【#1】Bệnh Whitmore Là Bệnh Gì? Nguyên Nhân, Dấu Hiệu, Có Chữa Được Không

Bệnh Whitmore là bệnh truyền nhiễm được gọi với cái tên rất đáng sợ là nhiễm vi khuẩn “ăn thịt người”. Đây không phải là loại bệnh mới, thực tế nó đã xuất hiện từ nhiều năm trước nhưng thời gian gần đây đã ghi nhận một số ca mắc bệnh Whitmore tại Việt Nam khiến nhiều người hoang mang

Bệnh Whitmore là bệnh gì?

Bệnh Whitmore (Melioidosis) là một bệnh truyền nhiễm có thể lây nhiễm cho người hoặc động vật. Bệnh gây ra bởi một loại vi khuẩn ăn thịt người có tên Burkholderia pseudomallei. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở vùng khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á và phía bắc Australia. Các vi khuẩn gây bệnh whitmore được tìm thấy trong đất và nước bị ô nhiễm. Nó lây lan sang người và động vật thông qua tiếp xúc trực tiếp với nguồn ô nhiễm

Bệnh whitmore xuất hiện ở Việt Nam

PGS.TS Đỗ Duy cường – Giám đốc Trung tâm Bệnh Nhiệt đới – Bệnh viện Bạch Mai cho biết số ca mắc bệnh whitmore gia tăng đáng kể trong mùa mưa với tỷ lệ tử vong cao. Chỉ tính riêng trong tháng 8/2019, có ít nhất 12 người phải nhập viện vì bị bệnh whitmore tại bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Nhiệt Đới.

Trong các ca mắc bệnh thì đã có 4 trường hợp tử vong. Năm nay, 20 trường hợp đã được báo cáo. Con số này tương đương với những báo cáo trong mười năm qua. chúng tôi Đỗ Duy cường cũng cho biết mùa mưa cung cấp các điều kiện tốt cho sự phát triển của virus. Bệnh có tỷ lệ tử vong cao khoảng 40% nếu bệnh nhân chẩn đoán sai và không được điều trị đúng cách.

Bệnh whitmore để lại nhiều biến chứng nguy hiểm. Đôi khi chỉ với 1 vết xước nhỏ trên da bị tiếp xúc với đất, nước bẩn có chứa vi khuẩn gây bệnh thì nguy cơ nhiễm trùng rất cao. Các biến chứng thường là nhiễm trùng máu, áp xe, viêm phổi

Bệnh whitmore có lây không

Con đường lây nhiễm bệnh whitmore là thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất và nước mặt bị ô nhiễm. Con người và động vật bị nhiễm khuẩn do hít phải bụi bẩn hoặc hơi nước bị nhiễm bẩn, uống phải nước bị ô nhiễm và tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, nhất là qua các vết trầy xước trên da.

Rất hiếm khi bệnh whitmore lây từ người này sang người sang người khác tuy nhiên vẫn có trường hợp được khi nhận. Con đường lây nhiễm chủ yếu vẫn là qua tiếp xúc với đất, nước nhiễm khuẩn.

Ngoài con người ra thì nhiều loài động vật khác cũng dễ bị bệnh whitmore bao gồm: Cừu, dê, heo, ngựa, mèo, chó, gia súc.

Triệu chứng bệnh whitmore

Các triệu chứng, dấu hiệu của bệnh whitmore thường không đặc hiệu, rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như bệnh lao, viêm phổi vì vậy việc nhận biết bệnh gặp nhiều khó khăn.

  • Khi nhiễm trùng cục bộ sẽ gây đau, sưng cục bộ kèm theo sốt, loét, áp xe
  • Nếu nhiễm trùng phổi thì triệu chứng bao gồm ho, đau ngực, sốt, chán ăn, đau đầu
  • Nhiễm trùng máu gây sốt, đau đầu, suy hô hấp, khó chịu ở bụng, đau khớp, mất phương hướng
  • Nếu nhiễm trùng lan truyền thì bệnh nhân sẽ bị sốt, sút cân, đau dạ dày hoặc ngực, đau cơ hoặc khớp, đau đầu, lên cơn động kinh

Khoảng thời gian từ khi tiếp xúc với vi khuẩn cho đến khi các triệu chứng của bệnh whitmore xuất hiện thường không xác định được rõ ràng nhưng có thể từ 1 ngày đến nhiều năm. Nhìn chung các triệu chứng thường xuất hiện sau khi tiếp xúc từ 2-4 tuần

Chẩn đoán bệnh whitmore

Chẩn đoán bệnh whitmore nhờ vào việc phân lập vi khuẩn Burkholderia pseudomallei trong mẫu máu, nước tiểu, đờm, dịch hoặc tổn thương da của bệnh nhân. Trong một số trường hợp, bác sĩ có thể xét nghiệm kháng thể trong máu để chẩn đoán nhưng độ chính xác của phương pháp này không đáng tin cậy so với nuôi cấy vi khuẩn

Bệnh whitmore có chữa được không

Phác đồ điều trị có thể thay đổi phụ thuộc vào loại nhiễm khuẩn.

Ở giai đoạn đầu phát bệnh tối thiểu 10-14 ngày dùng kháng sinh theo đường truyền tĩnh mạch (IV). Thời gian điều trị bằng kháng sinh có thể kéo dài đến 8 tuần. Bác sĩ có thể áp dụng 1 trong 2 phác đồ điều trị là

  • Ceftazidime (Fortaz, Tazicef): 6-8 giờ/lần
  • Meropenem (Merrem): 8 giờ

Giai đoạn điều trị 3-6 tháng tiếp theo sẽ sử dụng 1 trong 2 loại kháng sinh đường uống

  • Sulfamethoxazole-trimethoprim (Bactrim, Septra, Sulfatrim), uống mỗi 12 giờ
  • Doxycycline (Adoxa, Alodox, Avidoxy, Doryx, Monodox), uống mỗi 12 giờ

Cách phòng tránh bệnh whitmore

Hiện chưa có loại vaccine phòng và điều trị bệnh whitmore nên việc phòng tránh bệnh là rất cần thiết

  • Đối với những người thường xuyên phải tiếp xúc với môi trường đất, nước bẩn như công nhân, người làm vườn…thì cần sử dụng các phương tiện bảo hộ lao động như giày, ủng, găng tay, khẩu trang…Nếu bị trầy xước da thì cần điều trị càng sớm càng tốt
  • Bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, bệnh thận mãn tính, bệnh phổi sẽ có nguy cơ mắc bệnh whitmore cao hơn với các dấu hiệu nhận biết như sốt cao, đau cơ, áp xe cơ, áp xe gan lách, viêm phổi…Bệnh nhân có thể tử vong nếu các triệu chứng không được chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời
  • Đối với những người khác thì cần hạn chế tiếp xúc với bùn đất, nước đọng, nhất là khi có vết thương hở.
  • Nhân viên y tế nên đeo khẩu trang, găng tay, áo choàng
  • Nếu sử dụng các sản phẩm từ sữa thì bạn cần chắc chắn chúng đã được tiệt trùng
  • Vệ sinh thân thể sạch sẽ, nếu tay chân dính bùn đất thì phải rửa sạch bằng xà phòng diệt khuẩn và lau khô
  • Tránh tiếp xúc với máu, chất dịch cơ thể của người đã bị nhiễm bệnh whitmore

Như vậy có thể thấy bệnh whitmore là bệnh cực kỳ nguy hiểm tưởng chừng như đã bị bỏ quên nhưng thời gian gần đây xuất hiện trở lại. Các triệu chứng lâm sàng của bệnh rất mơ hồ, khó chẩn đoán. Tỷ lệ tử vong cao nếu không được điều trị kịp thời. Với trường hợp nhiễm khuẩn cấp thì có thể tử vong trong vòng 1 tuần từ lúc phát bệnh

【#2】Whitmore Là Bệnh Gì? Dấu Hiệu Và Cách Điều Trị

Whitmore là bệnh gì?

Bệnh Whitmore hay còn gọi là bệnh do vi khuẩn ăn thịt người. Bệnh này truyền nhiễm cấp tính do 1 loại vi khuẩn có tên là Burkholderia pseudomallei. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, vi khuẩn này sinh sống và phát triển mạnh mẽ trong môi trường ẩm ướt như bùn, đất.

Sau khi con người tiếp xúc với bùn, đất,.. vi khuẩn này thông qua các vết thương hở ngoài da, sau đó di chuyển và xâm nhập vào bên trong cơ thể và bắt đầu phá hủy các tế bào, thậm chí chúng còn được gọi là vi khuẩn ăn thịt người.

Bên cạnh đó, bệnh Whitmore còn lây nhiễm qua hệ hô hấp hoặc con đường tiêu hóa. Chỉ cần bạn hít phải luồng khí của người mắc bệnh Whitmore, bạn có thể đã nhiễm bệnh Whitmore. Sau khi vi khuẩn di chuyển và xâm nhập vào cơ thể, bệnh sẽ ủ từ 2 – 21 ngày mới phát tác với những triệu chứng khác nhau.

