【#1】Bất Bình Đẳng Giới Về Thu Nhập Của Người Lao Động Ở Việt Nam Và Một Số Gợi Ý Giải Pháp Chính Sách

BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI VỀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH

(Tham khảo nội dung tư vấn: Chế độ và thủ tục bảo hiểm thai sản, bảo vệ quyền lợi người lao động nữ )

Bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một trong những căn nguyên gây ra nghèo đói vừa là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển. Những xã hội có sự bất bình đẳng giới lớn và kéo dài thường phải trả giá là sự nghèo đói, tình trạng suy dinh dưỡng, đau ốm và những nỗi cực khổ khác ở mức độ lớn hơn. Tăng trưởng kinh tế sẽ mang lại hiệu quả đối với sự giảm mức độ nghèo đói ở những xã hội có sự bình đẳng giới ở mức độ cao hơn. Bất bình đẳng trong thu nhập giữa hai giới ngăn cản sự phát triển bình đẳng gây ra sự không hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội.

Mục tiêu bình đẳng giới trong thu nhập vừa là vấn đề quyền con người quan trọng vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả. Vì vậy việc nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc hướng tới sự bình đẳng trong xã hội mà còn góp phần tìm kiếm các biện pháp để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội.

Ở Việt Nam, bảy mươi phần trăm phụ nữ trong độ tuổi lao động (từ 16 đến 55 tuổi) tham gia vào lực lượng lao động và chiếm 52% so với nam giới. Song phụ nữ chỉ chiếm 40% tổng số lao động được trả lương. Cuộc Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam 1998 cho thấy rằng phụ nữ ở tất cả các độ tuổi đều phải làm việc trong thời gian dài gấp đôi nam giới (Desai, 2000 ). Phụ nữ ở Việt Nam nhận được thù lao công việc ít hơn, số tiền trung bình mỗi tháng họ nhận được 14% ít hơn so với nam giới. Qua nghiên cứu cho thấy, thực sự có sự bất bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam: tỷ số thu nhập nữ/nam là 0,77 năm 1993 và 0,82 năm 1998 .

Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo với tư tưởng trọng nam khinh nữ nên dễ thấy sự bất bình đẳng giới trong thu nhập có nguyên nhân lớn ở tư tưởng bất bình đẳng giới. Nhưng bên cạnh đó, các quy định luật pháp về lao động theo hướng bảo vệ người phụ nữ và đi sâu vào vấn đề giới tại Việt Nam còn có nhiều vấn đề chưa phù hợp. Trên thực tế, nhà nước ta đã có chính sách nhằm bảo vệ và đảm bảo công bằng giữa lao động nam và nữ về cơ hội nghề nghiệp cũng như hưởng chế độ lao động . Tuy nhiên, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc thi hành các chính sách này đối với lao động nữ. Các cuộc điều tra các doanh nghiệp sử dụng lao động nữ cho thấy quan điểm chung của người sử dụng lao động đều muốn giảm chi phí thuê lao động nữ. (Oaxaca, 1973 ).

“Những qui định về lao động và tiền lương ở Việt Nam trong chương trình giảm nghèo” (Brassard, 2004). Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của những qui định về lao động và tiền lương hiện hành ảnh hưởng đến việc giảm nghèo ở việt Nam thông qua việc sử dụng số liệu cấp xã về lương năm 1998. Nghiên cứu này cũng xác định mức chênh lệch về lương giữa các khu vực và giới, và ảnh hưởng tiềm năng của các qui định về lương và lao động đến người nghèo.

“Bất bình đẳng giới trong thu nhập theo khu vực ở Việt Nam” Amy chúng tôi (2004) nghiên cứu các nhân tố tác động bất bình đẳng giới về thu nhập theo khu vực ở Việt Nam dựa trên phương pháp tiếp cận của Appleton (1999) và sử dụng số liệu VLSS năm 1992-1993 và 1997-1998.

Nhìn chung các nghiên cứu này không đánh giá được được các yếu tố tác động đến sự bất bình đẳng giới về thu nhập trong bối cảnh kinh tế hội nhập và tự do hóa thương mại. Đặc biệt việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố phi kinh tế đến bất bình đẳng còn yếu. Hơn nữa các nghiên cứu chưa đưa ra được đánh giá so sánh theo các vùng, qui mô, ngành kinh tế để đưa ra được gợi ý giải pháp trọng điểm.

– Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng tới sự bất bình đẳng về giới trong thu nhập .

– Phân tích định tính và định lượng để tìm ra các nguyên nhân gây ra vấn đề bất bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam hiện nay.

– Đưa ra một số kiến nghị giải pháp giảm mức bất bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam.

– Thu nhập của người lao động làm công ăn lương của lao động nam và lao động nữ ở Việt Nam (chia theo vùng, ngành), các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương, mức chênh lệch giữa thu nhập của lao động nam và nữ.

– Tác động của các chính sách, qui định đối với vấn đề lao động tiền lương và giới.

– Tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam, bao gồm :

ii) yếu tố phi kinh tế: quan điểm giới, về điều kiện văn hoá, môi trường, an ninh, ổn định chính trị…

– Thời gian nghiên cứu: từ năm 2002-2004. Số liệu nghiên cứu điều tra mức sống dân cư qui mô quốc gia VLSS kết hợp số liệu thống kê và các nguồn khác.

Cấu trúc của đề tài như sau:

Chương I. Cơ sở lý luận về Bất Bình đẳng giới trong thu nhập.

Chương II. Thực trạng và Yếu tố ảnh hưởng đến Bất Bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam.

Chương III. Kiểm chứng định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến Bất bình đẳng giới về thu nhập ở Việt Nam giai đoạn 2002 – 2004.

Chương IV. Một số gợi ý giải pháp chính sách nhằm hạn chế bất bình đẳng giới trong thu nhập .

Giới là thuật ngữ chỉ những đặc điểm xã hội của phụ nữ và nam giới. Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế được nam giới và phụ nữ học trong quá trình trưởng thành. Vai trò giới rất năng động và thay đổi theo thời gian +

dU = (dr_2-dr_1)s_B + [dr_2(s_2-s_B) + dr_1(s_B-s_1)]

Nếu một trong 2 thời điểm là chuẩn, công thức đơn giản hoá bởi Juhn, Murphy và Pierce (1991) như sau:

hoặc theo Blau và Kahn (1997) là

Có thể sử dụng các mẫu thu thập theo thời gian như là mẫu chuẩn, trong trường hợp này việc sử dụng các biến giả theo năm ở mô hình đối với các mẫu chuẩn là phù hợp.

Các bước tiến hành nghiên cứu: thực hiện 6 hồi qui: 4 hồi qui cho từng giới và từng năm, 2 hồi qui cho số liệu panel cho từng giới trong hai năm. Sau đó đưa ra khoảng cách trong mức lương giữa lao động nam và lao động nữ, phân tách các yếu tố ảnh hưởng theo nhóm và chi tiết.

Nguồn số liệu được khai thác ở đây là số liệu từ hai cuộc điều tra liên tiếp về mức sống hộ gia đình toàn quốc (Vietnam Living Standard Survey: VLSS) trong hai năm 2002 và 2004. Số mẫu điều tra chung trong hai cuộc điều tra này bao gồm 4.008 hộ, bao gồm 20.209 thành viên. Tuy nhiên trong tổng số thành viên này chỉ có 2.552 là lao động làm công ăn lương có cung cấp thông tin về tiền lương, tiền công. Đây chính là số thành viên sẽ được khai thác trong bài.

Kết quả hồi qui cho thấy biến tuổi có tác động tích cực đối với mức lương. Tuổi và bình phương của tuổi thể hiện mối quan hệ hình chữ U ngược giữa mức lương và độ tuổi. Có nghĩa là ở một độ tuổi nhất định, ảnh hưởng của tuổi đối với mức lương đạt tối đa, sau đó ảnh hưởng này sẽ giảm dần khi tuổi lao động tăng lên. Ảnh hưởng của độ tuổi đối với mức lương có xu hướng tăng theo thời gian đối với hai giới. Ảnh hưởng của tuổi vẫn mang lại lợi ích lớn hơn cho lao động nam hơn là lao động nữ, có thể hiểu rằng với hai người lao động như nhau về mọi mặt thì cứ mỗi một năm làm việc, anh ta hưởng lợi từ lương tăng mạnh hơn phụ nữ.

Về tình trạng hôn nhân, việc người lao động lập gia đình mang lại thêm cho lao động nữ khoảng 15% và cao hơn cho lao động nam đạt mức 16% mức lương năm 2002. ảnh hưởng này vào năm 2004 giảm xuống đáng kể, thể hiện yếu tố này không phải là yếu tố lâu dài làm tăng lương. Nhìn chung cả hai năm thì hôn nhân cũng đem lại lợi ích tương đối đáng kể cho người lao động: 11% cho lao động nam và 7% cho lao động nữ.

Giáo dục không hoàn toàn nâng cao thu nhập cho người lao động mà phụ thuộc vào nỗ lực của họ đạt đến trình độ nhất định nào. Yếu tố giáo dục tiểu học có ảnh hưởng không nhất quán đến thu nhập, tuy nhiên biến này không có ý nghĩa ở mức 10%. Thậm chí trình độ không hơn giáo dục trung học cơ sở là một trở ngại cho người lao động. Yếu tố giáo dục trung học cơ sở có ảnh hưởng nhất quán cho mọi giới tính và thời gian. Điều đó có thể thể hiện việc phân loại công việc, hoặc đòi hỏi trình độ giáo dục cao hơn hẳn hoặc yêú tố công việc chủ yếu dựa vào các tố chất khác của người lao động không nhất thiết là giáo dục ở một cấp độ nhất định. Giáo dục trung học phổ thông chỉ có ý nghĩa tích cực đối với lao động nữ song nhìn chung biến này không có ý nghĩa đối với toàn bộ mẫu trong thời gian hai năm. Trong khi đó, tương tự như phân tích định tính thống kê ở trên, giáo dục đại học, cao đẳng lại thực sự có ý nghĩa đối với thu nhập. Đặc biệt đối với lao động nam năm 2004, việc anh ta có thêm bằng đại học/cao đẳng đem lại thêm cho anh ta 43% lương. Xu hướng này ngày càng cao, và là cao hơn đối với lao động nam, nhìn chung mang lại lợi ích cho nam (36%) gấp rưỡi lợi ích mang lại cho nữ (24%) (xem hồi qui 5, 6). Kết quả hồi qui khẳng định hơn nữa vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng lương ở mức giáo dục cao nhất: từ thạc sỹ trở lên. Việc người lao động nam đạt được trình độ thạc sỹ trở lên: như tiến sỹ, giáo sư… có thể mang lại lợi ích tối đa là 114% mức lương năm 2004. Việc đạt được trình độ này cũng mang lại lợi ích lớn cho nữ giới, song tối đa chỉ bằng khoảng 1/2 lợi ích nam giới thu được. Mức tăng này tăng theo thời gian, và đạt mức chung là 94% cho nam và 25% cho nữ. Xu hướng ngắn hạn này phản ánh quan điểm đầu tư không ngừng cho giáo dục và đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tương lai không những ở Việt Nam và các nước trên thế giới.

Về yếu tố sức khoẻ, dù việc điều trị nội trú có ảnh hưởng tiêu cực đến mức lương, xong kết quả thực nghiệm cho thấy biến này không có ý nghĩa ở mức 10%. Đối với chi tiêu bình quân đầu người và bình phương giá trị chi tiêu này cũng thể hiện mối quan hệ hình chữ U ngược giữa mức lương và chi tiêu. Kết quả cho thấy, nhu cầu chi tiêu càng lớn thì mức lương phải càng cao. Ảnh hưởng này cao hơn so với nam giới, và mức khác biệt ảnh hưởng của yếu tố này đối với mức lương giữa nam và nữ tăng theo thời gian.

Đối với yếu tố ngành, chỉ có ngành công nghiệp-dịch vụ và xây dựng mới đem lại mức lương tương đối cao. Ảnh hưởng của ngành công nghiệp dịch vụ có ý nghĩa đối với việc tăng lương cho người lao động, xong chỉ có ý nghĩa đối với lao động nữ: tăng lên 16% trong năm 2002 và 13% trong cả hai năm. Mức lương trong ngành nông nghiệp thấp, mức độ ảnh hưởng của yếu tố ngành tương đương nhau giữa nam và nữ và giữa các năm, vào khoảng -20%.

Về trình độ chuyên môn, chỉ có trình độ lao động kỹ thuật bậc cao là có ảnh hưởng tích cực thống nhất đối với mức lương. Mức ảnh hưởng này ở nam cao hơn năm 2002 xong lại thấp hơn năm 2004. Và nhìn chung trong hai năm, việc đạt được trình độ kỹ thuật bậc cao này vẫn lớn hơn đối với lao động nữ, 25% trong khi chỉ 21% đối với nam. Vai trò của lao động kỹ thuật bậc thấp không nhất quán theo giới tính nhưng nhất quán theo năm: có ảnh hưởng dương đối với lao động nam, âm đối với nữ song ảnh hưởng đối với nữ lại không có ý nghĩa ở mức 10%. Đối với lao động giản đơn, có tác động tích cực đối với nam, nhưng lại tiêu cực đối với nữ, điều này là hợp lý vì phần lớn công việc lao động giản đơn ở đây là bốc vác, bảo vệ… Đối với lao động trong quân đội, mức lương cao hơn so với làm chuyên môn khác. Ảnh hưởng này cao hơn cho nam giới năm 2002, xong lại thấp hơn trong năm 2004. Song nhìn chung vẫn cao hơn so với nam giới, trước nay vẫn chiếm đa số và có những thế mạnh nhất định so với nữ giới trong ngành này.

Việc làm trong tổ chức lao động là công ty tư nhân có ảnh hưởng không nhất quán đối với mức lương, song chỉ có ý nghĩa khi nó có ảnh hưởng âm đối với thu nhập. Điều này có thể được lý giải là do mức lương ở đây còn bao gồm các khoản theo lương, những khoản có ý nghĩa nhất định khi người lao động làm việc ở cơ quan nhà nước, hưởng theo đúng chính sách nhà nước, còn đối với người lao động trong công ty nước ngoài thì mức lương của các công ty tư nhân nhìn chung đều thấp hơn. Kinh nghiệm làm việc nhìn chung khiến người chủ lao động trả lương cao hơn, mặc dù ảnh hưởng này không đáng kể: 0,5 %. ảnh hưởng này tăng theo thời gian, cao hơn đối với nam năm 2002, song lại thấp hơn vào năm 2004. Đối với các yếu tố vùng, ảnh hưởng là không nhất quán theo thời gian và giới. Có hai điển hình có ảnh hưởng dương đối với mức lương là mức lương ở hai vùng đông bằng sông Hồng và sông Mê Kông.

Qua Kết quả tính toán theo phương pháp của Juhn, Murphy and Pierce (1991), một điều đáng lưu ý là sự chênh lệch mức lương giữa nam và nữ có xu hướng tăng từ năm 2002 là 0.094 lên 0.1103 năm 2004. Trong đó phần chênh lệch định lượng, hay phần chênh lệch lương giải thích được qua các yếu tố ảnh hưởng nhìn chung góp phần làm tăng sự chênh lệch lương giữa nam và nữ (nhận giá trị +). Phần chênh lệch số dư làm giảm sự chênh lệch lương (mang dấu -), điều đó thể hiện những yếu tố không định lượng được như: tư tưởng, ý thức phân biệt… giữa nam và nữ đã có dấu hiệu giảm nhẹ.

Cơ cấu chênh lệch gồm bộ phận chênh lệch dự đoán được (chênh lệch quan sát được) và sự khác biệt trong số dư (chênh lệch không quan sát được).

Bộ phận chênh lệch quan sát được chủ yếu là do các yếu tố định lượng được tạo ảnh hưởng, đạt mức: 0.017 mang giá trị +, làm tăng mức chênh lệch lương giữa nam và nữ giữa 2 năm. Trong đó sự khác biệt về kỹ năng hay đặc điểm của lao động nam và lao động nữ năm 2004 tăng so với năm 2002, gây ra phần chênh lệch về ảnh hưởng của kỹ năng quan sát được (observed skill effect) mang giá trị dương: 0,0253. Điều đó chứng tỏ nhìn chung về các yếu tố ảnh hưởng, nam giới vẫn có bước tiến bộ nhanh hơn nữ giới. Song lợi ích do những thay đổi về kỹ năng này lại tăng lên dù không đáng kể cho lao động nữ vào năm 2004 so với năm 2002, do đó chênh lệch do tác động của giá tiền công đối với các yếu tố quan sát được (Observed price effect) mang giá trị âm: -0,0083.

Bộ phận chênh lệch lương do những yếu tố không quan sát được mang giá trị âm: U=-0,0009 thể hiện ảnh hưởng này góp phần làm giảm mức chênh lệch lương trong giới giữa hai năm. Điều đó có thể thể hiện sự phân biệt đối xử của người sử dụng lao động đối với lao động nữ vẫn là vấn đề đáng quan tâm. Song sự chênh lệch lương nam so với nữ do sự thay đổi của yếu tố không quan sát được năm 2004 thấp hơn so với năm 2002 nên làm chênh lệch lương nam và nữ năm 2004 giảm xuống là -0,0693.

Nhìn chung mức chênh lệch lương giữa nam và nữ có dấu hiệu tăng trong năm 2004, năm có khá nhiều biến động về quá trình mở cửa và hội nhập, có nhiều thách thức và cơ hội đối với người lao động. Nhìn chung nam giới có những bước tiến nhanh hơn nữ giới về các yếu tố ảnh hưởng đến lương được đề cập ở đây.

D =Chênh lệch lương do sự khác biệt

E = Chênh lệch dự đoán được (pdicted gap)

U = Chênh lệch số dư (residual gap)

Qe = ảnh hưởng kỹ năng (Observed skill) quan sát được

Pe = ảnh hưởng tiền công (Observed price effect) của các yếu tố quan sát được

Qu = ảnh hưởng lượng kỹ năng (Unobserved skill=Gap effect) không quan sát được

Pu = ảnh hưởng giá (Unobserved price effect) không quan sát được

Kết quả cho thấy, trong ảnh hưởng của sự thay đổi các yếu tố quan sát được (Qe), sự thay đổi nhóm tuổi, chi tiêu, chuyên môn, kinh nghiệm và vùng giữa nam và nữ góp phần làm giảm chênh lệch lương và nữ. Trong đó khoảng cách trình độ chuyên môn giữa nam và nữ đã góp phần lớn nhất vào giảm khoảng cách lương giữa hai năm: khoảng 23%.

Trong ảnh hưởng của sự thay đổi hệ số của các yếu tố quan sát được này, sự thay đổi hệ số của các yếu tố: hôn nhân, sức khỏe, ngành nghề, cơ quan bù đắp được phần đáng kể cho sự khác biệt lương giữa hai giới. Việc thay đổi hệ số của yếu tố ngành nghề có ý nghĩa tích cực lớn nhất trong bộ phận ảnh hưởng này cũng như trong toàn bộ các bộ phận ảnh hưởng: giảm hơn 157% sự khác biệt lương trong giới. Điều này khuyến khích sự dịch chuyển ngành nghề cũng như đào tạo chuyên môn hợp lý để góp phần giảm sự chênh lệch về lương giữa các giới hơn nữa. Trong khi đó sự khác biệt về mức lương của lao động nam và lao động nữ trong khu vực nhà nước và tư nhân cũng đáng lưu ý: làm tăng 50% mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập. Lao động nữ trong khu vực tư nhân chịu thiệt thòi hơn so với trong khu vực nhà nước, hay có sự phân biệt giới trong mức lương cao hơn trong khu vực tư nhân so với trong hu vực nhà nước. Hy vọng việc chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý cùng luật Doanh nghiệp mới ra đời năm 2005 sẽ khắc phục được điểm này.

Đối với những ảnh hưởng tiêu cực đối với mức chênh lệch lương giữa nam và nữ là ảnh hưởng của khoảng cách giới (Qu), chiếm 391% mức chênh lệch, điều này là một thách thức cho Việt Nam về việc thay đổi một ý thức hệ về phân biệt đối xử giữa lao động nam và nữ, “thể hiện tầm quan trọng của sự phân biệt như một cản trở trong việc rút ngắn khoảng cách giới tính trong lương” (Liu,2004).

Tóm lại, mỗi một yếu tố có đóng góp khác nhau đối với sự thay đổi về bất bình đẳng giới trong lương. Sự khác biệt này sẽ có ý nghĩa gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách nhằm đạt tới sự bình đẳng và tiến bộ cho con người và xã hội.

Cần tăng cường nhận thức giới cho các nhà hoạch định giáo dục. Lồng ghép phân tích giới vào quá trình xác định các mục tiêu nhập học. Tăng cường xem xét nhu cầu thị trường lao động tương lai về quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và giáo dục mang tính bình đẳng giới.

Nhà nước nên chú ý phổ cập giáo dục tiểu học, đặc biệt cho lao động nữ vì bậc giáo dục này có tác dụng làm giảm mức bất bình đẳng trong thu nhập. Nhà nước cần hỗ trợ để tạo cơ hội hoàn thành bậc học này cho người lao động bằng nhiều hình thức như mở khóa học ngắn hạn, bổ túc… Bên cạnh đó cũng cần xóa bỏ tư duy ưu tiên cho bé trai đi học hơn là bé gái đặc biệt trong các gia đình nông thôn.

Đặc biệt tăng cường đầu tư, khuyến khích nâng cao trình độ văn hoá cao, như bậc đại học, cao đẳng. Nên tạo điều kiện cho người lao động có thể hoàn thành bậc học này nhằm tăng mức lương cho lao động nữ, dưới các hình thức như tự học đến thi, học từ xa, buổi tối, ngoài giờ làm việc…Khuyến khích đào tạo ở mức cao không chỉ mở rộng phạm vi lựa chọn kinh tế mà còn tăng khả năng được đề bạt của người phụ nữ và nắm giữ những trách nhiệm quản lý và ra quyết định.

4.2.2.Cơ cấu ngành nghề hợp lý

Việc phân chia giới theo ngành nghề có nghĩa là nhà nước đang chỉ dựa vào một bộ phận dân số có trình độ học vấn để cung cấp kỹ năng và tay nghề kỹ thuật cao mà không tận dụng được hết nguồn nhân lực cũng như giải phóng sức lao động (Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, 2000). Đầu tư chuyển đổi cơ cấu ngành nghề hợp lý cũng có thể được xem là một dạng của bảo trợ xã hội hữu ích trong bối cảnh toàn cầu hóa khi mà người lao động có thể được yêu cầu di chuyển từ nơi các lĩnh vực kinh tế đang đi xuống sang các lĩnh vực đang khởi sắc.

Cần xây dựng các chính sách tích cực nhằm khuyến khích phụ nữ tham gia nhiều hơn vμo các lĩnh vực phi truyền thống vμ khắc phục các trở ngại để thăng tiến trong nghề nghiệp. Ví dụ như khuyến khích lao động nữ tham gia vào ngành xây dựng, công nghiệp sẽ đóng góp tích cực làm giảm sự chênh lệch về tiền công, tiền lương.

Cần có những thay đổi lớn hơn nữa trong cơ cấu nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi. Cần tăng cường các chính sách khuyến khích lực lượng lao động chuyển sang các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Chính sách này không những phù hợp với xu thế toàn cầu hoá mà còn thúc đẩy bình đẳng giới trong mức lương cho lao động.

Cũng cần tạo ra một môi tr−ờng bình đẳng cho nam giới vμ phụ nữ trong các công việc thuộc khu vực chính quy đ−ợc trả công nhằm giúp nam giới vμ phụ nữ trở thμnh những đối tác bình đẳng hơn trong thị tr−ờng lao động vμ ở gia đình. Tăng sự tiếp cận của phụ nữ tới việc lμm ở tất cả các khu vực vμ ngμnh nghề.

Trong khi đóng góp về lực lượng lao động của khu vực công cũng đã giảm xuống so với khu vực tư nhân và tự kinh doanh, mức chênh lệch về mức tiền công ăn lương theo giới ở khu vực tư nhân lại tăng. Để dung hoà hai vấn đề: đóng góp cho nền kinh tế và bình đẳng giới trong thu nhập, một phần sẽ phải được điều chỉnh bằng luật doanh nghiệp 2005. Song phần lớn phải nhờ sự hỗ trợ của nhà nước, một mặt giám sát sự thực thi của luật pháp, mặt khác bổ sung những qui định nhằm bảo về quyền bình đẳng của người lao động.

Ngoài ra, phụ nữ cần được đào tạo để họ có thể thành công trong một loạt lĩnh vực trong đó có những kỹ năng ít mang tính lý thuyết hơn chẳng hạn như là quản lý công việc kinh doanh, kỹ năng đàm phán, thương lượng tập thể, lãnh đạo và xây dựng lòng tin cho chính mình.

4.2.3. Nâng cao chuyên môn, tay nghề lao động

Vấn đề phát triển chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp nếu được chú trọng sẽ giúp cho người lao động có ưu thế ngoài thị trường lao động và có các cơ hội tìm được việc làm với đồng lương cao hơn. Trong đó lao động kỹ thuật cần được quan tâm và đào tạo, đặc biệt lao động kỹ thuật bậc cao. Cần có cơ chế và chế độ khuyến khích lao động nữ tham gia đào tạo lao động kỹ thuật và nâng cao tay nghề.

Cần tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực nghiên cứu kỹ thuật thông qua chỉ tiêu và học bổng cũng như là xóa bỏ việc hạn chế phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và cấp giáo dục và đào tạo. Cần khuyến khích nhằm tăng tỷ lệ nữ sinh theo học các ngành kỹ thuật. Xác định tỷ lệ nhập học của phụ nữ trong các ngành kỹ thuật ở các trường dạy nghề và đại học. Trao học bổng và các suất thực tập cho nữ sinh các ngành kỹ thuật và đặc biệt là công nghệ cao. Tăng cường các biện pháp thu hút giáo viên nữ giảng dạy các ngành phi truyền thống trong tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục và đào tạo.

Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu chỉ đơn giản là mở rộng việc đào tạo và đảm bảo sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ. Cần chú ý nhiều hơn đến nội dung đào tạo cho các nhóm khác nhau khi gia nhập thị trường lao động cũng như là cho những người đang làm việc. Đào tạo kỹ năng khác cho các nữ chủ doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, khác với cho cán bộ nữ làm chuyên môn trong các khu vực công và tư nhân, cho những người làm công ăn lương bước vào những lĩnh vực mới của nền kinh tế. Tất cả đều sẽ cần các loại kỹ năng và kiến thức hiểu biết khác nhau.

Các hoạt động hậu đào tạo cũng cần được tiến hành để đảm bảo rằng những khóa học này đạt được mục tiêu đề ra. Một hệ thống giám sát có thể sẽ giúp theo dõi những mẫu thử nam và nữ bước vào thị trường lao động sau khi họ đã hoàn thành những khóa học này.

Nhìn chung, cần có những mối liên hệ rõ rệt hơn giữa công tác đào tạo cho cả nam và nữ và bản chất thay đổi của nền kinh tế và thị trường lao động. Một giải pháp thay thế có thể là cần có sự tham gia nhiều hơn của khu vực tư nhân trong thiết kế giáo trình và đào tạo. Công tác đào tạo cần chuẩn bị cho cả nam và nữ khả năng quản lý các công nghệ mới và cạnh tranh trong các lĩnh vực ngành nghề kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật bậc cao.

Đảm bảo phụ nữ đ−ợc tiếp cận bình đẳng với các thông tin về công nghệ vμ các quy trình sản xuất mới. Đảm bảo phụ nữ có đ−ợc các nguồn lực kinh tế cần thiết để tiếp cận công nghệ. Cần phải kết nối các ch−ơng trình chuyển giao công nghệ với các ch−ơng trình tín dụng cho phụ nữ hiện nay.

4.2.4. Về sức khoẻ và an toàn

Việc giảm tỷ lệ nữ giới phải vào điều trị nội trú hay tăng cường sức khoẻ y tế cho nữ giới đóng góp phần nào làm giảm mức chênh lệch về thu nhập. Do vậy cần tăng cường khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các hoạt động chăm sóc sức khoẻ. Tập trung chăm sóc sức khoẻ miễn phí cho phụ nữ. Tăng ngân sách y tế dành cho công tác phòng ngừa và chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cấp xã ph−ờng. Các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cần phải phù hợp với nhu cầu đặc thù của phụ nữ, trong đó chú trọng công tác phòng ngừa.

Truyền thông về phòng ngừa dịch bệnh và về nhu cầu sức khoẻ của phụ nữ. Sự tiếp cận của ng−ời nghèo và phụ nữ tới hoạt động chăm sóc sức khoẻ tăng lên. Tăng ngân sách dành cho các hoạt động phòng ngừa và chăm sóc sức khoẻ ban đầu. Nâng cao nhận thức xã hội về các vấn đề sức khoẻ đặc thù của phụ nữ. Tăng sự tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhằm giải quyết các vấn đề sức khoẻ đặc thù của phụ nữ.

Thu thập tài liệu và nâng cao nhận thức xã hội về phân công lao động, bố trí thời gian và hậu quả của làm việc quá tải giữa nữ và nam giới trong gia đình. Nâng cao nhận thức và năng lực của nam giới để họ có trách nhiệm bình đẳng với gia đình và với việc chăm sóc sức khoẻ con cái.

4.2.5. Các gợi ý về độ tuổi lao động, phân bố lao động theo vùng

Mặc dù phụ nữ – cũng như nam giới những người lao động chân tay có thể muốn được về hưu sớm, song cả nam và nữ đang làm những công việc nghiên cứu hay trí tuệ đều được coi là đạt đến độ chín về nghề ở lứa tuổi này. Người ta cũng chỉ ra rằng khả năng được đề bạt cũng như các cơ hội đào tạo và nâng cao khả năng chuyên môn của người phụ nữ bị hạn chế do thời gian công tác của họ ngắn hơn, do đó là tuổi nghỉ hưu nên thống nhất.

Về khu vực địa lý, nhìn chung lao động ở khu vực duyên hải Bắc Trung bộ, Đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc có mức thu nhập bình đẳng hơn giữa nam và nữ. Nếu có luồng di chuyển lao động nữ về các khu vực này sẽ có ảnh hưởng tích cực đến mức độ bình đẳng trong mức lương. Tuy nhiên việc thay đổi về phân bố lao động được phối hợp hợp lý với các chính sách khác như chính sách di dân, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng…

4.2.6. Khuyến nghị nghiên cứu và hợp tác nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong mức lương và địa vị kinh tế

Một nhu cầu đặc biệt cấp bách ở Việt Nam là điều tra lực lượng lao động được phân tách giới và có chất lượng cao nhằm bổ sung vào các điều tra hộ gia đình và doanh nghiệp. Điều tra lực lượng lao động cần quan tâm đầy đủ tới vấn đề mùa vụ, di cư, lao động trong các ngành không có thống kê và thu nhập. Các mô hình có thể cần được bổ sung để giải quyết những vấn đề cụ thể như là sự sẵn có của dịch vụ chăm sóc trẻ, trả lương tối thiểu và thông tin chi tiết về công việc nhà.

Cần tiến hành nghiên cứu về tách biệt giới tính trong giáo dục và việc làm và ảnh hưởng của tách biệt giới đối với thị trường lao động. Tìm kiếm các biện pháp tăng sự tham gia của phụ nữ trong các ngành học và việc làm phi truyền thống.

Tổ chức nghiên cứu về sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ trên thị trường lao động. Hình thành quy định hạn chế sự phân biệt đối xử về giới tính ở nơi làm việc, đặc biệt là trong tuyển dụng, đề bạt cũng như các hình thức thực thi luật pháp về lao động.

Thiết lập cơ chế (thể chế và quy trình) cho việc hình thành và thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô có nhạy cảm giới: tăng cân bằng giới trong quá trình ra quyết định kinh tế vĩ mô; phân tích giới trong các lĩnh vực kinh tế chủ chốt (lao động, cơ chế khuyến khích, chỉ số thể hiện); tác động giới của các điều chỉnh kinh tế; tác động đến tiêu dùng, công việc không đ−ợc trả công. Thành lập nhóm hợp tác liên bộ và liên ngành (các nhà kinh tế, phân tích giới, chuyên gia các lĩnh vực) để xây dựng và vận động cho các kiến nghị lồng ghép giới vào khung chính sách kinh tế vĩ mô quốc gia.

Về số liệu nghiên cứu, việc thiếu những dữ liệu phân tách giới đã được đề cập đến trong các cuộc tham vấn như là một hạn chế chính trong công tác nghiên cứu và ra quyết định. Một hoạt động có thể giúp khuyến khích và hướng dẫn công tác nghiên cứu ở Việt Nam là đánh giá những nỗ lực thu thập dữ liệu hiện nay của chính phủ, các nhà nghiên cứu và những đối tượng khác và sự sẵn có của những số liệu phân tách giới. Đánh giá này có thể được xuất bản định kỳ để giúp các nhà nghiên cứu, các nhà lập chính sách và xã hội dân sự và hướng dẫn những nỗ lực thu thập số liệu trong tương lai.

Cần có sự phối hợp giữa Hội Phụ nữ cần phối hợp với Liên đoàn Lao động để tích cực tham gia giám sát việc thực thi các điều luật lao động. Phối hợp các chuẩn mực lao động mang tính nhạy cảm giới với các n−ớc ASEAN khác vμ vận động thμnh lập một cơ chế kiểm tra giám sát thông qua Tổ chức Th−ơng mại Thế giới.

Phối hợp với Liên đoμn Lao động ở các n−ớc khác trong việc thúc đẩy ra đời điều luật quốc tế, tác động tới các Bộ Luật Lao động để đảm bảo tính nhạy cảm giới trong điều kiện lao động, sức khoẻ vμ an toμn, giờ lμm việc, quyền tổ chức vμ tham gia vμo các cuộc th−ơng l−ợng tập thể. Đào tạo và xây dựng năng lực cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam để làm tốt chức năng giám sát Luật Lao động và bảo vệ quyền của người lao động.

Bên cạnh đó, cần tăng c−ờng năng lực dự báo thị tr−ờng lao động vμ phát triển nguồn nhân lực mang tính nhạy cảm giới, đảm bảo phụ nữ đ−ợc trang bị năng lực cần thiết để có thể tiếp cận bình đẳng các cơ hội về việc lμm, đặc biệt các lĩnh vực phát triển.

Tóm lại, để hạn chế bất bình đẳng trong mức lương, cần phải phối hợp nhiều biện pháp cũng như có các chính sách thực hiện đồng bộ, đặc biệt tư tưởng truyền thống cũng cần có những thay đổi hợp lý hơn về vai trò của lao động nam và lao động nữ.

1.2.Các phương pháp phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập. 11

Giáo dục, chuyên môn và đào tạo, những việc đều hướng tới nhu cầu của một nền kinh tế và một xã hội đang ngày một đổi mới, đều rất quan trọng nhưng cũng có một nhu cầu giải quyết những hình thức phân biệt đối xử hiện nay trong hệ thống pháp luật và giải quyết nhu cầu của những nhóm dễ bị tổn thương trong thị trường lao động.

Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới là một điều kiện tiên quyết quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách. Bởi các chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới phải giải quyết những ý tưởng và định kiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ tính và nam tính trong xã hội. Những chiến lược nhằm thay đổi thái độ do đó phải đi cùng với những chiến lược thay đổi chính sách và phân bổ nguồn lực. Trong bối cảnh của Việt Nam, sẽ còn cần thời gian để có thể đưa ra những dấu hiệu và sự khích lệ cần thiết để giải quyết một số những thành kiến và định kiến này.

Ưu điểm của đề tài là không chỉ dừng lại ở đánh giá ảnh hưởng của từng nhóm yếu tố mà còn phân tách ảnh hưởng theo từng yếu tố đối với sự bất bình đẳng trong lương. Đề tài mang lại thông tin cập nhật mới nhất về bức tranh bất bình đẳng trong vấn đề tiền lương tiền công với nhiều cấp bậc trình độ, chuyên môn, vùng miền khác nhau.

Hạn chế của đề tài là do hạn chế về số liệu, chỉ có thời gian trong hai năm, nên chưa khai thác hết được ưu điểm của số liệu panel, nên chưa đánh giá được xu hướng bất bình đẳng trong dài hạn cũng như tính ổn định của các yếu tố ảnh hưởng. Do hạn chế về số liệu nên đề tài chưa phân tách đánh giá được lao động thuộc và không khu vực công. Không những thế, do bộ số liệu bản thân cũng chưa được xây dựng để làm công cụ phân tích về giới nên khó có thể tiếp cận so sánh đánh giá các yếu tố ảnh hưởng về tiếp cận nguồn lực, khả năng lãnh đạo và tham chính, …

Hy vọng rằng những nghiên cứu sau sẽ khắc phục được những hạn chế trên để đưa ra những kiến nghị xác đáng hơn, đóng góp hơn nữa cho quá trình phát triển bền vững đặc biệt trong bối cảnh hội nhập đầy biến động đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành một thành viên của WTO.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

【#2】Ngon_Ngu_Hoc_Doi_Chieu Ngon Ngu Hoc Doi Chieu Ppt

Ngôn ngữ học đối chiếu

Anh – Việt

Th.S Nguyễn Văn Huy

Tổ Ngôn ngữ học

Khoa Việt nam học – ĐH NN Huế

Quiz

Tìm hiểu sơ lược về ngôn ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

Có bao nhiêu ngôn ngữ hiện đang được sử dụng trên thế giới?

Hãy liệt kê 05 ngôn ngữ có số người nói như bản ngữ nhiều nhất theo thứ tự từ cao đến thấp.

Có bao nhiêu người bản ngữ nói tiếng Anh ở Anh? ở Mỹ? Trên thế giới?

5000 7000 9000

Anh, Pháp, Nga, Trung, Ả Rập, Hindi, TâyBan Nha

50tr 60 tr 70tr

200tr 400tr 600tr

300 triệu 500tr 700tr

Quiz

Tìm hiểu sơ lược về ngôn ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện có bao nhiêu ngôn ngữ? Ước có khoảng bao nhiêu phần trăm người nói tiếng Việt như người bản ngữ trên tổng dân số?

Có bao nhiêu người bản ngữ nói tiếng Việt ở Anh? Ở Mỹ?

100 200 300

60% 80% 100%

20 ngàn 50 ngàn 100 ngàn

2 triệu 50 triệu 100 triệu

Theo The Ethnologue @ www.ethnologue.com

7,560

862,572

100.0

5,959,511,717

100.0

6,909

Ở Việt Nam hiện có 107 ngôn ngữ (kể cả ngôn ngữ bằng tay cho người câm điếc). Có khoảng 65,8 triệu người bản ngữ nói tiếng Việt, theo số liệu 1999, trong tổng số 68,6 triệu người dân.

Tiếng Anh được nói như ngôn ngữ thứ nhất (first language) ở 112 quốc gia. Ở Vương quốc Anh, có khoảng 58,1 triệu người bản ngữ nói tiếng Anh. Ở Mỹ quốc, có khoảng 215 triệu người bản ngữ nói tiếng Anh

Theo The Ethnologue @ Zdungk.com Việt được sử dụng ở 23 quốc gia khác nhau, ngoài Việt Nam ra, còn có Australia, Cambodia, Canada, China, Côte d’Ivoire, Czech Republic, Finland, France, Germany, Laos, Martinique, Netherlands, New Caledonia, Norway, Philippines, Russian Federation (Asia), Senegal, Taiwan, Thailand, United Kingdom, United States, Vanuatu.

