI cũng sẽ không phân bì, song đừng hạn chế lĩnh vực hoạt động của DN FDI.Đơn cử trong lĩnh vực dược hay bán lẻ.Sự tham gia của DN FDI sẽ làm giá bán giảm (do cạnh tranh), người tiêu dùng được lợi. DN trong nước nếu không cạnh tranh trực diện được thì sẽ cạnh tranh ở phân khúc khác, hoặc hợp tác liên doanh với DN FDI (nếu không phải vì thế mà họ trở thành nhà đầu tư nước ngoài).

Về lâu dài, các DN nhỏ sẽ bị thâu tóm hoặc đóng cửa, các DN lớn sẽ ngày càng phát triển (cho dù là DN trong nước hay nước ngoài).Xu hướng này có ở tất cả các nước, không thể cản được. Nhà nước không nên cố gắng can thiệp vào quá trình này. Lối thoát duy nhất cho DN trong nước là lớn mạnh lên, thông qua nội lực và chính sách đầu tư của nhà nước chứ không phải đóng cửa không cho DN FDI cùng cạnh tranh. Thực tế cho thấy các DN trong nước làm ăn hiệu quả vẫn có thể mua lại DN FDI, như Vinamilk, Saigon Coop, PetroVietnam v.v. Vậy tại sao phải lo ngại cho DN trong nước?

Quan điểm thứ hai cho rằng nhà nước nên thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc. Chỉ cho phép nhà đầu tư vào Việt Nam đối với các dự án sản xuất có sức lan toả, cần nhiều vốn và công nghệ, chứ không phải ai cũng được vào đầu tư, như tinh thần của Nghi quyết 03/NQ-CP. Tuy nhiên, quan điểm này đã bỏ qua một giả thiết quan trọng của lý thuyết trò chơi: đó là mọi người chơi đều thông minh (hay kém thông minh) như nhau. Nhà nước không thể giả thiết nhà đầu tư nước ngoài mang vốn, công nghệ vào Việt Nam để phục vụ nhân dân Việt Nam.Họ đến Việt Nam chỉ vì lợi nhuận.Nếu hạn chế họ thâm nhập thị trường, khả năng tiếp thị và lợi nhuận của họ sẽ giảm (trừ phi họ chỉ chuyên xuất khẩu).Không có lợi nhuận thì họ không mở rộng sản xuất, không tăng thêm vốn và không chuyển giao công nghệ. Sự thất bại của công nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam là kết quả của việc suy nghĩ quá đơn giản về thu hút đầu tư, đánh giá thấp nhà đầu tư nước ngoài.

Ngay cả khi nhà đầu tư nước ngoài mang vốn vào thì vốn đó cũng là của họ, khi ra khỏi Việt Nam họ có quyền thu hồi mang đi. Công nghệ họ mang vào hôm nay dù có là hiện đại thì 20 năm nữa cũng lỗi thời.Trường hợp nhà máy sản xuất bóng đèn hình Daewoo Hanel bán lại cho Việt Nam là một thí dụ. Vậy, nên chăng cần xem lại mục tiêu thu hút (hay cản trở) nhà đầu tư nước ngoài. Mục tiêu hàng đầu phải là tạo công ăn việc làm.Có công ăn việc làm mới làm tăng GDP, mới phát triển thị trường nội đia, mới tạo thêm cơ hội làm ăn cho DN trong và ngoài nước. Lúc đó, thì việc mang vốn, công nghệ vào Việt Nam là kết quả của kinh doanh thành công tại Việt Nam, chứ không phải là mục tiêu ban đầu của nhà đầu nước ngoài khi sang Việt Nam. Nếu thực sự muốn thu hút đầu tư hơn nữa, thì có thể tăng thêm ưu đãi thuế nếu nhà đầu tư nước ngoài tăng vốn hay chuyển giao công nghệ, song phải cụ thể theo nguyên tắc có đi có lại – thí dụ đầu tư thêm 100 triệu USD thì được miễn thuế thêm 1 năm. Không nên quy định mọi dự án lớn nhỏ, miễn có “công nghệ cao” đều được ưu đãi như nhau.

Nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nếu thành công thì họ đóng thuế, nếu thất bại thì họ sẽ bán rẻ dự án để rút về nước.Khi đó DN trong nước sẽ có cơ hội mua lại cơ sở sản xuất với giá rẻ. Việc Vinamilk mua lại F&N Diary, hay Kinh Đô mua lại Walls, hay Thiên Minh mua lại chuỗi khách sạn Victoria là các thí dụ điển hình. Bằng cách nào thì Việt Nam cũng có lợi. Hiển nhiên, việc hạn chế đầu tư nước ngoài vào các vùng biên giới, các địa điểm hiểm yếu đối với an ninh quốc gia, các lĩnh vực tác động lớn đến an ninh quốc phòng là cần thiết. Tuy nhiên các lĩnh vực nhạy cảm như vậy không nhiều.

Nói tóm lại, không có nhiều lý do để hạn chế tiếp cận thị trường cùa nhà đầu tư nước ngoài, trừ một số lý do an ninh quốc phòng tại một số địa điểm xung yếu hay các lĩnh vực thuộc về an ninh quốc gia. Nhà nước phải coi việc tạo công ăn việc làm cho người dân là mục tiêu trên hết, chứ không phải nhu cầuthu hút vốn hay chuyển giao công nghệ. Kết hợp quá nhiều mục tiêu cũng giống như bắt cá hai tay. Có thể sẽ không bắt được con nào.. Và vì vậy, cách giải thích “nhà đầu tư nước ngoài” nên là cách giải thích hiện nay theo dự thảo Luật Doanh nghiệp cho thống nhất, tức là DN mà ở đó phía nước ngoài nắm (trực tiếp hay gián tiếp) trên 50% vốn điền lệ, nay có quyền bầu đa số thành viên hội đồng quản trị.

ANT Lawyers là công ty luật cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý tại Việt Nam và hỗ trợ khách hàng Việt Nam cho các vụ việc tại các nước trong mạng lưới liên kết hơn 150 nước. Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử [email protected] hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

【#8】Kho Bạc Nhà Nước Tiếng Anh Là Gì?

Qua bài viết này Tổng đài 1900 6557 thuộc công ty Luật Hoàng Phi sẽ cung cấp thông tin hữu ích về vấn đề nói trên tới Quí vị.

Kho bạc nhà nước là một cơ quan nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu giúp bộ trưởng quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước, quỹ tài chính, quản lý ngân quỹ, tổng kế toán nhà nước, thực hiện việc huy động vốn và đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật.

Kho bạc nhà nước tiếng Anh là gì?

Kho bạc nhà nước tiếng Anh là: State Treasury

Kho bạc nhà nước Việt Nam

Viet Nam state treasury

Mô hình kho bạc nhà nước

State treasury model

Kho bạc nhà nước Hà Nội

Ha Noi state treasury

Địa chỉ kho bạc nhà nước

Address of Hanoi state treasury

Dịch vụ công kho bạc nhà nước

State treasury public sevices

The re – establishment and addition of new functions and tasks to the state treasury system is a right decision of the party and state, promptly meeting the requrements of reform of financial management and management. Issunging the state budget, effectively serving the task of building and developing the economy in the new situation.

Dịch tiếng Việt: Một quyết định đúng đắn của nhà nước là thành lập lại và bổ sung chức năng, nhiệm vụ mới cho hệ thống kho bạc nhà ước. Đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới quản lý và điều hành tài chính. Cấp ngân sách nhà nước, phụ vụ cho nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế trong hình hình mới.

– The management and administration of the state budget fund with equipment is related to the implementation of jobs that benefit from the national monetaty policy.

Dịch tiếng Việt: Công việc của kho bạc nhà nước là quản lý và điều hành quỹ có luên quan đến việc thực hiện công việc thu được lợi nhuận chính sách tiền tệ quốc gia.

Dịch nghĩa tiếng Việt: Kho bạc nhà nước không chỉ có chức năng giữ tiền tệ của một quốc gia, mà còn hoạt động quản lý, tham mưu cho các đơn vị theo chức năng nhiệm vụ được quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên Công ty Luật Hoàng Phi mong rằng Quí vị sẽ có thêm những thông tin cần thiết về Kho bạc nhà nước tiếng Anh là gì? Nếu Quí vị còn thắc mắc hoặc muốn được chuyên viên tư vấn trực tiếp vui lòng liên hệ vào số điện thoại 1900 6557.