Thời gian ủ bệnh khá lâu nhưng sau khi phát tác, bệnh Whitmore tiến triển rất nhanh và có thể gây tử vong chỉ trong vòng 48 giờ. Nói cách khác, Whitmore là một căn bệnh nhiễm trùng cơ hội, bệnh ít xảy ra ở những người khỏe mạnh. Bệnh cũng không dễ mắc và lây nhiễm.

Nguyên nhân gây bệnh Whitmore

– Nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh Whitmore là do con người tiếp xúc trực tiếp với môi trường bùn, đất ô nhiễm chứa vi khuẩn Burkholderia pseudomallei. Thông qua các vết trầy xước trên bề mặt da.

– Ngoài ra, bệnh Whitmore còn lây nhiễm thông qua đường hô hấp, đường tiêu hóa. Khi bạn tiếp xúc với người bệnh Whitmore thì khả năng lây nhiễm khá cao.

– Sau khi loại vi khuẩn Burkholderia pseudomallei xâm nhập vào cơ thể, bệnh sẽ ủ từ 2 – 21 ngày mới phát tác bệnh. Vi khuẩn nguy hiểm này có thể tấn công bất kỳ bộ phận nào của cơ thể. Nhưng bộ phận tấn công chủ yếu là phổi. Bên cạnh đó, vi khuẩn này còn tấn công sang một số bộ phận khác và gây áp xe cơ quan nội tang như viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt,…

Dấu hiệu của bệnh Whitmore

Triệu chứng của căn bệnh Whitmore khá đa dạng trên mặt lâm sàng.

– Đối với trẻ em mắc phải bệnh Whitmore thường có triệu chứng:

  • Sốt cao liên tục
  • Nhiễm trùng kèm theo nhiễm độc
  • Sưng tuyến mang tai
  • Cùng với một số triệu chứng khác.

– Đối với người lớn mắc phải bệnh Whitmore, triệu chứng như sau:

Đặc biệt những người mắc bệnh thận mãn tính, bệnh phổi hay bệnh tiểu đường,… là những đối tượng dễ mắc căn bệnh Whitmore nguy hiểm này.

Phần lớn triệu chứng của căn bệnh Whitmore khá mơ hồ, thường được các bác sĩ chẩn đoán nhầm sang các bệnh khác như nhiễm khuẩn huyết do liên cầu, nhiễm khuẩn xương khớp, viêm phổi,…

Người mắc bệnh Whitmore nếu không được điều trị kịp thời dễ dẫn đến mất sức, sức khỏe suy kiệt, bệnh khỏi rồi nhưng vẫn có nguy cơ tái phát và đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người mắc bệnh.

Cách điều trị bệnh Whitmore

Tùy theo từng loại nhiễm trùng của căn bệnh Whitmore gây bệnh, các bác sĩ sẽ dùng thuốc điều trị thích hợp để khống chế loại vi khuẩn nguy hiểm này. Thông thường, bệnh Whitmore sẽ được chia thành 2 đợt điều trị:

– Đợt 1: Tấn công bằng thuốc kháng sinh cao ( thường truyền trực tiếp vào tĩnh mạch) trong 10 – 14 ngày.

– Đợt 2: Dùng thuốc kháng sinh đường uống duy trì trong 3 – 6 tháng kế tiếp.

Kháng sinh dùng phổ biến nhất trong việc điều trị bệnh Whitmore là Ceftazidime, có tác dụng khống chế và ngăn chặn vi khuẩn phát triển trong 6 – 8 giờ hoặc là kháng sinh Meropenem dùng trong 8 giờ.

Cách phòng tránh bệnh Whitmore

– Để tránh bệnh lan truyền bệnh Whitmore, bạn cần tránh tiếp xúc với bùn đất hoặc nước bị ô nhiễm. Nhất là người có vết thương trầy xước trên bề mặt da thì tuyệt đối không tiếp xúc trực tiếp với bùn, đất hay nguồn nước bị ô nhiễm.

– Người dân làm nông cần mang ủng khi ra đồng. Đây là cách giúp con người ngăn ngừa bệnh Whitmore nhiễm trùng qua vết thương trầy xước.

– Nhân viên y tế nên sử dụng các biện pháp phòng ngừa ăn toàn và hiệu quả qua con đường hô hấp ( sử dụng mặt nạ, găng tay,… )

Ngoài ra, để phòng bệnh bạn cần:

  • Vệ sinh tay thường xuyên, nhất là trước khi ăn
  • Tránh sử dụng chung vật dụng cá nhân
  • Sử dụng thực phẩm chín, tránh dùng đồ tái, sống
  • Hạn chế tiếp xúc với môi trường ô nhiễm từ không khí và nước.

【#3】Bệnh Whitmore Là Bệnh Gì, Biểu Hiện Của Bệnh Whitmore

  • Bất kỳ ai đều có thể bị nhiễm Melioidosis thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất và nước mặt bị ô nhiễm. Con người và động vật được cho là bị nhiễm trùng do hít phải bụi bẩn hoặc giọt nước bị nhiễm bẩn, uống phải nguồn nước bị ô nhiễm và tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, đặc biệt là qua các vết trầy xước trên da.
  • Rất hiếm khi người bệnh bị mắc bệnh do lây truyền từ người khác. Một vài trường hợp đã được ghi nhận, đất và nước mặt bị ô nhiễm là cách thức chủ yếu mà con người bị nhiễm bệnh này.
  • Bên cạnh con người, nhiều loài động vật dễ bị bệnh melioidosis, bao gồm: Cừu; Dê; Heo; Ngựa; Mèo; Loài chó; Gia súc…

Bệnh Whitmore có triệu chứng như thế nào khi mắc phải?

Do có một số loại melioidosis khác nhau và mỗi loại đều gây cho người bệnh những các triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là melioidosis có một loạt các dấu hiệu và triệu chứng có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác như bệnh lao hoặc bệnh viêm phổi. Nhiễm trùng phổi: Nhiễm trùng máu: Nhiễm trùng lan truyền:

Khoảng thời gian tiếp xúc vi khuẩn gây bệnh và lúc xuất hiện các triệu chứng của bệnh không được xác định rõ ràng, nhưng có thể từ một ngày đến nhiều năm, nhưng nhìn chung các triệu chứng thường xuất hiện sau hai đến bốn tuần tiếp xúc.

Mặc dù những người khỏe mạnh có thể bị bệnh melioidosis, có một số người dễ mắc bệnh hơn như người mắc bệnh sau:

  • Bệnh tiểu đường
  • Bệnh gan
  • Bệnh thận
  • Bệnh thalassemia
  • Bệnh phổi mãn tính (như bệnh u xơ nang, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và bệnh giãn phế quản)

Bệnh Whitmore có nguy cơ phơi nhiễm không?

Trong khi nhiễm melioidosis đã diễn ra trên toàn thế giới, Đông Nam Á và Bắc Úc là những khu vực thường xuất hiện bệnh. Tại Hoa Kỳ, các trường hợp được báo cáo trong những năm trước đã dao động từ 0 đến 5 và xảy ra ở những người đi du lịch và người nhập cư đến từ những nơi mà căn bệnh này lan rộng. Ngoài ra, bệnh melioidosis còn được tìm thấy trong số quân đội của tất cả các quốc gia đã phục vụ trong các khu vực có bệnh lan rộng. Số lượng lớn nhất của các trường hợp mắc melioidosis được báo cáo tại:

Mặc dù hiếm khi được báo cáo, các trường hợp được cho là thường xuyên xảy ra tại:

  • Papua New Guinea
  • Hầu hết các tiểu lục địa Ấn Độ
  • Miền Nam Trung Quốc
  • Hồng Kông
  • Đài Loan
  • Việt Nam
  • Indonesia
  • Campuchia
  • Lào
  • Myanmar (Miến Điện)

Bên ngoài Đông Nam Á và Úc, các trường hợp đã được báo cáo ở:

  • Nam Thái Bình Dương (New Caledonia)
  • Sri Lanka
  • Mexico
  • El Salvador
  • Panama
  • Ecuador
  • Peru
  • Guyana
  • Puerto Rico
  • Martinique
  • Guadeloupe
  • Brazil
  • Một số phần của Châu Phi và Trung Đông

Bệnh Whitmore điều trị như thế nào?

Khi chẩn đoán nhiễm melioidosis, bệnh có thể được điều trị bằng cách sử dụng thuốc thích hợp. Tùy thuộc vào loại melioidosis bị nhiễm trùng và cách thức điều trị sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị lâu dài của người bệnh. Việc điều trị thường bắt đầu bằng tiêm thuốc kháng sinh đường tĩnh mạch trong 10 – 14 ngày, sau đó là 3-6 tháng điều trị thuốc kháng sinh đường uống.