Có khoảng 1,9 triệu người nói tiếng Việt ở Mỹ và khoảng 22 ngàn người ở Vương quốc Anh

Ngôn ngữ học miêu tả (descriptive linguistics): miêu tả từng ngôn ngữ cụ thể để làm rõ đặc điểm của ngôn ngữ cần nghiên cứu

Ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics): các ngôn ngữ của những cộng đồng người khác nhau được so sánh với nhau

TL1

Vị trí của ngôn ngữ học đối chiếu trong các phân ngành ngôn ngữ học hiện đại

Các phân ngành của ngôn ngữ học so sánh (comparative linguistics):

Ngôn ngữ học so sánh lịch sử (historical comparative linguistics): làm rõ mối quan hệ về mặt cội nguồn và quá trình phát triển lịch sử của các ngôn ngữ được giả định là có quan hệ về nguồn gốc.

ngữ hệ Ấn Âu (Indo – European): dòng Ấn, dòng Iran, dòng Slave, dòng Roman (Ý, Pháp), dòng German (có tiếng Anh, Đức, Hà Lan)

ngữ hệ Semit: dòng Ai Cập, dòng Semit

ngữ hệ Thổ: Thổ Nhĩ Kỳ, Azecbadan

ngữ hệ Hán Tạng: Hán

ngữ hệ Nam Phương (Austronesian): dòng Nam Thái, Nam Á,

trong Nam Á có ngành Môn-Khmer,

trong Môn – Khmer có tiếng Việt, Mường, Ba Na, Ka Tu…

TL1

Vị trí của ngôn ngữ học đối chiếu trong các phân ngành ngôn ngữ học hiện đại

Ngôn ngữ học so sánh loại hình (typological linguistics): phân loại ngôn ngữ trên thế giới dựa và những điểm giống nhau trong cấu trúc ngôn ngữ, không nhất thiết cùng một nguồn gốc

(xem loại hình ngôn ngữ)

Ngôn ngữ học đối chiếu: nghiên cứu so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ bất kỳ để xác định những điểm giống nhau và khác nhau, bất chấp yếu tố nguồn gốc hay loại hình nhằm phục vụ những nhu cầu lí luận và thực tiễn của người nghiên cứu. (phạm vi hẹp hơn nghiên cứu loại hình, và chỉ xét các yếu tố đồng đại chứ không mang tính lịch đại như nghiên cứu ngữ hệ/ nguồn gốc)

TL1

Quá trình phát triển của NNHĐC

– Có lịch sử lâu đời: hầu hết các công trình ngữ pháp miêu tả đều có so sánh đối chiếu vô tình hay hữu ý.

– Đến 1789, James Pickbourne là người đầu tiên dùng thuật ngữ đối chiếu (contrast) gắn với hiện tượng khác biệt giữa các ngôn ngữ, trích theo Krzeszowski, 1990)

– Sau một số công trình nổi bật, nghiên cứu đối chiếu rơi vào khủng hoảng vì thiếu một hệ thống lí luận khoa học dẫn dắt.

– Đến đầu thế kỷ XX, NNĐC phát triển theo ba hướng:

+ Công trình của Baudouin de Courternay (1902), nhà ngôn ngữ Nga gốc Ba Lan, so sánh tiếng Ba lan, Nga và tiếng Slave cổ, đáp ứng nhu cầu học tiếng Nga của công dân Liên Xô.

+ Công trình của Ch. Bally (1932) “Ngôn ngữ học đại cương và một số vấn đề của tiếng Pháp” đối chiếu tiếng Pháp và tiếng Đức, đáp ứng nhu cầu học tiếng Đức của người Pháp

+ Công trình của Ch. Fries (1940), Transfer Grammar của Z. Harris (1954), Linguistics Across Cultures của R. Lado (1957) đối chiếu tiếng Anh với những ngôn ngữ khác, xuất phát từ nhu cầu học tiếng Anh trên toàn cầu ngày càng tăng.

TL1

Quá trình phát triển của NNHĐC

Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu đối chiếu đầu tiên là “Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ” của Lê Quang Thiêm (1989) với những luận cứ của tiếng Việt và tiếng Bungary, sau đó là cuốn “Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á” của Nguyễn Văn Chiến (1992).

Hà Nội năm 1997 đánh dấu Hội thảo chuyên ngành đối chiếu ngôn ngữ lần đầu tiên ở Việt Nam.

Hướng dẫn TL2

Dĩ Âu vi trung: hiện tượng lấy ngữ liệu của các ngôn ngữ Ấn Âu để xây dựng nên các khái niệm, các phạm trù đại cương, phổ quát, dùng cho việc nghiên cứu, miêu tả các ngôn ngữ khác.

Cấu trúc câu Chủ – Vị & cấu trúc câu Đề – Thuyết

Phân biệt từ loại động từ & tính từ

Hướng dẫn TL2

Tìm hiểu sự chuyển di ngôn ngữ

Ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ với ngoại ngữ

+ giọng ngoại quốc

+ học một ngôn ngữ có đặc điểm loại hình giống với tiếng mẹ đẻ thì dễ hơn

+ khái niệm “chuyển di ngôn ngữ” (language transfer) do T.Odlin (1989) khởi xướng trong công trình cùng tên: ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ với học ngoại ngữ. Đôi khi còn gọi là “giao thoa ngôn ngữ” (interference) (J. Fisiak, 1983. Present Trends in Contrastive Linguistics)

Hướng dẫn TL2

An example…

“Cấu trúc make somebody/ something do something đã bị sinh viên Việt Nam lạm dụng và trở thành nguồn gốc của các lỗi nặng – những trường hợp mà khi đó người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ có thói quen dùng những ngoại vị từ (transitive verbs) thay cho kết cấu nêu trên” (Tô Minh Thanh, tạp chí NCKH- ĐHXHNV số 19)

Hướng dẫn TL2

(1a) The white ceiling and walls of the living room make it seem brighter and larger.

“Trần nhà và những bức tường màu trắng của phòng khách làm cho nó dường như sáng hơn và rộng hơn.”

Ngoại vị từ Brighten “làm cho sáng hơn” và Enlarge “làm cho rộng hơn” thường được dùng trong trường hợp này:

(1b) Its white ceiling and walls seemingly Brighten and Enlarge the living room.

(2a)* Drugs can make a person become completely different.

“Ma tuý có thể làm cho một người trở nên hoàn toàn khác.

Ngoại vị từ Change “làm thay đổi” sẽ làm cho câu này nghe giống tiếng Anh hơn:

(2b) Drugs can change a person completely.

Hướng dẫn TL2

Chuyển di ngôn ngữ

chuyển di tích cực (positive transfer): giúp học dễ dàng hơn vì có sự giống nhau

Do you have money with you? Yes, I do (E)/? Ni you qian ma? You (C)/ Em có mang theo tiền không? Có (V): câu trả lời ngắn

Kumain na ako (Tag). I have eaten. Tôi ăn rồi: trật tự thành phần câu

chuyển di tiêu cực (negative transfer): gây khó khăn do khác biệt

 hạn chế/ tránh sử dụng những cấu trúc xa lạ

Tag questions/ negative polar questions for Viets

Cấu trúc trung tâm ngữ của tiếng Trung: Ni xi huan wo song ni de li wu ma?

 quá lạm dụng những cấu trúc gần gũi

Vấn đề đặt ra là, lỗi do tiếng mẹ đẻ chiếm vị trí như thế nào trong ngôn ngữ trung gian của người học:

Hướng dẫn TL2

Khác biệt ngôn ngữ và khó khăn ngôn ngữ

Khác biệt về ngôn ngữ không đồng nhất với khó khăn trong học ngoại ngữ. Khác biệt là phạm trù thuộc ngôn ngữ, còn khó khăn là phạm trù thuộc tâm lý tồn tại trong đầu óc từng người.

Khác nhau giữa hai ngôn ngữ không phải khi nào cũng gây khó khăn như nhau với người học:

Người Anh: anh và em/ cô, cậu, mợ, dì, dượng, bác, chú, o, thím trong tiếng Việt  khó khăn

Người Việt: brother/ uncle/ aunt  dễ dàng

Người Việt: rice  dễ dàng

Người Anh: lúa, thóc, gạo, cơm, cháo, hồ, nếp, xôi, trấu, tấm, cám  khó khăn

Hướng dẫn TL2

Khác biệt ngôn ngữ và khó khăn ngôn ngữ

Do vậy, cần xác định (xét về việc dạy tiếng):

giống nhau cần yếu: giống nhau giúp người học chuyển di tích cực từ tiếng mẹ đẻ sang ngoại ngữ:

trật tự từ, thành phần câu (A-V): trật tự từ giữa danh từ trung tâm và tính từ trong tiếng Anh, Hán là giống nhau, không cần dạy nhiều, nhưng với tiếng Việt thì cần tập trung làm rõ.

giống nhau không cần yếu: giống nhau không giúp người học chuyển di tích cực:

phạm trù số của Anh – Việt

ngôn ngữ nào cũng có nguyên âm (phổ niệm)

khác nhau cần yếu: khác nhau dẫn đến chuyển di tiêu cực:

thanh điệu của tiếng Việt với người Anh, trọng âm của tiếng Anh với người Việt

khác nhau không cần yếu: khác nhau không dẫn đến chuyển di tiêu cực:

động từ của tiếng Anh đối với người Việt: thời, thể, thức

Ngôn ngữ học đối chiếu do vậy giúp thiết lập căn cứ để thiết kế chương trình, biên soạn tài liệu theo đối tượng người học

+ (trẻ em, người lớn, người bản xứ, người nước ngoài, người nước này, người nước khác)

+ nhưng không phải là căn cứ duy nhất: tuổi tác, mục đích, tâm lý, môi trường, vv.

Hướng Dẫn TL3

Cơ sở đối chiếu (Tertium Comparationis)

Hai đối tượng đối chiếu phải có một điểm chung. Đó chính là TC, là yếu tố quyết định kết quả so sánh.

Nếu đối chiếu hình vuông và hình chữ nhật:

TC: số cạnh và số góc  như nhau

TC: tương quan về chiều dài của các cạnh  khác nhau

Xác định TC trong những ví dụ sau:

Đôi ta như lửa mới nhen/ Như trăng mới mọc như đèn mới khêu

Vào mùa hè quạt máy đắt như như tôm tươi, nhưng vào mùa đông thì lại rẻ như bèo

Tình yêu của họ đã đơm hoa kết trái

Thì giờ là vàng bạc

Hướng Dẫn TL3

Cơ sở đối chiếu (Tertium Comparationis)

TC là một đại lượng chung không thuộc về một ngôn ngữ nào trong số những ngôn ngữ được đối chiếu. Nó có thể thuộc phạm trù phổ quát hoặc phạm trù chung của hai hay một số ngôn ngữ nào đó.

+ TC trong ngữ âm – âm vị học: đặc trưng về cấu âm-âm học, nét khu biệt âm vị

+ TC trong Từ vựng: nghĩa của từ và các nét nghĩa

+ TC trong ngữ pháp: tương ứng về cấu trúc và ý nghĩa

+ TC trong ngữ dụng: lực ngôn trung, các chức năng trong giao tiếp

Hướng Dẫn TL3

Cơ sở đối chiếu (Tertium Comparationis)

Việc xác định TC không nên dựa vào hình thức (cách gọi tên, khái niệm) vì sẽ dẫn đến sự bế tắc, hoặc lệch chuẩn, sai lầm, hoặc phiến diện. NCĐC nên dựa vào sự tương đương về nghĩa, các thành tố nghĩa

+ Ví dụ: nghiên cứu đối chiếu phạm trù “Thì” trong tiếng Việt và tiếng Anh  có thể có trong tiếng Anh nhưng trong tiếng Việt thì cách tiếp cận không thống nhất, thậm chí còn không có thì trong tiếng Việt.

+ Đề tài gợi ý là: Nghiên cứu đối chiếu các phương tiện biểu đạt ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh

Xem slide 33, 35

Hướng Dẫn TL3

Những cách tiếp cận TC cơ bản trong NCĐC các ngôn ngữ

Tuỳ vào nhiệm vụ mục đích, có hai cách tiếp cận:

Cách tiếp cận hai hay nhiều chiều: xem xét các hiện tượng được so sánh của hai hay nhiều ngôn ngữ. Câu hỏi đặt ra là: Những phương tiện nào có trong ngôn ngữ A và B dùng để biểu thị cái được xây dựng trong TC?

Cách đối chiếu này thường có tựa đề dạng Những phương tiện/ cách thức biểu hiện phạm trù X trong ngôn ngữ A và B.

VD1: Cách biểu thị ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt

VD2: Cách biểu thị ý nghĩa nguyên nhân trong tiếng Anh và tiếng Việt

VD3: Cách biểu thị ý nghĩa mệnh lệnh trong tiếng Anh và tiếng Việt

VD4: Phạm trù lịch sự trong tiếng Anh và tiếng Việt

VD5: Khoảng cách giao tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt

Hướng Dẫn TL3

Những cách tiếp cận TC cơ bản trong NCĐC các ngôn ngữ

Cách tiếp cận một chiều:

Cách tiếp cận này lấy TC làm trung tâm, không có ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích. Ở ngôn ngữ A có thể có 4 phương tiện biểu đạt, ngôn ngữ B có thể có ít hoặc nhiều hơn, vv.

Có thể bắt đầu bằng cách miêu tả các hình thức trong ngôn ngữ thứ nhất rồi đối chiếu với ngôn ngữ thứ hai hoặc ngược lại. (ngôn ngữ nguồn và đích)

Những nguyên tắc cơ bản trong đối chiếu các ngôn ngữ:

Theo Bùi Mạnh Hùng (2000), nghiên cứu ngôn ngữ cần tuân theo những nguyên tắc sau:

Nguyên tắc thứ nhất: Các phương tiện trong hai ngôn ngữ đối chiếu phải được miêu tả một cách đầy đủ và chính xác trước khi tiến hành đối chiếu để tìm ra điểm giống và khác nhau.

Có thể sử dụng kết quả của người khác đã nghiên cứu

Tự mình miêu tả những thuật ngữ và các đơn vị sử dụng để đối chiếu

Nguyên tắc thứ hai: Việc nghiên cứu không nên chú ý đến những phương tiện ngôn ngữ nào đó được tách biệt một cách máy móc, khiên cưỡng mà phải nằm trong một hệ thống.

VD: không thể so sánh I và tôi mà không đặt trong hệ thống các vai giao tiếp, không so sánh will với sẽ mà không đặt trong hệ thống ý nghĩa chỉ về thời gian

Nguyên tắc thứ ba: Phải xem xét các phương tiện đối chiếu không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ mà cả trong hoạt động giao tiếp.

VD1: trong tiếng Anh “you” có phạm vi hoạt động rất rộng và có rất nhiều phương tiện diễn đạt tương đương trong tiếng Việt tùy vào từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể

VD2: động từ trong tiếng Việt có chức năng biến đổi tùy thuộc vào từng hoàn cảnh giao thiếp cụ thể

Nguyên tắc thứ tư và là nguyên tắc hay bị vi phạm nhất: Phải đảm bảo tính nhất quán trong việc sử dụng các mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ đối chiếu

Phải sử dụng những khái niệm có thể phù hợp để miêu tả cả hai ngôn ngữ được đối chiếu và những khái niệm đó phải được hiểu cùng một cách

Phải theo cùng một khung lý thuyết

Nếu hiểu hình vị là một đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa (Bloomfield) thì tiếng Việt và tiếng Hán không có đơn vị từ, chỉ có hình vị; nhưng nếu hiểu hình vị là đơn vị có nghĩa của từ, tạo nên từ thì các ngôn ngữ này chỉ có từ, không có hình vị.

Mặc dù sẽ là lí tưởng để có một hệ thống thuật ngữ trung lập để mô tả chung cho các ngôn ngữ, không thiên về một nhóm ngôn ngữ nào nhưng thực tế, ngôn ngữ đại cương hiện tại trên thế giới vẫn là “dĩ Âu vi trung” (thiên về ngôn ngữ biến hình)  NGHỊCH LÝ đang tồn tại

Các khung lý thuyết về ngôn ngữ:

Ngữ pháp truyền thống – traditional

Bắt nguồn từ các công trình nghiên cứu ngữ pháp Latin và Hy lạp, vẫn có giá trị sử dụng cho đến ngày nay

ngữ pháp cấu trúc – structural

Xây dựng trên cơ sở ngữ pháp mô tả, chú trọng đến các cấu trúc nền tảng của một ngôn ngữ cụ thể

ngữ pháp tạo sinh – cải biến – generative-transformational

Xuất phát từ deep structure và surface structure của Noam Chomsky, nhấn mạnh đến năng lực ngôn ngữ (competence) khái quát của con người

ngữ pháp tri nhận – cognitive

Khởi nguồn từ 1976 do Ronald Langacker, chú trọng đến nhận thức và tư duy với ngôn ngữ

ngữ pháp chức năng – functional

Bắt nguồn từ nghiên cứu của Simon C. Dik ở University of Amsterdam vào những năm 1970.

Semantic function (Agent, Patient, Recipient, etc.), describing the role of participants in states of affairs or actions expssed

Syntactic functions (Subject and Object), defining different perspectives in the psentation of a linguistic expssion

Pragmatic functions (Theme and Tail, Topic and Focus), defining the informational status of constituents, determined by the pragmatic context of the verbal interaction

Nguyên tắc thứ năm: đơn giản, thiết thực với người dạy và người học tiếng

Phương pháp đối chiếu:

1. Khái quát:

– Trong ngôn ngữ học có 2 phương pháp nghiên cứu chính:

+ Miêu tả (descriptive)

+ So sánh (comparative):

+ so sánh lịch sử

+ so sánh loại hình

+ so sánh đối chiếu

+ so sánh bên trong ngôn ngữ (intralingual): so sánh giữa các đơn vị, phạm trù thuộc các cấp độ khác nhau trong cùng một ngôn ngữ: phân biệt âm vị ấm tố, hình vị – hình tố, các phạm trù ngữ pháp, các phương thức ngữ pháp..

+ so sánh bên ngoài ngôn ngữ (extralingual): so sánh các đơn vị, các phạm trù giữa các ngôn ngữ với nhau

2. Phạm vi đối chiếu:

Đối chiếu tổng thể giữa hai ngôn ngữ: không khả thi

Đối chiếu dấu hiệu: các mặt, các cấp độ, các thuộc tính cụ thể của hai ngôn ngữ

So sánh những hệ thống tương đương giữa hai ngôn ngữ như đại từ, quán từ, động từ, hệ thống nguyên âm, hệ thống phụ âm…

So sánh những cấu trúc tương đương như nghi vấn, phủ định, cảm thán…

So sánh các quy tắc tương đương: quy tắc bị động, đảo ngữ, nhấn mạnh, đồng hoá dị hoá ngữ âm

Cũng có thể phân biệt phạm vi đối chiếu trên cơ sở bình diện ngôn ngữ như ngữ âm – âm vị, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng

Các bước đối chiếu:

a. Miêu tả

b. Xác định cái gì có thể so sánh với cái gì.

c. So sánh để thấy cái giống và cái khác

+ XL1 = XL2

+XL1 =/= XL2

+ XL1 = 0L2: “thì” trong tiếng Anh: Y, trong tiếng Việt: N

Ví dụ…

Cách diễn đạt câu nghi vấn trong tiếng Anh và các hình thức diễn đạt tương đương trong tiếng Việt

Vương Thị Đào

Hiện nay, cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cách thức phân loại các câu hỏi trong tiếng Anh cũng như các loại ngôn ngữ khác. Xét theo cấu trúc ngữ pháp, câu hỏi trong tiếng Anh thành các loại như sau:

Yes/ No questions (câu hỏi có/không)

Wh- questions (câu hỏi có từ nghi vấn)

Alternative questions (câu hỏi lựa chọn)

Tag questions (câu hỏi láy lại)

Declarative questions (câu hỏi dạng tường thuật)

Dựa vào tính chất câu hỏi và những phương tiện biểu thị câu hỏi, người ta có thể chia câu tiếng Việt thành các loại sau:

Câu hỏi tổng quát.

Câu hỏi có từ nghi vấn.

Câu hỏi lựa chọn.

Câu hỏi dùng ngữ điệu.

2. Wh-questions (câu hỏi có từ nghi vấn)

* Giống nhau

Sự tương đồng giữa các từ nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt là khá cao. Ví dụ: Tiếng Anh có: who(m), what, when, where, why, which. Tiếng Việt có: ai, cái gì, khi nào, ở đâu, tại sao, cái nào,…

Khi từ nghi vấn (wh- word) là chủ ngữ trong câu hỏi thì trong tiếng Anh và tiếng Việt hoàn toàn tương đồng. Trật tự từ trong cả hai câu hỏi Anh- Việt như nhau. Ví dụ:

Who loves Fiona?

Ai yêu Fiona?

What makes you cry?

Điều gì làm em khóc?

Từ nghi vấn (wh-word) trong cả hai loại Anh – Việt đều có hình thức rút gọn và từ nghi vấn có thể là từ đơn hoặc một cụm từ. Ví dụ:

Who Ai

What Cái gì

What for Để làm gì

Why Tại sao

Why not Tại sao không

Where Ở đâu

Where to Tới đâu

Trong tiếng Anh và tiếng Việt, loại câu hỏi mà từ nghi vấn được dùng để hỏi nguyên nhân (Why- tại sao, for what reason- vì lý do gì, for which reason- vì lý do nào) đều ở cùng vị trí đầu câu, đều thực hiện chức năng trạng ngữ trong câu. Ví dụ:

Why do you want to learn English?

Tại sao anh thích học tiếng Anh?

For what reason did many people leave for big cities?

Vì lí do gì mà nhiều người bỏ quê hương để đến các thành phố lớn?

For which reason do birds migrite?

Vì lí do nào mà chim di trú?

* Khác nhau

Khi từ nghi vấn không phải là chủ ngữ thì trong tiếng Việt không còn các tác tử (operators: auxiliaries, modals hoặc tobe) đứng trước chủ ngữ của câu hỏi như trong tiếng Anh và từ nghi vấn “ai” đứng ngay sau động từ chính trong tiếng Việt. Từ nghi vấn “who” trong tiếng Anh đứng đầu câu và phải dùng các tác tử đặt trước chủ ngữ. Ví dụ:

Who did you help?

Bạn giúp ai?

Cuối câu hỏi Wh – questions phải xuống giọng. Trong tiếng Việt không cần ngữ điệu.

Từ nghi vấn “When” chỉ đứng đầu câu trong câu hỏi loại này. Thời gian trong câu trả lời phụ thuộc vào thì (tense) mà ta sử dụng.Ví dụ:

A: When are you going to get married?

B: Next year.

A: When did you get married?

B: Two years ago.

Từ “khi nào/bao giờ/lúc nào” trong tiếng Việt đứng được ở cả hai vị trí: đầu câu và cuối câu. Khi đứng ở đầu câu, nó đề cập đến thời gian của hành động trong tương lai, và trường hợp đứng ở cuối câu, nó chỉ thời gian của hành động đã xảy ra ở quá khứ. Ví dụ:

A: Khi nào em tốt nghiệp đại học?

B: Sang năm.

A: Em tốt nghiệp đại học khi nào?

B : Năm ngoái.

Bảng tổng hợp phụ âm Anh – Việt

Thực hành đọc

phiên âm quốc tế tiếng Việt

Giới thiệu phần mềm Praat

Mô tả tính năng của phần mềm nghiên cứu về ngữ âm

Một số phương pháp và xu hướng ứng dụng phần mềm vào nghiên cứu đối chiếu ngữ âm Anh – Việt

Một số gợi ý về đề tài nghiên cứu đối chiếu ngữ âm

So sánh đối chiếu các đặc tính về cấu âm-âm học của

hai nguyên âm tiếng Anh /i/ và /i:/ trong cách phát âm của người Việt học tiếng Anh và người Anh bản xứ

các phụ âm tắc xát tiếng Anh /S, tS, dz/ trong cách phát âm của người Việt học tiếng Anh và người Anh bản xứ

các phụ âm tắc bật hơi /p, t, Ө/ tiếng Anh trong cách phát âm của người Việt học tiếng Anh và người Anh bản xứ

Các nguyên âm đôi tiếng Việt trong cách phát âm của người Anh/ Mỹ/ Úc và người Việt bản xứ

Các phụ âm tiếng Việt /γ/ và /χ/ trong cách phát âm của người Anh/ Mỹ/ Úc và người Việt bản xứ

Ví dụ về từ láy trong tiếng Anh

Onomatopoeic words (từ mô phỏng âm thanh): từ mô phỏng âm thanh của sự vật, hiện tượng muốn diễn đạt.

Động vật: chirp-chirp

Cuckoo-cuckoo

Meow-meow

Hiện tượng tự nhiên: beep-beep (automobile)

room-vroom (engine)

aps-zaps (laser weapon)

Ví dụ về từ láy trong tiếng Anh

Reduplicating (lặp từ): từ ghép có hai yếu tố từ vựng trở lên.

Các yếu tố từ vựng giống nhau goody-goody

Khác ở phụ âm đầu của từ walkie-talkie

Khác ở nguyên âm giữa của từ criss-cross

Từ thông tục, quen thuộc, lấy từ phát âm của trẻ con din-din

Ví dụ về từ láy trong tiếng Anh

Alliteration (lặp từ): lặp nguyên âm hoặc phụ âm của các từ trong câu.

Tiêu đề báo chí: “Science has Spoiled my Supper”, “Too Much Talent in Tennessee?”, and “Kurdish Control of Kirkuk Creates a Powder Keg in Iraq”

Nhân vật hoạt hình: Beetle Bailey, Donald Duck, Peter Parker, Bruce Banner, Clark Kent

Nhà Hàng: Coffee Corner, Sushi Station

Thành ngữ: busy as a bee, dead as a doornail, good as gold, right as rain, etc…

Âm nhạc: Blackalicious` “Alphabet Aerobics” focuses on the uses of alliteration in rhyme

Tên riêng: Ronald Reagan, Rodney Rude

Từ láy trong tiếng Việt

?

*Nghiên cứu đối chiếu trường từ vựng: (từ chỉ sự chuyển động, từ chỉ màu sắc, từ chỉ quan hệ thân tộc, từ chỉ bộ phận cơ thể người, từ chỉ hoạt động nói năng,từ chỉ cảm xúc, từ chỉ thực vật, từ chỉ động vật)

Các ý nghĩa thay đổi tuỳ thuộc vào nền văn hoá. Một số ý niệm có trong ngôn ngữ này nhưng không có trong ngôn ngữ khác. Do đó, không có đơn vị từ vựng tương đương (ô trống trong ngôn ngữ) hoặc phải diễn đạt bằng một ngữ tự do

Tiếng Anh: pig/pork, cow/beef, sheep/ lamp, deer/venison

Tiếng Việt: lúa/thóc/cơm/gạo, gánh/cõng/gùi/mang/vác/địu/bế/bồng, nói thách, mặt trận, ông ngoại/cậu/bác/mợ/anh

Ví dụ về từ chỉ quan hệ thân tộc:

*Nghiên cứu đối chiếu về đặc điểm phân bố, kết hợp của từ vựng:

Ứng dụng trang web chúng tôi và phần mềm AntCon trong việc nghiên cứu so sánh tần suất sử dụng và sự phân bố trong khối ngữ liệu

PROJECTS:

Khảo sát trường từ vựng về “tình yêu” trong các bài hát trữ tình tiếng Anh và tiếng Việt giai đoạn nửa sau thế kỷ 20.

Khảo sát trường từ vựng về “thiên tai” trong các bài báo điện tử tiếng Anh và tiếng Việt

Khảo sát về trường từ vựng về “xì căng đan” trong các bài báo điện tử tiếng Anh và tiếng Việt

*Nghiên cứu đối chiếu về thành ngữ

Làm sáng tỏ nhiều phương diện văn hoá

Nên giới hạn phạm vi đối chiếu thành ngữ: đối chiếu thành ngữ có yếu tố so sánh, thành ngữ có cấu trúc đối, thành ngữ cấu tạo bởi 4 thành tố, thành ngữ có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người, thành ngữ chỉ động/ thực vật.

Một số vấn đề cần lưu ý…

Đối chiếu ở bình diện ngữ pháp phong phú, đa dạng hơn

Đối chiếu hình vị: trong các ngôn ngữ biến hình, có sự phân biệt chính tố và phụ tố, còn tiếng Việt thì không, ranh giới hình vị và từ không rõ ràng (mua áo mua xống, không vui không vẻ)

Đối chiếu phương thức cấu tạo từ: phương thức phụ gia ở tiếng Anh, phương thức ghép và láy ở tiếng Việt

Đối chiếu số lượng từ loại: lưu ý cách tiếp cận

Đối chiếu các phạm trù ngữ pháp ngôi, số, giống, thời, thể, thức, dạng

Đối chiếu trật tự từ trong các cụm từ tự do, cụm từ cố định (thành ngữ, quán ngữ, ngữ cố định định danh)

Đối chiếu khuôn hình hoặc các câu: phân loại theo chức năng, theo cấu trúc, theo sự phân cực

Phương thức cấu tạo từ tiếng Anh và tiếng Việt

Phương thức dùng một tiếng làm một từ: tôi, bác, à, nếu

Phương thức tổ hợp các tiếng:

từ ghép đẳng lập:

Các thành tố đều rõ nghĩa: ăn ở, ăn nói

Có thành tố không rõ nghĩa: chợ búa, bếp núc, sầu muộn, các mú

từ ghép chính phụ:

Các thành tố đều rõ nghĩa: tàu hoả, đường sắt, sân bay

Có thành tố không rõ nghĩa: dưa hấu, xanh lơ, đỏ chót

Từ ngẫu kết: bồ hòn, thằn lằn, kỳ nhông

Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà âm: từ láy (đôi, ba, tư)

Có một từ gốc có nghĩa: xanh xao, nhanh nhảu

Không có từ gốc có nghĩa: ra rả, rừng rực

Dùng một hình vị để tạo thành một từ: in, house, web

Tổ hợp hai hay nhiều hình vị để tạo từ

Phương thức phụ gia:

Thêm vào tiền tố: p-war

Thêm vào hậu tố: homeless

Thêm vào trung tố: singabloodypore

Phương thức ghép các yếu tố gốc từ:

Nghĩa tổng hợp: Newspaper, motion sickness

Nghĩa đặc biệt: greenhouse, lighthouse, blackboard

Phương thức láy:

zig zag, willy-nilly, ding-dong, flip-flop, higgledy-piggledy

Phương thức cấu tạo từ trong tiếng Anh và tiếng Việt

từ chỉ màu sắc:

Phương thức láy:

đo đỏ, đen đen, trăng trắng, xanh xanh, vàng vàng, nâu nâu, hồng hồng, tim tím, xam xám.

đỏ đắn, đen đúa, xanh xao, vàng vọt, xám xịt, tím tái, hồng hào

Phương thức khác: màu hạt dẻ, màu khói, màu cà rốt, màu lông ngựa, màu boóc đô

từ chỉ dụng cụ lao động: tư duy tổng quát đến cụ thể

từ chỉ cảm xúc

từ cấm kỵ

Nhìn lại một số khái niệm…

Từ trong tiếng Anh: Khi phân tích cấu trúc của những từ thuộc ngôn ngữ biến hình (inflecting language) có tính tổng hợp (syntheticity), từ (word form) chưa phải là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ mà nó còn được tạo nên bởi những thành tố nhỏ hơn gọi là từ tố (hình vị-morpheme).

HÌNH VỊ (morpheme): là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là bộ phận nhỏ nhất cấu tạo nên từ

Hình vị có thể được phân chia thành nhiều loại dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau (free/bound), (lexical/functional), (derivational/ inflectional), (root/ affix)

Từ trong tiếng Việt: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.

Đơn vị cấu tạo của từ tiếng Việt là các TIẾNG, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là âm tiết

Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác, còn được gọi là các hình tiết (morphemsyllable)

Xét về ý nghĩa, về giá trị ngữ pháp, về năng lực tham gia cấu tạo từ

Có những tiếng tự thân nó mang ý nghĩa: cây, trời, cỏ, nước

Có những tiếng tự thân n�

【#3】Ngôn Ngữ Học Đối Chiếu

, Dịch vụ viết Báo cáo thực tập, khóa luận 093 189 2701

Published on

ZALO 093 189 2701 – Ngôn ngữ học đối chiếu – Dành cho SV ngoại ngữ – Dẫn luận ngôn ngữ