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

【#9】Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Và Những Vấn Đề Đặt Ra Đối Với Việc Thực Hiện Công Khai, Minh Bạch Và Trách Nhiệm Giải Trình

NGUYỄN TRUNG THÀNH

Tóm tắt: Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị…” . Vì vậy, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền XHCN, trước hết cần xây dựng bộ máy hành chính nhà nước liêm chính, hiệu lực, hiệu quả. Mục tiêu đó gắn liền với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN). Trong phạm vi bài viết này, các tác giả tập trung phân tích những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; vị trí, vai trò và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình nhằm đáp ứng yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Từ khoá: Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Abstract: The Resolution of the XII Congress of the Party has emphasized: “Continuation of development and improvement of the socialist rule-of-law socialist state led by the Communist Party is the core task to reform the political system…”. Therefore, in order to successfully develop a rule-of-law socialist state, first of all, it is necessary to establish an effective and effective state administrative apparatus with high integrity. That goal is associated with the implementation of publicity, transparency and accountability of state administrative agencies (the State’s administrative agencies). Within the scope of this article, the authors focus on analysis of the basic characteristics of the Socialist State of Vietnam; positions, roles and issues for the implementation of publication, transparency and accountability to meet the requirements of development of a socialist rule of law in Vietnam

Keywords: Publication, transparency, accountability.

1. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ở Việt Nam, khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” lần đầu tiên được nêu ra tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991) và tiếp tục được khẳng định tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng năm 1994 cũng như trong các văn kiện khác của Đảng. Tiếp theo là tại các Đại hội lần thứ X và XI của Đảng đã có bước phát triển về chất trong nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.

Thể chế hoá quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Đảng, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “1. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Xuất phát từ bản chất Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần được xây dựng trên cơ sở đáp ứng các nguyên tắc sau: (1) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; (2) Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, mọi chủ thể trong xã hội đều phải tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật mà Hiến pháp là đạo luật tối cao, bộ luật gốc mang tính nền tảng; (3) Khẳng định và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tôn trọng sự bình đẳng của mọi cá nhân trong thụ hưởng và phát triển quyền, không có sự phân biệt đối xử, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội; (4) Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; (5) Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân được pháp luật thừa nhận, tôn trọng và bảo đảm thực hiện, thúc đẩy trong khuôn khổ luật pháp.

Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước đặt dưới sự điều chỉnh tối cao của pháp luật. Do đó, pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, khả thi và hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và bảo vệ quyền con người.

2. Vị trí, vai trò của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong hoạt động của bộ máy nhà nước, “công khai” nghĩa là mọi hoạt động của Nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của Nhà nước một cách dễ dàng. “Minh bạch” nghĩa là không những phải công khai mà còn phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho công dân trong tiếp cận thông tin. Minh bạch luôn phải gắn với trách nhiệm, đòi hỏi Chính phủ và đội ngũ cán bộ, công chức phải công khai quá trình thực hiện công việc cho các bên quan tâm. Ở góc độ này, minh bạch có mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm, vì có trách nhiệm mới có xu hướng công khai và đảm bảo các điều kiện cho công khai.

Trách nhiệm giải trình được coi là một trong những yếu tố quan trọng của một nền chính trị dân chủ, giúp thiết lập và duy trì mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân. Trong mô hình quản trị nhà nước, giải trình giúp người dân biết được “Nhà nước đang làm gì và đang làm như thế nào?”. Giải trình là một phần của quản trị nhà nước đồng thời là yếu tố giúp tăng tính hợp pháp cũng như độ tin cậy của Nhà nước trong mắt người dân. Do vậy, trách nhiệm giải trình được hiểu là nghĩa vụ cung cấp thông tin một cách đầy đủ, rõ ràng về những dữ liệu do mình tạo ra và phải chịu trách nhiệm về hoạt động đó. Với ý nghĩa đó, trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước bao gồm 2 nội dung cơ bản đó là nghĩa vụ cung cấp, lý giải thông tin và phải gắn với trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân giải trình.