Điều trị tiêm tĩnh mạch bao gồm:

    Ceftazidime dùng mỗi 6-8 giờ. Hoặc: Meropenem dùng mỗi 8 giờ

Điều trị kháng sinh đường uống bao gồm:

    Trimethoprim-sulfamethoxazole uống mỗi 12 giờ hoặc Amoxicillin / axit clavulanic (co-amoxiclav) được thực hiện mỗi 8 giờ

Nếu bệnh nhân bị dị ứng penicillin thì nên thông báo cho bác sĩ và các nhân viên Y tế khác được biết để thực hiện thuốc điều trị thay thế.

Bệnh Whitmore phòng ngừa như thế nào?

Ở những nơi có bệnh lan truyền, việc tiếp xúc với đất hoặc nước bị ô nhiễm có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh melioidosis. Tuy nhiên, ở những khu vực này, để giúp giảm thiểu rủi ro phơi nhiễm, người dân có thể thực hiện như sau:

  • Người có vết thương ngoài da và những người mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh thận mãn tính có nguy cơ mắc bệnh melioidosis và nên tránh tiếp xúc với đất và vũng nước đọng.
  • Nông dân nên mang ủng khi đi xuống ruộng, có thể ngăn ngừa nhiễm trùng qua chân.
  • Nhân viên y tế nên sử dụng các biện pháp phòng ngừa qua đường tiếp xúc (mặt nạ, găng tay và áo choàng) để giúp ngăn ngừa nhiễm trùng.

【#4】Burkholderia Pseudomallei Là Gì? Bệnh Whitmore Đáng Sợ Như Thế Nào?

Những ngày gần đây, ở khắp nơi chúng ta đều thấy đưa tin về loại vi khuẩn “ăn thịt người” đáng sợ và căn bệnh Whitmore mà nó gây ra. Chỉ trong vòng tháng 8, Trung tâm Bệnh Nhiệt đới – Bệnh Viện Bạch Mai đã ghi nhân đến 12 trường hợp nhiễm loại vi khuẩn này. Vậy thì bệnh Whitmore là gì? Vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra bệnh Whitmore đáng sợ như thế nào và tại sao lại gọi nó là vi khuẩn “ăn thịt người”?

Bệnh Whitmore là gì?

Bệnh Whitmore (hay còn gọi là Meliodosis) là một bệnh nhiễm trùng cấp tính gây ra bởi vi khuẩn Burkholderia pseudomallei . Gần đây bệnh xuất hiện trở lại ở Việt Nam và đã có nhiều ca mắc mới được ghi nhận. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh có thể từ sốt, đổi màu da, xuất hiện nhiều ổ áp xe đến viêm phổi, viêm não, viêm xương khớp, suy đa tạng và có thể dẫn đến tử vong. Bệnh Whitmore có thể bị chẩn đoán nhầm với các bệnh khác như Nhiễm khuẩn huyết do tụ cầu, Lao toàn thể khi chưa có các xét nghiệm vi sinh. Bệnh dễ xuất hiện trên các bệnh nhân có bệnh nền như đái tháo đường, tăng huyết áp và sau khi có vết thương hở tiếp xúc với bùn đất.

Vi khuẩn Burkholderia pseudomallei là gì?

Burkholderia pseudomallei là một vi khuẩn Gram âm, lưỡng cực, hiếu khí, hình que di động, thường sống trong đất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, là nguyên nhân gây ra bệnh Whitmore trên người và động vật.

B.pseudomallei có chiều dài từ 2 – 5 mcm và đường kính từ 0.4 – 0.8 mcm, có khả năng tự di chuyển bằng tiên mao. Vi khuẩn có thể phát triển trong các môi trường nhân tạo đặc biệt là các môi trường có chứa betaine và arginine, sinh ra cả nội độc tố và ngoại độc tố, vai trò của độc tố trong bệnh Whitmore chưa được xác định hoàn toàn.

Chẩn đoán vi khuẩn học: B. pseudomallei dễ phát triển trên nhiều môi trường (thạch máu, thạch MacConkey, EMB…), nuôi cấy thường có kết quả sau 24 – 48 giờ cho khuẩn lạc nhăn nheo, có màu kim loại và có mùi đất. Trên tiêu bản cho màu gram âm theo phương pháp nhuộm gram. Có thể chẩn đoán bằng phương pháp PCR tuy nhiên chưa được áp dụng trong lâm sàng.

Sức đề kháng: B. pseudomallei nhạy cảm với nhiều chất khử trùng thông thường : benzalkonium chloride, kali permanganat, iod, cồn 70 o. Bị tiêu diệt bởi nhiệt độ cao 74 o C trong 10 phút hoặc bằng tia UV. Khử trùng bằng clo không có hiệu quả tin cậy.

Khả năng gây bệnh: B. pseudomallei là một vi khuẩn gây bệnh cơ hội, thường xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở khi tiếp xúc với bùn đất, có khả năng trùng hợp actin từ tế bào này qua tế bào khác và tiết ra các độc tố nguy hiểm. Tỷ lệ tử vong do bệnh Whitmore là từ 20 – 50% cho dù có điều trị, tỷ lệ tử vong cao có thể do bệnh được chẩn đoán muộn dẫn đến giai đoạn nặng, xuất hiện các biến chứng như sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng

Vắc xin phòng bệnh

Hiện chưa có vắc xin đặc hiệu phòng bệnh, nếu xảy ra các dấu hiệu nghi nhiễm B. pseudomallei cần đến các cơ sở y tế ngay để được chẩn đoán và điều trị.

Triệu chứng của bệnh Whitmore

Triệu chứng của bệnh Whitmore thường khác nhau tuỳ thuộc vào loại nhiễm trùng, các loại Whitmore bao gồm phổi, máu, nhiễm khuẩn tại chỗ và lan truyền.

– Các vết loét thường gặp ở gan, phổi, lách và tuyến tiền liệt, ít xuất hiện trên xương, khớp, hạch bạch huyết và não.

– Nhiễm trùng phổi: Dấu hiệu phổ biến nhất của Whitmore là nhiễm trùng phổi, có thể xảy ra đầu tiên hoặc là hậu quả của nhiễm khuẩn huyết, từ nhẹ như viêm phế quản hoặc nặng hơn là viêm phổi và có thể dẫn đến sốc nhiễm khuẩn. Các triệu chứng của nhiễm trùng phổi có thể bao gồm:

  • Ho: ho khan hoặc ho có đờm
  • Sốt cao
  • Đau ngực khi thở
  • Đau đầu và đau nhức cơ
  • Giảm cân

Nhiễm B.pseudomallei phổi có thể bị nhầm với lao, kể cả khi đã có hình ảnh X-quang phổi.

– Nhiễm khuẩn huyết: Nếu không được điều trị nhanh chóng, bệnh có thể diễn biến thành nhiễm khuẩn huyết, có thể xảy ra các biến chứng như sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng với tỷ lệ tử vong cao, các triệu chứng thường bao gồm:

  • Sốt, kèm theo rét run và đổ mồ hôi
  • Đau đầu; đau khớp và đau cơ
  • Đau họng
  • Mất phương hướng
  • Khó thở
  • Tiêu chảy
  • Đau bụng trên
  • Vết loét có mủ trên da hoặc bên trong

Nguy cơ xảy ra nhiễm khuẩn huyết tăng lên trên các bệnh nhân có các bệnh nền như: đái tháo đường; bệnh gan, thận mạn tính, thalassemia, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư hoặc các tình trạng suy giảm miễn dịch. Người bệnh trên 40 tuổi cũng có nguy cơ bị nhiễm khuẩn huyết cao hơn người trẻ tuổi.

– Nhiễm khuẩn tại chỗ: Ảnh hưởng tới da và các cơ quan ngay dưới da, nhiễm khuẩn tại chỗ có thể lan đến máu, các triệu chứng có thể bao gồm:

  • Sốt
  • Loét hoặc áp xe trên, hoặc ngay bên dưới da – chúng có thể bắt đầu như những nốt sần, màu xám hoặc trắng, sau đó trở nên mềm và viêm, trông giống vết thương.

Whitmore có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan và dễ chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác, do đó tỷ lệ tử vong của bệnh thường cao do chẩn đoán muộn.

Tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán Whitmore chính là nuôi cấy phân lập vi khuẩn B. pseudomallei từ bệnh phẩm như máu, đờm, mủ, nước tiểu, dịch bao hoạt dịch, dịch màng bụng, dịch màng tim… Môi trường nuôi cấy có thể là thạch máu, thạch Macconkey, EMB… Tuy nhiên kết quả nuôi cấy âm tinh cũng không cho phép bỏ qua trường hợp mắc Whitmore.

– Điều trị kháng sinh là bắt buộc tuỳ thuộc vào các loại Whitmore

– Giai đoạn đầu điều trị bệnh Whitmore là tối thiểu 10 – 14 ngày điều trị kháng sinh bằng tĩnh mạch (IV) và thời gian điều trị có thể kéo dài đến 8 tuần. Có thể lựa chọn một trong hai:

  • Ceftazidime 2g (Fortaz, Tazicef) (50 mg/kg đối với trẻ em, tối đa 2g) tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ ít nhất 14 ngày
  • Meropenem 1g (Merrem, Meronem) (25 mg/kg đối với trẻ em, tối đa 1g) tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ ít nhất 14 ngày.