  1. 3. 3 MỤC LỤC Dẫn nhập 5 Chương 1: Vị trí của ngôn ngữ học đối chiếu trong các bộ môn ngôn ngữ học hiện đại 18 1.1. So sánh 18 1.2. Những phương pháp cơ bản được áp dụng trong so sánh ngôn ngữ 20 1.3. Phân biệt ngôn ngữ học so sánh – lịch sử, ngôn ngữ học so sánh – loại hình, ngôn ngữ học so sánh – khu vực và ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu 21 1.4. Lịch sử hình thành bộ môn ngôn ngữ học đối chiếu 21 Chương 2: Nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối chiếu 23 2.1. Những quan điểm khác nhau về nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối chiếu 23 2.2. Dựa vào phạm vi của ngôn ngữ học đối chiếu để xác định nhiệm vụ cụ thể của ngôn ngữ học đối chiếu 24 Chương 3: Mục đích của ngôn ngữ học đối chiếu ngôn ngữ 36 3.1. Những mục đích xét ở phạm vi nghiên cứu ứng dụng lý thuyết 36 3.2. Những mục đích xét ở phạm vi nghiên cứu ứng dụng thực hành ngôn ngữ 37
  2. 4. 4 Chương 4: Thực hành phân tích đối chiếu ngôn ngữ 46 4.1. Nghiên cứu đối chiếu về ngữ âm 46 4.2. Nghiên cứu đối chiếu từ vựng- ngữ nghĩa 51 4.3. Một số thử nghiệm (Nghiên cứu về đối chiếu ngôn ngữ – Một số bài báo về so sánh, đối chiếu ngôn ngữ đã đăng ở tạp chí, hội thảo khoa học) 52 Tài liệu tham khảo 91
  3. 7. 7 kết quả của cơ chế tạo sản âm thanh tiếng nói con người. Chính vì thế, các dạng thể âm thanh là vô hạn. Và đơn vị của ngữ âm học là các âm tố, tức là các âm thanh tự nhiên của tiếng nói con người. 6. Từ vựng học là gì? Nói cho đơn giản thì từ vựng học (lexicology) là một bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu từ vựng của ngôn ngữ. Vậy, đối tượng nghiên cứu của từ vựng học là từ vựng. Từ vựng được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ. Đơn vị tương đương với từ là những cụm từ cố định, cái mà người ta vẫn hay gọi là các thành ngữ, quán ngữ. Ví dụ: ngã vào võng đào, múa tay trong bị, con gái rượu, tóc rễ tre, của đáng tội,… trong tiếng Việt; hoặc wolf in sheep’s clothing (sói đội lốt cừu), like a bat out of hell (ba chân bốn cẳng)… trong tiếng Anh. 7. Ngữ pháp học là gì? Ngữ pháp hay văn phạm là quy tắc chủ yếu trong cấu trúc ngôn ngữ. Việc tạo ra các quy tắc chính cho một ngôn ngữ riêng biệt là ngữ pháp của ngôn ngữ đó, vì vậy mỗi ngôn ngữ có một ngữ pháp riêng biệt của nó. Ngữ pháp là một phần trong nghiên cứu ngôn ngữ hay còn gọi là ngôn ngữ học. 8. Phong cách học là gì? Phong cách học nghiên cứu các sự kiện biểu đạt của ngôn ngữ trên quan điểm nội dung biểu cảm của chúng, nghĩa là sự biểu đạt các sự kiện tình cảm bằng ngôn ngữ và tác động …. Bởi vì sự khắc khổ có thể là một cái gì cường điệu và bao hàm một khái niệm không thể hiện điều mà chúng ta cảm thấy ở đây. 9. Ngữ dụng học là gì? Ngữ dụng học (pragmatics) là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa. Ngữ dụng học bao hàm cả Lý thuyết hành vi ngôn từ, Hàm ngôn hội thoại, tương tác lơi nói và cả những cách tiếp cận khác tới
  4. 9. 9 Hệ thống âm đệm Âm đệm /w/ có chức năng làm trầm hoá âm sắc của âm tiết. Hệ thống âm chính Tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi làm âm chính: /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo/ Bảng hệ thống nguyên âm tiếng Việt Hệ thống âm cuối Ngoài âm cuối /rezo/, tiếng Việt còn có 8 âm cuối có nội dung tích cực, trong đó có 6 phụ âm /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán nguyên âm /-w, -j/. Bảng hệ thống âm cuối tiếng Việt 11. Hình vị là gì? Từ là gì? Từ được cấu tạo nhờ các hình vị. Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định. Ví dụ:
  5. 10. 10 Từ tiếng Anh Antipoison = anti + poison Từ tiếng Nga nucaтeль = nuca + тeль Vậy hình vị là gì? Quan niệm thường thấy về hình vị, được phát biểu như sau: Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp. Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình. Chẳng hạn, trong dạng thức played của tiếng Anh người ta thấy ngay là: play và -ed. Hình vị thứ nhất gọi tên, chỉ ra khái niệm về một hành động, còn hình vị thứ hai biểu thị thời của hành động đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong câu mà played xuất hiện. Các hình vị được phân chia thành những loại khác nhau. Trước hết là sự phân loại thành các hình vị tự do và hình vị hạn chế (bị ràng buộc). Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những từ độc lập. Ví dụ: house, man, black, sleep, walk… của tiếng Anh; nhà, người, đẹp, tốt, đi, làm… của tiếng Việt. Hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác. Ví dụ: -ing, -ed, -s, -ity… của tiếng Anh; ом, uх, е… của tiếng Nga. Từ là gì? Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu. Ví dụ: nhà, người, áo, cũng, nếu, sẽ, thì, đường sắt, sân bay, dạ dày, đen sì, dai nhách… 12. Phương thức ngữ pháp là gì? Các phương thức ngữ pháp phổ biến?
  6. 11. 11 Để thể hiện các loại ý nghĩa ngữ pháp, mỗi ngôn ngữ có thể sử dụng những phương tiện và cách thức khác nhau, tùy thuộc vào loại hình của ngôn ngữ đó. Cách thức và phương tiện mà ngôn ngữ dùng để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp gọi là phương thức ngữ pháp. Có thể nêu lên những phương thức ngữ pháp chủ yếu sau đây: 1. Phương thức phụ gia (hay phụ tố) Khi phân tích các từ có cấu tạo hình thái, ta thu được các loại hình vị khác nhau. Chẳng hạn phân tích từ ‘workers’ (các công nhân) của tiếng Anh ta thu được 2 loại hình vị: căn tố và vĩ tố kniga (quyển sách) – knigi – ý nghĩa thời:
  7. 12. 12 work (làm việc) – worked (đã làm việc) (tiếng Anh) govorit’ (nói) – govoril (nó đã nói) (tiếng Nga) parler (nói) – parlai (tôi đã nói) (tiếng Pháp) – ý nghĩa giống: xtud’ent (nam sinh viên) – xtud’entka (nữ sinh viên) (tiếng Nga) étudiant (nam sinh viên) – étudiante (nữ sinh viên) (tiếng Pháp) Schulfreund (bạn học nam) – Schulfreundin (bạn học nữ) (tiếng Đức) 2. Phương thức biến hình bên trong từ căn Đây là phương thức dùng sự thay đổi cấu tạo bên trong từ căn (thường là nguyên âm gốc của từ) để thể hiện các loại ý nghĩa ngữ pháp khác nhau. Phương thức này hiện còn được sử dụng hạn chế trong các ngôn ngữ Ấn-Âu như tiếng Anh, Đức, Pháp, Nga. Ví dụ: Trong tiếng Anh: take (lấy) – took (đã lấy) goose (con ngỗng) – geese (các con ngỗng) foot (bàn chân) – feet (các bàn chân) Trong tiếng Đức: Vater (bố) – Vọter (các ông bố) Nacht (đêm) – Nọcht (các đêm) Ofen (lò sưởi) – ệfen (các lò sưởi) Tuy nhiên trong tiếng Ả rập, đây là phương thức ngữ pháp khá điển hình. 3. Phương thức trọng âm ý nghĩa ngữ pháp có thể được thực hiện bằng cách di chuyển trọng âm. Đó chính là phương thức trọng âm. Ví dụ: trong tiếng Anh, từ ‘survey’ nếu được phát âm với trọng âm ở âm tiết thứ nhất thì đó là danh từ (cuộc điều tra), song khi được phát âm với trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai thì đó lại là một động từ (điều tra). Vậy phương thức trọng âm là phương thức dùng sự thay đổi vị trí của trọng âm để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, phương thức này không thể áp dụng cho
  8. 13. 13 những ngôn ngữ có trọng âm cố định như tiếng Pháp hay tiếng Séc. Song ở những ngôn ngữ có trọng âm di động như tiếng Nga hay tiếng Anh, phương thức này có thể được sử dụng khá rộng rãi, không những để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp mà còn để tạo nên các từ mới, ví dụ: Tiếng Anh: record – ghi chép (động từ) Tiếng Nga: rúki – những cánh tay (chủ cách/số nhiều) rukí – của cánh tay (sở hữu cách/số ít) 4. Phương thức ngữ điệu Ngữ điệu cũng là một yếu tố có thể dùng để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, mà đặc biệt là nghĩa thức. Như đã nói ở chương I, ngữ điệu là yếu tố được dùng để thay đổi ý nghĩa, mục đích của câu nói. Sự thay đổi các đường ngữ điệu cơ bản có thể thể hiện được thái độ khác nhau của người nói đối với nội dung được nói ra; ngữ điệu kết hợp thăng-giáng thể hiện thái độ khách quan (câu tường thuật), còn thái độ chủ quan được thể hiện hoặc là bằng ngữ điệu thăng (câu nghi vấn) hoặc là bằng ngữ điệu giáng (câu mệnh lệnh hay cảm thán). Do vậy, khi không sử dụng phương thức phụ tố (biến đổi động từ) hay một phương thức ngữ pháp khác để tạo thức mệnh lệnh hay cầu khiến chẳng hạn, người ta có thể sử dụng ngữ điệu giáng, hoặc một đường ngữ điệu đặc trưng nào đó, để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp ấy. Phương thức sử dụng sự thay đổi các đường ngữ điệu cơ bản để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp như vậy gọi là phương thức ngữ điệu. Ví dụ: – Tiếng Anh: Give it to me! (Hãy đưa nó cho tôi!) – Tiếng Việt: Xung phong! 5. Phương thức thay từ căn Trong một số trường hợp, người ta có thể dùng một từ căn khác hẳn với từ căn ban đầu để thay thế nó nhằm thay đổi ý nghĩa ngữ pháp
  9. 15. 15 b. Họ Hán Tạng: * Dòng Hán Thái: Hán, Thái, Lào, Tày, Nùng… * Dòng Tạng Miến: Tạng, Miến Điện; Lô Lô, Hà Nhì (miền Bắc Việt Nam) * Dòng Mèo Dao: Mèo, Dao (miền Bắc Việt Nam). c. Họ Môn Khơme: Tiếng Việt, tiếng Bana, tiếng Cơtu, tiếng Môn và tiếng Khơ me thuộc họ này d. Họ Mông Cổ: e. Họ Mã Lai – Đa Đảo: * Dòng Mã Lai * Dòng Pôlinêdiêng. … 14. Các loại hình ngôn ngữ chủ yếu: Bốn loại hình: loại hình hòa kết, chắp dính, đơn lập và đa tổng hợp. a. Loại hình ngôn ngữ hòa kết: (Bao gồm các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Ấn Âu như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp…) Đặc trưng cơ bản: * Trong hoạt động ngôn ngữ từ có biến đổi hình thái, tức là từ nọ đòi hỏi từ kia sự hợp dạng, ở đây ý nghĩa ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp được thể hiện ngay trong bản thân từ. Ví dụ: I – me; he – him; work – worked; see – saw… * Sự đối lập căn tố – phụ tố trong các ngôn ngữ hòa kết là rất rõ rệt nhưng chúng cũng được kết hợp với nhau rất chặt đến nỗi căn tố không thể đứng một mình mà chỉ hoạt động được khi đi kèm với phụ tố mang những ý nghĩa ngữ pháp nhất định. * Trong các ngôn ngữ hòa kết, một ý nghĩa ngữ pháp có thể được biểu hiện bằng nhiều phụ tố và ngược lại. Các ngôn ngữ hòa kết có thể chia thành 2 nhóm: hòa kết phân tích và hòa kết tổng hợp.
  10. 17. 17 (động từ penda, chủ ngữ ni (tôi), a(nó), bổ ngữ: ku (anh), m (nó) và yếu tố chỉ thời gian của động từ: ta (sẽ) * Các ngôn ngữ đa tổng hợp vừa có nét giống với ngôn ngữ chắp dính ở chỗ chúng cũng tiếp nối các hình vị vào với nhau; lại vừa có nét giống với các ngôn ngữ hòa kết ở chỗ: khi kết hợp các hình vị với nhau có thể có biến đổi vỏ ngữ âm của hình vị. (nó – chủ ngữ = a; nó – bổ ngữ = m).
  11. 19. 19 hệ thống và tính quốc tế. Có nghĩa là nội dung của nó được xác định, được quy định chặt chẽ trong mối quan hệ với các thuật ngữ khác trong hệ thống ngôn ngữ. Với ngôn ngữ học, so sánh là một thủ pháp phân tích, một phương pháp nghiên cứu các tài liệu ngôn ngữ. Những kinh nghiệm tích lũy được từ so sánh, phân tích các sự kiện ngôn ngữ, các tài liệu ngôn ngữ là cơ sở cho việc hình thành một ngành học lớn: Ngôn ngữ học so sánh. Trên lí thuyết so sánh chung, các phân ngành nhỏ của ngôn ngữ học so sánh được xác lập. Các phân ngành này khu biệt nhau theo các kiểu phân tích so sánh khác nhau. 1.1.2. Phân biệt so sánh bên trong và so sánh bên ngoài ngôn ngữ a) So sánh bên trong: Sự so sánh các đơn vị, các phạm trù thuộc những cấp độ, những bình diện khác nhau của hệ thống cấu trúc ngôn ngữ, nhưng chỉ trong phạm vi một ngôn ngữ. Chính sự so sánh bên trong ngôn ngữ là cơ sở lí thuyết cho việc hình thành và xác lập bộ môn ngôn ngữ học miêu tả. b) So sánh bên ngoài: Sự so sánh giữa các ngôn ngữ, giả định ít nhất là 2 (hoặc hơn 2 ngôn ngữ) được hiểu là sự so sánh bên ngoài ngôn ngữ. Có thể phân biệt 2 kiểu so sánh tiếp theo: là so sánh không hệ thống, ngẫu nhiên và kiểu so sánh hệ thống giữa các ngôn ngữ. 1.1.3. Phân biệt so sánh không hệ thống và so sánh hệ thống a) So sánh không hệ thống, ngẫu nhiên: là phép so sánh giữa các ngôn ngữ chỉ nhằm mục đích xác nhận (thừa nhận hay phủ định) một đặc điểm hay một vài đặc điểm nào đó. Kiểu so sánh này mang tính chất ngẫu nhiên, “bất chợt” của chủ quan nhà nghiên cứu. Sự so sánh này có thể tìm thấy ở đa số các công trình ngữ pháp miêu tả một ngôn ngữ. b) So sánh hệ thống: là phép so sánh đồng loạt, có trình tự giữa các ngôn ngữ, các hiện tượng, các yếu tố, đơn vị ngôn ngữ… ở tất cả các bình diện, các cấp độ ngôn ngữ. Với kiểu so sánh này, một số phân ngành ngôn ngữ học so sánh đã hình thành và phát triển. Đó là:
  12. 20. 20 ngành ngôn ngữ học so sánh – lịch sử, ngành ngôn ngữ học so sánh – loại hình, ngành ngôn ngữ học so sánh – khu vực và ngành ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu. 1.2. Những phương pháp cơ bản được áp dụng trong so sánh ngôn ngữ 1.2.1. Phương pháp so sánh lịch sử Phương pháp này chủ yếu áp dụng cho nghiên cứu, phân loại các ngôn ngữ theo cội nguồn. Mục đích của nó là phát hiện những nét phản ánh quan hệ thân thuộc, gần gũi về nguồn gốc giữa các ngôn ngữ để qui chúng vào những phổ hệ ngôn ngữ khác nhau. Nội dung của phương pháp này là so sánh các từ và các dạng thức của từ tương tự nhau về ý nghĩa và âm thanh trong các ngôn ngữ khác nhau dựa vào tài liệu ngôn ngữ sống cũng như những sự kiện, hiện tượng được ghi trên văn bia và thư tịch cổ. Phương pháp này cũng chú trọng so sánh các hiện tượng ngữ âm thông qua việc so sánh từ và các dạng thức khác nhau của từ. Phương pháp so sánh này dựa trên sự diễn biến lịch sử của các ngôn ngữ. Dù cùng xuất phát từ một ngôn ngữ gốc, mỗi ngôn ngữ vẫn có những quy luật phát triển riêng tùy theo điều kiện xã hội – lịch sử của chúng. Vì vậy, nội dung của phương pháp so sánh – lịch sử là qua việc so sánh tìm ra các quy luật tương ứng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, rồi qua đấy xác định quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ. 1.2.2. Phương pháp so sánh loại hình Phương pháp này áp dụng cho việc nghiên cứu, phân loại các ngôn ngữ theo loại hình. Mục đích chính của nó là nghiên cứu những đặc trưng của loại hình ngôn ngữ và nghiên cứu những đặc trưng về mặt loại hình của một ngôn ngữ; để quy một ngôn ngữ cụ thể vào những loại hình khác nhau. Phương pháp này hướng vào hiện tại, vào hoạt động của kết cấu ngôn ngữ, tìm hiểu những điểm giống và khác nhau trong kết cấu của 2 hoặc nhiều ngôn ngữ trên các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Trong đó, sự so sánh các cấu trúc ngữ pháp
  13. 21. 21 mà cụ thể là cấu trúc từ pháp của vốn từ cơ bản có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Bằng cách so sánh như vậy, người ta có thể rút ra đâu là thuộc tính phổ quát (thuộc tính chung của tất cả ngôn ngữ trên thế giới), đâu là thuộc tính riêng biệt (thuộc tính chỉ có ở ngôn ngữ đó) và đâu là thuộc tính loại hình (thuộc tính đặc trưng cho từng nhóm ngôn ngữ nhất định). Căn cứ vào thuộc tính loại hình để phân loại ngôn ngữ theo loại hình. 1.3. Phân biệt ngôn ngữ học so sánh – lịch sử, ngôn ngữ học so sánh – loại hình, ngôn ngữ học so sánh – khu vực và ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu Ngôn ngữ học so sánh lịch sử (historical comparative linguistics): làm rõmối quan hệ về mặt cội nguồn và quá trình phát triển lịch sử của các ngôn ngữ đượcgiả định là có quan hệ về nguồn gốc.Ví dụ : ngữ hệ Ấn Âu (Indo – European): dòng Ấn, dòng Iran, dòng Slave, dòngRoman (Ý, Pháp), dòng German (có tiếng Anh, Đức, Hà Lan)ngữ hệ Semit: dòng Ai Cập, dòng Semitngữ hệ Thổ: Thổ Nhĩ Kỳ, Azecbadanngữ hệ Hán Tạng: Hánngữ hệ Nam Phương (Austronesian): dòng Nam Thái, Nam Á,+ trong Nam Á có ngành Môn-Khmer, + trong Môn – Khmer có tiếng Việt, Mường, Ba Na, Ka Tu…( chỉ cần học 1 ví dụ là đủ)- Ngôn ngữ học so sánh loại hình (typological linguistics): phân loại ngôn ngữtrên thế giới dựa và những điểm giống nhau trong cấu trúc ngôn ngữ, không nhất thiết cùng một nguồn gốc. Ngôn ngữ học so sánh loại hình (typological linguistics): phân loại ngôn ngữ trên thế giới dựa và những điểm giống nhau trong cấu trúc ngôn ngữ, không nhất thiết cùng một nguồn gốc 1.4. Lịch sử hình thành bộ môn ngôn ngữ học đối chiếu
  14. 23. 23 Chương 2 NHIỆM VỤ CỦA NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU 2.1. Những quan điểm khác nhau về nhiệm vụ của ngôn ngữ học đối chiếu Tựu trung, có 4 loại ý kiến khác nhau: 2.1.1. Loại ý kiến thứ nhất: Chủ trương NNHĐC phải truy tìm những nét khác biệt giữa các ngôn ngữ. Chủ trương này xuất phát từ 1 phạm vi rất hẹp: đó là công tác giảng dạy và học tập ngoại ngữ. Chính những nét khác nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ sẽ làm cho người học gặp phải những khó khăn nhất định; trong khi những gì giống nhau giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ sẽ được tiếp thu một cách dễ dàng. Những nhà ngôn ngữ học có ý kiến thuộc loại này là: A. Refomaski (1962), R. Lado (1964)… 2.1.2. Loại ý kiến thứ hai: Chủ trương NNHĐC phải truy tìm những nét khác biệt quan trọng nhất giữa các ngôn ngữ. Như vậy, cơ sở lý luận của chủ trương này là sự phân biệt 2 kiểu khác biệt: nét khác biệt thông thường và nét khác biệt quan trọng. Thế nhưng, lấy gì làm cơ sở để nói rằng giữa 2 ngôn ngữ đối chiếu, đây là nét khác biệt quan trọng nhất còn cái kia thì không? Điều này tùy thuộc vào các mục đích nghiên cứu khác nhau. Đại biểu cho ý kiến này là chúng tôi (1960) 2.1.3. Loại ý kiến thứ ba: Chủ trương NNHĐC phải hướng tới cả những sự giống nhau bên cạnh những nét khác biệt giữa các ngôn ngữ. Khuynh hướng này cho rằng: sự giống nhau giữa các ngôn ngữ là cái cơ sở tối thiểu đảm bảo cho công việc đối chiếu trở nên có kết quả. Một loại giống nhau mà ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu phải để tâm tới là sự giống nhau về chức năng và hoạt động ngôn ngữ.
  15. 24. 24 Đại biểu cho ý kiến này là Akhmanova (1972), Lê Quang Thiêm (1983). 2.1.4. Loại ý kiến thứ tư: Chủ trương bên cạnh những sự giống nhau và khác nhau, việc NCĐC cần phải lưu ý đến cả những sự tương ứng và bất tương ứng giữa các ngôn ngữ; đồng thời làm sáng tỏ những mối quan hệ nguyên nhân giữa các hiện tượng đó. Đại biểu cho ý kiến này là V.M.Avramop (1965) 2.2. Dựa vào phạm vi ứng dụng của ngôn ngữ học đối chiếu để xác định nhiệm vụ cụ thể của ngôn ngữ học đối chiếu Vấn đề phạm vi phân giới của nghiên cứu đối chiếu phải được giải quyết trên căn bản mục đích đối chiếu. Phạm vi phân giới cụ thể của việc NCĐC phải được giải quyết trên căn bản mục đích của ngành học. Trong đó cần phải xây dựng một hệ thống lí luận về các nét, các tiêu chí, các đặc trưng và quan trọng hơn cả là phân định được các kiểu loại; các sự giống nhau và khác nhau; sự tương ứng và bất tương ứng; tính chất, tỉ lệ, mức độ quan tâm đến chúng trong những mục đích đối chiếu khác nhau. Nhiệm vụ cụ thể của NCĐC các ngôn ngữ chắc chắn sẽ rõ hơn nếu chú ý đến sự phân biệt và hợp nhất hai phạm vi ứng dụng của phân tích đối chiếu. 2.2.1 Phạm vi ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ học Ở phạm vi này cần chú ý đến những nhiệm vụ cụ thể của NCĐC đối với ngôn ngữ học đại cương, loại hình học, ngôn ngữ học so sánh – lịch sử, và ngôn ngữ học so sánh – khu vực (ngữ vực học). a) NNHĐC với ngôn ngữ học đại cương (phổ niệm học ngôn ngữ): Việc nghiên cứu đối chiếu chỉ tập trung vào những sự giống nhau. Nhưng đây là sự giống nhau chung nhất giữa các ngôn ngữ – những sự giống nhau mang tính chất phổ biến. Cái đơn vị nhận biết có tính chất định hướng cho việc nghiên cứu phổ niệm là những nét chung nhất của mọi ngôn ngữ.
  16. 25. 25 b) NNHĐC với loại hình học: Việc NCĐC về cơ bản tập trung vào những sự giống nhau có đặc tính loại hình. Dựa vào những sự giống nhau như vậy mới có thể tập hợp các ngôn ngữ thành những kiểu loại hình nhất định. Ví dụ: Từ đầu thế kỷ thứ XIX, F. Schlegel đã đối chiếu tiếng Sancrit với tiếng Hy Lạp, tiếng La tinh, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ để đi đến chỗ xác định hai loại hình ngôn ngữ là loại hình ngôn ngữ khuất chiết và loại hình ngôn ngữ chắp dính. Việc NCĐC thường tập trung vào: 1. Những nét chung nhất cho mọi ngôn ngữ; 2. Những nét chiếm ưu thế trong nhiều ngôn ngữ; 3. Những nét phổ biến ở một số ngôn ngữ; 4. Những nét riêng của một ngôn ngữ. Nhờ vậy, từ các ngôn ngữ cùng loại hình có thể xác định ra các tiểu loại hình. Bởi vì, các ngôn ngữ ở những kiểu loại hình nhất định lại có sự khu biệt lẫn nhau. Tóm lại, NNHĐC cung cấp cho loại hình học nhiều tư liệu cụ thể về cấu trúc và hoạt động của các ngôn ngữ cùng và khác loại hình, góp phần làm rõ đặc trưng của từng loại hình ngôn ngữ và bổ sung cho loại hình học những hướng nghiên cứu mới. Ngược lại, nhờ những kết quả nghiên cứu của loại hình học mà NNHĐC có được cơ sở để giải thích các hiện tượng tương đồng và dị biệt giữa các ngôn ngữ. Đồng thời, kết quả phân loại loại hình các ngôn ngữ có thể giúp ích rất nhiều cho việc miêu tả các ngôn ngữ mới lạ, vì chỉ cần biết được một vài đặc điểm nhất định của một ngôn ngữ ta có thể xác định nó thuộc loại hình ngôn ngữ nào, từ đó, dựa vào hiểu biết về loại hình ngôn ngữ này để định hướng việc nghiên cứu ngôn ngữ đang xét. Ví dụ: Ở giai đoạn mở đầu khi nghiên cứu tiếng Việt, Thái, Miến, nhờ biết chúng cùng loại hình với tiếng Hán nên dựa vào kinh nghiệm nghiên cứu Hán ngữ học, các nhà nghiên cứu đã đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu các ngôn ngữ trên. c) NNHĐC với NNH so sánh – lịch sử:
  17. 26. 26 Nghiên cứu đối chiếu dựa vào việc truy tìm những sự giống nhau trên những hiện tượng khác nhau. Đơn vị nhận biết có tính chất định hướng cho việc so sánh- lịch sử ở đây là những nét tương đồng lịch sử. Tìm hiểu và xác lập những nét tương đồng kiểu này sẽ giúp nhà NNH chỉ ra được những mối quan hệ lịch sử giữa các ngôn ngữ trong ngữ hệ, một nhóm ngôn ngữ… thuộc cùng một gia đình. d) NNHĐC với ngữ vực học: NCĐC cơ bản nhằm vào những sự giống nhau giữa các ngôn ngữ trong cùng một khu vực. Những sự giống nhau này vốn là kết quả của quá trình tiếp xúc lịch sử – văn hóa của các tộc người nói những ngôn ngữ trong khu vực. Đó là những nét giống nhau ngữ vực. Ví dụ: Liên minh ngôn ngữ Ban Căng là tập hợp các ngôn ngữ không có quan hệ họ hàng nhưng lại cùng một khu vực địa lý (Hy lạp, Bungari, Rumani…). Những ngôn ngữ quốc gia thuộc bán đảo này đã có một số yếu tố chung trong vốn từ vựng và thành ngữ, ở các hệ thống biến cách, ở hệ thống âm vị nguyên âm và phụ âm… Những nét giống nhau (hay gần nhau) ngữ vực cũng là kết quả của các hiện tượng ngôn ngữ học nội tại: đồng quy ngôn ngữ, giao thoa ngôn ngữ, tích hợp và quy tụ trong quá trình hình thành các liên minh ngôn ngữ khu vực. Giới Đông phương học cũng đang cố gắng chứng minh sự tồn tại của một liên minh ngôn ngữ Đông Nam Á, bao gồm các ngôn ngữ quốc gia ở khu vựcĐông Nam Á. e) NNHĐC với đặc trưng học: Việc nghiên cứu đối chiếu về cơ bản tập trung vào những sự khác nhau. Vì trong sự khác nhau được tìm thấy sẽ xuất hiện những gì gọi là đặc trưng của một ngôn ngữ. Ví dụ: Tiếng Việt và tiếng Hàn cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập nên có nhiều điểm tương đồng nhưng vẫn có những điểm dị biệt. Chẳng hạn sự khác biệt về vị trí của giới từ trong tiếng Việt (đặt trước danh từ, danh ngữ) và tiếng Hàn (đặt trước danh từ, danh ngữ) và điều
  18. 28. 28 Quá trình học một ngoại ngữ là quá trình nắm bắt một hệ thống thói quen mới. Trong quá trình đó, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ đã ảnh hưởng đến ngoại ngữ. Thuật ngữ khoa học để chỉ hiện tượng này là “transfert” (chuyển di). Chuyển di ngôn ngữ thường được hiểu là ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ đối với quá trình học ngoại ngữ. Tuy nhiên, chuyển di không phải bao giờ cũng là ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ. Đôi khi chuyển di còn là ảnh hưởng của ngôn ngữ khác mà người học đã học trước đó. Sự ảnh hưởng này có 2 khía cạnh: tích cực và tiêu cực. * Chuyển di tích cực: là hiện tượng chuyển di những hiểu biết và kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ vào quá trình học ngoại ngữ, giúp cho việc học ngoại ngữ trở nên dễ dàng hơn do có sự giống nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ cần học. Có thể nói, đây là loại ảnh hưởng có lợi của của tiếng mẹ đẻ đối với việc nắm bắt những thói quen mới trong ngoại ngữ (hoặc tác động tích cực của việc học tiếng này sang học tiếng khác ở những người biết nhiều ngoại ngữ). Hiện tượng chuyển di tích cực thể hiện ở tất cả các bình diện ngôn ngữ và cả những bình diện ngoài ngôn ngữ như chữ viết, văn hóa. * Chuyển di tiêu cực: làm cho việc học ngoại ngữ trở nên khó khăn hơn do áp dụng không thích hợp những phương tiện, cấu trúc, quy tắc trong tiếng mẹ đẻ trong quá trình học ngoại ngữ, làm cho việc sử dụng ngôn ngữ đó bị sai lệch. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Có thể định nghĩa: Chuyển di tiêu cực (giao thoa ngôn ngữ) là những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ (đã học) gây cản trở cho việc nắm bắt những thói quen mới trong ngoại ngữ đang học. Trong thực tế, bao giờ người học ngoại ngữ cũng bị chi phối bởi những khó khăn do tiếng mẹ để đưa lại. Sự khác nhau (và có khi giống nhau) giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ là nguyên nhân trực tiếp gây ra hiện tượng giao thoa ngôn ngữ trong học tập ngoại ngữ. Giao
  19. 29. 29 thoa ngôn ngữ xuất hiện như một vật chướng ngại của người đang học ngoại ngữ thứ hai. Do vậy, người biên soạn sách, người giảng dạy ngoại ngữ cần phải nắm được các chuyển di tiêu cực tìm cách khắc phục những lỗi sai có thể đã từng xảy ra trong thực tế. Qua đó, có thể giúp người đọc nắm bắt ngoại ngữ một cách tối ưu nhất. Trong quá trình đối chiếu các ngôn ngữ để khắc phục giao thoa, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã chủ trương phân biệt 4 trường hợp sau: (1) Những nét giống nhau cần yếu: Đây là những nét giống nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ có thể giúp người học chuyển di tích cực thói quen trong tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ. Nếu giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ đang học có càng nhiều điểm giống nhau cần yếu thì quá trình học ngoại ngữ càng diễn ra thuận lợi. (2) Những nét giống nhau không cần yếu: Là những nét giống nhau giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ không có giá trị đối với quá trình chuyển di tích cực của người học (không hề gây ảnh hưởng gì cho người biên soạn giáo trình cũng như người học ngoại ngữ). Đây là trường hợp của những phổ niệm ngôn ngữ. (3) Những nét khác nhau cần yếu: Đây là trường hợp đáng lưu ý nhất. Đó là những điểm khác nhau giữa các ngôn ngữ có nhiều khả năng dẫn đến hiện tượng chuyển di tiêu cực (giao thoa ngôn ngữ). (4) Những nét khác nhau không cần yếu: Đây là những sự khác nhau không dẫn đến hiện tượng giao thoa ngôn ngữ cho người học ngoại ngữ. Như vậy, (2) và (4) thực chất là sự lật lại của (1) và (3). Đặc điểm G.trị Sự giống nhau Sự khác nhau Cần yếu 1 3 Không cần yếu 2 4
  20. 30. 30 b) NCĐC các ngôn ngữ trong quan hệ với lí thuyết phiên dịch Xây dựng một lý thuyết phiên dịch nhờ vào việc đối chiếu các ngôn ngữ có nghĩa là: chỉ ra được cái chung về mặt nội dung mà những đơn vị ngôn ngữ khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau biểu đạt nó. Đây là sự đồng nhất về ngữ nghĩa của các đơn vị, các phưong tiện biểu hiện khác nhau. Khi đối chiếu các ngôn ngữ theo mục đích phiên dịch cần phải chú ý đến “tư cách” của các ngôn ngữ trong hoạt động đối chiếu cụ thể. Các ngôn ngữ trong hoạt động đối chiếu không hề có vai trò bình đẳng: một ngôn ngữ là ngôn ngữ gốc – điểm xuất phát của sự phân tích đối chiếu; ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ phiên dịch. Toàn bộ công việc đối chiếu theo mục đích này thực chất là miêu tả hệ thống ngôn ngữ gốc theo những thuật ngữ của hệ thống ngôn ngữ phiên dịch. c) Nói thêm về giao thoa c1.Lưu ý: * Trường hợp học liên tiếp 2 ngoại ngữ (A và B) cũng có thể xảy ra hiện tượng giao thoa: – Nếu trình độ của A càng cao, thì giao thoa của A đối với B càng lớn. Trường hợp này thường xảy ra ở giai đoạn đầu của việc học ngoại ngữ mới B. – Giao thoa của A đối với B càng giảm nếu B ngày càng mạnh hơn. Ví dụ: Người học tiếng Lào chuyển sang học tiếng Thái hay người học tiếng Nga chuyển sang học tiếng Tiệp, Bun, Balan… * Ranh giới giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực nhiều khi rất tế nhị: khi các thói quen trong học tập ngoại ngữ A và B tương tự nhau, dễ xuất hiện hiện tượng chuyển di tích cực. Khi các thói quen ấy chỉ giống nhau bộ phận, từng phần một hoặc giống nhau trên đại thể mà phân biệt ở chi tiết thì dễ nảy sinh chuyển di tiêu cực.
  21. 31. 31 * Chuyển di ngôn ngữ không xuất hiện một cách bừa bãi, tùy tiện. Chỗ dựa của hiện tượng này là những yếu tố tương đương (chung) nào đó giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, dẫn đến hành vi áp đặt những yếu tố của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ. Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác dẫn đến, ảnh hưởng đến chuyển di tiêu cực: – Tình huống giao tiếp: nếu như người nói bắt buộc phải nói bằng một ngoại ngữ về một vấn đề chỉ quen nói bằng một ngoại ngữ khác thì giao thoa có thể xảy ra. – Tuổi tác và năng lực ngoại ngữ cũng là những nhân tố đáng chú ý khi xem xét hiện tượng giao thoa. (Tuổi càng trẻ thì tiếp thu ngoại ngữ càng nhanh, đặc biệt là trẻ em, sẽ có ít giao thoa hơn người lớn). Tuy nhiên những kiến thức chuyển di ở người lớn lại có ưu thế hơn trẻ em. – Những người nhiều tuổi, nếu càng có nhiều ngoại ngữ thì ở một phương diện nào đó, càng có khả năng thủ tiêu giao thoa hơn. Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp thu ngoại ngữ, có ý thức thể hiện những chuyển di (tích cực) trong quá trình nắm bắt một hệ thống “ký mã” ngôn ngữ mới. – Tất cả những trạng thái bệnh lý và tình cảm đều là những nhân tố dễ tạo điều kiện cho giao thoa ngôn ngữ xuất hiện. (ví dụ: sự đãng trí, tâm lí căng thẳng, bệnh tật, mệt nhọc…) c2) Các loại giao thoa * Giao thoa ngôn ngữ xét trong sơ đồ giao tiếp: Trong giao tiếp ngôn ngữ có thể xuất hiện 2 kiểu giao thoa: giao thoa giải mã và giao thoa ký mã. Người học tiếng nước ngoài, trong giao tiếp, phải tiến hành những hành vi ngôn ngữ theo sơ đồ sau: Hiểu (tiếp nhận – giải mã) Ngoại ngữ (N2) Người học
  22. 35. 35 * Giao thoa tôn ti: Bên cạnh quan hệ ngang và quan hệ dọc, giữa các đơn vị ngôn ngữ còn có quan hệ tôn ti. Đây là quan hệ bao hàm nhau giữa các đơn vị ngôn ngữ ở các cấp độ khác nhau. Giao thoa này xuất hiện do những ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ. Ví dụ: áo dài, hoa hồng Người nước ngoài thường nhầm đơn vị hình vị với từ. * Giao thoa do yếu tố văn hóa tác động: Trong giao tiếp, người Anh khi chào thường gắn với hỏi thăm sức khỏe. Người Việt và người Đông Nam Á nói chung thường hỏi về gia đình, ăn uống… Vì vậy, người Đông Nam Á thường mắc lỗi: Where are you going?; Have you got family of your own?; Have you got dinner yet?… Tóm lại: Hiểu biết về những tương đồng và khác biệt giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ chắc chắn sẽ đem lại những bổ ích để hạn chế những chuyển di tiêu cực, khắc sâu hơn những kiến thức về ngoại ngữ đang học. Tuy nhiên, nhiều giáo viên ngoại ngữ không có kiến thức sâu rộng cả về ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ, đây là điều đáng tiếc.
  23. 36. 36 Chương 3 MỤC ĐÍCH CỦA NGÔN NGỮ HỌC ĐỐI CHIẾU 3.1. Những mục đích xét ở phạm vi nghiên cứu ứng dụng lí thuyết 3.1.1. Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ trong quan hệ với loại hình ngôn ngữ Trong khi hướng vào loại hình học ngôn ngữ, nghiên cứu đối chiếu đề cập đến các mặt khái quát, các phạm trù có ý nghĩa nguyên tắc đối với hệ thống ngôn ngữ. Mục đích là nhằm phát hiện những đặc điểm loại hình ngôn ngữ, xác định các kiểu ngôn ngữ theo những quy luật nhất định. 3.1.2. Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ trong quan hệ với triết học – ngôn ngữ học Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, khi hướng vào những vấn đề triết học – ngôn ngữ học, cần phải lưu ý thích đáng: – Không tuyệt đối hóa quá mức vai trò của ngôn ngữ tự nhiên. – Những ảnh hưởng của ngôn ngữ đến tư duy con người, đến những hoạt động nhận thức và văn hóa đều phải được xem xét trong những chừng mực nhất định, có giới hạn. 3.1.3. Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ trong quan hệ với lí thuyết phiên dịch Xây dựng một lý thuyết phiên dịch nhờ vào việc đối chiếu các ngôn ngữ có nghĩa là: chỉ ra được cái chung về mặt nội dung mà những đơn vị ngôn ngữ khác nhau trong những ngôn ngữ khác nhau biểu đạt nó. Đây là sự đồng nhất về ngữ nghĩa của các đơn vị, các phưong tiện biểu hiện khác nhau. Khi đối chiếu các ngôn ngữ theo mục đích phiên dịch cần phải chú ý đến “tư cách” của các ngôn ngữ trong hoạt động đối chiếu cụ thể. Các ngôn ngữ trong hoạt động đối chiếu không hề có vai trò bình
  24. 37. 37 đẳng: một ngôn ngữ là ngôn ngữ gốc – điểm xuất phát của sự phân tích đối chiếu; ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ phiên dịch. Toàn bộ công việc đối chiếu theo mục đích này thực chất là miêu tả hệ thống ngôn ngữ gốc theo những thuật ngữ của hệ thống ngôn ngữ phiên dịch. 3.2. Những mục đích xét ở phạm vi nghiên cứu ứng dụng thực hành ngôn ngữ 3.2.1. Nghiên cứu đối chiếu và việc giảng dạy học tập ngoại ngữ Trong thực tế, ở phạm vi ứng dụng thực hành này việc NCĐC phải làm rõ được cơ chế của hiện tượng giao thoa ngôn ngữ; vạch ra nguồn gốc của những giao thoa giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, các kiểu giao thoa nhất định… Đây chính là những gì mà người học ngoại ngữ gặp khó khăn khi thâm nhập một hệ thống mã ngôn ngữ xa lạ. Chúng ta hãy đi vào xem xét cơ chế của hiện tượng giao thoa. a) Các quan điểm nhìn nhận hiện tượng giao thoa ngôn ngữ: Có 3 quan điểm nhìn nhận hiện tượng giao thoa: * Quan điểm tâm lý học ngôn ngữ: Theo quan điểm này, giao thoa là tác động tiêu cực của thói quen này đối với một thói quen khác có thể xảy ra trong học tập ngoại ngữ. Đây là sự ô nhiễm (contamination) hành vi, thái độ có tính chất tâm lí học. * Quan điểm ngôn ngữ học: Theo quan điểm này, giao thoa là sự vận dụng các yếu tố của một thứ tiếng khi nói hoặc viết một thứ tiếng khác. Đây là tai nạn của tính song ngữ do sự tiếp xúc giữa 2 thứ tiếng với nhau. Có thể xảy ra 2 trường hợp tiếp xúc ngôn ngữ: – Tiếp xúc ngôn ngữ giữa những người thuộc các dân tộc cùng cộng cư trên một khu vực địa lý. – Tiếp xúc ngôn ngữ trong quá trình học tập ngoại ngữ Trường hợp thứ 2 là đối tượng chúng ta quan tâm nhiều hơn. * Quan điểm sư phạm học – sinh ngữ: Theo quan điểm này, giao thoa là một loại lỗi đặc biệt mà học sinh học ngoại ngữ mắc phải
  25. 38. 38 do thói quen hoặc do chịu ảnh hưởng tự nhiên của các mô hình cấu trúc tiếng mẹ đẻ. Đây là quá trình áp đặt tự nhiên một yếu tố của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ, làm cho những sự kiện ngoại ngữ đi lệch khỏi chuẩn mực ngôn ngữ của nó. b) Phân biệt giao thoa và chuyển di: Quá trình học một ngoại ngữ là quá trình nắm bắt một hệ thống thói quen mới. Trong quá trình đó, những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ đã ảnh hưởng đến ngoại ngữ. Sự ảnh hưởng này có 2 khía cạnh: tích cực và tiêu cực. * Tác động tích cực: là loại ảnh hưởng có lợi của của tiếng mẹ đẻ đối với việc nắm bắt những thói quen mới trong ngoại ngữ. Bên cạnh đó, người ta còn có thể nói đến trường hợp: có sự tác động tích cực của việc học tiếng này sang học tiếng khác ở những người biết nhiều ngoại ngữ. Thuật ngữ khoa học để chỉ hiện tượng này là “transfert” (chuyển di). * Tác động tiêu cực: những thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ (đã học) gây cản trở cho việc nắm bắt những thói quen mới trong ngoại ngữ đang học. Thuật ngữ khoa học để chỉ hiện tượng này là “inteference” (giao thoa). Trong hiện tượng chuyển di, những yếu tố ảnh hưởng đến học tập ngoại ngữ được gọi là “facilitation” (sự thuận lợi). Còn trong hiện tượng giao thoa, những yếu tố hoặc xu hướng ảnh hưởng đến học tập ngoại ngữ được gọi là “ilifitation” (sự bất lợi). Lưu ý: * Trường hợp học liên tiếp 2 ngoại ngữ (A và B) cũng có thể xảy ra hiện tượng giao thoa: – Nếu trình độ của A càng cao, thì giao thoa của A đối với B càng lớn. Trường hợp này thường xảy ra ở giai đoạn đầu của việc học ngoại ngữ mới B. – Giao thoa của A đối với B càng giảm nếu B ngày càng mạnh hơn.
  26. 39. 39 Ví dụ: Người học tiếng Lào chuyển sang học tiếng Thái hay người học tiếng Nga chuyển sang học tiếng Tiệp, Bun, Balan… * Ranh giới giữa tác động tích cực và tác động tiêu cực nhiều khi rất tế nhị: khi các thói quen trong học tập ngoại ngữ A và B tương tự nhau, dễ xuất hiện hiện tượng chuyển di. Khi các thói quen ấy chỉ giống nhau bộ phận, từng phần một hoặc giống nhau trên đại thể mà phân biệt ở chi tiết thì dễ nảy sinh giao thoa. *Giao thoa ngôn ngữ không xuất hiện một cách bừa bãi, tùy tiện. Chỗ dựa của hiện tượng này là những yếu tố tương đương (chung) nào đó giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, dẫn đến hành vi áp đặt những yếu tố của tiếng mẹ đẻ vào ngoại ngữ. Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác dẫn đến, ảnh hưởng đến giao thoa ngôn ngữ: – Tình huống giao tiếp: nếu như người nói bắt buộc phải nói bằng một ngoại ngữ về một vấn đề chỉ quen nói bằng một ngoại ngữ khác thì giao thoa có thể xảy ra. – Tuổi tác và năng lực ngoại ngữ cũng là những nhân tố đáng chú ý khi xem xét hiện tượng giao thoa. (Tuổi càng trẻ thì tiếp thu ngoại ngữ càng nhanh, đặc biệt là trẻ em, sẽ có ít giao thoa hơn người lớn). Tuy nhiên những kiến thức chuyển di ở người lớn lại có ưu thế hơn trẻ em. – Những người nhiều tuổi, nếu càng có nhiều ngoại ngữ thì ở một phương diện nào đó, càng có khả năng thủ tiêu giao thoa hơn. Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp thu ngoại ngữ, có ý thức thể hiện những chuyển di (tích cực) trong quá trình nắm bắt một hệ thống “ký mã” ngôn ngữ mới. – Tất cả những trạng thái bệnh lý và tình cảm đều là những nhân tố dễ tạo điều kiện cho giao thoa ngôn ngữ xuất hiện. (ví dụ: sự đãng trí, tâm lí căng thẳng, bệnh tật, mệt nhọc…) c) Giao thoa xét ở khía cạnh ngôn ngữ học:
  27. 41. 41 Thông thường người Việt chỉ nghĩ đến thời hiện tại tiếp diễn mà quên mất nghĩa chỉ tương lai gần của cấu trúc “to be + verb + ing” Ví dụ 2: Adj – N (attribute) Be – Adj (pdicate) Cấu trúc này khác với tiếng Việt nên khi người Việt học tiếng Anh thì thường có giao thoa. A late train: chuyến tàu xuất phát chậm A train late: chuyến tàu đến chậm Small farmer : have a small farm- người nông dân có trang trại nhỏ The famer is small: người nông dân thấp bé Ví dụ 3: Lan loves her cat as much as Nam (1) (1) là một câu mơ hồ. Có thể hiểu theo 2 cách: – Lan loves her cat as much as Nam does (2) – Lan loves her cat as much as she loves Nam (3) Ví dụ 4: Những từ đa nghĩa có thể gây giao thoa: To bear: chịu đựng (1); không có khả năng sinh con She can not bear children c2) Giao thoa ngôn ngữ xét trong cơ chế hoạt động của nó: Học cả 2 thứ tiếng hoàn toàn khác nhau, trên thực tế, không hẳn đã gây một số lượng giao thoa tối đa như nhiều người vẫn nghĩ. Đôi khi tiếp cận 2 ngôn ngữ như vậy lại có phần dễ dàng hơn học 2 thứ tiếng giống nhau. Điều này cũng tương tự như việc học bơi không hề gây cản trở việc học đàn piano. Nhưng với người lái xe Việt Nam đã quen với cách lái xe bên phải thì học lái xe bên trái đường là điều khó khăn. , , , , * phụ âm tắc-xát, ví dụ: , hoặc , ), và phụ âm môi-răng (ví dụ: ).
  28. 48. 48 – Khi đối chiếu các phụ âm về mặt phân bố, cần phải phân biệt những biến thể âm vị mang tính bắt buộc và những biến thể mang tính tự do. Trong việc học ngoại ngữ, các biến thể bắt buộc (gọi là biến thể kết hợp) có giá trị trong việc rèn luyện kỹ năng nói và nghe còn các biến thể tự do có giá trị trong việc rèn luyện kĩ năng nghe. Ví dụ: Biến thể “ngậm” của âm vị /t/ ở vị trí cuối âm tiết (ví dụ: tất) hay biến thể môi hóa (ví dụ: tôi) trong tiếng Việt đều phải được thể hiện chính xác, trong khi đó biến thể bật hơi , . Vì vậy tiếng Êđê nó có tầm quan trọng đối với người học, và để người học tiếp thu nhanh một cách dễ dàng, chúng ta tìm ra chỉ những điểm cơ bản khác biệt so với tiếng Việt. Loại hình học là một ngành khoa học thiên về lý luận, không nhằm giải đáp những yêu cầu thực tiễn một cách trực tiếp. Tuy nhiên, các thành tựu, các kết luận của ngành loại hình học lại rất có thể đem ứng dụng vào thực tiễn, lợi ích của loại hình học giúp việc giảng dạy môn ngoại ngữ (tiếng Êđê) có thể rút được nhiều điều, so sánh các hiện tượng trong tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) và ngôn ngữ khác (tiếng Êđê) tìm ra những những khác nhau giữa hai ngôn ngữ. Tiếng Êđê và Tiếng Việt tuy đều là loại hình ngôn ngữ đơn lập Tiếng Việt Tiếng Êđê a a ă ă â â b b , e, e#, ^, j, `, o, o#, ơ, u, ư, w. Hệ thống âm đầu: – Tiếng Việt có 22 phụ âm đầu bao gồm: b, m, f, v, t, t’, d, n, z, z, s, s, c, , ŋ , k, x, ?, y, h, ? – Tiếng Êđê có 26 phụ âm đó là: p, p’, b, Phụ âm Chữ viết Nghĩa tiếng Việt bl blu nói [l [le chảy, mọc bh bha` hắt hơi br brei cho dl dlăng đọc, xem, nhìn dr drei chúng ta đr đru giúp dj djă cầm gr grăp mỗi hg hgum hợp lại hl hla lá kp kpă thẳng md mdei nghỉ mđ mđao ấm mg mgi ngày mai ml mlan tháng, trăng mm mmah nhai mn mnei tắm m` m`am dệt mr mran thuyền ms msah ướt mt mtei chuối pl plei bí đỏ, bí rợ pr prăk tiền tl tlam chiều, buổi chiều
  29. 56. 56 Đặc biệt tiếng Êđê có những tổ hợp có ba phụ âm mà tiếng Việt không có, có thể liệt kê như sau: hml hmlei bông (gòn) kph kphê kphê kdj kdjăt giật mình kng knga tai ktr ktrâo chim bồ câu kml kmlư mớ (ngủ) kmr mkra sửa chữa mbl mblang giảng, dạy mbr mbruê hôm qua mgh mghă đỡ (đánh đòn) mkr mkra sửa chữa mng mnga hoa mdh mdhă gỗ,ván mbh mbhă may mắn mdr mdrao điều trị mpl mplư lừa phỉnh Cấu tạo âm tiết Phương thức cấu tạo từ tiếng Êđê, phân tách âm tiết thành hai bộ phận: phần đầu và phần cuối. Sơ đồ phân bậc âm vị học cấu trúc âm tiết tiếng Êđê như sau: [3] ÂM TIẾT C1 C2 C3 S1 S2 C4 Bậc I Phần đầu Phần cuối C C1 C2 C3 C1 S1 V S2 C4 C1C2C3 Bậc II âm nối âm chính âm cuối Sơ đồ tính phân bậc tiếng Việt Thanh điệu