Nhà nước pháp quyền XHCN là một mô hình nhà nước mà Việt Nam đang hướng tới, trong đó kết hợp giữa một số yếu tố cơ bản của “xã hội pháp quyền” với đặc thù của hệ thống chính trị nước ra, đó là hệ thống chính trị nhất nguyên, do một đảng chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính nhất nguyên còn thể hiện ở chỗ, mặc dù có tiếp thu những yếu tố hợp lý của các học thuyết chính trị, pháp lý khác, song nền tảng tư tưởng về tổ chức, vận hành của bộ máy nhà nước và quản lý xã hội là chủ nghĩa Mác Lênin. Vì vậy, việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng và vận hành của một “xã hội pháp quyền” theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

“Xã hội pháp quyền” theo nghĩa hẹp thể hiện ở việc hạn chế sự tùy tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước, mà điều này đòi hỏi phải “ràng buộc quyền lực vào các đạo luật được xây dựng rõ ràng và chặt chẽ”.

Mặc dù không hoàn toàn đồng nhất với “xã hội pháp quyền”, nhưng do kết hợp nhiều yếu tố của “xã hội pháp quyền” nên công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và vận hành Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Cụ thể, vị trí, vai trò của công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình thể hiện rõ nhất qua việc những vấn đề này là cơ sở để hiện thực hoá hai đặc trưng cơ bản sau đây của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam:

Đặc trưng thứ nhất, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Đặc trưng này có nghĩa là Nhà nước phải công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình trước Nhân dân; nó cũng có nghĩa Nhân dân-với tư cách là chủ thể lập nên Nhà nước-có quyền yêu cầu Nhà nước phải công khai, minh bạch cũng như phải báo cáo, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về tổ chức và hoạt động của mình.

Đặc trưng thứ hai, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân thông qua các tổ chức xã hội. Trong đặc trưng này, việc các cơ quan nhà nước thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình vừa là một yêu cầu, vừa là một điều kiện để Nhân dân có thể thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình với hoạt động của các cơ quan.

3. Yêu cầu đặt ra đối với việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình đáp ứng yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Thứ nhất, yêu cầu gắn vấn đề công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong tổ chức, hoạt động của các CQHCNN với việc kiểm soát quyền lực nhà nước.

Thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình có thể kiểm soát được việc sử dụng quyền lực nhà nước một cách hiệu quả nhất, vì thế phải xem công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình như là một yếu tố cấu thành cốt lõi trong mọi chiến lược, kế hoạch, chính sách, pháp luật về kiểm soát quyền lực của bộ máy CQHCNN.

Thứ ba, yêu cầu bảo đảm sự tuân thủ pháp luật về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình của các CQHCNN.

Quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp cần đưa ra những yêu cầu về thái độ, hành vi của cán bộ, công chức, viên chức hành chính khi thi hành công vụ. Đồng thời, các hình thức xử lý trách nhiệm cũng cần được quy định rõ và tương xứng nhằm đảm bảo thực hiện các quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp trên thực tế. Mặt khác, cần giáo dục, nâng cao ý thức của cán bộ, công chức hành chính về thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự liêm chính. Mỗi cán bộ, công chức hành chính phải coi công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong thi hành công vụ là trách nhiệm của mình. Tính liêm chính thể hiện phẩm chất của mỗi người và cần được coi như một yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ, công chức – những người công bộc của nhân dân và phải gương mẫu trước Nhân dân.

Thứ tư, yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, pháp luật.

Quản lý nhà nước không tách rời thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quyết định đối với các chủ thể quản lý. Vì vậy, cần hoàn thiện khung khổ pháp luật để tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị hành chính, cũng như các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các ngành, các cơ quan, đơn vị hành chính nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Việc này đòi hỏi phải tổ chức thực hiện tốt quy định của Luật Cán bộ, công chức; xây dựng và thực hiện chế độ, định mức công việc theo vị trí việc làm gắn với phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cán bộ, công chức hành chính. Việc đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong đánh giá cán bộ, công chức hành chính và sự minh bạch trong quản trị nhà nước sẽ tạo thuận lợi cho người dân giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong đó, việc xây dựng, thực hiện định mức theo vị trí việc làm và trách nhiệm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính liêm chính, kỷ cương, trách nhiệm. Nhà nước cũng cần duy trì và nâng cao chất lượng quản lý hoạt động cơ quan hành chính theo tiêu chuẩn ISO hiện đã và đang áp dụng tại một số cơ quan, đơn vị. Ngoài ra, Nhà nước cần hoàn thiện và thực hiện các bộ quy tắc ứng xử, đạo đức công vụ để công dân có căn cứ giám sát hoạt động của cán bộ, công chức và cơ quan hành chính.