– Giai đoạn thứ hai kéo dài từ 3 – 6 tháng với kháng sinh đường uống:

  • Co – trimoxazol (Sulfamethoxazol + Trimethoprim) (Bactrim, Biseptol) uống mỗi 12 giờ
  • Doxycyclin (Alodox, Cyclindox) uống mỗi 12 giờ.

Tái phát hầu như không xảy ra, chỉ xuất hiện trên các trường hợp không tuân thủ điều trị bằng kháng sinh.

Dịch và tổng hợp: Quang Sáng

https://www.healthline.com/health/melioidosis https://vi.wikipedia.org/wiki/Burkholderia_pseudomallei https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10093229 https://jcm.asm.org/content/54/12/2866

Copy ghi nguồn: https://www.luuanh.com/

【#5】Bệnh Whitmore Là Gì Và Những Điều Cần Biết

Bệnh Whitmore (hay melioidosis) là một bệnh NHIỄM TRÙNG GÂY CHẾT NGƯỜI từ khuẩn Burkholderia pseudomallei, gây ảnh hưởng đến cả người và động vật.

Bệnh có khả năng lây lan qua qua tiếp xúc với nước và đất bị nhiễm khuẩn, thường xuất hiện ở nơi khí hậu nhiệt đới gió mùa

  • Khi hít phải bụi bẩn hoặc các giọt nước bị nhiễm vi khuẩn.
  • Khi uống nước bị nhiễm mà không được khử trùng
  • Khi sờ vào đất bị nhiễm bằng tay hoặc chân trần, đặc biệt là nếu có trầy xước trên da.

Vi khuẩn bệnh whitmore sống rất dai, có thể sống NHIỀU NĂM LIỀN trong môi trường đất & nước đã bị nhiễm khuẩn.

Bệnh có biểu hiện ở vị trí khác nhau & có các triệu chứng khác nhau nên thường dễ nhầm lẫn với các triệu chứng của nhiễm trùng thông thường khác: quai bị, áp xe, viêm tấy..

Tỉ lệ tử vong của bệnh Whitmore là 40-60%, bệnh nhân có thể tử vong trong 1 tuần với các trường hợp nặng bị nhiễm khuẩn cấp.

Các triệu chứng bao gồm:

Các triệu chứng bao gồm:

– Sốt cao, rét run

– Đau đầu

– Đau họng

– Khó thở

– Đau vùng bụng trên

– Tiêu chảy

– Đau khớp và đau cơ

– Mất phương hướng

– Vết loét có mủ trên da

– Vết loét hình thành ở nhiều cơ quan khác nhau rải rác trên cơ thể

– Sụt cân

– Đau đầu

– Co giật

– Đau ở các bộ phận khác nhau ( ngực / dạ dày / cơ / khớp )

Hiện tại CHƯA CÓ vaccine phòng & điều trị bệnh Whitmore. Khi nhiễm bệnh chỉ có thể điều trị qua hai giai đoạn

– Giai đoạn 1: tối thiểu 10 đến 14 ngày dùng kháng sinh truyền tĩnh mạch (IV). Điều trị bằng kháng sinh này có thể kéo dài tới tám tuần.

– Giai đoạn 2: là 3 đến 6 tháng của một trong hai kháng sinh đường uống

  • – Hạn chế tiếp xúc với bùn, đất hoặc các vùng nước có khả năng bị ô nhiễm
  • – ĐẢM BẢO VỆ SINH THÂN THỂ SẠCH SẼ
  • – RỬA TAY, RỬA CHÂN THƯỜNG XUYÊN đặc biệt sau khi ra ngoài về
  • – Xịt khuẩn & giữ vệ sinh môi trường xung quanh.
  • – Đi đến bệnh viên hoặc các cơ quan y tế gần nhất khi có các triệu chứng: sốt cao, viêm phổi, áp xe, nổi cục nhiễm trùng ở các vùng khác nhau trên cơ thể.

【#6】Bệnh Whitmore Là Gì? Bệnh Whitmore Có Lây Không?

Bệnh Whitmore là gì? Bệnh whitmore có lây không?

Hiện nay có nhiều ca tử vọng do bệnh Whitmore gây ra, khiến nhiều người dân hoang mang đặc biệt là những gia đình có trẻ nhỏ. Nhiều người vẫn chưa nắm rõ được Bệnh Whitmore là gì? Bệnh whitmore có lây không? Chính vì thế chúng tôi sẽ cung cấp chi tiết về loại bệnh này để giúp bạn có thể phòng tránh tốt nhất về căn bệnh nguy hiểm này.

Bệnh melioidosis hay còn được gọi là bệnh Whitmore, đây là bệnh truyền nhiễm có thể lây nhiễm cho người hoặc động vật. Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei tồn tại trong nước và đất bị ô nhiễm. Bệnh này chủ yếu xảy ra ở các nước khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là ở Đông Nam Á và miền bắc Australia do lây truyền sang người và động vật thông qua tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh bị ô nhiễm.

Ngày 19/11/2019 tại Việt Nam đã có 2 ca tử vong là 2 em nhỏ. Thời gian phát bệnh và điều trị trong vòng 7 tháng

” Bạn đã biết: Những cách lấy mã giảm giá Lazada cho mọi đơn hàng

Cách nhận biết bệnh Whitmore

Do có một số loại Melioidosis khác nhau và mỗi loại gây cho người bệnh những các triệu chứng khác nhau. Sau khi bị vi khuẩn xâm nhập, thường sau 2-4 tuần, các triệu chứng bệnh bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, các dấu hiệu này thường rất mơ hồ, chẩn đoán rất khó nên dễ bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh khác như lao, các bệnh về phổi, nhiễm khuẩn huyết. Dấu hiệu như sau:

Nhiễm trùng máu:

Bệnh Whitmore có lây không?

Bệnh whitmore có thể lây qua nhiều con đường, cụ thể:

  • Con đường lây nhiễm chính của bệnh Whitmore là qua tiếp xúc các vết trầy xước trên da với đất hoặc nước có nhiễm vi khuẩn.
  • Bệnh còn lây nhiễm qua đường hô hấp khi hít phải các hạt bụi đất có mang vi khuẩn trong những trận gió, lốc xoáy trước cơn mưa.
  • Nhiễm bệnh khi ăn phải các thức ăn có vi khuẩn.
  • Bệnh có thể truyền từ mẹ sang con qua tuyến sữa khi người mẹ bị áp-xe tuyến vú do vi khuẩn B. pseudomallei.
  • Lây truyền qua việc tiếp xúc vết xước trầy da với động vật chết do nhiễm bệnh Whitmore như: chó, mèo, bò, dê…

Cách phòng bệnh Whitmore

Hiện, Vẫn chưa có loại Vacxin nào phòng bệnh Whitmore, do đó bạn nên chủ động phòng bệnh để bảo vệ các thành viên trong gia đình.

  • Vệ sinh môi trường ở sạch sẽ.
  • Khi làm việc hay sinh hoạt trong những môi trường bùn đất, ẩm, ướt, môi trường có nguy cơ nhiễm vi khuẩn Whitmore cao: Cần chú ý tránh để bị xây xước hoặc có vết thương hở. Trong trường hợp có vết xước da, dù là nhỏ cũng cần được che chắn, bảo vệ kỹ để tránh nhiễm bệnh.
  • Khi bị xây xước da, cần được sát khuẩn kịp thời, nếu xuất hiện mụn mủ, cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt.
  • Ngoài ra, vệ sinh an toàn thực phẩm tốt, ăn chín, uống chín.
  • Khi có dấu hiệu, cần đến các cơ sở y tế ngay để kịp thời điều trị.

Với những thông tin trên, ho vọng sẽ giúp bạn hiểu hơn về và có những biện pháp phòng tránh tốt nhất.

【#7】Bệnh Whitmore Là Gì? Triệu Chứng Của Bệnh Như Thế Nào?

Bệnh whitmore là gì?

Bệnh whitmore hay còn được gọi là bệnh melioidosis, đây là một căn bệnh truyền nhiễm có thể lây nhiễm cho người hoặc động vật. Nguyên nhân chính gây ra căn bệnh này chính là do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei. Loại vi khuẩn này thường sống ở trong đất hoặc nguồn nước bị ô nhiễm.

Căn bệnh này xảy ra chủ yếu ở những nước ở vùng nhiệt đới, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Nam Á và miền Bắc của Australia. Đường lây truyền chủ yếu là do người và động vật tiếp xúc trực tiếp cùng với nguồn bệnh bị ô nhiễm.

Cách thức lây nhiễm bệnh whitmore

Bất kỳ ai cũng có thể bị lây nhiễm căn bệnh này thông qua tiếp xúc trực tiếp cùng với nguồn bệnh. Những trường hợp được cho là nhiễm trùng do hít phải nước, bụi bẩn bị ô nhiễm, uống phải nguồn nước bị nhiễm bệnh hay tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, đặc biệt là khi trên da có những vết trầy xước.