【#4】Kinh Tế Số: Bối Cảnh Thế Giới Và Liên Hệ Với Việt Nam

1Phòng Thí nghiệm Khoa học dữ liệu và Công nghệ Tri thức,

2Phòng Thí nghiệm Công nghệ Vật liệu Nano,

Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ song hành giữa các công nghệ số hóa (điển hình là Internet vạn vật) và kinh tế số (điển hình là sự xuất hiện và phát triển của nhiều hình thức kinh doanh sáng tạo và đa dạng) đã tạo nên sự biến đổi to lớn và nhanh chóng đối với kinh tế, xã hội và mọi mặt của đời sống con người. Kinh tế số đã trở thành một thành phần kinh tế đóng góp một tỷ trọng đáng kể với xu thế ngày càng tăng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, kinh tế số cũng làm phát sinh không ít các thách thức đáng quan tâm về khái niệm kinh tế số, mô hình phát triển kinh tế số và đo lường kinh tế số. Tìm ra các mô hình (khái niệm, phát triển, đo lường) kinh tế số nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế như Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới, Ngân hàng thế giới, v.v. Bài báo này cung cấp một số tìm hiểu bước đầu về kinh tế số, về một số cơ hội và thách thức từ kinh tế số cũng như mô hình đo lường. Bài báo cũng đưa ra một vài trao đổi sơ bộ về kinh tế số tại Việt Nam. Tăng cường nhận thức đúng đắn và toàn diện về kinh tế số, phát triển nguồn nhân lực chuyên nghiệp kinh tế số (đặc biệt là lực lượng chuyên gia cao cấp về kinh tế số) và hệ sinh thái kinh tế số tại Việt Nam sẽ góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế số của Việt Nam.

Từ khóa: kinh tế số, cơ hội kinh tế số, nghịch lý kinh tế số, đo lường kinh tế số, quan hệ chính trị-công nghệ, quan hệ kinh tế số-kinh tế tri thức.

Sự phổ biến và nâng cấp không ngừng hệ thống máy tính và thiết bị truyền thông nhờ vi mạch điện tử được sản xuất theo Định luật Moore (hiệu năng tăng và giá thành giảm theo cấp số nhân), sự kết nối ngày càng sâu rộng các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức nhờ sự hình thành và phát triển của Internet, World Wide Web (Web) đã thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển tốc độ cao các công nghệ số tiên tiến. Máy tính tạo nền tảng cho thương mại Internet, Internet tạo nền tảng cho Web, và đến lượt mình, Web tạo nền tảng cho Thương mại điện tử (TMĐT). Internet cùng với Web tạo nên nhiều thay đổi sâu sắc không chỉ đối với cấu trúc tổ chức mà còn đối với các quy trình trong mọi hoạt động nghiệp vụ và kinh doanh của các công ty.

Kể từ đầu thập niên 2000, số hóa và kinh tế số đã phát triển với tốc độ cao và làm thay đổi nhanh mọi mặt của đời sống xã hội. Một mặt, kinh tế số là một khu vực kinh tế đóng góp rất đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân của nhiều nước với các ước tính khác nhau (khoảng 8% GDP , hay khoảng 87% GDP . Hơn nữa, kinh tế số còn cung cấp các giá trị bổ sung cho người tiêu dùng và xã hội, làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người. Kinh tế số đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia trên thế giới.

Hiểu biết một cách đúng đắn và toàn diện cả về lợi ích cũng như về thách thức đối với kinh tế số là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế số theo con đường tối ưu nhất có thể được. Bài báo này cung cấp một tìm hiểu về kinh tế số, tập trung vào việc giới thiệu về khái niệm kinh tế số, về một số cơ hội và thách thức từ kinh tế số, về đo lường kinh tế số. Chúng tôi cũng đưa ra một số trao đổi về phát triển kinh tế số tại Việt Nam.

Phần tiếp theo của bài báo được tổ chức như sau. Mục 2 giới thiệu về các khái niệm kinh tế số mà tính đa dạng của chúng cho thấy một thách thức không nhỏ. Mục 3 giới thiệu hai dạng kinh tế số điển hình về cơ hội từ kinh tế số (kinh tế gắn kết lỏng, kinh tế chia sẻ) và một vài dạng kinh tế số khác. Một số thách thức đo lường kinh tế được giới thiệu ở mục 4. Mục 5 giới thiệu về đo lường kinh tế số. Một số trao đổi về phát triển kinh tế số Việt Nam được trình bày trong mục 6. Mục cuối cùng đưa ra kết luận.

Theo D. Tapscott cho rằng cộng đồng nghiên cứu về kinh tế số nên cố gắng tạo ra các đột phá nền tảng mới trong nghiên cứu lý thuyết về kinh tế học và quản lý để nắm bắt và phát triển kinh tế số.

2.2. Khung khái niệm Kinh tế số

  • Kinh tế số lõi bao gồm chế tạo phần cứng, dịch vụ thông tin, phần mềm và tư vấn CNTT-TT và đóng góp khoảng 8% GDP .
  • Kinh tế số hóa bổ sung kinh doanh điện tử (KDĐT), TMĐT, công nghiệp 4.0 (Industry 4.0), nông nghiệp chính xác (Precision agriculture), kinh tế thuật toán (Algorithmic Economy), phần còn lại của kinh tế chia sẻ, kinh tế gắn kết lỏng vào kinh tế số và đóng góp khoảng 87% GDP cho biết đóng góp vào tài khoản quốc gia tính trên toàn thế giới của kinh tế CNTT-TT (kinh tế số lõi) là 4,5% GDP và kinh tế số (phạm vi hẹp) là 15,5%, con số tương ứng tại nước Mỹ là 6,9% GDP và 21,6% và tại Trung Quốc là 6% và 30%; xuất khẩu dịch vụ CNTT toàn cầu tăng từ 175 tỷ đô la Mỹ (năm 2005) lên 568 tỷ đô la Mỹ (năm 2021), dịch vụ cung cấp số toàn cầu tăng từ 1200 tỷ đô la Mỹ (năm 2005) lên 2900 tỷ đô la Mỹ (năm 2021); giá trị TMĐT toàn cầu năm 2021 lên tới 29000 tỷ đô la Mỹ.

    Kinh tế gắn kết lỏng (Gig economy, “kinh tế gig”) được công nhận rộng rãi như một loại hình kinh tế số điển hình. X. Zhu , kinh tế gắn kết lỏng (hoặc kinh tế tạm thời) được chỉ dẫn bằng rất nhiều tên gọi khác nhau, chẳng hạn như kinh tế chia sẻ ( sharing economy hoặc shaeconomy), kinh tế tự do ( freelance economy), kinh tế cộng tác ( collaborating economy hoặc collaborative consumption), kinh tế ngang hàng ( peer economy), làm việc đám đông ( crowdworking), kinh tế truy cập ( access economy), kinh tế theo nhu cầu ( on-demand economy), kinh tế 1099 ( 1099 economy: tên một mẫu thuế đặc biệt mang số hiệu 1099-MISC của Mỹ), kinh tế nền tảng ( platform economy), v.v.

    S. A. Donovan và cộng sự , đặc trưng cơ bản của kinh tế gắn kết lỏng là các cam kết ngắn hạn giữa người sử dụng lao động, nhân công và khách hàng. Hai chiều cơ bản nhất khi xem xét kinh tế gắn kết lỏng là tiền lương và mức độ giám sát nhân công, do đó, kinh tế gắn kết lỏng được phân thành ba loại hình:

    • Lương cao, giám sát cao: công việc được tiến hành trên nền tảng tự do trực tuyến (Online Freelance Platforms), chẳng hạn như các dịch vụ chúng tôi chúng tôi
    • Lương cao, giám sát thấp: công việc được tiến hành trên nền tảng vận chuyển (transportation platforms), chẳng hạn như các dịch vụ com, chúng tôi hoặc giao việc tại nhà (delivery/home task platforms), chẳng hạn như chúng tôi chúng tôi Amazon Flex, chúng tôi
    • Lương thấp, giám sát thấp: công việc được tiến hành trên nền tảng đám đông (crowdwork platforms) chẳng hạn như các dịch vụ chúng tôi crowdflower.com, chúng tôi chúng tôi

    A. Kalleberg và M. Dunn đưa ra ba nhận định sau đây:

    • Kinh tế gắn kết lỏng cung cấp cả công việc tốt lẫn công việc kém, mở ra các cơ hội mới cho người lao động đồng thời người lao động bị khai thác sức lao động.
    • Hiện đội ngũ nhân công gắn kết lỏng chiếm một tỷ lệ nhỏ trong lực lượng lao động song bao hàm một ý nghĩa quan trọng đối với việc làm trong tương lai.
    • Cần đảm bảo các khoản phúc lợi xã hội – mức lương tối thiểu và bảo hiểm y tế, hưu trí và thất nghiệp đối với nhân công gắn kết lỏng.

    Tuy nhiên, bất kỳ một hình thức kinh tế nào đều có các khiếm khuyết riêng của nó, vì vậy, tránh tạo ra các rào cản không cần thiết chỉ vì các khiếm khuyết đó.

    3.2. Kinh tế chia sẻ

    Theo nghĩa rộng, trong xu thế chuyển đổi từ kinh tế hướng hàng hóa sang kinh tế hướng dịch vụ thì mọi nền kinh tế đều là kinh tế dịch vụ (nguyên lý cơ bản là dịch vụ là nền tảng của trao đổi mà không phải là hàng hóa). Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế, vì vậy, khi coi kinh tế dịch vụ như một khung lĩnh vực của kinh tế số thì con số 87% tỷ trọng đóng góp của kinh tế số vào tổng thể nền kinh tế quốc dân là phù hợp. Theo nghĩa hẹp, thành phần kinh tế dịch vụ trong kinh tế số bao gồm tính toán đám mây ( cloud computing) và họ “X là một dịch vụ” (“X as a service”: “XaaS”) chẳng hạn, Hạ tầng là một dịch vụ ( Infrastructure as a Service: IaaS), Nền tảng là một dịch vụ ( Platform as a Service: PaaS), Phần mềm là một dịch vụ ( Software as a Service: SaaS), Thông tin là một dịch vụ ( Information as a Service: INaaS), Quy trình là một dịch vụ ( Business Process as a Service: BPaaS), Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một dịch vụ ( AI as a Service: AIaaS), v.v. Theo một dự báo của Gartner , doanh thu tính toán đám mây công cộng toàn thế giới năm 2021 đạt khoảng 214,3 tỷ đô la Mỹ, tăng khoảng 17,5% so với năm 2021 (182,4 tỷ đô la Mỹ) và trong giai đoạn 2021-2022, SaaS là thành phần đóng góp tỷ trọng lớn nhất (từ 43,39% tới 44,24%) vào tổng doanh thu tính toán đám mây công cộng.

    Dữ liệu được đánh giá là “dầu mỏ của tương lai”, là có vai trò nhiên liệu thô cho nền kinh tế ở thế kỷ 21 giống như dầu mỏ trong thế kỷ 20, và kết quả là, nền kinh tế dữ liệu đã hình thành và ngày càng phát triển rất nhanh chóng , ” kinh tế tuần hoàn vĩ mô có tác động xã hội và sinh thái tiêu cực hoặc tích cực tối thiểu, một hệ sinh thái của nhà sản xuất và nhà tiêu dùng bền vững có quan hệ hiệp đồng và tuần hoàn với các chuỗi/mạng cung cấp sâu rộng mà sự rò rỉ của cải ra khỏi hệ thống là cực tiểu. Những thách thức đo lường kinh tế số sẽ làm mờ nhạt và che giấu đi nhiều khía cạnh tác động của công nghệ số và kinh tế số đối với kinh tế vĩ mô. Xác định và giải quyết các thách thức đo lường kinh tế số sẽ tạo thêm các cơ hội mới cho sự phát triển của công nghệ số cũng như kinh tế số. Mục này đề cập tới một số thách thức đo lường kinh tế trong thời đại công nghệ thông tin và kinh tế số.

    Việc đo lường năng suất, trong đó có đo lường tổng sản phẩm quốc nội ( Gross Domestic Product: GDP) không theo kịp sự phát triển của các công nghệ số và kinh tế số, vì vậy, đã xuất hiện hiện tượng được gọi nghịch lý năng suất của kinh tế số. C. Watanabe và cộng sự , nghịch lý năng suất của công nghệ cao :

    • Toàn cầu hóa: Toàn cầu hóa và gia công ngoài thúc đẩy giảm lương. Thay đổi kỹ thuật thiên vị kỹ năng.
    • Thay đổi công nghệ: thay nhân viên tay nghề thấp, tăng nhân viên tay nghề cao theo công nghệ. Giảm giá trị của nhân viên (kỹ năng, không kỹ năng).
    • Thất nghiệp công nghệ dài hạn do công nghệ thay đổi nhanh.
    • Phân bố hiệu năng theo luật số lớn dẫn tới bất bình đẳng lương.
    • Hiệu quả mạng: Trong thị trường mạng, nhà cung cấp là thống trị.
    • Thị trường lao động trực tuyến: Tăng cơ hội trọng tài lao động toàn cầu.
    • Phân chia số: Gia tăng phân cực giàu-nghèo.

    4.3. Thách thức đo lường kinh tế số

    4.3.1. Kế toán tài sản thông tin

    Ngày nay, thông tin được giám đốc điều hành ( Chief Executive Officer: CEO) coi là tài sản kinh doanh lớn nhất, được giám đốc quản trị ( Chief Operating Officer: COO) coi là tài sản cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp .

    Bảng 1. Ba tiếp cận kế toán tài sản thông tin cung cấp một số tiếp cận để luận giải thông tin là một tài sản thực sự như được trình bày trong Bảng 1.

    4.3.2. Thách thức đo lường kinh tế số

    Thách thức đo lường kinh tế số thúc đẩy nhu cầu và nỗ lực nghiên cứu về kinh tế số và đo lường kinh tế số của các tổ chức quốc tế và quốc gia. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố một tuyển tập phong phú các tài liệu về kinh tế số, trong đó có .

    Mười câu hỏi phổ biến sau đây được đặt ra trong đo lường kinh tế số là . Thành phần bộ kích hoạt số hỗ trợ toàn bộ việc sản xuất, cung cấp và tiêu dùng sản phẩm số. Hơn nữa, sơ đồ còn chỉ rõ các hoạt động kinh tế số nằm cả trong và ngoài phạm vi Hệ thống tài khoản Quốc gia (HTTKQG).

    Sản phẩm kinh tế số bao gồm hàng hóa kinh tế số, dịch vụ kinh tế số và thông tin/dữ liệu. Như đã được trình bày, kế toán tài sản thông tin/dữ liệu là công việc hết sức khó khăn. Đồng thời, cần một nỗ lực để làm rõ hơn hàng hóa và dịch vụ trong kinh tế số. Có năm kiểu thực thể tham gia vào các hoạt động kinh tế số (sản xuất và sử dụng) là các doanh nghiệp, hộ gia đình, chính quyền, các tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ hộ gia đình (PLNHGĐ) và phần còn lại của thế giới (“Còn lại”). Ba cách thức cung ứng sản phẩm trong kinh tế số là đặt hàng số, cung cấp số và nền tảng số.

    5.2. Một khung đo lường kinh tế số

    Bảng 2 cung cấp một khung đo lường kinh tế số của E. Barrera và cộng sự thuộc Voorburg Group theo các tiêu chí về loại hình kinh tế số (cùng ví dụ), có/không được đưa vào hệ thống tài khoản quốc gia, kiểu công nghiệp (không số, số, nền tảng số), kiểu giao dịch (cung cấp số hóa, đặt hàng số, nền tảng số) và loại sản phẩm (dịch vụ số hóa/không số hóa, thông tin/dữ liệu).

    Bảng 2. Các loại hình công nghiệp, sản phẩm và giao dịch kinh tế số còn cung cấp bảng quan hệ nhà cung cấp-khách hàng trong đo lường kinh tế số, thêm nữa, hiện trạng nghiên cứu về đo lường kinh tế số của Voorburg Group cũng được đề cập.

    5.3. Một mô hình tích hợp đo lường kinh tế số

    Thành phần Khung khái niệm cung cấp các chuẩn và các phương pháp để đảm bảo tính nhất quán của các khái niệm, các định nghĩa và các phân loại.

    Cơ quan thống kê Liên hợp quốc đề nghị một mô hình tích hợp đo lường kinh tế số . OECD đã đưa ra chín hướng dẫn hành động đối với đo lường chuyển đổi số và đo lường kinh tế số là:

    • Làm cho nền kinh tế số xuất hiện trong thống kê kinh tế
    • Hiểu tác động kinh tế của chuyển đổi số
    • Khuyến khích đo lường tác động của chuyển đổi số đối với các mục tiêu xã hội và hạnh phúc của mọi người
    • Thiết kế các phương pháp mới và liên ngành để thu thập dữ liệu
    • Giám sát các công nghệ làm nền tảng cho việc chuyển đổi số, đáng chú ý là IoT, TTNT và Chuỗi khối (blockchain)
    • Cải thiện việc đo lường dữ liệu và luồng dữ liệu
    • Xác định và đo lường các kỹ năng cần thiết cho chuyển đổi số
    • Đo lường niềm tin trong môi trường trực tuyến
    • Thiết lập khung đánh giá tác động chính phủ số

    5.5. Khung công cụ đo lường kinh tế số

    • Cơ sở hạ tầng chỉ dẫn sự phát triển hạ tầng vật chất, dịch vụ và an ninh trong nền kinh tế kỹ thuật số gồm tám chỉ số là: Đầu tư vào băng thông rộng; Độ gia tăng của băng thông rộng di động; Tiến tới tốc độ Internet cao hơn; Giá kết nối; Hạ tầng cho Internet vạn vật; Hạ tầng máy chủ an toàn; Truy cập máy tính của hộ gia đình; Truy cập Internet của hộ gia đình.
    • Trao quyền xã hội chỉ dẫn vai trò phát triển của kinh tế số trong cuộc sống của người dân, cách họ truy cập và sử dụng các công nghệ số và khả năng khai thác triệt tiềm năng của họ gồm tám chỉ số là: Bản địa số hóa; Thu hẹp khoảng cách số; Sử dụng Internet của người dân; Tiêu dùng điện tử; Tài khoản tiền dựa trên điện thoại di động; Tương tác C2G (công dân-chính quyền); Giáo dục thời đại số; Kỹ năng CNTT-TT cá nhân.
    • Việc làm và tăng trưởng chỉ dẫn cách thức đa dạng các công nghệ số đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm gồm mười hai chỉ số là: Việc làm công nghiệp CNTT-TT; Nhân viên CNTT-TT theo giới tính; Thương mại điện tử; Giá trị gia tăng của công nghiệp thông tin; Dấu ấn mở rộng của CNTT-TT; Đầu tư CNTT-TT; CNTT-TT với tăng năng suất; CNTT-TT với chuỗi giá trị toàn cầu; Thương mại và việc làm CNTT-TT; Tỷ lệ phần trăm thương mại hàng hóa CNTT-TT trong thương mại hàng hóa; Tỷ lệ phần trăm dịch vụ viễn thông; Máy tính và thông tin trong thương mại dịch vụ.

    Phát triển Kinh tế số nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, cộng đồng hàn lâm – công nghiệp Việt Nam, nhiều hội thảo đã được tổ chức, nhiều kết quả nghiên cứu đã được công bố, đáng kể là Báo cáo ” Tương lai kinh tế số Việt Nam: hướng đến năm 2030, 2045” trong Chương trình Aus4Innovation của Chính phủ Australia nhằm tăng cường các mối liên kết giữa hệ thống đổi mối sáng tạo của Australia và Việt Nam . Chúng tôi quan niệm Kinh tế số bao gồm: Kinh tế số lõi (kinh tế CNTT-TT); dịch vụ số; kinh tế nền tảng và một bộ phận phù hợp của kinh tế chia sẻ và kinh tế gắn kết lỏng .

    6.1.2. Kinh tế số – Kinh tế tri thức và quy luật biến đổi lượng-chất

    Kinh tế số và kinh tế tri thức có một quan hệ biện chứng, chúng thúc đẩy lẫn nhau cùng tăng trưởng. Hình 7 mô tả một khung nhìn ba lớp gồm hành động (lớp trên), công cụ (lớp dưới) và đối tượng (lớp giữa) chuyển hóa dữ kiện – dữ liệu – thông tin thành tri thức – bí quyết và năng lực – năng lực cạnh tranh, chỉ ra số hóa là một nền tảng của kinh tế tri thức, nói khác đi, kinh tế tri thức cần là một mục tiêu của kinh tế số song thế giới số cũng có các đặc trưng rất đáng lưu ý, chẳng hạn, dường như hoạt động của con người đang bị các thuật toán điều khiển . Theo tiếp cận lấy con người làm trung tâm, mối quan hệ chính trị-công nghệ được K. Schwab phát biểu như sau , đạo đức TTNT được nhấn mạnh ở hầu hết các chiến lược TTNT quốc gia “TTNT cùng con người, TTNT vì con người” .

    6.2. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước kinh tế số Việt Nam

    Vai trò chính của nhà nước là quản lý, dẫn dắt nền kinh tế thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Đồng thời, là một thực thể xã hội, nhà nước cũng là một bên tham gia chủ chốt của nền kinh tế.

    Nhà nước cần là một bên tham gia “gương mẫu”, một người dùng tiến bộ trong nền kinh tế số quốc gia. Chúng ta có quyết tâm và nỗ lực cao trong xây dựng chính quyền điện tử. Cải tiến quy trình nghiệp vụ, bồi dưỡng năng lực chuyên môn “tinh thông nghiệp vụ” và phẩm chất đạo đức “một tấm lòng tận tâm phục vụ nhân dân”đối với công chức cần là một hoạt động có tính bền vững.

    Ý tưởng về thay đổi cơ cấu quản lý nhà nước về kinh tế số (chẳng hạn, đề xuất thành lập một bộ ) có thể là chưa phù hợp khi mà nguồn nhân lực quản lý (bao gồm đo lường) kinh tế số ở nước ta còn rất mỏng về số lượng và hạn chế về trình độ.

    6.3. Phát triển nguồn nhân lực kinh tế số

    6.3.1. Hình thành đội ngũ chuyên gia kinh tế số cao cấp

    Trong bối cảnh trình độ nền kinh tế thấp, Việt Nam thiếu vắng các chuyên gia kinh tế số cao cấp, những người có đủ kiến thức và kỹ năng đa lĩnh vực (khoa học, công nghệ, kinh tế, quản lý, xã hội, v.v.), để định hình phát triển kinh tế số ở tầm quốc gia. Công việc xây dựng một đội ngũ chuyên gia kinh tế số là rất cấp thiết, tuy nhiên, không thể hoàn thành công việc này một sớm một chiều được.

    Về lâu dài, chuyên gia kinh tế số cao cấp cần xây dựng được một chiến lược phát triển tích hợp kinh tế số – kinh tế tri thức – kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, có tính khoa học hiện đại và thực tiễn. Cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế số, kinh tế tri thức, KTTT tư bản chủ nghĩa (TBCN), KTTT xã hội và KTTT định hướng XHCN trên thế giới cần được khảo sát và phân tích công phu để liên hệ với thực tiễn Việt Nam hiện tại và dự kiến trong tương lai. Nhiều tài liệu cung cấp các bài học có giá trị cao về KTTT, chẳng hạn như cung cấp một bối cảnh hiện tại của một kiểu KTTT TBCN, trong đó các nhà tài chính và các tỷ phú làm giảm sự cạnh tranh, sức mạnh của người tiêu dùng, loại bỏ tầng lớp trung lưu và tác giả cảnh báo về tác hại của năm chức năng xã hội “chết người” là bãi bỏ điều tiết, cuồng sáp nhập ( merger mania), thuê ngoài, cắt giảm thuế, tư nhân hóa. J-J. Lambin và S. Hawking , hai cột trụ tư nhân hóa về phương tiện sản xuất và về lợi nhuận làm trầm trọng thêm bất công phân phối giá tri; thực tiễn đã minh chứng tiên đoán của K. Marx và S. Hawking là chính xác.

    Hơn nữa, chuyên gia kinh tế số cao cấp Việt Nam có thể tham gia đóng góp phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác trong thời đại số ).

    Chính phủ, các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp cần phối hợp để nâng cao kiến thức và kỹ năng về kinh tế số cho lãnh đạo doanh nghiệp.

    Đầu tư đào tạo về công nghệ cao và về kinh tế số đối với người lao động cần có xu thế tăng dần theo thời gian và hoạt động nâng cao trình độ của người lao động cần được xác định như một loại lao động trong doanh nghiệp.

    6.3.3. Tăng cường đào tạo các chuyên viên thuộc kinh tế số

    6.4. Phát triển hệ sinh thái kinh tế số Việt Nam

    Hệ sinh thái số được hiểu là “nhóm tác nhân phụ thuộc (doanh nghiệp, con người, vật) chia sẻ nền tảng số để đạt được lợi ích” , “sự hội tụ kết nối công nghệ trong một thị trường và hoạt động kinh doanh vì (i) người tiêu dùng mới, (ii) doanh nghiệp mới, (iii) hiệu năng thị trường và (iv) trải nghiệm người dùng” ). Một hạn chế rất lớn của Việt Nam là TMĐT B2B Việt Nam chưa được phát triển đủ tầm vóc (số liệu về TMĐT B2B Việt Nam còn mờ nhạt trong các báo cáo TMĐT hàng năm quốc gia ) và đây là một vấn đề lớn, cấp bách cần được giải quyết. Cần có sự nỗ lực và phối hợp của Chính phủ, từng doanh nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp để phát triển TMĐT B2B Việt Nam.

    Về lâu dài, để hình thành hệ sinh thái số [15], doanh nghiệp Việt Nam cần làm phù hợp hệ sinh thái số vào kiến trúc doanh nghiệp như mô tả ở Hình 9.

    PEC: Physical, extended, contextual model, STC: Spatial, temporal, contextual.

    Trong thời đại số ngày nay, kinh tế số đã trở thành xu thế phát triển tất yếu đối với các nền kinh tế trên thế giới. Bài báo này cung cấp một tìm hiểu của chúng tôi về khái niệm kinh tế số, về các cơ hội và thách thức từ kinh tế số, về đo lường kinh tế số. Dù chưa có một định nghĩa thống nhất về kinh tế số song quan niệm kinh tế số là một mở rộng thực sự của kinh tế CNTT-TT là có tính phổ biến. Kinh tế số bao gồm rất nhiều loại hình kinh tế mới và đa dạng, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp và cơ hội việc làm cho người lao động. Ngoài thách thức về khái niệm, kinh tế số cũng tạo nên các thách thức không nhỏ, trong đó đo lường kinh tế số và làm trầm trọng thêm phân hóa giàu-nghèo là hai thách thức lớn nhất. Bài báo cũng giới thiệu mô hình quan niệm, mô hình triển khai và một quy trình đo lường kinh tế số.

    Chúng ta tin tưởng vào tương lai kinh tế số Việt Nam sẽ phát triển nhanh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời đại số ngày nay.

    Tạp chí Công thương: Kinh tế số: Bối cảnh thế giới và liên hệ với Việt Nam

    1. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Nghị quyết 23-NQ/TW “Định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
    2. Hà Quang Thụy và Nguyễn Trí Thành. Khoa học dữ liệu, tiền hóa dữ liệu và khả năng thực thi tại Việt Nam. Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và Ứng dụng công nghệ, số 3, trang 160-165, 2021.
    3. Ahmad, P. Schreyer. Measuring GDP in a Digitalised Economy. OECD Statistics Working Papers, 2021.
    4. Ahmad, J. Ribarsky. Issue paper on a proposed framework for a satellite account for measuring the digital economy. STD/CSSP/WPNA(2017)10, 14 November 2021,http://www.oecd.org/officialdocuments/publicdisplaydocumentpdf/?cote=STD/CSSP/WPNA(2017)10&docLanguage=En
    5. Nadim Ahmad, Jennifer Ribarsky. Towards a Framework for Measuring the Digital Economy. IAOS-OECD2018, OECD, 2021.
    6. Samir Amin. Modern Imperialism, Monopoly Finance Capital, and Marx’s Law of Value. Monthly Review Press, 2021.
    7. APEC Policy Support Unit. APEC Regional Trends Analysis – The Digital Productivity Paradox. Asia-Pacific Economic Cooperation Policy Support Unit, November 2021.
    8. Erika Barrera, Ramon Bravo, Cristina Cecconi, Mary Beth Garneau, John Murphy. Measurement challenges of the digital economy. Voorburg Group, 25 September, 2021.
    9. Kevin Barefoot, Dave Curtis, William Jolliff, Jessica R. Nicholson, Robert Omohundro. Defining and Measuring the Digital Economy. Working Paper, Bureau of Economic Analysis, US Department of Commerce, 15/3/2018.
    10. Kjeld Erik Brdsgaard, Koen Rutten. From Accelerated Accumulation to Socialist Market Economy in China. Economic Discourse and Development from 1953 to the Present. Brill, 2021.
    11. Gerard Briscoe. Digital Ecosystems. PhD thesis, Imperial College London, 2009.
    12. Erik Brynjolfsson. The Productivity Paradox of Information Technology: Review and Assessment. Communications of the ACM, 36(12, Dec. 1993), pp. 66-77.
    13. Erik Brynjolfsson, Daniel Rock, Chad Syverson. Artificial Intelligence and the Modern Productivity Paradox: A Clash of Expectations and Statistics. MIT IDE Research Brief Vol. 2021.01.
    14. Rumana Bukht and Richard Heeks. Defining, Conceptualising and Measuring the Digital Economy. Paper No. 68, Centre for Development Informatics, Global Development Institute, SEED, 2021.
    15. Yanru Chen. Communication Campaigns and National Integration in China’s Market Economy Era: Reviving the National Soul. Springer, 2021.
    16. Sarah A. Donovan, David H. Bradley, Jon O. Shimabukuro. What Does the Gig Economy Mean for Workers. Congressional Research Service, 7-5700, 2021.
    17. The European Commission. On Artificial Intelligence – A European approach to excellence and trust. White paper, COM(2020) 65, February 19, 2021.
    18. Seize the Digital Ecosystem Opportunity. The 2021 CIO Agenda Report, 2021.
    19. Google, Temasek, Bain. e-Conomy SEA 2021-Swipe up and to the right: Southeast Asia’s $100B Internet economy. Southeast Asia’s Internet economy research program. https://www.thinkwithgoogle.com/_qs/documents/8447/e-Conomy_SEA_2019_deck_uIb8e2S.pdf.
    20. Lyudmila I. Gubareva(&), Valentina S. Tenetilova, Svetlana V. Derepasko, Irina S. Gavrilova, and Marina I. Suganova. Peculiarities of Formation of “Knowledge Economy” Through Modernization of the Higher Education System in Russia. In (Elena G. Popkova, Victoria N. Ostrovskaya. Perspectives on the Use of New Information and Communication Technology (ICT) in the Modern Economy. Springer, 2021), pp. 11-22.
    21. Matthew Hindman. The Internet Trap: How the Digital Economy Builds Monopolies and Undermines Democracy. Princeton University Press, 2021.
    22. Ming Hu. Sharing Economy: Making Supply Meet Demand. Springer, 2021.
    23. Arnel Kalleberg and Michael Dunn. Good Jobs, Bad Jobs in the Gig Economy. Perspectives on work, The University of North Carolina at Chapel Hill, 2021.
    24. Jean-Jacques Lambin. Rethinking the Market Economy: New challenges, new ideas, new opportunities. Palgrave Macmillan UK, 2014.
    25. Yining Li. Beyond Market and Government: Influence of Ethical Factors on Economy. Springer, 2021.
    26. Peter Lovelock. Framing Policies For The Digital Economy -Towards Policy FrameworksiIn The Asia-Pacific. UNDP Global Centre for Public Service Excellence, 2021.
    27. Lynn Margherio, Dave Henry, Sandra Cooke. The Emerging Digital Economy. U.S. Department of Commerce, 1998.
    28. North, R. Maier, O. Haas. Value Creation in the Digitally Enabled Knowledge Economy. Knowledge Management in Digital Change, 1-29, 2021.
    29. Addressing the Tax Challenges of the Digital Economy. OECD/G20 Base Erosion and Profit Shifting Project, 2014
    30. OECD reviews of digital transformation: going digital in Sweden. OECD, 2021.
    31. Tax Challenges Arising from Digitalisation-Interim Report 2021: Inclusive Framework on BEPS. OECD Publishing, 2021.
    32. Reinsdorf, P. Schreyer. Measuring consumer inflation in a digital economy. OECD Statistics Working Papers, 2021.
    33. Coskun Samli. Empowering the Market Economy through Innovation and Entrepneurship. Palgrave Macmillan US, 2021.
    34. Coskun Samli. Who Stole Our Market Economy: The Desperate Need For Socioeconomic Progress. Palgrave Macmillan, 2021
    35. Klaus Schwab, Nicholas Davis. Shaping the Fourth Industrial Revolution. World Economic Forum, 2021.
    36. Mark Skilton. Building Digital Ecosystem Architectures: A Guide to Enterprise Architecting Digital Technologies in the Digital Enterprise. Palgrave Macmillan UK, 2021.
    37. Robert Solow. We’d Better Watch out. New York Times Book Review, 1987, p. 36.
    38. Andrea Ahlemeyer-Stubbe, Shirley Coleman. Monetising Data: How to Uplift Your Business. Wiley, 2021.
    39. Don Tapscott. The Digital Economy: Promise and Peril in the Age of Networked Intelligence. McGraw-Hill, 1995.
    40. UNCTAD-ICT Policy Section. The ‘New’ Digital Economy and Development. Technical Note No8 Unedited TN/UNCTAD/ICT4D/08, October 2021.
    41. United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD). Digital Economy Report 2021. Value Creation and Capture: Implications for Developing Countries. UNCTAD, 2021 December. ihttps://unctad.org/en/PublicationsLibrary/der2019_en.pdf
    42. Donor Support to the Digital Economy in Developing Countries. UNCTAD Technical Notes on ICT for Development N˚13, 3/2019.
    43. United Nations Statistics Division. Towards an integrated framework for measuring the digital economy. Expert Group Meeting Preparatory Process for the United Nations E-Government Survey 2021, New York, USA, 1-2 April 2021.
    44. Chihiro Watanabe, Kashif Naveed, Yuji Tou, Pekka Neittaanmäki. Measuring GDP in the digital economy Increasing dependence on uncaptured GDP. Technological Forecasting and Social Change, Volume 137, December 2021, Pages 226-240.
    45. Xiaoming Zhu. Emerging Champions in the Digital Economy. Springer Singapore, 2021.
    46. Chris Anderson. The Long Tail – Why the Future of Business is Selling Less of More. Hyperion e-Book, 2008.
    47. Ransbotham, R. Fichman, R. Gopal, A. Gupta. Ubiquitous IT and Digital Vulnerabilities. Information Systems Research, 27(4), pp. 834-847, 2021.
    48. Alex Stephany. The Business of Sharing: Making it in the New Sharing Economy. Palgrave Macmillan UK, 2021.