Sự tham gia của Nhân dân vào quản trị nhà nước không chỉ làm cho các quyết định của Nhà nước được ban hành sát với thực tế, mà còn là cơ sở tăng cường sự minh bạch hoạt động của cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ. Vì vậy, cần đảm bảo sự giám sát của người dân và quyền giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội trên thực tế. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng trong việc cung cấp thông tin về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, các CQHCNN nói riêng, tạo diễn đàn tranh luận cho công chúng và tạo dư luận để thúc đẩy tiến trình, nội dung minh bạch hóa hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, các CQHCNN nói riêng.

Kết luận: Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Yêu cầu đặt ra là Đảng phải luôn đảm bảo được tính chính đáng trong cầm quyền của mình thể hiện uy tín, sự tin tưởng, sự cuốn hút của Đảng đối với Nhân dân; tính hiệu quả trong lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đáp ứng yêu cầu, lợi ích của Nhân dân. Do đó, việc thực hiện công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các CQHCNN là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa to lớn đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam./.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2021.

3. Lương Đình Hải, Xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hoá xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1 (176), tháng 1-2006.

4. Trần Đại Quang, ” Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, chúng tôi 2021.

5. Lưu Ngọc Tố Tâm, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong xu thể hội nhập và phát triển, Tạp chí Tổ chức nhà nước, ngày đăng 12/04/2018.

【#10】Bộ Tt&tt: Cho Phép Dn Vận Chuyển Khẩu Trang Ra Nước Ngoài Vì Mục Đích Nhân Đạo

Mới đây, Bộ Thông tin và truyền thông (TT&TT) đã ra thông báo, chấp nhận cho các doanh nghiệp bưu chính vận chuyển ra nước ngoài các trang thiết bị y tế như khẩu trang, nước sát trùng, găng tay y tế… phục vụ phòng chống dịch bệnh corona vì mục đích nhân đạo.

Trao đổi với phóng viên, đại diện Bộ TT&TT cho biết quy định này được đưa ra nhằm hỗ trợ, chia sẻ với nhân dân các quốc gia trong việc phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (nCoV) gây ra.

Và để việc vận chuyển các thiết bị này ra nước ngoài đúng mục đích nhân đạo, các doanh nghiệp bưu chính phải có văn bản chấp thuận của Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, TP trực thuộc trung ương.

Ngoài ra, Bộ TT&TT cũng yêu cầu các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính quốc tế, các tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện việc này.

Trước đó vào ngày 1/2, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post) đã ra thông báo chính thức tạm dừng việc chấp nhận, v ận chuyển các mặt hàng y tế ra nước ngoài giữa tình hình dịch nCoV đang diễn biến phức tạp, nhu cầu khẩu trang y tế, nước diệt khuẩn trong nước tăng cao.

Ông Chu Quang Hào, Tổng giám đốc Vietnam Post, cho biết Bưu điện Việt Nam sẽ không tiếp tay để các tổ chức, cá nhân lợi dụng tình hình khan hiếm các loại vật tư y tế như khẩu trang, nước sát trùng để vận chuyển ra nước ngoài.

Việc này cũng nhằm góp sức cùng cộng đồng trong việc ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh, đảm bảo quyền lợi của mọi người dân Việt Nam trong việc bảo vệ sức khỏe.

Theo thống kê của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, tính đến 22 giờ 00, ngày 11/02/2020, trên thế giới đã có 43.104 trường hợp nhiễm virus nCoV, số người tử vong lên tới 1.018 người.

Riêng tại Trung Quốc có 42.638 trường hợp nhiễm bệnh và 1.016 người tử vong.

Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại cũng ghi nhận 15 trường hợp nhiễm virus Corona. Ca thứ 15 nhiễm bệnh là một bé gái mới 3 tháng tuổi ở Vĩnh Phúc.