Rất hiếm có trường hợp bị mắc bệnh do bị lây nhiễm từ người khác. Đã có một vài trường hợp được ghi nhận rằng, nước và đất bị ô nhiễm chính là cách thức chủ yếu khiến cho con người bị nhiễm bệnh.

Ngoài con người, nhiều loài động vật cũng rất dễ mắc phải căn bệnh này. Cụ thể là những loài động vật sau đây: Cừu; Dê; Heo; Ngựa; Mèo; Loài chó; Gia súc…

Triệu chứng khi mắc bệnh Whitmore

Hiện nay có rất nhiều loại vi khuẩn melioidosis khác nhau, mỗi loại sẽ gây ra cho người nhiễm bệnh những triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất mà chúng ta cần phải lưu ý là melioidosis có một loạt dấu hiệu có thể sẽ bị nhầm lẫn đối với các bệnh lý khác như bệnh viêm phổi hoặc bệnh lao.

Nhiễm trùng cục bộ:

Nhiễm trùng phổi

Nhiễm trùng máu

Nhiễm trùng lan truyền:

Hiện nay, chúng ta vẫn chưa xác định được rõ ràng khoảng thời gian tiếp xúc với vi khuẩn gây bệnh và lúc xuất hiện những triệu chứng của bệnh, có thể từ một ngày cũng có thể là nhiều năm. Nhìn chung, những dấu hiệu của bệnh thường xuất hiện trong khoảng từ 2 cho đến 4 tuần sau khi tiếp xúc. Mặc dù bạn trông có vẻ hoàn toàn khỏe mạnh nhưng cũng có thể đã bị nhiễm melioidosis.

Bên cạnh đó, khi mắc phải một số loại bệnh cũng khiến cho hệ miễn dịch của cơ thể bị suy giảm. Cụ thể là những người bị mắc những căn bệnh sau đây có thể dễ bị nhiễm melioidosis hơn so với người bình thường:

  • Bệnh thalassemia
  • Bệnh đái tháo đường
  • Bệnh phổi mãn tính (như bệnh u xơ nang, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và bệnh giãn phế quản)

Loại vi khuẩn này thường sống ở trong đất hoặc nguồn nước bị ô nhiễm

Nguy cơ phơi nhiễm bệnh Whitmore

Bệnh Whitmore đang diễn ra ở trên khắp thế giới, bắc Úc và Đông Nam Á chính là những khu vực thường xuyên có người bị mắc bệnh nhất. Theo ghi nhận tại Hoa Kỳ, các trường hợp mắc bệnh được báo cáo trong những năm trước dao động từ 0 đến 5 người, hầu hết các trường hợp đều là người du lịch cùng với những người nhập cư từ những nơi mà căn bệnh này đang lan rộng.

Bên cạnh đó, bệnh Whitmore cũng được tìm thấy ở một số quân nhân trong quân đội của các quốc gia đã phục vụ trong quân ngũ tại những khu vực có bệnh lan rộng. Số trường hợp mắc bệnh Whitmore lớn nhất đã được báo cáo là tại các nước:

Mặc dù rất hiếm khi được báo cáo về những trường hợp mắc bệnh nhưng những quốc gia này vẫn được cho là thường xuyên gặp phải bệnh Whitmore:

Bên ngoài khu vực Bắc Úc và Đông Nam Á cũng đã có những trường hợp mắc bệnh được báo cáo ở:

Cách điều trị bệnh Whitmore

Khi người bệnh đã được chẩn đoán mắc bệnh Whitmore có thể được chỉ định điều trị bằng cách sử dụng những loại thuốc phù hợp.

Tùy thuộc từng loại melioidosis mà người bệnh nhiễm phải sẽ có cách thức điều trị khác nhau, điều này sẽ có thể ảnh hưởng tới kết quả và thời gian điều trị bệnh lâu dài của bệnh nhân. Việc điều trị bệnh cho bệnh nhân thường bắt đầu bằng cách tiêm thuốc kháng sinh vào đường tĩnh mạch trong khoảng từ 10 cho đến 14 ngày, sao đó sẽ sử dụng thuốc kháng sinh bằng đường uống trong khoảng từ 3-6 tháng.

Thuốc điều trị tiêm tĩnh mạch bao gồm: Meropenem dùng mỗi 8 giờ hoặc Ceftazidime dùng mỗi 6-8 giờ.

Thuốc kháng sinh đường uống bao gồm: Amoxicillin / axit clavulanic (co-amoxiclav) được thực hiện mỗi 8 giờ hoặc Trimethoprim-sulfamethoxazole uống mỗi 12 giờ.

Nếu như người bệnh bị dị ứng đối với penicillin thì hãy thông báo tình trạng của mình cho bác sĩ cùng với các nhân viên y tế để có thể thay thế thuốc điều trị hiệu quả nhất.

Cách phòng ngừa bệnh Whitmore

Tại những nơi có bệnh lan truyền hoặc có nguy cơ mắc bệnh cao, việc tiếp xúc trực tiếp cùng với nguồn nước hoặc đất bị ô nhiễm có thể là tăng nguy cơ mắc bệnh. Khi sinh sống ở những khu vực này, chúng ta cũng có thể giảm thiểu được rủi ro bị phơi nhiễm bằng cách thực hiện theo những hướng dẫn sau đây:

  • Nhân viên y tế nên sử dụng một số biện pháp phòng ngừa qua đường tiếp xúc bằng cách sử dụng mặt nạ, găng tay và áo choàng để giúp hạn chế tình trạng bị nhiễm trùng.
  • Những người nông dân nên mang ủng khi xuống rộng để ngăn chặn tình trạng vi khuẩn xâm nhập qua chân.
  • Những người có vết thương ở ngoài da, những người bị mắc bệnh đái tháo đường, bệnh thận mãn tính có nguy cơ mắc bệnh rất cao nên tránh tiếp xúc với đất và những nơi có nước đọng.

【#8】Bệnh Whitmore Là Gì? Hình Ảnh Vi Khuẩn, Phác Đồ Điều Trị, Khám Ở Đâu?

Trong 6 bệnh nhân đầu tiên nhập viện và điều trị, có tới 4 người đã tử vong, 2 người còn lại phải điều trị bằng kháng sinh trong thời gian khá dài nữa để tránh nguy cơ tái phát. Tỷ lệ tử vong cao, khả năng hồi phục thấp, dễ tái phát đã khiến cho Whitmore trở thành một trong những từ khóa được tìm kiếm hàng đầu trong thời gian đó.

Bệnh Whitmore là gì?

Virus Whitmore gây nên bệnh?

Whitmore là một loại bệnh nhiễm trùng, còn được biết đến với cái tên Melioidosis. Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn gram âm có tên khoa học Burkholderia pseudomallei. Loại vi khuẩn này được tìm thấy nhiều trong những nơi có đất và nước bị ô nhiễm, chúng có khả năng di động, sống trên bề mặt nước và trong đất đặc biệt là bùn đất, nơi có điều kiện vệ sinh không đảm bảo. Vi khuẩn phát triển nhanh và mạnh, ưa sống ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, gặp nhiều nhất ở vùng Đông Nam Á và Bắc Úc.

Với mức độ nguy hiểm, khả năng lây nhiễm khi tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh cao, loại vi khuẩn này có thể được quan tâm và nghiên cứu để sử dụng cho chiến tranh sinh học và khủng bố sinh học.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần biết rằng đây không phải là một loại vi khuẩn hay một loại bệnh mới, mà nó đã được tìm ra và nghiên cứu cách đây hơn 100 năm bởi Alfred Whitmore. Nhưng vào thời điểm đó tỷ lệ mắc bệnh này hằng năm vô cùng nhỏ, cũng quá khó khăn trong việc tìm ra cách chữa bệnh nhanh và đặc hiệu nên căn bệnh này dần bị lãng quên.

Mãi cho đến đầu năm 2021, mọi người mới bắt đầu chú ý tới căn bệnh này bởi số người mắc đã lên đến hơn 20 trường hợp chỉ từ đầu năm 2021 đến nay.

Hình ảnh bệnh Whitmore

Dấu hiệu bệnh Whitmore vi khuẩn ăn thịt người

Thời gian ủ bệnh từ ngắn đến rất dài, trung bình vào khoảng 2-4 tuần nên triệu chứng của bệnh là rất khác nhau tùy theo thời gian ủ bệnh và loại Whitmore mà người đó mắc phải.

Mọi người cần nhớ kỹ và nắm rõ các triệu chứng của bệnh vì đôi khi rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác như viêm phổi hay lao.

Bệnh Whitmore có các dấu hiệu như sau:

Nhiễm trùng cục bộ: xuất hiện các triệu chứng điển hình trên các vùng da (viêm mô tế bào).