    Digital Economy Measurement and its Practicabilities in Vietnam

    Ha Quang Thuy 1, Phan Xuan Hieu 1, Nguyen Tri Thanh 1, Tran Trong Hieu 1, Tran Mai Vu 1, Nguyen Huu Duc 2.

    1The Data Science & Knowledge Technology Laboratory and 2 The Nano Material Laboratory, VNU-University of Engineering and Technology (VNU-UET), Vietnam National University, Hanoi (VNU)

    Abstract: The dramatic development of digitalized technologies (typically, the Internet of Things – IoT), and digital economy (typically, the psent and development of several creative and perse business forms) have made a big and quick change to the economy, society and all aspects of human life. Digital economy, with the increasing trend in the national economy, has become a component and contributed a significant proportion of the economy. At the same time, digital economy also raises several challenges: the correct concept of digital economy, the model of digital economy development, and digital economy measurement. When these challenges are solved, digital economy has received special attention from many countries and international organizations such as World Economic Cooperation and Development, World Bank, etc. This article provides some initial insights into: the digital economy; some opportunities and challenges of digital economy; as well as the model of digital economy measurement. The article also provides some pliminary discussions on digital economy in Vietnam. It contributes a correct and comphensive understanding of digital economy, the development of human resources for digital economy (especially, the leading experts of digital economy), and digital economy ecosystem in Vietnam which help to accelerate the development of Vietnam’s digital economy.

    Keyword: digital economy, opportunity of digital economy, paradox of digital economy, digital economy measurement, political-technological relations, digital-knowledge economy relations.

    PGS. TS. Hà Quang Thụy (email: [email protected]), PGS. TS. Phan Xuân Hiếu (email: [email protected]), PGS. TS. Nguyễn Trí Thành (email: [email protected]), TS. Trần Trọng Hiếu (email: [email protected]), TS. Trần Mai Vũ (email: [email protected]), Phòng Thí nghiệm Khoa học dữ liệu và Công nghệ Tri thức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

    GS.TS. Nguyễn Hữu Đức: Phòng Thí nghiệm Vật liệu và Linh kiện Nano, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Gartner Forecasts Worldwide Public Cloud Revenue to Grow 17.5 Percent in 2021. https://www.gartner.com/en/newsroom/pss-releases/2019-04-02-gartner-forecasts-worldwide-public-cloud-revenue-to-g

    CNTT có chức năng bên ngoài mạng rõ ràng để thay đổi mối tương quan giữa các đổi mới và hệ thống thể chế. đổi mới dẫn đến sự gia tăng theo cấp số nhân và một loạt các cơ chế xã hội phát triển và khuếch tán logic được kích thích bởi các tương tác này.

【#5】Chia Sẻ Ưu Tư Về Giá Trị Nhân Bản Kitô Giáo

Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.

Xin phép quí độc giả để nại đến danh xưng của tờ “Chia Sẻ” nhằm chia sẻ một chút ưu tư về vấn đề giáo dục giá trị nhân bản Kitô giáo. Nói là chia sẻ, vì tôi chỉ có thể nói lên một chút cảm nhận còn khá mơ hồ về một vấn đề hình như quá lớn trong Giáo Hội Công Giáo. Nói chia sẻ ưu tư, bởi vì đây không phải là những chuyện nói cho qua, nhưng là một cảm nhận làm tôi trăn trở, “sốt ruột” và mong được nhiều người được góp ý, trao đổi, đào sâu hơn vấn đề này.

1. Một chút lịch sử

Nhập thể là một trong những chiều hướng căn bản của nhiệm cục ơn cứu độ theo Thánh Kinh. Thiên Chúa của Kinh Thánh là một vị Thiên Chúa không an vị trên trời, nhưng dính dáng, liên lụy vào lịch sử loài người. Ngài dấn thân vào lịch sử nhân loại, Ngài thích ứng với tầm mức nhân loại để tỏ bày chân lý cao vời của Ngài, Ngài đón nhận những phiền lụy của nhiệm cục cứu độ đến độ trao ban chính Con Một của Ngài. Trong chiều hướng ấy, chúng ta có thể thấy được một đường nét quan trọng trong “phương thức cứu độ của Thiên Chúa” : Ngài chọn Dân riêng là một chủng tộc Sêmít, và cũng trình tỏ bày huyền nhiệm bản thân Ngài, cũng như nhiệm cục Cứu Độ con người trong truyền thống văn hóa Sêmít ấy; theo đó, chính hành trình lịch sử của đời sống thật là nơi con người được mời gọi sống niềm tin vào Chúa, chứ không phải trong một hệ thống lý thuyết, hoặc trong một cảnh giới xuất thần, siêu việt nào đó bên ngoài đời sống thật của con người.

Thừa hưởng truyền thống ấy, vào thời kỳ của Giáo Hội, Kitô giáo đã dấn thân vào lịch sử nhân loại, thể hiện niềm tin trong cả một chiều hướng nhập thể, nghĩa là đón nhận tất cả những sự kiện, những biến cố, những diễn tiến trong vận hành lịch sử của nhân gian. Sống niềm tin chân chính không phải là “đóng cửa” để bảo vệ một gia tài đã đầy đủ trọn vẹn của mình, hoặc bay lên một vùng trời nào hoàn toàn khác lạ; nhưng là sống trọn niềm tin vào Chúa trên hành trình lịch sử, qua việc đón nhận tất cả những thăng trầm trong thực tại trần gian.

Trong tiến trình ấy, có một sự kiện quan trọng trong dòng lịch sử Giáo Hội, đó là việc Kitô giáo đã bạo dạn dấn bước vào cuộc đối thoại và hội nhập văn hóa với nền triết học khổng lồ của người Hy Lạp. Vào khoảng thế kỷ thứ II, Kitô giáo, trong sự non trẻ về mọi mặt, về bề dày lịch sử cũng như về hệ thống lý thuyết, về lực lượng nhân sự cũng như về vị thế chính trị… đã dám mạnh dạn sử dụng những khái niệm của nền triết học Hy Lạp khổng lồ để diễn tả những chân lý đức Tin của chính mình. Đó là một chọn lựa hết sức quan trọng trong dòng lịch sử Kitô giáo, chọn lựa tạo nên một khúc quanh quan trọng. Chính truyền thống dấn thân đã đưa Kitô giáo vào chọn lựa ấy, và chọn lựa ấy làm nên một hành trình sử mệnh của Kitô giáo. Nhờ quyết định ấy, Kitô giáo có thể luôn đối thoại và hội nhập vào dòng lịch sử luôn tiến triển của nhân loại, điều mà anh em Hồi Giáo sau này, nói chung, đã rất khó để làm được; và vì thế, anh em Hồi Giáo, cho đến hiện nay, có rất nhiều khó khăn trong việc thích ứng với thế giới hiện đại.

Tuy nhiên, việc sử dụng những khái niệm triết học Hy Lạp để trình bày đức Tin, dĩ nhiên, không có nghĩa là chấp nhận hoàn toàn văn hóa Hy Lạp. Sự phân biệt đó luôn là điều cần thiết. Chúng ta có thể thấy một cách cụ thể là, trong suốt thời kỳ Kitô giáo phồn thịnh ở Châu Âu, phần lớn những giá trị nhân bản của người Hy Lạp, những giá trị “đời” đã bị bỏ quên hoặc bị loại trừ. Các nhà trí thức Kitô giáo, trong thời kỳ đầu của thời Trung Cổ, đã phải từng bước hình thành lại những nền tảng mới của đời sống nhân bản Kitô giáo trong cuộc sống thường ngày. Người ta gọi đó là những nhà Nhân Bản Kitô giáo, chẳng hạn như Cassiodore (485-580), Denys le Petit, Grégoire le Grand (540-604), Isidore de Séville (570-636)… Tuy vậy, có vẻ như điều các nhà nhân bản Kitô giáo làm được còn quá ít, trong khi cuộc sống đời thường của con người thì càng ngày lại càng thêm “chuyện”, thêm “vấn đề”, thêm nhiều thách thức mới, nhiều hoàn cảnh mới, nhiều tình huống mới…theo như quy luật phát triển bình thường của cuộc sống nhân gian. Chính vì thế, chúng ta hiểu được tại sao nhiều nhà trí thức thế kỷ XII, XIII bắt đầu ham mê “chuyện thế gian” trong triết học của Aristote, và muốn vượt ra ngoài nền tảng triết học Platon, vốn hỗ trợ đắc lực cho đời sống “thuần túy tôn giáo” của Giáo Hội. Cũng thế, vào khoảng thế kỷ XV, XVI, nhiều nhà giáo dục, đặc biệt là ở Italia, đã muốn tìm lại trong các kho tàng văn hóa Hy Lạp những bài học thiết thực hơn cho cuộc sống trần thế. Rồi những giá trị nhân bản của người Hy Lạp được phục hồi một cách ồ ạt, đưa đến một thời kỳ gọi là Phục Hưng.

Với biến cố Phục Hưng, ta có thể nói được rằng, mặc dù tạo dựng được hệ thống triết-thần đồ sộ, và mặc dù xây dựng được cả một nền văn minh Kitô giáo, chi phối toàn bộ cuộc sống xã hội thời Trung Cổ, Kitô giáo vẫn chưa đáp ứng được hết những nhu cầu của đời sống con người, những nhu cầu có thực của cuộc sống đời thường, những nhu cầu vẫn đang tiến triển mỗi ngày mỗi nhiều hơn và tinh tế hơn; và hình như Kitô giáo vẫn chưa làm nên được một hệ-giá-trị nhân bản Kitô vững chắc, có sức thuyết phục….

Chuyển tầm nhìn về biến cố Vatican II, chúng ta lại nhận ra một bước ngoặt mới mà có người gọi là bước ngoặt của trào lưu nhân bản. Với Vatican II, Giáo Hội lại một lần nữa, nhận ra những thiết sót của mình trong việc quan tâm đến những “chuyện đời”. Hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng, lần đầu tiên, hướng nhìn về những chuyện đời người với một cái nhìn có trách nhiệm, với một lời mở đầu thật ấn tượng:

“Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ…”(s. 1)

Thế nhưng, sau Vatican II, ít nhất là trong hiện tình của Giáo Hội Việt Nam, đời sống đức Tin của Giáo Hội Việt Nam có vẻ như vẫn là một khối “đặc sệt chuyện đạo”, những giá trị Tin Mừng ít được thể hiện trong đời sống thường ngày của chính người Kitô hữu, những giá trị nhân bản Tin Mừng không mấy khi trở nên được những khái niệm sống căn bản của người Kitô hữu, và dĩ nhiên càng không phải là những khái niệm sống lan toả đến cuộc sống của xã hội, của thời đại.

Phải chăng chúng ta có thể nhận ra một khoảng trống của hệ giá trị nhân bản Kitô giáo, đặc biệt trong đời sống Giáo Hội Việt Nam ???

2. Truy tìm nguyên do

Chúng ta có thể tìm thấy nhiều lý do cắt nghĩa hiện trạng ấy :

* Chẳng hạn, như người ta nói, Giáo Hội Kitô, cũng như các tổ chức khác của con người, luôn luôn giao động giữa trọng tâm và ngoại biên : nên khi thì hướng quá nhiều về “nguyên lý” và không thể hiện được các nguyên lý căn bản của mình một cách tương xứng trong “đời sống thực tế”; khi khác thì lại bận tâm quá đến việc diễn tả đến độ người ta không còn thấy được bóng dáng của nguyên lý căn bản. Người ta có thể thấy được hiện tượng đó trong mối liên hệ giữa “nguyên lý yêu thương” và “diễn tả công bằng”, trong mối liên hệ giữa “việc đạo” và “việc đời” …

* Hoặc chúng ta cũng có thể có một giải thích khác, theo đó, vì các giới chức có trách nhiệm quyết định trong Giáo Hội đều là giáo sĩ và tu sĩ, nên đời sống Giáo Hội luôn bị chi phối do một sức hút bay lên với “việc đạo” và bỏ quên “việc đời”….

* Tuy nhiên, có lẽ nguyên nhân sâu xa và căn bản hơn hết mà chúng ta có thể đọc thấy được là chính “nẻo đường cứu độ” của Thiên Chúa đối với con người. Chúng ta có thể thấy một phần nào hành trình giáo dục của Thiên Chúa đối với nhân loại theo một diễn tiến chung như sau : trước tiên, Thiên Chúa dẫn dắt nhân loại tìm tòi học hỏi để biết sống cuộc sống cao quí của con người trong nhiều khía cạnh cạnh : văn hoá, nhân bản, luân lý, luật pháp của các nền văn minh khác nhau …. Đó là những thành tựu của các nền văn hóa của nhân loại nói chung. Con đường ấy quá đẹp và quá đồ sộ. Tuy nhiên, trong góc nhìn của nhiệm cục cứu độ, tất cả những thành tựu ấy còn rời rạc, bấp bênh và có nhiều sai lạc… và quan trọng hơn, chúng không đủ sức giúp con người, đặc biệt là những “người nghèo”, đạt đến cứu cánh chung cuộc thực sự của đời sống con người, tức là hành trình trở về với Thiên Chúa, là cứu cánh chân chính của vận mạng con người. Do vậy, Thiên Chúa muốn thể hiện công trình giáo dục con người bằng một sự can thiệp sâu hơn, đặc biệt hơn, đó là việc dẫn dắt con người tìm đến với một Đấng Cứu Độ duy nhất. Trong mức độ mới và có tính cách siêu nhiên này, tất cả tầm quan trọng thiết yếu của vận mạng con người được tập trung vào việc đón nhận một Đấng, sống theo một Đấng, và quy chiếu mọi giá trị, mọi ý nghĩa cuộc sống của mình vào chính Đấng Cứu Tinh ấy. Không còn con đường nào khác có thể giúp con người hoàn thành trọn vẹn vận mạng của mình ngoài con đường đi theo và kết hợp với đức Giêsu Kitô. Sự phong phú cao cả nhất mà Thiên Chúa tỏ bầy cho con người, cũng như tất cả những gì con người cần được đón nhận để hoàn thành vận mạng siêu nhiên của mình, chỉ có thể là bản thân Đức Giêsu Kitô, chỉ có thể được thực hiện một cách trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô. Chúng ta cũng có thể thấy được rằng, trong khi những nỗ lực tự nhiên, thể hiện trong các nền văn hóa đa dạng của nhân loại trên khắp hoàn cầu, rốt cuộc đều là những nẻo đường dành cho người ưu tuyển, thì nẻo đường cứu độ siêu nhiên của Thiên Chúa, thể hiện trong lịch sử cứu độ, đỉnh cao là nơi Đức Giêsu Kitô, lại có khả năng đón nhận tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo. Ngoài ý nghĩa là một nẻo đường chân chính, đúng đắn, được chính Thiên Chúa thật mạc khải, việc đón nhận Đức Giêsu như Đấng đồng hành và liên lụy trên hành trình cuộc đời, còn thực sự là nẻo đường của “người nghèo”, nẻo đường mà những người bần cùng hoặc yếu hèn nhất cũng có thể được đón nhận. Chính điều ấy có thể “minh chứng” một cách thực tiễn cho khẳng định ơn cứu độ duy nhất trong Đức Giêsu Kitô.

Tuy nhiên, có phải chăng tất cả những lý do ấy, từ một góc cạnh khác, lại trở thành một “trở lực” cho việc phát triển những giá trị nhân bản “tự nhiên” của con người ? Phải chăng cũng chính vì thế mà Kitô giáo dễ trở thành một đời sống đạo thuần túy, “đặc sệt”, đi song song với những tiến triển văn hóa của con người ?

Nhưng dù với nguyên do nào đi nữa, điều quan trọng là : có phải thật sự có một lỗ hổng trong đời sống đạo Công Giáo hiện nay, ít là của chính Giáo Hội Việt Nam, lỗ hổng về một hệ giá trị nhân bản, có khả năng diễn tả và bộc lộ những chân lý cứu độ căn bản của Kitô giáo trong những chiều kích nhân bản ?

3. Một chút suy nghĩ về Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

Về vấn đề này, ta có thể ghi nhận một vài nét trong tình hình Giáo Hội Việt Nam như sau :

Các hội đoàn Công Giáo tại Việt Nam hầu hết là những hội đoàn đạo đức, nghĩa là tập trung chính yếu vào việc tổ chức và huấn luyện các việc đạo đức chứ ít tạo được một sức mạnh để có thể đem đạo vào đời, gieo men Tin Mừng vào cuộc sống trần gian…

Các giáo trình nhân bản được biên soạn và sử dụng trong giới Công Giáo thường dựa theo những giá trị chung chung, hoặc dựa trên giá trị nhân bản của một triết học khác, trong một nền văn hóa hoàn toàn khác. Chẳng hạn nhiều giáo trình nhân bản dựa theo Khổng Giáo để trình bày những đức tính : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; hoặc : công, dung, ngôn, hạnh; hoặc có người lại dựa trên một số kỹ thuật sống theo kiểu “Đắc Nhân Tâm”; hoặc hoàn toàn theo nội dung của các phương pháp khoa học của tâm lý thực nghiệm; hoặc là những thích ứng rời rạc để giải quyết những vấn đề trước mắt một cách thực dụng … chứ không có được một “nguyên lý” cơ bản, một “hệ giá trị” nền tảng, một tinh thần thấu suốt của Tin Mừng Đức Kitô … Dĩ nhiên, người ta có thể nêu lên nhu cầu hội nhập văn hóa như một lý do quan trọng, nhưng hình như trong những kiểu “hội nhập văn hóa” ở các giáo trình giáo dục nhân bản ấy, không còn bóng dáng của giá trị Kitô giáo.

– Có lẽ vì không cảm được các giá trị đặc trưng của nền nhân bản Kitô giáo, nên các nghệ sĩ Công Giáo, hoặc diễn tả những cảm xúc nghệ thuật của mình trong “phạm vi” thuần túy nhà đạo; hoặc không còn một chút bản sắc Kitô giáo nào trong các cảm xúc ra ngoài phạm vi tôn giáo. Các thành quả nghệ thuật của giới Công Giáo rất ít truyền tải được đến công chúng những giá trị nhân bản đặc trưng của Kitô giáo…

Không có hoặc có rất ít người bên ngoài Kitô giáo tìm được một niềm đam mê nghiên cứu Kitô giáo như một giá trị nhân bản, sống tinh thần Kitô giáo như một lựa chọn nhân bản; quả thật người Kitô hữu có rất ít điều thú vị trên “mảnh đất đời người” có thể chia sẻ với những người ngoài Kitô giáo, ngoại trừ việc truyền đạo một cách “thẳng thừng”… Chúng ta có thể thấy rõ điều này khi đếm các đầu sách tôn giáo trong các nhà sách hiện nay. Chúng ta chỉ có những nhà trí thức là người Công Giáo chứ chẳng có, hoặc có rất ít, nhà “trí thức – Kitô giáo”… Hình như, trong tình hình hiện tại của Giáo Hội, chỉ có “nhân bản” và “Kitô giáo” đứng cạnh nhau chứ không có “nhân bản – Kitô giáo”; “Kitô giáo là giáo lý Kitô giáo”, và “nhân bản là nhân bản”…. Chúng ta cũng có thể thấy, trong những nhà sách công giáo, những bức ảnh nghệ thuật, những hình thêu chữ thư pháp… đầy những chữ : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… mà chẳng hề có được những khái niệm diễn tả giá trị căn bản của Kitô giáo như : “sống với”, “trung tín trong dòng lịch sử”, “dấn thân”, …

Nguy hiểm hơn cả, chúng ta có thể thấy rất nhiều những người Kitô hữu, và cả các “chức sắc” Công Giáo, trong cuộc sống hằng ngày, đã chọn lựa lập trường, trình bày những suy tư, thể hiện trong ứng xử về những chuyện đời thường theo một tinh thần, theo tôi, chẳng có một chút gì là tinh thần Kitô giáo cả. Tôi muốn nói ở đây, không phải là những hành vi xấu xa, tội lỗi, nhưng là những điều tốt, hoặc những điều bình thường. Chẳng hạn vẫn có những nhà giảng thuyết cho rằng : hôn nhân giết chết tình yêu; sau khi cưới, người ta chỉ còn sống với nhau vì cái “nghĩa”…; chẳng hạn vẫn có những người Kitô hữu tìm sự bình an bằng cách chọn lối sống “đừng đụng gì đến ai” để khỏi phiền hà; hoặc chọn sống cuộc đời mình, một cách chính yếu, theo một kỹ thuật sống nào đó chứ không phải là khả năng sống-với người khác trong một cuộc phiêu lưu; chẳng hạn có nhiều người vẫn hãnh diện vì có những “thằng lính” của tao, tao nói gì là nó làm răm rắp…

Có một lần, trong một lớp của các tu sĩ, tôi ra đề tài thi cho một lớp Triết Học Nhập Môn như sau : “Hãy nói lên châm ngôn sống của bạn và giải thích tại sao bạn chọn câu châm ngôn ấy”. Thật đáng buồn khi hơn một nửa lớp trình bầy những châm ngôn sống của mình đại khái như : “Học, học nữa, học mãi”; “Đi một đàng học một sàng khôn”; “uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói”… nghĩa là những châm ngôn sống chẳng hề có một chút gì là nẻo đường của tình yêu, hoặc phát xuất từ tình yêu của Chúa Kitô, mà chỉ là những kỹ thuật sống cho riêng mình.

Trong bầu không khí ấy, tư tưởng của cha Anthony de Mello được mặc sức tung hoành. Theo tôi, trừ một vài cuốn như “Tiếp Xúc Với Thiên Chúa” …, tư tưởng của cha Anthony nói chung tràn ngập thứ linh đạo “giác ngộ” chứ không phải linh đạo “sống-với”, khai mở con đường giải thoát bằng đường lối “trầm mặc” chứ không phải đường lối liên đới, hiệp thông của truyền thống Do Thái Kitô giáo… Quả thật là liều lĩnh khi động vào một “tượng đài” như Anthony de Mello, nhưng tôi không thể ngăn được cảm nghĩ về một sự trống vắng giá trị nhân bản Kitô giáo khi thấy “hiện tượng Anthomy de Mello” trong sinh hoạt của giáo hội Việt Nam.

Có không một hệ giá trị nhân bản Kitô giáo ? Có lẽ không ai có thể nói rằng một Kitô giáo, một sức sống, một giáo thuyết, một tổ chức trải qua bao ngàn năm như thế lại không có một hệ giá trị nhân bản riêng. Hoặc là những giá trị nhân bản Kitô giáo hiện nay đã trở thành những giá trị phổ biến và hiển nhiên đối với nhân loại, nên cũng chẳng cần mang hình dáng Kitô giáo nữa ? Đâu là những nét căn bản của hệ giá trị nhân bản Kitô giáo?

Chúng ta đụng đến một vấn đề hết sức khó : Đâu là những giá trị chuẩn cho nền nhân bản Kitô giáo ? Ai dám cho rằng những giá trị mình để ra thực sự là giá trị nhân bản Kitô giáo ? Mặt khác, hệ giá trị nhân bản cũng là một thứ não trạng, và với vấn đề não trạng thì quả thật là “một vòng lẩn quẩn”; bởi vì với não trạng, những lý luận chẳng có ích bao nhiêu, nhưng quan trọng hơn là tính thuyết phục của một “nét đẹp”. Nhưng nét đẹp của một giá trị lại chỉ có thể được đón nhận trong một hệ giá trị, nghĩa là trong một não trạng thích hợp. Do đó, rất nhiều tranh luận không thể nào đi đến một kết luận nào cả vì chẳng thể phá được “thành trì” của não trạng. …

Phải chăng người Kitô hữu có thể dựa vào chính lịch sử cứu độ và đặc biệt là biến cố đức Giêsu Kitô cùng với “giáo thuyết” của Ngài để nhận ra, cách chính yếu, hành động cứu độ của Thiên Chúa và hân hoan đón nhân ơn cứu độ chung cuộc, nhưng cũng bao hàm cả những giá trị chân thật của đời sống con người như : sống-với, trung tín trong dòng lịch sử, dấn thân, dám liên lụy, mắc nợ nghĩa tình, trân trọng phẩm giá con người, tri ân, đón nhận và trao tặng bản thân, hiệp thông, hy sinh, tha thứ, bác ái…??? Tôi tự hỏi rằng tại sao Kitô giáo lại không có được những thành tựu nhân bản đầy tính chất Kitô giáo theo kiểu như những tác phẩm “Góp Nhặt Cát Đá”, “Cái Cười của Thánh Nhân”…

4. Còn nữa thời đại Thánh Thần của Đức Kitô ?

Nếu như Thiên Chúa giáo dục con người bằng cách tập trung tất cả vào bản thân của đức Giêsu Kitô như một trục xương sống căn bản của tất cả vận hành lịch sử nhân loại cũng như của đời sống cá nhân của mỗi con người, thì chắc chắn đó không phải là khẳng định loại trừ tất cả những đường nét thành tựu của văn hoá nhân loại, nhưng là cung cấp một “trục cứu độ” cho tất cả mọi nền văn hóa của nhân loại. Nếu tất cả chân lý cuộc đời được “hội tụ” nơi đức Giêsu Kitô, thì điều đó cũng hứa hẹn một sự “phân tán” rộng khắp Thánh Thần của Đức Giêsu Kitô cho tất cả những chiều kích dài rộng cao sâu của lịch sử nhân loại:

“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói : Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. (Ga 16, 12-15)

Ơn cứu độ duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô chắc chắn không phải là một lô cốt ngăn chận dòng văn hóa của nhân loại, cũng không phải là một con đường song song với chuyện đời thường, song song với những diễn tiến chính trị, kinh tế, khoa học, môi trường,… và nhất là song song với văn hóa của con người. Ơn cứu độ duy nhất nơi đức Kitô chính là trục cứu độ có khả năng khai mở con đường thành tựu chân chính cho tất cả thực tại trần gian. Khẳng định ơn cứu độ duy nhất nơi đức Giêsu không có nghĩa là coi những sự khác như một thứ “không cần thiết cho phần rỗi”; nhưng là khăng định chính Thần Khí của Chúa Kitô giúp con người có thể tìm được một nguồn mạch phong phú và chân chính cho những giá trị nhân bản của đời sống con người.

Riêng với người Kitô hữu, tình trạng thiếu một hệ giá trị nhân bản Kitô giáo, đời sống đức Tin dễ rơi vào tình trạng “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt”, hoặc tình trạng sống “nhân đức chịu vậy”; nghĩa là sống đời sống đức tin như một dị vật trong chính tâm hồn của mình; nghĩa nối đời sống đạo vào cuộc đời của mình, không phải bằng một thần khí đổi mới của Chúa, không phải bằng một sự thú vị của tinh thần Kitô giáo, không phải bằng một lòng khát khao do “nét đẹp” của đời sống con Chúa, nhưng bằng một sự ép uổng khiên cưỡng của “nhân đức chịu vậy”. Có lẽ cũng chính vì thế mà người Kitô hữu hình như không biết sống chiều kích đức Cậy, nghĩa là khao khát, mong chờ sự hoàn thiện như Cha trên trời, để rồi rộng mở cuộc đời mình cho Chúa dẫn dắt từng bước một.

【#6】Yếu Tố Thần Kì Trong Truyền Thuyết Và Truyện Cổ Tích Người Việt Ở Nam Trung Bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA NGUYỄN ĐỊNH YẾU TỐ THẦN KÌ

TRONG TRUYỀN THUYẾT

VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH NGƯỜI VIỆT

Ở NAM TRUNG BỘ

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN GIAN

MÃ SỐ: 62 31 70 05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC HÀ NỘI – 2007

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

VIỆN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học

1. chúng tôi Võ Quang Trọng

2. TS. Đỗ Hồng Kỳ

Phản biện 1

Phản biện 2

Phản biện 3 Luận án tiến sĩ sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp

nhà nước tại Viện Nghiên cứu văn hóa vào hồi giờ ngày

tháng năm

Có thể tìm đọc luận án tại:

– Thư viện Viện Nghiên cứu văn hóa

– Thư viện Quốc gia

1

MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nghiên cứu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ

nhằm góp phần tìm ra đặc trưng di sản văn hoá dân gian vùng duyên

hải này; đồng thời, còn nhằm cung cấp tài liệu bổ ích đối với việc

giảng dạy và học tập phần văn học dân gian địa phương của giáo

viên và học sinh, nhất là giáo viên và sinh viên ngành văn ở các

trường cao đẳng và đại học trên vùng đất Nam Trung B

ộ.

Nhận thức được ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên

cứu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ như đã trình

bày, trong phạm vi bản luận án, chúng tôi khảo sát yếu tố thần kì của

truyền thuyết và truyện cổ tích thần kì người Việt ở vùng đất này.

2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễ

n) là bộ

sách có ghi chép truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ

sớm nhất và duy nhất thế kỉ XIX. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam

(Nguyễn Đổng Chi) là bộ sách có ghi chép truyện cổ dân gian người

Việt ở Nam Trung Bộ sớm nhất thế kỉ XX.

Tiếp theo là những cuốn địa phương chí các tỉnh Nam Trung

Bộ của một số nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ như: Quách Tấn,

Nguyễn Đình Tư

, Phạm Trung Việt…xuất hiện vào hai thập niên 60,

70 của thế kỉ XX. Truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ

được đề cập trong các cuốn địa phương chí của những tác giả nêu

trên, chủ yếu là ở góc độ sưu tầm và ít nhiều cũng có sự nghiên cứu.

Dù vậy, trước 1975, công trình nghiên cứu truyện cổ dân gian người

Việt ở Nam Trung Bộ chưa xuất hiện.

Những truyện cổ

dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ được

biên chép trong tập V sách Kho tàng truyên cổ tích Việt Nam của

Nguyễn Đổng Chi có thể được coi là kết quả sưu tầm đầu tiên thời kì

sau năm 1975. Tiếp theo là những kết quả đáng phấn khởi trong

2

những năm cuối thập niên 70 đến thập niên 90 của thế kỉ XX.

Khoảng trên 10 năm này, gần như sách sưu tầm văn học dân gian của

nhiều địa phương Nam Trung Bộ xuất hiện liên tục. Tiêu biểu có

Những mẫu chuyện về Tây Sơn (nhiều tác giả); Hòn Vọng Phu (Đào

Văn A); Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, tập I (Nguyễn

Văn Bổ

n); Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, tập II

(Nguyễn Văn Bổn chủ biên, Tôn Thất Bình, Trương Giảng, Trần

Hoàng, Võ Văn Thắng); Truyện cổ dân gian Phú Khánh (Trần Trung

Thành, Trần Việt Kỉnh, Chu Thị Thanh Bằng, Nguyễn Thành

Thi).v.v.

Trong những tập sách nêu trên, có công trình, tác giả của nó

không những quan tâm đến việc sưu tầm mà còn đầu tư vào việc

nghiên cứu. Tiêu biểu là bộ sách 2 tập Văn nghệ

dân gian Quảng

Nam – Đà Nẵng do Nguyễn Văn Bổn chủ biên. Trong phần nghiên

cứu của tập II bộ sách này, về thi pháp, tác giả cho rằng, truyện cổ

dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng “mang sắc thái của những truyện cổ

ở một vùng đất mới rất rõ. Được hình thành khi xã hội con người ở

nước ta đã được tổ chức theo chế độ phong kiến, thời kì xây dựng và

bảo vệ quốc gia phong ki

ến độc lập và tiếp tục mở nước, nên trình độ

chinh phục thiên nhiên của con người đã tiến bộ khá cao, vì thế trong

các truyện cổ dân gian, các yếu tố thần kì không còn đậm nét…Tính

kế thừa trong phong cách xây dựng hình tượng nhân vật của truyện

cổ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng cũng là một đặc điểm”.

10 năm cuối thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI là chặng

đường n

ở rộ kết qủa sưu tầm, nghiên cứu truyện cổ dân gian người

Việt ở Nam Trung Bộ. Trên 15 năm qua (1990 – 2006), giới folklore

học nước ta đã cho ra đời hàng loạt công trình ở nhiều phương diện

khác nhau. Sách và bài viết dành riêng cho việc sưu tầm, nghiên cứu

truyện cổ dân gian có Chuyện xưa học sinh (Ngô Sao Kim); Quảng

Ngãi giai thoại – truyền thuyết, tập II, (Thế Kỉ, Hà Thanh); Truyện cổ

1.1. Khái niệm “yếu tố thần kì”

1.1.1. Ý nghÜa cña kh¸i niÖm “yÕu tè thÇn k×”

Trong khái niệm “yếu tố thần kì”, tính từ “thần kì” có 2 nét

nghĩa chủ yếu: th

ần thánh và kì lạ. Nó gần nghĩa với các tính từ “kì

ảo”, “hoang đường”, “huyền ảo” và đồng nghĩa với các tính từ “kì

diệu”, “thần diệu”, “huyền diệu”. Sự xác định ý nghĩa khái niệm

“yếu tố thần kì” như vậy là tìm đến ý nghĩa gốc của nó, còn thực tế

sử dụng khái niệm này với tính cách là một thuật ngữ khoa học, thì

không phải bao giờ cũng đúng với ý nghĩa gố

c đó, bởi vì sự biểu

hiện của yếu tố thần kì trong văn học là cực kì phong phú, đa dạng

và phức tạp. Lúc thì thiên về tính chất kì ảo – hư ảo – hoang đường –

huyền ảo; khi thì thiên về tính chất kì diệu – thần diệu – huyền diệu.

Tuy nhiên, cho dù có biểu hiện và việc gọi tên các biểu hiện ấy có

6

phong phỳ, a dng, phc tp n mc no chng na, thỡ trong

vn hc dõn gian, nht l trong truyn c dõn gian, nú thng c

gi l yu t thn kỡ.

1.1.2. Nguồn gốc của yếu tố thần kì trong văn học dân gian

Thế giới quan thần linh của ngời nguyên thuỷ là nguồn gốc

(trực tiếp) của yếu tó thần kì trong thần thoại và là nguồn gốc (sâu

xa) của yếu tố thần kì trong tất cả các thể loại văn học dân gian ra đời

sau thần thoại.

1.1.3. Vai trò của yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ

tích thần kì

Trong truyền thuyết, yếu tố thần kì có vai trò chủ yếu là

huyền ảo hoá các nhân vật và sự kiện lịch sử. Trong truyện cổ tích

thần kì, yếu tố thần kì có vai trò chủ yếu là giải quyết xung đột

truyện.

1.2. Khỏi quỏt v tiu vựng vn hoỏ Nam Trung B

Nam Trung B gm tỏm tnh v thnh ph: Nng, Qung

Nam, Qung Ngói, Bỡnh nh, Phỳ Yờn, Khỏnh Ho, Ninh Thun v

Bỡnh Thun. õy l vựng t cú y m

i yu t ca thiờn nhiờn

Vit Nam gm sụng bin, ng bng v rng nỳi.

Nu tớnh t 1306 nm Ch Mõn dõng t chõu ễ (phớa nam

chõu ễ ngy xa thuc thnh ph Nng ngy nay) v chõu Lớ ca

Chiờm Thnh cho Nh Trn ci Huyn Trõn cụng chỳa n 1693

nm i Vit cú thờm t Bỡnh Thun, thỡ ngi Vit nh c ti

Nam Trung B, sm nht l Nng, ó khong 7 th k, mun

nh

t l Bỡnh Thun, ó khong trờn 3 th k.

Sinh sng vựng t ny, ngoi tc ngi Vit, cũn cú cỏc tc

ngi khỏc nh: Hoa, Gia Rai, ấ ờ, Ba Na, Chm, C Ho, X

ng, Hrờ, Ra Glai, C Tu, Giộ Triờng, Co, Chu RuSau ngy t

7

nước thống nhất, có thêm người Tày, Nùng từ phía Bắc di cư vào.

Người Việt và người Hoa chủ yếu sống ở đồng bằng. Các tộc người

khác chủ yếu sống ở miền núi. Riêng địa bàn cư trú của người Chăm

có đặc biệt hơn. Ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và

Phú Yên dân số người Chăm ít hơn nhiều so với các tộc người khác.

Ngược lại, từ Khánh Hoà

đến các tỉnh cực nam Trung Bộ (Ninh

Thuận, Bình Thuận) dân số người Chăm đông hơn các tộc người

Hoa, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng…

Nhiều tộc người cùng sinh sống nên đời sống văn hoá nơi đây

bên cạnh sự thống nhất còn có sự đa dạng. Có văn hoá Chăm và văn

hoá các tộc người thiểu số khác mà thành tựu của nó không kém

phần rực rỡ. Người Việt trong mối quan hệ

sâu sắc với các tộc người

anh em, từ vốn văn hoá mang theo nơi đất cội nguồn, cũng đã tạo

nên đời sống văn hoá riêng phong phú, đa dạng và đặc sắc, trong đó,

bộ phận văn hoá dân gian chiếm vị trí khá quan trọng. Văn hoá dân

gian người Việt ở Nam Trung Bộ cũng có đủ các thành tố cơ bản:

nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn và ngữ văn dân gian. Ngữ

văn dân gian người Việt ở vùng đất này gồm các thể loại: truyền

thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, giai thoại, tục

ngữ, câu đố, vè, ca dao, dân ca, kịch bản sân khấu. Nó là tấm gương

phản ánh thiên nhiên, xã hội và đời sống con người Nam Trung Bộ.

Với cách biểu hiện riêng, ngữ văn dân gian người Việt ở vùng đất

này có đầy đủ các đặc trưng cơ bản về thi pháp c

ủa ngữ văn dân gian

Việt Nam.

1.3. Tổng quan về tư liệu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam

Trung Bộ

1.3.1. Khái niệm “truyện cổ dân gian”

8

“Truyện cổ dân gian” là khái niệm được dùng để chỉ một bộ

phận của văn học dân gian, bộ phận này gồm tất cả các thể loại thuộc

mảng “văn xuôi” dân gian như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ

tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn và giai thoại. Khái niệm “truyện

cổ tích” từng được sử dụng với hai ý nghĩa chủ yếu: 1) (cũng) để chỉ

một bộ phận của văn học dân gian, trong trường hợp này, khái niệm

“truyện cổ tích” tương đương với khái niệm “truyện cổ dân gian”; 2)

để chỉ truyện cổ tích – một thể loại của bộ phận truyện cổ dân gian

trong văn học dân gian. Để tránh lẫn lộn hai khái niệm, chúng ta chỉ

sử dụng khái niệm “truyện cổ tích” trong trường hợp để chỉ riêng thể

loại truyệ

n cổ tích; sử dụng khái niệm “truyện cổ dân gian” với ý

nghĩa khái quát tất cả các thể loại thuộc mảng “văn xuôi” dân gian

như đã nêu ở trên.

1.3.2. Tổng quan về tư liệu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam

Trung Bộ

Nam Trung Bộ không có thần thoại, mảng truyện cổ dân gian

chỉ gồm các thể loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười,

truyện ngụ ngôn và giai thoạ

i.

Truyền thuyết là thể loại có số lượng truyện nhiều nhất. Đa

phần tác phẩm của thể loại này là truyền thuyết địa danh và truyền

thuyết nhân vật. Nội dung phản ánh của truyền thuyết chủ yếu gắn

liền với các sự kiện lịch sử thời kì chống ách Bắc thuộc, thời kì quân

Tây Sơn đánh nhau với quân Nguyễn Ánh, thời kì chống thực dân

ph

ương Tây xâm lược. Đối với thể loại truyện cổ tích, phần lớn số

lượng truyện thuộc về cổ tích thần kì, truyện cổ tích loài vật có số

lượng ít nhất. So với Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ, ở Nam Trung Bộ có

rất ít truyện cổ tích mang nội dung phản ánh mâu thuẫn xã hội, khai

thác các tình thế tương phản giữa tốt với xấu, giữa thiện với ác, giữa

10

1) Truyền thuyết nhân vật, 2) Truyền thuyết địa danh, 3) Truyền

thuyết phong – vật. Ở mỗi loại lớn lại tuỳ theo đề tài, chức năng của

nội dung truyện kể mà phân chia tiếp thành các tiểu loại.

Quá trình khảo sát yếu tố thần kì trong truyền thuyết người

Việt ở Nam Trung Bộ, chủ yếu, chúng tôi cũng theo quan điểm phân

loại truyền thuyết của Kiều Thu Hoạch.

2.2. Yế

u tố thần kì trong truyền thuyết địa danh

2.2.1. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết địa danh tự nhiên

2.2.1.1. HÇu hÕt truyÒn thuyÕt gi¶i thÝch nguån gèc ®Þa danh theo ®Æc

®iÓm tù nhiªn cã yếu tố thần kì dạng hữu hình

Đề cập đến truyền thuyết địa danh tự nhiên là chủ yếu nói về

truyền thuyết giải thích nguồn gốc các địa danh theo đặc điểm tự

nhiên. Trong truyền thuyết địa danh của người Việt ở Nam Trung

Bộ, hầu hế

t tác phẩm mang nội dung giải thích tên gọi địa danh theo

đặc điểm tự nhiên có yếu tố thần kì thuộc dạng hữu hình và được xây

dựng thành hình ảnh trung tâm. Đó là Sự tích đèo Cổ Mã (ngựa

thần), Yêu Xà Thạch (mãng xà, thần nhân), Hắc Xà (rắn thần)…

2.2.1.2. Yếu tố thần kì trong Sự tích Ngũ Hành Sơn – một truyền

thuyết địa danh tự nhiên đặc biệt

ở Nam Trung Bộ

Tác dụng tạo ra niềm tin trong tâm thức người nghe là tính

chất chung của yếu tố thần kì ở mọi truyền thuyết mà Sự tích Ngũ

Hành Sơn có thể được coi là một trong số ít trường hợp vừa tiêu

biểu, lại vừa đặc biệt. Đặc biệt là vì yếu tố thần kì – hình tượng trung

tâm (Long Quân, Tiên Nữ, trứng thần) trong truyền thuyết là do

dân gian vay mượn từ yếu tố

thần kì (Long Quân, Âu Cơ, trứng thần)

ở một truyền thuyết khác – Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhưng cũng

chính yếu tố thần kì được vay mượn ấy lại làm cho Sự tích Ngũ Hành

Sơn vừa thấm đẫm màu sắc thần kì, vừa không tách rời thực tế lịch

11

sử dân tộc, ta có thÓ nãi chắc điều đó vì bao đời nay, nhân dân ta

luôn sâu sắc một niềm

tin rằng, bố Long Quân lấy mẹ Âu Cơ sinh ra

dân tộc Việt Nam.

2.2.2. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết địa danh xã hội

2.2.2.1 Yếu tố thần kì thuộc dạng hữu hình

Đáng chú ý đầu tiên là những yếu tố thần kì dạng hữu hình có

vai trò kì diệu hoá – linh thiêng hóa các địa danh. Yếu tố thần kì có

vai trò như thế xuất hiện trong các truyền thuyết tiêu biểu như: Sự

tích đất Gò Nổi (con chim), Thiên Lộ

c Tự – Miếu Bà Sáu (Long

thần)…Dạng yếu tố thần kì tiếp theo là hình ảnh các con vật thần kì

như rắn thần, rái cá…trong các truyền thuyết tiêu biểu: Miếu Xà,

Miếu Bà chúng tôi trò của các yếu tố thần kì này là huyền ảo hóa

các nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử.

2.2.2.2 Yếu tố thần kì thuộc dạng vô hình

Đáng chú ý nhất là những yếu tố thần kì biểu hi

ện dưới các

hình thức: sự kì lạ, sự linh thiêng; âm binh – âm tướng và bóng ma

có vai trò linh thiêng hoá các địa danh trong các truyền thuyết tiêu

biểu: Mả quan thất trận (sự linh nghiệm), Mộ Ông Khám (sự linh

thiêng), Miếu Phò Giá Đại Vương (âm binh – âm tướng)…Bên

cạnh đó còn có những truyền thuyết mang yếu tố thần kì vô hình giữ

vai trò huyền ảo hoá các nhân vật và sự kiện lịch sử, trong đó có hai

tác phẩm tiêu biểu:

Sự tích cầu Quân Sư (lời tiên tri) và Sự tích địa

danh Cam Ranh (sự linh ứng).

2.3. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết phong vật

Phần này chủ yếu khảo sát truyền thuyết phong vật giải thích

nguồn gốc các tục thờ: Thiên Ya Na, ba Cô, Cố Hỉ Phu nhân, ông

Húc, rái cá, cá voi – cá Ông, thần Hổ.

2.3.1. Nữ thần Thiên Ya Na

12

Tip thu huyn thoi Pụ Ino Nogar

của ngời Chăm, ngi

Vit sỏng to ra truyn thuyt Thiờn Ya Na. Ch ging nhau ch yu

gia Pụ Ino Nogar trong truyn thuyt Chm v Thiờn Ya Na trong

truyn thuyt Vit l h u c xõy dng thnh n thn sỏng to

vn hoỏ. Tuy nhiờn gia Pụ Ino Nogar v Thiờn Ya Na cú nhiu nột

rt khỏc nhau. S khỏc nhau biu hin ngay trong tờn gi: Ngi

Chm gi n thn l Poh Nagar Pụ Ino Nogar Pụ Nagar Pụ In

Nagar Pụ Yan In Nga Yanh Pu Negara Muk Juk. Ngi Vit

gi Thiờn Ya Na. V tớnh cht hỡnh tng nhõn v

t, Pụ Ino Nogar

gn vi thn thoi; Thiờn Ya Na gn vi truyn c tớch thn kỡ.

Thiên Ya Na là hiện tợng văn hoá tiêu biểu về sự hỗn dung

văn hoá Chăm – Việt.

2.3.2. C H Phu nhõn, ba Cụ, ụng Hỳc

C H Phu nhõn: Ngi cht oan (thng l cụ gỏi) linh

hn khụng siờu thoỏt hin linh c lp am (miu, n) th l ct

truyn ca mt kiu truyn cú tớnh ph bin trong truyn c dõn gian

m truyn thuyt Tc th C H Phu nhõn l mt trng hp tiờu

biu. Ba Cụ: Tớnh cht thn kỡ trong hỡnh tng ba Cụ ca truyn

thuyt Am th ba Cụ thnh Diờn Khỏnh t

ng i phc tp. n

th ba Cụ l n th thn, nhng nhng chuyn k v ba Cụ nh

trong truyn thuyt Am th ba Cụ thnh Diờn Khỏnh li l chuyn

ma ch khụng phi chuyn thn. Oan hn ba Cụ, lỳc c gi l

thn, khi b gi l ma ging nh trng hp hn ngi cht núi

chung, khi trong cnh th cỳng tụn nghiờm, c gi l cỏc bỏc õm

hn cụ hn, nhng ngoi khung cnh

ú thỡ li gi l ma. ễng

Hỳc: Hỡnh tng ễng Hỳc trong truyn thuyt cựng tờn va cú sc

thỏi nhiờn thn va cú sc thỏi nhõn thn. Nu ễng Hỳc mang ngun

gc nhõn thn thỡ rt cú th ban u thn l mt nhõn vt lch s,

13

danh nhân văn hoá…nào đó ở địa phương, rồi theo biến thiên của

lịch sử, lí lịch vị thần ấy bị thất lạc, nhân dân bèn đặt cho thần một

cái tên mới và thêm vào hình tượng thần những sắc thái mới – sắc

thái nhiên thần để có vẻ cổ xưa hơn, linh thiêng hơn.

2.3.3. Thần Rái, cá voi – cá Ông, thần Hổ

Thần Rái: Những truyện cổ dân gian xuất hiện từ sớm có hình

ảnh rái cá chủ

yếu được lưu truyền ở vùng châu thổ sông Hồng.

“Hành trình” con vật sông nước này từ trung tâm đất cội nguồn “đi

về phương Nam” đã bị “đứt gãy” ở Bắc Trung Bộ. Địa bàn lưu

truyền thứ hai là Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hầu hết truyền thuyết

có hình ảnh rái cá đều gắn liền với những năm tháng bôn tẩu của

Nguyễn Ánh. Cá voi – cá Ông: Tục thờ cúng cá voi là một tín

ngưỡng của người Chăm mà lưu dân Việt đã tiếp thu trên đường

Nam tiến. Đây là thực tế khó có thể chối cãi. Song vùng châu thổ

sông Hồng của Việt Nam cũng đã từng tồn tại tục thờ cá – thờ cá voi,

vậy thì, tục thờ cúng cá voi cần phải được xem xét đến tầng sâu

v¨n

ho¸ hơn – từ khi tổ tiên chúng ta còn ở sông Hồng và đương nhiên,

nguồn gốc của con vật thần kì cá voi – cá Ông trong truyền thuyết

người Việt ở Nam Trung Bộ cũng phải được xem xét đến tầng sâu

như thế. Thần Hổ – Ông cọp: Giống như người Việt ở Nam Bộ,

người Việt ở Nam Trung Bộ có cả một chuỗi truyền thuyết về hổ.

Ngược lại, trong truyệ

n cổ dân gian người Việt ở Bắc Trung Bộ,

truyền thuyết phong vật về hổ hầu như vắng bóng. Phải chăng tác

nhân lịch sử đã làm cho tục thờ cá voi ở Bắc Bộ không còn diện mạo

ban đầu cũng đã làm cho hình ảnh con hổ vốn là con vật không có

rừng núi ở vùng miền nào trên đất nước Việt Nam mà không có,

nhưng lại rất ít xuất hiện trong truyện cổ dân gian người Việ

t ở Bắc

Trung Bộ !

14

2.4. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết nhân vật

2.4.1. Motip sinh nở thần kì

Motip nhân vật sinh nở thần kì hầu như ít được sử dụng trong

truyền thuyết nhân vật của người Việt ở Nam Trung Bộ. Đây là đặc

điểm của truyền thuyết người Việt ở vùng đất phía nam Tổ quốc.

2.4.2. Motip chiến công phi thường

Giữa hai biểu hiện sức mạnh phi thường tự thân và sự phù tr

bởi vật thiêng phép lạ của motip chiến công phi thường của nhân vật

anh hùng, trong truyền thuyết nhân vật của người Việt ở Nam Trung

Bộ, chiến công của nhân vật anh hùng chủ yếu là do họ có sức mạnh

phi thường tự thân. Chàng Lía, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn

Lữ, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Võ Văn Dũng, Nguyễn Văn

Tuyết, Cử Dị, Cử Thể là những nhân vật chủ

yếu, tạo nên diện mạo

cho truyền thuyết nhân vật ở miền duyên hải này đều mang sức mạnh

như thế. Đây là một đặc điểm nữa của truyền thuyết người Việt ở

vùng đất phía nam Tổ quốc.

2.4.3. Motip hoá thân

Trong truyền thuyết nhân vật của người Việt ở Nam Trung Bộ

hiếm có những hình ảnh về sự “hoá thân” của nhân vật theo kiểu

Thánh Gióng (Truy

ện Ông Gióng), An Dương Vương (Truyện rùa

vàng), hai Bà Trưng (Trưng Vương). Để bất tử hoá nhân vật anh

hùng, tác giả dân gian đã đề cập đến cái chết của nhân vật theo hai

hướng chủ yếu: miêu tả những cái chết “đẹp” để nhân vật sống mãi

trong “bia miệng” của nhân dân và chết không phải là hết mà là tiếp

tục cuộc chiến đấu trong một dạng thức khác (Đó là cái chết của vua

Nam Chiếu, Bùi Th

ị Xuân, Mai Xuân Thưởng, Bá Hộ Huệ v.v.).

2.5. Về nét riêng của yếu tố thần kì trong truyền thuyết người

Việt ở Nam Trung Bộ

16

kì lịch sử khi đã có chế độ tư hữu tài sản, có gia đình riêng, có mâu

thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp.

2. Truyện cổ tích biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân

đối với thực tại, đồng thời nói lên những quan điểm đạo đức, những

quan niệm về công lí xã hội và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn

cuộc sống hiện tạ

i.

3. Truyện cổ tích là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú

của nhân dân, và ở một bộ phận chủ yếu, yếu tố tưởng tượng thần kì

tạo nên một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực

và ước mơ.

Chúng tôi lấy các nội dung định nghĩa truyện cổ tích đã có sự

thống nhất nêu trên làm tiêu chí ®Ó xác định tác phẩm truyện cổ tích

trong kho tư liệu truyện cổ dân gian người Việt ở Nam Trung Bộ khi

khảo sát đề tài luận án.

3.1.2. Việc phân loại truyện cổ tích

Có một số cách phân loại truyện cổ tích khác nhau. Chúng tôi

tán đồng cách phân loại truyện cổ tích gồm ba tiểu loại: 1) Truyện cổ

tích loài vật; 2) Truyện cổ tích thần kì; 3) Truyện cổ tích sinh hoạt.

3.2. Các dạng yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người

Việt ở Nam Trung Bộ

XÐt theo dạng biểu hiện, yếu tố thần kì trong truyện cổ tích

thần kì gồm d¹ng hữu hình (người, loài vật, đồ vật), d¹ng vô hình

(ma quỷ, câu thần chú – lời nói thần kì). XÐt theo bình diện xã hội,

yếu tố thần kì được phân thành hai tuyến: thiện và ác. Vai trò chủ

yếu của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì: trợ giúp nhân vật

tuyến thiện, trừng phạt nhân v

ật tuyến ác, giải quyết xung đột truyện.

3.2.1. Yếu tố thần kì dạng vô hình, hữu hình và đặc điểm của nó

3.2.1.1. Yếu tố thần kì dạng vô hình có tỉ lệ rất thấp

17

Trong 25 truyện cổ tích thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ

được khảo sát, chúng tôi nhận thấy: nếu xét theo dạng biểu hiện thì

yếu tố thần kì xuất hiện với tần số 50 lần; trong đó dạng vô hình có

5/50 trường hợp (8%); dạng hữu hình có 45/50 trường hợp (92%). So

với tần số xuất hiện của yếu tố thần kì dạng hữu hình, tần số xuất

hiệ

n của yếu tố thần kì dạng vô hình gần như không đáng kể. Khảo

sát yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người Việt ở Bắc Trung

Bộ và Nam Bộ, chúng ta cũng thấy có hiện tượng tương tự như thế.

3.2.1.2. Sự phong phú, đa dạng của yếu tố thần kì dạng hữu hình

Trước hết là yếu tố thần kì thuộc dạng người xuất hi

ện với tần

số 13/45 lần (28,9%), chẳng hạn, Thổ thần (Một cuộc thi tài), Long

Vương (Ông Dài “ng Cụt), (Ba anh em chôn xác cha), Thần thành

hoàng (Đôi sam biển). Tiếp theo là yếu tố thần kì hữu hình thuộc

dạng loài vật xuất hiện với tần số 9/45 lần (20%), chẳng hạn, hình

ảnh con rùa (Cứu vật vật trả ơn), chàng rắn (Ông Dài “ng Côt), nàng

cá (Hai anh em). Yếu t

ố thần kì hữu hình thuộc dạng đồ vật có tần số

xuất hiện 15/45 lần (33,3%). Đó là cục phép, gậy thần (Chiếc gậy

thần), chiếc nồi thần (Hai anh em), quạt thần (Nàng Út), cây kim

thần (Cây kim thần), cái ấm thần (Cái ấm đất).v.v. Ngoài ra, còn có

một dạng nữa (dạng khác), đó là các hiện tượng tự nhiên như: giếng

nước, hồ nước, hòn

đá và hoa quả có tần số xuất hiện 8 lần (17,8%).

3.2.2. Yếu tố thần kì tuyến thiện, tuyến ác và vai trò của nó

3.2.2.1. Hầu hết yếu tố thần kì thuộc tuyến thiện

Hầu hết yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người Việt

ở Nam Trung Bộ thuộc tuyến thiện, chỉ có một trường hợp thuộc

tuyến ác. Đó là mụ Phù thuỷ trong truyện Ba anh em chôn xác cha.

Đ

iều này thể hiện đúng đặc điểm của truyện cổ tích thần kì Việt Nam

là yếu tố thần kì ở tuyến ác có số lượng không nhiều. Tìm hiểu yếu

18

tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người Việt ở Bắc Trung Bộ và

Nam Bộ, chúng ta cũng thấy có hiện tượng tương tự như thế.

3.2.2.2. Yếu tố thần kì có vai trò trợ giúp nhân vật tuyến thiện

Trong tài liệu chúng tôi sử dụng, 100% tác phẩm cổ tích thần

kì có yếu tố thần kì mang vai trò trợ giúp nhân vật tuyến thiện. Trước

hết, vai trò ấy được biểu hiện trong những yếu t

ố thần kì dạng vô

hình: phép biến hoá và lời nói thần kì (Chiếc gậy thần, Lấy chồng dê,

Cái lưỡi chết biết nói…). Tiếp theo là sự trợ giúp nhân vật tuyến

thiện của yếu tố thần kì hữu hình dạng người. Đó là Thổ thần (Một

cuộc thi tài), ông Tiên (Sự tích con ếch), (Sự tích cây mít và cây bí

đỏ), Ngọc Hoàng (Nàng Út). Sự trợ giúp nhân vật tuyến thiện củ

a

yếu tố thần kì hữu hình dạng loài vật (Cứu vật vật trả ơn), (Lòng

người khó đo). Có lẽ diễn ra sinh động nhất là sự trợ giúp của yếu tố

thần kì hữu hình dạng đồ vật dành cho nhân vật tuyến thiện (Chiếc

gậy thần, Cái ấm đất, Anh gánh than lấy nàng công chúa).

3.2.2.3. Yếu tố thần kì có vai trò trừng phạt nhân vật tuyế

n ác

Đây là yếu tố thần kì trừng phạt nhân vật tuyến ác nhưng

không phải là nhân vật trung tâm truyện (Chiếc gậy thần, Nàng Út,

Sự tích Bàu Hương, Ba anh em chôn xác cha).

3.2.2.4. Những truyện có kết cấu tương phản thể hiện tập trung nhất

vai trò của yếu tố thần kì

Đây là yếu tố thần kì trực tiếp trừng phạt nhân vật tuyến ác là

nhân vật trung tâm truyện. Yếu tố thầ

n kì có vai trò như thế trong

những truyện tiêu biểu: Hai anh em, Cây kim thần, Hai chị em, Hố

vàng hố bạc Các truyện nêu trên có kết cấu giống nhau. Đó là kết

cấu hai phần tương phản thông qua yếu tố thần kì: Phần thứ nhất

kể chuyện nhân vật tuyến thiện nghèo khổ, bất hạnh. Phần thứ hai kể

chuyện nhân vật tuyến ác. Nhờ sự trợ giúp của yếu tố

thần kì, nhân

19

vật tuyến thiện thay đổi số phận. Ở phần thứ hai, nhân vật tuyến ác

lại chiếm đoạt yếu tố thần kì đã làm thay đổi số phận nhân vật tuyến

thiện. Đây là chỗ xung đột truyện phát triển đến đỉnh điểm. Tác giả

dân gian đã giải quyết xung đột bằng cách để cho yếu tố thần kì

trừng phạt chúng. Với cách giả

i quyết xung đột như vậy, truyện cổ

tích thần kì đã biểu hiện niềm tin vào triết lí cao đẹp và ước mơ công

lí của nhân dân.

3.3. Việc nghiên cứu yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì

người Việt ở Nam Trung Bộ theo lí thuyết hình thái học truyện

cổ tích của Propp

3.3.1. Sơ lược về lí thuyết hình thái học truyện cổ tích của Propp

Lí thuyết của Valadimir Iakovlevits Propp – nhà khoa lỗi lạc

Xô viết (1895 – 1970) trình bày trong công trình n

ổi tiếng: Hình thái

học truyện cổ tích xuất bản lần đầu năm 1928. Propp cho biết, kho tư

liệu về truyện cổ tích ông dùng khảo sát cho thấy cấu tạo cốt truyện

gồm 31 chức năng do hành động nhân vật tạo nên. Mỗi chức năng

gồm nhiều nhóm. Riêng chức năng 14: Sự có được phương tiện thần

kì gồm 9 nhóm: Z

1

, Z

2

, Z

3

, Z

4

, Z

5

, Z

6

, Z

7

, Z

8

, Z

9

.

3.3.2. Kết quả khảo sát yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì

người Việt theo lí thuyết hình thái học truyện cổ tích của Propp

trong các công trình nghiên cứu truyện cổ tích ở Việt Nam

Trong công trình Nghiên cứu kết cấu truyện cổ tích thần kì

Việt theo lí thuyết hình thái học của Vladimia Iacoplevich Prop, Trần

Đức Ngôn cho biết: cÊu t¹o cèt truyện cña cổ tích thần kì người Việt,

chức năng 14 xuất hiện các nhóm: Z

1

, Z

2

, Z

6

, Z

7

, Z

8

. Tài liệu cổ tích

thần kì Việt cũng cho thấy nhóm biệt loại không có trong bảng kê

của Propp. Đó là trường hợp nhân vật được tặng những phương tiện

không thần kì (chủ yếu là vàng), kí hiệu Z

0

. Ở công trình Cổ tích

20

thần kì người Việt, đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Tăng Kim Ngân cho

biết: cÊu t¹o cèt cña truyện cổ tích thần kì người Việt, ë chức năng

14 xuất hiện các nhóm: Z

1

, Z

2

, Z

4

, Z

5

, Z

6

, Z

7

, Z

8

, Z

9

; ngoµi ra cßn có

nhóm biệt loại và kí hiệu Z

v

. Nội dung của nhóm này là: bản thân

nhân vật chính có phương tiện thần kì (sức khoẻ, phép màu) từ trước

chứ không phải trải qua sự thử thách của người cho mới có được.

3.3.3. Khảo sát yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người

Việt ở Nam Trung Bộ theo lí thuyết hình thái học truyện cổ tích

của Propp

3.3.3.1. Cách tiến hành, kết quả khảo sát và một vài nhận xét chung

Khảo sát 20 truyện cổ tích thần kì ngườ

i Việt ở Nam Trung

Bộ, chúng tôi có kết quả: chức năng số 14 gồm 8 nhóm với tần số

xuất hiện 28 lần, cụ thể: Z

1

: 11 lần/8 truyện; Z

2

: 4 lần/4 truyện; Z

4

: 1

lần; Z

5

: 3 lần/3 truyện; Z

6

: 3 lần/3 truyện; Z

7

: 1 lần; Z

8

: 1 lần; Z

9

: 1

lần; cổ tích thần kì người Việt Nam Trung Bộ cũng có nhóm biệt loại

Z

0

, Z

v

. Ngoài ra còn có nhóm biệt loại Z

y

. Nội dung nhóm này:

những sự vật, hiện tượng gắn bó với nhân vật chính, của nhân vật

chính (quần áo, mũ nón, lời nói) tự thân có tính chất thần kì.

Giữa kết quả khảo sát của chúng tôi và kết quả nghiên cứu của

hai tác giả Trần Đức Ngôn, Tăng Kim Ngân giống nhau ở chỗ đều

không có sự xuất hiện của nhóm Z

3

: Phương tiện thần kì được nhân

vật chế tạo. Sự vắng mặt nhóm Z

3

là một dấu hiệu về cái riêng của cổ

tích thần kì người Việt trong cái chung của cổ tích thần kì thế giới.

Yếu tố thần kì trong tài liệu A (của Tăng Kim Ngân) vắng bóng

nhóm Z

y

, nhưng nó lại có mặt trong tài liệu B (Nam Trung Bộ) là

biểu hiện sự tồn tại đa dạng trong thống nhất của yếu tố thần kì trong

cổ tích thần kì người Việt.

21

3.3.3.2. Khảo sát yếu tố thần kì trong một số truyện cụ thể, theo lí

thuyết hình thái học truyện cổ tích của Propp

Sự tích Bàu Hương: phương tiện thần kì xuất hiện hai lần và

trong hai lần xuất hiện, các phương tiện thần kì cùng một nhóm, đó

là nhóm Z

1

. Cứu vật vật trả ơn: phương tiện thần kì không cùng

nhóm xuất hiện hai lần. Đó là nhóm Z

4

và nhóm Z

1

. Chiếc gậy thần:

phương tiện thần kì xuất hiện ba lần và trong các lần xuất hiện,

phương tiện thần kì thuộc các nhóm khác nhau: Z

v

, Z

2

, Z

8

. Ba anh

em chôn xác cha: phương tiện thần kì xuất hiện bốn lần, trong đó có

hai lần thuộc nhóm Z

1

, một lần thuộc nhóm Z

2

và một lần thuộc

nhóm Z

7

. Đây là truyện có phương tiện thần kì xuất hiện phức tạp, kì

lạ. Cái lưỡi chết biết nói, Anh bán than lấy nàng công chúa: phương

tiện thần kì xuất hiện thuộc nhóm biệt loại Z

y

.

3.4. Về nét riêng của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì

người Việt ở Nam Trung Bộ

Truyền cổ tích thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ không có

hình ảnh ông Bụt (khác với truyện cổ tích thần kì người Việt ở B¾c

Bé vµ Bắc Trung Bộ). Một số truyện mang yếu tố thần kì trực tiếp

trừng phạt nhân vật tuyến ác nhưng không phải là nhân vật trung tâm

truy

ện đã mang lại cho truyện cổ tích thần kì người Việt ở vùng đất

này một tỉ lệ truyện nhất định có kết cấu lỏng lẻo (Sự tích Bàu

Hương, Chiếc gậy thần, Ba anh em chôn xác cha…). Theo lí thuyết

hình thái học truyện cổ tích của Propp, truyện cổ tích thần kì người

Việt ở Nam Trung Bộ xuất hiện nhóm phương tiện thần kì biệt loại

Z

y

(khác với truyện cổ tích thần kì nói chung). Trong số truyện có

yếu tố thần kì trừng phạt nhân vật tuyến ác là nhân vật trung tâm tác

phẩm mang kết cấu tương phản có 75% truyện mang nội dung phản

ánh xung đột gia đình (anh chị em ruột với nhau) (khác với truyện cổ

22

tích thần kì người Việt ở Bắc Trung Bộ và Nam Bộ). Đó là những

biểu hiện chủ yếu về nét riêng của yếu tố thần kì trong truyện cổ tích

thần kì người Việt ở Nam Trung Bộ so với yếu tố thần kì của truyện

cổ tích thần kì cả nước.

KẾT LUẬN

1. Trong truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ, hầu hết

yế

u tố thần kì của truyền thuyết địa danh tự nhiên được xây dựng

thành hình ảnh trung tâm và có vai trò chủ yếu là linh thiêng hoá các

địa danh. Yếu tố thần kì trong truyền thuyết phong vật phản ánh đời

sống tâm linh – tín ngưỡng của người Việt ở Nam Trung Bộ. Trong

truyền thuyết nhân vật, motip sinh nở thần kì hầu như ít được sử

dụng; chiến công của nhân vật anh hùng chủ yếu là do họ có sức

mạnh phi thường tự

thân; hiếm có những hình ảnh về sự hoá thân

theo kiểu nhân vật Thánh Gióng, An Dương Vương, Bà

Trưng…trong truyền thuyết người Việt ở Bắc Trung Bộ; đặc biệt,

khi sử dụng motip hoá thân để xây dựng hình tượng nhân vật, tác giả

dân gian Nam Trung Bộ chưa chú ý đến tính nhất quán của nó…

Thiên nhiên, lịch sử và văn hoá Nam Trung Bộ đã tác động,

quy định nét riêng cho yếu tố thần kì của truyền thuyết người Việt ở

Nam Trung Bộ so với yếu tố thần kì trong truyền thuyết người Việt

cả nước rất rõ. Nét riêng của yếu tố thần kì trong truyền thuyết người

Việt ở Nam Trung Bộ dễ làm cho chúng ta đi tới nhận định: so với

truyện cổ tích thần kì, truyền thuyết người Việt có nhiều biến đổi

hơn, khi được sáng tác và lưu truyền trên vùng đất phía nam Tổ

quốc. Sự biến

đổi của truyền thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ

giúp chúng ta có thêm bằng chứng cụ thể, sinh động về sự đa dạng

của văn hoá dân gian – bộ phận nền tảng của văn hoá Việt Nam. Đặc

biệt, có không ít yếu tố thần kì trong truyền thuyết người Việt ở Nam

23

Trung Bộ, nếu so sánh với yếu tố thần kì trong truyền thuyết người

Việt ở Bắc Trung Bộ và Bắc Bộ thì chúng bộc lộ rõ nét khác biệt;

ngược lại, nếu so sánh với yếu tố thần kì trong truyền thuyết người

Việt ở Nam Bộ thì chúng cũng bộc lộ rõ điểm tương đồng. Đây là sự

minh chứng cụ thể và sinh động về vai trò “trung chuyển” của truyề

n

thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ đối với quá trình chuyển di từ

Bắc vào Nam của truyền thuyết người Việt. Vai trò ấy của truyền

thuyết người Việt ở Nam Trung Bộ là một trong những minh chứng

tiêu biểu về vai trò “trung chuyển” của văn hoá dân gian người Việt

ở vùng duyên hải này đối với quá trình chuyển di từ Bắc vào Nam

của văn hoá dân gian người Việt nói chung.

2. Trong truyện cổ tích thần kì ng

ười Việt ở Nam Trung Bộ,

tần số xuất hiện của yếu tố thần kì dạng hữu hình rất cao (92%);

ngược lại, tần số xuất hiện của yếu tố thần kì dạng vô hình rất thấp

(8%); hầu hết yếu tố thần kì thuộc tuyến thiện. Vai trò chủ yếu của

yếu tố thần kì là trợ giúp nhân vật tuyến thiện, trừng phạt nhân vậ

t

tuyến ác và giải quyết xung đột truyện. Theo lí thuyết hình thái học

truyện cổ tích của Propp, yếu tố thần kì của truyện cổ tích thần kì

người Việt Nam Trung Bộ xuất hiện ở chức năng số 14 trong cấu tạo

cốt truyện: Phương tiện thần kì được nhân vật chính sử dụng gồm 8

nhóm: Z

1

, Z

2

, Z

4

, Z

5

, Z

6

, Z

7

, Z

8

, Z

9

. Ngoài ra, còn có nhóm biệt loại

Z

0

(Trần Đức Ngôn), Z

v

(Tăng Kim Ngân), Z

y

(kết quả khảo sát của

chúng tôi).

Giữa yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người Việt ở

Nam Trung Bộ và yếu tố thần kì trong truyện cổ tích thần kì người

Việt ở Bắc Trung Bộ và Nam Bộ vừa có nét tương đồng, vừa có

điểm khác biệt; vµ ®iÓm t−¬ng ®ång lµ chñ yÕu. Điều này cho thấy

tính ổn định của truyện cổ tích thần kì người Việt, khi nã

được

【#7】Tên Người Yêu, Vợ Biếm Họa Trong Điện Thoại Của Giới Mày Râu

– Em toàn lưu người yêu dưới dạng số đếm 1,2,3…cho dễ nhớ ạ

Con ngáo. Giờ thì nhiều quá nên cũng đánh theo số kiểu như. 1-Hang. 2-Ho….

Cục tạ

Rau tươi

– người yêu mình đặt là : (^_^), đầu danh bạ luôn

em yêu

my love, my angel, my sweetheart, my princess

sói

sói già gian ác

cô chủ nhỏ

Ká sấu hoặc Lacoste

Ko nghe chị giết

cú mèo bé nhỏ của anh

em hàng xóm

007

113

God-mother

Bà trẻ

Em không để tên gì cả…..vì không có

Cá Mập

Quả dưa bở

.Chồng iu 😡

.Anh iu .Cục cưng .Honey

thêm dấu . ở đầu để ấn phát ra luôn list bồ

Máy bay

old plane !!!!!

“Máy bay 1…”

“Máy bay 2…” “Máy bay n…”

VietNam Airline 001

VietNam Airline 002 VietNam Airline ….. ……………….. n

Bluetooth

Hàng

– Ông bác mình lưu số điện thoại của bác gái là: về nhà ngay

– lưu là … (ba chấm)

– thằng bạn mình thì lưu là vợ tao

– ” CLGT” – (Sặc ! Bậy quá nha ku) – Đó là câu đầu tiên em nói với vợ em anh ạ. Đẹp quá nên em buột mồm nói : CLGT ! Tới bi giờ vợ em vẫn hỏi CLGT là gì

– hehe! mình để là: CN (của nợ)

Behemoth

– Em để là: cái đuôi, để được hơn năm nay rồi

TY thôi, đơn giản dễ nhớ, 2 ý nghĩ

heo tủn. Sao ko ai để là Thị Nở nhỉ?

Mẹ Đốp

– Có lần lưu tên nhỏ lớp trưởng là Bà xã, bữa đi tắm thì mẹ cầm đt chạy ra gõ cửa “Nhanh đi con, bà xã đang gọi” . Nay hết lưu tên đó rồi, lưu thành Đít bự

– Ngày xưa thì là Honey, giờ thì là Mèo con

– ” Vip Day Nhe” tự ny edit!

Devil. Bị vợ giận suốt 1 tuần vì cái kiểu để tên này

Ổ cắm USB

Ko lưu, để nhớ số luôn

– cơ mà em lưu là x khi bắt đầu quen. Đến khi tay chân thám hiểm đc rồi thì đổi thành xx. Và khi *** rồi thì đổi thành ***

– Để tên vợ là $$$$$$$$. Vì cứ gọi là hỏi tiền chứ chả hỏi gì khác!

ca chua iu (hê hê nhưng mới xóa khỏi danh bạ rùi)

– Danh bạ thì ny xếp 1st: My angel

Bây giờ đổi qua thành ” Meo to“, dễ hiểu hơn!

m1(bởi vì hơi thấp)

– Gf mình tự đặt trong máy mình là : em nhớ anh. Theo logic của ẻm thì đặt như vậy , khi nhớ khỏi cần nt, nhá máy là đc, đỡ tốn tiền

NPC

– Người yêu em sinh năm hợi, người hơi béo, nên em để là “ LỢN TO“, đến lúc đổi bb thì nó hiện thành ” LON TO“. Ai cũng hỏi, m có hàng gì đặc biệt thế

– bây giờ đang đặt là: LỪA ĐẢO !

– em để là ” OSIN“, thế cho nó lành

– ko ai đặt là LEGO nhỉ

– Từ lúc yêu đến lúc cưới đến giờ có con rồi vưỡn là Gấu mẹ, xì tin kô

Đỉa

– đôi khi hứng lên thì lưu = biệt danh của ngta: vịt, heo xề…

Ngân hàng

-CH4- Vừa cứng vừa nhiệt 😡

Mẹ kế

Iu nhất quả đất

…Mẹ trẻ …

– Ông anh kể, ông đặt là ” Girl“. Đến lúc ẻm gọi, máy nó hiện “Call Girl”

– em thì đặt là Paradise

crazy girl

Vợ nhặt

– Mình để là Cỏ mềm .. vì cả 2 đứa đều thích bài “cơn mưa tình yêu”

một dãy space

– đôi khi đổi hứng tí, lưu là ng xa lạ

– Điện thoại thì giờ em đổi lại thành tên, chỉ nhớ trước trong list YH để là ” Vợ đít toa

– Mình để là little lover

cháu bộ trưởng!

– Hồi đó em nó lấy máy mình ra nghịch đặt là ** My Love**, mình bỏ ra đặt lại trêu là ** My Ass**, bây giờ làm lính phòng không rồi

Dis mia lai goi

Khỉ cái

– hị hị, em đây thì có muốn lưu khác cũng ko dc. MyGirl !

– mình lưu là một dấu chấm, bây giờ đã chấm hết, đúng thật

– Mình để 900 hoặc 18001090 …. Cứ như nhắn tin với tổng đài ấy

bé lôi thôi

– Em lưu: Tên – Ngành học

Còn bạn? Bạn để tên người yêu trong danh bạ điện thoại như thế nào?

“Hỏi sao lại lưu tên vợ như thế, thì ông ấy bảo ‘đúng là số điện thoại khẩn cấp còn gì. Em chả là cảnh sát suốt ngày muốn theo dõi nhất cử nhất động của anh sao'”, chị Ngọc (Giáp Bát, Hà Nội) kể. Trước đây, hồi mới yêu, anh thường lưu tên chị là “Mun yêu” rồi “Bé cưng”. Khi cưới, tên này được đổi thành “Vợ iu”, có con rồi là “Mẹ Mướp” và sau đó là V26, giờ thành 113.