Nhiễm trùng phổi: Nhiễm trùng có thể từ viêm phế quản nhẹ đến viêm phổi nặng, kèm theo các biểu hiện như:

Nhiễm trùng máu: Sau một khoảng thời gian nhất định, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào máu gây nên:

Các triệu chứng này rất dễ gặp ở bệnh nhân đái tháo đường và suy thận. Ngoài ra còn có thể bị sốc nhiễm trùng, áp xe xuất hiện tại nhiều khu vực trên cơ thể mà điển hình là tuyến tiền liệt, gan, lá lách.

Nhiễm trùng lan tỏa: Khi vi khuẩn Whitmore đã xâm nhập vào máu, bệnh có thể chuyển sang dạng mãn tính gây ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan quan trọng trong cơ thể như tim, gan, thận, não, mắt và khớp. Với các triệu chứng bao gồm:

Khoảng thời gian mới tiếp xúc và nhiễm bệnh là lúc bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của bệnh, khi thấy có các triệu chứng nghi ngờ là của bệnh Whitmore, hãy đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị sớm nhất để giảm mức độ nguy hiểm cũng như tiến triển nặng của bệnh.

Vi khuẩn này không tạo thành những đại dịch lớn bởi tính lây nhiễm chéo không cao. Tuy nhiên, nó có thể để lại những biến chứng nặng nề cho người mắc như: nhiễm trùng huyết, Phổi bị tổn thương tương tự như bệnh lao phổi, nghiêm trọng hơn người bệnh còn phải cắt bỏ chi do hoại tử sâu, thậm chí tử vong dù có được điều trị kịp thời.

Khi mắc Whitmore, bệnh tiến triển rất nhanh, vi khuẩn lan rộng sẽ phá hủy, làm hoại tử phần mô của cơ và da người bệnh. Do đó loại vi khuẩn này còn được biết đến với cái tên “vi khuẩn ăn thịt người”. Khi phát hiện ra bệnh, bác sĩ cần nhanh chóng đưa ra phác đồ điều trị sớm nhất để tránh những biến chứng nguy hiểm, tránh vi khuẩn phát triển và lan rộng vì tốc độ lan truyền trong cơ thể của nó quá nhanh.

Biến chứng sẽ xuất hiện với tỷ lệ cao hơn và nghiêm trọng hơn với những đối tượng trong cơ thể đã có sẵn các bệnh nền. Vì thế việc tập luyện thể thao, rèn luyện sức khỏe để chống lại bệnh tật là việc rất cần thiết phải thực hiện.

Bệnh Whitmore có lây không?

Bệnh Whitmore có con đường lây nhiễm chính là các vết trầy xước trên da tiếp xúc trực tiếp với vùng đất và nước ô nhiễm, có vi khuẩn Whitmore sinh sống. Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào đầy đủ và thuyết phục về việc lây truyền bệnh giữa người với người hay từ động vật sang người qua đường không khí. Bệnh không bùng phát thành dịch hay đại dịch lớn mà chỉ xảy ra lác đác.

Tuy nhiên, bệnh có khả năng truyền từ mẹ sang con qua đường sữa mẹ nếu như người mẹ bị áp xe tuyến vú. Hoặc lây truyền qua việc tiếp xúc trực tiếp vết xước trên da với xác động vật chết do bị nhiễm Whitmore.

Cách thức lây nhiễm

Vi khuẩn này thường sống trên bề mặt nước và trong bùn đất, được tìm thấy trong đất, các vùng có nước tù đọng, các cánh đồng lúa gạo,… Chúng lây sang cơ thể người qua một số cách sau:

    Vùng da bị tổn thương tiếp xúc trực tiếp với khu vực có nhiều vi khuẩn như đất hay nước ô nhiễm.
  • Qua đường hô hấp: Hít phải vi khuẩn tồn tại trong các hạt bụi đất hay lơ lửng trong những giọt nước li ti trong không khí, nhất là vào thời tiết mùa mưa.
  • Uống phải nguồn nước ô nhiễm có chứa vi khuẩn.

Có ghi nhận các ca mắc do lây từ người sang người, nhưng vô cùng hiếm gặp.

Whitmore Disease – Đặc điểm dịch tễ

Bệnh Whitmore được ghi nhận đã diễn ra trên toàn thế giới, nhưng chủ yếu vẫn là ở Đông Nam Á và Bắc Úc. Tại Hoa Kỳ, mỗi năm ghi nhận từ 0 đến 5 ca mắc nhưng chủ yếu là khách du lịch và người nhập cư từ các đất nước mà căn bệnh này xuất hiện phổ biến. Không chỉ thế, bệnh còn xuất hiện trong quân đội phục vụ ở những khu vực mà bệnh lan rộng.

Các khu vực có số người mắc Whitmore cao nhất là:

Dù rất ít xuất hiện trong các báo cáo về dịch tễ nhưng các nước thường xuyên có ca mắc được cho là:

  • Brazil
  • Ecuador
  • Nam Thái Bình Dương (New Caedonia)
  • El Salvador
  • Panama
  • Sri Lanka
  • Guadeloupe
  • Puerto Rjco
  • Mexico
  • Guyana
  • Martinique
  • Peru
  • Một số phần của Châu Phi và Trung Đông.

Ngoài các khu vực được cho là có ca mắc lớn như Đông Nam Á và Bắc Úc, một số khu vực được báo cáo đã xuất hiện ca mắc bệnh như:

Yếu tố nguy cơ

Bệnh gặp chủ yếu ở vùng Đông Nam Á và Bắc Úc nên người sống trong khu vực này cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn các khu vực khác. Ngoài vùng trên thì bệnh này khá hiếm gặp.

Thời gian ủ bệnh kéo dài có khi tới 21 ngày nên rất khó phát hiện, các triệu chứng bệnh lại dễ khiến chúng ta nhầm lẫn với các bệnh truyền nhiễm hay viêm nhiễm khác nên người bệnh thường chủ quan, tự điều trị tại nhà, đến khi bệnh đã chuyển biến nặng mới tới bệnh viện điều trị.

  • Người đang sinh sống và làm việc tại khu vực Đông Nam Á, Bắc Úc.
  • Người mang trong mình bệnh mãn tính như: gan mãn tính, tiểu đường, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, xơ nang, giãn phế quản, thận mãn tính.
  • Người uống nhiều bia rượu, sử dụng chất kích thích.
  • Người bị tan máu bẩm sinh, có bệnh lý về huyết học.
  • Bệnh nhân bị ung thư.
  • Người có công việc thường xuyên phải tiếp xúc với đất, vùng nước bị ô nhiễm, phải ngâm mình dưới nước, xuất hiện nguy cơ cao hơn khi trên người có vết trầy xước.
  • Một số yếu tố khác bao gồm bệnh nhân bị thấp khớp, suy tim sung huyết, sử dụng liệu pháp steroid và thuốc ức chế miễn dịch,bệnh hemosiderosis, bệnh tạo u hạt mãn tính và bệnh lao. Đây cũng là nhóm đối tượng có nguy cơ cao với bệnh Whitmore.

Người mắc Whitmore có tỷ lệ tử vong cao, có khi lên tới 40-60%, khả năng nhiễm bệnh và tử vong cao hơn với các đối tượng sau:

Bệnh Whitmore ở Việt Nam – Thời điểm bùng phát

Khoảng 70% lượng người mắc bệnh Whitmore nhập viện được thống kê là trong thời điểm từ tháng 9 đến tháng 11. Chỉ trong thời gian vài tháng, có khoảng vài trăm ca bệnh đã được phát hiện. Người mắc đa số là nông dân, tuổi tác trong khoảng từ 50-70 tuổi, các bệnh nhân thường đã mắc sẵn một số bệnh như bệnh tiểu đường hay bệnh về thận và phổi mãn tính nên nguy cơ bị xuất huyết và viêm phổi là rất cao.

Số lượng ca bệnh tỷ lệ thuận với lượng mưa hàng năm, điển hình là các tháng 9, 10, 11 với lượng mưa lớn nhất trong năm nên mọi người cần chú ý phòng ngừa cẩn thận để không bị mắc bệnh.

Vi khuẩn Whitmore – Chẩn đoán

Việc chẩn đoán bệnh Whitmore được thực hiện thông qua các xét nghiệm vi sinh học với mẫu bệnh phẩm là máu, đờm, nước tiểu hay phần da bị tổn thương. Tùy vào vị trí nhiễm trùng mà lấy cho phù hợp.

Nếu có thể phân lập được vi khuẩn Burkholderia pseudomallei từ các mẫu bệnh phẩm trên thì có thể đưa ra kết luận bệnh nhân đã mắc Whitmore.

Xét nghiệm máu là một phương pháp khá hữu ích để phát hiện sớm vi khuẩn trong giai đoạn bệnh cấp tính. Tuy nhiên, nếu xét nghiệm cho kết quả âm tính, ta cũng chưa hoàn toàn khẳng định được bệnh nhân không mắc Whitmore.

Phương pháp xét nghiệm để tìm kháng thể kháng vi khuẩn trong máu đôi khi có tác dụng, cho kết quả chính xác, nhưng cách này ít được sử dụng vì độ nhạy không cao.