“Hồi đặt nick V26 mình cũng không hiểu gì, tìm kiếm trên Google thì ra là ‘Cục quản lý trại giam’, tức điên người. Lần này ban đầu cũng ấm ức, nhưng sau chẳng thèm quan tâm nữa. Đã vậy mình đổi tên ông xã trong điện thoại, từ “Chồng yêu” thành “Của Nợ” cho bõ ghét”, chị Ngọc nói.

Xung quanh chuyện vợ chồng đặt tên nhau trong điện thoại cũng nhiều chuyện cười ra nước mắt. Bên cạnh những cách gọi quen thuộc như Chồng/vợ yêu, Anh/em yêu, Bố/mẹ Tun (tên con)… là vô vàn những nickname mà chỉ người trong cuộc mới hiểu.

Chị Nhung (khu tập thể Đồng Xa, Hà Nội) cho biết, tên chị trong máy của chồng được đặt là Thị Nở. Dù vậy chị không hề thấy buồn. “Anh xã tên Tùng, hay được mọi người gọi Tùng Phèo, còn mình toàn trêu Chí Phèo, thế là chàng đặt luôn tên cho vợ thành Thị Nở cho xứng lứa vừa đôi”, chị nói.

Trước đó, có lần xem điện thoại của chồng thấy có hàng loạt cuộc gọi từ một người có tên Hai Néo, chị thắc mắc đó là ai thì chồng đáp gọn lỏn “xem số đi, vợ chứ ai” rồi giải thích luôn “Hai Néo là Heo Nái đó, 2 lứa rồi còn gì”. “Mình chẳng hơi đâu mà đi giận chồng vì mấy cái chuyện đặt tên đó, quan trọng là biết ông ấy vẫn yêu vợ, thương con, hết lòng vì gia đình”, chị Nhung chia sẻ.

Cũng không ít cách lưu tên của các ông chồng khiến bà vợ nổi cơn thịnh nộ. “Bình thường mình chẳng kiểm tra điện thoại của chồng bao giờ. Hôm đó anh xã mượn máy mình gọi vào máy hắn để kiểm tra chuông, liếc thấy chữ “A Con Ma” đang gọi, mình giận sôi người. Sau đó, mình sửa ngay lại thành “A Vợ Con Ma”, chị Bích (Đoàn Thị Điểm, Hà Nội) kể.

Chị Loan (Khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính) cũng nóng mặt khi phát hiện chồng đặt tên mình trong điện thoại là “Shut Up” (Câm miệng). “Quả thực là mình cũng hay cằn nhằn hắn, nhưng đến nỗi nào mà chồng nỡ đặt cho vợ cái tên quá đáng như thế. Hóa ra mỗi khi mình gọi tới là hắn chỉ muốn mình im mồm đi luôn à”, bà vợ 36 tuổi bức xúc.

Khi đem chuyện này kể với mấy đồng nghiệp, chị phát hiện ra rằng cũng có những bà vợ được chồng đặt tên cho là “Osin”, “Sư Tử Thủ Đô” hay “Thèm Tiền”, “Khó Chiều”… “Bọn mình thì hết lòng vì chồng vì con, có khi quên cả chăm sóc bản thân, thế mà đều trở thành ‘ngáo ộp’ hết trong mắt các ông chồng. Thật chẳng còn gì để nói”, chị Loan bộc bạch.

Có những ông chồng lại lưu tên vợ thành những cụm từ đầy tâm trạng. Anh Trung (Phúc Diễn, Hà Nội) kể, hồi yêu và mới cưới anh lưu tên chị là “Honey”, sau này, thấy vợ ngày nào cũng gọi điện liên tục để kiểm tra chồng ở đâu, làm gì, anh đổi thành “Xin Đừng Gọi Anh Nữa”, “Vợ Ơi Đừng Gọi” và “Police” (cảnh sát) kèm theo hình ảnh mình đang ngồi sau song sắt.

“Thật ra đàn ông chúng tôi cũng chả mấy quan tâm đến việc lưu tên là gì đâu, nhưng nhiều khi bức xúc quá, hoặc có khi rỗi việc, nảy ra vài nick độc độc cho bà xã”, anh Trung kể.

Cũng như cánh mày râu, phụ nữ cũng dành nhiều cái tên “chẳng giống ai” để gọi chồng qua điện thoại. Những cái tên này cũng thay đổi tùy theo tâm trạng của họ hay tình trạng tình cảm vợ chồng.

Chị Huệ (Yên Hòa, Hà Nội) kể, chị đổi tên chồng trong danh bạ điện thoại liên tục: Lúc yêu là My Love, cưới nhau chuyển thành Chồng Yêu, sau đó là Bụng Bự rồi Bố Bệu và giờ là Về Ăn Cơm. “Bây giờ mỗi lần gọi điện thì chỉ có việc hỏi xem đang ở đâu, gọi về đến bữa, nên đặt thế cho tiện”, chị Huệ nói.

Chị Hà (Tô Hiệu, Hà Nội) kể, sau một lần hai vợ chồng cãi nhau, chị đổi tên chồng trong danh bạ từ “Anh Yêu” thành “Hết Yêu”, ngay hôm sau chị thấy nick này đã được đổi thành “Anh Mãi Yêu Em”. “Vẫn đang giận nhưng cũng không nín được cười. Hắn láu cá lắm, đã lấy máy của mình để tự sửa lại”, chị Hà kể.

Theo Thethaohangngay

【#8】Emhhhhmhhhhhmu Mhieeiieeeihhe Iiiiiiiiiiiiii Eheeeihheiheee Eeiheli~Lliiee Eieeeiieiieeil

1 D PULSED POWER BIBLIOGRAPHY VOLUME 2 ANNOTATED 1/3. BIBLIOGRRPHY(U) AIR FORCE WEAPONS LAB KIRTLAND AFB NM J BEMESDERFER ET AL. RUG 83 -FWL-TR VOL-2 UNCLASSIFIED F/G 20/5 NL Emhhhhmhhhhhmu mhieeiieeeihhe IIIIIIIIIIIIII EhEEEIhhEIhEEE EEIhElI~llIIEE EIEEEIIEIIEEIl

2 pl Ilil 2 IIIII IIII O MICROCOPY RESOLUTION TEST CHART NATIONAL BIREAU OF STANOARDS-1963-A o1

4 77 * AFWL-TR This final report was ppared by the Air Force Weapons Laboratory, Kirtland Air Force Base, New Mexico, under Job Order CA. Lieutenant Colonel Winston K. Pendleton (CA) was the Laboratory Project Officer-in-Charge. When Government drawings, specifications, or other data are used for any purpose other than in connection with a definitely Government-related procurement, the United States Government incurs no responsibility or any obligation whatsoever. The fact that the Government may have formulated or in any way supplied the said drawings, specifications, or other data, is not to be regarded by implication, or otherwise in any manner construed, as licensing the holder, or any other person or corporation; or as conveying any rights or permission to manufacture, use, or sell any patented invention that may in any4 way be related thereto. This report has been authored by employees of the United States Government. Accordingly, the United States Government retains a nonexclusive, royalty-free license to publish or reproduce the material contained herein, or allow others to do so, for the United States Government purposes. This report has been reviewed by the Public Affairs Office and is releasable to the National Technical Information Service (). At, it will be available to the general public, including foreign nations. If your address has changed, if you wish to be removed from our mailing list, or if your organization no longer employs the addressee, please notify AFWL/CA, Kirtland AFB, NM to help us maintain a current mailing list. This report has been reviewed and is approved for publication. FOR THE COMMANDER WINSTON K. PENDLETON ARTHUR H. GU NT ER DO NOT RETURN COPIES OF THIS REPORT UNLESS CONTRACTUAL OBLIG;ATIONS OR NOTICE ON A SPECIFIC DOCUMENT REQUIRES THAT IT BiE RETUJRNED.

5 DISCLAIMER NOTICE THIS DOCUMENT IS BEST QUALITY PRACTICABLE. THE COPY FURNISHED TO DTIC CONTAINED A SIGNIFICANT NUMBER OF PAGES WHICH DO NOT REPRODUCE LEGIBLY.

6 AD-A Pulsed Power Bibliography Volume II of II Annotated Bibliography Air Force Weapons Laboratory Kirtland Air Force Base, NM Aug 83

7 UNCLASSIFIED SECURITY CLASSIFICATION OF THIS PAGE fwhen D al. Enstred) READ INSTRUCTIONS REPORT DOCUMENTATION PAGE BEFORE COMPLETING FORM I. REPORT NUMBER 2. GOVT ACCESSION NO. 3. RECIPIENT’S CATALOG NUMBER AFWL-TR-83-74, Vol II of TITLE (end Subtitle) 5. TYPE OF REPORT & PERIOD COVERED — PULSED POWER BIBLIOGRAPHY Final Report Volume II – Annotated Bibliography 6. PERFORMING ORG. REPORT NUMBER 7. AUTHOR(,) Editors: S. CONTRACT OR GRANT NUMBER(s) J. Bemesderfer A. H. Guenther W. K. Pendleton R. L. Druce M. Kristiansen B. Frantz J. P. 0’Loughlin 9 PERFORMING ORGANIZATION NAME AND “ADRESS 10. PROGRAM ELEMENT. PROJECT, TASK AREA A WORK UNIT NUMBERS Air Force Weapons Laboratory (CA) Kirtland Air Force Base, NM F/999300CA II. CONTROLLING OFFICE NAME AND ADDRESS 12. REPORT DATE Air Force Weapons Laboratory (CA) Kirtland Air Force Base, NM August NUMBER OF PAGES 14. MONITORING AGENCY NAME & ADORESSfti different from Controlling Office) 15. SECURITY CLASS. (of this report) Uncl assified 1Sa. DECLASSIFICATION ‘DOWNGRADING SCHEDULE 16. DISTRIBUTION STATEMENT (of this Rep.r; Approved for public release; distribution unlimited. 17. DISTRIBUTION STATEMENT (of the abstract entered :n Block 20, If different from Report) 18. SUPPLEMENTARY NOTES This report consists of the following volumes: I. Indices II. Annotated Bibliography 19. KEY WORDS (Continue on reverse side if necessary and Identify by block number) Pulsed Power Breakdown Studies Diagnostics Energy Storage Insulation Particle Beam Generation Power Conditioning Switching 20. ABSTRACT (Continue on reverse side If necessary end Identify by block number) Pulsed power and high-voltage technologies are playing an ever increasing role in weapons’ effects simulation, fusion power research, power distribution, materials processing and medical research. It is a rapidly expanding field of applied physics as evidenced by the growth in published literature. Three years ago, the Air Force Weapons Laboratory (AFWL) initiated a project to compile a computerized data base of pulsed power research papers. on our IBM System The data base is stored This AFWL Technical Repor, is the first release of the (over) DD jan EDITION OF I NOV 5 IS OBSOLETE UNCLASSIFIED SECURITY CLASSIFICATION OF THIS PAGE (When Dae Entered)

8 UNCLASSI FIED SECURITY CLASSIFICATION OF THIS PAGE(When Data Entered) 20. ABSTRACT (Continued). bibliography to date. It contains about 2,500 full bibliographic citations, original sources, availability, key words and abstracts. There are three indices: Subject, Personal Author, and Corporate Author. There are 30 “lain subject headings, from Breakdown Studies to Switching. The indices are contained in Volume I. Volume II contains the citations. In addition to these entries, the data base contains about 7,500 additional titles. As these titles are added to the full bibliography, they will be published. UNCLASSIFIED.FCuITY CLASSIFICATION O T 1 ‘AGEihern Data Enterea.

9 II I] NOTICE THIS DOCUMENT HAS BEEN REPRODUCED FROM THE BEST COPY FURNISHED US BY THE SPONSORING AGENCY. ALTHOUGH IT IS RECOGNIZED THAT CERTAIN PORTIONS ARE ILLEGIBLE, IT IS BEING RELEASED IN THE INTEREST OF MAKING AVAILABLE AS MUCH INFORMATION AS POSSIBLE. IL S1

15 (SWITCHES, CLOSING) CEERSY STORAGE. MECHANICAL; PULSE GENERATORS) IThyratrens) (Rotating Machine,; Rotating Mechinesi FAGE MUNTING CLASS ENVELOPE HYDROGEN THYRATRONS beta 7ED DESIG N FABRICATION AND TESTING OF AN ENGINEERING PROTOTYPE L.J. Kettle C.V. N ING Gld. CPPENSATEO PULSED ALTERNATOR English Electric Valoe Co Ltd. Chelmsford. Essex. UK chúng tôi and H.H. Woodnon IB Th chúng tôi Me aor Symposium, PP (06/1978). Univernity of Tones at Austin. Austin. TX 772 The stacked takon d grid rido n and d O anode assenbly of conventional ceramic LLL Final Report on Contract W-CS-E:G-N, 103/1RRI). r.seiocr eth nodthe dosgn, fab-cation, and test results of tromponsaeo a prototype culsed alternetor which in as are large as that discussed. in a glass envelope tube. In consequence. The proottype uhen a trip or citk-out occurs in Many pulse modulator applicaticns., conculsator oetn reueedsletpl in a vertical shaft chúng tôi ttr Phase h alternator ahc with sdsge a Irot.c the *nllow through nirrest nov cause a ceramic to thyratron quonch drive a fnrlow rep rote pulsed duty end i~s nived O codified 1a cc nhating Armatu-a and salient pole stler dh ‘sh 9,:esgnd and cnndect in a.etellic spa-k code, thus causing irnepureblo danage Peta eplfior. The loud consists of sixteen 1S im x 20imm x Ill cc to itself. The caper describes recently develoced hydrogen thyretrons long uenon flusnlemps connected in parallel. The prototype which ocsbne the edantages of the oon structured glas envelone. r g r a it cr at tubes, capable of hig:h anp. second ratings for their size, wth the dmu or dgnerpued 50 on. At motnee of 6 kv, te Hertal conentional low inductance flange sountings normally associated In-q with v snored st-e in n Oh’ h opusor. of nto 0l oo t. ‘a i 0 4. MJ…d ItRelI thji. IF ceranin enuoloie tubes. hon used in simple low inductance housing. Prin-y Keywords Conoulnatcr; High power; Larirated rotor; these tutes ape cucable of handlino rates of rise of current in CumPse w htaeg fu deit chúng tôi of 53 k/c u-e-d. 2 Tine vryino armature, ircuit Primary Kcwrds: Glans Pulse Thyratron; Low Inductance; Fast Rise; Long Secondary S~nayKvod:Plesaig Keywords: Pulse shaing; Simulatto; iua~n Magnetic antcfedmptg field canning, C PYRIGHT: 1078 IEEE. EEPRINTED WITH PERMISSION wih ear o hir 2510noe i WSITCHES, (S.JITEHES. CLOSING; SWITCHES, OPENING) CLOSING) WOTHN CAPTuINLTESTHYRA HIGHi IOE WITCH ING C APABILITIES H. eonadc e! S FOt SHORT PULSE LASER CIRCUITS Bulk.,. M_ Krit Pornoy and g. ooler Enlilsh Electric Value Co Ltd. Chelnsford. Essen. Ut Te~ eh ~estlubbock, TX ‘94,1 1 E9,U SIEEE Thirteenth Modulor Symposium, SyPosum c Pp c ITH (06/197).9) 106/197t1. lee The Thrtenth nuentional Modulator chúng tôi Syposium is a uniidinentional swith; /17. therefore co-ab~it if o Ias o e e rh rderiands (ergeounront renerstls in many short nilse end liuntine. rop tion The vate. scenific nurreut switches r ise nine. cohloag coulombre Noodliatrng pndlng capaurre caailturface,. t guise lusy, causes d-iurs) nctall arc cocautter back.-positive inn ahch soon ion leafs sri,..on to ca of dradaton the ecode c.t r Vtfirds R’,), vnn… tb thlyd, rtairs ntrons SEs, vacu at s.qiign n enrd on f forwards voitag hod-off. A I to ow range of tubes described which lasma..,r gate. llnforn~t,0n -~ this stud;… obtained from te oen during the forword pulse t.ithin a’holl anular ape-tured a~oda.,ta~tu-e. Emphasis s -oacuoen lacz on a s~itches wityheencapabilityouto capabi to handles.t d 1e ruccu-e. it is shown that by careful design of the orid/anad Prs-ay Kny”ords. Rev.e.;ThyramronThyrlto ReVs.u from th open goetrc, a form of bi-directional 1.r..iteuin oeration, without tbysntir~ loss of forward s Sc crue I it o ; olage hodoff, can be obtained. Information is given concerning C PYRIGHT: 1978 IEEE, REPRINTED WITH PERM IIN dircutt :ui~abl, fo prtn hs hyretron. Pi~plvi prde P to..v~ prbe soiaed It h chúng tôi time.. 0 Refs. Primory Kcywo ds: chúng tôi Operation; Short Ceramic Thyratr.n; Pulse 20!S’AITCHES, CLOSING; PULSE GENERATORS) Scondary Keywords: Gas Laser Puming COIP(RIGHT: 1978 IEEE. REPRINTED WITH PERMISSION Thyralrgms; Capacitine) HSG-PWER. HIG-REPETITION RATE PULSER FOR PHOTO-IMPULSE IONIZED LASERS VIE Merchant. HIJ.J. Seain and J. Sow University of Alberta. Edmonton. Alberta. Canada 257 (PULSE ENEPATOSI The Reciew Of Scientific Instruments. Vol. 49. Ne. 12. pp (Line Typol (I 12/1978). A 1200 MEGAWATT VAN-MOURTED LINE-TYPE MODULATOR The design end operational parameters of a high-power Pulser PAh Corbiere, RE. KoIbas and J.J. Moriarty suitable for a photo-impulse onined laser are psented. The Raythen Co. Dedford. MA relatively compact decice utilizes a ceramic thyratron in a triggered 170 IEEE Thirteenth Modulator Symposium op (06/197). rasonant charging circuit. Efficient operation at repetition rates up A line-type modulator is described which Operates free a 616) V AC ho to khz. with Pulsed powers n encass of 2 MW end average powers of source and delivers repetitine 12 kj pulses to a remote load. The snuer” ki ilwats hen been achieced. 9 Rnfs. module end its controls are self-contained in a 45 foot long Prmary Key-yrds: Thyratron; C’axal Mount; Low Inductance; Compact enuironmentally controlled, trailerable non. The pulser is coeprised COPYRIGHT- Construotion; Low Energy; Rp-rated 1978 AMERICAN INSTITUTE OF PHYSICS, REPRINTED WITH of fourteen thyratron-suitched modulators, command-charged free a common source and coupled to the load by means of a single output PERMISSION transformer and cable. est equipment has been devaloped which providem system shutdown and fault Identification in the event of thyratrun malfunction, load fault or choreing imbalance. The module 244 has been operated into a rosistive load at the following levels: (SWITCHES. CLOSING; BREAKDOWN STUDIES) Outi Voltuge kv Energy per Ple – 12 Al. Pulse Repetition IVacacs laps. Electrical; Vacuum. Electricel) Rate – 5 gle Shot to 25 pos, Burst Duration – 15 s, Pulse Duration – ELECTRON CURRENT IN DELAYED TRIGGERING OF HIGH-VOLTAGE, HIGH-VACUUM PULSED DISCHARGES I microseconds and 20 microseconds. I Rafs. Primary Keywords: Lime-Type Modulator; Pertable; Hydrogen Thyretron; 0.1. Volkoc, V., Glasko., A.O. Dmitriev, A.. Korshunov and E.M. High Voltage; System Protection; Command Chsrge; Re i hrude 1 Modular Construction; Ro-rated Moscow State Aminersity Moscw., USSR COPYRIGHT: 197 IEEE, REPPINTED WITH PERMISSION Snuiet PhVsos-Technical Physics., Vol. 16. No. 10, pp (0114/972). Trans. From: Zhurnal Tekhnichaskoi Finiki lootobar 1971) A modal for the disintegration of metal vapors is used to find the 259 COMPACT MEGAWATT AVERAGE POWEL PULSE GENERATOR daoium density of the electron beam imoingqing o the anode in I.E. Credon. J. McGowan. 6.J. Buffa end S. Schneider delayed Snggering of a pulsed discharge in high vacuum. Cocuter calculations (uning en M-20) show that the maimum steble electron ECOe, Fort Monmoath, NJ Rosearch and develoment technical reap. Ho. DELET-TR-TE-26. 6p current density in a cold-cathode tube with a trigger electrode is an order of magnitude creeter than the electron current density fro a (1l/1978). tuailabilitv: AS-A065 I13/3ST thermionic cathode (anode-to-cathode distanced % 1 cc. nolta;e drop NIS between the electrodes U/sub 0/ u 3Q kg). Those results are feund to to ubstyavt uoilable. agree with cope-ert. A Ras. Priray re Purds False Generators; Modulators; Nigh Power Primr 0 Kevords: Vacuum Gap; Metal Vapor; Modeling; Electron Flow; Sacordory Keyanrdn: Mode; PFN(fulse Nurt Forming Netporks); HTISDODXA Numerical Calculation; Cold Cathode; Heated Cathode; Space Charge Neulralizat:on COPYRIGHT: 1972 AMERPCAN ONSTITUTE OF PHYSICS, REPRINTES WITH 263 PERMISSION (SWITCHES CLOSIR ) (Can Gaps. Electricell 246 LOW INDUCTANCE SPARK GAP SWITCH FOR %LUMLEON-DRIVEN LASERS (SIIYCNsJLOSING).W. KeIn. T.D Raymond and ST. Walsh (SITroS CSNUniversity (Tyaros he Revme of Of Teas Scientific at Austin, Instruments, Austin, V.o1 TX $1,’ NO. 1, pp NEW 0RVELOPMEHTS IN SUPER-FAST. HIGH-POWER, HYDROGEN THYRATRON SWITCHING It. Carist,. S. Frledman, S.S. Merz and DR.V Turouint T i e f I nn pp We report the d-mign of a low induotace spark gap switch for EGEO Inc. Salem. MA Elumlnin-driven lasers which is highly reliable under conditioms of IEEE Transactions On Electron Devices. Vol. ED-26. No 10 Pp hgh repettion rate and high averoge a. power. The reported opera a ga (1031,79 110/19TH).0nun ).n.p~,..u procidod reprodunible pulse ucueferes without maintenance for MEA Design criteria for hydrogen thyratrons operating at fast rates of shots in a Slunleic-driven nitrogen laser. When operated with currentp is l(di/do). high anode voitages, and high peak currents nitrogcn-5 0 /sub 6/ mioture in the laser tube, this laser provided have been theoretically end eaperimentally determined. The pproach peck ecss of 3 MW at S-ta repetition rate and an ecerage was to pide the inaastigation into two yasicareen ion tf 7. PIP The criteria oe:.e ofe at 120-Ha 1 HI recetiti-n reowrition rate,. re.t4 4tRfe re for achevilng high c’/dt ware first estabiished at relatively low coltges. Then the information necessary to incorporete features Pricary ceywords: Lru lnductonco; Copper Electrodes; Nitrogen Gap; Insulator Shield; Rep-rated; lumlein-lina promoting high di/dt into a high-collage structure was dtermi,ed. The principal factors affecting di/dt are the tute’s effctive COP’RIGHT AMiPICAN INSTITUTE OF PHYSICS, REPRINTED WITH PIPM)SS10. Inductance, the nature and rete of the plasma 0-vi and the manner in which poceuta lion s effected, The inductance aepends on the tubes geoetry and dimensions. PIano. chúng tôi is a function of geometry aid 2 gas pnsure. and must be controlled in a triggered and then ommutatos in the opt. such that,,t the tibn is chúng tôi fur hiiest (SWITCHES. CLOSING) “”i’ratron) di/.t. Pine feasible for rates properly on the designed ordr of tubes fe operating tes IE with A/ anode re voltages considered of ti ATOFRSOFUENPLE RE SE T ENYRATON EATI USING UIGLWCS LOW COST LSS L renv LOPE THYAR TROHS SO kv and peak currents of 10 ka. B Refs R L. Shelling (I), 9 P. Newton (2) and 1. Littleijood (2) 1). A. Andrews Tube Geosetry Priocr tewords” w High di/do. High Peak Current; I Essen, Ui. English Electric halve Ca Ltd. ChelsfordI CUPYRIDIT” Consideration,. Current Connu’tion; Roe-rated 19T9 IEEE. REPRINTED WITH PERMISSIo 11 Cerenlon Lab. Ocford, OR 1976 IEEF Pulsed Power Conferenue Proceedings. Paper 1B- (II I70. The froit edge sitching capability of glass thyratrens can be 7 antond mcny tines by snenial re-entront mountings and drive 27P T P NcircaUIn. The pu7r in ORTICIE a practical approach to the problems inoloed BraS. ELECTRON; POWER C NDITIN ;P ar contains muntog dails a-d circuits ( Er1ir Sytms for Puls soeific PUrsig Li es) tube, along SiUN FR A AESIGn M oi T N SIA TO A L FRAWATT c ith son.a enn.-1 thov. r Detailed which chúng tôi results are described the saitching of an capabilities of spark gaps A., StewaPt and GA H EAPN II ap glns l.yruyon, when used to d suhierge currents through a lesing HarryCia-sf Aolph, MT Los. )70)no’.n,JP-i on,i Sliun nifrpoen mioture. I Refs, Hoe Ren No. HSI-TM-TV-T TT2′ I Princra Rywcrh- Gn%, Thyratron, Fast Current Rise; Pulse Generator; RerY-t 4o. s4l HOT-Ti-7E I N 1IA31O 7TA.PEMIrSd COPYR7G., 19″k IF,’, kf cni/i PI Radar Establishment. Malern,. Worcestershire, UK 3756 ISWITCHES. CLOSING)!FEE 1973 Eleventh Moduletor Symposium pp. I 1,09/197D1. 7c desii,rnblens c 0 a lrge p ul dlater thyritor far 2 kv ISysbes I Eu erat ic at 3I microsecond Pulse length are discussed, and RAPID RECYCLE CROWBAR CIRCUITS eneinctel devices eye descr bed. The perfornacebtuinad is O.* Lyuta and TA. Wei, cnc..i with va chúng tôi altevatine devines both solid-state Raytheon Co. Waylend. MU 117A – g. _,nhw s.,efs IEEE 1973 Eleeth Moduletor Symposium pp. 21T-22 (0y1973). i-ivoj- a wiords: TFr tor Moduletor; Eponi ntel Device; Design Crewbar Circuits am used across gh voltage energy storage.. Prcblos. High Current. Nigh Speed capacitors emoloyad in the output sta0esn high power rnader E-lPuRnT 197 lee). REPRIRTE: WITH PERMISSIN transmitters. C oncen, tuna; h~gi viltaca poumi suenla ond croober cyst ens resume DEC-GO “ecyl i-un n the ridor n chúng tôi Circ. ts were -,died wich ci wi all the -eden tivnitter to be brought back ‘ aie cithina chúng tôi microseconds alter a slut tube fault condition To Casio ciru:ts er tested In Rho fis’ (n., 15 OcNEVATTRST kind of circut. the c.cacitcy hnhn energy is dissipoted. as in nard-tuhci -onvantional croeba, crcuits. ad the henk is ihan awickly renheroed TeAStl S-BAND TRANSMITTER MODULATOR from nothr nanacitor. chúng tôi ti s. tnd kin- circ’jit. t hen.rv.. in% N -slhe caoni.p. ba ae ta-roriy eturad in -C rc., ye’rsadroiprity cc ta1 ta0e1,cn- NJ 0DS Sane ooantnr….. and chúng tôi -etrnod t,’ nom -eausth laity in restore Iti AI Mi-tvlotor Symposium op. AI-b7 t0lirt1i. operation The tests snowed thet bth inds 0 iurhe TRADc 5-Dand t anmitten nodlator is a direct s*riescewpled a prof e’e ce for the t (ikni. dsscr, ted ote Fither cora is tlotngade moiiulaere emnlying three L5097 Beam Switch Tubes in a needed en switching t es Pr this al to, and it r,is idice. Th dul r ll be dete red how fast uota ue b be neapii _ctually ad RFdutyof f tube after an arc ttot cousino it to arc n 7 f 0 03 eandtos a re -Oo. le vel of It at e a duty of PGay.y!a Cnc.)i~itvr -o’ et Sac. Sen nrrgglieo icn The 1N7 IEE PErsi;-e (s Ti PETTShot, R5 vtm hrnt -mndc upup fnim5 cn at gencrote vernicus PR)s a -d n c range llows of for single-pulse cnn timeous or COPYRIGH 1973f Iou : W11 oun n a minnyn a ithicut intorruct en of data..eccnnt ~rro’t coiactrisiic of the 951 provides flat-tee.. nti egui–,i fretures and fault current 1mit,ng 0 -a../ er irs tncn So ich ltbe; Paralleled Sitoch Tubes; Vria1le iijno cdii,51

85 – – 40H3 I94 IRFERKOOWN STUDIES) (POWER CONDITIONING) (Vanuum. Partiula) (Pulse Transfrmrsl EFFECTS OF PARTIICLS IN HIGH-VOLTAGE VACUUM BREAKDOWN AND ENERGY TRANSFER FROM A LOW-VOLTAGE CAPACITOR SANK TO A HIGH INDUCTANCE INTERELECTRODE CURRENT WITH THE AID OF AN AIR PULSE TRANSFORMER J.J. Malay E. r.-anraha (I) and A. Ginebure (21 RCA Corp. Lancaster, PA I) Sores Nuclear Research Center, Yanh, Israel Journal Of Vacuum Science And Technology, Val. 11, No. p. cc RN2B9O I ) Habrew University. Jerusalem, Israel ( /97)I. J. Phys. E. Vol. II, No. N pp /1978). The effect of both dielectric and conducting microoarticles on A method for transferring energy from a Capacitor bank to a high vacun, tu%, breekdcwn voltege are cons dared. It is found that inductance load using cn air culse transformer is described. A insulating particles ca.g reduce brekdown voltage by il0 while transf ormer it” a coupling constant of 97, which allows energy conducting particles. tyvically redoce the breakdown noltage by Nt. – transfer efficiency of better than St, is shown to be to It is also shown chúng tôi that it is fairly siecle to condition stainless construct N fefe. n t erl alectro de contaminated by dielectric articles. Conducting Prmay Keywords Pulse Transformers; High Energy; Tesle Transformer; pertoes, on tne other hand, cauneiitennive arcing and ara very COPYRIGHT: High EffIciencv 1978 THE INSTITUTE CF PHYSICS difficult to remove. 10 Refas. Prionry Keywords: Mc-onarticle; Dielectric; Conducting; Effect On Breakdown; Voltage; Conditioning; Stainless Steel Electrode BREADOW ERPYRIGHT THE AMTERICUN VACUUM SOCIETY REAKDOWN MECNANIM OF LASER-TRIGGERED SPARK GAP IN NONUNIFORM FIELD. TRIGGER EFFEUT AD TIME-LAG CHARACTERISTICS 4043 IBREAKDOWN STUDIES) 39R7 (Solid Electricol (SWITCHES. CLOSING) ISVESTVTTHa OF BREAKDOWN AND RESISTIVITY STRIATIONS IN HIGH-VOLTAGE lgan Sans, na’ e _ ) A. Mchlbaoer. F. Sedlak end P. SILICON Voss DIODES THE HOT-WIRE TRIGORED SPARK GAP AT VERY HIGH VOLTAGES SiecMn AG. Munchan. FRO T.R. Aroadnnt end ANN.. IhlanOS -A.M-hr R Unern r otf chúng tôi M hlach Jourca I f The Elootrochmical Society; Solid-etlate Science And B i si e. V o 13,hesSeb -ashei tter:tup Techn l ogy. Va l. 122, No. 8. op I I 1 1 U/ ritish yoran of te rot-wire ereil p g cc at1cltaes. The parer psents ecperi ments in which te relationship between to V. g c t %micoscopc resistivity caritions and the breakdown behavior of gma e cn u o ds b hioh-vola diodcs nod 0 ron silicon wefern cot parallel to the rod OAe effect of the hot wre s to lower the breakdown caltage of the Cyin is ntcood. The oreacdcwn pattern was found O be striated. gap by as much an half. Optical Then”mene hi occur in the gao when Where Shore were reglr I fluutoatios in the renitivity, breakdownn ponitine oolteee is.aolied are di chúng tôi Ref occurred at microscoic ressti,ty minima. Otheraido Vne distance Primary Kaywords: Goal. GaP; Hot-wire Tricoar; 1 7V Operating Voltage; between breakdown wan.rations more then twice the minimon distance Sreandown Holtage s Wre Temperatore between renio. Vny 4 t vniou. tfs. COPYRIGHT: 1962 THE INSTIIJTE OF PHYSICS, REPRIOTED WITH FERMISSION Primary Keywords: Silico Diode; V: 0 h-votage Diode; Breakdcwn; Absolute Ros ntinity; Variation In Resistinity 3997 COPYRIGH’I: 1975 THE ELECTRO CEHEMICAL SOCIETY, INC. (ELECTROMAGNETIC FIELD GENERATION; PULSE GENERATORSI (Megretic; PuisH Forming Linen) 4045 INTENSE PULSED NEUTRON SOURCE (IPNS-1) ACCELERATO S00 MEV FAST KICKERS I4REAKDOWN STUDIESI D.K. Suddeth and D.J. toll. G E ci ) Argon National Lab. “one I ANALY… 0F SPARK BREAKDOWN ENARACTER1STZC5 FOR SPHERE GAP DEEE Transactions On Nuclear Science, Vol. MS-26, No. 3. pp A P N AdrS. J. F A dnd FRb S R G (06,1979).A.Prsn T. w ferrite loaded picture frame magnets witt a kid. ofuo to 10 7 The Technical Unicarsito, Lebec a Londtofte, d itol Lyngby, Denmark T :erte I oadd t te Vr Pets w. t k uieee _ nrad each are osed to eatract 500 MeA protons fran the l9ns-i Transactions On Power AperetJ And Systtns, Vl. PAS-86, No. 8, pp (/17)i ccetater at the Argonne National Laboratory. The magnet aperture is 10 on wide by S on high and the Th at chúng tôi o i-p cal spark breakdown criterion is illustrutcd. and it in shom that it can gineacery detailed length in Al mm. The single bunch eotractin requiren a magnetic ecnysis of kncwn spare breakdcwc characteristics for the sphere gee. f-old rise time to 10(0) of HO no end a flettop of 1 l0 ns. The Teanunamts are reported on sctterine 0 imoolse noltege for a magnets receia the 3600 A maximum current vin an array of 50 ohm OS-cm nphoro gap. The results give new evidence for the existence of coexial cables connected in a shunt arranement. The two legs of each the Toeplor discontinuity. 13 Roft. magnet are energieed with secarate linen to keep the Poteotiel to Primary Koywords: Spark Oreakdown; Air Gap; Atmospheric Pressure; ground to lens thn ND 40. Toe system is designed to run at 30 pulses Sphere Gao; chúng tôi Dincontinuity; Breakdown Voltage j r second receiooc rate. The complete sysnen of control electronics. cower supply. deoterium thynetron switch. magnet mmd COPYRIOHI 1967 IEEE, REPRINTED WITH PERMISSION renistive load is described alo with oe of the ocroblei of otra inductances and the Nechni guen used to reduce them. I Refn. Primary Keywords: Pcture Frame agonet; 90 me Rise Time; 50 A Current; Thyratron; Pulse Forming Line; Rep-rated COPYRIGHT: 1979 IEEE, REPRINTED WITH PERMISSION 4049 (BRENEDOWN STUDIESI ( a El.ctriccl) ASYMPTOTIC PLASMA AND SHEATH REPRESENTATIONS FOR LOW-PRESSURE DISCHAR So. Self IRRNKDOWN STUDIES; DIAGNOSTICS AND INSTRUMENTATION) Stanford Uninersity, Stanford. CA 94305,Vcuum. Electrical; Current) Journal Df Acyliod Physics Vol No. 2. P NON-45 (02/1965). PREBREAKDON CURRENT ALTERNATING MEASUREMENTS IN VACUUM GAPS STRESSED BY The coil ision.s la sno-sheoth e’ution is discussed in : e limit VOLTAGES that the ratic of Deboe length to dincharge dimension is vaniohingly K.A. j Nry…ksttm G.R. N gabhuhan -all, and for the cases of plecor, cylindricl, and spcerioal symmetric Indian roc ed lootitate ng O f The of IE Science. E Io l Bangalore,.. Irdie FTk, ). discharges. retn eporut o n orepsentations n m r~ a e u for t br the i e for tahsa and eheath t “oen Ia A method of measuring prcaciiowi currects in m vucum gee s profiles. io- currents. eni-rgy distriution. and floating wall described in this paper. A pcision chúng tôi in used to sample otcrtols for two different assumptions regarding the on geeration input voltage, which cas then be uev to co enannte for displacement fu tcn in.. ach case. i0 Refs. in the gap. Currents an low us 0.1 cicroamp have been Princry Keywords: Low-pssure D:schrge; Callisiomless Plesma-sheath measured. A sample Fowler-Nordhim Plut is included. Rfs.n _ Primary Keywcrds: Frebraaldcwn Current; acuuo Gap; Cunnatino Electron Distribution FunntiCo Transformer; rowl-hri-dii Plot rqfo l1,,h, omtrican INSTITUTE OF PHYSICS. REPRINTED WITH C O P Y R I G H T I E E 40 1i I S S I “OWITCHES, CLOSING) (PARTICLE BEHMS. ELECTRON) loan Gac. Self) PISE TIfF AND 1ME DEPENDENT SFAV-ne EE1ST;ANCE IN NITROGEN ND HElIUM B UhAVO IF LOW-IMPEACE REATIISTIC ELECTRON DIODES IN CONVERGING. onsn a MAGNETIC RIEHTS Unn erity cf Trn r. oto. CCA Phelps. J.R. Oldenettal. P. Kcrn end i. Shanon Jc-rnal Of Applied Phonics, Vol. St. No I. pp ll/1977). Muiall!b Inc,. San Diego, CA The riso time and time-dapendent sparn-gaprasintac Vopieod p chúng tôi Physic s Lantern, Vol. 29. o. N. op 35s-ISA (9/ ala halium were meascrod usirv a novel nicroave methud. Enoarinel The thccior cf a iarge-area field emission diode located in a 4:1 frrmules for sork-gay resinta1ce and rice O:na are y-cpo.” w th over a-cu magneto gradient is described. roidenoe is cresented that P:,,um error, as comoared tc eup’,rinial results. of or- T.. 9 this tachrinic nionificootly reduces tho eerl 0 -tioe L.R decay into ref the nornal 1/ ohm aace-charom-limited impedance characteristic. chúng tôi k – k.,u.tit., 1. rlmrit~or, of t-~time plasm closure in th, diod ~ sas u-n a.; Keywords: Self-brel. Sperl. Sap: Restance Moasurempnt; i oiiuir fi~t omam Icuei h id u sas TolReor-Itiuc; Nc ;ec Soz; Heliu~ rap; dpoontrf;- Duo to these charactyristics, a significant reduction Turen ed tio tici verogcj d-ode imedunne and an,mprovement in the CretiTm;197 m Pn..o. Rennic pvlse-in-iiodo energ trarsfer efficency has bee.;, obtained-thersty EnR:vT P19′ MRICN IFIEGITHrrittr; first obneroatios ao efficient notching to a sub-ohm PEPMISIIN ul non,;ar’rum accelerator. Prini, Kevin. -Is V-bonn Secerottia; Field Emission Diode; Magnetic Field. C onerg.g Gradient; O ide Impedance Reduction ni. chúng tôi 1916 AERICON (N11T7E OF PHYSICS. REPRIN(TO WITH f RfaMS, ION) PTFMISSION ‘FTtrF EFFICIENT GEsTATION V IOHTENSE PULSED PROTON BEAMS — as u- ; J toe and c i. Todes ‘a-.. +y. :fhi~o. N hi :-. cd Posice. vol 46, No n ”1 I/- (/1970). “T as, o. the npcac aroe-l~mited refle von triode.. e-e e elr l s n amorlqe imprnvp seno in Rho output – i ny, na th deuice In the current chúng tôi a 7 r cay orn*,,:, no 400’ 0 is croduned at a torienut – tn h -en..n fo oeh ‘0 hace bean -‘ a’ -,-,e a,rionco. da$ icud as proton aner en nutovo..”-i t’e cu e-., re-sri frcn ID to 420 Or toe.. – “‘ei7.h, or eveni acc mnlniinelectron loss in… “…o f f 0 -e elactras i~ma-of-olict – s-a’s’e ea-vhs he hnenuasmmeurod to,. :i- r-itd – heo bo., S * ‘. coo. a-ic t iclerator1. n -,. i-! ‘u.1, – t- u – Tic -1ir -iii “i..ii. R;’FIOTFD WI’H

87 001 PULSE GENERATORS, POWER CONDITIONING) NOVAYCNERIHEFTRCI 110 VOLTA GE NANOSECOND PULSE GENERATORS (Pwe Surelies;LYS’TMFO LETOSAICDFLCO Coe Elecrnc One. Stamford, CT chúng tôi Zdungk.com V.5 uryase d FE,,t,.SMenoan O Eradnors Report No. DESET-TR-7-‘1- t5’l9g8 fa — chúng tôi o ula Availegiity: ADU Jon ntfonulareerhdbe(sr.la.fneer AParallel blumlain eueut, eonbined chúng tôi a park gee pie. ea 1/19INI). deino ur ecerenion a2’kv5 kee.tsswrendc a ath ulatility V 3 aiigerul.,n wh at IGpi. lad Because. of prbeswt MTI5 brekdowsn in tce triggered spark ap e sighl lage chúng tôi gp was Toieas ieefceeo chúng tôi cceltedprice, substituted. Aii acceptahle pulse was dalioered from the pulse form no system of tigh-noiltage Supply to the electsai dafleetof the nerk fedjsmn of th muntn lsrt ntentok -1lU MN cyclotron was develoed. The pel igniite of the symtfn $a a Netst.,k possibilityoa d-c wd smuith (01rgltion of chúng tôi Prmr eyod oiegn-oo;posen oaaoeswitch: utg ih t tw.t being rsr.t oe the muliplying… ert r nde stan-p ore-sf orner of an original design o- a dis c-e tad 1.rite. cnre ore used. On r.a 1the trasfrmaie, coe”ficyn o h and r. ectu cc. 100 fa,q. iuoda t the fr~enoese-y 4080 ( ENERGY STORAGE, CAPACITINE) 1uces cracror, 100 the,rifro -ottening induction wih te I(Cogri tors) crpu chúng tôi c’ tj. coum HI000 VOLTAGE POLSE CAPACITORS Th st tue rusotadi ‘liacn cys d.onsisting rar tied em the chúng tôi of nf dop sinth U.S. Eoctinsii FTD. W-ight-Pattero API., Of re71ulatico ofr r-ti ‘ied vonltogeaed itssoiirinwth*ig eccuray IAenoctto ‘lo’.:4hl l stiblibt-wih sofii-nc23otfao, ON1 0*41, 5) Primary Koywirds rccorn:ae m Entraction; Caponitr; Acoililty:, AG-ll.1 1.1ST Eti-coy Elpotro Circuits; Elac chúng tôi -ar,i- i Sect.. foritos Flcusheetn chúng tôi 1escig; high voltag us poe aracitoecridedn thi kok Powe Iot chúng tôi The hrre:te ftebscislto oail Regu arrsetd Secondery lator Keacurds: INUSIAN eag Tehnology: ERDA/430302; Tr mp hysica processes.o sing i n Pclso cueuier ondt ca osis INIS; PFNOD9.. sratn iitesc- cons i’d.d A tirio is gie fnr Ditittnetricti: U.S. SALES ONLY. colultnoth uicdimensins of _apacters inductanc, energy lose. rono clc~l~ips rad anu.cetio of,eric lif and raiiabilitc. The rein -etemn.crary typo of chúng tôi and foreign,s…. chúng tôi er are denhritd. Pn-nar_ Kawords! Copcitcns; Pulses; Nigh Voage; Electrical 4.0A6 Inuetn Tr ansaos ISP I DoAGNOSYCS AND INSTRUMENATATION) S–Old’V K-V-ld,:DOA I ‘IM IPROVED SYSTEM PFOR ONE MEASUREMENT OP HIGH-VOLTAGE POSSES HAA.ph.t…O~ 4001 Sundiab es Alb.-onru., NM NIGH VOLTAGE PASSE GENERATOR (05/197AI.) 5.1. Pipen A.ailability: 500D Nonal Aeronautics and$space Administroticn, Washington, DC Pate~nt’No. PAO-APPL-841 3A5, (09,1970). U snall 71. xn 127 n.m 10.83” x 5″) Capacitive vog dicider Availability: PATENT-A is deecrubad Elo nused for Imoasoring waveformsi the 20 ilgoit NT1S range with Ocratiens o ton of airsac h chúng tôi esad in A aacitioea discharge circuit is employed to prodone a delantric fluid,.unts over the temeauerneo 210 to47. centrlled hi *olt a, eenrysaka figed ogitage fer the gun 0 K T-65 to IiA5 ace 0 F). The diceitarki ot nto’: am lecroi spr dshrge is erdd by asouaactori connected is chúng tôi notching line driner which has sel.ctable dicision ratios parallel with a anrtdidslicag of th a pacitor throgh the primaryof.a goeu tr~rner iscontrolle I:rby a chúng tôi oft. OCT00 23,7C ii’~..v 3I.00 an worn into a SOoh load. Totalh deniet in’ du ninn i uhe sytmii theoreofl. cowered control crutwih empocys a silco conrle rtfa enn o-.5prceci. ldcitais 1l:0188,A) CSCR) es a sw itching Waooing. Atner diod emloe ictecoto circuit is subjectvto the. oraa capaior volts ag en wh thsgr Frimy Keywods CapoIee EaIcti MeauigIsrmns Eletric’ Potential; Electronic Circuits; eto drd dca pacto voltage is reached, is dricen into coduction tofi ascopd Se’. in the pontrol crcuit ahich in turn actiutes a Pule Narn Tecniup; Pulses; WanePres v Secndary Reywerds: CU’ZD E to/c0 A 4’4 0. E RDA relaiy toeargiza a ready Ieme inct ioi tia ta circit is p repared to deliver a fioed energyv sesr7k, The charge circuit is…oally fired by closing a switch- or is automatcal fired each 4200i time the ciit is ereporto to delio the f’ood ergy spark by IrLSE GENERATORS; SWITCES, CLOSDIG linkn th-sitchin nehns to thereay. Afta each di chúng tôi Oyntgsn Sstms the first SCR is chúng tôi -uns. toted by the chúng tôi EFF of, thu FUSSER POR EMP 0100; ATITH eutpiut trnfsradtie gocona SCR is sutetd by the AC inrt Wl H_ iii, Ott Jr. to cst-e ~the ciioit. EO. PcaMcotc NJ PiayKeywords: Patents; Nigh; Votg;Ple Generator S LIM chúng tôi tic. ESIM-4198 T02,1974. chúng tôi ry Xeower ds: PAT-CLSI52H1i NTTSIOGMASA Acailalility. FCOM-4198 Distribution Restriction: THIS GOVOENMEVNTIW NED lriiontiotl AVAILABLE FOR S. LICENS INGA UtO chúng tôi T N’IS nttis doclonnann project wasudraantrodeapla POREGN LICESIMG. CPY OP P’ATENT AVUAILABLE opteofricnaic-nedcerayfatnnn wiha COMMISSI ONER OFP ATENTi, WAG’IING’,ON D.C. rihu”aip_;er shorl, rise– time pulset chúng tôi the eetia $ Ictrtruc nfents o’ an e lantrnmagetic ed- IEMPI. The final yuiser -oit co 100t kilovolt ‘6V), 02″kilasoaes (ka) output Pulse.ui±5 tencnncl cclvutoge rise Ime ond 42 ecretrs tir tisg ilecuntw,itch..additiecal. -epeins showed hosp0ootu – ‘ cris couild reduc the current rise time to 14 HOB- cc at sji,i t- r. tip,not swt nk was a pae-pr air-filled ISWITNG CLOSIROI s;rk ga,%.md oycutn., in totic Id.a s described. The report else ( Thyransl f -tiuidai t,c an p1 sin1a and relieble 11AtC RIM’ NOLTAGE POS SIPL POIPE SPfRe CEEkMIE IT MEANS OF OF(EATPT ‘””ce., y.c inum -. i o7hr ocuw~g-, InraO ndnlag n Totyo Oniversity, Tansh; IJaranl. In’i- NucRode Study FisyKacn je CAenrtci lisoharo; Otrip Sine Pulsar; SparksGap; COlI’1Nt 976 Wvior Swtch; Ounm Land Anaila.bilite:IN–l’ 0 ~ ~~ ~~ the imot~n I track maceo ej;o. ci. inccu int.. ti. eeistswtthe yoi’.nt ls3.t fu, Nuceeir Stody. the University of ‘c. neoi-lton chúng tôi :t.” 5,Ly VC, CUACTSE.1f the c’ngsbs at h’gh effi ci. U “.I -“0..r -sanraip~f I p-i -OnoI) th usespl aslnioni lrn;c i odti-er a PrCIUATOR FOR. figor 00) OOT CAPACITOR BAN4K pdcced frr ti, et.ouoeosae..~csfvv.i- eeeacr vor~ CX-1154 TEE a nd P oed; f chúng tôi f-dp 0 -t ucto chúng tôi Mno 0000 jitto-, orolo ad ife en.”di inte’ chúng tôi n si ort to~i a lici time. The pu!se s.upplycaso cd-ci hobv i nlrars c c i It ITEP 761 Paying spcalcrettiene pupc;isovinr.lic1 mainly consideringng ger ntib Litl y n, 1′ ci n icrr. a 6 uhr010 8in-.e 81. easndvied,t~l or. ov 3i hi. ion_… ro the aetnuw a ii I–, th prt’~ t-, :oa oln e,4 lace ~ ~ ~ ~ ~ ~ ~ ~ ~ ~ Primary Kay-i~dn: MT’ etc,.i a,.-wei ane.a.tvic~ an ~ IAa… CITOP MEHecIlOP IJNSP PAST TRANSIENT OVENVOSONGES Secondary Epyweds. It JAPAI. f <0u. ~ ; s ‘ ipn p5i Oistritctinn fe, trc 7I.-i n.-. c e itun T 770S9 chúng tôi tentof to detersir falore time when L ;.-1i oficone htiu ciolepsre AA b-aao asd _ by lihtning of Possible dacge ‘is n:. ci ri i i ‘S chúng tôi designed to determie c 1uin,, tcr fedora do the angust of…. i…. ic,….. itec t ann t deane,. in ecu 0 istote ahibited goodrecryfo i…..an… with, no fiilur at ace noltage, forward – ~ ~ ~ rnnis ~.0 : Rn Be “Sn I tcg. Te r Anclos s, LSIghtiIno.: leakage

【#9】Gợi Ý Cách Đặt Tên Hán Việt Hay, Sang Trọng, Ý Nghĩa Cho Con Theo Truyền Thống Cha Ông

1. Thói quen đặt tên của người Việt Từ nghĩa của những tên lót “Thị” và “Văn”…

Sở dĩ tên gọi của người Việt thường đi kèm tên lót “Thị” cho con gái và “Văn” cho con trai vì chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến cho rằng con gái chỉ lo chuyện bếp núc, nội trợ, trong khi đó con trai lo việc đèn sách, công danh.

Người Việt qua bao thế hệ dùng những tên lót này không phải vì hiểu ý nghĩa của nó mà phần lớn đều dùng chỉ để phân biệt tên giới nam và tên giới nữ.

… đến cách đặt tên con của người Việt hiện nay

Qua bao biến chuyển của lịch sử, văn hóa… cách đặt tên con của người Việt cũng dẫn thay đổi. Từ những cái tên thuần tả về bộ phận cơ thể người, các dụng cụ sinh hoạt, những loại trái cây trong vườn… các tên gọi đã dần được thay thế bằng những từ Hán Việt nghe vừa sang trọng vừa gói trọn ý nghĩa. Ngày nay, các bố mẹ trẻ còn đặt tên con theo tiếng nước ngoài để thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Song, đó lại là một câu chuyện dài khác.

Trong phạm vi bài viết này, bạn sẽ được hướng dẫn cách đặt tên con theo kho từ Hán Việt dựa trên các bộ thủ và ý nghĩa của những bộ này.

2. Đặt tên Hán Việt cho con

Theo truyền thống của những gia đình nho giáo, tên các con thành viên trong nhà đều được đặt cùng một bộ thủ. Chẳng hạn:

– Bộ Hoả với các tên gọi: Thước, Lô, Huân, Hoán, Luyện, Noãn…

– Bộ Kim với các tên gọi: Kính, Tích, Khanh, Chung, Điếu…

– Bộ Mộc với các tên gọi: Tùng, Bách, Đào, Lâm, Sâm…

– Bộ Ngọc với các tên gọi: Trân, Châu, Anh, Lạc, Lý, Nhị, Chân, Côn…

– Bộ Thạch với các tên gọi: Châm, Nghiễn, Nham, Bích, Kiệt, Thạc…

– Bộ Thảo với các tên gọi: Cúc, Lan, Huệ, Hoa, Nhị…

– Bộ Thuỷ với các tên gọi: Giang, Hà, Hải, Khê, Trạch, Nhuận…

Nhìn chung, mọi người đều chọn các bộ thủ mang ý nghĩa tốt đẹp về sự an nhàn, vinh phú, sung túc… để đặt tên các con.

Kết hợp tên đệm trong từ Hán Việt

Từ những cái tên đã có, họ tiếp tục kết hợp với những từ Hán Việt khác để cho ra những cái tên xuôi tai, trọn vẹn ý nghĩa tốt đẹp. Chẳng hạn: Từ một tên lót Kim, họ có thể đặt tên cho các con theo cách như sau:

– Kim Cúc

– Kim Hoàng

– Kim Khánh

– Kim Ngân

– Kim Quan

– Kim Thoa

Dùng một tên gọi chung và thay tên đệm

Một số gia đình lại chọn cùng một tên cho các con nhưng chỉ thay đổi ở tên lót/ đệm như cách sau:

– Nguyễn Hoàng Gia Bảo

– Nguyễn Hoàng Quốc Bảo

– Nguyễn Hoàng Kim Bảo

Lấy tên cha làm tên đầu để đặt tên các con theo thành ngữ

Để các tên gọi của mọi thành viên trong gia đình tạo thành một một thành ngữ hoàn chỉnh và ý nghĩa, nhiều người cha chọn chính tên mình là quy chuẩn đầu để phát triển các tên còn lại. Chẳng hạn: Người cha tên Trâm. Các con sẽ được đặt các tên lần lượt Anh, Thế, Phiệt để hoàn thiện thành ngữ “Trâm anh thế phiệt”

Hoặc: Người cha tên Đài. Các con sẽ được đặt các tên lần lượt Cát, Phong, Lưu để hoàn thiện thành ngữ “Đài cát phong lưu”.

Đặt tên con theo nguyện vọng về một con người mẫu mực

Nếu muốn con có được ý chí và tài năng hơn người, bố mẹ có thể đặt cho con những cái tên thể hiện được khát vọng đạt đến cùng ước muốn ấy. Chẳng hạn:

– Để thể hiện niềm mong muốn con hướng thiện có thể đặt cho bé tên Trần Thiện Đạo

– Để thể hiện niềm mong muốn con thanh khiết như loài sen có thể đặt cho bé tên Ngô Ái Liên.

– Để thể hiện niềm mong muốn con trọng nghĩa khí và mạnh mẽ có thể đặt cho bé tên Trần Trọng Nghĩa

Những cái tên này có thể thành tên riêng của mỗi bé hoặc tên lót cho cùng một tên gọi. Chẳng hạn: Nguyễn Mạnh Trung, Nguyễn Trọng Minh, Nguyễn Quý Tấn.

Một số cách chiết tự khác bạn có thể thấy như:

– Vân Du: Vân hàm ý mây trôi, dùng kết hợp cùng Du chỉ sự thảnh thơi để chỉ về một đám mây trôi nhẹ nhàng trên bầu trời cao rộng.

– Băng: có thể dùng để kết hợp với những từ Hán Việt khác để thành: Lệ Băng (khối băng đẹp), Tuyết Băng (băng giá), Hạ Băng (tuyết giữa mùa hè)…

– Anh: có thể dùng để kết hợp với những từ Hán Việt khác thành: Thùy Anh (thùy mị, thông minh), Tú Anh (con sẽ xinh đẹp, tinh anh), Trung Anh (con trai mẹ là người thông minh, trung thực),…

Những tên Hán Việt hay để bố mẹ tham khảo cho bé:

An (安): yên bình, may mắn.

Cẩm (锦): thanh cao, tôn quý.

Chính (政): thông minh, đa tài.

Cử (举): hưng khởi, thành đạt về đường học vấn.

Cúc (鞠): ước mong con sẽ là đứa trẻ được nuôi dạy tốt.

Dĩnh (颖): tài năng, thông minh.

Giai (佳): ôn hòa, đa tài.

Hàn (翰): thông tuệ.

Hành (珩): một loại ngọc quý báu.

Hạo (皓): trong trắng, thuần khiết.

Hào (豪): có tài xuất chúng.

Hậu(厚): thâm sâu; người có đạo đức.

Hinh (馨): hương thơm bay xa.

Hồng (洪): vĩ đại; khí chất rộng lượng, thanh nhã.

Hồng (鸿): thông minh, thẳng thắn, uyên bác.

Huỳnh (炯): tương lai sáng lạng

Hy (希): anh minh đa tài, tôn quý.

Khả (可): phúc lộc song toàn.

Kiến (建): người xây dựng sự nghiệp lớn

Ký (骥): con người tài năng.

Linh (灵): linh hoạt, tư duy nhanh nhạy.

Nghiên (妍): đa tài, khéo léo, thanh nhã.

Phú (赋): có tiền tài, sự nghiệp thành công.

Phức (馥): thanh nhã, tôn quý.

Tiệp (捷): nhanh nhẹn, thắng lợi vẻ vang trong mọi dự định

Tinh (菁): hưng thịnh

Tư (思): suy tư, ý tưởng, hứng thú.

Tuấn (俊): tướng mạo tươi đẹp, con người tài năng.

Vi (薇): nhỏ nhắn nhưng đầy tinh tế

Tên gọi Hán Việt theo các con số

Những cái tên hình tượng mang ý nghĩa của những con số cũng làm nên hiệu ứng bất ngờ về sức biểu cảm lớn và sức mạnh.

Khi đặt tên con theo các con số, người ta thường dụng các con số không liền kề mà thay vào đó là sự tách biệt:

Chẳng hạn: Nhất thường đi với Thập, một bên mang ý nghĩa về số nhiều, một bên chỉ vị trí số một. Hoặc, có thể chọn cặp Nhị – Tứ tương xứng hay Ngũ – Thất để chỉ sự đa dạng.

Từ các tên gắn liền với số này, bạn có thể kết hợp để cho ra những cái tên đẹp.

Ví dụ, với từ Nhất bạn có thể cho ra các tên gọi: Văn Nhất, Thống Nhất, Như Nhất, Nhất Minh, Nhất Dạ, Nhất Dũng, Nhất Huy…

Với từ Nhị (Song, Lưỡng), bạn có thể kết hợp các từ Hán Việt khác để cho ra các tên gọi như: Nhị Hà, Nhị Mai, Bích Nhị, Ngọc Nhị…; Song Phương, Song Tâm, Song Giang, Song Hà, Song Long… ; Lưỡng Hà, Lưỡng Minh, Lưỡng Ngọc, Lưỡng Hải…

Tương tự, với từ Tam, bạn có: Tam Thanh, Tam Đa, Tam Vịnh…; với từ Tứ, bạn có: Tứ Hải, Tứ Đức, Minh Tứ, Hồng Tứ…; với từ Ngũ, bạn có: Ngũ Sơn, Ngũ Hùng, Ngũ Hoàng, Ngũ Hải, Ngũ Tùng…; với từ Thập, bạn có: Hoàng Thập, Hồ Thập, Minh Thập, Hùng Thập…

Thông thường, mọi người sẽ tránh đặt tên theo số với các từ Lục, Thất, Bát, Cửu vì ngữ âm của những từ này trùng với những từ thuần Việt mang nghĩa xấu. Tuy nhiên, nếu vì ý nghĩa riêng nào đó, nhiều người vẫn chọn đặt tên con với những từ này.

Cần lưu ý, dù bạn chọn từ nào trong các từ về số nên có sự hòa hợp về âm và nghĩa với tên kết hợp cùng để tránh những cách đọc trại, nói lái không hay.

Theo Yeutre

【#10】Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam

10:36:14 AM, Sep 07, 2021 * Số lần xem: 854101

* Cập nhật

* đăng lúc 11:22:41 AM, Jan 26, 2009 Ca Dao & Tục Ngữ Việt Nam Ca dao là gì?

Trước hết là Ca dao, là những câu thơ ca dân gian Việt Nam. Được truyền miệng dưới dạng những câu hát không thể một điệu nhất định. Và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc.

Và đặc biệt hơn đó chính là ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao được hiểu ý nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ ông cha ta để lại.

Tục ngữ là gì?

Khác với ca dao, thì tục ngữ lại thể hiện những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian. Về mọi mặt trong cuộc sống như: tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, được nhân dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ, lời ăn tiếng nói và khuyên răn…

Với ý nghĩa ngắn gọn dễ hiểu, dễ nhớ, có nhịp điệu, có hình ảnh thường gieo vần lưng. Và đây cũng là một thể loại văn học dân gian Việt Nam. Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn của con người. Trong đó gữa hình thức và nội dung, tục ngữ có một sự gắn bó chặt chẽ. Thông thường trong một câu tục ngữ có 2 nghĩa: nghĩa đen nghĩa bóng.

Khác với ca dao, tục ngữ thường có vần, gồm 2 loại chính là: vần liềnvần cách.

Ca Dao Tục Ngữ Phần II từ H tới L Ca Dao Tục Ngữ Phần III từ M tới Y :: ::

Xin bấm vào các links sau đây để đọc tiếp :

1. Ai ai cũng tưởng bậu hiền

A

Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai

2. Ai đem con sáo sang song

Để cho con sáo sổ lồng bay cao

3. Ai đi bờ đắp một mình

Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân

4. Ai đi đâu đấy hỡi ai

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Ai đi muôn dặm non song

Để ai chứa chất sầu đong vời đầy

5. Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa

Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào

Ai đi sục sịch ngoài hàng rào

Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa

6. Ai kêu là rạch, em gọi là song

Phù sa theo nước chảy mênh mông

Sông ơi, thấm mát đời con gái

Chẳng muốn lìa sông, chẳng muốn lấy chồng

7. Ai làm cho bướm lìa hoa

Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng

8. Ai làm Nam Bắc phân kỳ

Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương

9. Ai mà nói dối cùng ai

Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng

Ai mà nói dối cùng chồng

Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao

10. Ai nhứt thì tôi đứng nhì

Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba

11. Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần

12. Ai ơi chơi lấy kẻo già

Măng mọc có lứa người ta có thì

Chơi xuân kẻo hết xuân đi

Cái già sòng sọc nó thì theo sau

Phần I từ A tới G

100. Áo anh đứt chỉ đường tà

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

B

Mưa rầu, nắng lửa, người ta lừ đừBuồn về một nỗi tháng tưCon mắt lừ đừ cơm chẳng muốn ănBuồn về một nỗi tháng nămChửa đặt mình nằm gà gáy, chim kêuLựu xa đào, lựu xéo đào xiênVàng cầm trên tay rớt xuống không phiềnChỉ phiền một nỗi nợ với duyên không trònChờ con bạn ngọc thở than đôi lờianh hai vật đổi sao dờiTính sao nàng tính trọn đời thủy chungCanh ba cờ phất trống rungMặc ai ai thẳng ai dùn mặc aiCanh tư hạc đậu cành maiSương sa lác đác khói bay mịt mờCanh chầy tơ tưởng tưởng tơChiêm bao thấy bậu dậy rờ chiếu khôngAi làm lỡ chuyến đò ngangCho loan với phượng đôi hàng biệt ly

C

78. Bước vô trường án, vỗ ván cái rầm

Bủa xua ông Tham biện, bạc tiền ông để đâu

80. Bực mình chẳng muốn nói ra

Muốn đi ăn giỗ chẳng ma nào mời

79. Bước xuống ruộng sâu, em mảng sầu tấc dạ

75. Bươm bướm mà đậu cành bong

Đã dê con chị, lại bồng con em

76. Bước lên xe kiếng đi viếng mả chồng

Mả chưa cỏ mọc trong lòng đậu thai

77. Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng

73. Buổi chợ đông con cá đồng anh chê lạt

Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh cũng khen ngon

74. Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo

Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng

C

Đi buôn cau héo có buồn hay không

43. Chén tình là chén say sưa

Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu

VẦN D VẦN Đ

Đánh bạc quen tay

Ngủ ngày quen mắt

Ăn vặt quen mồm

Đánh chết, mà nết không chừa

Đến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn

Đàn bà nói có là không

Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

Đàn bà tốt tóc thì sang

Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

Đàn đâu mà gảy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

Đàn kêu tích tịch tình tang

Ai đem công chúa lên thang mà về

Đàn ông đi biển có đôi

Đàn bà đi biển mồ côi một mình

Đàn ông không râu vô nghì

Đàn bà không vú lấy gì nuôi con

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ

Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu

Anh về học lấy chữ nhu

Chín trăng em cũng đợi, mười thu em cũng chờ

Đèn cầu tàu ngọn lu ngọn tỏ

Anh trông không rõ, anh ngỡ đèn màu

Rút gươm đâm họng máu trào

Để em ở lại, em kiếm thằng nào hơn anh

Đèn nhà lầu hết dầu đèn tắt

Lửa nhà máy hết cháy thành than

Nhang chùa Ông hết mạt nhang tàn

Kể từ khi em biết được chàng

Đêm về em lăn lộn như con chim phượng hoàng bị tên

Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc

Xứ nào dốc bằng xứ Nam Vang

Một tiếng anh than ba bốn đôi vàng em không tiếc

Anh lấy đặng em rồi anh trốn biệt lánh thân

Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc

Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân

Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần

THương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

Đèn treo ngang quán

Tỏ rạng bờ kinh

Em có thương anh thì ăn nói cho thiệt tình

Đừng để cho anh lên xuống một mình bơ vơ

Đêm khuya nguyệt lặn sao tàn

Đồng hồ điểm nhặt nhớ chàng không quên

Đêm khuya ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

Đêm khuya thắp chút dầu dư

Tim loan cháy lụn, sầu tư một mình

Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng

Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

Đêm khuya trăng dọi lầu son

Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng

Bển qua đây đàng đã xa đàng

Dầu tui có lâm nguy thất thế

Hỏi con bạn vàng nó cứu không?

Chiều rồi kẻ Bắc, người Đông

Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời

Đêm nằm tàu chuối có đôi

Hơn nằm chiếu tốt lẻ loi một mình

Đêm qua, đêm lạnh, đêm lùng

Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài

Bây giờ chàng đã nghe ai

Aó ngắn chẳng đắp, aó dài không chung

Bây giờ sự đã nhạt nhùn

Giấm thanh đổ biển mấy thùng cho chua

Cá lên mặt nước, cá khô

Vì anh, em phải giang hồ tiếng tăm

Đêm qua nguyệt lặn về Tây

Sự tình kẻ ấy, người đây còn dài

Trúc với mai, mai về trúc nhớ

Trúc trở về, mai nhớ trúc không

Bây giờ kẻ Bắc, người Đông

Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư

Đêm thanh cảnh vắng

Thức trắng năm canh

Một duyên, hai nợ, ba tình

Đường kia,nỗi nọ, phận mình ra sao

Đến đây đất nước lạ lùng

Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo

Đến ta mới biết của ta

Trăm nghìn năm trước biết là của ai

Đề huề chồng vợ

Như bí rợ nấu kiểm với khoai lang

Như tép rang ăn cặp với canh khoai mỡ

Đi chùa lạy Phật cầu chồng

Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

Đi đâu cho thiếp theo cùng

Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

Đi đâu mà vội mà vàng

Mà vấp phải đá mà quàng phải dây

Thủng thỉnh như chúng anh đây

Thì đá nào vấp, thì dây nào quàng

Đi cho biết đó biết đây

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn

Đi qua nhà nhỏ

Thấy đôi liễn đỏ có bốn chữ vàng

Thạnh suy anh chưa biết chớ thấy nàng anh vội thương

Đó đây trước lạ sau quen

Chẳng gần, qua lại đôi phen cũng gần

Đói lòng ăn đọt chà là

Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng

Đói lòng ăn nắm lá sung

Chồng một thì lấy, chồng chung thì đừng

Đói lòng ăn nửa trái sim

Uống lưng bát nước đi tìm người thương

Đói lòng nuốt trái khổ qua

Nuốt vô sợ đắng, nhả ra con bạn cười

Đôi ta chẳng được sum vầy

Khác nào cánh nhạn lạc bầy kêu sương

Vì sương nên núi bạc đầu

Cành lay bởi gió hoa sầu vì mưa

Đôi ta đã trót lời thề

Con dao lá trúc đã kề tóc mai

Dặn rằng: Ai chớ quên ai!

Đôi ta như loan với phượng

Nỡ lòng nào để phượng lià cây

Muốn cho có đó, có đây

Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi

Thà rằng chẳng biết thì thôi

Biết rồi gối chiếc lẻ loi thêm phiền

Đôi ta như thể con tằm

Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong

Đôi ta như thể con ong

Con quấn con quít, con trong con ngoài

Đôi ta như thể con bài

Chồng đánh vợ kết chẳng sai con nào

Đố ai biết luá mấy cây

Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng

Đố ai quét sạch lá rừng

Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây

Rung cây, rung cỗi, rung cành

Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng

Đố ai lặn xuống vực sâu

Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa

Đố anh con rít mấy chưn

Cầu Ô mấy nhịp, chợ Đinh mấy người

Mấy người bán áo con trai

Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim

Đốt than nướng cá cho vàng

Lấy tiềng mua rượu cho chàng uống chơi

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm

Muốn ăn bôn súng mắm kho

Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

Đồng tiền Vạn lịch

Thích bốn chữ vàng

Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu

Bây giờ cô lấy chồng đâủ

Để anh giúp đỡ trăm cau nghìn vàng

Đổ lửa than nên vàng lộn trấu

Anh mảng thương thầm chưa thấu dạ em

Đổng Kim Lân hồi còn nhỏ, đi bán giỏ nuôi mẹ

Anh gặp em đây không cửa không nhà

Muốn vô gá nghĩa, biết là đặng chăng?

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

Lúa rụng đầy đồng, gà chẳng cần ăn

Đờn cò lên trục kêu vang

Qua còn thương bậu, bậu khoan có chồng

Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng

Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương

Chiều nay qua phản bạn hồi hương

Nghe bậu ở lại vầy vươn nơi nào

Ghe tui tới chỗ cắm sào

Nghe bậu có chốn muốn nhào xuống sông

Đu đủ tiá, bạc hà cũng tiá

Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm

Anh thấy em tốt mã anh lầm

Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông

Đưa nhau đổ chén rượu hồng

Mai sau em có theo chồng đất xa

Qua đò gõ nhịp chèo ca

Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

Đường trơn trợt gượng đi kẻo té

Áo còn nguyên ai nỡ xé vá quàng

Hồi sớm mai, gặp em sao anh không hỏi

Hay dạ của chàng nay đã hết thương?

Đứt tay một chút còn đau

Huống chi nhân nghĩa, lià sao cho đành

Đ Đất lành chim đậu.

E

VẦN E

Em có chồng sao em không nói?

Để anh theo anh chọc em hoài

Chắc có ngày anh sẽ bị ăn dao phay!

Em đeo chiếc kim hườn

Em còn chờn vờn chiếc kim xuyến

Hườn xuyến vuột tay rồi, buồn nghiến, ai thương!

Em liều một cái bánh bò

Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai

Em liều một chén dầu chanh

Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền

Em liều một trái sầu giêng

Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro

Em nghĩ thân em, như kiếng lấm lem cát bụi

Ai đó lau chùi, biết tới buổi nào xong?

Em nhớ thương ai mà mặt mày ngơ ngác

Nhớ tên hốt rác hay thương thằng vét đường mương?

Em ơi, anh bảo em này

Sông sâu chớ lội, đò đầy chớ đi

Em ơi, em có thương anh

Em ra canh lính cho anh leo tường!

Em ơi em ở lại nhà

Vườn dâu em hái mẹ già em thương

Mẹ già một nắng hai sương

Chị đi một bước trăm đường xót xa

Cậy em em ở lại nhà

Em thấy anh em cũng muốn chào

Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông

Em chấy anh em cũng muốn chào

Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình

Dao trong mình, gươm anh cặp nách

Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi

Em thương nhớ ai ngơ ngẩn bên đầu cầu

Lược thưa biếng chải, gương tàu biếng soi

Cái sập đá bỏ vắng em không ngồi

Vườn hoa hoang lạnh mặc người vào ra

Em về hỏi mẹ cùng cha

Có cho em lấy chồng xa hay đừng

Én bay thấp, mưa ngập bờ ao

Én bay cao, mưa rào lại tạnh

Em nghe tiếng hát đâu xa

Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

Ê

Êm như ru

Ếch ngồi đáy giếng

VẦN G

Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng

Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui

Gái Tầm Vu đồng xu ba đứa

Con trai Thủ Thừa cỡi ngựa xuống mua

Gái Thới Bình lòng ngay dạ thẳng

Trai bạc tình một cẳng về quê

Gái lấy trai đứng là gái dại

Trai lấy rồi trai lại bán rao

Gái đâu có thứ hỗn hào

Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu

Gà đẻ, gà cục tác

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi

Nước phông-tên tiền rưỡi một đôi

Saigon vui lắm em ơi

Lấy chồng về đó một đời sướng thân

Gạo chợ, nước sông, củi đồng, nồi đất

Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ

Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông

Gẫm xem sự thế nực cười

Một con cá lội mấy người buông câu

Gần mực thì đen gần đèn thì sáng

Gập ghềnh nước chảy qua đèo

Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng

Ghe anh đỏ mũi xanh lườn

Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em

Ghe anh mỏng ván, bóng láng nhẹ chèo

Xin anh bớt mái, nương lèo đợi em

Ghe em rẽ vô ngọn, anh chẳng đón chẳng chờ

Ghe anh tách bến tách bờ, em buồn cho trăng mờ sao lặn

Mình lấy nhau chẳng đặng bởi bà mai lưỡi vắn ít lời

Mật đường dù chẳng đi đôi

Chút hương rớt lại, một đời chưa quên

Ghe lên ghe xuống dầm dề

Sao anh không gởi thơ về thăm em?

Ghét con xẩm lai mê trai, mi lai nhãn khứ

Ôm bụng trống chầu, bỏ xứ ra đi

Già thì đặc bí bì bì

Con gái đương thì rỗng toác toàng toang

Ngoài xanh trong trắng như ngà

Đàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu

(Đố là gì? – cau dầy)

Giàu cha giàu mẹ thì ham

Giàu cô giàu bác ai làm nấy ăn

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa

Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

Giàu từ trong trứng giàu ra

Giàu út ăn, khó út chịu

Giả đò mua khế bán chanh

Giả đi đòi nợ thăm anh kẻo buồn

Giặc Tây đánh tới Cần Giờ

Bậu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công

Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh

Giấy hồng đơn bán mấy

Cho anh mua lấy một tờ

Viết thơ quốc ngữ

Dán trên trái bưởi

Thả xuống giang hà

Bớ cô gánh nước bên bờ

Xuống sông vớt bưởi để mà xem thơ

Giận chồng xách gói ra đi

Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về

Gieo gió gặp bão

**************************************

Toàn bộ từ vần A đến Y

-B-

-C-

Ca Li đi dễ khó về

Câu nguyên gốc là..nói về những người đi trồng cao su

Cao su đi dễ khó về

Khi đi trai tráng, khi về bủng beo

================================================== =======

Có công mài sắt, có ngày nên kim

================================================== ========

Chân cứng đá mềm

================================================== ========

Có chí thì nên

================================================== ========

Cô kia bới tóc đuôi gà

Nắm đuôi kéo lại hỏi nhà ở đâu ?

Nhà tôi ở trước đám dâu

Ở sau đám cải đầu cầu ngó qua

Cái câu này còn có khác hơn một tí đó là..

Đ-

Còn trẻ hay già mà còn tinh vang.

Ếch ngồi đáy giếng

================================================== ========

-G-

-H-

-I-

================================================== ========

-K-

-L-

-M-

-N-

Nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ

================================================== ========

Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm

================================================== ========

Nhất quỷ nhì ma

Thứ ba học trò …. )

================================================== ========

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

================================================== ========

No bụng đói con mắt

================================================== ========

-O-

Ở đâu cũng có anh hùng

Ở đâu cũng có thằng khùng thằng điên

================================================== ========

Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài

================================================== ========

Ớt nào là ớt chẳng cay,

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

Vôi nào là vôi chẳng nồng

Gái nào là gái có chồng chẳng ghen !

================================================== ========

Ở hiền gặp lành

================================================== ========

-Q-

Quả cau nho nhỏ

Cái vỏ vân vân

Nay anh học gần

Mai anh học xa

Tiền, gạo là của mẹ cha

Bút nghiên, kinh sách thì là của anh

Lấy chàng từ thuở mười ba

Đến năm mười tám thiếp đà năm con

Ra đường thiếp hãy còn son

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng

================================================== ========

-R-

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon

================================================== ========

-S-

Sông sâu còn có kẻ dò

Nào ai lấy thước mà đo lòng người

================================================== ========

Sá gì một nải chuối xanh

Năm bảy người giành cho mủ dính tay

================================================== ========

-T-

-U-

================================================== ========

-V-

Vì sông nên phải lụy thuyền

Chứ như đường liền ai phải lụy ai

================================================== ========

Vải thưa che mắt thánh

================================================== ========

-X-

========

-Y-

Yêu nhau cởi áo cho nhau

Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

========

Yêu nhau thì ném miếng trầu

Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra

Yêu nhau cau bổ làm ba

Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười

Xem Thêm Cập nhật 2021:

    Mèo khen mèo dài đuôi.

    N Năm nắng mười mưa