Một số xét nghiệm thường được sử dụng: Xét nghiệm cố định bổ thể, xét nghiệm kết dính hồng cầu gián tiếp, xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase,…

Các xét nghiệm khác: Chụp CT và MRI để phát hiện các áp xe ở các vị trí như lá lách, tuyến tiền liệt hay gan, X-quang phổi nếu bệnh nhân bị nhiễm trùng phổi, X-quang xương, siêu âm ổ bụng, vùng chậu,…

Phác đồ điều trị Whitmore Bộ Y tế

Sau khi được xác định đã nhiễm vi khuẩn Whitmore, tùy vào tình trạng bệnh và mức độ nặng nhẹ của bệnh mà bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị phù hợp.

  • Ở giai đoạn đầu sẽ dùng kháng sinh đường tĩnh mạch bao gồm: Ceftazidime mỗi 6-8 giờ, Meropenem mỗi 8 giờ (nếu đã dùng Ceftazidime mà tình trạng vẫn xấu đi hoặc dùng với bệnh nhân xuất hiện tình trạng nhiễm trùng thần kinh trung ương).
  • Sau một thời gian sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch, bệnh nhân sẽ được chuyển sang sử dụng kháng sinh đường uống. Các kháng sinh sử dụng cho đường uống là: Amoxicillin kết hợp Acid Clavulanic mỗi 8 giờ hoặc Trimethoprim kết hợp Sulfamethoxazole mỗi 12 giờ. Sử dụng thuốc thận trọng với bệnh nhân có tiền sử dị ứng với penicillin.
  • Với các thể bệnh nặng có thể dùng kết hợp hai loại kháng sinh, thời gian điều trị có thể kéo dài đến 12 tháng.

Một phác đồ điều trị thông thường sẽ khá dài. Nếu đi thăm khám kịp thời và mức độ biểu hiện không quá nặng thì sẽ mất khoảng 10-14 ngày để điều trị. Tuy nhiên với những bệnh nhân mắc bệnh nặng, để bệnh tiến triển xấu đi mới tới khám thì một phác đồ điều trị sẽ mất khoảng 4 đến 6 tuần. Sau giai đoạn điều trị đầu tiên đó thì bệnh nhân vẫn phải tiếp tục dùng kháng sinh trong 3 đến 6 tháng nữa. Cụ thể như sau:

Mặc dù tỷ lệ bệnh lây từ người sang người là rất thấp nhưng việc cách ly bệnh nhân vẫn là việc cần thiết.

Trong trường hợp người bệnh có biểu hiện của Melioidosis phổi, cấy vi khuẩn vẫn cho kết quả dương tính sau 6 tháng thì cần phải cân nhắc khả năng phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi để loại bỏ hoàn toàn các áp xe phổi

Phòng ngừa bệnh Whitmore

Phòng bệnh đặc hiệu: Biện pháp này không thực hiện được vì hiện vẫn chưa nghiên cứu ra vacxin hiệu quả với vi khuẩn này.

Phòng bệnh không đặc hiệu: Đóng vai trò quan trọng vì là biện pháp chủ yếu hiện nay.

  • Tránh tiếp xúc với đất hoặc vùng nước bị ô nhiễm.
  • Nếu đặc thù công việc bắt buộc cần phải tiếp xúc thì cần mang giày, ủng, găng tay bảo hộ đầy đủ.
  • Nếu trên người có vết xước, vết thương hở thì tránh đến những khu vực có thể là nguồn lây bệnh.
  • Người bị tiểu đường, viêm thận mãn tính là những đối tượng có nguy cơ mắc cao hơn những đối tượng khác, cần thận trọng hơn.
  • Hạn chế ra đường trong mùa mưa bão, nước ngập vì vi khuẩn Whitmore tồn tại rất lâu trong môi trường này, nếu ra ngoài hãy che chắn, băng bó vết thương cẩn thận.
  • Khử trùng các vật dụng nhà bếp như thớt, dao thường xuyên và thay miếng rửa bát định kỳ.
  • Nhân viên y tế cần trang bị đủ khẩu trang, găng tay, áo khoác diệt khuẩn khi làm việc hay tiếp xúc với bệnh nhân.
  • Uống nước đun sôi, nước đóng chai.
  • Ăn uống, tập luyện thể thao hợp lý để nâng cao sức đề kháng.
  • Nếu có những dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh Whitmore, đến ngay trung tâm y tế để được lấy mẫu xét nghiệm và xác định bệnh kịp thời.

Ở những nơi đã xuất hiện bệnh, đặc biệt là những khu vực ghi nhận số ca nhiễm lớn hàng năm cần đặc biệt chú ý và tuân thủ các biện pháp phòng bệnh. Để giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm, người dân cần phải chú ý những điều sau:

Khám bệnh whitmore ở đâu?

Khi phát hiện những biểu hiện của bệnh, bệnh nhân cần nhanh chóng đến cơ sở y tế lớn hoặc bệnh viện Nhiệt đới Trung ương để được lấy mẫu bệnh phẩm đem đi xét nghiệm sớm nhất tránh để bệnh nặng thêm dẫn đến khó điều trị, tăng nguy cơ tử vong.

Tiên lượng bệnh Whitmore

  • Với người xuất hiện triệu chứng của nhiễm trùng phổi và nhiễm trùng huyết lan tỏa thì tỷ lệ tử vong là khoảng 90%. Có thể nói là gần như không có cơ hội sống sót.
  • Dù có được điều trị bằng các loại kháng sinh thì tỷ lệ tử vong vẫn ở mức cao: khoảng 50% đối với người bị nhiễm trùng huyết và khoảng 40% với người bị nhiễm trùng phổi.
  • Tỷ lệ tử vong ở các nước cũng có sự khác biệt rõ rệt. Ở Thái Lan, tỷ lệ tử vong lên đến 50%, trong khi ở Úc, tỷ lệ này chỉ khoảng 19%.

Do có tỷ lệ mắc khá thấp nên nhiều người không được trang bị kiến thức đầy đủ về mức độ nguy hiểm của loại bệnh này.

Đây là một loại bệnh khá nguy hiểm, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời thì tỷ lệ tử vong rất cao:

Whitmore là một loại bệnh tương đối nguy hiểm, có thể gặp ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh đến người già, thậm chí người khỏe mạnh, hay gặp nhất ở những người đã có bệnh nền. Với tỷ lệ tử vong cao, phác đồ điều trị phức tạp nên việc phòng bệnh quan trọng hơn rất nhiều so với việc trị bệnh.

Hy vọng qua bài viết trên chúng tôi đã có thể cung cấp cho các bạn những kiến thức đầy đủ và hữu ích nhất.

【#9】Bệnh Whitmore Là Gì? Sự Nguy Hiểm Của “vi Khuẩn Ăn Thịt Người”

Hiện nay, có một căn bệnh đang gây xôn xao cộng đồng trong thời gian vừa qua. Theo thống kê của bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), đã có hơn 20 bệnh nhân đang điều trị . Căn bệnh Whitmore sau khi mất hút vài thập kỷ đã quay trở lại đe dọa tính mạng người dân và có nguy cơ bùng phát thành dịch tại Việt Nam. Vậy bệnh Whitmore là gì? chúng tôi sẽ giải đáp ngay sau đây.

Bệnh Whitmore là gì? Sự nguy hiểm của bệnh

Melioidosis (hay còn gọi là bệnh whitmore) là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do loài vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây nên. Whitmore có bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng, tiến triển nhanh và có thể cướp đi mạng sống chỉ sau 48 giờ nhập viện. Tỉ lệ tử vong khi nhiễm bệnh rất cao, từ 40 đến 100% tùy thuộc từng vùng.

Theo TS. Trịnh Thành Trung – Trưởng nhóm nghiên cứu vi khuẩn và Trưởng phòng Nghiên cứu Khoa học, Viện Vi Sinh vật và Công nghệ sinh học, ĐHQGHN chia sẻ, căn bệnh Whitmore gây ra do vi khuẩn Whitmore. Đây là căn bệnh truyền nhiễm cấp tính có thể lây lan và gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Với tính chất ăn mòn cơ thể, bệnh nhân sẽ bị lở loét phần thịt bên ngoài cơ thể. Nếu không chữa trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong.

Vi khuẩn Whitmore thường sống ở những nơi ẩm ướt và chúng có khả năng thích nghi cao, cùng sức đề kháng tốt. Nếu như mắc phải bệnh Whitmore, người bệnh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc điều trị.

Người già, trẻ em và những người nghiện rượu, ma túy hay mắc bệnh tiểu đường chính là nhóm đối tượng dễ bị khuẩn Whitmore xâm nhập nhất.

Dấu hiệu nhận biết bệnh Whitmore

Có nhiều dấu hiệu để nhận biết người bệnh bị nhiễm khuẩn Whitmore.

Đa phần bệnh nhân mắc phải Whitmore sẽ bị sốt, đau cơ khớp, co giật và sụt cân. Một số người có thể bị đau đầu, tức ngực.

Thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 9 ngày và chậm nhất là 21 ngày. Các triệu chứng sẽ bắt đầu xuất hiện từ tuần thứ 2 sau khi bị nhiễm khuẩn.

Người mắc phải bệnh Whitmore sẽ gặp các tình trạng:

Nhiễm trùng cục bộ: Khi bị khuẩn Whitmore tấn công, trên da sẽ bị nhiễm trùng và xuất hiện các vết sưng đau, lở loét kèm theo sốt.

Nhiễm trùng máu: Vi khuẩn Whitmore có thể xâm nhập vào máu khiến cho bệnh nhân khó chịu, nhức đầu và sốt. Đồng thời, người bệnh có thể đau bụng, đau các khớp và mất phương hướng.

Nhiễm trùng lây lan: Bệnh nhân mắc phải Whitmore sẽ đối mặt với nhiều nguy cơ vì vi khuẩn có thể lây lan từ lớp da qua máu ảnh hưởng trực tiếp đến hệ tim mạch, não và nội tạng.

Nhiễm trùng phổi: Phổi là bộ phận mà khuẩn Whitmore tấn công phổ biến nhất, chúng tạo thành một khoang mủ khiến cho người bệnh bị viêm phế quản và viêm phổi. Lúc này, bệnh nhân sẽ bị sốt, nhức đầu và khó thở. Họ có thể thường xuyên đau ngực và đau nhức cơ.

Cách điều trị bệnh Whitmore

Bệnh Whitmore cực kỳ nguy hiểm. Nếu như không điều trị kịp thời, người bệnh có thể bị nhiễm trùng huyết dẫn tới tử vong. Số người thiệt mạng do căn bệnh này gây ra lên tới 40%.

Để điều trị bệnh, các bác sĩ sẽ tiến hành điều trị 2 giai đoạn.

  • Giai đoạn 1: Sử dụng kháng sinh liều cao triệt tiêu vi khuẩn trong 10 – 14 ngày.
  • Giai đoạn 2: Cho người bệnh dùng kháng sinh đường dùng trong 3 – 6 tháng sau đó.

2 loại kháng sinh được sử dụng trong giai đoạn 1 là Meropenem và Ceftazidime, liều dùng khoảng 6 – 8h/liều.

Vi khuẩn Whitmore là căn bệnh rất nguy hiểm và có huy cơ bùng phát tại môi trường ẩm gió mùa của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay chưa có loại vaccine đặc trị nào để phòng bệnh.

Tại sao gọi là “vi khuẩn ăn thịt người”?

Bệnh do vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể qua da trầy xước là chính. Vi khuẩn từ vết xước đi vào máu gây nhiễm trùng máu hay áp xe hoại tử nhiều cơ quan trong đó có da và vùng da bị bệnh gây loét hoại tử nên bị gọi là ” vi khuẩn ăn thịt người”

Chính vì vậy, người dân phải thật sự thận trọng mỗi khi bị trầy xước da. Nếu bị thương cần rửa sạch với nước sát trùng và băng bó cẩn thận. Tránh xa những nơi có nguy cơ mắc bệnh. Nếu như phát hiện các dấu hiệu bệnh như sốt cao, mệt mỏi, lở loét da cần đưa đến cơ sở y tế để xét nghiệm, điều trị sớm.

【#10】Bệnh Whitmore Là Gì Và Biểu Hiện Thế Nào?

Bệnh melioidosis hay còn được gọi là bệnh Whitmore, đây là bệnh truyền nhiễm có thể lây nhiễm cho người hoặc động vật. Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei tồn tại trong nước và đất bị ô nhiễm. Bệnh này chủ yếu xảy ra ở các nước khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là ở Đông Nam Á và miền bắc Australia do lây truyền sang người và động vật thông qua tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh bị ô nhiễm.

Bất kỳ ai đều có thể bị nhiễm Melioidosis thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất và nước mặt bị ô nhiễm. Con người và động vật được cho là bị nhiễm trùng do hít phải bụi bẩn hoặc giọt nước bị nhiễm bẩn, uống phải nguồn nước bị ô nhiễm và tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, đặc biệt là qua các vết trầy xước trên da.

Rất hiếm khi người bệnh bị mắc bệnh do lây truyền từ người khác. Một vài trường hợp đã được ghi nhận, đất và nước mặt bị ô nhiễm là cách thức chủ yếu mà con người bị nhiễm bệnh này.

Bên cạnh con người, nhiều loài động vật dễ bị bệnh melioidosis, bao gồm: Cừu; Dê; Heo; Ngựa; Mèo; Loài chó; Gia súc…

Do có một số loại melioidosis khác nhau và mỗi loại đều gây cho người bệnh những các triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là melioidosis có một loạt các dấu hiệu và triệu chứng có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác như bệnh lao hoặc bệnh viêm phổi.

Nhiễm trùng cục bộ: Nhiễm trùng phổi: Nhiễm trùng máu: Nhiễm trùng lan truyền:

Khoảng thời gian tiếp xúc vi khuẩn gây bệnh và lúc xuất hiện các triệu chứng của bệnh không được xác định rõ ràng, nhưng có thể từ một ngày đến nhiều năm, nhưng nhìn chung các triệu chứng thường xuất hiện sau hai đến bốn tuần tiếp xúc.

Mặc dù những người khỏe mạnh có thể bị bệnh melioidosis, có một số người dễ mắc bệnh hơn như người mắc bệnh sau:

  • Bệnh gan
  • Bệnh thận
  • Bệnh thalassemia
  • Bệnh phổi mãn tính (như bệnh u xơ nang, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và bệnh giãn phế quản)

Trong khi nhiễm melioidosis đã diễn ra trên toàn thế giới, Đông Nam Á và Bắc Úc là những khu vực thường xuất hiện bệnh. Tại Hoa Kỳ, các trường hợp được báo cáo trong những năm trước đã dao động từ 0 đến 5 và xảy ra ở những người đi du lịch và người nhập cư đến từ những nơi mà căn bệnh này lan rộng. Ngoài ra, bệnh melioidosis còn được tìm thấy trong số quân đội của tất cả các quốc gia đã phục vụ trong các khu vực có bệnh lan rộng. Số lượng lớn nhất của các trường hợp mắc melioidosis được báo cáo tại:

Mặc dù hiếm khi được báo cáo, các trường hợp được cho là thường xuyên xảy ra tại:

  • Papua New Guinea
  • Hầu hết các tiểu lục địa Ấn Độ
  • Miền Nam Trung Quốc
  • Hồng Kông
  • Đài Loan
  • Việt Nam
  • Indonesia
  • Campuchia
  • Lào
  • Myanmar (Miến Điện)

Bên ngoài Đông Nam Á và Úc, các trường hợp đã được báo cáo ở:

  • Nam Thái Bình Dương (New Caledonia)
  • Sri Lanka
  • Mexico
  • El Salvador
  • Panama
  • Ecuador
  • Peru
  • Guyana
  • Puerto Rico
  • Martinique
  • Guadeloupe
  • Brazil
  • Một số phần của Châu Phi và Trung Đông

Khi chẩn đoán nhiễm melioidosis, bệnh có thể được điều trị bằng cách sử dụng thuốc thích hợp.

Tùy thuộc vào loại melioidosis bị nhiễm trùng và cách thức điều trị sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị lâu dài của người bệnh. Việc điều trị thường bắt đầu bằng tiêm thuốc kháng sinh đường tĩnh mạch trong 10 – 14 ngày, sau đó là 3-6 tháng điều trị thuốc kháng sinh đường uống.

Điều trị tiêm tĩnh mạch bao gồm:

    Ceftazidime dùng mỗi 6-8 giờ. Hoặc: Meropenem dùng mỗi 8 giờ

Điều trị kháng sinh đường uống bao gồm:

    Trimethoprim-sulfamethoxazole uống mỗi 12 giờ hoặc Amoxicillin / axit clavulanic (co-amoxiclav) được thực hiện mỗi 8 giờ

Nếu bệnh nhân bị dị ứng penicillin thì nên thông báo cho bác sĩ và các nhân viên Y tế khác được biết để thực hiện thuốc điều trị thay thế.

Ở những nơi có bệnh lan truyền, việc tiếp xúc với đất hoặc nước bị ô nhiễm có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh melioidosis. Tuy nhiên, ở những khu vực này, để giúp giảm thiểu rủi ro phơi nhiễm, người dân có thể thực hiện như sau:

  • Người có vết thương ngoài da và những người mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh thận mãn tính có nguy cơ mắc bệnh melioidosis và nên tránh tiếp xúc với đất và vũng nước đọng.
  • Nông dân nên mang ủng khi đi xuống ruộng, có thể ngăn ngừa nhiễm trùng qua chân.
  • Nhân viên y tế nên sử dụng các biện pháp phòng ngừa qua đường tiếp xúc (mặt nạ, găng tay và áo choàng) để giúp ngăn ngừa nhiễm trùng.